1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

tình hình nhiễm sán lá gan lớn ký sinh trên bò tại tỉnh trà vinh, phân loại ốc thuộc họ lymnaeidae và theo dõi sự phát triển của trứng sán lá gan lớn ngoài môi trường tự nhiên

66 450 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 66
Dung lượng 2,03 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG BỘ MÔN THÚ Y Đề tài: “Tình hình nhiễmsán lá gan lớn ở bò tại tỉnh Trà Vinh, phân loại ốc thuộc họ Lymnaeidae và theo dõi sự

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG

BỘ MÔN THÚ Y - -

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP NGÀNH THÚ Y

TÌNH HÌNH NHIỄM SÁN LÁ GAN LỚN

KÝ SINH TRÊN BÒ TẠI TỈNH TRÀ VINH,

PHÂN LOẠI ỐC THUỘC HỌ LYMNAEIDAE

VÀ THEO DÕI SỰ PHÁT TRIỂN CỦA

TRỨNG SÁN LÁ GAN LỚN NGOÀI

MÔI TRƯỜNG TỰ NHIÊN

MSSV: 3112741 Lớp: Dược Thú Y

Cần Thơ, 2015

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG

BỘ MÔN THÚ Y

Đề tài: “Tình hình nhiễmsán lá gan lớn ở bò tại tỉnh Trà Vinh, phân loại ốc

thuộc họ Lymnaeidae và theo dõi sự phát triển của trứng sán lá gan lớn ở bên ngoài môi trường tự nhiên”.do sinh viên Nguyễn Thị Hồng Đào thực hiện tại

phòng thí nghiệm Ký sinh trùng thuộc bộ môn Thú Y khoa Nông Nghiệp & Sinh Học Ứng Dụng – Trường Đại học Cần Thơ từ tháng 01/2015 đến tháng 06/2015

Cần Thơ, ngày….tháng….năm 2015 Cần Thơ, ngày….tháng….năm 2015 Duyệt của Bộ Môn Duyệt của Giáo viên hướng dẫn

Nguyễn Hữu Hưng

Cần Thơ, ngày….tháng….năm 2015 Duyệt Khoa Nông Nghiệp & SHƯD

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan quá trình thu thập mẫu đã được thực hiện chính xác tại tỉnh Trà Vinh và trong khoảng thời gian từ tháng 01/2015 đến tháng 06/2015

Trong quá trình tiến hành thí nghiệm tôi xin cam đoan các số liệu thu thập đươc hoàn toàn trung thực

Cần Thơ, ngày… tháng….năm 2015

Sinh viên thực hiện

Nguyễn Thị Hồng Đào

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Xin chân thành cám ơn Ban Giám Hiệu Trường Đại Học Cần Thơ, quý thầy

Cô Bộ môn Thú Y, Khoa Nông Nghiệp và Sinh Học Ứng Dụng, Trường Đại Học Cần Thơ đã tận tình giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho chúng tôi trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn này

Mãi luôn ghi nhớ công ơn Thầy Nguyễn Hữu Hưng đã tận tình hướng dẫn, động viên và giúp đỡ em trong suốt quá trình thực hiện luận văn này, Cô Bùi Thị

Lê Minh cố vẫn học tập đã nhắc nhở, động viên, truyền đạt kiến thức, kinh nghiệm quý báu cho em trong quãng thời gian ở giảng đường đại học này

Xin chân thành cảm ơn Cô Nguyễn Hồ Bảo Trân đã tận tình hướng dẫn, động viên, nhắc nhở, truyền đạt nhiều kinh nghiệm thực tế đáng quý trong quá trìnhthực hiện luận văn tốt nghiệp, Thạc sĩ Hà Huỳnh Hồng Vũ đã giúp đỡ em trong quá trình lấy mẫu để thực hiện luận văn

Xin cảm ơn các bạn trong phòng ký sinh trùng và bạn học cùng lớp Dược Thú Y K37 đã giúp đỡ tôi trong thời gian học tập và thực hiện luận văn này Mãi mãi khắc ghi công ơn nuôi dưỡng, sự động viên, tạo điều kiện thuận lợi nhất về vật chất cũng như tinh thần của Cha Mẹ Từ đó giúp con có nhiều nghị lực học tập, vượt qua khó khăn, và hoàn thành luận văn này

Cần Thơ, ngày… tháng….năm 2015

Sinh viên thực hiện

Nguyễn Thị Hồng Đào

Trang 5

MỤC LỤC

Trang duyệt i

LỜI CAM ĐOAN ii

LỜI CẢM ƠN iii

MỤC LỤC iv

DANH SÁCH CHỮ VIẾT TẮT vi

DANH MỤC BẢNG vii

DANH MỤC HÌNH viii

Chương 1: ĐẶT VẤN ĐỀ 1

Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN 3

2 1 Tình hình nghiên cứu sán lá gan trong nước và ngoài nước 3

2.1.1 Tình hình nghiên cứu sán lá gan ngoài nước 3

2.1.2 Tình hình nghiên cứu sán lá gan trong nước 4

2 2 Tình hình nghiên cứu về họ ốc Lymnaeidae 6

2.2.1 Tình hình nghiên cứu về họ ốc Lymnaeidae ở nước ngoài 6

2.2.2 Tình hình nghiên cứu về họ ốc Lymnaeidae ở trong nước 7

2.2.3 Sơ lược về động vật thân mềm (Ngành Mollusca) 9

2.3 Bệnh sán lá gan trên trâu bò 15

2.3.1Căn bệnh 15

2.3.2 Phân loại và hình thái 15

2.3.3 Vòng đờivà sự phát triển của sán lá gan 19

2.3.4 Tác động qua lại của sán lá gan và ký chủ 21

2.3.5 Tác hại bệnh sán lá gan 23

2.3.6 Cơ chế sinh bệnh 24

2.3.7 Triệu chứng và bệnh tích 24

2.3.8 Dịch tễ học, chẩn đoán và phòng trị bệnh 26

Chương 3: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP 31

3.1 Nội dung 31

Trang 6

3.2 Thời gian và địa điểm thực hiện đề tài 31

3.3 Đối tượng nghiên cứu 31

3.4 Phương tiện nghiên cứu 31

3.4.1 Chỉ tiêu theo dõi 31

3.4.2 Dụng cụ và hóa chất 32

3.5 Phương pháp nghiên cứu 32

3.5.1 Phương pháp thu thập mẫu 32

3.5.2 Phương pháp định danh phân loại 33

Chương 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 40

4.1 Kết quả tình hình nhiễm sán lá gan lớn trên bò theo thể trạng tại tỉnh Trà Vinh 40

4.2 Đặc điểm hình thái của sán lá gan ký sinh trên bò tại Trà Vinh 41

4.3 Biểu hiện bệnh tích trên ở gan nhiễm sán lá gan lớn 46

4.4 Thành phần loài ốc nước ngọt thuộc họ thuộc họ Lymnaeidae tại tỉnh Trà Vinh 47

4.5 Theo dõi thời gian phát triển của trứng thành Micracidium 49

4.5.1 Đặc điểm hình thái của trứng sán lá gan ký sinh trên bò tại Trà Vinh 49 4.5.2 Thời gian phát triển của trứng thành Micracidium 49

Chương 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 51

5.1 Kết luận 51

5.2 Đề nghị 51

TÀI LIỆU THAM KHẢO 53

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1: Phân biệt hình thái F.hepatica và F.gigantica 17

Bảng 2.2: So sánh để phân biệt hai loài ốc 19Bảng 2.3: Một số loại thuốc tẩy trừ sán lá gan trên bò đang sử dụng trên thị

trường 28

Bảng 4.1:Tỉ lệ nhiễm sán lá gan lớn trên bò tại tỉnh Trà Vinh qua phương pháp

mổ khám 40

Bảng 4.2: Cường độ nhiễm sán lá gan lớn trên bò tại tỉnh Trà Vinh 40

Bảng 4.3: Đặc điểm hình thái sán lá gan lớn tại tỉnh Trà Vinh 41

Bảng 4.4: Kết quả các chỉ số của ốc nước ngọt thuộc họ Lymnaeidae tại các điểm

khảo sát 48

Bảng 4.5: Thành phần và tỷ lệ các loài ốc nước ngọt thuộc họ Lymnaeidae tại các

địa điểm khảo sát 48

Bảng 4.6: Kích thước của trứng Fasciola spp 49 Bảng 4.7: Khảo sát tỷ lệ nở, thời gian trứng phát triển thành Micracidium 49

Trang 9

DANH MỤC HÌNH

Hình 2.1: A Ốc Lymnaea , B Trứng ốc Lymnaea 13

Hình 2.2: Ốc Lymnaea swinhoei 14

Hình 2.3:Ốc Lymnaea viridis 14

Hình 2.4: Fasciola gigantic 16

Hình 2.5: Trứng Fasciola gigantic 16

Hình 2.6: Fasciola hepatica 17

Hình 2.7:TrứngFasciola hepatica 17

Hình 2.8: Sán lá gan Fasciola gigantica và Fasciola hepatica 18

Hình 2.9 : Vòng đời của Fasciola spp 21

Hình 3.1: Ốc Lymnaea ngoài môi trường tự nhiên 33

Hình 3.2: Mẫu được cố định và tiến hành đo 33

Hình 3.3: Thước đo trắc vi 34

Hình 3.4: Thước đo thị kính (trên) và vật kính (dưới) nhìn dưới kính hiển vi quang học 35

Hình 3.5: Dùng thước trắc vi đo đường kính giác bụng, giác miệng của sán lá gan 36

