Trong chăn nuôi lợn nái sinh sản, ngoài bệnh của lợn nái thì hội chứng tiêu chảy ở lợn con cũng rất đáng lo ngại, làm ảnh hưởng đáng kể tới tỷ lệ nuôi sống và sức sinh trưởng của lợn con
Trang 1“KHẢO SÁT TÌNH HÌNH MẮC HỘI CHỨNG TIÊU CHẢY Ở LỢN
CON THEO MẸ TẠI TRẠI CHĂN NUÔI HÀ DUY VĂN – LƯƠNG CHÂU -TX SÔNG CÔNG - THÁI NGUYÊN
VÀ ĐIỀU TRỊ BỆNH”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : SPKT
Khoá học : 2011 - 2015
Thái Nguyên, 2015
Trang 2KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Sư phạm kỹ thuật nông nghiệp
Khoá học : 2011 - 2015
Giảng viên hướng dẫn: TS HÀ VĂN DOANH
Khoa Chăn nuôi Thú y - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
Thái Nguyên, 2015
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình thực tập và thực hiện đề tài, ngoài sự nỗ lực của bản thân, tôi còn nhận được rất nhiều sự quan tâm giúp đỡ của tập thể, cá nhân trong và ngoài trường
Tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, thầy cô giáo và bạn bè đã giúp đỡ tôi trong những năm học vừa qua và trong suốt quá trình thực tập Đặc biệt, tôi xin chân thành cảm ơn TS Hà Văn Doanh - Bộ môn Cơ sở - Khoa Chăn Nuôi Thú Y - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã giúp đỡ chỉ bảo tận tình để tôi hoàn thành báo cáo tốt nghiệp
Tôi xin chân thành cảm ơn cán bộ trạm thú ý và chủ trại lợn Hà Duy Văn thị xã Sông Công - Thái Nguyên đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực tập tốt nghiệp
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, tháng 5 năm 2015
Sinh viên
Hà Văn Thuận
Trang 4Bảng 4.5 Ảnh hưởng của số lứa đẻ của lợn mẹ đến tình hình mắc hội chứng tiêu chảy ở
lợn con 38
Trang 6MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
DANH MỤC CÁC BẢNG ii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT iii
MỤC LỤC iv
Phần 1: Mở Đầu 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục đích nghiên cứu đề tài. 2
1.3 Mục tiêu nghiên cứu đề tài. 2
1.4 Ý nghĩa của đề tài. 2
Phần 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 Cơ sở khoa học 3
2.1.1 Đặc điểm sinh lí của lợn con 3
2.1.2 Hiểu biết về hội chứng tiêu chảy 22
2.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 23
2.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 23
2.2.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước 24
Phần 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26
3.1 Đối tượng nghiên cứu 26
3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 26
3.3 Nội dung nghiên cứu 26
3.4 Phương pháp nghiên cứu 26
3.4.1 Phương pháp đánh giá tỉ lệ mắc HCTC 26
3.4.2 Phương pháp đánh giá kết quả điều trị 27
3.4.3 Công thức tính 28
Trang 7Phần 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 29
4.1 Công tác phục vụ sản xuất 29
4.1.1 Nội dung phục vụ sản xuất. 29
4.1.2 Phương pháp tiến hành 29
4.1.3 Kết quả phục vụ sản xuất 30
4.2 Kết quả nghiên cứu 33
4.3 Kết quả điều tra tình hình lợn con mắc Hội chứng tiêu chảy theo lứa tuổi 35
4.4 Kết quả theo dõi tỷ lệ lợn con mắc HCTC theo tính biệt 37
4.5 Kết quả điều tra tình hình lợn con mắc Hội chứng tiêu chảy theo lứa đẻ của lợn mẹ. 38 4.6 Đánh giá kết quả điều trị 39
Phần 5: KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ ĐỀ NGHỊ 42
5.1 Kết luận 42
5.2 Tồn tại 43
5.3 Đề nghị 43
TÀI LIỆU THAM KHẢO
I Tài liệu tiếng Việt
II Tài liệu dịch từ tiếng Anh
III Tài liệu tiếng Anh
Trang 8
Phần 1
MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề
Chăn nuôi ngày càng có vị trí hết sức quan trọng trong cơ cấu của ngành nông nghiệp Sản phẩm của ngành chăn nuôi là nguồn thực phẩm không thể thiếu được đối với nhu cầu đời sống con người Chủ trương hiện nay của Nhà nước là phát triển ngành chăn nuôi thành ngành sản xuất hàng hóa thực sự nhằm tạo ra sản phẩm chăn nuôi có chất lượng cao phục vụ cho nhu cầu tiêu thụ trong nước và một phần cho xuất khẩu
Nói đến ngành chăn nuôi phải kể đến chăn nuôi lợn bởi tầm quan trọng
và ý nghĩa thiết thực của nó đối với đời sống kinh tế xã hội của nhân dân Chăn nuôi lợn đã góp phần giải quyết công ăn việc làm, xóa đói giảm nghèo, tăng thu nhập và là cơ hội làm giàu cho nông dân
