Vàng tâm Manglietia fordiana thuộc họ ngọc lan là một trong số những loài mang nhiều đặc điểm quan trọng cho khoa học và là loài cây tiềm năng có thể ứng dụng trong lâm nghiệp đô thị, tr
Trang 1HOÀNG ANH NGHĨA
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC VÀ SINH THÁI
LOÀI VÀNG TÂM (Manglietia fordiana) TẠI
VƯỜN QUỐC GIA XUÂN SƠN - TỈNH PHÚ THỌ
LUẬN VĂN THẠC SĨ LÂM NGHIỆP
THÁI NGUYÊN - 2015
Trang 2HOÀNG ANH NGHĨA
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC VÀ SINH THÁI
LOÀI VÀNG TÂM (Manglietia fordiana) TẠI
VƯỜN QUỐC GIA XUÂN SƠN - TỈNH PHÚ THỌ
Chuyên ngành: Lâm học
Mã số: 60 62 02 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ LÂM NGHIỆP
Người hướng dẫn khoa học: TS HỒ NGỌC SƠN
THÁI NGUYÊN - 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực và chưa được ai công bố trong bất
kỳ công trình nào để bảo vệ luận án Thạc sĩ, Tiến sĩ Các hình và ảnh sử dụng trong công trình là của tác giả và tập thể cộng tác./
Tác giả luận văn
Hoàng Anh Nghĩa
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm sinh học và sinh thái học loài Vàng
tâm (Manglietia fordiana) tại vườn quốc gia Xuân Sơn tỉnh Phú Thọ”được
hoàn thành theo chương trình đào tạo Cao học lâm nghiệp, chuyên ngành Lâm học, khoá 21 (2013 - 2015) Trường Đại học Nông lâm - Đại học Thái Nguyên
Trong quá trình học tập cũng như hoàn thành luận văn, tác giả đã nhận được sự quan tâm, giúp đỡ của Ban giám hiệu, Phòng Đào tạo và các thầy giáo, cô giáo thuộc Trường Đại học nông lâm Thái nguyên Nhân dịp này cho tôi xin chân thành cảm ơn về sự giúp đỡ quý báu đó
Đặc biệt tác giả xin gửi lời biết ơn sâu sắc tới TS Hồ Ngọc Sơn với tư cách là người hướng dẫn khoa học, đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn tác giả trong suốt quá trình thực hiện luận văn này
Tôi cũng xin cảm ơn Vườn Quốc gia Xuân Sơn tỉnh Phú Thọ đã tạo điều kiện giúp đỡ tác giả trong suốt quá trình học tập và thu thập số liệu ngoại nghiệp
để hoàn thành luận văn này
Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn các đồng nghiệp, bạn bè và người thân trong gia đình đã giúp đỡ, động viên tác giả trong suốt thời gian học tập
và hoàn thành luận văn
Vì điều kiện thời gian, nhân lực và những khó khăn khách quan nên bản luận văn này chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót Tác giả rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của các các thầy, cô giáo, bạn bè đồng nghiệp để luận văn được hoàn thiện hơn
Xin chân thành cảm ơn!
Tác giả luận văn
Hoàng Anh Nghĩa
Trang 5L Ờ I CAM Đ O A N i
L Ờ I CẢM Ơ N ii
MỤC L Ụ C iii
DANH MỤC CÁC C H Ữ V IẾT T Ắ T v
DANH MỤC CÁC B Ả N G vi
DANH MỤC CÁC H ÌN H vii
M Ở Đ Ầ U 1
1 Đặt vấn đề 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 3
3 Ý nghĩa khoa học của đề tà i 3
C hương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ N G H IÊN C Ứ U 4
1.1 Trên thế g iớ i 4
1.1.1 Nghiên cứu đặc điểm sinh học loài c â y 4
1.1.2 Nghiên cứu đặc điểm sinh thái h ọ c 5
1.2 Ở Việt N a m 8
1.2.1 Nghiên cứu đặc điểm sinh học loài c â y 8
1.2.2 Nghiên cứu đặc điểm sinh thái loài c â y 9
1.1.3 Nghiên cứu về cây Vàng tâ m 11
1.3 Nhận xét, đánh giá chung 12
1.4 Tổng quan khu vực nghiên cứu 14
1.4.1 Điều kiện tự nhiên 14
1.4.2 Điều kiện kinh tế xã h ộ i 18
1.4.3 Nhận xét chung về những thuận lợi và khó khăn của địa phương 21
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23 2.1 Đối tượng nghiên cứu 23
2.2 Phạm vi nghiên cứu 23
2.3 Nội dung nghiên cứ u 23
2.3.1 Nghiên cứu đặc điểm hình thái loài Vàng tâm 23
2.3.2 Nghiên cứu đặc điểm sinh thái và phân bố Vàng tâm tại VQG Xuân Sơn 23
MỤC LỤC
Trang 62.3.3 Nghiên cứu đặc điểm tái sinh tự nhiên của Vàng tâm tại VGQ Xuân Sơn 23
2.3.4 Đề xuất giải pháp bảo vệ và phát triển cây Vàng tâ m 23
2.4 Phương pháp nghiên cứu 24
2.4.1 Phương pháp nghiên cứu chung 24
2.4.2 Phương pháp điều tra cụ thể 24
2.4.3 Phương pháp nội n g h iệ p 32
C hương 3 K ẾT QUẢ N G H IÊN CỨU VÀ THẢO L U Ậ N 35
3.1 Đặc điểm hình thái và vật hậu của cây Vàng T â m 35
3.1.1 Đặc điểm về phân loại của loài trong hệ thống phân loại 35
3.1.2 Đặc điểm hình thái cây 35
3.1.3 Đặc điểm vật hậu 39
3.2 Một số đặc điểm sinh thái của loài Vàng tâ m 39
3.2.1 Đặc điểm địa h ìn h 39
3.2.2 Đặc điểm về nhiệt độ và lượng mưa khu vực nghiên cứ u : 39
3.2.3 Đặc điểm đất đai nơi có Vàng tâm phân b ố 40
3.3 M ột số đặc điểm cấu trúc quần xã thực vật rừng nơi loài Vàng Tâm phân b ố 41
3.3.1 Cấu trúc tổ thành rừng 41
3.3.2 Độ phong phú và mức độ thường gặp 48
3.3.3 Đặc điểm về tái sinh của lo à i 50
3.4 Đề xuất các giải pháp bảo vệ và phát triển loài cây Vàng Tâm 53
3.4.1 Đề xuất biện pháp bảo tồn 54
3.4.2 Đề xuất giải pháp phát triển lo à i 55
K ẾT LUẬN, TỒN TẠI, KHUYẾN N G H Ị 56
1 Kết lu ậ n 56
2 Tồn t ạ i 56
3 Khuyến n g h ị 57
TÀI LIỆU TH AM K H Ả O 59
PHỤ L Ụ C 62
Trang 8Bảng 1.1: Thành phần dân số và lao động 18
Bảng 3.1: Kích thước cây Vàng Tâm tại VQG Xuân Sơn 36
Bảng 3.2: Kết quả đo kích thước lá cây Vàng tâ m 37
Bảng 3.3: Đặc điểm vật hậu của loài trong thời gian nghiên cứu 39
Bảng 3.4: Đặc điểm về nhiệt độ và lượng mưa nơi có cây Vàng tâm phân bố 40
Bảng 3.5: Hệ số tổ thành rừng thứ sinh (ở độ cao 700 m) nơi có loài Vàng tâm phân b ố 42
Bảng 3.6: Công thức tổ thành rừng thứ sinh nơi có loài Vàng tâm phân bố 43
Bảng 3.7: Hệ số tổ thành rừng (ở độ cao 728 m) nơi có loài Vàng tâm phân bố 44
Bảng 3.8: Công thức tổ thành rừng trung bình (ở độ cao 728 m) nơi có loài Vàng tâm phân b ố 45
Bảng 3.9: Hệ số tổ thành rừng (ở độ cao trên 746 m) nơi có loài Vàng tâm 46
Bảng 3.11: Chỉ số phong phú của lo à i 48
Bảng 3.12: Mức độ thường gặp của các loài trong lâm phần điều tr a 49
Bảng 3.13 Mật độ tái sinh của loài Vàng tâm ở 1 OTC (3 ) 52
DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang 9Hình 3.1 Thân vàng tâm 36
Hình 3.2 Lá cây vàng tâm 37
Hình 3.3 Hoa Vàng tâm 38
Hình 3.4 Hoa Vàng tâm và quả non Vàng tâ m 38
Hình 3.5 Quả vàng tâ m 38
DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Đặt vấn đề
