TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG BỘ MÔN THÚ Y Đề tài: “Tình hình nhiễmsán lá gan lớn ở bò tại tỉnh Trà Vinh, phân loại ốc thuộc họ Lymnaeidae và theo dõi sự
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN THÚ Y - -
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP NGÀNH THÚ Y
TÌNH HÌNH NHIỄM SÁN LÁ GAN LỚN
KÝ SINH TRÊN BÒ TẠI TỈNH TRÀ VINH,
PHÂN LOẠI ỐC THUỘC HỌ LYMNAEIDAE
VÀ THEO DÕI SỰ PHÁT TRIỂN CỦA
TRỨNG SÁN LÁ GAN LỚN NGOÀI
MÔI TRƯỜNG TỰ NHIÊN
MSSV: 3112741 Lớp: Dược Thú Y
Cần Thơ, 2015
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN THÚ Y
Đề tài: “Tình hình nhiễmsán lá gan lớn ở bò tại tỉnh Trà Vinh, phân loại ốc
thuộc họ Lymnaeidae và theo dõi sự phát triển của trứng sán lá gan lớn ở bên ngoài môi trường tự nhiên”.do sinh viên Nguyễn Thị Hồng Đào thực hiện tại
phòng thí nghiệm Ký sinh trùng thuộc bộ môn Thú Y khoa Nông Nghiệp & Sinh Học Ứng Dụng – Trường Đại học Cần Thơ từ tháng 01/2015 đến tháng 06/2015
Cần Thơ, ngày….tháng….năm 2015 Cần Thơ, ngày….tháng….năm 2015 Duyệt của Bộ Môn Duyệt của Giáo viên hướng dẫn
Nguyễn Hữu Hưng
Cần Thơ, ngày….tháng….năm 2015 Duyệt Khoa Nông Nghiệp & SHƯD
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan quá trình thu thập mẫu đã được thực hiện chính xác tại tỉnh Trà Vinh và trong khoảng thời gian từ tháng 01/2015 đến tháng 06/2015
Trong quá trình tiến hành thí nghiệm tôi xin cam đoan các số liệu thu thập đươc hoàn toàn trung thực
Cần Thơ, ngày… tháng….năm 2015
Sinh viên thực hiện
Nguyễn Thị Hồng Đào
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Xin chân thành cám ơn Ban Giám Hiệu Trường Đại Học Cần Thơ, quý thầy
Cô Bộ môn Thú Y, Khoa Nông Nghiệp và Sinh Học Ứng Dụng, Trường Đại Học Cần Thơ đã tận tình giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho chúng tôi trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn này
Mãi luôn ghi nhớ công ơn Thầy Nguyễn Hữu Hưng đã tận tình hướng dẫn, động viên và giúp đỡ em trong suốt quá trình thực hiện luận văn này, Cô Bùi Thị
Lê Minh cố vẫn học tập đã nhắc nhở, động viên, truyền đạt kiến thức, kinh nghiệm quý báu cho em trong quãng thời gian ở giảng đường đại học này
Xin chân thành cảm ơn Cô Nguyễn Hồ Bảo Trân đã tận tình hướng dẫn, động viên, nhắc nhở, truyền đạt nhiều kinh nghiệm thực tế đáng quý trong quá trìnhthực hiện luận văn tốt nghiệp, Thạc sĩ Hà Huỳnh Hồng Vũ đã giúp đỡ em trong quá trình lấy mẫu để thực hiện luận văn
Xin cảm ơn các bạn trong phòng ký sinh trùng và bạn học cùng lớp Dược Thú Y K37 đã giúp đỡ tôi trong thời gian học tập và thực hiện luận văn này Mãi mãi khắc ghi công ơn nuôi dưỡng, sự động viên, tạo điều kiện thuận lợi nhất về vật chất cũng như tinh thần của Cha Mẹ Từ đó giúp con có nhiều nghị lực học tập, vượt qua khó khăn, và hoàn thành luận văn này
Cần Thơ, ngày… tháng….năm 2015
Sinh viên thực hiện
Nguyễn Thị Hồng Đào
Trang 5MỤC LỤC
Trang duyệt i
LỜI CAM ĐOAN ii
LỜI CẢM ƠN iii
MỤC LỤC iv
DANH SÁCH CHỮ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC BẢNG vii
DANH MỤC HÌNH viii
Chương 1: ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN 3
2 1 Tình hình nghiên cứu sán lá gan trong nước và ngoài nước 3
2.1.1 Tình hình nghiên cứu sán lá gan ngoài nước 3
2.1.2 Tình hình nghiên cứu sán lá gan trong nước 4
2 2 Tình hình nghiên cứu về họ ốc Lymnaeidae 6
2.2.1 Tình hình nghiên cứu về họ ốc Lymnaeidae ở nước ngoài 6
2.2.2 Tình hình nghiên cứu về họ ốc Lymnaeidae ở trong nước 7
2.2.3 Sơ lược về động vật thân mềm (Ngành Mollusca) 9
2.3 Bệnh sán lá gan trên trâu bò 15
2.3.1Căn bệnh 15
2.3.2 Phân loại và hình thái 15
2.3.3 Vòng đờivà sự phát triển của sán lá gan 19
2.3.4 Tác động qua lại của sán lá gan và ký chủ 21
2.3.5 Tác hại bệnh sán lá gan 23
2.3.6 Cơ chế sinh bệnh 24
2.3.7 Triệu chứng và bệnh tích 24
2.3.8 Dịch tễ học, chẩn đoán và phòng trị bệnh 26
Chương 3: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP 31
3.1 Nội dung 31
Trang 63.2 Thời gian và địa điểm thực hiện đề tài 31
3.3 Đối tượng nghiên cứu 31
3.4 Phương tiện nghiên cứu 31
3.4.1 Chỉ tiêu theo dõi 31
3.4.2 Dụng cụ và hóa chất 32
3.5 Phương pháp nghiên cứu 32
3.5.1 Phương pháp thu thập mẫu 32
3.5.2 Phương pháp định danh phân loại 33
Chương 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 40
4.1 Kết quả tình hình nhiễm sán lá gan lớn trên bò theo thể trạng tại tỉnh Trà Vinh 40
4.2 Đặc điểm hình thái của sán lá gan ký sinh trên bò tại Trà Vinh 41
4.3 Biểu hiện bệnh tích trên ở gan nhiễm sán lá gan lớn 46
4.4 Thành phần loài ốc nước ngọt thuộc họ thuộc họ Lymnaeidae tại tỉnh Trà Vinh 47
4.5 Theo dõi thời gian phát triển của trứng thành Micracidium 49
4.5.1 Đặc điểm hình thái của trứng sán lá gan ký sinh trên bò tại Trà Vinh 49 4.5.2 Thời gian phát triển của trứng thành Micracidium 49
Chương 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 51
5.1 Kết luận 51
5.2 Đề nghị 51
TÀI LIỆU THAM KHẢO 53
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Phân biệt hình thái F.hepatica và F.gigantica 17
Bảng 2.2: So sánh để phân biệt hai loài ốc 19Bảng 2.3: Một số loại thuốc tẩy trừ sán lá gan trên bò đang sử dụng trên thị
trường 28
Bảng 4.1:Tỉ lệ nhiễm sán lá gan lớn trên bò tại tỉnh Trà Vinh qua phương pháp
mổ khám 40
Bảng 4.2: Cường độ nhiễm sán lá gan lớn trên bò tại tỉnh Trà Vinh 40
Bảng 4.3: Đặc điểm hình thái sán lá gan lớn tại tỉnh Trà Vinh 41
Bảng 4.4: Kết quả các chỉ số của ốc nước ngọt thuộc họ Lymnaeidae tại các điểm
khảo sát 48
Bảng 4.5: Thành phần và tỷ lệ các loài ốc nước ngọt thuộc họ Lymnaeidae tại các
địa điểm khảo sát 48