Theo thống kê của tổ chức lương thực thế giới (FAO), Việt Nam là nước nuôi nhiều lợn, đứng hàng thứ 7 thế giới, hàng thứ 2 châu Á và ở vị trí hàng đầu khu vực Đông Nam Á Hiện nay nước ta đang có gần 23 triệu đầu lợn, bình quân tốc độ tăng trưởng hàng năm là 3,9%, đảm bảo cung cấp 80% sản phẩm thịt cho thị trường nội địa và một phần cho xuất khẩu Kế hoạch đến năm 2010, Việt Nam sẽ có 25 triệu đầu lợn và sẽ đạt sản lượng 2 triệu tấn thịt, chiếm tỷ trọng trên 30% tổng thu nhập của ngành nông nghiệp
Tuy nhiên, để chăn nuôi lợn có hiệu quả, vấn đề vệ sinh phòng bệnh cần được đặc biệt quan tâm Bởi dịch bệnh xảy ra là nguyên nhân chủ yếu làm ảnh hưởng đến chi phí chăn nuôi và giá thành sản phẩm Trong chăn nuôi lợn nái sinh sản, ngoài bệnh của lợn nái thì hội chứng tiêu chảy ở lợn con cũng rất đáng lo ngại, làm ảnh hưởng đáng kể tới tỷ lệ nuôi sống và sức sinh trưởng của lợn con Trong đó hội chứng tiêu chảy ở lợn con là một bệnh thường xuyên xảy ra trong nhiều trại lợn giống và các hộ gia đình nuôi lợn nái ở nước ta
Trang 9Đã có nhiều công trình nghiên cứu phòng trị bệnh nhưng vì tính chất phức tạp của nguyên nhân gây bệnh Đã có nhiều loại kháng sinh và hóa dược được sử dụng để phòng và trị bệnh nhưng các kết quả thu được lại không như mong muốn, lợn khỏi bệnh thường còi cọc chậm lớn Xuất phát từ yêu cầu
của thực tiễn sản xuất, tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Khảo sát tình hình mắc hội chứng tiêu chảy ở lợn con theo mẹ tại trại chăn nuôi Hà Duy Văn
- Lương Châu - TX Sông Công - Thái Nguyên và điều trị bệnh”
1.2 Mục đích nghiên cứu đề tài
- Điều tra tình hình chăn nuôi tại trại chăn nuôi Hà Duy Văn, Lương Châu, Sông Công, Thái Nguyên
- Điều tra tình hình mắc hội chứng tiêu chảy trên đàn lợn con theo mẹ tại trại
1.3 Mục tiêu nghiên cứu đề tài
- So sánh , đánh giá hiệu quả của một số phác đồ điều trị hội chứng tiêu chảy trên đàn lợn con theo mẹ tại trại
1.4 Ý nghĩa của đề tài
+ Làm quen với phương pháp nghiên cứu khoa học
+ Nâng cao kiến thức thực tiễn, tăng khả năng tiếp xúc với thực tế chăn nuôi, điều trị bệnh cho lợn, từ đó củng cố và nâng cao kiến thức của bản than
Trang 10Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Cơ sở khoa học
2.1.1 Đặc điểm sinh lí của lợn con
Khi mới sinh ra, cơ thể lợn con phát triển để dần hoàn chỉnh về cấu tạo, chức năng hệ tiêu hóa và miễn dịch Lợn con trước một tháng tuổi không có HCL tự do trong dịch vị vì lúc này lượng acid tiết ra và nhanh chóng liên kết với dịch nhầy Đây là điều kiện để vi sinh vật phát triển gây bệnh dạ dày - ruột ở lợn con Hơn nữa vì thiếu acid HCl nên pepsinogen tiết ra không trở thành pepsin hoạt động được gây rối loạn tiêu hóa sữa, sữa bị kết tủa dưới dạng casein gây rối loạn tiêu hóa, tiêu chảy màu phân trắng (màu của casein chưa được tiêu hóa)
Mặt khác khi mới sinh vỏ não và các trung tâm điều tiết thân nhiệt chưa hoàn chỉnh Hơn nữa lượng mỡ dưới da của lợn con mới sinh chỉ có khoảng 1% Lúc khí hậu thay đổi lợn con mất cân bằng giữa hai quá trình sản nhiệt và thải nhiệt Đặc điểm này đã lý giải tại sao bệnh lại hay xảy ra hàng loạt ồ ạt khi thời tiết thay đổi thất thường
Theo Cù Xuân Dần và Cs (1996) [5], lượng sữa mẹ từ khi đẻ tăng đến ngày thứ 15 là cao nhất, đến ngày thứ 20 là đột ngột giảm thấp trong khi nhu cầu về sữa mẹ của lợn con tăng lên Do đó nếu ở giai đoạn này lợn mẹ mà thiếu chất dinh dưỡng thì lợn con lại càng thiếu sữa, cơ thể lợn con trở nên suy nhược, giảm sức đề kháng, lợn dễ bị stress
Một trong các nguyên nhân quan trọng nhất gây bệnh đường tiêu hóa là
do thiếu sắt Khi còn là bào thai lượng sắt cần thiết được mẹ cung cấp Khi ra ngoài môi trường sống, sữa mẹ chỉ cung cấp được 1/6 lượng sắt mà cơ thể non yêu cầu Trong khi cơ thể sơ sinh cần tới 40 - 50 mg sắt/ngày, nhưng lợn
Trang 11con chỉ nhận được 1mg/ngày thông qua sữa mẹ Vì vậy, cần bổ sung thêm ít nhất là 200 - 250mg/con để lợn tránh thiếu máu Trong sữa mẹ không chỉ thiếu sắt mà còn thiếu cả Coban, vitamin B12 tham gia vào quá trình tạo máu, tổng hợp và hoạt hóa một số enzym Do đó lợn con dễ sinh bần huyết, cơ thể suy yếu, sức đề kháng giảm
Những nguyên nhân gây tiêu chảy
Lợn con theo mẹ có 5 điểm yếu chính khiến chúng thích ứng kém với môi trường: Hệ thống enzym tiêu hoá chưa hoàn chỉnh, điều hoà thân nhiệt kém, dự trữ năng lượng của cơ thể ít, thiếu sắt, đặc biệt là hệ thống miễn dịch
và hormone chưa phát triển
* Hệ thống enzym tiêu hoá chưa hoàn chỉnh