Con người và thiên nhiên luôn có mối quan hệ biện chứng tác động qua
lại lẫn nhau Vai trò của tài nguyên thiên nhiên hay tài nguyên rừng nói riêng
đối với cuộc sống con người đã được nhiều tài liệu đề cập đến và không phải
bàn cãi nhiều Tuy nhiên, dưới nhiều nguyên nhân trực tiếp và gián tiếp khác
nhau đã và đang làm ảnh hưởng xấu đến nguồn tài nguyên này và làm cho
tính đa dạng sinh học bị suy giảm trầm trọng Bên cạnh việc nhiều loài, nhiều
taxon được phát hiện và mô tả mới cho khoa học thì rất có thể nhiều loài khác
- loài chưa từng được biết đến đã đối điện với nguy cơ bị đe dọa và tuyệt
chủng, và trong số đó có thể có những loài có giá trị đặc biệt đối với khoa học
và cuộc sống của con người
Vườn quốc gia Xuân Sơn thuộc địa bàn huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ;
có hệ sinh thái rừng trên núi đá vôi, hệ sinh thái điển hình của miền Bắc Việt
thực vật quí hiếm đặc trưng cho vùng núi Bắc bộ, rất có giá trị nghiên cứu
khoa học, bảo tồn nguồn gen và giáo dục môi trường Vườn quốc gia Xuân
Sơn còn được coi là “lá phổi xanh” là điểm du lịch hấp dẫn nằm ở phía Tây
Nam của tỉnh Phú Thọ, có tác dụng to lớn trong việc điều hòa khí hậu, hấp thụ
các bon và các khí thải công nghiệp Đây còn là nơi phòng hộ đầu nguồn sông
khu vực
Với những giá trị nổi bật trên, rừng Xuân Sơn được nằm trong danh
sách khu rừng cấm tại Quyết định 194/CT ngày 09 tháng 8 năm 1986 của Chủ
tịch Hội đồng Bộ trưởng với diện tích 5.487 ha Ngày 28 tháng 11 năm 1992,
Khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Sơn được thành lập Ngày 17 tháng 4 năm
2002, Khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Sơn được chuyển hạng thành Vườn quốc
Trang 11tổng diện tích 15.048 ha Vườn quốc gia Xuân Sơn hiện có 1.259 loài thực vật
bậc cao có mạch, thuộc 699 chi của 185 họ, trong 6 ngành thực vật, có nhiều
loài đặc hữu, quý hiếm được ghi trong Sách đỏ Việt Nam và thế giới
Họ Ngọc lan (Magnoliaceae) là họ nguyên thủy và đóng vai trò quan
trọng đối với khoa học phân loại và tiến hóa trong việc hình thành khái niệm
bao gồm khoảng 300 loài phân bố chủ yếu ở các vùng nhiệt đới Ở Việt Nam
họ Ngọc lan có khoảng 55 loài phân bố rải rác từ Bắc vào Nam Họ mang
những đặc điểm nguyên thủy như các thành phần hoa nhiều, chưa phân hóa và
xếp trên đế hoa lồi Đa số các loài trong họ là cây gỗ và được dùng phổ biến
trong đóng đồ gia dụng có giá trị vì gỗ có vân đẹp, mịn, thơm, không mối
mọt; nhiều loài có hoa đẹp, hương thơm và được trồng làm cảnh, nhiều loài
được dùng làm thuốc hay làm gia vị đặc biệt
Vàng tâm (Manglietia fordiana) thuộc họ ngọc lan là một trong số
những loài mang nhiều đặc điểm quan trọng cho khoa học và là loài cây tiềm
năng có thể ứng dụng trong lâm nghiệp đô thị, trồng rừng hay có thể phát
triển nghiên cứu và ứng dụng trong y học, nhưng từ khi phát hiện đến nay,
ngoài việc mô tả và công bố mới cho khoa học thì loài Vàng tâm này chưa
được mở rộng điều tra về phân bố của loài, cũng chưa có những nghiên cứu
tiếp theo về các đặc điểm vật hậu, sinh thái, tái sinh loài Từ thực tiễn nêu
trên, chúng tôi chọn đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm sinh học và sinh thái loài
Vàng tâm (Manglietia fordiana) tại Vườn Quốc Gia Xuân Sơn, tỉnh Phú
Thọ" nhằm góp phần nâng cao hiểu biết, đề xuất những hướng bảo tồn và
phát triển loài cây có triển vọng và hiếm này tại Vườn Quốc gia Xuân Sơn
Trang 122 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 M ục tiêu chung
Nhằm cung cấp thông tin về đặc điểm sinh học, sinh thái học cơ bản của loài Vàng tâm tại VQG Xuân Sơn, tỉnh Phú Thọ làm cơ sở đề xuất các giải pháp bảo tồn và phát triển loài cây này ở tỉnh Phú Thọ và Việt Nam
2.2 Mục tiêu cụ thể
- Xác định được những đặc điểm cơ bản về hình thái và vật hậu của loài Vàng tâm
- Xác định được một số đặc điểm sinh thái và phân bố, đặc điểm tái
sinh của loài Vàng tâm tại khu vực nghiên cứu
- Bước đầu đề xuất các giải pháp bảo tồn và phát triển loài cây này ở
tỉnh Phú Thọ và Việt Nam
3 Ý nghĩa khoa học của đề tài
- Về mặt khoa học: Bổ sung các thông tin khoa học và là cơ sở khoa
học cho các nhà quản lý bảo tồn
- về mặt thực tiễn: Cơ sở để thực hiện nghiên cứu loài Vàng tâm
(Manglietia fordiana) làm cơ sở đề xuất hướng bảo tồn loài và giám sát đa
dạng sinh học tại Vườn Quốc gia Xuân Sơn, tỉnh Phú Thọ
Trang 13Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Trên thế giới
1.1.1 Nghiên cứu đặc điểm sinh học loài cây
Việc nghiên cứu sinh học loài cây trong đó có các đặc điểm hình thái
và vật hậu đã được thực hiện từ lâu trên thế giới Đây là bước đầu tiên, làm
tiền đề cho các môn khoa học khác liên quan Có rất nhiêu công trình liên
quan đến hình thái và phân loại các loài cây Những nghiên cứu này đầu tiên
tập trung vào mô tả và phân loại các loài, nhóm loài, .Có thể kể đến một vài
công trình rất quen thuộc liên quan đến các nước lân cận như: Thực vật chí
Hong Kong (1861), Thực vật chí Australia (1866), Thực vật chí rừng Tây Bắc
và trung tâm Ấn độ (1874), Thực vật chí Ấn độ 7 tập (1872 - 1897), Thực vật
chí Miến Điện (1877), Thực vật chí Malaysia (1892 - 1925), Thực vật chí Hải
Nam (1972 - 1977), Thực vật chí Vân Nam (1977), Thực vật chí Quảng
tiền đề cho công tác nghiên cứu về hình thái, phân loại cũng như đánh giá tính
đa dạng của các vùng miền khác nhau
nghiên cứu hệ thực vật cụ thể Tolmachop A.I cho rằng “Chỉ cần điều tra
trên một diện tích đủ lớn để có thể bao chùm được sự phong phú của nơi sống
nhưng không có sự phân hoá mặt địa lý” Ông gọi đó là hệ thực vật cụ thể
Tolmachop đã đưa ra một nhận định là số loài của một hệ thực vật cụ thể ở
vùng nhiệt đới ẩm thường là 1500 - 2000 loài
quan sinh dưỡng và cơ quan sinh sản Chu kỳ vật hậu của cùng 1 loài phân bố
ở các vùng sinh thái khác nhau sẽ có sự sai khác rõ rệt Điều này có ý nghĩa
cần thiết trong nghiên cứu sinh thái cá thể loài và công các chọn tạo giống
Trang 14Các công trình như nêu trên cũng đã ít nhiều nêu ra các đặc điểm về chu kỳ
hoa, quả và các đặc trưng vật hậu của từng loài, nhóm loài
1.1.2 Nghiên cứu đặc điểm sinh thái học