Hình 3.6:Giác bụng, giác miệng sán lá gan dưới kính hiển vi ở X10 36

Hình 3.7:Cách đo chiều cao lỗ miệng, tháp ốc 37

Hình 3.8: Quan sát bò trước khi giết mổ 38

Hình 3.9: Trứng sán Fasciola spp đo bằng kính trắc vi ở vật kính X4 38

Hình 4.1: Các kiểu hình F1, F2, F3, F4, F5 43

Hình 4.2: Kiểu hình sán lá dang 1 (F1) 43

Hình 4.3: Kiểu hình sán lá dạng 2 (F2) 44

Hình 4.4: Kiểu hình sán lá dạng 3 (F3) 44

Hình 4.5: Kiểu hình sán lá dạng 4 (F4) 45

Hình 4.6: Kiểu hình sán lá dạng 5 (F5) 45

Hình 4.7: Bề mặt gan có màu xám nhợt nhạt, gan bị xơ hóa và có ổ viêm 47

Hình 4.8: Gan có mủ 47

Hình 4.9: Sán chui ra từ tĩnh mạch gan 47

Hình 4.10: Micracidium ở vật kính X10 - 50

Trang 10

TÓM LƢỢC

Đề tài: Tình hình nhiễm sán lá gan lớn ở bò tại tỉnh Trà Vinh, phân loại ốc thuộc họ Lymnaeidae và theo dõi sự phát triển của trứng sán lá gan lớn ở bên

năm 2015.Qua mổ khám 80 con bò tại lò mổ các địa bàn khảo sát tỉnh Trà Vinh, cho thấy bò tại tỉnh Trà Vinh nhiễm sán lá gan lớn qua mổ khảo sát với tỉ lệ nhiễm 8,75% Trong đó bò có thể trạng trung bình nhiễm 17,5%, bò nhiễm mức

độ + chiếm 28,57% với cường độ nhiễm 5,5 0,5 (sán/cá thể bò), mức độ ++ chiếm 71,43% với cường độ nhiễm 10,5 0,5 (sán/cá thể bò)

Qua phân loại 68 mẫu sán lá gan lớn chúng tôi định dạng được 5 kiểu hình sán lá gan lớn bao gồm F1, F2, F3, F4 và F5 với các dạng kiểu hình và kích thước khác nhau, cho thấy sán lá gan lớn ký sinh trên bò tại tỉnh Trà Vinh có 5 kiểu hình, trong 5 kiểu hình thì kiểu hình F1 có tần số xuất hiện cao nhất 26,47%, kế đến là kiểu hình F2(23,53%), F3 và F5 có cùng tần số xuất hiện (19,12%) riêng kiểu hình có tần số xuất hiện thấp nhất là F4(11,76%) Kích thước các chiều đo biến động từ 27,675 0,425 (mm) đến 30,116 0,728 (mm) đối với chiều dài và từ 7,929 0,493 (mm) đến8,744 0,459(mm) đối với chiều rộng, tỷ lệ dài/rộng dao động từ 3,280 0,162 đến 3,728 0,358

Qua theo dõi thời gian trứng Fasciola gigantica phát triển thành ấu trùng

Micracidium chúng tôi có nhận xét: Trứng có màu vàng nhạt hay vàng chanh,

hình bầu dục, trứng to, có nắp, vỏ mỏng, 2 đầu tương đối gần bằng nhau Bên trong tế bào phôi phân bố đều, kín vỏ trứng, kích thước 0,156 0,013 (mm)x0.076 0,008 (mm).Sau 19,65 1,985 (ngày) theo dõi trứng Fasciola

gigantica phát triển thành ấu trùng Micracidium,trong điều kiện tự nhiên có nước

và được chiếu sáng trực tiếp từ ánh sáng tự nhiên 2 giờ/ngày

Qua thu thập 200 ốc nước thuộc họ Lymnaeidae tại các huyện tại tỉnh Trà Vinh Kết quả định danh phân loại các loại ốc nước ngọt thuộc họ Lymnaeidae thấy có 2

loài được tìm thấy là ký chủ trung gian của sán là tại các địa điểm khảo sát là:

Lymnaea swinhoei vàLymnaea viridisvới tỷ lệ lần lượt là 77% và 23%

Trang 11

Chương 1: ĐẶT VẤN ĐỀ

Quá trình hội nhập, chính sách mở cửa với nước ngoài đã có nhiều ảnh hưởng và tác động đến ngành nông nghiệp nói chung và tình hình chăn nuôi nói riêng Nhiều chính sách hỗ trợ của nhà nước được triển khai nhằm khuyến khích nông dân hăng say lao động, điển hình trong phong trào nuôi bò lấy sữa, thịt Nhu cầu tiêu thụ thịt và sữa trâu, bò ngày càng tăng cao là nguyên nhân cho sự gia tăng số lượng đàn trâu, bò Theo báo cáo tình hình chăn nuôi bò thịt các tỉnh phía Nam và định hướng phát triển giai đoạn 2005-2010: năm 2004 có 4.812.116 con tăng 124,7% so với năm 2001, ở Đồng Bằng Sông Cửu Long số lượng bò tăng cũng đáng kể năm 2001 có 217.559 con đến năm 2004 có 412.924 con tăng 189,8% Được thiên nhiên ưu đãi với nền khí hậu nhiệt đới, thảm thực vật phong phú

và đa dạng Việt Nam nói chung và Đồng Bằng Sông Cửu Long nói riêng là nơi

có điều kiện thuận lợi cho nhiều loài ký sinh trùng phát triển, ký sinh và gây bệnh Đặc biệt bệnh sán lá gan được biết đến là một bệnh ký sinh trùng phổ biến trên loài động vật ăn cỏ và động vật nhai lại Chúng làm con vật trở nên gầy yếu, còi cọc, chậm lớn, giảm sức đề kháng tạo điều kiện kế phát một số bệnh khác làm giảm hiệu quả chăn nuôi, gây thiệt hại lớn về kinh tế Theo số liệu của FAO, hàng năm sán lá gan làm thất thu cho ngàng chăn nuôi trâu bò khoảng hơn 3 tỷ USD (FAO, 1989) Ở Hà Lan hàng năm bệnh sán lá gây thiệt hại cho ngành kinh doanh sữa 135 triệu phơ răng Ở lò sát sinh Anh hàng năm loại thải hơn 120 tấn gan tươi trị giá 2,8 triệu phơ răng

Nguy hiểm hơn nữa là sán lá gan có thể lây sang người nếu người ăn phải

kén sán metacercaria, theo ghi nhận của Viện Sốt rét – Ký sinh trùng – Côn trùng

Trung ương đã có trường hợp sán khoét ngực người chui ra.Tuy nhiên, những tác hại do bệnh giun sán gây ra chưa được người chăn nuôi chú ý phòng trừ, bởi phương thức chăn nuôi lạc hậu nên bệnh thường xảy ra rải rác, mầm bệnh có nhiều cơ hội cảm nhiễm và lây lan.Vì vậy việc hiểu biết về ký chủ trung gian của

loài sán lá gan Fasciola spp, thời gian trứng phát triển thành mao ấu micracidium

là rất cần thiết để áp dụng trong chăn thả cũng nhưng phòng chống bệnh sán lá gan

Tuy khá nhiều loài Fasciola spp khác nhau, song hai loài Fasciola quan trọng nhất được biết gây bệnh cho người là Fasciola hepatica (Linnaeus, 1758)

và Fasciola gigantica(Cobbold, 1855).Hai loài này giống nhau ở nhiều đặc điểm

hình thái, sinh thái, sinh học nên khó phân biệt khi so sánh riêng lẻ.Tuy nhiên,

Trang 12

chúng ta vẫn có thể chẩn đoán, giám định và phân loại giữa Fasciola hepatica và

Fasciola gigantica dựa vào phương pháp hình thái học (kiểu hình).Các kỹ thuật

và phương pháp này đã đáp ứng được phần lớn yêu cầu về phân loại sinh vật và cho kết quả tốt

Để tìm hiểu kỹ hơn về ký chủ trung gian,đặc điểm hình thái, cách phân loại sán lá

gan ký sinh trên bò và theo dõi thời gian trứng phát triển thành micracidium và

được sự chấp thuận của Bộ môn Thú y – Khoa Nông nghiệp và Sinh học ứng

dụng – Trường Đại học Cần Thơ chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài “Tình hình

nhiễm sán lá gan lớn ở bò tại tỉnh Trà Vinh, phân loại ốc thuộc họ Lymnaeidae

và theo dõi sự phát triển của trứng sán lá gan lớn ở bên ngoài môi trường tự nhiên”

Với mục tiêu:

Xác định thành phần loài sán lá gan lớn ký sinh trên bò tại tỉnh Trà Vinh

Định danh phân loại ốc thuộc họ Lymnaeidae tại tỉnh Trà Vinh

Theo dõi thời gian trứng sán lá gan lớn phát triển thành ấu trùng Micracidium

Khảo sát đặc điểm bệnh tích sán lá gan

Trang 13

Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN

2 1 Tình hình nghiên cứu sán lá gan trong nước và ngoài nước

2.1.1 Tình hình nghiên cứu sán lá gan ngoài nước

Sán lá gan được biết đến từ năm 1370 Năm 1379, lần đầu tiên Jehan De Brie mô

tả toàn bộ sán lá gan trên cừu Năm 1752, Swammerdam phát hiện những vĩ ấu

(cercariae) của sán Fasciola hepatica ởmột con ốc Gasteropoda Đến năm 1758

Fasciola hepatica được Linnaeus mô tả Năm 1845, Rudolphi phát hiện Dicrocoelium dendriticum, 1847 Creplin phát hiện ra Paramphistomum explanatum, 1885 Cobbold phát hiện ra Fasciola gigantica (Công trình nghiên

cứu ký sinh trùng ở Việt Nam, Đỗ Dương Thái - Trịnh Văn Thịnh, 1978) Thomas và Leuckart (1882), tạo nghiên cứu chu kỳ sinh học hoàn chỉnh của sán

lá gan (Đỗ Dương Thái, Trịnh Văn Thịnh, 1978)

Stemphenol (1947) và Urquhart (1956) đã khẳng định tác hại của sán lá gan đối với toàn bộ cơ thể trâu bò là gây thiếu máu và dị ứng khi cảm nhiễm nặng (Phan Địch Lân, 2000)

Jenings (1956) qua khảo sát cho thấy một sán hút tới 0.2 ml máu trong một ngày, theo ông chỉ sán lớn ăn máu còn sán nhỏ ăn tổ chức

