Nghiên cứu đặc điểm sinh thái và phân bố loài cây Chò chỉ tại Khu bảo tồn thiên nhiên Nà H ẩ u .... Chò Chỉ mang nhiều đặc điểm quan trọng cho khoa học và là loài cây tiềm năng có thể ứn
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
_ _ 5C _ / _ \
N G U YỄN Đ Ứ C TO À N
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC VÀ SINH THÁI LOÀI CHÒ CHỈ
(PARASHOREA CHINENSIS) TẠI
KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN NÀ HẨU - TỈNH YÊN BÁI
Chuyên ngành : Lâm học
Mã số ngành: 60.62.02.01
LUẬN VĂN TH Ạ C S Ĩ KH O A HỌC LÂM N G H IỆP
Thái Nguyên, 2015
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄN ĐỨC TOÀN
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC VÀ SINH THÁI LOÀI CHÒ CHỈ
(PARASHOREA CHINENSIS) TẠI
KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN NÀ HẨU - TỈNH YÊN BÁI
Chuyên ngành : Lâm học
Mã số ngành: 60.62.02.01
LUẬN VĂN TH Ạ C S Ĩ KH O A HỌC LÂM N G H IỆP
Người hướng dẫn khoa học: TS HỒ NGỌC SƠN
THÁI NGUYÊN, 2015
Trang 3L Ờ I CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và không sao chép Tôi cũng xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc
Một lần nữa, tôi xin khẳng định về sự trung thực của lời cam kết trên
Thái Nguyên, ngày 15 tháng 10 năm 2015
Tác giả
Nguyễn Đức Toàn
Trang 4L Ờ I CẢM ƠN
Luận văn này được hoàn thành tại Trường Đại học Nông Lâm - Đại
học Thái Nguyên theo chương trình Đào tạo Thạc sĩ Lâm nghiệp khóa học
2013 - 2015
Trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn, tác giả đã nhận được sự
quan tâm, giúp đỡ của các thầy giáo, cô giáo Khoa Lâm nghiệp, Trường Đại học
Nông Lâm - Đại học Thái Nguyên, Sở NN&PTNT tỉnh Yên Bái, Chi cục kiểm
lâm tỉnh Yên Bái, KBTTN Nà Hẩu, Ủy ban nhân dân xã Nà Hẩu Nhân dịp này
tác giả xin chân thành cảm ơn về sự giúp đỡ quý báu đó
Trước hết, tác giả xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành tới thầy giáo TS Hồ
Ngọc Sơn - người hướng dẫn khoa học, đã trực tiếp hướng dẫn, tận tình giúp đỡ,
truyền đạt những kiến thức quí báu và dành những tình cảm tốt đẹp cho tác giả
trong suốt thời gian thực hiện luận văn
Tác giả xin cảm ơn Chi cục kiểm lâm tỉnh Yên Bái, Ủy ban nhân dân xã
Nà Hẩu, đặc biệt tôi xin chân thành cảm ơn đến Ban lãnh đạo, cán bộ kiểmKBTTN N à Hẩu đã tạo điều kiện về mọi mặt để tôi có thể hoàn thành đề tài
Mặc dù đã cố gắng nhiều nhưng do điều kiện hạn chế về thời gian, kinh
phí và trình độ nên luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót nhất định Tác
giả kính mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu của các nhà khoa học,
các thầy giáo cô giáo và bạn bè đồng nghiệp để luận văn được hoàn thiện hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 15 tháng 10 năm 2015
Tác giả
Nguyên Đức Toàn
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM Đ O A N i
LỜI CẢM ƠN iv
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT T Ắ T ix
DANH MỤC CÁC BẢNG x
DANH MỤC CÁC H ÌN H xii
M Ở Đ Ầ U 1
1 Đặt vấn đ ề 1
2 Mục tiêu của đề t à i 3
2.1 Mục tiêu chung 3
2.2 Mục tiêu cụ th ể 3
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
3.1 Đối tượng nghiên cứ u 3
3.2 Phạm vi nghiên c ứ u 3
4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề t à i 3
4.1 Ý nghĩa khoa h ọ c 3
4.2 Ý nghĩa thực tiễ n 4
C hương 1 TỔ N G QUAN VẤN ĐỀ N G H IÊN C Ứ U 5
1.1 Trên thế g iớ i 5
1.1.1 Nghiên cứu về cấu trúc và tái sinh r ừ n g 5
1.1.2 Nghiên cứu đặc điểm sinh học loài c â y 7
1.1.3 Nghiên cứu đặc điểm sinh thái học loài c â y 8
1.1.4 Nghiên cứu về cây Chò c h ỉ 10
1.2 Ở Việt N a m 10
1.2.1 Nghiên cứu về cấu trúc và tái sinh r ừ n g 10
1.2.2 Nghiên cứu đặc điểm sinh học loài c â y 13
1.2.3 Nghiên cứu đặc điểm sinh thái học loài c â y 14
1.2.4 Nghiên cứu về cây Chò c h ỉ 15
1.3 Thảo luận 18
1.4 Đặc điểm về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội 18
1.4.1 Đặc điểm về điều kiện tự nhiên 18
Trang 61.4.1.1 Vị trí địa lý, địa giới hành ch ín h 18
1.4.1.2 Địa hình - địa th ế 19
1.4.1.3 Địa chất, thổ nhưỡng 20
1.4.1.4 Khí hậu thủy v ă n 21
1.4.1.5 Hiện trạng rừng và sử dụng đất 22
1.4.1.6 Tài nguyên nước 24
1.4.1.7 Tài nguyên nhân v ă n 25
1.4.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội khu vực nghiên c ứ u 25
1.4.2.1 Dân tộc, dân số, lao động và phân bố dân c ư 25
1.4.2.2 Tập quán sinh hoạt, sản xuất 26
1.4.2.3 Sản xuất nông nghiệp 26
1.4.2.4 Lâm n g h iệp 27
1.4.2.5 Đời sống sinh h o ạ t 27
1.4.2.6 Thực trạng cơ sở hạ tần g 27
1.4.3 Nhận xét, đánh giá thuận lợi, khó khăn của điều kiện tự nhiên kinh tế - xã hội tới bảo tồn loài Chò C hỉ 28
C hương 2 N Ộ I DUNG VÀ PH Ư Ơ N G PH Á P N G H IÊN C Ứ U 30
2.1 Nội dung nghiên cứ u 30
2.1.1 Nghiên cứu đặc điểm hình thái loài Chò chỉ tại khu vực nghiên cứu 30
2.1.2 Nghiên cứu đặc điểm sinh thái và phân bố loài cây Chò chỉ tại Khu bảo tồn thiên nhiên Nà H ẩ u 30
2.1.3 Nghiên cứu đặc điểm tái sinh tự nhiên của loài Chò chỉ tại Khu bảo tồn thiên nhiên Nà H ẩu 30
2.1.4 Đề xuất các giải pháp bảo vệ và phát triển bền vững loài cây Chò chỉ tại Khu bảo tồn thiên nhiên Nà H ẩu 31
2.2 Phương pháp nghiên cứu 31
2.2.1 Cách tiếp cận và phương pháp luận nghiên cứ u 31
2.4.2 Phương pháp nghiên cứu ch u n g 32
2.4.3 Phương pháp điều tra cụ th ể 32
2.4.3.1 Điều tra sơ th ám 32
2.4.3.2 Điều tra chi tiế t 32
2.4.4 Phương pháp nội nghiệp 37
Trang 72.4.4.1 Phương pháp nghiên cứu đặc điểm cấu trúc quần xã thực vật rừng 37
2.4.4.2 Phương pháp nghiên cứu đặc điểm tái sinh lo à i 39
2.4.4.3 Phương pháp xử lý và phân tích số liệ u 40
C hương 3 K É T QUẢ N G H IÊN CỨU VÀ TH Ả O L U Ậ N 41
3.1 Đặc điểm hình thái loài Chò chỉ tại Khu bảo tồn thiên nhiên Nà H ẩ u 41
3.1.1 Đặc điểm hình thái thân, cành, lá cây Chò c h ỉ 41
3.1.2 Đặc điểm hình thái hoa, quả cây Chò c h ỉ 43
3.1.3 Đặc điểm vật hậu cây Chò c h ỉ 43
3.2 Đặc điểm sinh thái và phân bố cây Chò chỉ tại Khu bảo tồn thiên nhiên Nà Hẩu 46
3.2.1 Đặc điểm phân bố loài cây Chò chỉ theo đai cao và trạng thái rừng 46
3.2.1.1 Phân bố loài cây Chò chỉ theo đai c a o 46
3.2.1.2 Phân bố loài cây Chò chỉ theo trạng thái rừ n g 47
3.2.2 Đặc điểm cấu trúc quần xã nơi có loài Chò chỉ phân b ố 49
3.2.2.1 Cấu trúc tổ thành rừng 49
3.2.2.2 Cấu trúc mật đ ộ 58
3.2.2.3 Đặc trưng về mức độ phong phú, mức độ thường gặp và mức độ thân thuộc của loài Chò c h ỉ 59
3.2.3 Một số đặc điểm về hoàn cảnh rừng nơi có loài Chò chỉ phân b ố 63
3.2.3.1 Đặc điểm địa hình nơi có loài Chò chỉ phân bố tại KBTTN Nà H ẩu 63
3.2.3.2 Đặc điểm khí hậu nơi có loài Chò chỉ phân b ố 64
3.2.3.3 Đặc điểm đất đai nơi có loài Chò chỉ phân b ố 65
3.3 Đặc điểm tái sinh tự nhiên của loài Chò chỉ tại Khu bảo tồn thiên nhiên Nà Hẩu 66
3.3.1 Tổ thành tầng cây tái sin h 66
3.3.2 Quan hệ giữa tổ thành tầng cây cao và tầng cây tái sinh 68
3.3.3 Mật độ cây tái sinh 70
3.3.4 Phân bố số cây tái sinh theo cấp chiều cao 71
3.4 Đề xuất các giải pháp bảo vệ và phát triển bền vững loài cây Chò chỉ tại Khu bảo tồn thiên nhiên Nà H ẩ u 78
3.4.1 Giải pháp về cơ chế chính sá c h 78
3.4.2 Giải pháp về khoa học kỹ th u ậ t 78
Trang 83.4.3 Giải pháp trong công tác bảo tồ n 79
3.4.4 Định hướng một số giải pháp kỹ thuật lâm sinh nhằm bảo tồn và phát triển loài cây Chò c h ỉ 80
K Ế T LUẬN, TỒ N TẠ I VÀ K H UYẾN N G H Ị 82
1 Kết lu ậ n 82
2 Tồn t ạ i 84
3 Khuyến n g h ị 84
TÀ I L IỆU TH A M K H Ả O 85
Trang 9DANH M ỤC CÁC T Ừ V IẾ T TẮT
Trang 10DANH M ỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Hiện trạng sử dụng đất đai các xã vùng dự á n 23
Bảng 2.1 Điều tra sinh thái cây Chò ch ỉ 33