Bảng 4.6: Kích thước của trứng Fasciola spp 49 Bảng 4.7: Khảo sát tỷ lệ nở, thời gian trứng phát triển thành Micracidium 49
Trang 9DANH MỤC HÌNH
Hình 2.1: A Ốc Lymnaea , B Trứng ốc Lymnaea 13
Hình 2.2: Ốc Lymnaea swinhoei 14
Hình 2.3:Ốc Lymnaea viridis 14
Hình 2.4: Fasciola gigantic 16
Hình 2.5: Trứng Fasciola gigantic 16
Hình 2.6: Fasciola hepatica 17
Hình 2.7:TrứngFasciola hepatica 17
Hình 2.8: Sán lá gan Fasciola gigantica và Fasciola hepatica 18
Hình 2.9 : Vòng đời của Fasciola spp 21
Hình 3.1: Ốc Lymnaea ngoài môi trường tự nhiên 33
Hình 3.2: Mẫu được cố định và tiến hành đo 33
Hình 3.3: Thước đo trắc vi 34
Hình 3.4: Thước đo thị kính (trên) và vật kính (dưới) nhìn dưới kính hiển vi quang học 35
Hình 3.5: Dùng thước trắc vi đo đường kính giác bụng, giác miệng của sán lá gan 36
Hình 3.6:Giác bụng, giác miệng sán lá gan dưới kính hiển vi ở X10 36
Hình 3.7:Cách đo chiều cao lỗ miệng, tháp ốc 37
Hình 3.8: Quan sát bò trước khi giết mổ 38
Hình 3.9: Trứng sán Fasciola spp đo bằng kính trắc vi ở vật kính X4 38
Hình 4.1: Các kiểu hình F1, F2, F3, F4, F5 43
Hình 4.2: Kiểu hình sán lá dang 1 (F1) 43
Hình 4.3: Kiểu hình sán lá dạng 2 (F2) 44
Hình 4.4: Kiểu hình sán lá dạng 3 (F3) 44
Hình 4.5: Kiểu hình sán lá dạng 4 (F4) 45
Hình 4.6: Kiểu hình sán lá dạng 5 (F5) 45
Hình 4.7: Bề mặt gan có màu xám nhợt nhạt, gan bị xơ hóa và có ổ viêm 47
Hình 4.8: Gan có mủ 47
Hình 4.9: Sán chui ra từ tĩnh mạch gan 47
Hình 4.10: Micracidium ở vật kính X10 - 50
Trang 10TÓM LƢỢC
Đề tài: “Tình hình nhiễm sán lá gan lớn ở bò tại tỉnh Trà Vinh, phân loại ốc thuộc họ Lymnaeidae và theo dõi sự phát triển của trứng sán lá gan lớn ở bên
năm 2015.Qua mổ khám 80 con bò tại lò mổ các địa bàn khảo sát tỉnh Trà Vinh, cho thấy bò tại tỉnh Trà Vinh nhiễm sán lá gan lớn qua mổ khảo sát với tỉ lệ nhiễm 8,75% Trong đó bò có thể trạng trung bình nhiễm 17,5%, bò nhiễm mức
độ + chiếm 28,57% với cường độ nhiễm 5,5 0,5 (sán/cá thể bò), mức độ ++ chiếm 71,43% với cường độ nhiễm 10,5 0,5 (sán/cá thể bò)
Qua phân loại 68 mẫu sán lá gan lớn chúng tôi định dạng được 5 kiểu hình sán lá gan lớn bao gồm F1, F2, F3, F4 và F5 với các dạng kiểu hình và kích thước khác nhau, cho thấy sán lá gan lớn ký sinh trên bò tại tỉnh Trà Vinh có 5 kiểu hình, trong 5 kiểu hình thì kiểu hình F1 có tần số xuất hiện cao nhất 26,47%, kế đến là kiểu hình F2(23,53%), F3 và F5 có cùng tần số xuất hiện (19,12%) riêng kiểu hình có tần số xuất hiện thấp nhất là F4(11,76%) Kích thước các chiều đo biến động từ 27,675 0,425 (mm) đến 30,116 0,728 (mm) đối với chiều dài và từ 7,929 0,493 (mm) đến8,744 0,459(mm) đối với chiều rộng, tỷ lệ dài/rộng dao động từ 3,280 0,162 đến 3,728 0,358
Qua theo dõi thời gian trứng Fasciola gigantica phát triển thành ấu trùng
Micracidium chúng tôi có nhận xét: Trứng có màu vàng nhạt hay vàng chanh,
hình bầu dục, trứng to, có nắp, vỏ mỏng, 2 đầu tương đối gần bằng nhau Bên trong tế bào phôi phân bố đều, kín vỏ trứng, kích thước 0,156 0,013 (mm)x0.076 0,008 (mm).Sau 19,65 1,985 (ngày) theo dõi trứng Fasciola
gigantica phát triển thành ấu trùng Micracidium,trong điều kiện tự nhiên có nước
và được chiếu sáng trực tiếp từ ánh sáng tự nhiên 2 giờ/ngày
Qua thu thập 200 ốc nước thuộc họ Lymnaeidae tại các huyện tại tỉnh Trà Vinh Kết quả định danh phân loại các loại ốc nước ngọt thuộc họ Lymnaeidae thấy có 2
loài được tìm thấy là ký chủ trung gian của sán là tại các địa điểm khảo sát là:
Lymnaea swinhoei vàLymnaea viridisvới tỷ lệ lần lượt là 77% và 23%
Trang 11Chương 1: ĐẶT VẤN ĐỀ
Quá trình hội nhập, chính sách mở cửa với nước ngoài đã có nhiều ảnh hưởng và tác động đến ngành nông nghiệp nói chung và tình hình chăn nuôi nói riêng Nhiều chính sách hỗ trợ của nhà nước được triển khai nhằm khuyến khích nông dân hăng say lao động, điển hình trong phong trào nuôi bò lấy sữa, thịt Nhu cầu tiêu thụ thịt và sữa trâu, bò ngày càng tăng cao là nguyên nhân cho sự gia tăng số lượng đàn trâu, bò Theo báo cáo tình hình chăn nuôi bò thịt các tỉnh phía Nam và định hướng phát triển giai đoạn 2005-2010: năm 2004 có 4.812.116 con tăng 124,7% so với năm 2001, ở Đồng Bằng Sông Cửu Long số lượng bò tăng cũng đáng kể năm 2001 có 217.559 con đến năm 2004 có 412.924 con tăng 189,8% Được thiên nhiên ưu đãi với nền khí hậu nhiệt đới, thảm thực vật phong phú
và đa dạng Việt Nam nói chung và Đồng Bằng Sông Cửu Long nói riêng là nơi
có điều kiện thuận lợi cho nhiều loài ký sinh trùng phát triển, ký sinh và gây bệnh Đặc biệt bệnh sán lá gan được biết đến là một bệnh ký sinh trùng phổ biến trên loài động vật ăn cỏ và động vật nhai lại Chúng làm con vật trở nên gầy yếu, còi cọc, chậm lớn, giảm sức đề kháng tạo điều kiện kế phát một số bệnh khác làm giảm hiệu quả chăn nuôi, gây thiệt hại lớn về kinh tế Theo số liệu của FAO, hàng năm sán lá gan làm thất thu cho ngàng chăn nuôi trâu bò khoảng hơn 3 tỷ USD (FAO, 1989) Ở Hà Lan hàng năm bệnh sán lá gây thiệt hại cho ngành kinh doanh sữa 135 triệu phơ răng Ở lò sát sinh Anh hàng năm loại thải hơn 120 tấn gan tươi trị giá 2,8 triệu phơ răng
Nguy hiểm hơn nữa là sán lá gan có thể lây sang người nếu người ăn phải
kén sán metacercaria, theo ghi nhận của Viện Sốt rét – Ký sinh trùng – Côn trùng
Trung ương đã có trường hợp sán khoét ngực người chui ra.Tuy nhiên, những tác hại do bệnh giun sán gây ra chưa được người chăn nuôi chú ý phòng trừ, bởi phương thức chăn nuôi lạc hậu nên bệnh thường xảy ra rải rác, mầm bệnh có nhiều cơ hội cảm nhiễm và lây lan.Vì vậy việc hiểu biết về ký chủ trung gian của
loài sán lá gan Fasciola spp, thời gian trứng phát triển thành mao ấu micracidium