Việc nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái của loài làm cơ sở đề xuất
biện pháp kỹ thuật lâm sinh tác động phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả trong
kinh doanh rừng rất được các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu Theo đó,
các lý thuyết về hệ sinh thái, cấu trúc, tái sinh rừng được vận dụng triệt để
trong nghiên cứu đặc điểm của 1 loài cụ thể nào đó
Odum E.P (1971) đã hoàn chỉnh học thuyết về hệ sinh thái, trên cơ sở
thuật ngữ hệ sinh thái (ecosystem) của Tansley A.P (1935) Ông đã phân chia
ra sinh thái học cá thể và sinh thái học quần thể Sinh thái học cá thể nghiên
cứu từng cá thể sinh vật hoặc từng loài, trong đó chu kỳ sống, tập tính cũng
như khả năng thích nghi với môi trường được đặc biệt chú ý [22]
Lacher W (1978) đã chỉ rõ những vấn đề cần nghiên cứu trong sinh
thái thực vật như: Sự thích nghi với các điều kiện dinh dưỡng khoáng, ánh
sáng, độ nhiệt, độ ẩm, nhịp điệu khí hậu (Dẫn theo Nguyễn Thị Hương Giang,
2009) [10]
Tái sinh là một quá trình sinh học mang đặc thù của hệ sinh thái rừng,
đó là sự xuất hiện một thế hệ cây con của những loài cây gỗ ở những nơi còn
thành loài, cấu trúc tuổi, chất lượng cây con, đặc điểm phân bố
Cationot, R (1965) và Vansteenis (1956) đã chỉ ra hai đặc điểm tái
sinh phổ biến của rừng nhiệt đới đó là tái sinh phân tán liên tục và tái sinh
vệt [4], [24]
Baur G.N (1962) cho rằng, trong rừng nhiệt đới sự thiếu hụt ánh sáng
đã làm ảnh hưởng đến phát triển của cây con, còn đối với sự nảy mầm thì ảnh
hưởng đó thường không rõ ràng Đối với rừng nhiệt đới, số lượng loài cây
Trang 15nghiên cứu tái sinh tự nhiên cần phải đánh giá chính xác tình hình tái sinh
rừng và có những biện pháp tác động phù hợp [1]
Cấu trúc rừng là hình thức biểu hiện bên ngoài của những mối quan hệ
qua lại bên trong giữa thực vật rừng với nhau và giữa chúng với môi trường
sống Nghiên cứu cấu trúc rừng để biết được những mối quan hệ sinh thái bên trong
của quần xã, từ đó có cơ sở để đề xuất các biện pháp kỹ thuật tác động phù hợp
Hiện tượng thành tầng là một trong những đặc trưng cơ bản về cấu trúc
Phương pháp vẽ biểu đồ m ặt cắt đứng của rừng do David và P.W Risa
(1933- 1934) đề sướng và sử dụng lần đầu tiên ở Guyan, đến nay phương
pháp đó vẫn được sử dụng nhưng nhược điểm là chỉ minh hoạ được cách
sắp xếp theo hướng thẳng đứng trong m ột diện tích có hạn Cusen (1951)
đã khắc phục bằng cách vẽ một số dải kề nhau và đưa lại một hình tượng
về không gian 3 chiều
Sampion Gripfit (1948) khi nghiên cứu rừng tự nhiên ở Ân Độ và rừng
ẩm nhiệt đới ở Tây Phi, đã kiến nghị phân cấp cây rừng thành 5 cấp Richards
P.W (1952) phân rừng ở Nigeria thành 6 tầng, tương ứng với chiều cao là 6
12 m, 12- 18 m, 18- 24 m, 24- 30 m, 30- 36 m, 36- 42 m, nhưng thực chất đây
chỉ là các lớp chiều cao [23] Odum E P (1971) nghi ngờ sự phân tầng rừng
rậm nơi có độ cao dưới 600 m ở Puecto Rico và cho rằng không có sự tập
trung khối tán ở một tầng riêng biệt nào cả [22]
Richards P.W (1968) đã đi sâu nghiên cứu cấu trúc rừng mưa nhiệt đới
tuyệt đại bộ phận thực vật đều thuộc thân gỗ và thường có nhiều tầng Ông
nhận định: ”Rừng mưa thực sự là một quần lạc hoàn chỉnh và cầu kỳ nhất về mặt
cấu tạo và cũng phong phú nhất về mặt loài cây" [16].
Như vậy, nghiên cứu về tầng thứ theo chiều cao còn mang tính cơ giới,
nên chưa phản ánh được sự phân tầng phức tạp của rừng tự nhiên nhiệt đới
Trang 16Việc nghiên cứu về cấu trúc rừng đã và đang được chuyển từ mô tả
Rollet B.L (1971) đã biểu diễn mối quan hệ giữa chiều cao và đường kính
bằng các hàm hồi quy, phân bố đường kính ngang ngực, đường kính tán bằng
các dạng phân bố xác suất
Balley (1972) sử dụng hàm Weibull để mô hình hoá cấu trúc đường
kính thân cây loài Thông, Tuy nhiên, việc sử dụng các hàm toán học không
thể phản ánh hết được những mối quan hệ sinh thái giữa các cây rừng với nhau và
giữa chúng với hoàn cảnh xung quanh, nên các phương pháp nghiên cứu cấu trúc
rừng theo hướng này không được vận dụng trong đề tài [21]
Từ việc vận dụng các lý luận về sinh thái, tái sinh, cấu trúc rừng trên,
nhiều nhà khoa học trên thế giới đã vận dụng vào nghiên cứu đặc điểm sinh học,
sinh thái cho từng loài cây Một vài công trình nghiên cứu có thể kể tới như:
Trung tâm Nông lâm kết hợp thế giới (World Agroforestry Centre,
2006), Anon (1996), Keble và Sidiyasa (1994) đã nghiên cứu đặc điểm hình
đặc điểm hình thái thân, lá, hoa, quả, hạt của loài cây này, góp phần cung cấp
cơ sở cho việc gây trồng và nhân rộng loài Vối thuốc trong các dự án trồng
rừng (dẫn theo Hoàng Văn Chúc, 2009) [8]
Vối thuốc là loài cây tiên phong ưa sáng, biên độ sinh thái rộng, phân
bố rải rác ở các khu vực phía Đông Nam Châu Á Vối thuốc xuất hiện ở nhiều
vùng rừng thấp (phía Nam Thái Lan) và cả ở các vùng cao hơn (Nepal) cũng
như tại các vùng có khí hậu lạnh Là cây bản địa của Brunei, Trung Quốc, ấn
Độ, Lào, Myanmar, Nepal, Papua New Guinea, Phillipines, Thailand và Việt
Nam (World Agroforestry Centre, 2006) Vối thuốc thường mọc thành quần
thụ từ nơi đất thấp đến núi cao, phân bố ở rừng thứ sinh, nơi đồng cỏ, cây bụi
và ngay cả nơi ngập nước có độ mặn nhẹ Vối thuốc có thể mọc trên nhiều
loại đất với thành phần cơ giới và độ phì khác nhau, từ đất cằn cỗi xương xẩu
Trang 17khô cằn đến đất phì nhiêu, tươi tốt, có thể thấy Vối thuốc xuất hiện nơi đầm
lầy Vối thuốc là loài cây tiên phong sau nương rẫy (Laos tree seed project,
2006) (dẫn theo Hoàng Văn Chúc, 2009) [8]
Theo Khamleck (2004), Họ Dẻ có phân bố khá rộng, với khoảng 900 loài
chúng được tìm thấy ở vùng ôn đới Bắc bán cầu, cận nhiệt đới và nhiệt đới, song
chưa có tài liệu nào công bố chúng có ở vùng nhiệt đới Châu Phi Hầu hết các loài
phân bố tập trung ở Châu Á, đặc biệt ở Việt Nam có tới 216 loài và ít nhất là Châu
Phi và vùng Địa Trung Hải chỉ có 2 loài (dẫn theo Trần Hợp, 2002) [11]
Như vậy, với các công trình nghiên cứu về lý thuyết sinh thái, tái sinh,
cấu trúc rừng tự nhiên cũng như nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái đối