Ở gia súc non sau khi sinh ra , chứ c năng của các cơ quan trong cơ thể nhất là cơ quan tiêu hóa chưa hoàn chỉnh , nồng đô ̣ HCl và các men tiêu hóa chưa đảm nhiê ̣m đầy đủ chức năng tiêu hóa , rất dễ gây rố i loa ̣n trao đổi chất ,
hâ ̣u quả dễ nhâ ̣n biết là rối loa ̣n tiêu hóa , gây tiêu chảy, còi cọc, thiếu máu và châ ̣m lớn Trong di ̣ch vi ̣ của gia súc non chưa có đủ acid HCl tự do nên không hoạt hóa được men pepsin vì vậy không tiêu hó a hết sữa me ̣, trong khi đó sữa
mẹ lại là môi trường phát triển tốt của nhiều loại vi khuẩn
Cù Xuân Dần và Cs (1996) [5], cho rằng trong dịch vị của lợn con dưới
1 tháng tuổi không có HCl tự do, vì lúc này acid tiết ra ít và nhanh chóng liên kết với dịch nhầy Do vậy, vi sinh vật có điều kiện phát triển và gây bệnh viêm dạ dày, viêm ruột ở lợn con
Ở lợn con có giai đoạn không có HCl trong dạ dày, đây được coi là giai đoa ̣n thích ứng cần thiết tự nhiên Chính nhờ sự thích ứng này, cơ thể lợn con mới có khả năng hấp thu được kháng thể miễn di ̣ch qua sữa đầu Trong giai đoa ̣n này thì di ̣ch vi ̣ la ̣i không có hoa ̣t tính phân giải protein mà chỉ có hoa ̣t
Trang 12tính làm vón sữa đầu và sữa nên albumin và globulin được chuyển xuống ruô ̣t
và thẩm thấu vào máu , nhưng khi lợn trên 15 ngày tuổi tình trạng thiếu HCl ở
dạ dày không còn là sự cần thiết sinh lý bình thường nữa Viê ̣c tâ ̣p ăn cho lợn con sớm và cai sữa sớm đã rút ngắ n được giai đoa ̣n thiếu HCl , hoạt hóa hoạt
đô ̣ng tiết di ̣ch, giúp tăng khả năng tạo các đáp ứng miễn dịch của cơ thể
Giai đoa ̣n sau cai sữa sẽ là mô ̣t giai đoa ̣n khó khăn đối với lợn con khi chuyển từ sữa me ̣ sang thức ăn tổng hợp (dạng rắn) Điều đó có thể gây mất cân bằng hê ̣ vi sinh vâ ̣t đường ruô ̣t ta ̣o điều kiê ̣n cho vi khuẩn có ha ̣i phát triển và cũng là nguyên nhân gây ra bê ̣nh , dẫn đến kết quả là lợn con châ ̣m lớn và có thể chết
Ngoài ra , lợn con còn chi ̣u nhiều tác đô ̣ng của lợn me ̣ , sự thay đổi ngoại cảnh cũng góp phần làm tăng stress của lợn con
* Điều hoà thân nhiệt kém
Lúc mới sinh, thân nhiệt của lợn con là 38,5o
C - 39oC, thân nhiệt trung bình là 330C - 35oC Khi ra khỏi cơ thể mẹ, thân nhiệt lợn con tạm thời tụt xuống tuỳ thuộc vào nhiệt độ chuồng nuôi Ở giai đoạn này năng lực điều hoà nhiệt rất kém: Nhiệt độ trực tràng giảm 2oC khi nhiệt độ chuồng nuôi 18o
C, nhưng sẽ giảm 5oC khi nhiệt độ chuồng nuôi là 11o
C (sau 20 phút) Thân nhiệt trở lại bình thường sau 24h Khả năng điều tiết nhiệt của lợn con còn kém do nhiều nguyên nhân:
- Lớp mỡ dưới da còn mỏng, lượng mỡ và glycogen dự trữ trong cơ thể lợn con thấp, trên thân lợn lông còn thưa nên khả năng giữ nhiệt kém làm giảm khả năng chống rét của lợn con
- Diện tích bề mặt của cơ thể lợn con so với khối lượng chênh lệch tương đối nên lợn con mất nhiệt nhiều khi bị lạnh
Nói chung, khả năng điều tiết nhiệt của lợn con dưới 3 tuần tuổi còn kém, nhất trong tuần tuổi đầu mới đẻ ra Mặt khác phản xạ có điều kiện của
Trang 13lợn con chưa ổn định, thích ứng kém với những thay đổi của ngoại cảnh Do vậy lợn con rất dễ bị cảm lạnh dẫn đến tiêu chảy, đặc biệt vào những tháng mưa, lạnh và độ ẩm cao
* Năng lượng dự trữ trong cơ thể ít
Lúc lợn con mới sinh, cơ thể chứa 80% nước và chỉ có 20% lipid (ở 3 tuần có 65% là nước và 12% lipit), ngoài ra còn có glycogen, với tổng năng lượng dự trữ (lipid + glycogen) vào khoảng 1.000 - 1.200 Kcal, lượng này chỉ tương đương với năng lượng của 1 lít sữa và chỉ đủ cho lợn con sống khoảng
2 ngày Do đó đòi hỏi phải đảm bảo cho lợn con được bú sớm và giữ ấm Nhờ quá trình oxy hoá mỡ mà gia súc non điều chỉnh được thân nhiệt, do đó lượng
mỡ tích lũy khác nhau sẽ làm cho khả năng điều hoà thân nhiệt khác nhau (Đào Trọng Đạt, Phan Thanh Phượng, 1986) [9]
là việc cần thiết trong chăn nuôi lợn nhằm tăng trọng nhanh, hạn chế được hội chứng tiêu chảy lợn con
* Hệ thống miễn dịch và hormone chưa hoàn chỉnh
Miễn dịch là khả năng của cơ thể đáp ứng lại các kích thích của mầm
bê ̣nh khi xâm nhâ ̣p vào cơ thể Ở gia súc non , mầm bê ̣nh có nhiều thuâ ̣n lợi
Trang 14khi xâm nhâ ̣p vào cơ thể Trong hê ̣ thống tiêu hóa của lợn con lượng enzym tiêu hóa và lượng HCl tiết ra còn ít nên chưa đủ để đáp ứng cho quá trình tiêu hóa, gây rối loạn trao đổi chất , tiêu hóa kém , hấp thu kém Chính vì vậy , ở
giai đoa ̣n này mầm bê ̣nh như Salmonella, E coli… dễ dàng xâm nhâ ̣p vào cơ