Bảng 2.2 Điều tra đặc tính vật hậu học của cây Chò chỉ 34
Bảng 2.3 Điều tra phân bố của loài theo tuyến 35
Bảng 2.4 Biểu điều tra tầng cây cao 36
Bảng 2.5 Điều tra cây tái sinh dưới tán rừ n g 37
Bảng 3.1 Các pha vật hậu của loài Chò chỉ tại KBTTN Nà H ẩ u 44
Bảng 3.2 Phân bố loài Chò chỉ theo đai cao tại KBTTN Nà H ẩu 46
Bảng 3.3 Phân bố loài Chò chỉ theo trạng thái rừng tại KBTTN Nà H ẩu 48
Bảng 3.4 Hệ số tổ thành rừng của các loài cây trong OTC nơi có loài Chò chỉ phân bố theo IV% (ở độ cao 728m, trạng thái rừng IIIA2) 50
Bảng 3.5 Công thức tổ thành rừng nơi có loài Chò chỉ phân bố theo IV% (ở độ cao 728m, trạng thái rừng IIIA2) 51
Bảng 3.6 Hệ số tổ thành rừng của các loài cây trong OTC nơi có loài Chò chỉ phân bố theo IV% (ở độ cao 705m, trạng thái rừng IIIA2) 52
Bảng 3.7 Công thức tổ thành rừng nơi có loài Chò chỉ phân bố theo IV% (ở độ cao 705m, trạng thái rừng IIIA2) 54
Bảng 3.8 Hệ số tổ thành rừng của các loài cây trong OTC nơi có loài Chò chỉ phân bố theo IV% (ở độ cao 746m, trạng thái rừng IIIA2) 55
Bảng 3.9 Công thức tổ thành rừng nơi có loài Chò chỉ phân bố theo IV% (ở độ cao 746m, trạng thái rừng IIIA2) 57
Bảng 3.10 Cấu trúc mật độ loài Chò chỉ phân bố theo đai cao tại KBTTN Nà Hẩu 58
Bảng 3.11 Chỉ số phong phú của loài trong lâm phần điều tra 59
Bảng 3.12 Mức độ thường gặp loài Chò chỉ tại KBTTN Nà Hẩu 60
Bảng 3.13 Mức độ thường gặp của các loài trong lâm phần điều tr a 61
Bảng 3.14 Mức độ thân thuộc của loài Chò chỉ với một số loài quan trọng trong các lâm phần điều tra tại KBTTN Nà H ẩ u 63
Bảng 3.15 Đặc trưng các đặc điểm khí hậu tại KBTTN Nà H ẩu 64
Bảng 3.16 Tổ thành cây tái sinh nơi có loài Chò chỉ phân bố tính theo N % 66
Bảng 3.17 Tổ thành tầng cây cao và tổ thành cây tái sinh tại KBTTN Nà Hẩu 69
Trang 11Bảng 3.18 Cấu trúc mật độ tầng cây tái sinh nơi có loài Chò chỉ phân b ố 70Bảng 3.19 Phân bố số cây tái sinh theo cấp chiều cao tại KBTTN Nà Hẩu (ở
độ cao 728m, trạng thái rừng IIIA2) 72Bảng 3.20 Phân bố số cây tái sinh theo cấp chiều cao tại KBTTN Nà Hẩu (ở
độ cao 705m, trạng thái rừng IIIA2) 74Bảng 3.21 Phân bố số cây tái sinh theo cấp chiều cao tại KBTTN Nà Hẩu (ở
độ cao 746m , trạng thái rừng IIIA 2) 76
Trang 12DANH M ỤC CÁC H ÌN H
Hình 2.1 Sơ đồ các bước tiến hành nghiên cứu của đề t à i 31
Hình 3.1 Hình thái thân cây Chò chỉ tại KBTTN Nà H ẩ u 41
Hình 3.2 Hình thái lá cây Chò chỉ tại KBTTN Nà H ẩ u 42
Hình 3.3 Hình thái hoa cây Chò chỉ 43
Hình 3.4 Phân bố G (%) và IV (%) của các loài ở độ cao 7 2 8 m 51
Hình 3.5 Phân bố G (%) và IV (%) của các loài ở độ cao 7 0 5 m 53
Hình 3.6 Phân bố G (%) và IV (%) của các loài ở độ cao 7 4 6 m 56
Hình 3.7 Tổng số loài và số loài tham gia vào trong công thức tổ thành 57
Hình 3.8 Phân bố giữa mức độ thường gặp với tần suất xuất hiện của các loài trong lâm phần điều tra 62
Hình 3.9 Số loài cây tái sinh và số loài chính tham gia CTTT 68
Hình 3.10 Phân bố giữa ni và ki của các loài trong lâm phần ở độ cao 728m 73
Hình 3.11 Phân bố giữa ni và ki của các loài trong lâm phần ở độ cao 705m 75
Hình 3.12 Phân bố giữa ni và ki của các loài trong lâm phần ở độ cao 746m 77
Trang 13M Ở ĐẦU
1 Đ ặt vấn đề
Con người và thiên nhiên luôn có mối quan hệ biện chứng tác động qua lại lẫn
nhau Vai trò của tài nguyên thiên nhiên hay tài nguyên rừng nói riêng đối với cuộc
sống con người đã được nhiều tài liệu đề cập đến Tuy nhiên, dưới nhiều nguyên nhân
trực tiếp và gián tiếp khác nhau đã và đang làm ảnh hưởng xấu đến nguồn tài nguyên
này và làm cho tính đa dạng sinh học bị suy giảm trầm trọng Bên cạnh việcnhiều loài, nhiều taxon được phát hiện và mô tả mới cho khoa học thì rất có thể
nhiều loài khác - loài chưa từng được biết đến đã đối điện với nguy cơ bị đe dọa
và tuyệt chủng, và trong số đó có thể có những loài có giá trị đặc biệt đối vớikhoa học và cuộc sống của con người
Khu bảo tồn thiên nhiên Nà Hẩu được thành lập theo Quyết định số 5 12/QĐ-
UB ngày 09/10/2006 của UBND tỉnh Yên Bái Khu rừng được quy hoạch thành lập
Khu bảo tồn thiên nhiên Nà Hẩu nằm trên địa bàn các xã Nà Hẩu, Đại Sơn, Mỏ
Vàng và Phong Dụ Thượng thuộc huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái với diện tích 16.950
ha Đây là khu vực có các hệ sinh thái rừng tự nhiên mang tính điển hình của vùng
núi phía Bắc nước ta
Những kết quả điều tra, nghiên cứu ban đầu cho thấy, khu rừng này ngoài
tính đa dạng sinh học về thảm thực vật, khu hệ thực vật và động vật, còn có
những mẫu rừng tương đối nguyên sinh là kiểu rừng kín thường xanh mưa ẩm á
nhiệt đới tiêu biểu cho vùng Trung tâm ẩm miền Bắc Việt Nam Theo báo cáo về
điều tra thực vật của trường đại học Lâm Nghiệp năm 2009 đã thống kê được 516
loài thực vật bậc cao có mạch thuộc 332 chi và 126 họ Về động vật, 129 loài
động vật có xương sống thuộc 54 họ và 17 bộ của 4 lớp thú, chim, bò sát và ếch
nhái đã được ghi nhận trong báo cáo điều tra ĐDSH của VCF (Quỹ bảo tồn rừng
đặc dụng Việt Nam) năm 2012 Trong số đó, nhiều loài thuộc diện quý hiếm
được ghi trong sách đỏ và Nghị định 32/2006/NĐ-CP của Chính phủ Trong khu
vực có những hệ sinh thái rừng đặc trưng cho vùng trung tâm ẩm Bắc bộ còn
tương đối nguyên vẹn Những kiểu địa hình thuộc hệ thống núi cao tiếp nối của
Trang 14dãy Hoàng Liên Sơn cùng với rừng nguyên sinh đã tạo nên một cảnh quan thiên nhiên hùng vĩ, sinh động và hấp dẫn.
Họ Dầu (Dipterocarpaceae), là một họ thực vật điển hình của rừng nhiệt đới Đông Nam Á, Có phân bố rộng trải suốt khu vực từ Ân Độ đến Philippin, gồm 13 chi và 470 loài Trung tâm phân bố của các loài cây họ Dầu còn có cả ở Lào, Campuchia, Thái Lan, Việt Nam, Myanmar và Trung Quốc (Thái Văn Trừng, 1978 [27]) Hệ sinh thái của các loài cây họ Dầu trên thế giới nói chung
và ở Việt Nam nói riêng chịu tác động rất mãnh liệt bởi các nhân tố phát sinh Tác động này không chỉ chi phối phạm vi phân bố mà còn tạo nên sự đa dạng về kiểu rừng, về tổ hợp cây ưu thế tạo thành nhiều trạng thái rừng khác nhau
Hệ sinh thái rừng cây họ Dầu ở khu vực phía Bắc chủ yếu là các kiểu rừng lá rộng thường xanh mưa mùa nhiệt đới mà tổ thành là các loài cây lá rộng họ 3 mảnh vỏ (Euphorbiaceae), họ Dẻ (Fabaceae), Họ Xoan (Meliaceae), họ Cà phê (Rubiaceae), họ Bồ hòn (Sapindaceae), họ Đậu (Fabaceae) Các loài cây họ Dầu
như cây Chò chỉ (Parashorea chinensis), Táu mật (Vatica tonkinensis), Táu muối,
Chò nâu chỉ chiếm một tỷ lệ rất nhỏ trong cấu trúc tổ thành rừng tự nhiên lá rộng thường xanh (Thái Văn Trừng, 1983 [27]
Cây Chò chỉ (Parashorea chinensis), mới được nghiên cứu ở nước ta vào
những năm 1965 với công trình nghiên cứu của Lê Viết Lộc về “Bước đầu điềutra thảm thực vật rừng Cúc Phương” Công trình đã tiến hành điều tra 47 ô tiêu chuẩn có diện tích 1000 m2 và 2000 m2 và đã xây dựng được bản đồ phân bố của
11 loại hình ưu thế trong vùng nghiên cứu cho thấy ở Cúc phương Chò chỉ là cây
ưu thế lập quần trong loại hình ưu thế: Sâng - Sấu - Chò chỉ - Đinh hương (Lê Viết Lộc, 1964 [19])
Chò Chỉ mang nhiều đặc điểm quan trọng cho khoa học và là loài cây tiềm năng
có thể ứng dụng trong lâm nghiệp đô thị, trồng rừng hay có thể phát triển nghiên cứu, nhưng sự phân bố của loài này tại khu bảo tồn còn ít được biết đến Từ thực tiễn nêu
trên, tôi chọn đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm sinh học và sinh thái loài Chò Chỉ (Parashorea chinensis) tại Khu bảo tồn thiên nhiên Nà Hẩu, tỉnh Yên B á i” nhằm
Trang 15góp phần nâng cao hiểu biết, đề xuất những hướng bảo tồn và phát triển loài cây có triển vọng và hiếm này tại Khu bảo tồn thiên nhiên Nà Hẩu.