là rất cần thiết để áp dụng trong chăn thả cũng nhưng phòng chống bệnh sán lá gan
Tuy khá nhiều loài Fasciola spp khác nhau, song hai loài Fasciola quan trọng nhất được biết gây bệnh cho người là Fasciola hepatica (Linnaeus, 1758)
và Fasciola gigantica(Cobbold, 1855).Hai loài này giống nhau ở nhiều đặc điểm
hình thái, sinh thái, sinh học nên khó phân biệt khi so sánh riêng lẻ.Tuy nhiên,
Trang 12chúng ta vẫn có thể chẩn đoán, giám định và phân loại giữa Fasciola hepatica và
Fasciola gigantica dựa vào phương pháp hình thái học (kiểu hình).Các kỹ thuật
và phương pháp này đã đáp ứng được phần lớn yêu cầu về phân loại sinh vật và cho kết quả tốt
Để tìm hiểu kỹ hơn về ký chủ trung gian,đặc điểm hình thái, cách phân loại sán lá
gan ký sinh trên bò và theo dõi thời gian trứng phát triển thành micracidium và
được sự chấp thuận của Bộ môn Thú y – Khoa Nông nghiệp và Sinh học ứng
dụng – Trường Đại học Cần Thơ chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài “Tình hình
nhiễm sán lá gan lớn ở bò tại tỉnh Trà Vinh, phân loại ốc thuộc họ Lymnaeidae
và theo dõi sự phát triển của trứng sán lá gan lớn ở bên ngoài môi trường tự nhiên”
Với mục tiêu:
Xác định thành phần loài sán lá gan lớn ký sinh trên bò tại tỉnh Trà Vinh
Định danh phân loại ốc thuộc họ Lymnaeidae tại tỉnh Trà Vinh
Theo dõi thời gian trứng sán lá gan lớn phát triển thành ấu trùng Micracidium
Khảo sát đặc điểm bệnh tích sán lá gan
Trang 13Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN
2 1 Tình hình nghiên cứu sán lá gan trong nước và ngoài nước
2.1.1 Tình hình nghiên cứu sán lá gan ngoài nước
Sán lá gan được biết đến từ năm 1370 Năm 1379, lần đầu tiên Jehan De Brie mô
tả toàn bộ sán lá gan trên cừu Năm 1752, Swammerdam phát hiện những vĩ ấu
(cercariae) của sán Fasciola hepatica ởmột con ốc Gasteropoda Đến năm 1758
Fasciola hepatica được Linnaeus mô tả Năm 1845, Rudolphi phát hiện Dicrocoelium dendriticum, 1847 Creplin phát hiện ra Paramphistomum explanatum, 1885 Cobbold phát hiện ra Fasciola gigantica (Công trình nghiên
cứu ký sinh trùng ở Việt Nam, Đỗ Dương Thái - Trịnh Văn Thịnh, 1978) Thomas và Leuckart (1882), tạo nghiên cứu chu kỳ sinh học hoàn chỉnh của sán
lá gan (Đỗ Dương Thái, Trịnh Văn Thịnh, 1978)
Stemphenol (1947) và Urquhart (1956) đã khẳng định tác hại của sán lá gan đối với toàn bộ cơ thể trâu bò là gây thiếu máu và dị ứng khi cảm nhiễm nặng (Phan Địch Lân, 2000)
Jenings (1956) qua khảo sát cho thấy một sán hút tới 0.2 ml máu trong một ngày, theo ông chỉ sán lớn ăn máu còn sán nhỏ ăn tổ chức
Locryt (1958) mô tả bệnh tích của sán lá gan với túi mật sưng to, ống mật bị tắc, phình to, lớp thượng bì dày lên, có nhiều ổ áp xe ở gan Gan sưng to, chai cứng
và nặng, tích nước xoang bụng, bạch cầu ái toan tăng 81% Gia súc thiếu máu, nhiễm độc, viêm khớp nặng Tích nước xoang bụng, bạch cầu ái toan tăng 81% Gia súc thiếu máu, nhiễm độc viêm khớp nặng Yasin (1958), cho rằng ở Pakistan
sự cảm nhiễm Fasciola gigantica xảy ra nhiều nhất sau đợt gió mùa, khi nước lụt
làm cho vĩ ấu ra khỏi cơ thể ốc hàng loạt Vào tháng giêng, tháng hai, khi thiếu chỗ thả chăn, gia súc phải ăn ở những nơi ẩm ướt có nang ấu sống được nhiều tháng (Đỗ Dương Thái, Trịnh Văn Thái, 1978)
Ueno et al (1960) sử dụng Biotin điều trị sán lá gan với liều 30-35 mg/kg thể trọng, hiệu lực 66-88%
Davtjan (1962) chứng minh quá trình dị ứng là do kết quả tác động của nhiều kháng nguyên sinh từ sán và những kháng thể xuất hiện trong gan, quá trình dị ứng dẫn đến những rối loạn đầu tiên bằng suy dinh dưỡng, thiếu Vitamin A làm
cơ thể gầy yếu, tạo điều kiện cho các bệnh do vi khuẩn dễ phát sinh, thể hiện bằng sự tăng quá nhiều bạch cầu ái toan trong cơ thể ( Đỗ Dương Thái, Trịnh Văn Thịnh, 1978)
Trang 14Dawes (1962), gia súc bị suy nhược và thiếu máu là do độc tố của Fasciola
giantica tác động gây hiện tượng đạm trong máu thiếu, lượng albumin giảm và
globulin tăng
Theo Horcher (1969) số metacercariae của lần gây nhiễm đầu ảnh hưởng đến đáp ứng của ký chủ, càng có nhiều Fasciola trưởng thành sau lần gây nhiễm đầu tiên thì sức đề kháng của trâu bò sau đó càng mạnh Fasciola hepatica sống từ 9 đến
12 tháng trong ống dẫn mật của bò và sau 3 năm chỉ tìm thấy được vài con
Fasciola Alicata và Swanson (1941) cũng xác nhận hiện tượng tương tự với Fasciola gigantica (trích dẫn Chann Bory 2003)
Black and Froyd (1972) bò nhiễm Fasciola sẽ làm giảm chất lượng sữa và năng
suất sữa giảm từ 15-30% , thậm chí có thể giảm đến 50% (Đỗ Dương Thái, Trịnh Văn Thịnh, 1978)
Sinclair (1972) trâu bò cái rất dễ nhiễm Fasciola hepatica và kết quả là sẩy thai,
sinh non hoặc con sinh ra yếu ớt
Hope, Cawdery và ctv (1977) cho thấy bò bị nhiễm từ 40-140 con sán lá gan thì
tăng trọng giảm từ 8-28%
Enzeby (1984) cho rằng sán lá gan trưởng thành lấy chất dinh dưỡng và ăn hồng cầu từ gan và mật để sống làm cho bò gầy còm và thiếu máu (Đỗ Trọng Minh, 1999)
Cho đến nay WHO ước tính rằng có ít nhất 2,4 triệu người bị nhiễm ở hơn 70 quốc gia trên toàn thế giới, với vài triệu rủi ro
(www.who.int/foodborne_trematode_infections/fascioliasis/en/)
2.1.2 Tình hình nghiên cứu sán lá gan trong nước
Houdemer (1938) phát hiện hai trường hợp nhiễm sán lá gan trên người Việt
Nam Ông tiến hành điều tra trên gia súc thấy có cả hai loài Fasciola hepatica và
Fasciola gigantic Kết quả điều tra tỉ lệ nhiễm trên trâu là 64,7%, trên bò là
Đỗ Dương Thái, Trịnh Văn Thịnh (1978)) thấy thời gian ngắn nhất từ trứng cho
tới lúc thành kén của Fasciola gigantica là khoảng 70 ngày