thể qua đường tiêu hóa và gây bê ̣nh cho lợn con
Ngoài ra , ở gia súc non các yếu tố miễ n di ̣ch không đă ̣c hiê ̣u như bổ thể, protein liên kết, lysozym được tổng hợp còn ít, phản ứng của đại thực bào rất yếu , vì thế ở gia súc non không những chưa có kháng thể đặc hiệu mà kháng thể không đặc hiệu cũng rất yếu Chính vì vậy lợn con bú sữa đầu là rất cần thiết để tăng sức bảo vê ̣ cơ thể, chống la ̣i mầm bê ̣nh
Do cấu ta ̣o đă ̣c biê ̣t của gia súc non nên tiêu chảy thường xảy ra ở giai đoa ̣n lợn con tâ ̣p ăn và cai sữa Bên ca ̣nh đó còn mô ̣t yếu tố quan tro ̣ng nữa là sự phát triển của hê ̣ vi sinh vâ ̣t trong đường ruô ̣t của gia súc non , việc cân bằng hê ̣ vi sinh vâ ̣t có lợi trong đường ruô ̣t như thế nào để khắc phu ̣c, hạn chế sự loa ̣n khuẩn trong quá trình phát triể n và trưởng thành của cơ thể gia súc non là rất quan tro ̣ng
Để nuôi dưỡng tốt và ha ̣n chế được hô ̣i chứng tiêu chảy ở lợn con cần tiêm phòng cho lợn me ̣ và ta ̣o cho gia súc non điều kiê ̣n sống tốt , tránh các yếu tố bất lợi tác động vào cơ thể như chế độ ăn uống không hợp lý , khẩu phần thức ăn không đảm bảo dinh dưỡng , ăn không đúng giờ , thời tiết thay đổi đô ̣t ngô ̣t, chế đô ̣ chăm sóc không thích hợp sẽ ta ̣o điều kiê ̣n cho mầm bê ̣nh xâm nhâ ̣p vào cơ thể gây bê ̣nh
Môi trường ngoại cảnh là một trong 3 yếu tố cơ bản gây bệnh dịch, mối quan hệ giữa Cơ thể - Mầm bệnh - Môi trường là nguyên nhân của sự không
ổn định sức khoẻ, đưa đến phát sinh bệnh (Nguyễn Như Thanh, 2001) [31]
Trang 15Môi trường ngoại cảnh bao gồm các yếu tố: nhiệt độ, ẩm độ, các điều kiện về chăm sóc nuôi dưỡng, vệ sinh chuồng trại, sự di chuyển, thức ăn, nước uống…
Khi gia súc bị nhiễm lạnh kéo dài sẽ làm giảm phản ứng miễn dịch, giảm tác dụng thực bào, làm cho gia súc dễ bị nhiễm khuẩn gây bệnh (Hồ Văn Nam và Cs, 1997) [20]
Khẩu phần ăn cho vật nuôi không thích hợp, trạng thái thức ăn không tốt, thức ăn kém chất lượng như mốc, thối và nhiễm các tạp chất, các vi sinh vật có hại dễ dẫn đến rối loạn tiêu hoá kèm theo viêm ruột, ỉa chảy ở gia súc (Trịnh Văn Thịnh, 1985 [34], Hồ Văn Nam và Cs, 1997 [20])
Khi gặp điều kiện ngoại cảnh không thuận lợi, thay đổi đột ngột về thức ăn, vitamin, protein, thời tiết, vận chuyển… làm giảm sức đề kháng của con vật, vi khuẩn thường trực sẽ tăng độ độc và gây bệnh (Bùi Quý Huy, 2003) [13]
Như vậy, nguyên nhân môi trường ngoại cảnh gây bệnh tiêu chảy không mang tính đặc hiệu mà mang tính tổng hợp Lạnh và ẩm gây rối loạn hệ thống điều hoà trao đổi nhiệt của cơ thể lợn, dẫn đến rối loạn quá trình trao đổi chất, làm giảm sức đề kháng của cơ thể, từ đó các mầm bệnh trong đường tiêu hoá có thời cơ tăng cường độc lực và gây bệnh
Vi khuẩn ở ống tiêu hoá cùng với vật chủ hình thành một hệ thống sinh thái mà sự cân bằng là cần thiết cho sức khoẻ vật chủ Vi khuẩn ở ruột có một vai trò sinh lý rất lớn, chúng tham gia vào quá trình tiêu hoá và chuyển hoá tinh bột, chất xơ, góp phần vào chuyển hoá nước, dị hoá protit, làm giảm bilirubin ở ruột và thuỷ phân ure (Nguyễn Tài Lương, 1982) [19]
Trong điều kiện bình thường, giữa hệ vi khuẩn đường ruột và vật chủ ở trạng thái cân bằng, ổn định, cùng tồn tại có lợi cho cơ thể vật chủ Khi có tác nhân bất lợi hoặc từ ngoại cảnh hoặc ngay trong đường tiêu hoá tác động thì
Trang 16sức đề kháng của lợn giảm xuống, trạng thái cân bằng vi sinh vật đường ruột
bị phá vỡ Nhân cơ hội này một số vi khuẩn có hại nhân lên về số lượng, tăng lên về độc lực và gây bệnh (Trương Quang và Cs, 2007) [26]
* Nguyên nhân do E coli
Trong đường tiêu hoá của gia súc có hệ vi khuẩn gọi là hệ vi khuẩn đường ruột, được chia thành 2 loại, trong đó vi khuẩn có lợi lên men phân giải các chất dinh dưỡng, giúp cho quá trình tiêu hoá được thuận lợi và vi khuẩn
có hại, khi có điều kiện thì sẽ phát triển nhanh và gây bệnh cho vật chủ
Theo Lê Văn Tạo (1997) [29], cho biết họ vi khuẩn đường ruột gồm những vi khuẩn cộng sinh thường trực trong đường ruột Những vi khuẩn này, muốn từ vi khuẩn cộng sinh trở thành gây bệnh phải có 3 điều kiện:
- Trên cơ thể vật chủ có cấu trúc giúp cho vi khuẩn thực hiện được chức năng bám dính
- Vi khuẩn phải có khả năng sản sinh các yếu tố gây bệnh, đặc biệt là
sản sinh độc tố, trong đó quan trọng nhất là độc tố đường ruột Enterotoxin