Locryt (1958) mô tả bệnh tích của sán lá gan với túi mật sưng to, ống mật bị tắc, phình to, lớp thượng bì dày lên, có nhiều ổ áp xe ở gan Gan sưng to, chai cứng

và nặng, tích nước xoang bụng, bạch cầu ái toan tăng 81% Gia súc thiếu máu, nhiễm độc, viêm khớp nặng Tích nước xoang bụng, bạch cầu ái toan tăng 81% Gia súc thiếu máu, nhiễm độc viêm khớp nặng Yasin (1958), cho rằng ở Pakistan

sự cảm nhiễm Fasciola gigantica xảy ra nhiều nhất sau đợt gió mùa, khi nước lụt

làm cho vĩ ấu ra khỏi cơ thể ốc hàng loạt Vào tháng giêng, tháng hai, khi thiếu chỗ thả chăn, gia súc phải ăn ở những nơi ẩm ướt có nang ấu sống được nhiều tháng (Đỗ Dương Thái, Trịnh Văn Thái, 1978)

Ueno et al (1960) sử dụng Biotin điều trị sán lá gan với liều 30-35 mg/kg thể trọng, hiệu lực 66-88%

Davtjan (1962) chứng minh quá trình dị ứng là do kết quả tác động của nhiều kháng nguyên sinh từ sán và những kháng thể xuất hiện trong gan, quá trình dị ứng dẫn đến những rối loạn đầu tiên bằng suy dinh dưỡng, thiếu Vitamin A làm

cơ thể gầy yếu, tạo điều kiện cho các bệnh do vi khuẩn dễ phát sinh, thể hiện bằng sự tăng quá nhiều bạch cầu ái toan trong cơ thể ( Đỗ Dương Thái, Trịnh Văn Thịnh, 1978)

Trang 14

Dawes (1962), gia súc bị suy nhược và thiếu máu là do độc tố của Fasciola

giantica tác động gây hiện tượng đạm trong máu thiếu, lượng albumin giảm và

globulin tăng

Theo Horcher (1969) số metacercariae của lần gây nhiễm đầu ảnh hưởng đến đáp ứng của ký chủ, càng có nhiều Fasciola trưởng thành sau lần gây nhiễm đầu tiên thì sức đề kháng của trâu bò sau đó càng mạnh Fasciola hepatica sống từ 9 đến

12 tháng trong ống dẫn mật của bò và sau 3 năm chỉ tìm thấy được vài con

Fasciola Alicata và Swanson (1941) cũng xác nhận hiện tượng tương tự với Fasciola gigantica (trích dẫn Chann Bory 2003)

Black and Froyd (1972) bò nhiễm Fasciola sẽ làm giảm chất lượng sữa và năng

suất sữa giảm từ 15-30% , thậm chí có thể giảm đến 50% (Đỗ Dương Thái, Trịnh Văn Thịnh, 1978)

Sinclair (1972) trâu bò cái rất dễ nhiễm Fasciola hepatica và kết quả là sẩy thai,

sinh non hoặc con sinh ra yếu ớt

Hope, Cawdery và ctv (1977) cho thấy bò bị nhiễm từ 40-140 con sán lá gan thì

tăng trọng giảm từ 8-28%

Enzeby (1984) cho rằng sán lá gan trưởng thành lấy chất dinh dưỡng và ăn hồng cầu từ gan và mật để sống làm cho bò gầy còm và thiếu máu (Đỗ Trọng Minh, 1999)

Cho đến nay WHO ước tính rằng có ít nhất 2,4 triệu người bị nhiễm ở hơn 70 quốc gia trên toàn thế giới, với vài triệu rủi ro

(www.who.int/foodborne_trematode_infections/fascioliasis/en/)

2.1.2 Tình hình nghiên cứu sán lá gan trong nước

Houdemer (1938) phát hiện hai trường hợp nhiễm sán lá gan trên người Việt

Nam Ông tiến hành điều tra trên gia súc thấy có cả hai loài Fasciola hepatica và

Fasciola gigantic Kết quả điều tra tỉ lệ nhiễm trên trâu là 64,7%, trên bò là

Đỗ Dương Thái, Trịnh Văn Thịnh (1978)) thấy thời gian ngắn nhất từ trứng cho

tới lúc thành kén của Fasciola gigantica là khoảng 70 ngày

Trang 15

Hồ Thị Thuận, Nguyễn Ngọc Phương (1986) cho biết qua kiểm tra phân tỉ lệ nhiễm sán lá gan trâu bò ở Lâm Đồng là 34,55%, khu vực Sài Gòn, Cần Thơ tỉ lệ nhiễm 33,66%, Minh Hải nhiễm 2,42-7% Khi mổ khám thì tỉ lệ nhiễm ở bò 21,93% ở trâu là 91,66%

Lương Tố Thu et al (1996) cho biết tỷ lệ nhiễm sán lá gan qua kiểm tra lò mổ lên

tới 76%, đại đa số gan bị xơ hóa, hoại tử, canxi hóa và phải hủy bỏ từ 80-100%

(Phạm Sĩ Lăng và ctv, 2001)

Nguyễn Trọng Kim (1996) kiểm tra trên 4962 mẫu ốc ở Hà Nam Ninh, Hải Phòng thấy có 52,74% ốc có nhiễm ấu trùng sán lá

Phan Lục (1996) qua mổ khám 34 trâu tại một số tỉnh phía Bắc cho biết tỷ lệ

nhiễm Fasciola gigantica là 47%

Lương Văn Huấn và ctv (1997) điều tra trên 11 tỉnh phía Nam thì tỷ lệ nhiễm sán

lá gan ở bò qua kiểm tra phân từ 28,1-45,2% tùy theo lứa tuổi và qua mổ khám

từ 20-32,2% tùy theo địa phương

Lương Tố Thu (1997) qua điều tra 4 tỉnh phía Bắc có tỷ lệ nhiễm sán lá gan như

sau: đồng bằng là 55,5%, trung du là 31,5% và miền núi là 23%

Tô Du (1999) bệnh sán lá gan thường xảy ra ở trâu nhiều hơn bò, do trâu thích ăn

cỏ dưới nước, bệnh thường rất nặng với trâu bò nhập nội Thời gian phát triển của bệnh sán lá gan thường dưới 6 tháng, con vật chết vì kiệt sức không đau đớn,

không co giật

Phan Địch Lân (2000) cho biết tỷ lệ nhiễm sán lá gan ở đồng bằng từ 19,6-61,3%;

ở trung du từ 16,4-50,2%; ở vùng núi từ 14,7-44% và ở vùng ven biển là

Trong thời gian từ tháng 11 năm 2004 đến tháng 2 năm 2006 phòng khám chuyên khoa cua Viện Sốt Rét – Côn Trùng Quy Nhơn đã điều trị khoản 1500 bệnh nhân

nhiễm sán lá gan Fasciola từ 15 tỉnh miền Trung Tây Nguyên

(www.impe-qn.org.vn)

Tình hình nghiên cứu ở Đông Bằng Sông Cửu Long

Trang 16

Nguyễn Hữu Hưng và ctv (1993) qua mổ khám trên 130 trâu bò (86 trâu, 44 bò)

và qua kiểm tra phân 82 trâu bò (49 trâu, 33 bò) tại Thốt Nốt cho biết trâu bò huyện Thốt Nốt nhiễm sán lá với tỷ lệ nhiễm sán lá gan ở trâu là 51,2% và ở bò là 33,3% Sử dụng Han-Dertil, uống trực tiếp, không gây phản ứng phụ, hiệu lực đạt 100%

Nguyễn Hữu Hưng (1996) bằng phương pháp mổ khám trên 150 trâu bò (64 trâu,

86 bò) cho biết đàn trâu bò tỉnh An Giang nhiễm sán lá gan chiếm tỷ lệ tương đối cao, ở trâu là 85,93% và ở bò là 83,72% Qua kiểm tra phân trên 130 bò ở 2 huyện Tri Tôn và Tịnh Biên cho biết tỷ lệ nhiễm sán lá gan là 46,15%

Nguyễn Thị Hưng Hải và ctv (2004) qua kiểm tra 250 bò ở Cần Thơ phát hiện

122 con nhiễm với tỷ lệ nhiễm là 48,85% và 250 bò ở An Giang phát hiện 169 con nhiễm với tỷ lệ là 67,6% Sử dụng Dovenix với liều 1,3 ml/kg thể trọng cho hiệu quả 100%

Thạch Thanh Thuý (2006) kiểm tra bệnh sán lá gan ở Sóc Trăng cho biết tỷ lệ nhiễm là 49,45% và còn cho biết tỷ lệ nhiễm tăng dần theo lứa tuổi Tỷ lệ nhiễm

ở bò ta cao nhất, kế đến là bò lai Sind, và cuối cùng là bò sữa

Nguyễn Hữu Hưng và ctv (2009), qua kiểm tra 981 mẫu phân bò tại 4 huyện

trong tỉnh Đồng Tháp ở các lứa tuổi khác nhau thuộc 3 giống bò (bò sữa, bò lai Sind, bò địa phương), kết hợp mổ khám 309 bò cho thấy tỷ lệ nhiễm sán lá gan 53,31%; bò địa phương nhiễm 59,80%, bò lai Sind nhiễm 53,48% và bò sữa nhiễm 33,08% Bò bị nhiễm sán lá gan tăng dần theo lứa tuổi

Trần Thanh Lộc (2010), qua kiểm tra 525 mẫu phân bò ở tỉnh Trà Vinh cho biết

tỷ lệ nhiễm là 37,33% Bò nhiễm sán lá gan có khuynh hướng tăng dần theo tuổi Bằng phương pháp mổ khám và định danh phân loài sán lá gan, thấy rằng bò

nhiễm 2 loài Fasciola spp và loài Paramphistomum explanatum với tỷ lệ nhiễm

lần lượt là 31,11%, 18,89%

2 2 Tình hình nghiên cứu về họ ốc Lymnaeidae

2.2.1 Tình hình nghiên cứu về họ ốc Lymnaeidae ở nước ngoài

Kendall (1949), ở mỗi khu vực khác nhau thì ký chủ trung gian của loài Fasciola

sp cũng khác nhau và thay đổi theo từng bước Ở Australia ký chủ trung gian với

của sán lá gan là loài Lymnaea tomentoxa, Bắc Mỹ là Lymnaea bulimoides

techella

Taylor (1949) làm thí nghiệm và thấy rằng trong 10 ốc thí nghiệm thì có 3 ốc vẫn tồn tại sau mùa hè khô hạn “ ngủ hè” với điều kiện khô nhân tạo trong 12 tháng,