Trang 15Hồ Thị Thuận, Nguyễn Ngọc Phương (1986) cho biết qua kiểm tra phân tỉ lệ nhiễm sán lá gan trâu bò ở Lâm Đồng là 34,55%, khu vực Sài Gòn, Cần Thơ tỉ lệ nhiễm 33,66%, Minh Hải nhiễm 2,42-7% Khi mổ khám thì tỉ lệ nhiễm ở bò 21,93% ở trâu là 91,66%
Lương Tố Thu et al (1996) cho biết tỷ lệ nhiễm sán lá gan qua kiểm tra lò mổ lên
tới 76%, đại đa số gan bị xơ hóa, hoại tử, canxi hóa và phải hủy bỏ từ 80-100%
(Phạm Sĩ Lăng và ctv, 2001)
Nguyễn Trọng Kim (1996) kiểm tra trên 4962 mẫu ốc ở Hà Nam Ninh, Hải Phòng thấy có 52,74% ốc có nhiễm ấu trùng sán lá
Phan Lục (1996) qua mổ khám 34 trâu tại một số tỉnh phía Bắc cho biết tỷ lệ
nhiễm Fasciola gigantica là 47%
Lương Văn Huấn và ctv (1997) điều tra trên 11 tỉnh phía Nam thì tỷ lệ nhiễm sán
lá gan ở bò qua kiểm tra phân từ 28,1-45,2% tùy theo lứa tuổi và qua mổ khám
từ 20-32,2% tùy theo địa phương
Lương Tố Thu (1997) qua điều tra 4 tỉnh phía Bắc có tỷ lệ nhiễm sán lá gan như
sau: đồng bằng là 55,5%, trung du là 31,5% và miền núi là 23%
Tô Du (1999) bệnh sán lá gan thường xảy ra ở trâu nhiều hơn bò, do trâu thích ăn
cỏ dưới nước, bệnh thường rất nặng với trâu bò nhập nội Thời gian phát triển của bệnh sán lá gan thường dưới 6 tháng, con vật chết vì kiệt sức không đau đớn,
không co giật
Phan Địch Lân (2000) cho biết tỷ lệ nhiễm sán lá gan ở đồng bằng từ 19,6-61,3%;
ở trung du từ 16,4-50,2%; ở vùng núi từ 14,7-44% và ở vùng ven biển là
Trong thời gian từ tháng 11 năm 2004 đến tháng 2 năm 2006 phòng khám chuyên khoa cua Viện Sốt Rét – Côn Trùng Quy Nhơn đã điều trị khoản 1500 bệnh nhân
nhiễm sán lá gan Fasciola từ 15 tỉnh miền Trung Tây Nguyên
(www.impe-qn.org.vn)
Tình hình nghiên cứu ở Đông Bằng Sông Cửu Long
Trang 16Nguyễn Hữu Hưng và ctv (1993) qua mổ khám trên 130 trâu bò (86 trâu, 44 bò)
và qua kiểm tra phân 82 trâu bò (49 trâu, 33 bò) tại Thốt Nốt cho biết trâu bò huyện Thốt Nốt nhiễm sán lá với tỷ lệ nhiễm sán lá gan ở trâu là 51,2% và ở bò là 33,3% Sử dụng Han-Dertil, uống trực tiếp, không gây phản ứng phụ, hiệu lực đạt 100%
Nguyễn Hữu Hưng (1996) bằng phương pháp mổ khám trên 150 trâu bò (64 trâu,
86 bò) cho biết đàn trâu bò tỉnh An Giang nhiễm sán lá gan chiếm tỷ lệ tương đối cao, ở trâu là 85,93% và ở bò là 83,72% Qua kiểm tra phân trên 130 bò ở 2 huyện Tri Tôn và Tịnh Biên cho biết tỷ lệ nhiễm sán lá gan là 46,15%
Nguyễn Thị Hưng Hải và ctv (2004) qua kiểm tra 250 bò ở Cần Thơ phát hiện
122 con nhiễm với tỷ lệ nhiễm là 48,85% và 250 bò ở An Giang phát hiện 169 con nhiễm với tỷ lệ là 67,6% Sử dụng Dovenix với liều 1,3 ml/kg thể trọng cho hiệu quả 100%
Thạch Thanh Thuý (2006) kiểm tra bệnh sán lá gan ở Sóc Trăng cho biết tỷ lệ nhiễm là 49,45% và còn cho biết tỷ lệ nhiễm tăng dần theo lứa tuổi Tỷ lệ nhiễm
ở bò ta cao nhất, kế đến là bò lai Sind, và cuối cùng là bò sữa
Nguyễn Hữu Hưng và ctv (2009), qua kiểm tra 981 mẫu phân bò tại 4 huyện
trong tỉnh Đồng Tháp ở các lứa tuổi khác nhau thuộc 3 giống bò (bò sữa, bò lai Sind, bò địa phương), kết hợp mổ khám 309 bò cho thấy tỷ lệ nhiễm sán lá gan 53,31%; bò địa phương nhiễm 59,80%, bò lai Sind nhiễm 53,48% và bò sữa nhiễm 33,08% Bò bị nhiễm sán lá gan tăng dần theo lứa tuổi
Trần Thanh Lộc (2010), qua kiểm tra 525 mẫu phân bò ở tỉnh Trà Vinh cho biết
tỷ lệ nhiễm là 37,33% Bò nhiễm sán lá gan có khuynh hướng tăng dần theo tuổi Bằng phương pháp mổ khám và định danh phân loài sán lá gan, thấy rằng bò
nhiễm 2 loài Fasciola spp và loài Paramphistomum explanatum với tỷ lệ nhiễm
lần lượt là 31,11%, 18,89%
2 2 Tình hình nghiên cứu về họ ốc Lymnaeidae
2.2.1 Tình hình nghiên cứu về họ ốc Lymnaeidae ở nước ngoài
Kendall (1949), ở mỗi khu vực khác nhau thì ký chủ trung gian của loài Fasciola
sp cũng khác nhau và thay đổi theo từng bước Ở Australia ký chủ trung gian với
của sán lá gan là loài Lymnaea tomentoxa, Bắc Mỹ là Lymnaea bulimoides
techella
Taylor (1949) làm thí nghiệm và thấy rằng trong 10 ốc thí nghiệm thì có 3 ốc vẫn tồn tại sau mùa hè khô hạn “ ngủ hè” với điều kiện khô nhân tạo trong 12 tháng,
Trang 17giai đoạn phát triển đơn tính của sán lá gan tồn tại tối thiểu 10 tháng trong ốc ngủ
hè
Gordon et al (1959) sử dụng đồng pentachlorphenate để diệt ký chủ trung gian
với liều 11kg/ha với thể tích 4500 lít/ha sẽ làm bất hoạt ký chủ trung gian
Lymnaeao tomentosa
Kendall và Ollerenshaw (1963) chứng minh mật độ phát triển của ốc trong quần thể cũng là yếu tố ảnh hưởng đến sự nhiễm sự ký sinh trùng
Soubly (1965) cho rằng Dicrocoelium dendriticum có 2 ký chủ trung gian đó là
ốc và kiến, micracidium không nở từ trứng mà nở từ ký chủ trung gian, ở trong
ruột ốc
Taylor (1965) công bố Fasciola gigantica là loài phổ biến ở các nước nhiệt đới
Ông còn cho biết từng loài ốc ký chủ trung gian được phân bố theo vùng khác nhau:
Lymnaea natalensis: Trung Phi
Lymnaea persica: Pakistan
Lymnaea lutoole: Afganistan
Lymnaea limoso: Nga
Lymnaea swinhoei: Trung Quốc
Lymnaea viridis: Indonexia
(trích dẫn Đỗ Trọng Minh, 1999)
Kaufmann (1996), vật chủ trung gian của sán lá Fasciola là các ốc nước ngọt họ
Lymnaea: Lymnaea auricularia, Lymnaea swinhoei, Lymnaea viridis, Galba truncatula, Radix ovate … Tác giả cho biết vùng đồng bằng có nhiều hồ, ao,
kênh, rạch, có điều kiện cho ốc – vật chủ trung gian sống và sinh sản Các kiểu địa hình khác thì vấn đề này hạn chế hơn so với đồng bằng
2.2.2 Tình hình nghiên cứu về họ ốc Lymnaeidae ở trong nước
Phan Địch Lân, Lê Hồng Căn (1972) xác định ốc ký chủ trung gian chủ yếu tại
Việt Nam là Lymnaea swinhoei (H Adams, 1866) và Lymnaea viridis (Quoy & Gaimard, 1833) Tỷ lệ ốc mang ấu trùng đến 90% Điều tra mật độ ốc Lymnaea
viridis ở chân ruộng mạthấy trung bình là 126 con/m2, mật độ ốc Lymnaea