- Có khả năng xâm nhập vào lớp tế bào biểu mô của niêm mạc ruột, từ
đó phát triển nhân lên
Một số vi khuẩn thuộc họ vi khuẩn đường ruột là E coli, Salmonella spp, Shigella, Klebsiella, Cl perfringens… là những vi khuẩn quan trọng gây
ra rối loạn tiêu hoá, viêm ruột tiêu chảy ở người và nhiều loại động vật
Theo Đào Trọng Đạt và cs (1996) [11] cho biết, chiếm tỷ lệ cao nhất
trong số các vi khuẩn đường ruột gây tiêu chảy là E coli (45,6%) Cũng theo tác giả, vi khuẩn yếm khí Cl perfringens gây bệnh khi có điều kiện thuận lợi
và khi nó trở thành vai trò chính
Theo Hồ Văn Nam và cs (1997) [20], Archie H (2000) [2], vi khuẩn đường ruột có vai trò không thể thiếu được trong hội chứng tiêu chảy
Trang 17Theo Nguyễn Như Pho (2003) [24] cho rằng, khả năng gây bệnh của các loại vi khuẩn đối với lứa tuổi lợn khác nhau Đối với lợn sau cai sữa hoặc
giai đoạn đầu nuôi thịt thì tỷ lệ mắc tiêu chảy do Salmonella cao hơn; giai đoạn từ lúc sơ sinh đến sau khi cai sữa thường do E coli; lứa tuổi 6 - 12 tuần thì thường do xoắn khuẩn Treponema hyodysenterriae; còn vi khuẩn yếm khí
Cl perfringens thường gây bệnh nặng cho lợn con theo mẹ trong khoảng 1
tuần tuổi đến cai sữa
Theo Phạm Sỹ Lăng (2009) [18] cho biết, bệnh tiêu chảy ở lợn do vi khuẩn chủ yếu có những bệnh sau:
* Tiêu chảy do virus
Theo Phạm Ngọc Thạch (1996) [32], virus cũng là tác nhân gây bệnh tiêu chảy ở gia súc Sự xuất hiện của virus đã làm tổn thương niêm mạc ruột, làm suy giảm sức đề kháng của cơ thể và thường gây ỉa chảy ở dạng cấp tính với tỷ lệ chết cao
Archie H (2000) [2] cho biết, Rotavirus và Coronavirus là những virus
gây tiêu chảy quan trọng ở gia súc non mới sinh như nghé, dê, cừu con, lợn con, ngựa con và đặc biệt là bê do những virus này có khả năng phá huỷ màng ruột và gây tiêu chảy nặng
Các nghiên cứu trong nước của Lê Minh Chí (1995) [3] và Nguyễn
Như Pho (2003) [24], cũng cho thấy Rotavirus và Coronavirus gây bệnh tiêu
chảy chủ yếu cho lợn con trong giai đoạn theo mẹ, với các triệu chứng tiêu chảy cấp tính, nôn mửa, mất nước với tỷ lệ mắc bệnh và tỷ lệ chết cao
Trang 18Phạm Sỹ Lăng và Cs (2006) [17] cho rằng, bệnh tiêu chảy ở lợn do
Rotavirus thường chỉ xảy ra ở lợn con bú sữa mẹ lứa tuổi 1 - 3 tuần lễ và lợn con sau cai sữa khoảng 6 tuần lễ Bệnh tiêu chảy ở lợn do Rotavirus sẽ trở nên trầm trọng, nếu lợn con bị nhiễm kế phát các chủng E coli có độc lực và các
loài cầu trùng gây bệnh
Nguyên nhân chính làm tăng độ nhiễm E coli ở lợn con:
* Ở giai đoạn sơ sinh:
- Lợn con không được bú nhiều sữa đầu, sữa của lợn mẹ có chất lượng không tốt
- Lợn con bị lạnh: Do không được úm, hoặc bị gió lùa, độ ẩm cao
- Chăm sóc lợn mẹ không tốt, khâu đỡ đẻ không tốt, thức ăn không tốt, hoặc thay đổi thức ăn liên tục dẫn đến lợn mẹ bị viêm vú
- Chuồng nuôi ô nhiễm, áp lực mầm bệnh cao
* Ở giai đoạn tập ăn:
- Chọn thức ăn không phù hợp, thức ăn không đúng chủng loại dẫn tới rối loạn tiêu hoá
- Cho lợn tập ăn không đúng phương pháp: Không bổ sung men sống hỗ trợ, đổ quá nhiều thức ăn, thức ăn lưu quá lâu dẫn đến ôi thiu, nhiễm khuẩn
* Nguyên nhân do Salmonella
Salmonella thuộc họ trực khuẩn đường ruột Enterobacteriaceae, là một
loại vi khuẩn có hình gậy ngắn, hai đầu tròn, không hình thành nha bào, giáp
mô Đa số Salmonella có khả năng di động, bắt màu Gram âm, vừa hiếu khí
vừa kỵ khí bắt buộc
* Yếu tố gây bệnh của Salmonella:
- Yếu tố bám dính: Giúp Salmonella bám dính được trên lớp tế bào bề
mặt niêm mạc ruột của lợn rồi tiết độc tố và gây tiêu chảy
Trang 19- Độc tố đường ruột: Đây là yếu tố quyết định khả năng gây bệnh và mức độ tiêu chảy ở lợn khi bị bệnh
* Nguyên nhân do Clostridium perfringens
Có 3 loại Clostridium perfringens A, B, C là mầm gây bệnh đường ruột
quan trọng đối với lợn
- Clostridium perfringens typ B gây bệnh kiết lị, nhiễm độc ruột ở dê,
cừu, ngựa và cả lợn
- Bệnh viêm ruột hoại tử ở lợn con do Clostridium perfringens typ C có
biểu hiện lâm sàng trầm trọng về tiêu chảy ra máu, lợn con yếu ớt, lười vận động, tỷ lệ tử vong cao (thường biến động từ 5 - 59%, có khi đến 100%)
- Bệnh nhiễm khuẩn Clostridium perfringens typ A thường nổ ra ở lợn
sau khi sinh được vài giờ, vi khuẩn có thể tìm thấy ở ngay phân su Lợn con