2 M ục tiêu của đề tài
2.1 M ục tiêu chung
Nhằm xác định đặc điểm sinh học, sinh thái cơ bản của loài Chò Chỉ tại Khu bảo tồn thiên nhiên Nà Hẩu, tỉnh Yên Bái làm cơ sở đề xuất các giải pháp bảo tồn và phát triển loài cây này ở Khu bảo tồn thiên nhiên Nà Hẩu
3 Đối tư ợng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Loài Chò Chỉ (Parashorea chinensis) phân bố tự nhiên tại Khu bảo tồn
thiên nhiên Nà Hẩu, tỉnh Yên Bái
Trang 16tính đa dạng sinh học của các vùng sinh thái và gìn giữ nguồn gen cho cả hiện tại
và tương lai
4.2 Ý nghĩa thực tiễn
- Xác định được đặc điểm hình thái, sinh thái học; phân bố và tái sinh cây Chò chỉ; làm cơ sở đề xuất được các giải pháp bảo tồn và phát triển loài cây này
ở Khu bảo tồn thiên nhiên Nà Hẩu
- Là tài liệu tham khảo cho các đề tài nghiên cứu tiếp theo và phục vụ giảng dạy
Trang 17C hương 1
TỔ N G QUAN VẤN ĐỀ N G H IÊN CỨU
1.1 T rên thế giới
1.1.1 N ghiên cứu về cấu trúc và tái sinh rừng
* Nghiên cứu về cấu trúc rừng
Các nghiên cứu về cấu trúc sinh thái của rừng mưa nhiệt đới đã đượcRichards P.W (1933 - 1934), Baur G.N (1962 [1]), Odum (1978) [22], v.v tiến
hành Các nghiên cứu này thường nêu lên quan điểm, khái niệm và mô tả định tính
về tổ thành, dạng sống và tầng phiến của rừng Cụ thể như sau:
Theo Baur G.N (1962) [1] đã đưa ra những tổng kết hết sức phong phú
về các nguyên lý tác động xử lý lâm sinh nhằm đem lại rừng cơ bản là đều tuổi,
rừng không đều tuổi và các phương thức xử lý cải thiện rừng mưa Catinot
(1965); Plaudy J đã biểu diễn cấu trúc hình thái rừng bằng các phẫu đồ rừng,
nghiên cứu các nhân tố cấu trúc sinh thái thông qua việc mô tả phân loại theo các
khái niệm dạng sống, tầng phiến
v ề đa dạng hệ thực vật, trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu,
đặc biệt những công trình có giá trị vào thế kỷ XIX - XX, như Thực vật chí Ân
Độ gồm 7 tập (1872), Thực vật chí Hải Nam (1973 - 1977), Thực vật chí Vân
Nam (1997), Tất cả các công trình đều đã nêu lên mức độ phong phú và đa
dạng của hệ thực vật rừng ở từng vùng nhất định Tiêu biểu là công trình củaTolmachop ở Liên Xô (cũ) (Nguyễn Bá Thụ, 1995 [30]) Tác giả đã đưa ra nhận
định, một hệ thực vật cụ thể ở vùng nhiệt đới ẩm thường có tới 1500 - 2000 loài
Ngày nay, đa dạng sinh học đang được nhiều nhà khoa học quan tâm, đặc
biệt việc bảo vệ đa dạng sinh học đã trở thành vấn đề quốc tế mà mọi quốc gia đều
đặt vào vị trí quan trọng Quan trọng về lĩnh vực này là công ước bảo tồn đa dạng
sinh học được thông qua tại Hội nghị thượng đỉnh toàn cầu ở Rio De Janeiro
(1992) (Nguyễn Bá Thụ, 1995 [30]) Tại đây, định nghĩa về đa dạng sinh học đã
được nêu một cách đầy đủ là: Đa dạng sinh học gồm 3 yếu tố đa dạng hệ sinh thái,
đa dạng loài và đa dạng di truyền
Trang 18* Nghiên cứu về tái sinh rừng
Tái sinh rừng là một quá trình sinh học mang tính đặc thù của hệ sinh thái rừng, biểu hiện của nó là sự xuất hiện của một thế hệ cây con của những loài cây gỗ ở những nơi còn hoàn cảnh rừng: dưới tán rừng, chỗ trống trong rừng, đất rừng sau khai thác, đất rừng sau nương rẫy Vai trò lịch sử của lớp cây con này là thay thế thế hệ cây già cỗi Vì vậy tái sinh từng hiểu theo nghĩa hẹp
là quá trình phục hồi thành phần cơ bản của rừng, chủ yếu là tầng cây gỗ
Quan điểm của các nhà nghiên cứu thì hiệu quả tái sinh rừng được xác định bởi mật độ, tổ thành loài cây, cấu trúc tuổi, chất lượng cây con, đặc điểm phân bố
Sự tương đồng hay khác biệt giữa tổ thành lớp cây tái sinh và tầng cây gỗ lớn đã được nhiều nhà khoa học quan tâm (Mibbre-ad, 1930; Richards, 1933; 1939; Aubreville, 1938; Beard, 1946; Lebrun và Gilbert, 1954; Joné, 1955-1956; Schultz, 1960; Baur, 1964; Rollet, 1969) Do tính chất phức tạp về tổ thành loài cây, trong đó chỉ có một số loài có giá trị nên trong thực tiễn, người ta chỉ khảo sát những loài cây có ý nghĩa nhất định
Quá trình tái sinh tự nhiên ở rừng nhiệt đới vô cùng phức tạp và còn ít được nghiên cứu Phần lớn tài liệu nghiên cứu về tái sinh tự nhiên của rừng mưa thường chỉ tập trung vào một số loài cây có giá trị kinh tế dưới điều kiện rừng đã ít nhiều bị biến đổi Theo Van steenis (1956) [37] đã nghiên cứu hai đặc điểm tái sinh phổ biến của rừng mưa nhiệt đới là tái sinh phân tán liên tục của các loài cây chịu bóng và tái sinh vệt của các loài cây ưa sáng
V ấn đề tái sinh rừng nhiệt đới được thảo luận nhiều nhất là hiệu quả các cách thức sử lý lâm sinh liên quan đến tái sinh của các loài cây mục đích ở các kiểu rừng Từ đó các nhà lâm sinh học đã xây dựng thành công nhiều phương thức chặt tái sinh Công trình của Bernard (1954, 1959); W yatt Smith (1961, 1963) [36] với phương thức rừng đều tuổi ở Mã Lai; Nicholson (1958) ở Bắc Borneo; Donis và Maudoux (1951, 1954) với công thức đồng nhất hoá tầng trên
ở Zaia; Taylor (1954), Jones (1960) với phương thức chặt dần tái sinh dưới tán
ở Nijêria và Gana; Barnarji (1959) với phương thức chặt dần nâng cao vòm lá ở Andamann Nội dung chi tiết các bước và hiệu quả của từng phương thức đối
Trang 19với tái sinh đã được Baur (1964) tổng kết trong tác phẩm: Cơ sở sinh thái học
của kinh doanh rừng mưa
Các công trình nghiên cứu về phân bố tái sinh tự nhiên rừng nhiệt đới đáng
chú ý là công trình nghiên cứu của Richards, P.W (1952), Bernard Rollet (1974),
tổng kết các kết quả nghiên cứu về phân bố số cây tái sinh tự nhiên đã nhận xét:trong các ô có kích thước nhỏ (1 x 1m, 1 x 1.5m) cây tái sinh tự nhiên có dạng
phân bố cụm, một số ít có phân bố Poisson ở Châu Phi trên cơ sở các số liệu thu
thập Tayloer (1954), Barnard (1955) xác định số lượng cây tái sinh trong rừng
nhiệt đới thiếu hụt cần thiết phải bổ sung bằng trồng rừng nhân tạo Ngược lại, các
tác giả nghiên cứu về tái sinh tự nhiên rừng nhiệt đới Châu á như Budowski
(1956), Bava (1954), Atinot (1965) lại nhận định dưới tán rừng nhiệt đới nhìn
chung có đủ số lượng cây tái sinh có giá trị kinh tế, do vậy các biện pháp lâm sinh
đề ra cần thiết để bảo vệ và phát triển cây tái sinh có sẵn dưới tán rừng (Nguyễn
Duy Chuyên, 1996) [3])
Baur G.N (1962) [1] cho rằng, sự thiếu hụt ánh sáng ảnh hưởng đến
phát triển của cây con còn đối với sự nảy mầm và phát triển của cây mầm, ảnh
hưởng này thường không rõ ràng và thảm cỏ, cây bụi có ảnh hưởng đến sinh
trưởng của cây tái sinh ở những quần thụ kín tán, thảm cỏ và cây bụi kém
phát triển nhưng chúng vẫn có ảnh hưởng đến cây tái sinh
1.1.2 N ghiên cứu đặc điểm sinh học loài cây
Việc nghiên cứu sinh học loài cây trong đó có các đặc điểm hình thái và vật
hậu đã được thực hiện từ lâu trên thế giới Đây là bước đầu tiên, làm tiền đề cho các
môn khoa học khác liên quan Có rất nhiêu công trình liên quan đến hình thái và
phân loại các loài cây Những nghiên cứu này đầu tiên tập trung vào mô tả và phân
loại các loài, nhóm loài, .Có thể kể đến một vài công trình rất quen thuộc liên quan
đến các nước lân cận như: Thực vật chí Hong Kong (1861), Thực vật chí Australia
(1866), Thực vật chí rừng Tây Bắc và trung tâm Ấn độ (1874), Thực vật chí Ấn độ 7
tập (1872 - 1897), Thực vật chí Miến Điện (1877), Thực vật chí Malaysia (1892 -
1925), Thực vật chí Hải Nam (1972 - 1977), Thực vật chí Vân Nam (1977), Thực
vật chí Quảng Đông, Trung Quốc (9 tập) Sự ra đời của các bộ thực vật chí đã góp
Trang 20phần làm tiền đề cho công tác nghiên cứu về hình thái, phân loại cũng như đánh giá tính đa dạng của các vùng miền khác nhau.