swinhoei trôi nổi là 25 con/m2
Trang 18Thái Trần Bái (1977), ở ruộng rau muống có mức nước nông, ốc thường tập trung
ở cọng, lá rau đang thối rữa Ở các ruộng muống đang trong thời kỳ khô hạn, đất
đá nứt nẻ, ốc thường tập trung ở gốc muống, tỷ lệ ốc sống là 90,3% Trong ruộng rau lấp mật độ ốc thấp hơn Ở ruộng lúa, ruộng mới cấy, ốc tập trung ở gốc lúa hay treo mình trên mặt nước
Phan Địch Lân (1985) khi điều tra các loài ốc ký chủ trung gian của sán lá gan
trên 15 tỉnh phía Bắc nhận thấy có sự hiện diện của 2 loài ốc Lymnaea viridis và
Lymnaea swinhoei Loài Lymnaea swinhoei (ốc vành tai) có vỏ mỏng, dễ vỡ
không có nắp miệng, kích thước 20 mm, vòng xoắn cuối cùng rất lớn, chiếm gần
hết phần thân, vỏ toe ra như vành tai Loài Lymnaea viridis (ốc chanh) cũng có vỏ
mỏng, không có nắp miệng, kích thước 10 mm, vỏ dễ vỡ, có 4-5 vòng xoắn, vòng xoắn cuối cùng lớn Tác giả còn cho biết mật độ của ốc theo mùa khác nhau: mật
độ vụ đông xuân lớn hơn vụ hè thu:
Vụ đông xuân: Lymnaea viridis 123±54 con/m2
Vụ hè thu: Lymnaea viridis 64±17 con/m2
Phan Địch Lân (2000), cho biết Việt Nam loài Lymnaea viridis thích sống ở cạn hơn (nơi có nước xâm xấp), còn loài Lymnaea swinhoei thích sống ở nơi có nước
hơn (sống trôi nổi ở cống, rãnh, ao, hồ)
Lê Hồng Mận và Lê Văn Thông (2001) dùng Sulfat đồng (CuSO4 ) để tiêu diệt ốc-ký chủ trung gian cho kết quả tốt
Lê Quang Hùng (2002), ở Bình Định có 2 loài ốc Lymnaea viridis và Lymnaea
kswinhoei là vật chủ trung gian của Fasciola gigantica Tỷ lệ phát triển của trứng Fasciola gigantica nuôi trong nước cất và nước ao hồ là khá cao từ 80-96%,
trong điều kiện nhiệt độ từ 27-350
C thời gian phát triển từ trứng sán đến nang sán
là 42-58 ngày Trong đó thời gian phát triển trong ốc vật chủ trung gian từ 31-40 ngày
Phan Địch Lân (2004) cho biết: Lymnaea swinhoei phân bố nhiều hơn ở vùng đồng bằng, trong khi ốc Lymnaea viridis phân bố nhiều hơn ở vùng núi, trung du
và ven biển
Trang 19Phạm Ngọc Doanh và cs (2005) , cho thấy chỉ 0.06% ốc Lymnaea swinhoei và 1% ốc Lymnaea viridis ở Đông Anh và Phú Xuyên, Hà Nội bị nhiễm ấu trùng sán
lá gan
Đỗ Đức Ngái và cs (2006), thông báo 0,45% ốc Lymnaea swinhoei ở Đắk Lắk bị
nhiễm ấu trùng sán lá gan
Lê Hoàng Nam (2007) nghiên cứu tại tỉnh Hậu Giang cho biết 2 giống Bulinidae
và Lymnaea là ký chủ trung gian truyền bệnh sán lá gan cho gia súc nhai lại và kể
cả con người, tỷ lệ loài ốc Lymnaea tại điểm nghiên cứu là 35,39%
Nguyễn Đức Tân và cs (2010), xác định ốc Lymnaea viridis nhiễm ấu trùng ở Bình Định là 1,8%, Khánh Hòa là 0,92%, Phú Yên là 0,5% Ốc Lymnaea
swinhoei nhiễm ấu trùng sán lá gan lớn ở Bình Định là 1,21%, Khánh Hòa là
0,37%, Phú Yên là 0,68%
Đồng Thị Thanh Dung (2011), nghiên cứu tại huyện Thăn Bình, tỉnh Quảng Nam
có 5 loài ốc nước ngọt Viviparus aceracus Pila polita, Pomacea canaliculata,
Melanoides tuberculata, Lymnaea viridis Trong đó có Lymnaea viridis là vật chủ
trung gian của sán lá gan được tìm thấy ở nơi nước đọng và nơi nước chảy chậm
2.2.3 Sơ lƣợc về động vật thân mềm (Ngành Mollusca)
Ngành Mollusca đã có rất nhiều hệ thống phân loại khác nhau, tùy theo từng giai
đoạn phát triển của phân loại học và tùy theo tác giả Có các hệ thống phân loại của Pensenner (1892), Parke (1987), Cooke (1917), trong hệ thống phân loại này tiêu biểu là hệ thống phân loại của Pensenner và Thiel
Hệ thống phân loại của Pensenner và Thiel chia ngành Mollusca thành 5 lớp:
Amphineura, Gastropoda, Scaphopoda, Bivalvia, Cephalopoda.Nguyễn Chính
(1996), dựa trên hệ thần kinh song song mà tác giả xếp 4 nhóm:
Chaetodermomorpha, Neomenimorpha, Monoplacophora và Polyplacophora vào
một lớp đó là Amphineura
Hiện nay, hệ thống phân loại Mollusca được xây dựng dựa trên cơ sở sau:
Trang 20 Cấu tạo, hình dáng và số lượng vỏ
Sự phát triển của phần đầu (đầu phát triển hay thoái hóa)
Hình dạng chân
Cấu tạo của hệ thần kinh
Vị trí, số lượng và cấu tạo cơ quan hô hấp (mang, phổi)
Cấu tạo của phiến hàm, lưỡi sừng và răng sừng
Đơn tính hay lưỡng tính…
Gần đây, một số nhà phân loại học dựa vào hình dáng cấu tạo của vỏ đã chia
ngành Mollusca thành 7 hoặc 8 lớp khác nhau Tiêu biểu có hệ thống phân loại theo Ruppert và Barnes (1994) chia lớp Amphineura thành 3 lớp mới đó là
Aplacophora (không vỏ), Monoplacophora (một vỏ) và Polyplacophora (nhiều
vỏ) còn các lớp khác thì vẫn giữ nguyên Theo Barnes et al (2000) thì lớp
Aplacophora được tách thành 2 lớp mới đó là Chaedermomorpha và Neomeniomorpha Các lớp còn lại tương tự như phân loại của Pechenik (2000) và
Ruppert & Barnes (1994) Như vậy, theo Barnes et al (2000) thì ngành động vật
thân mềm được chia thành 8 lớp
2.2.3.1 Khái quát về lớp chân bụng (Gastropoda)
Hình thái bên ngoài
Đầu: phần đầu bao gồm: mắt, xúc tu, miệng và cơ quan cảm giác
Chân: có dạng diện rộng (mặt phẳng) thích nghi với lối sống bò lê
Màng áo: là lớp da nhăn nheo bao bọc lấy phần cơ thể bên trong và có khả năng
sinh ra vỏ để bảo vệ cơ thể Giữa nội tạng và màng áo có một xoang trống có chứa mang gọi là xoang màng áo hay xoang mang (mantle cavity), lỗ sinh dục và hậu môn cũng đổ ra xoang màng áo
Vỏ: được màng áo tiết ra, cấu tạo gồm 3 lớp: tầng sừng (pereiostracum), tầng đá
vôi (ostracum) và tầng xà cừ (hypostracum)
Trang 21 Tầng sừng: do các tế bào mép màng áo (các tế bào ở nếp sinh vỏ) sinh ra, tầng này chỉ tăng diện tích rất ít tăng độ dày Thành phần chủ yếu là chất sừng
Tầng đá vôi: do các tế bào biểu bì mặt ngoài phần tiếp theo của mép màng
áo sinh ra, tầng này tăng diện tích và ít tăng độ dày Thành phần chính là CaCO3