bị bệnh ỉa phân nhão như kem bột trong vòng 48h sau khi đẻ, lợn không sốt, bụng chướng hơi Tiêu chảy thường kéo dài 5 ngày, phân lợn có màu mận hồng, lợn bệnh chết ít nhưng sau khi khỏi bệnh lợn thường bị chậm lớn
* Bệnh dịch tả lợn (Pestis suum)
- Bệnh dịch tả do một loại virus thuộc họ Togaviridiae giống Pestisvirus
gây ra Bệnh lây lan với tốc độ nhanh qua tiếp xúc, thức ăn, nước uống, hoặc
có thể qua đường hô hấp và bề mặt da bị tổn thương Bệnh xảy ra quanh năm
và lợn mọi lứa tuổi đều mắc Những triệu chứng chủ yếu của bệnh là:
- Con vật sốt cao, thường 4 - 5 ngày đầu lợn bệnh bị táo bón, lợn bỏ ăn thích nằm chỗ tối, khát nước, chảy nước mắt nước mũi Khi thiệt độ cơ thể giảm con vật ỉa chảy, phân loãng thối khắm đặc trưng, lợn bị viêm niêm mạc mắt mũi Đồng thời trên vùng da mỏng có những điểm lấm tấm xuất huyết như đầu đinh ghim Về sau những điểm này thường tập hợp thành từng đám
Trang 20* Bệnh viêm ruột dạ dày truyền nhiễm (TGE)
- Bệnh TGE của lợn do một loại virus cùng tên thuộc nhóm Coronavirus,
họ Coronaviridiae gây ra Virus xuất hiện năm 1935 tại Mỹ và được mô tả lần
đầu tiên vào năm 1946 Tại Châu á bệnh xuất hiện ở Triều Tiên, 1981; Thái Lan, 1987 (Niconxki, 1986 [38], Đào Trọng Đạt và Cs, 1995 [10])
- Lợn ở mọi lứa tuổi đều nhiễm bệnh, thời gian ủ bệnh là 2 - 3 ngày Mức độ trầm trọng của bệnh khác nhau tuỳ thuộc vào lứa tuổi của lợn Lợn lớn chỉ gây ra tiêu chảy nhẹ, kéo dài trong vài ngày, sau đó tự khỏi Ngược lại
ở lợn con bệnh lại xảy ra trầm trọng Lợn con theo mẹ thường nôn ra sữa chưa tiêu, vón cục lại, phân lỏng gần như nước, mùi thối khắm Tỷ lệ chết có thể lên đến 100%
* Bệnh tiêu chảy truyền nhiễm ở lợn (PED)
- Bệnh PED do một loại Coronavirus có tên CV777 gây ra Bệnh xảy ra
với lợn mọi lứa tuổi Đặc tính kháng nguyên của loại virus này hoàn toàn khác kháng nguyên của virus gây bệnh TGE Thể bệnh PED giống như thể bệnh TGE, nhưng nhẹ hơn vì bệnh PED chỉ gây chết khoảng 60% lợn con dưới 21 ngày tuổi, 15% lợn vỗ béo (Đào Trọng Đạt và cs, 1995) [10]
- Lợn mắc PED thường có triệu chứng nôn mửa, con vật có biểu hiện đau bụng Virus phá huỷ lông nhung của ruột (đặc biệt là không tràng và hồi tràng) Lợn bỏ ăn uống nhiều nước, thích nằm chúi đầu vào nhau
- Mổ khám thấy ruột non mỏng, ruột bị căng phồng chứa nhiều nước màu vàng
* Bệnh do Rotavirus
- Bệnh tiêu chảy do Rotavirus thường xảy ra ở lợn đang bú từ 1 tới 6
tuần tuổi và cao nhất ở lợn khoảng 3 tuần tuổi
- Nguyên nhân có thể do lúc 3 tuần tuổi lượng kháng thể ở sữa mẹ giảm, cùng với lợn vừa tập ăn đã tạo điều kiện cho bệnh xảy ra
Trang 21- Biểu hiện đặc trưng của bệnh là lợn đi ỉa phân màu trắng hoặc vàng, lúc bị bệnh phân lợn lỏng như nước, sau đó vài giờ hoặc 1 ngày phân sẽ đặc hơn và có dạng như kem rồi keo quánh trước khi trở lại bình thường
- Lợn tiêu chảy gầy sút rõ rệt, lông xù Sau khi khỏi bệnh lợn còi cọc, chậm lớn, biếng ăn, còn ở lợn lớn không có biểu hiện lâm sàng (Đào Trọng Đạt và Cs, 1995) [10]
- Bệnh tích: Thành ruột non mỏng, dạ dày chứa cục sữa hơi vàng lổn nhổn, không tiêu mùi chua (Niconxki, 1986) [38]
Các nguyên nhân do ký sinh trùng
Có nhiều loại ký sinh trùng gây bệnh tiêu chảy ở lợn như cầu trùng
(Eimeria), Isospora suis, Crytosporidium hoặc một số loài giun tròn lớp Nematoda (Ascaris suum, Trichuris suis, Strongyloides, Haemonchus…)
Bệnh do Isospora, Crytosporidium thường tập trung vào giai đoạn lợn
con từ 5 đến 25 ngày tuổi, còn ở lợn trên 2 tháng tuổi do cơ thể đã tạo được miễn dịch đối với bệnh cầu trùng, nên lợn chỉ mang mầm bệnh mà ít khi xuất hiện triệu chứng tiêu chảy (Nguyễn Như Pho, 2003) [24]
Cầu trùng, một số loại giun tròn (giun đũa, giun tóc, giun lươn) là một trong những nguyên nhân gây tiêu chảy ở lợn sau cai sữa nuôi trong các hộ gia đình tại Thái Nguyên (Nguyễn Thị Kim Lan và Cs, 2006) [15]
Giun sán ở đường tiêu hóa có vai trò rõ rệt trong hội chứng tiêu chảy ở lợn từ sau cai sữa Ở lợn bình thường và lợn bị tiêu chảy đều nhiễm các loại giun đũa, giun lươn, giun tóc và sán lá ruột, nhưng ở lợn tiêu chảy nhiễm tỷ lệ cao hơn và nặng hơn (Nguyễn Thị Kim Lan và Cs, 2009) [16]
Cầu trùng và một số loại giun tròn là một trong những nguyên nhân gây tiêu chảy ở lợn sau cai sữa nuôi trong các hộ gia đình tại Hà Nội (Thân Thị Đang và Cs, 2010) [7] Qua nghiên cứu tác giả nhận xét lợn nuôi bình thường
Trang 22nhiễm cầu trùng là 35,54%, giun đũa là 31,82%, giun lươn là 41,32%, giun tóc