với một số loài cây như trên đã phần nào làm sáng tỏ những đặc điểm cấu
trúc, tái sinh của rừng nhiệt đới nói chung Đó là cơ sở để lựa chọn cho hướng
nghiên cứu trong luận văn
1.2 Ở Viêt Nam
1.2.1 Nghiên cứu đặc điểm sinh học loài cây
Ngoài những tác phẩm cổ điển về thực vật như “Flora cochinchinensis“ của
Loureiro (1790) và “Flore Forestière de la Cochinchine” của Pierre (1879-1907),
thì từ đầu những năm đầu thế kỷ 20 đã xuất hiện một công trình nổi tiếng, là nền
tảng cho việc nghiên cứu về hình thái phân loại thực vật, đó là Bộ thực vật chí
Đông Dương do H Lecomte chủ biên (1907-1952) Trong công trình này, các
tác giả người pháp đã thu mẫu, định tên và lập khóa mô tả các loài thực vật
bậc cao có mạch trên toàn bộ lãnh thổ Đông Dương, trong đó hệ thực vật Việt
Nam có 7004 loài, 1850 chi và 289 họ
Đối với mỗi miền có những tác phẩm lớn khác nhau như ở miền Nam
Việt Nam có công trình thảm thực vật Nam Trung Bộ của Schmid (1974),
nhau là sự phân hóa khí hậu, chế độ thoát nước khác nhau Nhà xuất bản khoa
học kỹ thuật đã xuất bản bộ sách “Cây cỏ thường thấy ở Việt Nam” gồm 6 tập
Trang 18do Lê Khả Kế chủ biên và ở miền Nam Phạm Hoàng Hộ (1970-1972) cũng cho ra đời công trình đồ sộ 2 tập về “Cây cỏ miền Nam Việt Nam”, trong đó giới thiệu 5326 loài, trong đó có 60 loài thực vật bậc thấp và 20 loài rêu, còn lại là 5246 loài thực vật có mạch, và sau này là “Cây cỏ Việt Nam”
Ngoài ra, còn rất nhiều các bộ sách chuyên khảo khác, tuy không tách riêng cho vùng Tây Nam Bộ nhưng cũng đã góp phần vào việc nghiên cứu đa dạng sinh học thực vật chung, như các bộ về Cây gỗ rừng Việt Nam (Viện điều tra qui hoạch, 1971-1988), Cây thuốc Việt Nam (Viện dược liệu, 1990), Cây tài nguyên (Trần Đình lý và cs., 1993), Cây gỗ kinh tế ở Việt Nam (Trần Hợp & Nguyễn Bội Quỳnh, 1993), 100 loài cây bản địa (Trần Hợp & Hoàng Quảng Hà, 1997), Cây cỏ có ích ở Việt Nam (Võ Văn chi và Trần Hợp, 1999), Tài nguyên cây gỗ Việt Nam (Trần Hợp, 2002) [11], v.v Gần đây Viện sinh thái và tài nguyên sinh vật cũng đã xây dựng và biên soạn được 11 tập chuyên khảo đến họ riêng biệt Đây là những tài liệu vô cùng quý giá góp phần vào việc nghiên cứu về thực vật của Việt Nam
1.2.2 Nghiên cứu đặc điểm sinh thái loài cây
Ở nước ta, nghiên cứu về đặc điểm sinh thái học của các loài cây bản địa chưa nhiều, tản mạn, có thể tổng hợp một số thông tin có liên quan đến vấn đề nghiên cứu như sau:
Nguyễn Bá Chất (1996) đã nghiên cứu đặc điểm lâm học và biện pháp gây trồng nuôi dưỡng cây Lát hoa, ngoài những kết quả nghiên cứu về các đặc điểm phân bố, sinh thái, tái sinh, tác giả cũng đã đưa ra một số biện pháp kỹ thuật gieo ươm cây con và trồng rừng đối với Lát hoa [6]
Trần Minh Tuấn (1997) đã nghiên cứu một số đặc tính sinh vật học loài Phỉ ba mũi làm cơ sở cho việc bảo tồn và gây trồng tại Vườn Quốc gia Ba Vì
- Hà Tây (cũ), ngoài những kết quả về các đặc điểm hình thái, tái sinh tự nhiên, sinh trưởng và phân bố của loài, tác giả còn đưa ra m ột số định
Trang 19hướng về kỹ thuật lâm sinh để tạo cây con từ hạt và trồng rừng đối với loài
cây này [20]
Vũ Văn Cần (1997) đã tiến hành nghiên cứu một số đặc điểm sinh
vật học của cây Chò đãi làm cơ sở cho công tác tạo giống trồng rừng ở
Vườn Quốc gia Cúc Phương, ngoài những kết luận về các đặc điểm phân
bố, hình thái, vật hậu, tái sinh tự nhiên, đặc điểm lâm phần có Chò đãi phân
cây Chò đãi [5]
Nguyễn Thanh Bình (2003) đã nghiên cứu một số đặc điểm lâm học
của loài Dẻ ăn quả phục hồi tự nhiên tại Bắc Giang Với những kết quả
nghiên cứu đạt được, tác giả đã đưa ra nhiều kết luận, ngoài những đặc điểm
về hình thái, vật hậu, phân bố, cấu trúc và tái sinh tự nhiên của loài, tác giả
còn cho rằng phân bố N-H và N-D đều có một đỉnh; tương quan giữa Hvn và
D 13 có dạng phương trình Logarit [2]
Lê Phương Triều (2003) đã nghiên cứu một số đặc điểm sinh vật học
của loài Trai lý tại Vườn Quốc gia Cúc Phương, tác giả đã đưa ra một số kết
quả nghiên cứu về đặc điểm hình thái, vật hậu và sinh thái của loài, ngoài ra
tác giả còn kết luận là: có thể dùng hàm khoảng cách để biểu thị phân bố N-
D1.3, N-Hvn, các mối quan hệ H -D 13, Dt-D13 [18]
Vương Hữu Nhị (2003) đã nghiên cứu một số đặc điểm sinh học và kỹ
thuật tạo cây con Căm xe góp phần phục vụ trồng rừng ở Đắc Lắc - Tây
phân bố, cấu trúc, tái sinh tự nhiên, tác giả còn đưa ra những kỹ thuật gây
trồng đối với loài cây này [14]
Ly Meng Seang (2008) đã nghiên cứu một số đặc điểm lâm học của
rừng Tếch trồng ở Kampong Cham Campuchia, đã kết luận: ở các độ tuổi
khác nhau: Phân bố N-D13 ở các tuổi đều có dạng một đỉnh lệch trái và nhọn,
Trang 20lệch trái và tù Giữa D 13 hoặc Hvn so với tuổi cây hay lâm phần luôn tồn tại mối quan hệ chặt chẽ theo mô hình Schumacher Ngoài ra, tác giả cũng đề nghị trong khoảng 18 năm đầu sau khi trồng rừng Tếch nên chặt nuôi dưỡng 3 lần theo phương pháp cơ giới, với kỳ dãn cách là 6 năm 1 lần [13].
Nguyễn Toàn Thắng (2008) đã nghiên cứu một số đặc điểm lâm học
của loài Dẻ anh (Castanopsis piriformis) tại Lâm Đồng Tác giả đã có những
kết luận rõ ràng về đặc điểm hình thái, vật hậu, phân bố, giá trị sử dụng, về tổ thành tầng cây gỗ biến đổi theo đai cao từ 17 đến 41 loài, với các loài ưu thế
là Dẻ anh, Vối thuốc răng cưa, Du sam, [17]
Hoàng Văn Chúc (2009) trong công trình “Nghiên cứu một số đặc điểm
tái sinh tự nhiên loài Vối thuốc (Schima wallichii Choisy) trong các trạng thái rừng tự nhiên phục hồi ở tỉnh Bắc G iang” đã mô tả một cách chi tiết về
đặc điểm hình thái, vật hậu, tái sinh, phân bố, của loài cây này ở khu vực tỉnh Bắc Giang Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần nhân rộng loài cây bản địa có giá trị này [8]
Nguyễn Quốc Trị (2007) đã chỉ ra thành phần loài và sự có mặt của các loài cây có sự thay đổi và phân bố theo đai cao [20]
Tóm lại, với những kết quả của những công trình nghiên cứu như trên,
là cơ sở để đề tài lựa chọn những nội dung thích hợp để tham khảo vận dụng trong đề tài nghiên cứu đặc điểm sinh học của Vàng tâm.