Trang 17

giai đoạn phát triển đơn tính của sán lá gan tồn tại tối thiểu 10 tháng trong ốc ngủ

Gordon et al (1959) sử dụng đồng pentachlorphenate để diệt ký chủ trung gian

với liều 11kg/ha với thể tích 4500 lít/ha sẽ làm bất hoạt ký chủ trung gian

Lymnaeao tomentosa

Kendall và Ollerenshaw (1963) chứng minh mật độ phát triển của ốc trong quần thể cũng là yếu tố ảnh hưởng đến sự nhiễm sự ký sinh trùng

Soubly (1965) cho rằng Dicrocoelium dendriticum có 2 ký chủ trung gian đó là

ốc và kiến, micracidium không nở từ trứng mà nở từ ký chủ trung gian, ở trong

ruột ốc

Taylor (1965) công bố Fasciola gigantica là loài phổ biến ở các nước nhiệt đới

Ông còn cho biết từng loài ốc ký chủ trung gian được phân bố theo vùng khác nhau:

Lymnaea natalensis: Trung Phi

Lymnaea persica: Pakistan

Lymnaea lutoole: Afganistan

Lymnaea limoso: Nga

Lymnaea swinhoei: Trung Quốc

Lymnaea viridis: Indonexia

(trích dẫn Đỗ Trọng Minh, 1999)

Kaufmann (1996), vật chủ trung gian của sán lá Fasciola là các ốc nước ngọt họ

Lymnaea: Lymnaea auricularia, Lymnaea swinhoei, Lymnaea viridis, Galba truncatula, Radix ovate … Tác giả cho biết vùng đồng bằng có nhiều hồ, ao,

kênh, rạch, có điều kiện cho ốc – vật chủ trung gian sống và sinh sản Các kiểu địa hình khác thì vấn đề này hạn chế hơn so với đồng bằng

2.2.2 Tình hình nghiên cứu về họ ốc Lymnaeidae ở trong nước

Phan Địch Lân, Lê Hồng Căn (1972) xác định ốc ký chủ trung gian chủ yếu tại

Việt Nam là Lymnaea swinhoei (H Adams, 1866) và Lymnaea viridis (Quoy & Gaimard, 1833) Tỷ lệ ốc mang ấu trùng đến 90% Điều tra mật độ ốc Lymnaea

viridis ở chân ruộng mạthấy trung bình là 126 con/m2, mật độ ốc Lymnaea

swinhoei trôi nổi là 25 con/m2

Trang 18

Thái Trần Bái (1977), ở ruộng rau muống có mức nước nông, ốc thường tập trung

ở cọng, lá rau đang thối rữa Ở các ruộng muống đang trong thời kỳ khô hạn, đất

đá nứt nẻ, ốc thường tập trung ở gốc muống, tỷ lệ ốc sống là 90,3% Trong ruộng rau lấp mật độ ốc thấp hơn Ở ruộng lúa, ruộng mới cấy, ốc tập trung ở gốc lúa hay treo mình trên mặt nước

Phan Địch Lân (1985) khi điều tra các loài ốc ký chủ trung gian của sán lá gan

trên 15 tỉnh phía Bắc nhận thấy có sự hiện diện của 2 loài ốc Lymnaea viridis và

Lymnaea swinhoei Loài Lymnaea swinhoei (ốc vành tai) có vỏ mỏng, dễ vỡ

không có nắp miệng, kích thước 20 mm, vòng xoắn cuối cùng rất lớn, chiếm gần

hết phần thân, vỏ toe ra như vành tai Loài Lymnaea viridis (ốc chanh) cũng có vỏ

mỏng, không có nắp miệng, kích thước 10 mm, vỏ dễ vỡ, có 4-5 vòng xoắn, vòng xoắn cuối cùng lớn Tác giả còn cho biết mật độ của ốc theo mùa khác nhau: mật

độ vụ đông xuân lớn hơn vụ hè thu:

Vụ đông xuân: Lymnaea viridis 123±54 con/m2

Vụ hè thu: Lymnaea viridis 64±17 con/m2

Phan Địch Lân (2000), cho biết Việt Nam loài Lymnaea viridis thích sống ở cạn hơn (nơi có nước xâm xấp), còn loài Lymnaea swinhoei thích sống ở nơi có nước

hơn (sống trôi nổi ở cống, rãnh, ao, hồ)

Lê Hồng Mận và Lê Văn Thông (2001) dùng Sulfat đồng (CuSO4 ) để tiêu diệt ốc-ký chủ trung gian cho kết quả tốt

Lê Quang Hùng (2002), ở Bình Định có 2 loài ốc Lymnaea viridis và Lymnaea

kswinhoei là vật chủ trung gian của Fasciola gigantica Tỷ lệ phát triển của trứng Fasciola gigantica nuôi trong nước cất và nước ao hồ là khá cao từ 80-96%,

trong điều kiện nhiệt độ từ 27-350

C thời gian phát triển từ trứng sán đến nang sán

là 42-58 ngày Trong đó thời gian phát triển trong ốc vật chủ trung gian từ 31-40 ngày

Phan Địch Lân (2004) cho biết: Lymnaea swinhoei phân bố nhiều hơn ở vùng đồng bằng, trong khi ốc Lymnaea viridis phân bố nhiều hơn ở vùng núi, trung du

và ven biển

Trang 19

Phạm Ngọc Doanh và cs (2005) , cho thấy chỉ 0.06% ốc Lymnaea swinhoei và 1% ốc Lymnaea viridis ở Đông Anh và Phú Xuyên, Hà Nội bị nhiễm ấu trùng sán

lá gan

Đỗ Đức Ngái và cs (2006), thông báo 0,45% ốc Lymnaea swinhoei ở Đắk Lắk bị

nhiễm ấu trùng sán lá gan

Lê Hoàng Nam (2007) nghiên cứu tại tỉnh Hậu Giang cho biết 2 giống Bulinidae

và Lymnaea là ký chủ trung gian truyền bệnh sán lá gan cho gia súc nhai lại và kể

cả con người, tỷ lệ loài ốc Lymnaea tại điểm nghiên cứu là 35,39%

Nguyễn Đức Tân và cs (2010), xác định ốc Lymnaea viridis nhiễm ấu trùng ở Bình Định là 1,8%, Khánh Hòa là 0,92%, Phú Yên là 0,5% Ốc Lymnaea

swinhoei nhiễm ấu trùng sán lá gan lớn ở Bình Định là 1,21%, Khánh Hòa là

0,37%, Phú Yên là 0,68%

Đồng Thị Thanh Dung (2011), nghiên cứu tại huyện Thăn Bình, tỉnh Quảng Nam

có 5 loài ốc nước ngọt Viviparus aceracus Pila polita, Pomacea canaliculata,

Melanoides tuberculata, Lymnaea viridis Trong đó có Lymnaea viridis là vật chủ

trung gian của sán lá gan được tìm thấy ở nơi nước đọng và nơi nước chảy chậm

2.2.3 Sơ lƣợc về động vật thân mềm (Ngành Mollusca)

Ngành Mollusca đã có rất nhiều hệ thống phân loại khác nhau, tùy theo từng giai

đoạn phát triển của phân loại học và tùy theo tác giả Có các hệ thống phân loại của Pensenner (1892), Parke (1987), Cooke (1917), trong hệ thống phân loại này tiêu biểu là hệ thống phân loại của Pensenner và Thiel

Hệ thống phân loại của Pensenner và Thiel chia ngành Mollusca thành 5 lớp:

Amphineura, Gastropoda, Scaphopoda, Bivalvia, Cephalopoda.Nguyễn Chính

(1996), dựa trên hệ thần kinh song song mà tác giả xếp 4 nhóm:

Chaetodermomorpha, Neomenimorpha, Monoplacophora và Polyplacophora vào

một lớp đó là Amphineura

Hiện nay, hệ thống phân loại Mollusca được xây dựng dựa trên cơ sở sau:

Trang 20

 Cấu tạo, hình dáng và số lượng vỏ

 Sự phát triển của phần đầu (đầu phát triển hay thoái hóa)

 Hình dạng chân

 Cấu tạo của hệ thần kinh

 Vị trí, số lượng và cấu tạo cơ quan hô hấp (mang, phổi)

 Cấu tạo của phiến hàm, lưỡi sừng và răng sừng

 Đơn tính hay lưỡng tính…

Gần đây, một số nhà phân loại học dựa vào hình dáng cấu tạo của vỏ đã chia

ngành Mollusca thành 7 hoặc 8 lớp khác nhau Tiêu biểu có hệ thống phân loại theo Ruppert và Barnes (1994) chia lớp Amphineura thành 3 lớp mới đó là

Aplacophora (không vỏ), Monoplacophora (một vỏ) và Polyplacophora (nhiều

vỏ) còn các lớp khác thì vẫn giữ nguyên Theo Barnes et al (2000) thì lớp

Aplacophora được tách thành 2 lớp mới đó là Chaedermomorpha và Neomeniomorpha Các lớp còn lại tương tự như phân loại của Pechenik (2000) và

Ruppert & Barnes (1994) Như vậy, theo Barnes et al (2000) thì ngành động vật

thân mềm được chia thành 8 lớp

2.2.3.1 Khái quát về lớp chân bụng (Gastropoda)

Hình thái bên ngoài

Đầu: phần đầu bao gồm: mắt, xúc tu, miệng và cơ quan cảm giác

Chân: có dạng diện rộng (mặt phẳng) thích nghi với lối sống bò lê

Màng áo: là lớp da nhăn nheo bao bọc lấy phần cơ thể bên trong và có khả năng

sinh ra vỏ để bảo vệ cơ thể Giữa nội tạng và màng áo có một xoang trống có chứa mang gọi là xoang màng áo hay xoang mang (mantle cavity), lỗ sinh dục và hậu môn cũng đổ ra xoang màng áo