Tầng xà cừ: do phần trên cùng của các tế bào biểu bì mặt ngoài tiết ra, tầng này cấu tạo gồm CaCO3, các muối kim loại, protein và polysaccarid Tầng
xà cừ tăng cả diện tích và độ dày theo thời gian
Cấu tạo bên trong
Hệ thần kinh: Gastropoda có 4 đôi, bao gồm vòng thần kinh hầu (nửa trên là
cung não, nửa dưới là cung miệng), hạch chân, hạch bên và hạch tạng
Hạch não: điều khiển hoạt động của các cơ quan như mắt, xúc tu, đầu, các cơ
quan cảm giác
Hạch chân: điều khiển hoạt động của chân
Hạch bên: điều khiểu hoạt động của màng áo
Hạch tạng: điều khiển cơ quan nội tạng và hệ tuần hoàn
Trang 22Cơ quan cảm giác
Xúc giác: toàn bộ bề mặt cơ thể đều có chức năng xúc giác, đặc biệt là phần đầu,
xung quanh chân, mép màng áo, xúc tu là những nơi rất nhạy cảm với môi trường xung quanh
Vị giác: có khả năng chọn lọc thức ăn nhờ có tế bào vị giác nằm ở mặt bụng và
hai bên thành ống tiêu hóa
Thính giác (cơ quan thăng bằng): do các tế bào biểu bì hình thành, có thể có một
hoặc nhiều màng nhĩ thạch và xung quanh có các tế bào tuyến tiết dịch thể làm cho hạt nhĩ thạch ở trạng thái lơ lửng
Thị giác: nằm ở gốc hoặc đầu xúc tu, có tác dụng cảm quang
Cơ quan kiểm tra chất nước (Osphradium): là cơ quan cảm giác nằm trong xoang
mafg áo (thường nằm trong gốc mang) Nhiệm vụ là kiểm tra chất lượng nước khi
đi vào xoang màng áo
2.2.3.2 Một số thành phần loài của lớp chân bụng (Gastropoda)
Cơ thể xoắn về bên phải nếu nhìn từ đỉnh tháp, thở bằng phổi
Kích thước 1 – 7cm, có 5 – 7 vòng xoắn
Ăn các loại tảo sống trong nước, các loại cây thủy sinh, chất thải hữu cơ
Di chuyển chậm trong nước, sống ở ao, đầm lầy Mỗi con ốc đẻ khoảng 50 trứng, được kết dính vào nhau bằng chất keo trong suốt gọi là ổ trứng, mỗi ở dài từ 3 – 5
Trang 23cm Qua 10 ngày trứng nở, những con ốc này sẽ phân tán khắp nơi và phát triển nhanh chóng
Vỏ phát triển mỗi tháng một vòng xoắn cho tới khi đạt được kích thước trưởng thành Nếu trong nước thiếu thức ăn, nó cũng trở thành mồi cho những động vật sống trong nước khác
Hình 2.1: A Ốc Lymnaea , B Trứng ốc Lymnaea
(wikipedia.com)
Giống Lymnaea
Lymnaea swinhoei (H.Adams, 1886)
Đồng tên : L.annamitica, Radix swinhoei
Loài Lymnaea swinhoei có chiều dài trưởng thành bằng hoặc lớn hơn 15 mm Vỏ
ốc hình con quay Đỉnh vỏ nhọn Vỏ ốc cuộn xoắn phải, có 3 – 4 vòng xoắn, các vòng xoắn đầu thót nhỏ, trông như cái núm trên vòng xoắn cuối, Vòng xoắn cuối phình rộng, góc trên trái lồi nên vỏ có dạng vuông góc Vỏ mỏng, nhẵn bong màu đất, mặt vỏ có khía mờ Ốc không có nắp miệng, lỗ miệng vỏ loe rộng, hình vành tai, tỷ lệ giữa chiều dài lỗ miệng và chiều cao tháp ốc là 2 – 3 lần, vành miệng ngoài sắc, gần thẳng Bờ trụ ốc tạo thành nếp uốn ở giữa khoảng Phía dưới vành miệng tròn Lỗ rốn hẹp, dài
Trang 24Hình 2.2: Ốc Lymnaea swinhoei
(wikipedia.com)
Giống Austropeplea
Loài Lymnaea viridis có chiều dài ốc trưởng thành nhỏ hơn 15mm Đỉnh vỏ nhọn,
vỏ ốc hình con quay Vỏ ốc cuộn xoắn phải, có 4 – 5 vòng xoắn, các vòng xoắn đầu nhỏ vừa so với vòng xoắn cuối, vòng xoắn cuối phình rộng nhưng góc bên trái vát nên có dạng tròn Tháp ốc cân đối hình nón, không lõm tại đường biên
Ốc không có nắp miệng Vỏ mỏng nhẵn, màu nâu đất, có khía mờ Lỗ miệng vỏ hình bầu dục đều, tỷ lệ giữa chiều dài lỗ miệng và chiều cao tháp ốc là 1,5 lần, vành miệng ngoài sắc, cong đều Bờ trụ ốc tạo thành nếp uốn ở khoảng giữa Phía dưới vành miệng tròn Lỗ rốn rất hẹp
Hình 2.3:Ốc Lymnaea viridis (wikipedia.com)
Trang 252.3 Bệnh sán lá gan trên trâu bò
nhiễm chủ yếu là loài Fasciola gigantica
2.3.2 Phân loại và hình thái
2.3.2.1 Phân loại
Ngành: Platyhelminths Slathelminthes Schneide , 1873
Lớp: Trematoda Pudolphi, 1808
Bộ: Fasciolida Skrjabin et Schulz, 1937
Họ: Fasciolidae Railliet, 1895 và Paramphistomatidae Fischoeder,
1901
Giống: Fasciolavà Gigantocotylg (Paramphistomum), Fischoeder 1901
2.3.2.2 Hình thái
Fasciola gigantica
Được Colbbold phát hiện năm 1885
Ký chủ cuối cùng:trâu, bò, dê, cừu, lạc đà và cả con người
Ký chủ trung gian: các loài ốc thuộc họ Lymnaeidae Ở Việt Nam là L.viridis và
L.swinhoei
Nơi ký sinh: ống dẫn mật, gan
Phân bố địa lý: Châu Phi, Bắc Mỹ, Nam Châu Âu, Châu Á (Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản, Pakistan, Malaysia, Thổ Nhĩ Kỳ, Việt Nam)
Hình thái: sán có hình dạng giống như chiếc lá, thường có màu xám nâu, dài 75mm, rộng 5-12mm, thường chiều dài gấp ba lần chiều rộng Đầu sán có chóp, không có vai, phần đầu phình ra Hai rìa bên thân sán đi song song nhau, phần cuối của thân tù kín lại Giác bụng tròn lớn lồi ra, giác miệng nhỏ ở ngay đỉnh đầu, túi sinh dục lớn nằm gần giác bụng Hầu dài hơn thực quản, ruột phân thành nhiều nhánh nhỏ, buồng trứng phân thành nhiều nhánh nằm gần giữa trước thân Hai tinh hoàn phân nhánh chồng lên nhau, tuyến noãn hoàng xếp dọc 2 bên thân
Trang 2625-Trứng to hình bầu dục, màu vàng chanh, vỏ mỏng, có nắp, bên trong tế bào phôi phân phối đều kín vỏ trứng, kích thước trứng 0,125-0,177mm x 0,060-0,1mm
Hình 2.4: Fasciola gigantic
Hình 2.5: Trứng Fasciola gigantic
(www.dpd.cdc.gov)
Fasciola hepatica
Được Linnaeus phát hiện năm 1758
Ký chủ cuối cùng: trâu, bò, dê, cừu, người
Ký chủ trung gian: quan trọng nhất là ốc Galba truncatula Ở mỗi nước và mỗi vùng khí hậu là mỗi loài ốc khác nhưng đều thuộc họ Lymnaeidae
Vị trí ký sinh: ống mật, có khi lạc vào phổi, dưới da, tổ chức xung quanh thận Phân bố: nhiều vùng trên thế giới như Mỹ, phía đông Canada, Nam Mỹ, Bắc Mỹ, một số nước Châu Phi,Châu Á và Châu Âu