Ở Nga, từ 1928 đến 1932 được xem là thời kỳ mở đầu cho thời kỳ nghiên
cứu hệ thực vật cụ thể Tolmachop A.I cho rằng “Chỉ cần điều tra trên một diện tích đủ lớn để có thể bao chùm được sự phong phú của nơi sống nhưng không có
sự phân hoá mặt địa lý” Ông gọi đó là hệ thực vật cụ thể Tolmachop đã đưa ra
một nhận định là số loài của một hệ thực vật cụ thể ở vùng nhiệt đới ẩm thường
là 1500 - 2000 loài
v ề vật hậu học: Hoạt động sinh học có tính chất chu kỳ của các cơ quan sinh dưỡng và cơ quan sinh sản Chu kỳ vật hậu của cùng 1 loài phân bố ở các vùng sinh thái khác nhau sẽ có sự sai khác rõ rệt Điều này có ý nghĩa cần thiết trong nghiên cứu sinh thái cá thể loài và công các chọn tạo giống Các công trình như nêu trên cũng đã ít nhiều nêu ra các đặc điểm về chu kỳ hoa, quả và các đặc trưng vật hậu của từng loài, nhóm loài
1.1.3 Nghiên cứu đặc điểm sinh thái học loài cây
Việc nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái của loài làm cơ sở đề xuất biện pháp kỹ thuật lâm sinh tác động phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả trong kinh doanh rừng rất được các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu Theo đó, các lý thuyết về hệ sinh thái, cấu trúc, tái sinh rừng được vận dụng triệt để trong nghiên cứu đặc điểm của 1 loài cụ thể nào đó
Odum E.P (1971) [35] đã hoàn chỉnh học thuyết về hệ sinh thái, trên cơ sở
thuật ngữ hệ sinh thái (ecosystem) của Tansley A.P (1935) Ông đã phân chia ra
sinh thái học cá thể và sinh thái học quần thể Sinh thái học cá thể nghiên cứutừng cá thể sinh vật hoặc từng loài, trong đó chu kỳ sống, tập tính cũng như khả năng thích nghi với môi trường được đặc biệt chú ý
Lacher W (1978) đã chỉ rõ những vấn đề cần nghiên cứu trong sinh thái thực vật như: Sự thích nghi với các điều kiện dinh dưỡng khoáng, ánh sáng, độ nhiệt, độ
ẩm, nhịp điệu khí hậu (Dẫn theo Nguyễn Thị Hương Giang, 2009) [13]
Trung tâm Nông lâm kết hợp thế giới (World Agroforestry Centre, 2006), Anon (1996), Keble và Sidiyasa (1994) đã nghiên cứu đặc điểm hình thái của
Trang 21loài Vối thuốc (Schima wallichii) và đã mô tả tương đối chi tiết về đặc điểm hình
thái thân, lá, hoa, quả, hạt của loài cây này, góp phần cung cấp cơ sở cho việc
gây trồng và nhân rộng loài Vối thuốc trong các dự án trồng rừng (dẫn theo
Hoàng Văn Chúc, 2009 [7])
Tian - XiaoRui khi nghiên cứu về khả năng chịu lửa của một số loài cây
trồng rừng đã rút ra kết luận, Vối thuốc (S wallichii), Castanopsis hystrix và
M yrica rubra có sức chống lửa tốt nhất trong tổng số 12 loài cây nghiên cứu (dẫn
theo Hoàng Văn Chúc, 2009) [7] Vối thuốc là loài cây tiên phong ưa sáng, biên
độ sinh thái rộng, phân bố rải rác ở các khu vực phía Đông Nam Châu Á Vối
thuốc xuất hiện ở nhiều vùng rừng thấp (phía Nam Thái Lan) và cả ở các vùng cao
hơn (Nepal) cũng như tại các vùng có khí hậu lạnh Là cây bản địa của Brunei,
Trung Quốc, ấn Độ, Lào, Myanmar, Nepal, Papua New Guinea, Phillipines,
Thailand và Việt Nam (World Agroforestry Centre, 2006) Vối thuốc thường mọc
thành quần thụ từ nơi đất thấp đến núi cao, phân bố ở rừng thứ sinh, nơi đồng cỏ,
cây bụi và ngay cả nơi ngập nước có độ mặn nhẹ Vối thuốc có thể mọc trên
nhiều loại đất với thành phần cơ giới và độ phì khác nhau, từ đất cằn cỗi khô cằn
đến đất phì nhiêu, tươi tốt, có thể thấy Vối thuốc xuất hiện nơi đầm lầy Vốithuốc là loài cây tiên phong sau nương rẫy (Laos tree seed project, 2006) (dẫn
theo Hoàng Văn Chúc, 2009) [7]
Khamleck (2004), Họ Dẻ có phân bố khá rộng, với khoảng 900 loài chúng
được tìm thấy ở vùng ôn đới Bắc bán cầu, cận nhiệt đới và nhiệt đới, song chưa
có tài liệu nào công bố chúng có ở vùng nhiệt đới Châu Phi Hầu hết các loài
phân bố tập trung ở Châu Á, đặc biệt ở Việt Nam có tới 216 loài và ít nhất là
Châu Phi và vùng Địa Trung Hải chỉ có 2 loài (dẫn theo Trần Hợp, 2002) [17]
Như vậy, với các công trình nghiên cứu về lý thuyết sinh thái, tái sinh, cấu
trúc rừng tự nhiên cũng như nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái đối với một
số loài cây như trên đã phần nào làm sáng tỏ những đặc điểm cấu trúc, tái sinh của
rừng nhiệt đới nói chung Đó là cơ sở để lựa chọn cho hướng nghiên cứu trong
luận văn
Trang 221.1.4 N ghiên cứu về cây Chò chỉ
Những nghiên cứu về cây Chò chỉ trên thế giới không có nhiều Tuy
nhiên, theo W endy Jackson (Bộ canh nông Mỹ) thì họ Dầu (Dipterocarpaceae)
phân bố nhiều ở vùng Đông Nam Á và rất nhạy cảm với đất, chịu ảnh hưởng sâu
sắc của Cacbonnat canxi
Lecont đã nghiên cứu và xuất bản cuốn “Thực vật chí Đông Dương”
Trong đó tác giả đã xác định được hai loài Chò chỉ là Parashorea stelata và
Parashorea chinensis Hai loài cây này đã được đưa vào danh lục Thực vật ở Việt
Nam Chò chỉ phân bố nhiều ở Trung Quốc, Miến Điện thuộc khu hệ Malaysia từ
Nam di cư lên Bắc Chính vì vậy mà các nghiên cứu về loài Chò chỉ tập trung
nhiều ở Trung Quốc Theo Guang xi (1974), đã nghiên cứu việc gây trồng loài
Chò chỉ ở Trung Quốc và đã có những thành công nhất định Năm 1988, nhà
nghiên cứu Lin Chi cũng đã nghiên cứu một số sinh thái ảnh hưởng đến sinhtrưởng và phát triển của cây Chò chỉ tại vùng Quảng Đông (dẫn theo Hoàng Văn
Chúc, 2009) [7]
1.2 Ở Việt Nam
1.2.1 N ghiên cứu về cấu trúc và tái sinh rừng
* Nghiên cứu về cấu trúc rừng
Việc nghiên cứu cấu trúc rừng ở Việt nam cũng đã được rất nhiều tác giả
đề cập tới nhằm đưa ra giải pháp lâm sinh phù hợp, song tiêu biểu phải kể đến
một số công trình nghiên cứu sau:
Thái Văn Trừng (1963, 1970, 1978) [26] đã đưa ra mô hình cấu trúc tầng
như: Tầng vượt tán (Ai), tầng ưu thế sinh thái (A2), tầng dưới tán (A3), tầng cây
bụi (B) và tầng cỏ quyết (C) Ông đã vận dụng và cải tiến bổ sung phương pháp
biểu đồ, mặt cắt đứng của Davit - Risa để nghiên cứu cấu trúc rừng Việt Nam,
trong đó tầng cây bụi và thảm tươi được vẽ phóng đại với tỉ lệ nhỏ hơn và có ký
hiệu thành phần loài cây của quần thể đối với những đặc trưng sinh thái và vật
hậu cùng biểu đồ khí hậu, vị trí địa lý, địa hình Bên cạnh đó, ông còn dựa vào 4
tiêu chuẩn để phân chia kiểu thảm thực vật rừng Việt Nam Đó là dạng sống ưu
thế của những thực vật trong tầng cây lập quần, độ tàn che của tầng ưu thế sinh
Trang 23thái, hình thái sinh thái của nó và trạng mùa của tán lá Với những quan điểm
trên, Thái Văn Trừng đã phân chia thảm thực vật Rừng Việt Nam thành 14 kiểu
Rõ ràng các nhân tố cấu trúc rừng được vận dụng triệt để trong phân loại rừng
dựa trên quan điểm sinh thái phát sinh quần thể
Đặc điểm cấu trúc rừng lá rộng thường xanh ở Hương Sơn, Hà Tĩnh đã được
tác giả Đào Công Khanh (1996) [18] tiến hành Đây là cơ sở đề xuất một số biện
pháp lâm sinh phục vụ khai thác và nuôi dưỡng rừng Theo Nguyễn Văn Trương
(1983) [27] khi nghiên cứu cấu trúc rừng hỗn loài đã xem xét sự phân tầng theo
hướng định lượng, phân tầng theo cấp chiều cao một cách cơ giới Theo Vũ Đình
Phương (1987) [24] đã nhận định, việc xác định tầng thứ của rừng lá rộng thường
xanh là hoàn toàn hợp lý và cần thiết, nhưng chỉ trong trường hợp rừng có sự phân
tầng rõ rệt có nghĩa là khi rừng đã phát triển ổn định mới sử dụng phương pháp định
lượng để xác định giới hạn của các tầng cây Theo Nguyễn Anh Dũng (2000) [11]
đã tiến hành nghiên cứu một số đặc điểm cấu trúc tầng cây gỗ cho 2 trạng thái rừng
là IIa và IIIa1 ở Lâm Trường Sông Đà - Hoà Bình
Về đa dạng tầng cây gỗ đã có nhiều tác giả Việt Nam quan tâm nghiên
cứu về đa dạng sinh học, đặc biệt là đa dạng hệ thực vật, đầu tiên phải kể đến
công trình nghiên cứu “Thảm thực vật rừng Việt Nam” của Thái Văn Trừng
(1963, 1978 [26]) Tác giả đã tổng kết và công bố công trình nghiên cứu của
mình với 7004 loài thực vật bậc cao có mạch thuộc 1850 chi và 189 họ ở Việt
Nam Ông đã nhấn mạnh sự ưu thế của ngành thực vật hạt kín (Angiospermae)
trong hệ thực vật Việt Nam với 6336 loài chiếm 90,9%, 1727 chi chiếm 93,5%
và 239 họ chiếm 82,7% trong tổng số taxon mỗi bậc Tiếp theo là công trình
“Bước đầu nghiên cứu rừng Miền Bắc” của Trần Ngũ Phương (1963) [23] Tác
giả chia rừng miền Bắc Việt Nam thành 3 đai với 8 kiểu
* Nghiên cứu về tái sinh
Tái sinh rừng ở nước ta chưa có công trình nào nghiên cứu một cách
đầy đủ và hệ thống, đặc biệt là tái sinh tự nhiên, các kết quả nghiên cứu về tái
sinh rừng thường được đề cấp đến trong các công trình nghiên cứu về thảm thực
vật, trong các báo cáo khoa học và công bố trên các tạp chí Rừng Việt Nam
Trang 24mang những đặc điểm tái sinh của rừng nhiệt đới nói chung, nhưng phần lớn làrừng thứ sinh phục hồi nên những quy luật tái sinh đã bị xáo trộn.