Vỏ: được màng áo tiết ra, cấu tạo gồm 3 lớp: tầng sừng (pereiostracum), tầng đá

vôi (ostracum) và tầng xà cừ (hypostracum)

Trang 21

 Tầng sừng: do các tế bào mép màng áo (các tế bào ở nếp sinh vỏ) sinh ra, tầng này chỉ tăng diện tích rất ít tăng độ dày Thành phần chủ yếu là chất sừng

 Tầng đá vôi: do các tế bào biểu bì mặt ngoài phần tiếp theo của mép màng

áo sinh ra, tầng này tăng diện tích và ít tăng độ dày Thành phần chính là CaCO3

 Tầng xà cừ: do phần trên cùng của các tế bào biểu bì mặt ngoài tiết ra, tầng này cấu tạo gồm CaCO3, các muối kim loại, protein và polysaccarid Tầng

xà cừ tăng cả diện tích và độ dày theo thời gian

Cấu tạo bên trong

Hệ thần kinh: Gastropoda có 4 đôi, bao gồm vòng thần kinh hầu (nửa trên là

cung não, nửa dưới là cung miệng), hạch chân, hạch bên và hạch tạng

Hạch não: điều khiển hoạt động của các cơ quan như mắt, xúc tu, đầu, các cơ

quan cảm giác

Hạch chân: điều khiển hoạt động của chân

Hạch bên: điều khiểu hoạt động của màng áo

Hạch tạng: điều khiển cơ quan nội tạng và hệ tuần hoàn

Trang 22

Cơ quan cảm giác

Xúc giác: toàn bộ bề mặt cơ thể đều có chức năng xúc giác, đặc biệt là phần đầu,

xung quanh chân, mép màng áo, xúc tu là những nơi rất nhạy cảm với môi trường xung quanh

Vị giác: có khả năng chọn lọc thức ăn nhờ có tế bào vị giác nằm ở mặt bụng và

hai bên thành ống tiêu hóa

Thính giác (cơ quan thăng bằng): do các tế bào biểu bì hình thành, có thể có một

hoặc nhiều màng nhĩ thạch và xung quanh có các tế bào tuyến tiết dịch thể làm cho hạt nhĩ thạch ở trạng thái lơ lửng

Thị giác: nằm ở gốc hoặc đầu xúc tu, có tác dụng cảm quang

Cơ quan kiểm tra chất nước (Osphradium): là cơ quan cảm giác nằm trong xoang

mafg áo (thường nằm trong gốc mang) Nhiệm vụ là kiểm tra chất lượng nước khi

đi vào xoang màng áo

2.2.3.2 Một số thành phần loài của lớp chân bụng (Gastropoda)

Cơ thể xoắn về bên phải nếu nhìn từ đỉnh tháp, thở bằng phổi

Kích thước 1 – 7cm, có 5 – 7 vòng xoắn

Ăn các loại tảo sống trong nước, các loại cây thủy sinh, chất thải hữu cơ

Di chuyển chậm trong nước, sống ở ao, đầm lầy Mỗi con ốc đẻ khoảng 50 trứng, được kết dính vào nhau bằng chất keo trong suốt gọi là ổ trứng, mỗi ở dài từ 3 – 5

Trang 23

cm Qua 10 ngày trứng nở, những con ốc này sẽ phân tán khắp nơi và phát triển nhanh chóng

Vỏ phát triển mỗi tháng một vòng xoắn cho tới khi đạt được kích thước trưởng thành Nếu trong nước thiếu thức ăn, nó cũng trở thành mồi cho những động vật sống trong nước khác

Hình 2.1: A Ốc Lymnaea , B Trứng ốc Lymnaea

(wikipedia.com)

Giống Lymnaea

Lymnaea swinhoei (H.Adams, 1886)

Đồng tên : L.annamitica, Radix swinhoei

Loài Lymnaea swinhoei có chiều dài trưởng thành bằng hoặc lớn hơn 15 mm Vỏ

ốc hình con quay Đỉnh vỏ nhọn Vỏ ốc cuộn xoắn phải, có 3 – 4 vòng xoắn, các vòng xoắn đầu thót nhỏ, trông như cái núm trên vòng xoắn cuối, Vòng xoắn cuối phình rộng, góc trên trái lồi nên vỏ có dạng vuông góc Vỏ mỏng, nhẵn bong màu đất, mặt vỏ có khía mờ Ốc không có nắp miệng, lỗ miệng vỏ loe rộng, hình vành tai, tỷ lệ giữa chiều dài lỗ miệng và chiều cao tháp ốc là 2 – 3 lần, vành miệng ngoài sắc, gần thẳng Bờ trụ ốc tạo thành nếp uốn ở giữa khoảng Phía dưới vành miệng tròn Lỗ rốn hẹp, dài

Trang 24

Hình 2.2: Ốc Lymnaea swinhoei

(wikipedia.com)

Giống Austropeplea

Loài Lymnaea viridis có chiều dài ốc trưởng thành nhỏ hơn 15mm Đỉnh vỏ nhọn,

vỏ ốc hình con quay Vỏ ốc cuộn xoắn phải, có 4 – 5 vòng xoắn, các vòng xoắn đầu nhỏ vừa so với vòng xoắn cuối, vòng xoắn cuối phình rộng nhưng góc bên trái vát nên có dạng tròn Tháp ốc cân đối hình nón, không lõm tại đường biên

Ốc không có nắp miệng Vỏ mỏng nhẵn, màu nâu đất, có khía mờ Lỗ miệng vỏ hình bầu dục đều, tỷ lệ giữa chiều dài lỗ miệng và chiều cao tháp ốc là 1,5 lần, vành miệng ngoài sắc, cong đều Bờ trụ ốc tạo thành nếp uốn ở khoảng giữa Phía dưới vành miệng tròn Lỗ rốn rất hẹp

Hình 2.3:Ốc Lymnaea viridis (wikipedia.com)

Trang 25

2.3 Bệnh sán lá gan trên trâu bò

nhiễm chủ yếu là loài Fasciola gigantica

2.3.2 Phân loại và hình thái

2.3.2.1 Phân loại

Ngành: Platyhelminths Slathelminthes Schneide , 1873

Lớp: Trematoda Pudolphi, 1808

Bộ: Fasciolida Skrjabin et Schulz, 1937

Họ: Fasciolidae Railliet, 1895 và Paramphistomatidae Fischoeder,

1901

Giống: Fasciolavà Gigantocotylg (Paramphistomum), Fischoeder 1901

2.3.2.2 Hình thái

Fasciola gigantica

Được Colbbold phát hiện năm 1885

Ký chủ cuối cùng:trâu, bò, dê, cừu, lạc đà và cả con người

Ký chủ trung gian: các loài ốc thuộc họ Lymnaeidae Ở Việt Nam là L.viridis và

L.swinhoei

Nơi ký sinh: ống dẫn mật, gan

Phân bố địa lý: Châu Phi, Bắc Mỹ, Nam Châu Âu, Châu Á (Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản, Pakistan, Malaysia, Thổ Nhĩ Kỳ, Việt Nam)

Hình thái: sán có hình dạng giống như chiếc lá, thường có màu xám nâu, dài 75mm, rộng 5-12mm, thường chiều dài gấp ba lần chiều rộng Đầu sán có chóp, không có vai, phần đầu phình ra Hai rìa bên thân sán đi song song nhau, phần cuối của thân tù kín lại Giác bụng tròn lớn lồi ra, giác miệng nhỏ ở ngay đỉnh đầu, túi sinh dục lớn nằm gần giác bụng Hầu dài hơn thực quản, ruột phân thành nhiều nhánh nhỏ, buồng trứng phân thành nhiều nhánh nằm gần giữa trước thân Hai tinh hoàn phân nhánh chồng lên nhau, tuyến noãn hoàng xếp dọc 2 bên thân

Trang 26

25-Trứng to hình bầu dục, màu vàng chanh, vỏ mỏng, có nắp, bên trong tế bào phôi phân phối đều kín vỏ trứng, kích thước trứng 0,125-0,177mm x 0,060-0,1mm

Hình 2.4: Fasciola gigantic

Hình 2.5: Trứng Fasciola gigantic

(www.dpd.cdc.gov)

Fasciola hepatica

Được Linnaeus phát hiện năm 1758

Ký chủ cuối cùng: trâu, bò, dê, cừu, người

Ký chủ trung gian: quan trọng nhất là ốc Galba truncatula Ở mỗi nước và mỗi vùng khí hậu là mỗi loài ốc khác nhưng đều thuộc họ Lymnaeidae

Vị trí ký sinh: ống mật, có khi lạc vào phổi, dưới da, tổ chức xung quanh thận Phân bố: nhiều vùng trên thế giới như Mỹ, phía đông Canada, Nam Mỹ, Bắc Mỹ, một số nước Châu Phi,Châu Á và Châu Âu

Hình thái: thân sán dẹp hình lá cây, thường có màu nâu nhạt dài 20-30mm và rộng 4-16mm Phần thân trước phình to rồi thon lại dần ở phía cuối thân tạo thành vai Những ống dẫn tuyến noãn hoàng chạy ngang chia vùng giữa sán ra phần trước và phần thân sau Phần thân sau có tinh hoàn, bộ phận sinh dục đực, tinh hoàn gồm nhiều cái, xếp cái này nằm sau cái kia Tử cung ở phần giữa thân trước tạo một mạng luới rối như tơ vò, phíasau tử cung là buồng trứng có nhánh Giác

Trang 27

miệng nhỏ, tròn và ở chóp đầu con sán, giác bụng hơi to hơn, hình ba cạnh ở cách giác miệng 3-5mm

Kích thước trứng 0,130-0,145 x 0,070-0,090mm

Hình 2.6:Fasciola hepatica

Hình 2.7:TrứngFasciola hepatica

(www.biodidac.bio.uottawa.ca) Bảng 2.1: Phân biệt hình thái Fasciola hepatica và Fasciola gigantica

Đặc điểm Fasciola hepatica Fasciola gigantica

Chiều dài thân 20-30 mm 25-75 mm Chiều rộng thân 4-16 mm 5-12 mm Phía trước Tạo vai Không tạo vai