1.1.3 Nghiên cứu về cây Vàng tâm
Theo các tác giả Lê Mộng Chân, Lê Thị Huyên, (2000); Trần Hợp (2002); Phạm Hoàng Hộ, (1999) [7], [11], [12]
Vàng tâm có tên khoa học là Manglietia fordiana là cây gỗ nhỡ thuộc chi Mỡ (Manglietia Blume), họ Ngọc lan (Magnoliaceae) Đặc điểm chung
của họ Ngọc lan (Magnoliaceae) là gồm những loài cây thân gỗ hoặc cây bụi, thường xanh hoặc rụng lá, hoa thường lưỡng tính cùng gốc ít khi hoa đơn tính khác gốc hoặc đơn tính cùng gốc Cây thường có lá kèm bao chồi
Trang 21búp, sớm rụng và để lại sẹo hình khuyên trên cành Lá đơn, mọc cách hiếm khi mọc đối, đôi khi lá mọc tập trung ở đầu cành Hệ gân lông chim, mép lá nguyên, hiếm khi xẻ thùy Hoa đơn độc, ở nách lá, hoa lớn; các thành phần của hoa nhiều, chưa phân hóa và được xếp trên một đế hoa lồi; hoa thụ phấn nhờ côn trùng Lá noãn và nhị hoa rất nhiều, xếp xoắn hình xuyến Hoa thường có 2-14 lá noãn xếp xoắn lại, sau khi được thụ phấn sẽ tạo thành quả đại kép Họ Ngọc Lan có khoảng 17 chi với 300 loài chủ yếu phân bố ở Đông Nam Á và Trung Mỹ.
* Đặc điểm hình thái, sinh thái: Cây gỗ thường xanh, cao 25-30 m, đường
kính thân cây 70-80 cm Vỏ màu xám trắng, thịt vàng nhạt, dày 1cm Cành non, lá non có lông tơ màu nâu Lá chất da, dày, hình mác - bầu dục dài, dày 5-17 cm, rộng 1,5-6,5 cm, đầu nhọn, gốc hình nêm, mép lá nguyên, cuống lá 1,4 cm, màu nâu đỏ Hoa lưỡng tính, mọc đơn độc ở đầu cành Cuống hoa dài 1-2 cm; bao hoa màu trắng; nhị nhiều; lá noãn nhiều, xếp xoắn ốc Mỗi lá noãn chứa 5 noãn Quả hình trứng hay tròn - trứng, dài 4-5,5 cm, gồm nhiều đại Phân quả đại chất thịt, màu đỏ thẫm; lúc chín hóa gỗ, màu tím, ngoài có nhiều mụn lồi, đấu tròn hay có mũi nhọn nhỏ rất ngắn Mùa hoa tháng 3-5, mùa quả tháng 9-10 Tái sinh bằng hạt tốc độ tăng trưởng trung bình
* Nơi sống và sinh thái: Mọc rải rác trong rừng rậm thường xanh mưa mùa
nhiệt đới, ở độ cao 100 - 700m Cây trung tính, lúc nhỏ ưa bóng, ưa đất hơi chua,
ẩm, màu mỡ và sinh trưởng tốc độ trung bình
Trang 22Tuy nhiên, tài nguyên thực vật rừng nhiệt đới là rất đa dạng, phong phú Do
đó, các công trình nghiên cứu chuyên sâu về mô tả đặc điểm sinh học, sinh thái cho từng loài cây cụ thể, đặc biệt là những loài cây quý hiếm đang cónguy cơ tuyệt chủng ngoài tự nhiên để có biện pháp bảo tồn vẫn đang là hướng nghiên cứu hết sức cần thiết và cấp bách
Ở Việt Nam, mặc dù các nghiên cứu về cấu trúc, tái sinh rừng, nghiên cứu về đặc điểm sinh học, sinh thái cho từng loài cây cụ thể, được thựchiện tương đối chậm so với thế giới nhưng cũng đạt được những thành tựu đáng kể Chúng ta đã có nhiều công trình nghiên cứu cung cấp những hiểu biết về vấn đề diễn thế, tái sinh, cấu trúc của hầu hết các hệ sinh thái rừng trong cả nước Các công trình nghiên cứu về đặc điểm sinh học, sinh thái cho từng loài cây cụ thể cũng rất được quan tâm nghiên cứu, góp phần cung cấp
cơ sở cho việc gây trồng, bảo tồn nhiều loài cây gỗ quý như Lim xanh, Lát hoa, Pơ m u , Tuy nhiên hiện nay, tài nguyên rừng đang bị đe dọa nghiêm trọng bởi sự khai thác quá mức của con người dẫn tới nhiều loài cây gỗ quý hiếm đang có nguy cơ tuyệt chủng, số lượng loài bổ sung vào sách đỏ Việt Nam ngày càng nhiều Do đó, nếu chúng ta không có biện pháp bảo tồn cấp bách thì tương lai không xa nguồn gen quý hiếm của các loài cây này sẽ biến mất ngoài tự nhiên
Vàng tâm (Manglietia fordiana) là loài cây có gỗ tốt, khó mối mọt, có
thể dùng làm nhà, dùng đóng đồ dùng gia đình, làm đồ mỹ nghệ, chạm khắc Tại Vườn Quốc gia Xuân Sơn, Vàng tâm có phân bố tự nhiên tương đối hẹp nên việc bảo tồn và phát triển loài cây này đang là nhiệm vụ hết sức cấp bách của Vườn Quốc gia Xuân Sơn nói riêng và của Việt Nam nói chung Tuy nhiên, cho tới nay những hiểu biết về đặc điểm sinh học, sinh thái đối với loài cây này còn rất ít, thiếu thông tin, chưa có các công trình nghiên cứu chuyên sâu Xuất phát từ thực tiễn đó, đề tài nghiên cứu được đặt ra là cần thiết và cấp bách
Trang 231.4 Tổng quan khu vực nghiên cứu
1.4.1 Điều kiện tự nhiên
1.4.1.1 Vị trí địa lý
Vườn quốc gia Xuân Sơn với tọa độ địa lý: Từ 21°03' đến 21°12' vĩ bắc
cách thành phố Việt Trì 80km, Hà Nội 120km, có phạm vi ranh giới được xác
định như sau:
- Phía Đông: Giáp các xã Tân Phú, Minh Đài, Long Cốc, huyện Tân Sơn
- Phía Tây: Giáp huyện Phù Yên( tỉnh Sơn La), huyện Đà Bắc (tỉnh
Hòa Bình)
- Phía Nam: Giáp huyện Đà Bắc (tỉnh Hòa Bình)
- Phía Bắc: Giáp xã Thu Cúc, huyện Tân Sơn
1.4.1.2 Địa hình
Vườn quốc gia Xuân Sơn nằm trong một vùng đồi núi thấp và trung
bình thuộc lưu vực sông Bứa, nơi kết thúc của dãy Hoàng Liên Vùng đồi núi
thấp này toả rộng từ hữu ngạn sông Hồng sang đến tả ngạn sông Đà bao gồm
cả huyện Tân Sơn tỉnh Phú Thọ Sông Bứa và các chi lưu của nó toả nhiều
nhánh gần như khắp vùng Nhìn toàn cảnh, các dãy đồi núi chỉ cao chõng 600
- 700m, hình dáng khá mềm mại vì chúng được cấu tạo bởi các loại đá phiến
biến chất quen thuộc Trong đó cao nhất là đỉnh núi Voi 1386m tiếp đến là núi
Ten, núi Cẩn đều cao trên 1200 - 1300m Dạng địa hình núi này tạo ra cái nền
tảng cơ bản mà sự sống về sau tận dụng và chịu ảnh hưởng sâu sắc, đồng thời
là yếu tố tạo nên nét khác biệt giữa khu hệ động thực vật ở Xuân Sơn với các
vườn quốc gia và khu bảo tồn khác ở Miền Bắc
Ngoài địa hình núi, trong vùng còn có các thung lũng mở rộng và uốn
lượn khá phức tạp Sự chia cắt theo chiều sâu cũng khá lớn, các sườn núi dốc,
bình quân 200 Đây là nơi cư trú của đồng bào dân tộc với những dấu ấn văn
hoá bản địa đặc sắc còn đọng lại trong các nếp sinh hoạt cổ truyền
Trang 241.4.1.3 Diện tích
Vườn quốc gia Xuân Sơn có diện tích vùng đệm 18.369 ha, trong đó