Khi nghiên cứu rừng nhiệt đới ở Việt Vam, Trần Ngũ Phương (1963)
[23] đã nhấn mạnh, rừng tự nhiên có nhiều tầng, khi một tầng nào đó của rừng
bắt đầu già cỗi thì nó đã chuẩn bị cho bản thân một lớp cây con tái sinh để sau
này sẽ thay thế khi nó bị tiêu vong Theo Phùng Ngọc Lan (1964) [20] đã nêu kết
quả tra dặm hạt Lim xanh dưới tán rừng ở lâm trường Hữu Lũng, Lạng Sơn
Ngay từ giai đoạn nảy mầm, bọ xít là nhân tố gây ảnh hưởng đáng kể đến tỷ lệ
nảy mầm
Thái Văn Trừng (1978) [26] khi nghiên cứu về “Thảm thực vật rừng Việt
Nam” đã kết luận: ánh sáng là nhân tố sinh thái khống chế và điều khiển quá
trình tái sinh tự nhiên trong rừng Khi các điều kiện của môi trường như đất rừng,
nhiệt độ, độ ẩm dưới tán rừng chưa thay đổi thì các loài cây tái sinh không có
những biến đổi lớn và cũng không diễn thế một cách tuần hoàn trong không gian
và theo thời gian mà diễn thế theo những phương thức tái sinh có quy luật nhân
quả giữa sinh vật và môi trường
Viện Điều tra - Quy hoạch rừng tiến hành điều tra tái sinh tự nhiên ở rừng
thứ sinh Yên Bái (1965), Hà Tĩnh (1966), Quảng Bình (1969) và Lạng Sơn (1969)
Từ kết quả điều tra tái sinh, Vũ Đình Huề (1969) [14] đã phân chia khả năng tái sinh
rừng thành 5 cấp, rất tốt, tốt, trung bình, xấu và rất xấu Nhìn chung nghiên cứu này
mới chỉ chú trọng đến số lượng mà chưa đề cập đến chất lượng cây tái sinh Cũng từ
kết quả điều tra trên, Vũ Đình Huề (1975) [15] đã tổng kết và rút ra nhận xét, tái
sinh tự nhiên rừng miền Bắc Việt Nam mang những đặc điểm tái sinh của rừng nhiệt
đới Dưới tán rừng nguyên sinh, tổ thành loài cây tái sinh tưong tự như tầng cây gỗ;
dưới tán rừng thứ sinh tồn tại nhiều loài cây gỗ mềm kém giá trị và hiện tượng tái
sinh theo đám được thể hiện rõ nét tạo nên sự phân bố số cây không đồng đều trên
mặt đất rừng
Nguyễn Văn Trương (1983) [28] cho biết: cần phải thay đổi cách khai
thác rừng cho hợp lý vừa cung cấp được gỗ, vừa nuôi dưỡng và tái sinh được rừng
Muốn đảm bảo cho rừng phát triển liên tục trong điều kiện quy luật đào thải tự nhiên
Trang 25hoạt động thì rõ ràng là lóp cây dưới phải nhiều hơn lóp cây kế tiếp nó ở phía trên Điều kiện này không thực hiện được trong rừng tự nhiên ổn định mà chỉ có trong rừng chuẩn có hiện tượng tái sinh liên tục đã được sự điều tiết của con người.
Vũ Tiến Hinh (1991) [16] khi nghiên cứu đặc điểm tái sinh tự nhiên tại Hữu Lũng (Lạng Sơn) và vùng Ba Chẽ (Quảng Ninh) đã nhận thấy rằng, hệ số tổ thành tính theo % số cây của tầng tái sinh và tầng cây cao có liên quan chặt chẽ với nhau Các loài có hệ số tổ thành ở tầng cây cao càng lón thì hệ số tổ thành ở tầng tái sinh cũng vậy
Khi nghiên cứu về tái sinh tự nhiên ở rừng Khộp vùng Easup - Đắc Lắc, Đinh Quang Diệp (1993) [10] đã kết luận: Độ tàn che, thảm mục, độ dày tầng thảm mục, điều kiện lập đ ịa, là những nhân tố ảnh hưởng đến số lượng và chất lượng cây con tái sinh dưới tán rừng
Để đánh giá vai trò tái sinh và phục hồi rừng tự nhiên ở các vùng miền Bắc, Trần Xuân Thiệp (1995) [29] đã cho rằng rừng phục hồi vùng Đông Bắc chiếm trên 30% diện tích rừng hiện có, lớn nhất so với các vùng khác Khả năng phục hồi hình thành các vườn rừng, trang trại rừng đang phát triển ở các tỉnh trong vùng Rừng Tây Bắc phần lớn diện tích rừng phục hồi sau nương rẫy, diễn thế rừng ở nhiều vùng xuất hiện nhóm cây ưa sáng chịu hạn hoặc rụng lá, kích thước nhỏ và nhỡ là chủ yếu và nhóm cây lá kim rất khó tái sinh phục hồi trở lại
do thiếu lớp cây mẹ
Thực tế cho thấy, ở nước ta hiện nay, nhiều khu vực vẫn phải dựa vào tái sinh
tự nhiên còn tái sinh nhân tạo mới chỉ được triển khai trên quy mô hạn chế Vì vậy, những nghiên cứu đầy đủ về tái sinh tự nhiên cho từng đối tượng rừng cụ thể là hết sức cần thiết để từ đó có thể đề xuất những biện pháp kỹ thuật lâm sinh phù hợp
1.2.2 N ghiên cứu đặc điểm sinh học loài cây
Ngoài những tác phẩm cổ điển về thực vật như “Flora Cochinchinensis“ của Loureiro (1790) và “Flore Forestière de la Cochinchine” của Pierre (18791907), thì từ đầu những năm đầu thế kỷ 20 đã xuất hiện một công trình nổi tiếng,
là nền tảng cho việc nghiên cứu về hình thái phân loại thực vật, đó là Bộ thực vật chí Đông Dương do H Lecomte chủ biên (1907-1952) Trong công trình này, các
Trang 26tác giả người pháp đã thu mẫu, định tên và lập khóa mô tả các loài thực vật bậc cao có mạch trên toàn bộ lãnh thổ Đông Dương, trong đó hệ thực vật Việt Nam
có 7004 loài, 1850 chi và 289 họ
Đối với mỗi miền có những tác phẩm lớn khác nhau như ở miền Nam Việt Nam có công trình thảm thực vật Nam Trung Bộ của Schmid (1974), trong đó tác giả đã chỉ rõ những tiêu chuẩn để phân biệt các quần xã khác nhau là sự phân hóa khí hậu, chế độ thoát nước khác nhau Nhà xuất bản khoa học kỹ thuật đã xuất bản bộ sách “Cây cỏ thường thấy ở Việt Nam” gồm 6 tập do Lê Khả Kế chủ biên
và ở miền Nam Phạm Hoàng Độ (1970-1972) cũng cho ra đời công trình đồ sộ 2 tập về “Cây cỏ miền Nam Việt Nam”, trong đó giới thiệu 5326 loài, trong đó có
60 loài thực vật bậc thấp và 20 loài rêu, còn lại là 5246 loài thực vật có mạch, và sau này là “Cây cỏ Việt Nam” [12]
Ngoài ra, còn rất nhiều các bộ sách chuyên khảo khác, tuy không tách riêng cho vùng Tây Nam Bộ nhưng cũng đã góp phần vào việc nghiên cứu đa dạng sinh học thực vật chung, như các bộ về Cây gỗ rừng Việt Nam (Viện điều tra qui hoạch, 1971-1988), Cây thuốc Việt Nam (Viện dược liệu, 1990), Cây tài nguyên (Trần Đình lý và cs., 1993), Cây gỗ kinh tế ở Việt Nam (Trần Hợp & Nguyễn Bội Quỳnh, 1993), 100 loài cây bản địa (Trần Hợp & Hoàng Quảng Hà, 1997), Cây cỏ có ích ở Việt Nam (Võ Văn chi và Trần Hợp, 1999), Tài nguyên cây gỗ Việt Nam (Trần Hợp, 2002) [17], v.v Gần đây Viện sinh thái và tài nguyên sinh vật cũng đã xây dựng và biên soạn được 11 tập chuyên khảo đến họ riêng biệt Đây là những tài liệu vô cùng quý giá góp phần vào việc nghiên cứu
về thực vật của Việt Nam
1.2.3 Nghiên cứu đặc điểm sinh thái học loài cây
Ở nước ta, nghiên cứu về đặc điểm sinh thái học của các loài cây bản địa chưa nhiều, tản mạn, có thể tổng hợp một số thông tin có liên quan đến vấn đề nghiên cứu như sau:
Ly Meng Seang (2008) [25] đã nghiên cứu một số đặc điểm lâm học của rừng Tếch trồng ở Kampong Cham Campuchia, đã kết luận: ở các độ tuổi khác nhau: Phân bố N-Di 3 ở các tuổi đều có dạng một đỉnh lệch trái và nhọn, phân bố N-
Trang 27H thường có đỉnh lệch phải và nhọn, phân bố N-Dt đều có đỉnh lệch trái và tù Giữa
D 13 hoặc Hvn so với tuổi cây hay lâm phần luôn tồn tại mối quan hệ chặt chẽ theo
mô hình Schumacher Ngoài ra, tác giả cũng đề nghị trong khoảng 18 năm đầu sau khi trồng rừng Tếch nên chặt nuôi dưỡng 3 lần theo phương pháp cơ giới, với kỳ dãn cách là 6 năm 1 lần
Nguyễn Toàn Thắng (2008) [34] đã nghiên cứu một số đặc điểm lâm học
của loài Dẻ anh (Castanopsis piriform is) tại Lâm Đồng Tác giả đã có những
kết luận rõ ràng về đặc điểm hình thái, vật hậu, phân bố, giá trị sử dụng, về tổ thành tầng cây gỗ biến đổi theo đai cao từ 17 đến 41 loài, với các loài ưu thế là
Dẻ anh, Vối thuốc răng cưa, Du sam,
Hoàng Văn Chúc (2009) [7] trong công trình “Nghiên cứu một số đặc điểm tái sinh tự nhiên loài Vối thuốc (Schima wallichii Choisy) trong các trạng thái rừng tự nhiên phục hồi ở tỉnh Bắc G iang” đã mô tả một cách chi tiết về đặc điểm
hình thái, vật hậu, tái sinh, phân b ố , của loài cây này ở khu vực tỉnh Bắc Giang Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần nhân rộng loài cây bản địa có giá trị này
Tóm lại, với những kết quả của những công trình nghiên cứu như trên, là
cơ sở để đề tài lựa chọn những nội dung thích hợp để tham khảo vận dụng trong
đề tài nghiên cứu đặc điểm sinh học của loài Chò chỉ tại KBTTN Nà Hẩu.