Hai mép thân Không song song Gần song song Giác miệng và giác bụng Có Có Nhánh ruột Ít hơn Nhiều và thấy rõ

(Phạm Sĩ Lăng, 2001)

Trang 28

Hình 2.8: Sán lá gan Fasciola gigantica và Fasciola hepatica

( www.paru.cas.cz)

2.3.2.3 Ký chủ

a) Ký chủ trung gian

Ký chủ trung gian của sán lá gan là loài ốc nước ngọt không có nắp như thuộc

các loài Lymnaea truncatula, Lymnaea auricularia, Lymnaea viridis, Lymnaea

cubensis, Lymnaea swinhoei, Lymnaea modicella, Lynaea viatrix, … và 29 loài

ốc khác Ở Viêt Nam, có 2 loài là Lymnaea swinhoei phổ biến ở đồng bằng sông Cửu Long và Lymnaea viridis ở vùng núi và trung du

 Đặc điểm của 2 loài ốc

Lymnaea viridis (Ốc chanh)

Ốc có vỏ mỏng, không có nắp miệng, kích thước 10 mm, vỏ ốc dễ vỡ, số vòng xoắn từ 4,5 – 5 vòng, vòng xoắn cuối cùng lớn

Ốc thích sống ở nơi có nước xâm xấp, thường đẻ trứng mõi ổ 7 – 10 quả, sau 7 ngày nở thành ốc con, trong điều kiện nhiệt độ ở nước ta ốc đẻ được quanh năm

và nở thành con

Lymnaea swinhoei (Ốc vành tai)

Ốc vỏ mỏng dễ vỡ, không có nắp miệng, kích thước 20 mm Vòng xoắn cuối cùng lớn chiếm gần hết phần thân, vỏ leo ra như cái vành tai Ốc đẻ trứng quanh năm, mỗi ổ trứng có từ 60 – 150 quả; ốc thường sống trôi nổi ở cống rãnh, ao hồ

Trang 29

Bảng 2.2: So sánh để phân biệt hai loài ốc

Vành miệng Loe rộng như vành tai Thu nhỏ lại

Chỉ số chiều cao lỗ miệng Gấp 3 lần chiều cao tháp ốc Bằng hoặc nhỏ hơn chiều

cao tháp ốc

Ốc Lymnaea viridis có ưu thế trội hơn, tỷ lệ biến thiên 29 – 86%, còn ở Lymnaea

swinhoei tỷ lệ biến thiên 14 – 71%

Tỷ lệ phân bố của hai loài ốc theo vùng địa lý như sau:

Vùng núi: Lymnaea viridis 75% Lymnaea swinhoei 25%

Vùng trung du: Lymnaea viridis 66,5% Lymnaea swinhoei 33,5%

Vùng ven biển: Lymnaea viridis 51,5% Lymnaeaswinhoei 48,55%

Vùng đồng bằng: Lymnaea viridis 42% Lymnaea swinhoei 58%

Nước ta có điều kiện thuận lợi cho sự gây nhiễm bệnh cũng như nhiễm bệnh

trong tự nhiên.Cơ thể trâu bò lại có thể tiếp nhận gần hết số lượng Adolescaria

đưa vào cùng một lúc Cho nên, ở những vùng ô nhiễm có mầm bệnh, có nhiệt độ

thích hợp để nởMicracidium (mao ấu), có ốc trung gian, có trâu bò ăn phải kén

gây bệnh thì cứ bình quân 3 tháng lại tạo ra một đời sán mới Gia súc vẫn mang mầm bệnh cũ lại thêm mầm bệnh mới tạo nên hiện tượng bội nhiễm.Trong đó vai trò của ốc ký chủ trung gian cũng rất quan trọng trong quá trình truyền bệnh

b) Vị trí ký sinh

Kí chủ cuối cùng: Chúng thường kí sinh ở ống dẫn mật, gan, túi mật của trâu, bò,dê, cừu và cả con người Gây hiện tượng viêm gan hoại tử, thời kỳ di hành còn

thấy ở phổi, tim, hạch lamba, tuyến tụy Ký sinh ở bò thường do hai loài Fasciola

hepatica và Fasciola gigantica

2.3.3 Vòng đờivà sự phát triển của sán lá gan

2.3.3.1 Vòng đời của sán lá gan Fasciola spp

Theo Urquhart và ctv (1987) cho rằng chu trình phát triển của Fasciola gigantica giống với chu trình phát triển của Fasciola hepatica Tuy nhiên thời gian cho từng giai đoạn phát triển của Fasciola gigantica dài hơn Người ta chia làm hai

giai đoạn:

Giai đoạn phát triển bên ngoài ký chủ

Trang 30

Fasciola trưởng thành ký sinh trong ống dẫn mật của bò Sau khi trứng thụ tinh,

mỗi sán đẻ hàng chục vạn trứng Những trứng này theo dịch mật vào ruột sau đó theo phân của vật chủ ra ngoài Nếu gặp điều kiện thuận lợi, nước cuốn trôi xuống các vũng nước, hồ, ao, ruộng nước, gặp nhiệt độ 15 – 30oC, đủ oxy, có ánh

sang thích hợp trứng sẽ nở sau 9 - 21 ngày thành Micracidium (mao ấu) dài

khoảng 130 µm Chúng bơi lội tự do trong nước nhờ lông xung quanh Nếu thiếu

ánh sáng, Micracidium không có khả năng thoát vỏ nhưng có tồn tại 8 tháng trong

vỏ Khi gặp ký chủ trung gian thích hợp (ốc Lymnaea), chúng chui vào ốc đến gan tụy của ốc biến đổi thành Sporocyst (bào ấu) có kích thước khoảng 300 µm Bào ấu có hình túi màu sáng, được bao bọc bởi lớp màng mỏng Một Sporocyst sinh sản vô tính tạo ra 5 – 15 Rediae (lôi ấu).Lôi ấu hình suốt chỉ, ít hoạt động, có

miệng hầu, ruột, hình túi đơn giản Cần 18 ngày, chúng gia tăng kích thước đến

1,6 mm; 1 Rediae sinh sản vô tính cho ra 12 – 20 Cercariae (vĩ ấu) có kích thước

280 – 300 µm, dài 230 µm chiu ra khỏi ốc, bơi lội tự do trong nước Cercariae là

ấu trùng ở pha sống tự do của sán lá gan, có cấu tạo thân hình tròn lệch, đuôi dài hơn thân giúp vĩ ấu vận chuyển dễ dàng trong nước Cấu tạo của vĩ ấu gồm giác miệng, giác bụng, hầu, thực quản và ruột phân thành 2 nhánh Sau 2 – 24 giờ bơi trong nước, chúng rụng đuôi tiết chất nhày xung quanh thân, bám vào cây cỏ dưới

nước hay gần nước, vỏ cây, đất Lúc này Cercariae đã biến thành Metacercaria (kén sán lá gan) Metacercariahình khối tròn, bên trong chứa phôi hoạt động.Phôi

có giác miệng, giác bụng, ruột phân nhánh và túi bài tiết.Khi được vật chủ cuối cùng nuốt vào miệng sẽ phát triển thành sán trưởng thành

Giai đoạn phát triển bên trong ký chủ

Khi vật chủ cuối cùng ăn phải kén Metacercaria, tùy theo tình trạng sức khỏe,

khả năng đề kháng, tính cảm thụ của vật chủ mà kén có thể di hành về gan theo một trong ba con đường:

Một số ấu trùng dùng tuyến xuyên chui qua niêm mạc ruột, vào tĩnh mạch ruột, qua tĩnh mạch cửa vào gan, xuyên qua nhu mô gan vào ống dẫn mật

Một số ấu trùng khác cũng dùng tuyến xuyên qua thành ruột vào xoang bụng, đến gan, xuyên qua vỏ gan vào ống dẫn mật

Một số ấu trùng theo đường tiêu hóa vào đến tá tràng ngược dòng dịch mật để lên ống dẫn mật

Trong thời kỳ di hành, ấu trùng của Fasciola spp có thể đi đến các cơ quan như

phổi, hạch lâm ba, dưới da, tuyến tụy.Theo Phan Địch Lân (2004), khoa học thú y của nước ta đã nghiên cứu thành công vòng đời của sán lá gan Trong điều kiện nhiệt độ thích hợp (28 – 33oC) có ốc vật chủ trung gian (Lymnae swinhoei và

Lymnae viridis) và có vật chủ cuối cùng (trâu, bò, dê) thì vòng đời của sán lá gan

ở nước ta được xác định với các mức thời gian như sau: ở ngoài thiên nhiên trứng

sán lá gan nở thành Micracidium (mao ấu) trong khoảng 14 – 16 ngày, ở trong ốc vật chủ trung gian, Micracidium (mao ấu) phát triển thành Sporocyst (bào ấu) cần

7 ngày; bào ấu biến thành lôi ấu (Redia) cần 8 – 21 ngày; lôi ấu phát triển thành

Cercariae (vĩ ấu non) cần 7 – 14 ngày; vĩ ấu trưởng thành cần 13 – 14 ngày Ổ

ngoài ốc vật chủ trung gian, vĩ ấu phát triển thành kén (Metacercaria) sau 2 giờ

Trang 31

Ở trâu bò khi ăn phải kén, sau 79 – 88 ngày, trong ống dẫn mật của trâu bò đã có sán lá trưởng thành đẻ trứng theo phân ra ngoài

Trang 32

Sán trưởng thành cư trú, bám, hút máu, gây xuất huyết và viêm ống dẫn mật, viêm gan, dẫn đến thiếu máu, thành ống dẫn mật giản rộng và dầy lên, lâu ngày dẫn đến canxi hóa thành ống dẫn mật, chức năng của gan bị hỏng Sán trưởng thành thường xuyên kích thích niêm mạc ống mật, mật bị ứ lại thấm vào máu gây chứng hoàng đản

 Tác động chiếm đoạt

Sán non ăn tổ chức, sán trưởng thành lấy chất dinh dưỡng và ăn hồng cầu từ gan, mật để sống, sán ăn dịch mật gây rối loạn đường tiêu hóa và phát triển, làm cho đàn trâu bò gầy còm và thiếu máu