diện tích vùng lõi là 15.048 ha khu vực bảo vệ nghiêm ngặt là 11.148 ha,
phân khu phục hồi sinh thái kết hợp bảo tồn di tích lịch sử: 3.000 ha phân khu
hành chính, dịch vụ: 900 ha Điểm đặc trưng của Xuân Sơn là vườn quốc gia
duy nhất có rừng nguyên sinh trên núi đá vôi (2.432 ha) Xuân Sơn được đánh
giá là rừng có đa dạng sinh thái phong phú, đa dạng sinh học cao, đa dạng địa
hình kiến tạo nên đa dạng cảnh quan
Diện tích vùng đệm của Vườn quốc gia Xuân Sơn là 18.639 ha, bao
gồm các xã: Kiệt Sơn, Lai Đồng, Minh Đài và một phần các xã: Đồng Sơn,
Tân Sơn, Kim Thượng, Xuân Đài, đều cùng huyện
1.4.1.4 K hí hậu
Cùng với địa hình, khí hậu cũng góp phần tạo nên nền tảng cơ bản của
sự sống, quy định sắc thái cảnh quan khu vực Đất, thực vật, động vật đều là
những thành phần tự nhiên của cảnh quan nhưng là của tự nhiên sống Đây là
những đối tượng mà con người từ rất xa xưa đã tìm cách sử dụng để đảm bảo
cuộc sống của chính mình ”Các thể tổng hợp" khí hậu - đất - đá mẹ" từ xa xưa
đã thúc đẩy sự hình thành các quần hệ thực vật tự nhiên quen được gọi là "các quần
hệ cao đỉnh_ Quần hệ nằm trong trạng thái cân bằng với thể tổng hợp” Như
vậy, có thể coi khí hậu là 1 thành tố quan trọng của cảnh quan
bình năm biến động từ 220 - 230, tương đương với tổng nhiệt năng từ 83000C -
85000C (nằm trong vành đai nhiệt đới) Mùa lạnh từ tháng 11 đến tháng 3
năm sau, ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc Nhiệt độ trong các tháng này
xuống dưới 200C, nhiệt độ trung bình tháng thấp nhất là tháng 1 Mùa nóng,
do ảnh hưởng của gió mùa Đông Nam nên thời tiết luôn nóng ẩm, mưa nhiều
Nhiệt độ trung bình trên 250C, nóng nhất là vào tháng 7 (280C) Nhiệt độ cao
nhất tuyệt đối lên tới 40,70C vào tháng 6
Trang 25- Chế độ mưa ẩm : Lượng mưa đạt mức trung bình từ 1660mm ở Tân
Sơn đến 1826 mm ở Minh Đài, tập trung gần 90% vào mùa mưa (từ tháng 4
đến tháng 10 hàng năm), hai tháng có lượng mưa cao nhất là tháng 8, 9 hàng
năm Mùa khô hạn từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau Lượng mưa chỉ còn
chiếm đưới 10% tổng lượng mưa trong năm, nhưng hạn hán ít xảy ra do có
mưa phùn làm hạn chế sự khô hạn trong mùa khô Tháng 12 và tháng 1 là
nước rơi Độ ẩm không khí trong vùng bình quân đạt 86%, những tháng có
mưa phùn thường độ ẩm không khí đạt chỉ số cao nhất Lượng bốc hơi không
cao (653mm/n), điều đó đánh giá khả năng che phủ đất của lớp thảm thực bì
còn cao, hạn chế được lượng nước bốc hơi, làm tăng lượng nước thấm, duy trì
được nguồn nước ngầm trong khu vực
1.4.1.5 Thủy Văn
Hệ thống sông Bứa và các chi lưu của nó toả rộng khắp các vùng
không chỉ đơn thuần giữ vai trò cung cấp nước cho sản xuất nông nghiệp của
địa phương mà còn có vai trò quan trọng trong giao thông đường thủy nội
tỉnh và mở rộng giao lưu giữa Phú Thọ và các địa phương khác, đồng thời
góp phần tạo nên nét "hồn" với những đường chyển linh hoạt của núi rừng
Tân Sơn Hơn nữa, lưu vực sông Bứa khá rộng, địa hình lưu vực lại thuận lợi
cho việc xây dựng các hồ thuỷ lợi để phục vụ sản xuất
Sông Bứa có 2 chi lưu lớn, đó là sông Mua bắt nguồn từ các vùng núi
cao phía Đông huyện Phù Yên tỉnh Sơn La và sông Gian bắt nguồn từ các dãy
núi cao trung bình ở ranh giới giữa Phú Thọ và Hoà Bình Hai sông này hợp
nhau tại Làng Kệ Sơn rồi đổ vào Sông Hồng tại Phong vực Tổng chiều dài
của sông là 120km, chiều rộng trung bình 200m có khả năng vận chuyển lâm
thổ sản từ thượng nguồn về sông Hồng khá thuận lợi
Vườn quốc gia chỉ nằm trong lưu vực đầu nguồn sông Mua với nhiều
nhánh suối bắt nguồn từ các đỉnh núi cao trong vườn
Trang 26ì.4.1.6 Địa chất, thổ nhưỡng.
vực vườn quốc gia có các quá trình phát triển địa chất phức tạp, các nhà địa
chất gọi đây là vùng đồi núi thấp sông Mua Toàn vùng có cấu trúc dạng phức
các dải nhỏ hẹp Phía Tây và Tây Nam có các dãy núi thấp và trung bình được
cấu tạo bằng các lọai đá trầm tích và biến chất mầu đỏ có kết cấu hạt mịn, tuổi
Jura - creta Từ trung tâm xã Xuân Sơn theo hướng Tây Bắc, có những dãy
núi đá vôi khá cao (1200m) Đá vôi có mầu trắng xám, cấu tạo khối, tuổi Triat
trung Trong dãy núi đá vôi này thường gặp các thung tròn có nước chảy trên
mặt như thung làng Lạng, làng Dù, làng Lấp Các thung được lấp đầy các
tàn tích đá vôi và có suối nước chảy quanh năm Những thung biến thành
cánh đồng dạng này khá rộng và trở thành các cánh đồng phù xa màu mỡ
- Vườn quốc gia Xuân Sơn đựơc hình thành trong một nền địa chất
phức tạp (có nhiều kiểu địa hình và nhiều loại đá mẹ tạo đất khác nhau), cùng
với sự phân hoá khí hậu, thủy văn đa dạng và phong phú nên có nhiều loại
đất được tạo thành trong khu vực này với những gía trị riêng biệt
+ Đất feralit có mùn trên núi trung bình: được hình thành trong điều kiện
mát ẩm, độ dốc lớn, không có nước đọng, không có kết von và tầng mùn dầy, tỷ
lệ mùn cao (8 - 10%), phân bố ở độ cao từ 700 - 1386m, tập trung ở phía Tây
của khu vực, giáp với huyện Đà Bắc (tỉnh Hoà Bình), Phù Yên (Sơn La)
+ Đất feralit đỏ vàng phát triển ở vùng đồi núi thấp: đây là loại đất có
quá trình feralit mạnh và điển hình, màu sắc phụ thuộc vào từng loại đá mẹ và
độ ẩm của đất Phân bố dưới 700m, thành phần cơ giới nặng, tầng đất dày, ýt
đá lẫn, đất khá màu mỡ, thích hợp cho các loại cây rừng phát triển
+ Đất Rangin (hay đất hình thành trong vùng núi đá vôi): Đá vôi là loại đá
cứng, khó phong hoá, địa hình lại dốc đứng nên khi phong hoá đến đâu lại bị rửa
trôi đến đó Do vậy, đất chỉ hình thành trong các hang hốc hoặc chân núi đá
Trang 27+ Đất dốc tụ và phù sa sông suối trong các bồn địa và thung lũng: Là loại đất phì nhiêu, tầng dày, màu nâu, thành phần cơ giới chủ yếu là limon Hàng năm thường được bồi thêm một lớp phù xa mới khá màu mỡ.