Hình thái: thân sán dẹp hình lá cây, thường có màu nâu nhạt dài 20-30mm và rộng 4-16mm Phần thân trước phình to rồi thon lại dần ở phía cuối thân tạo thành vai Những ống dẫn tuyến noãn hoàng chạy ngang chia vùng giữa sán ra phần trước và phần thân sau Phần thân sau có tinh hoàn, bộ phận sinh dục đực, tinh hoàn gồm nhiều cái, xếp cái này nằm sau cái kia Tử cung ở phần giữa thân trước tạo một mạng luới rối như tơ vò, phíasau tử cung là buồng trứng có nhánh Giác
Trang 27miệng nhỏ, tròn và ở chóp đầu con sán, giác bụng hơi to hơn, hình ba cạnh ở cách giác miệng 3-5mm
Kích thước trứng 0,130-0,145 x 0,070-0,090mm
Hình 2.6:Fasciola hepatica
Hình 2.7:TrứngFasciola hepatica
(www.biodidac.bio.uottawa.ca) Bảng 2.1: Phân biệt hình thái Fasciola hepatica và Fasciola gigantica
Đặc điểm Fasciola hepatica Fasciola gigantica
Chiều dài thân 20-30 mm 25-75 mm Chiều rộng thân 4-16 mm 5-12 mm Phía trước Tạo vai Không tạo vai
Hai mép thân Không song song Gần song song Giác miệng và giác bụng Có Có Nhánh ruột Ít hơn Nhiều và thấy rõ
(Phạm Sĩ Lăng, 2001)
Trang 28Hình 2.8: Sán lá gan Fasciola gigantica và Fasciola hepatica
( www.paru.cas.cz)
2.3.2.3 Ký chủ
a) Ký chủ trung gian
Ký chủ trung gian của sán lá gan là loài ốc nước ngọt không có nắp như thuộc
các loài Lymnaea truncatula, Lymnaea auricularia, Lymnaea viridis, Lymnaea
cubensis, Lymnaea swinhoei, Lymnaea modicella, Lynaea viatrix, … và 29 loài
ốc khác Ở Viêt Nam, có 2 loài là Lymnaea swinhoei phổ biến ở đồng bằng sông Cửu Long và Lymnaea viridis ở vùng núi và trung du
Đặc điểm của 2 loài ốc
Lymnaea viridis (Ốc chanh)
Ốc có vỏ mỏng, không có nắp miệng, kích thước 10 mm, vỏ ốc dễ vỡ, số vòng xoắn từ 4,5 – 5 vòng, vòng xoắn cuối cùng lớn
Ốc thích sống ở nơi có nước xâm xấp, thường đẻ trứng mõi ổ 7 – 10 quả, sau 7 ngày nở thành ốc con, trong điều kiện nhiệt độ ở nước ta ốc đẻ được quanh năm
và nở thành con
Lymnaea swinhoei (Ốc vành tai)
Ốc vỏ mỏng dễ vỡ, không có nắp miệng, kích thước 20 mm Vòng xoắn cuối cùng lớn chiếm gần hết phần thân, vỏ leo ra như cái vành tai Ốc đẻ trứng quanh năm, mỗi ổ trứng có từ 60 – 150 quả; ốc thường sống trôi nổi ở cống rãnh, ao hồ
Trang 29Bảng 2.2: So sánh để phân biệt hai loài ốc
Vành miệng Loe rộng như vành tai Thu nhỏ lại
Chỉ số chiều cao lỗ miệng Gấp 3 lần chiều cao tháp ốc Bằng hoặc nhỏ hơn chiều
cao tháp ốc
Ốc Lymnaea viridis có ưu thế trội hơn, tỷ lệ biến thiên 29 – 86%, còn ở Lymnaea
swinhoei tỷ lệ biến thiên 14 – 71%
Tỷ lệ phân bố của hai loài ốc theo vùng địa lý như sau:
Vùng núi: Lymnaea viridis 75% Lymnaea swinhoei 25%
Vùng trung du: Lymnaea viridis 66,5% Lymnaea swinhoei 33,5%
Vùng ven biển: Lymnaea viridis 51,5% Lymnaeaswinhoei 48,55%
Vùng đồng bằng: Lymnaea viridis 42% Lymnaea swinhoei 58%
Nước ta có điều kiện thuận lợi cho sự gây nhiễm bệnh cũng như nhiễm bệnh
trong tự nhiên.Cơ thể trâu bò lại có thể tiếp nhận gần hết số lượng Adolescaria
đưa vào cùng một lúc Cho nên, ở những vùng ô nhiễm có mầm bệnh, có nhiệt độ
thích hợp để nởMicracidium (mao ấu), có ốc trung gian, có trâu bò ăn phải kén
gây bệnh thì cứ bình quân 3 tháng lại tạo ra một đời sán mới Gia súc vẫn mang mầm bệnh cũ lại thêm mầm bệnh mới tạo nên hiện tượng bội nhiễm.Trong đó vai trò của ốc ký chủ trung gian cũng rất quan trọng trong quá trình truyền bệnh
b) Vị trí ký sinh
Kí chủ cuối cùng: Chúng thường kí sinh ở ống dẫn mật, gan, túi mật của trâu, bò,dê, cừu và cả con người Gây hiện tượng viêm gan hoại tử, thời kỳ di hành còn
thấy ở phổi, tim, hạch lamba, tuyến tụy Ký sinh ở bò thường do hai loài Fasciola
hepatica và Fasciola gigantica
2.3.3 Vòng đờivà sự phát triển của sán lá gan
2.3.3.1 Vòng đời của sán lá gan Fasciola spp
Theo Urquhart và ctv (1987) cho rằng chu trình phát triển của Fasciola gigantica giống với chu trình phát triển của Fasciola hepatica Tuy nhiên thời gian cho từng giai đoạn phát triển của Fasciola gigantica dài hơn Người ta chia làm hai
giai đoạn:
Giai đoạn phát triển bên ngoài ký chủ
Trang 30Fasciola trưởng thành ký sinh trong ống dẫn mật của bò Sau khi trứng thụ tinh,
mỗi sán đẻ hàng chục vạn trứng Những trứng này theo dịch mật vào ruột sau đó theo phân của vật chủ ra ngoài Nếu gặp điều kiện thuận lợi, nước cuốn trôi xuống các vũng nước, hồ, ao, ruộng nước, gặp nhiệt độ 15 – 30oC, đủ oxy, có ánh
sang thích hợp trứng sẽ nở sau 9 - 21 ngày thành Micracidium (mao ấu) dài
khoảng 130 µm Chúng bơi lội tự do trong nước nhờ lông xung quanh Nếu thiếu
ánh sáng, Micracidium không có khả năng thoát vỏ nhưng có tồn tại 8 tháng trong
vỏ Khi gặp ký chủ trung gian thích hợp (ốc Lymnaea), chúng chui vào ốc đến gan tụy của ốc biến đổi thành Sporocyst (bào ấu) có kích thước khoảng 300 µm Bào ấu có hình túi màu sáng, được bao bọc bởi lớp màng mỏng Một Sporocyst sinh sản vô tính tạo ra 5 – 15 Rediae (lôi ấu).Lôi ấu hình suốt chỉ, ít hoạt động, có
miệng hầu, ruột, hình túi đơn giản Cần 18 ngày, chúng gia tăng kích thước đến
1,6 mm; 1 Rediae sinh sản vô tính cho ra 12 – 20 Cercariae (vĩ ấu) có kích thước
280 – 300 µm, dài 230 µm chiu ra khỏi ốc, bơi lội tự do trong nước Cercariae là
ấu trùng ở pha sống tự do của sán lá gan, có cấu tạo thân hình tròn lệch, đuôi dài hơn thân giúp vĩ ấu vận chuyển dễ dàng trong nước Cấu tạo của vĩ ấu gồm giác miệng, giác bụng, hầu, thực quản và ruột phân thành 2 nhánh Sau 2 – 24 giờ bơi trong nước, chúng rụng đuôi tiết chất nhày xung quanh thân, bám vào cây cỏ dưới
nước hay gần nước, vỏ cây, đất Lúc này Cercariae đã biến thành Metacercaria (kén sán lá gan) Metacercariahình khối tròn, bên trong chứa phôi hoạt động.Phôi
có giác miệng, giác bụng, ruột phân nhánh và túi bài tiết.Khi được vật chủ cuối cùng nuốt vào miệng sẽ phát triển thành sán trưởng thành
Giai đoạn phát triển bên trong ký chủ