Sán trưởng thành đẻ trứng trong ống dẫn mật theo phân ra ngoài gieo rắc mầm

bệnh, thường kết hợp bệnh tiêm mao trùng, bệnh lao, Salmonella làm bệnh nặng

thêm

2.3.4.2 Phản ứng của cơ thể ký chủ đối với sán lá gan

Trâu bò có sức đề kháng nhất định trong những trường hợp tái nhiễm, chúng có

thể mang số Fasciola khá lớn mà không biểu hiện triệu chứng

Phản ứng của cơ thể ký chủ lên ký sinh trùng với nhiều phương cách khác nhau như phòng thủ bên ngoài bằng cách bong lớp sưng ngoại bì, phòng thủ bên trong bằng những phản ứng viêm,phản ứng miễn dịch thực bào (khi ký sinh trùng xâm nhập, cơ thể huy động các tế bào như bạch cầu đơn nhân, lâm ba cầu làm nhiệm

vụ thực bào); phản ứng miễn dịch tế bào (viêm, tăng bạch cầu eosin, tổ chức biến đổi, các tế bào nhiễm trùng to lên), phản ứng miễn dịch dịch thể (ký sinh trùng và độc tố của chúng tác động lên cơ thể ký chủ như một kháng nguyên, cơ thể ký chủ sinh ra kháng thể để phản ứng lại những tác động của ký sinh trùng và tạo ra sức miễn dịch của ký chủ) Nhưng đối với bệnh sán lá gan cơ thể ký chủ chủ yếu tạo kháng thể đầu độc, chống lại sự cảm nhiễm sán lá gan

Sự miễn dịch này mạnh hay yếu phụ thuộc vào các yếu tố sau:

 Giống loài

 Tuổi và giới tính

 Chế độ dinh dưỡng

 Tình trạng sức khỏe

Trang 33

2.3.5 Tác hại bệnh sán lá gan

 Đối với chăn nuôi:

Thể cấp tính gây chết súc vật nuôi, còn thể mãn tính làm giảm năng suất vật nuôi như giảm chất lượng sữa, năng suất sữa từ 15 – 35%, giảm sinh trưởng, sinh sản, gây sẩy thai, đẻ non, khó thụ thai

Bệnh làm tổn thương tổ chức và hoạt động sinh lý của con vật, giảm sức đề

kháng làm cho con vật dễ cảm nhiễm với các mầm bệnh khác như Salmonella

Dublin, Clostridium oedematien (Aiken et al., 1978)

Theo Hope – Cawdery (1977), cho thấy bò bị nhiễm 40 – 140 con sán lá thì tang trọng giảm từ 8 – 28% và khẳng định tác hại của sán lá gan đối với trâu bò là gây thiếu máu và dị ứng khi cảm nhiễm nặng

 Đối với con người:

Sán lá gan trên gia súc có thể lây sang người và ngược lại, gây tình trạng nguy hiểm cho người

Bệnh sán lá gan có thể gây tử vong do vỡ bao gan, xuất huyết hoặc sốc nhiễm trùng do viêm phúc mạc

Nếu người chưa phải là vật chủ thích hợp, sán non có thể di chuyển tới nhiều cơ quan nội tạng như đại tràng, thành ngực, tuyến vú hoặc thậm chí ở cả khớp gối

Có những trường hợp sán di chuyển xuống buồng trứng, tinh hoàn, màng phổi… Đặc biệt ở nước ta trong thời gian gần đây chưa có ca nào nhiễm sán lá gan gây chết người nhưng nó cũng gây nguy hiểm đến sức khỏe con người, theo ghi nhận của Viện Sốt rét - Ký sinh trùng - Côn trùng Trung ưong đã có trường hợp sán khoét ngực người chui ra.(www.ykhoanet.com)

Bệnh sán lá gan do Fasciola còn được tìm thấy gây tác hại cho người Trần Thị

Kim Dung ghi nhận ở Việt Nam trong 3 năm từ 1997 đến 2000 cho biết sán lá gan bùng phát ở người, cụ thể tại thành phố Hồ Chí Minh, qua kiểm tra mổ bệnh nhân nhập viện, các bác sĩ đã phát hiện túi mật của bệnh nhân căng to khác thường Bằng phương pháp nội soi từ túi mật của bệnh nhân, một mẫu mô hình thoi di động được gắp ra, các bác sĩ ở Bộ môn lý sinh trùng – Đại học Y dược

Thành phố Hồ Chí Minh khẳng định đó là một con sán lá gan Fasciola Đây cũng

là một trong 500 ca bệnh do sán lá gan và cũng là lần đầu tiên ở Việt Nam, gắp được con sán lá gan qua đường nội soi Số liệu này đã được sự chú ý của các nhà

ký sinh trùng học, vì từ trước tới nay chỉ tìm thấy sán lá gan ở các động vật ăn cỏ như trâu, bò, dê, cừu và rất hiếm phát hiện ở người (www.ykhoanet.com)

Ngày đăng: 20/06/2016, 19:14

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Chann Bory, 2003. Tình hình nhiễm, bệnh tích và chẩn đoán sán lá gan Fasciola spp trên trâu bò giết mổ tại Vissan. Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp, Đại học Nông Lâm, thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Fasciola
2. Đỗ Dương Thái, Trịnh Văn Thịnh, (1978). Công trình nghiên cứu ký sinh trùng ở Việt Nam tập II. NXB Khoa Học Kỹ Thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công trình nghiên cứu ký sinh trùng ở Việt Nam tập II
Tác giả: Đỗ Dương Thái, Trịnh Văn Thịnh
Nhà XB: NXB Khoa Học Kỹ Thuật
Năm: 1978
3. Đỗ Trọng Minh, 1999. Điều tra tình hình nhiễm sán lá gan Fasciola gigantica của trâu và bò ở các lò mổ tại Đồng Nai và thành phố Hồ Chí Minh. Luận văn thạc sĩ khoa học Nông nghiệp, Đại học Nông lâm, thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều tra tình hình nhiễm sán lá gan Fasciola gigantica của trâu và bò ở các lò mổ tại Đồng Nai và thành phố Hồ Chí Minh
4. Đặng Ngọc Thanh, Thái Trần Bái, Phạm Văn Miếu (1980). Định loại động vật không xương sống nước ngọt Bắc Việt Nam. Nhà xuất bản khoa học và kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Định loại động vật không xương sống nước ngọt Bắc Việt Nam
Tác giả: Đặng Ngọc Thanh, Thái Trần Bái, Phạm Văn Miếu
Nhà XB: Nhà xuất bản khoa học và kỹ thuật
Năm: 1980
5. Đồng Thị Thanh Dung (2011). Nghiên cứu môi trường sống của một số loài ốc nước ngọt là vật chủ trung gian của sán lá gan tại xã Bình An, Huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam. Luận văn thạc sĩ khoa học. Đại học Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu môi trường sống của một số loài ốc nước ngọt là vật chủ trung gian của sán lá gan tại xã Bình An, Huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam
Tác giả: Đồng Thị Thanh Dung
Năm: 2011
6. Hồ Thị Thuận và Nguyễn Ngọc Phương, (1986). “Tình hình nhiễm sán lá gan trâu bò ở các tỉnh phía Nam và biện pháp phòng trị”, Kết quả họat động KHKT thú y 1975-1985,NXB Nông Nghiệp, thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình nhiễm sán lá gan trâu bò ở các tỉnh phía Nam và biện pháp phòng trị”", Kết quả họat động KHKT thú y 1975-1985
Tác giả: Hồ Thị Thuận và Nguyễn Ngọc Phương
Nhà XB: NXB Nông Nghiệp
Năm: 1986
8. Lê Quang Hùng (2002). Nghiên cứu sinh học và điều tra dịch tễ học bệnh sán lá gan lớn tại Bình Định. Sở khoa học và công nghệ Bình Định Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu sinh học và điều tra dịch tễ học bệnh sán lá gan lớn tại Bình Định
Tác giả: Lê Quang Hùng
Năm: 2002
9. Lương Văn Huấn, Võ Thanh Hải, Nguyễn Quang Tấn, Trần Ngọc Mức (1997), “Tình hình nhiễm sán lá gan ở trâu bò tại 11 tỉnh phía nam và kết quả thử nghiệm một số thuốc để tẩy trừ”. Tạp chí KHKT thú y. Số 2, p53- p57 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình nhiễm sán lá gan ở trâu bò tại 11 tỉnh phía nam và kết quả thử nghiệm một số thuốc để tẩy trừ”. "Tạp chí KHKT thú y
Tác giả: Lương Văn Huấn, Võ Thanh Hải, Nguyễn Quang Tấn, Trần Ngọc Mức
Năm: 1997
11. Nguyễn Hữu Hưng, 2000. Giáo trình bệnh ký sinh trùng gia súc gia cầm. NXB Đại Học Cần Thơ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình bệnh ký sinh trùng gia súc gia cầm
Nhà XB: NXB Đại Học Cần Thơ
12. Nguyễn Hữu Hưng, 2010. Giáo trình bệnh ký sinh trùng gia súc gia cầm. NXB Đại Học Cần Thơ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình bệnh ký sinh trùng gia súc gia cầm
Nhà XB: NXB Đại Học Cần Thơ
14. Nguyễn Hữu Hưng (1996), “ Điều tra tình hình nhiễm giun sán ký sinh ở trâu bò tỉnh An Giang”. Tuyển tập công trình nghiên cứu khoa học Đại học Cần Thơ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều tra tình hình nhiễm giun sán ký sinh ở trâu bò tỉnh An Giang”
Tác giả: Nguyễn Hữu Hưng
Năm: 1996
15. Nguyễn Thị Hưng Hải (2004). Tình hình nhiễm sán lá gan trên trâu bò tỉnh An Giang và thử hiệu lực một số thuốc tẩy trừ.Luận văn tốt nghiệp thạc sỹ thú y Đại học Cần Thơ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình nhiễm sán lá gan trên trâu bò tỉnh An Giang và thử hiệu lực một số thuốc tẩy trừ
Tác giả: Nguyễn Thị Hưng Hải
Năm: 2004
16. Nguyễn Thị Lê và cs (1977). Bệnh giun sán từ động vật lây sang người. NXB KH&KT Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh giun sán từ động vật lây sang người
Tác giả: Nguyễn Thị Lê và cs
Nhà XB: NXB KH&KT
Năm: 1977
17. Nguyễn Hữu Hưng, Nguyễn Hồ Bảo Trân, Hà Huỳnh Hồng Vũ (2009), “Điều tra tình hình nhiễm sán lá gan trên bò tại một số địa phương tỉnh Đồng Tháp”. Tạp chí KHKT Thú y. Tập XVI. Số 6-2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều tra tình hình nhiễm sán lá gan trên bò tại một số địa phương tỉnh Đồng Tháp"”. Tạp chí KHKT Thú y
Tác giả: Nguyễn Hữu Hưng, Nguyễn Hồ Bảo Trân, Hà Huỳnh Hồng Vũ
Năm: 2009
18. Nguyễn Đức Tân, Nguyễn Văn Thoại, Nguyễn Thị Sâm, Lê Đức Quyết, Huỳnh Vũ Vỹ (2010), “Tình hình nhiễm sán lá gan trâu bò và ấu trùng của chúng ở vật chủ trung gian tại một số tỉnh Nam Trung Bộ”. Tạp chí KHKT Thú y. Tập XVII. Số 1-2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình nhiễm sán lá gan trâu bò và ấu trùng của chúng ở vật chủ trung gian tại một số tỉnh Nam Trung Bộ”. "Tạp chí KHKT Thú y
Tác giả: Nguyễn Đức Tân, Nguyễn Văn Thoại, Nguyễn Thị Sâm, Lê Đức Quyết, Huỳnh Vũ Vỹ
Năm: 2010
20. Phan Địch Lân, Lê Hồng Căn, 1972. Vài nét sinh thái học của ốc Lymnaea swinhoei và Lymnaea viridis ký chủ trung gian của sán lá gan trâu bò Fasciola giagntica. Tạp chí Khoa Học Nông Nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lymnaea swinhoei" và "Lymnaea viridis" ký chủ trung gian của sán lá gan trâu bò
21. Phan Địch Lân, 2000. Bệnh ngã nước trâu bò. Nhà xuất bản Nông Nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh ngã nước trâu bò
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông Nghiệp Hà Nội
22. Phạm Sĩ Lăng, Phan Địch Lân (2001). Bệnh ký sinh trùng ở gia súc và biện pháp phòng trị. NXB Nông Nhiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh ký sinh trùng ở gia súc và biện pháp phòng trị
Tác giả: Phạm Sĩ Lăng, Phan Địch Lân
Nhà XB: NXB Nông Nhiệp Hà Nội
Năm: 2001
23. Phan Lục, 1996. Tình hình nhiễm sán lá của trâu bò các tỉnh phía Bắc và thuốc tẩy trừ. Tuyển tập công trình nghiên cứu KHKT Nông nghiệp. NXB Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập công trình nghiên cứu KHKT Nông nghiệp
Nhà XB: NXB Nông nghiệp Hà Nội
24. Phan Địch Lân, Lê Hồng Căn, 1972. Vài nét sinh thái học của ốc Lymnaea swinhoei và Lymnaea viridis ký chủ trung gian của sán lá gan trâu bò Fasciola giagntica. Tạp chí Khoa Học Nông Nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lymnaea swinhoei" và "Lymnaea viridis" ký chủ trung gian của sán lá gan trâu bò