1.4.2 Điều kiện kinh tế xã hội
Vườn quốc gia Xuân Sơn bao bọc trong nó đời sống của 10 xóm gồm : Cái, Lấp, Dù, Lạng, Lùng Mằng(xã Xuân Sơn ), Thân ( xã Đồng Sơn), Nước Thang ( xã Xuân Đài) , Xoan, Tân Ong, Hạ Bằng ( xã Kim Thượng) Các xóm này phân bố chủ yếu dưới chân các dãy núi đá vôi và núi đất, ở độ cao từ 200-400m so với mực nước biển , tập trung ở phía Đông , một phần phía Bắc
và Nam của vườn quốc gia Dân cư của các xóm này chủ yếu là hai dân tộc chính : Dao(Mán) chiếm 65,42 %và Mường chiếm 34,43% dân số , chỉ có 4 khẩu người Kinh sinh sống tại đây Những thích ứng trong đời sống và sáng tạo văn hoá của đồng bào dân tộc Mường - Dao ở nước ta, đặc biệt ở Xuân Sơn-Phú Thọ là những tài sản có giá trị đặc sắc đang được bảo tồn, khai thác làm giàu thêm vốn văn hoá nước ta
Trang 28(Nguồn: Báo cáo tổng hợp Ban Quản Lý vườn Quốc Gia Xuân Sơn)
* Trồng trọt: Tạo ra sản phẩm nông nghiệp chủ yếu là lúa nước, lúa
nương khoa sắn và một số sản phẩm từ chăn nuôi ở Xuân Sơn, ngành kinh tế
quan trọng nhất là làm ruộng nước ở những vùng ruộng trong thung lũng chân
núi, được hỗ trợ bởi hệ thống thủy lợi: nương, phai, các hệ thống tre, bương,
vận chuyển nước từ xa đến gần, từ ruộng cao đến ruộng thấp với những khâu
kỹ thuật liên hoàn: Cầy bừa, bón phân, làm mạ, gieo trồng và thu hoạch
Ngoài ra, người dân còn biết cách làm nương theo cách đốt nương, tia hạt,
trồng lúa nếp, lúa lốc, sắn, ngô, bông hay lập một số những trang trại vừa
canh tác lúa nước, vừa chăn nuôi ở trong các khu rừng theo cách đốt nương,
tra hạt, trồng lúa nếp, lúa lốc, sắn, ngô, bông hay lập một số những trang
trại vừa canh tác lúa nước, vừa chăn nuôi ở trong các khu rừng già cách xa
thôn xóm Lúa nương đựơc canh tác ở các vùng đồi, lúa dốc và hoàn toàn phụ
định hàng năm mà thường đựơc du canh qua nhiều vùng khác nhau xung
quanh các điểm dân cư Các loại hoa màu thường chỉ có sắn, khoai, ngô, đậu,
lạc được trồng ở những khu đất cao, bằng phẳng, không chỉ đủ điều kiện để
làm ruộng nước
* Thủy lợi: ở Xuân Sơn, có một số thung lũng thụân lợi cho việc làm
thuỷ lợi cung cấp nước cho đất trồng trọt Tuy nhiên, do chưa được đầu tư nên
người dân xón thường tự phát đắp các đập nhỏ không cố định, hoặc mương
nước, ống nước tự chảy để làm ruộng Những loại đập và mương nước này
chỉ tồn tại được trong mùa khô Đến mùa mưa, chúng nhanh chóng bị nước
cuốn trôi Chính vì vậy, hầu hết ruộng nước trong khu vực chỉ làm đựơc một
vụ những khu vực cao hơn có thể làm đựơc ruộng nước, nhưng người dân
không chỉ đủ khả năng đưa nước tới Sản xuất nông nghiệp của các xóm
thực sự chưa thấy cái lợi của thuỷ Sản phẩm canh tác của họ còn trông chờ
nhiều vào thời tiết Nếu năm nào mưa thuận gió hoà thì cuộc sống sung tóc,
Trang 29Êm no, còn thời tiết không thuận lợi thì đói kém Làm tốt công tác thủy lợi
có thể mở rộng ruộng nước, thâm canh ruộng hiện có sẽ đảm bảo an ninh
lương thực trong khu vực từ đó góp phần bảo tồn và làm giàu thêm sắc thái
văn hoá của khu vực
* Chăn nuôi: Đối với cư dân ở Xuân Sơn nói riêng, con trâu, con bò là
được coi trọng nhất, thậm chí họ còn coi đó là thước đo sự giàu nghèo, nhà
nào có việc đều phải mổ trâu làm lễ Song vẫn cần thấy rằng, chăn nuôi trong
khu vực chưa đựơc chú trọng đầu tư, thành phần đàn gia sóc, gia cầm còn
tương đối đơn giản giống chăn nuôi lại chủ yếu là các loại giống cũ cổ
truyền, chậm lớn Tuy nhiên, những loại này cho thịt rất ngon như lợn Mán,
gà ri, vịt, ngan Khi cải tạo vật nuôi tăng năng xuất cần chú ý giữ lại những
đặc sản hấp dẫn khách du lịch
Trong thời gian gần đây đã có một số hộ gia đình chú ý xây dựng ao để
phát triển chăn nuôi cá Tuy nhiên, số hộ này không nhiều Ao cá chỉ đựơc
làm tạm bợ, chưa có kỹ thụât chăn nuôi phát triển cá
Điều kiện tự nhiên trong khu vực cho phép phát triển chăn nuôi gia sóc,
gia cầm, đào ao thả cá Có nhiều vùng có thể trở thành đồng cỏ, có nhiều
nguồn cung cấp thức ăn, có đủ nguồn nước để phát triển nuôi cá Song khi
phát triển trăn nuôi cần phải có đủ nguồn nước để phát triển nuôi cá Song khi
phát triển chăn nuôi cần phải có quy hoạch rõ ràng và rào cẩn thận để không
ảnh hưởng tới công tác bảo tồn của vườn quốc gia, giữ gìn nguyên trạng
những giá trị hiện có
* Lâm nghiệp: Núi rừng là nơi cung cấp cho đời sống của đồng bàonhiều nguồn lợi thức ăn hàng ngày Bởi vậy, sản xuất lâm nghiệp ở đây chủ
yếu là việc thu hái lâm sản tự phát của nhân dân Trước đây lâm sản chính do
người dân khai thác từ rừng là gỗ, các loài động vật để phục vụ làm nhà và
nguồn thực phẩm, đôi khi trở thành hàng hoá Từ khi thành lập khu bảo tồn
Trang 30nghiệp người dân thu hái chủ yếu là mật ong, song mây, sa nhân, lá cọ, các
loài cây thuốc Tuy nhiên, trong quá trình thu hái do không có định mức nên
nguồn tài nguyên này cũng đã suy giảm
Ngoài ra, người dân xã Xuân Sơn còn tham gia bảo vệ rừng, trồng rừng
bằng cây bản địa do ban quản lý vườn quốc gia triển khai Hiện nay, mỗi xã
kể cả vùng lõi và vùng đệm đều có một cán bộ Lâm nghiệp xã hợp đồng với
Ban quản lý thực thi công tác theo dõi, quản lý bảo vệ rừng Trong năm 2001,
một số hộ gia đình đã nhận đất rừng giao nhưng đã nhượng lại cho lâm trường
trồng rừng keo lai làm gỗ nhiên liệu Diện tích rừng này tuy không lớn nhưng
cần có giải pháp thu hồi và đền bù cho lâm trường hoặc sau 7 năm lâm trường
sẽ khai thác rồi tiếp tục tiến hành trồng rừng cây bản địa
Ngoài hai nghề nông và lâm, dân cư bản địa còn bảo lưu đựơc khá
nhiều nghề thủ công đặc sắc với những sản phẩm đạt dung lượng thẩm mỹ
cao như: vỏ chăn, vỏ gối, rổ, giá, đồ đánh bắt cá, đồ điện, quần áo Đặc biệt,
người Dao lại thổi hồn vào thứ bạc lạnh lẽo làm nên đồ trang sức mang cái
hồn rất riêng của núi rừng và con người Xuân Sơn
* Đời sống sinh hoạt: Theo các chỉ tiêu phân loại hộ gia đình quốc gia,
toàn bộ các gia đình trong vườn quốc gia được xếp vào diện tích nghèo đói
Thu nhập bình quân các hộ gia đình chưa đạt 700.000đ/năm Điều kiện sinh
hoạt trong các hộ gia đình hết sức đơn giản Hiện nay chỉ có khoảng 30% hộ
có thủy điện nhỏ thắp sáng 5% hé gia đình có ti vi Tuy sống gần rừng có
nhiều loại gỗ quý, nhưng đồ đạc trong nhà người dân như bàn ghế, giường, tủ
rất tạm bợ Theo người dân thì do cuộc sống còn thiếu thốn nên họ chỉ lo tìm
đủ nguồn lương thực, thực phẩm Hầu hết các hộ gia đình thiếu lương thực từ
1 tháng trở lên, nhiều hộ thiếu tới 4 - 5 tháng và thường xuyên bị "đứt bữa"
1.4.3 Nhận xét chung về những thuận lợi và khó khăn của địa phương
* Thuận lợi:
Trang 31- Vườn quốc gia Xuân Sơn huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ có diện
tích đất đai rộng lớn và tính chất đất còn tốt do vậy đây là m ột trong
thái của địa phương
- Địa hình phức tạp hiểm trở do vậy việc khai thác trái phép và các hoạt
động làm suy giảm giá trị đa dạng sinh học ít
* Khó khăn.