1.2.4 N ghiên cứu về cây Chò chỉ
Cây Chò chỉ (Parashorea chinensis), mới được nghiên cứu ở nước ta vào
những năm 1965 với công trình nghiên cứu của Lê Viết Lộc (1964) [19] về
“Bước đầu điều tra thảm thực vật rừng Cúc Phương” Công trình đã tiến hành điều tra 47 ô tiêu chuẩn có diện tích 1000 m2 và 2000 m2 và đã xây dựng được bản
đồ phân bố của 11 loại hình ưu thế trong vùng nghiên cứu cho thấy ở Cúc phương Chò chỉ là cây ưu thế lập quần trong loại hình ưu thế: Sâng - Sấu - Chò chỉ - Đinh hương (Lê Viết Lộc, 1964 [19] Các thảm thực vật rừng ở Cúc Phương)
Năm 1967, trong tập sách “ Cây rừng Việt Nam”, tác giả Lê Mộng Chân
đã mô tả khái quát hình thái cây Chò chỉ và bước đầu xác định vùng phân bố của Chò chỉ tại Việt Nam [6]
Trang 28Năm 1976, Trạm nghiên cứu - VQG Cúc Phương đã giao trồng thử 1 ha
rừng trồng Chò chỉ và vào năm 1985, tại trạm nghiên cứu - VQG Cúc Phương đẫ
tiến hành xây dựng vườn thực vật Trong danh lục cây trồng ở đó có Chò chỉ đã
được gây trồng và sinh trưởng rất tốt (Trạm NC-VQG Cúc Phương, 1976, 1985
Thiết kế trồng rừng Chò chỉ tại vườn thực vật VQG Cúc Phương)
Nghiên cứu của các tác giả Phùng Ngọc Lan, Nguyễn Nghĩa Thìn, Nguyễn
Bá Thụ (1987), đã xếp cây Chò chỉ vào quần thụ rừng rậm nhiệt đới thường xanh
mưa mùa cây lá rộng đai thấp, đất thoát nước trong bảng phân loại rừng khu vực
VQG Cúc Phương Trong nhóm này còn có các loài khác như Sâng, Sấu, Đinh
hương [4]
Vào năm 1999, trong một công trình nghiên cứu về Bảo tồn Đa dạng Sinh
học Nguyễn Hoàng Nghĩa, tác giả cho rằng Chò chỉ là 1 trong 40 loài cây đang
đứng trước nguy cơ tuyệt chủng mà nguyên nhân chủ yếu vẫn là khai thác bừa
bãi, tàn phá môi trường sống và thu hẹp diện tích rừng tự nhiên Theo phân hạng
mức độ đe doạ của IUCN (1994) thì Chò chỉ thuộc hạng VU/cd -có nguy cơ bị
tuyệt chủng (dẫn theo Nguyễn Bá Chất, 1996 [4]
Năm 2000, cây Chò chỉ cũng đã được tiến hành trồng thử nghiệm tại VQG
Bạch Mã, cũng đã cho thấy Chò chỉ có thể sinh trưởng tốt trên đất chịu ảnhhưởng của Cácbonnát Canxi
Vào năm 2002, Qũi môi trường toàn cầu (GEF) đã hỗ trợ và thực hiện dự
án “Xây dựng mô hình cộng đồng phục hồi và phát triển cây Chò chỉ ở huyện
Thanh Sơn tỉnh Phú Thọ” Sau khi nghiên cứu và khảo sát đã đưa ra được một số
nhận định ban đầu rằng: cây Chò chỉ có thể sống thành quần thụ rừng và trong Hệ
Sinh thái đó, chúng có thể cũng có những vai trò khác nhau trên những lập địa khác
nhau (Dự án xây dựng mô hình cộng đồng và phát triển cây Chò chỉ GEF)
Theo Vũ Văn Cần và các cộng sự (2003), đã thực hiện đề tài “Nghiên cứu
một số đặc điểm sinh vật học của cây chò chỉ làm cơ sở cho việc gây trồng và
phát triển loài cây này ở VQG Cúc Phương” đã cho thấy rằng Chò chỉ là cây
chiếm ưu thế trong quần thụ rừng tự nhiên tại Cúc Phương và bước đầu cũng đã
Trang 29nghiên cứu một số đặc điểm Sinh học của loài cây Chò chỉ tại khu vực này (dẫn theo Vũ Văn Cần, 1997 [5].
Cây Chò chỉ đã được các tác giả mô tả khá kỹ về đặc điểm hình thái, đặc điểm sinh thái và cho rằng; Chò chỉ phân bố từ Hà Tĩnh trở ra Bắc và mọc rải rác tại trong rừng thường xanh mưa ẩm cùng các loài Sâng, Sấu, G ội, và tập trung
ở độ cao 300 - 700 m so với mực nước biển và tái sinh tốt ở nơi có độ tàn che thấp (0,3 - 0,5) Các tác giả cho rằng, Chò chỉ có thể trồng trong vùng có điều kiện nhiệt độ bình quân từ 19 - 22o, lượng mưa từ 1300 - 2000 mm/năm trên các loại đất như Fk, Fs, Fa, FHs với các dạng cây bụi hoặc rừng đang phục hồi Mật
độ trồng khoảng 1.100 cây/ha và được bón lót 500g phân lân vi sinh/hố và tiến hành chăm sóc trong 4 năm đầu
Đoàn Đình Tam (2008) [33], thực hiện “Nghiên cứu thăm dò kỹ thuật gây trồng cây Chò chỉ tại vùng phòng hộ đầu nguồn sông Đà” cho biết, vùng Thanh Sơn - Phú Thọ và Thượng Tiến - Hoà Bình là 2 trong những trung tâm phân bố của cây Chò chỉ ở phía Bắc Chò chỉ có cấu trúc mật độ thấp nhưng có ưu thế về diện tích tán Chò chỉ tái sinh chủ yếu bằng hạt, mật độ tái sinh thấp nhất trong lâm phần và phân bố theo cụm/đám Trồng Chò chỉ thuần loài hoặc hỗn giao với Sấu/Re (N=540) đồng thời bón lót 30g N + 120g P + 90g K và bón thúc 200g NPK tổng hợp sẽ mang lại hiệu quả cao nhất khi trồng ở nơi có độ ẩm cao Ngoài ra, đề tài đã gây trồng được 1 hécta rừng Chò chỉ thuần loài tại Trạm nghiên cứu Môi trường và Rừng Phòng hộ sông Đà Kết quả bước đầu cho thấy, cây Chò chỉ trồng tại đây có tỷ lệ sống cao, sinh trưởng và phát triển tốt
Chò chỉ có một số ưu điểm như thân thẳng, cây lớn, sinh trưởng tương đối nhanh, gỗ tốt và có giá trị kinh tế và môi trường cao nên Chò chỉ đã được một số tác giả quan tâm nghiên cứu Tuy nhiên, các nghiên cứu về loài Chò chỉ mới chỉ là bước đầu, chưa đồng bộ và chưa đủ cơ sở để phục vụ cho việc đề xuất các biện pháp kỹ thuật gieo ươm và gây trồng trên diện tích lớn Chính vì vậy mà việc nghiên cứu đặc điểm sinh học và sinh thái một loài cây gỗ lớn có giá trị cao như Chò chỉ là hết sức cần thiết nhằm phục vụ cho mục tiêu gây trồng và Bảo tồn loài cây này
và nâng cao chất lượng của rừng trồng tại vùng phòng hộ đầu nguồn hiện nay
Trang 301.3 Thảo luận
Từ kết quả các công trình nghiên cứu trên thế giới và trong nước về các vấn
đề có liên quan đến nội dung nghiên cứu của đề tài có thể rút ra một số nhận xét sau:
- Các công trình nghiên cứu về cấu trúc rừng cũng khá toàn diện về cácmặt: cơ sở cấu trúc, hình thái cấu trúc, định lượng cấu trúc, tái sinh Các nghiên
cứu này đều có giá trị lý luận và thực tiễn ở những mức độ khác nhau và đều
phục vụ cho mục đích kinh doanh, lợi dụng rừng có hiệu quả và lâu dài trên thế
giới trong những năm qua
- Các công trình nghiên cứu về đặc điểm sinh học, sinh thái cho từng loài
cây cụ thể cũng rất được quan tâm nghiên cứu, góp phần cung cấp cơ sở cho việc
gây trồng, bảo tồn nhiều loài cây gỗ quý như Lim xanh, Lát hoa, Pơ mu, Chò chỉ,
v v Tuy nhiên hiện nay, tài nguyên rừng đang bị đe dọa nghiêm trọng bởi sự
khai thác quá mức của con người dẫn tới nhiều loài cây gỗ quý hiếm đang có
nguy cơ tuyệt chủng, số lượng loài bổ sung vào sách đỏ Việt Nam ngày càng
nhiều Do đó, nếu chúng ta không có biện pháp bảo tồn cấp bách thì tương lai
không xa nguồn gen quý hiếm của các loài cây này sẽ biến mất ngoài tự nhiên
- Cây Chò chỉ (Parashorea chinensis) là cây gỗ lớn có tên trong sách đỏ
Việt Nam, do không được bảo vệ và bị khai thác quá mức trước đây nên hiện nay
Chò chỉ còn lại ở KBTTN Nà Hẩu rất ít Hơn nữa, cho tới nay những hiểu biết về
đặc điểm sinh học, sinh thái đối với loài cây này còn hạn chế, thiếu thông tin, chưa
có các công trình nghiên cứu chuyên sâu Vì vậy, việc nghiên cứu đặc điểm lâm
sinh học của Chò chỉ là cần thiết, góp phần quan trọng trong công tác bảo tồn và
phát triển loài cây này trong tương lai
1.4 Đặc điểm về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội
1.4.1 Đặc điểm về điều kiện tự nhiên
1.4.1.1 Vị trí địa lý, địa giới hành chính
Khu bảo tồn thiên nhiên Nà Hẩu thuộc địa phận của bốn xã phía Nam của
huyện Văn Yên: xã Nà Hẩu, xã Đại Sơn, xã Mỏ Vàng và xã Phong Dụ Thượng
Khu BTTN cách trung tâm huyện 30km và có vị trí địa lý như sau:
Trang 31- Từ 104°23’ đến 104°40’ kinh độ Đông.