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.1: A. Ốc Lymnaea , B. Trứng ốc Lymnaea - tình hình nhiễm sán lá gan lớn ký sinh trên bò tại tỉnh trà vinh, phân loại ốc thuộc họ lymnaeidae và theo dõi sự phát triển của trứng sán lá gan lớn ngoài môi trường tự nhiên
Hình 2.1 A. Ốc Lymnaea , B. Trứng ốc Lymnaea (Trang 23)
Hình 2.8: Sán lá gan Fasciola gigantica và Fasciola hepatica - tình hình nhiễm sán lá gan lớn ký sinh trên bò tại tỉnh trà vinh, phân loại ốc thuộc họ lymnaeidae và theo dõi sự phát triển của trứng sán lá gan lớn ngoài môi trường tự nhiên
Hình 2.8 Sán lá gan Fasciola gigantica và Fasciola hepatica (Trang 28)
Hình 2.9 : Vòng đời của  Fasciola spp - tình hình nhiễm sán lá gan lớn ký sinh trên bò tại tỉnh trà vinh, phân loại ốc thuộc họ lymnaeidae và theo dõi sự phát triển của trứng sán lá gan lớn ngoài môi trường tự nhiên
Hình 2.9 Vòng đời của Fasciola spp (Trang 31)
Bảng 2.3: Một số loại thuốc tẩy trừ sán lá gan trên bò đang sử dụng trên thị - tình hình nhiễm sán lá gan lớn ký sinh trên bò tại tỉnh trà vinh, phân loại ốc thuộc họ lymnaeidae và theo dõi sự phát triển của trứng sán lá gan lớn ngoài môi trường tự nhiên
Bảng 2.3 Một số loại thuốc tẩy trừ sán lá gan trên bò đang sử dụng trên thị (Trang 38)
Hình 3.2: Mẫu được cố định và tiến hành đo - tình hình nhiễm sán lá gan lớn ký sinh trên bò tại tỉnh trà vinh, phân loại ốc thuộc họ lymnaeidae và theo dõi sự phát triển của trứng sán lá gan lớn ngoài môi trường tự nhiên
Hình 3.2 Mẫu được cố định và tiến hành đo (Trang 43)
Hình 3.6:Giác bụng, giác miệng sán lá gan dưới kính hiển vi ở X 10 - tình hình nhiễm sán lá gan lớn ký sinh trên bò tại tỉnh trà vinh, phân loại ốc thuộc họ lymnaeidae và theo dõi sự phát triển của trứng sán lá gan lớn ngoài môi trường tự nhiên
Hình 3.6 Giác bụng, giác miệng sán lá gan dưới kính hiển vi ở X 10 (Trang 46)
Hình 3.5: Dùng thước trắc vi đo đường kính giác bụng, giác miệng của sán lá gan - tình hình nhiễm sán lá gan lớn ký sinh trên bò tại tỉnh trà vinh, phân loại ốc thuộc họ lymnaeidae và theo dõi sự phát triển của trứng sán lá gan lớn ngoài môi trường tự nhiên
Hình 3.5 Dùng thước trắc vi đo đường kính giác bụng, giác miệng của sán lá gan (Trang 46)
Hình 3.8: Quan sát bò trước khi giết mổ - tình hình nhiễm sán lá gan lớn ký sinh trên bò tại tỉnh trà vinh, phân loại ốc thuộc họ lymnaeidae và theo dõi sự phát triển của trứng sán lá gan lớn ngoài môi trường tự nhiên
Hình 3.8 Quan sát bò trước khi giết mổ (Trang 48)
Hình 3.9: Trứng sán Fasciola spp đo bằng kính trắc vi ở vật kính X 4 - tình hình nhiễm sán lá gan lớn ký sinh trên bò tại tỉnh trà vinh, phân loại ốc thuộc họ lymnaeidae và theo dõi sự phát triển của trứng sán lá gan lớn ngoài môi trường tự nhiên
Hình 3.9 Trứng sán Fasciola spp đo bằng kính trắc vi ở vật kính X 4 (Trang 48)
Bảng 4.3: Đặc điểm hình thái sán lá gan lớn tại tỉnh Trà Vinh - tình hình nhiễm sán lá gan lớn ký sinh trên bò tại tỉnh trà vinh, phân loại ốc thuộc họ lymnaeidae và theo dõi sự phát triển của trứng sán lá gan lớn ngoài môi trường tự nhiên
Bảng 4.3 Đặc điểm hình thái sán lá gan lớn tại tỉnh Trà Vinh (Trang 51)
Hình 4.1: Các kiểu hình F1, F2, F3, F4, F5 - tình hình nhiễm sán lá gan lớn ký sinh trên bò tại tỉnh trà vinh, phân loại ốc thuộc họ lymnaeidae và theo dõi sự phát triển của trứng sán lá gan lớn ngoài môi trường tự nhiên
Hình 4.1 Các kiểu hình F1, F2, F3, F4, F5 (Trang 53)
Hình 4.5: Kiểu hình sán lá dạng 4 (F4) - tình hình nhiễm sán lá gan lớn ký sinh trên bò tại tỉnh trà vinh, phân loại ốc thuộc họ lymnaeidae và theo dõi sự phát triển của trứng sán lá gan lớn ngoài môi trường tự nhiên
Hình 4.5 Kiểu hình sán lá dạng 4 (F4) (Trang 55)
Hình 4.7: Bề mặt gan có màu xám nhợt nhạt, gan bị xơ hóa và có ổ viêm - tình hình nhiễm sán lá gan lớn ký sinh trên bò tại tỉnh trà vinh, phân loại ốc thuộc họ lymnaeidae và theo dõi sự phát triển của trứng sán lá gan lớn ngoài môi trường tự nhiên
Hình 4.7 Bề mặt gan có màu xám nhợt nhạt, gan bị xơ hóa và có ổ viêm (Trang 57)
Hình 4.8: Gan có mủ  Hình 4.9: Sán chui ra từ tĩnh mạch gan - tình hình nhiễm sán lá gan lớn ký sinh trên bò tại tỉnh trà vinh, phân loại ốc thuộc họ lymnaeidae và theo dõi sự phát triển của trứng sán lá gan lớn ngoài môi trường tự nhiên
Hình 4.8 Gan có mủ Hình 4.9: Sán chui ra từ tĩnh mạch gan (Trang 57)
Hình 4.10: Micracidium ở vật kính X 10 - tình hình nhiễm sán lá gan lớn ký sinh trên bò tại tỉnh trà vinh, phân loại ốc thuộc họ lymnaeidae và theo dõi sự phát triển của trứng sán lá gan lớn ngoài môi trường tự nhiên
Hình 4.10 Micracidium ở vật kính X 10 (Trang 60)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w