- Vườn quốc gia có hệ động thực vật phong phú là nơi nhòm ngó của
các đối tượng khai thác trái phép tài nguyên thiên nhiên, địa hình hiểm trở
khiến cho công tác quản lý và bảo vệ còn gặp khó khăn
Trang 32Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Loài Vàng tâm (Manglietia fordiana) phát triển tự nhiên tại Vườn Quốc
gia Xuân Sơn, tỉnh Phú Thọ
2.2 Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu tiến hành nghiên cứu tại VQG Xuân Sơn
2.3 Nội dung nghiên cứu
2.3.1 Nghiên cứu đặc điểm hình thái loài Vàng tâm.
- Đặc điểm hình thái thân, cành
- Đặc điểm hình thái tán cây, lá
- Đặc điểm hình thái hoa, quả
- Các đặc điểm vật hậu của loài
2.3.2 Nghiên cứu đặc điểm sinh thái và phân bố Vàng tâm tại VQG Xuân Sơn
- Phân bố loài theo đai cao, phân bố loài theo trạng thái rừng (sinh cảnh)
- Đặc điểm cấu trúc quần xã nơi có loài Vàng tâm phân bố
• Cấu trúc tổ thành và mật độ tầng cây cao QXTV rừng
• Mức độ thường gặp của loài Vàng tâm trong QXTV rừng
- Một số đặc điểm về hoàn cảnh rừng (khí hậu, đất đai) nơi có loài Vàng tâm phân bố
2.3.3 Nghiên cứu đặc điểm tái sinh tự nhiên của Vàng tâm tại VGQ Xuân Sơn
- Đặc điểm tái sinh (mật độ, chất lượng, phân bố cây tái sinh trên mặt đất )
- Đặc điểm tái sinh loài Vàng tâm theo độ cao, trạng thái r ừ n g
2.3.4 Đề xuất giải pháp bảo vệ và ph át triển cây Vàng tâm
- Thực trạng công tác bảo tồn và phát triển loài cây
- Đánh giá nhu cầu sử dụng loài cây
Trang 33- Đề xuất giải pháp kỹ thuật, xã hội, chính sách, trong bảo tồn và
phát triển loài cây này
2.4 P hương pháp nghiên cứu
2.4.1 Phương pháp nghiên cứu chung
- Sử dụng phương pháp kế thừa: Kế thừa các kết quả nghiên cứu đã có
về điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu, về lược sử phân loại của chi Mỡ
(Manglietia) hay một số các nghiên cứu tương tự về đặc điểm sinh học và
sinh thái học loài
- Sử dụng phương pháp điều tra khảo sát ngoài thực địa: Khảo sát theo
liệu liên quan đến các nội dung của luận văn
- Ứng dụng các phần mềm xử lý thống kê chuyên dụng EXCEL,
SPSS, để tổng hợp và đánh giá kết quả điều tra
2.4.2 Phương pháp điều tra cụ thể
2.4.21 Điều tra sơ thám
Tiến hành xác định trên bản đồ khu vực cần điều tra, điều tra sơ
thám nhằm:
- Xác định được khu vực nghiên cứu nơi có loài Vàng tâm phân bố
- Xác định sơ bộ và mở rộng tuyến điều tra sao cho đảm bảo đi qua các
loại rừng đại diện, nơi có loài cây nghiên cứu phân bố
2.4.2.2 Điều tra chi tiết
a) Phương pháp nghiên cứu đặc điểm hình thái:
Sử dụng phương pháp quan sát mô tả trực tiếp đối tượng lựa chọn đại
diện kết hợp với phương pháp đối chiếu, so sánh với các tài liệu đã có Đây là
phương pháp thông dụng được dùng trong nghiên cứu thực vật học (Nguyễn
Nghĩa Thìn, 2007) Cụ thể như sau:
+ Quan sát, mô tả hình thái và xác định kích thước của các bộ phận:
thân cây, vỏ cây, sự phân cành, lá, hoa, quả của cây Vàng tâm (cây được quan
Trang 34sát phải đạt độ trưởng thành nhất định, hiện đang tồn tại trong rừng tự nhiên) Kết quả ghi vào phiếu điều tra dưới đây.
Trang 35Do thời gian nghiên cứu có giới hạn, nên quan điểm kế thừa các nghiên cứu đã có và chỉ tiến hành điều tra bổ sung các thông tin còn thiếu được quán triệt sử dụng Tiếp cận đa chiều theo nhiều hướng khác nhau để thu được kết quả là tốt nhất và có độ tin cậy cao.
b) Điều tra vật hậu
- Phương pháp quan sát, mô tả, theo dõi trực tiếp tại hiện trường: Bằng mắt thường quan sát trực tiếp vật hậu trong quá trình điều tra thực địa Chú ý
sự biến đổi các bộ phận (cành, chồi, hoa, quả) của loài Phương pháp nghiên cứu vật hậu học được thực hiện theo giáo trình “Cây rừng Việt Nam” củaTrường Đại học Lâm nghiệp (1966) và của Nguyễn Nghĩa Thìn (2007) (mẫu phiếu điều 01)
M ẫu phiếu 01: Điều tr a đặc tính vật hậu học của cây
- Số hiệu: Người ghi chép:
- Tên cây: H ọ:
- Địa điểm:
- Đặc tính bên ngoài (cao, đường kính):
- Điều kiện nơi sinh trưởng:
Ngày
theo dõi
điểmthờitiết
V ậthậu
Ghichú
Ký hiệu ghi chép:
(-) thời kỳ bắt đầu; (x) thời kỳ đương thịnh; (O) Kết thúc
Các vấn đề quan sát vật hậu như trình bày phần nội dung
Trang 36Ngoài việc ghi các ký hiệu như trên vào cột, cần ghi các mô tả như mùi
vị, màu sắc,
c) Phương pháp nghiên cứu phân bố của loài
* Điều tra theo tuyến
Tại mỗi khu vực, nắm bắt thông tin chung thông qua tài liệu của VQG
và thông qua phỏng vấn cán bộ và người dân địa phương Kế thừa tài liệu đã
có kết hợp với điều tra bổ sung theo tuyến ngoài thực địa nhằm xác định vùng
qua khu vực có loài Vàng tâm phân bố và đi qua những độ cao, loại rừng khác
nhau Trên các tuyến điều tra, tiến hành điều tra phát hiện loài bằng cách quan
sát, nhận dạng qua đặc điểm hình thái Kết quả điều tra được trên tuyến ghi
vào mẫu phiếu 02 sau:
M ẫu phiếu 02: Điều tr a phân bố của loài theo tuyếnNgày điều tra
Độ cao (m)
Chiều cao cây (m)
Ghichú
h vn Hdc
* Điều tra trên 9 OTC điển hình tạm thời
Tại mỗi vị trí độ cao khác nhau (100m) lập 01 OTC điển hình tạm thời
có diện tích 1.000 (40 x 25 m) Điều tra các thông tin trong OTC theo phương
pháp điều tra lâm học Số liệu thu thập được ở các ô tiêu chuẩn trên tuyến
điều tra, trên các vị trí khác nhau được ghi chép theo các mẫu biểu lập
thái rừng hoặc lâm phần nơi có Vàng tâm phân bố; loài cây đi kèm, loài
cây chiếm ưu thế tầng cây cao, tầng cây bụi và tình hình tái sinh của