- Từ 21°50’ đến 22°01’ vĩ độ Bắc
+ Phía Bắc giáp các xã Xuân Tầm, Tân Hợp, Đại Phác huyện Văn Yên.+ Phía Đông giáp xã Viễn Sơn huyện Văn Yên
+ Phía Đông - Nam giáp huyện Trấn Yên
+ Phía Nam giáp huyện Văn Chấn
+ Phía Tây và Tây - Nam giáp huyện Mù Cang Chải
+ Phía Tây Bắc giáp huyện Văn Bàn tỉnh Lào Cai
Tổng diện tích tự nhiên khu vực 4 xã là 43.850 ha, chiếm 31,6% tổng diện tích (27 xã) toàn huyện
1.4.1.2 Địa hình - địa thế
Khu bảo tồn thiên nhiên Nà Hẩu nằm trong vùng địa hình đồi núi trung bình và cao thuộc lưu vực sông Hồng của dãy Hoàng Liên Sơn Nhìn toàn cảnh, các dãy núi cao phổ biến từ 1000-1400m, chạy theo hướng từ Tây - Bắc đến Đông - Nam và thoải dần về phía Đông - Bắc Cao nhất trong khu vực là đỉnh núi ở phía Nam, là điểm tiếp giáp ranh giới giữa Nà Hẩu - Phong Dụ Thượng và Văn Chấn, cao khoảng 1783m Tiếp đến là đỉnh phía Bắc thuộc Núi Khe Vàng cao 1412m, là điểm tiếp giáp ranh giới của ba xã Xuân Tầm, Đại Sơn và Phong
Khu vực có các kiểu địa hình chính sau đây [9]:
- Kiểu địa hình n ú i cao (N1): Được hình thành trên đá biến chất, có độ
cao từ 1200m đến 1783m Kiểu này phân bố ở trung tâm và ranh giới phía Nam của khu bảo tồn Mức độ chia cắt mạnh, các sườn núi rất dốc, độ dốc trung bình
Trang 32phổ biến từ 30 - 350 Tỷ lệ diện tích chiếm khoảng 15% tổng diện tích tự nhiên khu bảo tồn.
- Kiểu địa hình N ú i trung bình (N2): Được hình thành trên đá biến chất,
có độ cao từ 900m đến 1200m Kiểu này phân bố ở ranh giới giữa các xã của khu bảo tồn Mức độ chia cắt mạnh, các sườn núi rất dốc, độ dốc trung bình từ 25 -
300 Kiểu địa hình này chiếm khoảng 20% tổng diện tích tự nhiên khu bảo tồn
- Kiểu địa hình N ú i thấp (N3): Thuộc kiểu địa hình này là các núi có độ
cao từ 500m đến 900m phân bố chủ yếu ở các khu vực phía Đông Bắc và phía Tây của khu bảo tồn Được hình thành trên các đá trầm tích lục nguyên uốn nếp, tác dụng xâm thực bóc mòn, có hình dạng tương đối mềm mại, đỉnh tròn, sườn thoải, độ dốc trung bình từ 20 - 250, chiếm khoảng 25% tổng diện tích tự nhiên khu bảo tồn
- Kiểu địa hình Đồi (Đ): Thuộc kiểu địa hình này là vùng đồi có độ cao từ
300 đến 500m, phân bố chủ yếu ở các khu vực phía Đông (xã Mỏ Vàng), phía Tây (xã Phong Dụ Thượng), phía Đông Bắc (xã Đại Sơn) và vùng trung tâm xã
Nà Hẩu của khu bảo tồn Được hình thành trên các đá trầm tích và biến chất có kết cấu hạt mịn, hiện nay đang được trồng cây quế, cây lâu hoặc canh tác nương rẫy Độ dốc không cao, trung bình khảng 200
- Kiểu địa hình thung lũng (T): Đây là những vùng trũng được kiến tạo
bởi giữa các dãy đồi núi, các thung lũng suối mở rộng, có địa hình tương đối bằng phẳng, thuận lợi cho canh tác nông nghiệp Trong phạm vi ranh giới được xác định thành Khu bảo tồn, kiểu địa hình này phân bố tập trung ở trung tâm xã
Nà Hẩu (khoảng 350ha) và khu vực làng Bang của xã Đại Sơn (khoảng 70ha)
1.4.1.3 Địa chất, thổ nhưỡng
Theo tài liệu địa chất miền Bắc Việt Nam năm 1984 cho biết: Khu vực KBT có quá trình hình thành và phát triển địa chất rất phức tạp Toàn vùng có cấu trúc dạng nếp lồi Nham thạch gồm nhiều loại và có tuổi khác nhau nằm xen kẽ
Trang 33Được hình thành trong điều kiện địa chất phức tạp vời nhiều kiểu dạng địa
hình và đá mẹ khác nhau, nên có nhiều loại đất được hình thành trong khu vực
Chủ yếu gồm các loại đất Feralit với tầng đất được phong hoá từ đá trầm tích, đámác ma và đá vôi Do khí hậu nóng ẩm tạo nên tầng đất dày với các khoáng vật
khó phong hoá như Thạch anh và Silíc Thành phần cơ giới chủ yếu từ trung bình
đến nặng
Những nhóm loại đất chính có trong khu vực gồm:
Đất alít có mùn trên núi cao, được hình thành trong điều kiện mát ẩm, độ
dốc lớn, không đọng nước, tầng mùn nhiều, phân bố trên các đỉnh núi cao trên
1400m, chủ yếu tập trung ở phía Nam của khu bảo tồn
Đất feralit có mùn trên núi cao và núi trung bình, được hình thành trong
điều kiện ẩm mát, không có kết von và nhiều mùn Nhóm loại đất này phân bố
tập trung ở các đai độ cao từ 700m đến 1400m
Đất feralit đỏ vàng phát triển trên vùng đồi và núi thấp, được hình thành với
quá trình feralitic rất mạnh và điển hình, màu sắc phụ thuộc vào đá mẹ và độ ẩm
Nhóm loại đất này phân bố chủ yếu ở độ cao dưới 700m Thành phần cơ giới từ thịt
trung bình đến thịt nặng, tầng đất dầy, ít đá lẫn, đất đai khá màu mỡ, thích hợp cho
nhiều loại cây trồng
Đất dốc tụ chân đồi và ven suối, là loại đất tốt, thích hợp với việc canh tác
nông nghiệp, phân bố chủ yếu ở vùng thấp dưới 400m hoặc vùng thung lũng và
bồn địa Đất có tầng dày, màu mỡ
Đất biến đổi do trồng lúa, là loại đất bị biến đổi do canh tác lúa nước, đất
chua, quá trình glây hoá mạnh
1.4.1.4 K hí hậu thủy văn
a) K hí hậu
Khí hậu khu vực Nà Hẩu mang đặc trưng của khí hậu nhiệt đới núi cao
Hàng năm có hai mùa rõ rệt Mùa mưa từ tháng tư đến tháng 10, thời tiết nóng và
ẩm Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau, thời tiết lạnh và khô Sau đây là
Trang 34số liệu các chỉ tiêu khí hậu cơ bản tại hai trạm quan trắc gần nhất là trạm khí tượng Văn Chấn và Lục Yên.
* Chế độ nhiệt:
Nhiệt độ trung bình năm biến động từ 220C đến 230C Tổng bức xạ 147 Kcl/cm2 (nằm trong vành đai nhiệt đới) Mùa lạnh chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông - Bắc, nhiệt độ trung bình các tháng này thường dưới 200C, nhiệt độ thường thấp nhất vào thàng 1 hàng năm với trung bình là 15,10C Mùa nóng chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Nam, thời tiết luôn nóng ẩm, mưa nhiều Nhiệt độ trung bình thường trên 250C, nhiệt độ cao nhất vào tháng 7, với nhiệt độ trung bình tháng bảy từ 27,6 đến 280C
* Chế độ mưa ẩm:
Lượng mưa trung bình năm từ 1547mm ở Văn Chấn đến 2126mm ở Lục Yên, tập trung gần 90% lượng mưa vào mùa mưa, hai thàng có lương mưa cao nhất là tháng 7 và tháng 8 hàng năm Mùa khô lượng mưa chỉ chiếm hơn 10% tổng lượng mưa cả năm Hạn hán ít khi sảy ra Độ ẩm không khí bình quân năm khoảng 84 - 86%
b) Thuỷ văn
Với lượng mưa tương đối cao và số ngày sương mù trong năm khoảng 40 ngày cho nên nguồn nước trong khu vực tương đối dồi dào Các con suối chính thường có nước quanh năm Lượng nước đảm bảo cho sinh hoạt cũng như sản xuất nông nghiệp ở các xã Tuy nhiên, vùng thượng nguồn các con ngòi, suối thường dốc nên vào mùa mưa có thể xảy ra lũ quét
1.4.1.5 Hiện trạng rừng và sử dụng đất
Khu BTTN Nà Hẩu được thành lập theo Quyết định số 512/QĐ-UB ngày 09/10/2006 của UBND tỉnh Yên Bái với diện tích 16950 ha nằm trên địa vàn các
xã Nà Hẩu, Đại Sơn, Phong Dụ Thượng, Mỏ Vàng
Hiện trạng sử dụng đất các xã trong vùng được thống kê ở bảng 1.1 sau:
Trang 35B ảng 1.1: Hiện trạng sử dụng đất đai các x ã trong khu bảo tồn
Đvt: ha
XãCác loại đ ấ t đ a i ^ ^ ^ ^
Nà
H ẩu
ĐạiSơn
MỏVàng
(Nguồn: Chi cục Kiểm lâm Yên Bái, 2013) [9]
Qua kết quả bảng 1.1 cho thấy:
Trang 36Bốn xã khu vực nghiên cứu có tổng diện tích 43.310ha, chiếm 31,6% tổng diện tích của toàn huyện (27xã) Diện tích đất Lâm nghiệp và đất đồi núi chưa sử dụng là 41.500ha, chiếm 95,8% Đất nông nghiệp chủ yếu được sử dụng làm nương rẫy, trồng lúa, màu và cây lâu năm với tổng số 1.464,9ha, chiếm 3,3% Các loại đất khác chiếm 0,9% Độ che phủ của rừng trên toàn khu vực là 62,2%.