Khi vật chủ cuối cùng ăn phải kén Metacercaria, tùy theo tình trạng sức khỏe,
khả năng đề kháng, tính cảm thụ của vật chủ mà kén có thể di hành về gan theo một trong ba con đường:
Một số ấu trùng dùng tuyến xuyên chui qua niêm mạc ruột, vào tĩnh mạch ruột, qua tĩnh mạch cửa vào gan, xuyên qua nhu mô gan vào ống dẫn mật
Một số ấu trùng khác cũng dùng tuyến xuyên qua thành ruột vào xoang bụng, đến gan, xuyên qua vỏ gan vào ống dẫn mật
Một số ấu trùng theo đường tiêu hóa vào đến tá tràng ngược dòng dịch mật để lên ống dẫn mật
Trong thời kỳ di hành, ấu trùng của Fasciola spp có thể đi đến các cơ quan như
phổi, hạch lâm ba, dưới da, tuyến tụy.Theo Phan Địch Lân (2004), khoa học thú y của nước ta đã nghiên cứu thành công vòng đời của sán lá gan Trong điều kiện nhiệt độ thích hợp (28 – 33oC) có ốc vật chủ trung gian (Lymnae swinhoei và
Lymnae viridis) và có vật chủ cuối cùng (trâu, bò, dê) thì vòng đời của sán lá gan
ở nước ta được xác định với các mức thời gian như sau: ở ngoài thiên nhiên trứng
sán lá gan nở thành Micracidium (mao ấu) trong khoảng 14 – 16 ngày, ở trong ốc vật chủ trung gian, Micracidium (mao ấu) phát triển thành Sporocyst (bào ấu) cần
7 ngày; bào ấu biến thành lôi ấu (Redia) cần 8 – 21 ngày; lôi ấu phát triển thành
Cercariae (vĩ ấu non) cần 7 – 14 ngày; vĩ ấu trưởng thành cần 13 – 14 ngày Ổ
ngoài ốc vật chủ trung gian, vĩ ấu phát triển thành kén (Metacercaria) sau 2 giờ
Trang 31Ở trâu bò khi ăn phải kén, sau 79 – 88 ngày, trong ống dẫn mật của trâu bò đã có sán lá trưởng thành đẻ trứng theo phân ra ngoài
Trang 32Sán trưởng thành cư trú, bám, hút máu, gây xuất huyết và viêm ống dẫn mật, viêm gan, dẫn đến thiếu máu, thành ống dẫn mật giản rộng và dầy lên, lâu ngày dẫn đến canxi hóa thành ống dẫn mật, chức năng của gan bị hỏng Sán trưởng thành thường xuyên kích thích niêm mạc ống mật, mật bị ứ lại thấm vào máu gây chứng hoàng đản
Tác động chiếm đoạt
Sán non ăn tổ chức, sán trưởng thành lấy chất dinh dưỡng và ăn hồng cầu từ gan, mật để sống, sán ăn dịch mật gây rối loạn đường tiêu hóa và phát triển, làm cho đàn trâu bò gầy còm và thiếu máu
Sán trưởng thành đẻ trứng trong ống dẫn mật theo phân ra ngoài gieo rắc mầm
bệnh, thường kết hợp bệnh tiêm mao trùng, bệnh lao, Salmonella làm bệnh nặng
thêm
2.3.4.2 Phản ứng của cơ thể ký chủ đối với sán lá gan
Trâu bò có sức đề kháng nhất định trong những trường hợp tái nhiễm, chúng có
thể mang số Fasciola khá lớn mà không biểu hiện triệu chứng
Phản ứng của cơ thể ký chủ lên ký sinh trùng với nhiều phương cách khác nhau như phòng thủ bên ngoài bằng cách bong lớp sưng ngoại bì, phòng thủ bên trong bằng những phản ứng viêm,phản ứng miễn dịch thực bào (khi ký sinh trùng xâm nhập, cơ thể huy động các tế bào như bạch cầu đơn nhân, lâm ba cầu làm nhiệm
vụ thực bào); phản ứng miễn dịch tế bào (viêm, tăng bạch cầu eosin, tổ chức biến đổi, các tế bào nhiễm trùng to lên), phản ứng miễn dịch dịch thể (ký sinh trùng và độc tố của chúng tác động lên cơ thể ký chủ như một kháng nguyên, cơ thể ký chủ sinh ra kháng thể để phản ứng lại những tác động của ký sinh trùng và tạo ra sức miễn dịch của ký chủ) Nhưng đối với bệnh sán lá gan cơ thể ký chủ chủ yếu tạo kháng thể đầu độc, chống lại sự cảm nhiễm sán lá gan
Sự miễn dịch này mạnh hay yếu phụ thuộc vào các yếu tố sau:
Giống loài
Tuổi và giới tính
Chế độ dinh dưỡng
Tình trạng sức khỏe
Trang 332.3.5 Tác hại bệnh sán lá gan
Đối với chăn nuôi:
Thể cấp tính gây chết súc vật nuôi, còn thể mãn tính làm giảm năng suất vật nuôi như giảm chất lượng sữa, năng suất sữa từ 15 – 35%, giảm sinh trưởng, sinh sản, gây sẩy thai, đẻ non, khó thụ thai
Bệnh làm tổn thương tổ chức và hoạt động sinh lý của con vật, giảm sức đề
kháng làm cho con vật dễ cảm nhiễm với các mầm bệnh khác như Salmonella
Dublin, Clostridium oedematien (Aiken et al., 1978)
Theo Hope – Cawdery (1977), cho thấy bò bị nhiễm 40 – 140 con sán lá thì tang trọng giảm từ 8 – 28% và khẳng định tác hại của sán lá gan đối với trâu bò là gây thiếu máu và dị ứng khi cảm nhiễm nặng
Đối với con người:
Sán lá gan trên gia súc có thể lây sang người và ngược lại, gây tình trạng nguy hiểm cho người
Bệnh sán lá gan có thể gây tử vong do vỡ bao gan, xuất huyết hoặc sốc nhiễm trùng do viêm phúc mạc
Nếu người chưa phải là vật chủ thích hợp, sán non có thể di chuyển tới nhiều cơ quan nội tạng như đại tràng, thành ngực, tuyến vú hoặc thậm chí ở cả khớp gối
Có những trường hợp sán di chuyển xuống buồng trứng, tinh hoàn, màng phổi… Đặc biệt ở nước ta trong thời gian gần đây chưa có ca nào nhiễm sán lá gan gây chết người nhưng nó cũng gây nguy hiểm đến sức khỏe con người, theo ghi nhận của Viện Sốt rét - Ký sinh trùng - Côn trùng Trung ưong đã có trường hợp sán khoét ngực người chui ra.(www.ykhoanet.com)
Bệnh sán lá gan do Fasciola còn được tìm thấy gây tác hại cho người Trần Thị
Kim Dung ghi nhận ở Việt Nam trong 3 năm từ 1997 đến 2000 cho biết sán lá gan bùng phát ở người, cụ thể tại thành phố Hồ Chí Minh, qua kiểm tra mổ bệnh nhân nhập viện, các bác sĩ đã phát hiện túi mật của bệnh nhân căng to khác thường Bằng phương pháp nội soi từ túi mật của bệnh nhân, một mẫu mô hình thoi di động được gắp ra, các bác sĩ ở Bộ môn lý sinh trùng – Đại học Y dược
Thành phố Hồ Chí Minh khẳng định đó là một con sán lá gan Fasciola Đây cũng
là một trong 500 ca bệnh do sán lá gan và cũng là lần đầu tiên ở Việt Nam, gắp được con sán lá gan qua đường nội soi Số liệu này đã được sự chú ý của các nhà
ký sinh trùng học, vì từ trước tới nay chỉ tìm thấy sán lá gan ở các động vật ăn cỏ như trâu, bò, dê, cừu và rất hiếm phát hiện ở người (www.ykhoanet.com)