Trong diện tích được xác định là khu bảo tồn, với tổng diện tích tự nhiên 16.950ha, có 470,04 ha đất nông nghiệp (chiếm 2,9%) Đất Lâm nghiệp, đất đồi núi chưa sử dụng và núi đá là 1.6452,64ha (chiếm 97,1%) Đất ở nông thôn 27,32ha, chiếm 0,2% Trong diện tích dự kiến làm phân khu bảo vệ nghiêm ngặt không có đất nông nghiệp và đất ở
Nhiều nơi trong KBT còn giữ đặc tính nguyên sinh và là noi cư trú chính của các loài động, thực vật hoang dã nguy cấp quý hiếm, đáp ứng được yêu cầu bảo vệ môi trường sinh thái, bảo tồn nguồn gen
Sau rà soát, quy hoạch lại 3 loại rừng tỉnh Yên Bái, Theo Quyết định số 325/2007/QĐ-UBND, ngày15/3/2007 của UBND tỉnh Yên Bái, diện tích vùng lõi Khu bảo tồn là 16.950ha và vùng đệm có diện tích là 26.754ha
1.4.1.6 Tài nguyên nước
- Rừng của khu bảo tồn thiên nhiên là nguồn cung cấp nước chủ yếu cho các con suối chính của khu vực ngòi Thia và ngòi Hút đổ ra sông Hồng hướng chảy từ Tây sang Đông của khu vực, hệ thống suối này có vai trò rất quan trọng trong việc cung cấp nước để phát triển sản xuất và sinh hoạt của nhân dân Khu rừng còn có vai trò lớn trong hệ thống cảnh quan, điều tiết các yếu tố sinh thái môi trường, hạn chế lũ lụt và hạn hán cho vùng hạ lưu ven sông Hồng Trong KBT còn có hồ tích nước của các thủy điện Ngòi Hút 1 và Ngòi Hút 2
Tại các xã, phần lớn các thôn bản được sự hỗ trợ của các chương trình đầu
tư đã xây dựng hệ thống kênh mương, nước sạch đảm bảo tưới tiêu và sinh hoạt
Trang 371.41.7 Tài nguyên nhân văn
Trong vùng, người dân có lễ hội hát Then, lễ hội Lồng Tồng, nghề dệt thổ
cẩm tuy nhiên hiện nay đã mai một Ngoài ra còn có lễ hội cúng rừng khá đặc biệt
ở khu vực, vào những ngày này thì người dân không được có bất kỳ tác động nào
tới rừng được tổ chức tại xã Nà Hẩu Để phát triển du lịch, cần có kế hoạch đầu tư,
khôi phục
1.4.2 Đặc điểm kinh tế - x ã hội khu vực nghiên cứu
1.4.2.1 Dân tộc, dân số, lao động và phân bố dân cư
- Dân số: Năm 2010 dân số Khu BTTN Nà Hẩu có 13,988 người Mật độ
dân số trung bình 33 người/km2, trong đó: Mỏ Vàng có mật độ cao nhất 39người/km2; thấp nhất là Phong Dụ Thượng là 27 người/km2
- Lao động: Toàn khu bảo tồn có 7693 lao động, chiếm 55 % dân số Lao
động trong khu vực N hà nước là 559 người, chiếm 4 % tổng số lao động
- Dân tộc: Cộng đồng dân cư trong khu bảo tồn gồm 5 dân tộc sinh sống,
gồm Kinh, Dao, Tày, H ’M ông trong đó có 2 dân tộc chính đó là dân tộc Dao và
H ’Mông
Dân tộc Dao: Người Dao là một trong những dân tộc có số dân đông và
phân bố rộng trong khu bảo tồn Người Dao sống phân bố ở các làng, bản thuộc
các xã Phong Dụ Thượng, Đại Sơn, Mỏ Vàng Người Dao còn giữ được nhiều
thuần phong, mỹ tục và truyền thống đặc trưng của họ Phụ nữ người Dao hàng
ngày vẫn mặc áo váy truyền thống do họ tự làm ra, đàn ông người Dao trưởng
thành thực thụ phải trải qua lễ Lập tỉnh, trong ngày lễ này điệu múa truyền thống
là múa xoè Trong sản xuất và sinh hoạt người Dao mang tính cộng đồng rõ nét,
tại Văn Yên nói chung và các xã Khu bảo tồn nói riêng người Dao giầu có nhờ
thu nhập từ các sản phẩm cây quế đem lại
Dân tộc H M ông: Người H ’Mông là dân tộc phân bố chủ yếu trong khu
vực vùng lõi khu bảo tồn Cũng như các dân tộc khác, người H ’Mông cũng có
những đặc trưng văn hoá và tuyền thống đẹp Tại Nà Hẩu người H ’Mông tuy
chuyển dân định cư, canh tác lúa nước, nhưng vẫn giữ được đặc trưng bản sắc
Trang 38của dân tộc mình Trong cuộc sống sinh hoạt, cũng như trong sản xuất, người
H ’Mông có tính cộng đồng rất cao, có tinh thần tự lực tự cường, hàng ngày, phụ nữ
H ’Mông vẫn mặc áo váy truyền thống từ những sản phẩm vải do chính họ làm ra
1.4.2.2 Tập quán sinh hoạt, sản xuất
Sản xuất Nông nghiệp trong khu vực chiếm tỷ trọng cao, trong khi diện
tích đất nông nghiệp thì quá nhỏ, tỷ trọng sản xuất Lâm nghiệp đang phát triển
mạnh nhờ trồng quế, dịch vụ chậm phát triển Nhìn chung trong khu vực nền
kinh tế bước đầu đã có sự chuyển dịch từ tự cung tự cấp sang sản xuất hàng hóa,
nhưng cần có sự chuyển đổi cơ cấu nhanh mới có thể tiến kịp và hòa nhập với xu
thế chung của các vùng trong tỉnh
Sản xuất Lâm nghiệp: Trong khu vực đã có một số dự án: 135, 661, giảm
nghèo của WB, vay vốn 167, định canh, định cư, nhưng với vốn đầu tư thấp,
không thường xuyên Ngoài ra người dân còn tham gia nhận khoán bảo vệ rừng
trên diện tích 9,863 ha, mức khoán 100,000đ/ha/năm, góp phần cải thiện thu
nhập của người dân
1.4.2.3 Sản xuất nông nghiệp
Trồng trọt: Diện tích đất nông nghiệp có tỷ lệ quá nhỏ so với tổng diệntích Trong đó đất trồng lúa, màu ít, bình quân 285m2/khẩu sản phẩm trồng trọt
chủ yếu là lúa nước, ngô, lúa nương, sắn Ruộng nước được phân bố nơi thấp,
gần nới dân cư, ven suối và ruộng bậc thang Năng suất lúa thấp do kỹ thuật canh
tác chưa cao, phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên
- Các loại hoa màu thường có Ngô, s ắ n được trồng trên nơi đất cao, bằng
phẳng nhưng không có điều kiện khai hoang ruộng nước Do diện tích ruộng
nước không đầy 1sào/người, chủ yếu là 1 vụ, người dân phải làm nương rẫy để
bổ sung nguồn lương thực
- Chăn nuôi: Chăn nuôi trong khu vực chưa phát triển, chưa được trú trọng
đầu tư Thành phần đàn gia súc tương đối đơn giản, chủ yếu là trâu, bò, ngựa,
lơn, gà Công tác thú y chưa phát triển, các thôn bản chưa có cán bộ thú y hoặc
cán bộ chưa qua trường lớp chính quy
Trang 391.4.2.4 Lâm nghiệp
Trước đây lâm sản chính do người dân khai thác từ rừng chủ yếu là gỗ, các
loài động vật phục vụ làm nhà và nguồn thực phẩm, đôi khi trở thành hàng hoá
Từ khi thực hiện đóng cửa rừng tự nhiên, giao đất giao rừng, lực lượng kiểm lâm
đã cắm bản cùng người dân tham gia bảo vệ rừng thì hiện tượng khai thác gỗ và
săn bắn thú rừng bừa bãi không còn xảy ra thường xuyên, công khai Một nguồn
lợi từ rừng đem lại sự giàu có của nhiều hộ trong khu vực nhất là ở Phong Dụ
Thượng, Mỏ Vàng, Đại Sơn là trồng và khai thác rừng quế, có thể xem cây quế ở
đây là cây xoá đói giảm nghèo, là cây đem lại thu nhập chính của người dân
trong khu bảo tồn
1.4.2.5 Đời sống sinh hoạt
Số liệu thống kê năm 2010 của huyện Văn Yên cho thấy, tại xã Nà Hẩu có
233 hộ nghèo chiếm 70,1 %, hộ cận ngèo là 71 hộ chiếm 21,3 %, đời sống sinh
hoạt rất đơn sơ và gặp rất nhiều khó khăn, số hộ được xem ti vi rất ít
1.4.2.6 Thực trạng cơ sở hạ tầng
- Giao thông: Xã Nà Hẩu hiện nay đã có đường giao thông đổ bê tông và
cấp phối đến trung tâm xã tuy nhiên do độ dốc cao, nền địa chất kém bền vững nên
hiện tượng sạt lở thường xuyên xảy ra, gây tắc đường không có khả năng khắc
phục ngay, việc giao lưu văn hoá, hàng hoá gặp nhiều khó khăn Trong vùng các
xã đã chú trọng xây dựng đường liên thôn, xã, nhưng đường hẹp, dốc, lầy lội vào
mùa mưa
- Thuỷ lợi: Trong vùng canh tác nông nghiệp, điều kiện nguồn nước không
khó khăn do được đầu tư nên hệ thống thuỷ lợi tương đối phát triển Cần đầu tư
cho thủy lợi để tăng năng suất cây trồng, tăng vụ trên diện tích đã có, đảm bảo an
ninh lương thực, góp phần cho người dân tham gia vào công cuộc bảo tồn trong
Trang 40- Giáo dục: Các xã đều có trường học cấp tiểu học cơ sở và trung học cơ sở,
nhưng điều kiện cơ sở vật chất và giáo viên thiếu, chưa đáp ứng được nhu cầu học
tập của con em nhân dân.Hầu hết trẻ em đến độ tuổi đi học đều được đến trường
- Đời sống văn hóa x ã hội: Trong khu bảo tồn hầu hết các cộng đồng dân
cư là dân tộc H M ông và Dao, Cộng đồng dân cư các dân tộc thiểu số ở đây vẫn
giữ gìn tốt bản sắc văn hoá của dân tộc mình, thể hiện trong trang phục, lối sống,
các hoạt động sản xuất, dệt vải, thêu thùa và làm đồ thủ công mỹ nghệ Đây là tiềm
năng lớn trong du lịch sinh thái, nhân văn Những đóng góp của khu rừng đặc
dụng vào việc phòng hộ, duy trì cảnh quan thiên nhiên, cân bằng sinh thái và giữ
gìn bản sắc văn hoá, nhân văn là rất to lớn trong công cuộc phát triển kinh tế xã hội
của khu vực
Do điều kiện là vùng sâu, vựng xa của cả nước, điều kiện phát triển kinh
tế xã hội ở khu bảo tồn còn gặp nhiều khó khăn, tỷ lệ đói nghèo cao, đời sống vật
chất và tinh thần còn nhiều thiếu thốn, lạc hậu, trình độ nhận thức còn nhiều hạn
chế Việc đầu tư xây dựng khu bảo tồn sẽ là cơ hội góp phần thúc đẩy mạnh mẽ
sự phát triển kinh tế xã hội một cách bền vững
1.4.3 N hận xét, đánh giá thuận lợi, khó khăn của điều kiện tự nhiên kinh tế -
x ã hội tới bảo tồn loài Chò Chỉ
* Thuận lợi
- Khu bảo tồn thiên nhiên Nà Hẩu là nơi phân bố tự nhiên của loài Chò
Chỉ với đặc điểm về đất đai, khí hậu phù hợp cho sự phát triển của loài cây này
- Chò Chỉ tại Khu bảo tồn thiên nhiên Nà Hẩu, là một trong những loàicây quý hiếm, mặt khác tài nguyên rừng của Khu bảo tồn thiên nhiên Nà Hẩu
phong phú, đa dạng, nhiều loài động thực vật quý hiếm có giá trị bảo tồn cao nên
thu hút được sự quan tâm của các cấp các ngành, chính quyền địa phương cũng
như các nhà khoa học
- Lực lượng lao động dồi dào, có kinh nghiệm trong sản xuất lâm nghiệp
Rừng là nguồn sống chủ yếu của cộng đồng nên việc bảo tồn và phát triển rừng
là nhiệm vụ chung của cộng đồng