là 23,14% Lợn chủ yếu nhiễm nhẹ, không có lợn nào nhiễm nặng Trong khi
đó, lợn tiêu chảy nhiễm cầu trùng là 56,93%, giun đũa là 35,77%, giun lươn là 60,58%, giun tóc là 28,47% Tỷ lệ nhiễm nặng biến động từ 7,83 - 13,46%
Đặc điểm chủ yếu của tiêu chảy do ký sinh trùng là con vật mắc bệnh
bị tiêu chảy nhưng không liên tục, có sự xen kẽ giữa tiêu chảy và phân bình thường, cơ thể thiếu máu, da nhợt nhạt, gia súc kém ăn, thể trạng sa sút
Như vậy có thể thấy, có rất nhiều nguyên nhân gây tiêu chảy, nhưng theo một số nhà khoa học nghiên cứu về bệnh tiêu chảy ở lợn như Nguyễn Thị Nội (1985) [22], Lê Văn Tạo (1993) [30], Hồ Văn Nam và Cs (1997) [20], thì dù nguyên nhân nào gây tiêu chảy cho lợn đi nữa, cuối cùng cũng là quá trình nhiễm khuẩn, vi khuẩn kế phát làm viêm ruột, tiêu chảy nặng thêm,
có thể dẫn đến chết hoặc viêm ruột tiêu chảy mãn tính
Cơ chế gây tiêu chảy và bệnh lý lâm sàng
Cơ chế sinh bệnh của hội chứng tiêu chảy là quá trình rối loạn chức phận bộ máy tiêu hoá và nhiễm khuẩn Hai quá trình này có thể diễn ra đồng thời hoặc cũng có thể quá trình này trước, quá trình này sau và ngược lại, song không thể phân biệt được từng quá trình
Trịnh Văn Thịnh (1985) [34] cho rằng, do một tác nhân bất lợi nào đó, trạng thái cân bằng của khu hệ vi khuẩn đường ruột bị phá vỡ, tất cả hoặc chỉ một loài nào đó sinh sản quá nhiều sẽ gây hiện tượng loạn khuẩn, gây ra sự biến động ở nhóm vi khuẩn đường ruột, cũng như ở nhóm vi khuẩn vãng lai, các vi khuẩn gây bệnh có cơ hội tăng mạnh cả về số lượng và độc lực, các vi khuẩn có lợi cho quá trình tiêu hóa do không cạnh tranh nổi nên giảm đi, cuối cùng loạn khuẩn xảy ra, hấp thu bị rối loạn, gây tiêu chảy
Trang 23Theo Phạm Ngọc Thạch (1996) [32], khi thiếu mật thì tới 60% mỡ không tiêu hoá được, gây ra chứng đầy bụng, khó tiêu và tiêu chảy hoặc việc giảm hấp thu cũng dẫn đến tiêu chảy
Hậu quả của hội chứng tiêu chảy
Khi tác động vào cơ thể tùy từng nguyên nhân gây bệnh có quá trình bệnh
lý sinh bệnh và gây hậu quả cụ thể Tuy nhiên, khi hiện tượng tiêu chảy xảy
ra, cơ thể chịu một quá trình sinh bệnh và hậu quả có những nét đặc trưng chung đó là sự mất nước, rối loạn cân bằng acid - bazơ (Lê Minh Chí, 1995) [3]
Theo Vũ Triệu An (1978) [1], tùy theo viêm ruột cấp hay mãn tính mà hậu quả có khác nhau
- Trong cơ thể nước chiếm khoảng 50% - 70% trọng lượng cơ thể, được phân bố ở hai khu vực chính là trong tế bào và ngoại tế bào
- Nhu cầu nước của cơ thể rất lớn, nếu cơ thể hết mỡ, đường và một nửa protit trong mô bào, thể trọng giảm 40% thì con vật vẫn còn sống, nhưng nếu con vật mất 10% nước trong cơ thể thì con vật sẽ chết (Trần Cừ,1975) [3] Nước cung cấp cho cơ thể qua thức ăn nước uống và được thải ra ngoài theo nước tiểu, theo phân, mồ hôi, hơi thở Quá trình hấp thu và cân bằng nước trong cơ thể khỏe mạnh thường ổn định (Phạm Ngọc Thạch, 1996) [32]
- Khi bị viêm ruột cơ thể không những không hấp thu được nước do thức ăn nước uống đưa vào mà còn mất nước do tiết dịch Mặt khác khi bị viêm, tính mẫn cảm tăng, nhu động ruột tăng lên nhiều lần Hơn nữa do tổ chức ruột bị tổn thương, niêm mạc ruột tăng tiết và kéo theo một lượng chất điện giải với hàng loạt các biến đổi bệnh lý khác (Vũ Triệu An, 1978) [1]
- Chính vì vậy trong điều trị bệnh viêm ruột, ỉa chảy việc xác định mức
độ mất nước và các biện pháp phòng chống mất nước luôn được chú ý hàng đầu
Trang 24 Tình trạng mất nước và chất điện giải
Theo Phạm Ngọc Thạch (1996) [32], tùy theo trường hợp ỉa chảy gây nên những thể mất nước khác nhau
* Có thể phân loại mất nước thành 3 thể sau:
Mất nước nhược trương
Mất dịch và Natri nặng
Mất nước nặng và giảm Natri trong máu
- Mất nước đẳng trương: Nước và chất điện giải mất một lượng tương đương Trong trường hợp này, thể tích nước ở khu ngoại bào bị giảm nhưng đậm độ điện giải không thay đổi Khu vực nội bào và thăng bằng điện giải về
H+ không bị ảnh hưởng
- Mất nước ưu trương: Nước mất nhiều hơn chất điện giải, ở khu vực ngoại bào thể tích nước bị giảm, đậm độ muối tăng (tức hằng số điện giải tăng) nên áp lực thẩm thấu tăng Để lập lại thế thăng bằng áp lực thẩm thấu giữa hai khu vực thì nước từ nội bào ra ngoại bào, kết quả cả hai khu vực nội bào và ngoại bào đều mất nước, đó là mất nước toàn bộ Đi theo với nước người ta còn thấy sự di chuyển của các chất điện giải như:
+ K+ từ khu vực nội bào ra khu vực ngoại bào
+ Na+ và H+ từ khu vực ngoại bào vào trong khu vực nội bào
- Mất nước nhược trương: Nước mất ít hơn muối Trong trường hợp này thể tích khu vực ngoại bào bị, nhưng vì mất nhiều muối nên đậm độ cũng giảm, nước đi từ khu vực ngoại bào (chỗ mà áp lực thẩm thấu hạ) vào khu
vực nội bào Cả 3 loại mất nước này đều gây nên những hậu quả bệnh lý
Các phản ứng sinh hóa trong cơ thể đòi hỏi pH hằng định của môi trường, trong khi đó quá trình chuyển hóa luôn luôn sản xuất ra các acid Để duy trì pH trong phạm vi 7,35 - 7,85 một quá trình kiềm hóa nhằm trung hòa
Trang 25độ acid được tiến hành, pH máu thay đổi rất ít (trong khoảng 0,1 - 0,2), nếu vượt quá 0,3 trong thời gian dài cơ thể bị trúng độc toan hoặc kiềm (Vũ Triệu
để biểu thị lượng kiềm dự trữ
Trong thực tế, việc đánh giá các rối loạn toan - kiềm dựa vào đánh giá
sự thay đổi trong hệ thống bicacbonat - acid cacbonic là hệ đệm chủ yếu của dịch ngoại bào Vì các hệ đệm nội bào và ngoại bào có liên quan đến nhau về chức năng nên việc đo hệ bicacbonat huyết tương sẽ cung cấp thông tin hữu ích về các hệ đệm cacbonat thường được mô tả dưới dạng phương trình Henderson - Hasselbatch:
pH = pK + log
+ pH của acid cacbonic là 0,1
+ H2CO3 được tính bằng α.pCO2 trong đó α là khả năng hòa tan của cacbodioxit (CO2) trong các dịch thể
Như đã thấy thông qua phương trình Henderson - Hasselbatch, nếu lượng acid vào máu nhiều, các đôi đệm trung hòa không hết, lượng dự trữ kiềm trong máu giảm xuống khác thường thậm chí phản ứng máu giảm, trường hợp này gọi là trúng độc toan Nhưng khi lượng kiềm vào máu nhiều,
hệ đệm không đủ khả năng phản ứng hết OH-; lúc này cơ thể nhiễm độc kiềm
Trang 26 Triệu chứng và bệnh tích của hội chứng tiêu chảy
Lợn con mắc bệnh lúc đầu vẫn bú và chạy bình thường Sau đó con vật
ít bú hoặc bỏ bú, gầy tóp nhanh, lông xù, đuôi rũ, da nhăn nheo nhợt nhạt, hai chân sau đứng co dúm lại và run rẩy, đuôi và khoeo dính đầy phân, khi con vật đi ỉa rặn nhiều, lưng uốn cong, bụng thóp lại, thể trạng đờ đẫn, nằm nhiều hơn đi lại
- Thể quá cấp tính: Con vật chết nhanh, thường sau 2 - 12 giờ kể từ khi
bỏ bú, lợn bỏ bú hoàn toàn đi xiêu vẹo, loạng choạng, thích nằm bẹp một chỗ, mõm tím tái, thở thể bụng khó khăn, phân lỏng màu trắng lầy nhầy, mùi tanh thối Lợn nằm co giật, bốn chân bơi trong không khí rồi chết
- Thể cấp tính: Con vật chết chậm hơn 2 - 4 ngày kể từ khi bỏ bú, con vật ỉa chảy, mất dinh dưỡng, nước, khoáng, yếu rồi chết dần
- Thế mãn tính: Thường thấy ở lợn tập ăn đến cai sữa Lợn ỉa chảy liên miên, phân lúc nước lúc sền sệt, mùi rất khó chịu, đít dính phân, bẩn, con vật gầy sụt, xù lông, nếu không chết thì cũng còi cọc
- Thể mãn tính: Đặc trưng là tăng sinh tế bào Trong khi tế bào tăng sinh
có các đại thực bào với các hạt nhân màu trắng sáng Đó là sản phẩm biểu bì võng mô, chúng có khả năng thực bào Ở đó có hiện tượng hoại tử và nhiều vi
khuẩn Salmonella Hiện tượng này tạo nên u xơ gan, lách sưng to và đỏ xám
hoặc đỏ sẫm, đôi khi có màu đen, rìa lách cong Niêm mạc ruột bị tổn thương,
Trang 27có vết loét Thận không có biến đổi đặc trưng, phổi viêm đôi khi có ổ mủ Tim sưng, hơi nhão, xoang bao tim chứa đầy nước vàng, cơ tim xuất huyết
Các biện pháp phòng bệnh
Hội chứng tiêu chảy ở gia súc nói chung và lợn nói riêng do rất nhiều nguyên nhân, để phòng chống tiêu chảy phải thực hiện đồng bộ các biện pháp, tác động đến nhiều khâu, nhiều yếu tố như: tác động vào môi trường, đối tượng lợn con và lợn mẹ dựa trên nguyên tắc 3 nên, 3 chống: Nên cho lợn bú sữa đầu, nên chăm sóc lợn mẹ trước khi sinh, nên tập ăn sớm cho lợn con; chống ẩm, chống bẩn, chống lạnh
Trong chăn nuôi khâu vệ sinh phòng bệnh là hết sức quan trọng và cần thiết Vệ sinh phòng bệnh tạo ra môi trường tốt, làm tăng sức đề kháng không đặc hiệu nhằm ngăn ngừa mầm bệnh lây lan Thực hiện nghiêm ngặt các khâu như: Vệ sinh, sát trùng chuồng trại, dụng cụ chăn nuôi cách ly động vật mới nhập, động vật ốm luôn là những biện pháp cần thiết trong khâu vệ sinh phòng bệnh
Nhiều tác giả nhấn mạnh về chế độ đảm bảo ăn uống tốt cho lợn con, tập cho lợn con vận động, chống nóng, chống ẩm và chống lạnh cho lợn con (Đào Trọng Đạt, 1966) [8], dùng lò sưởi để chống lạnh cho lợn con giai đoạn
bú sữa, kết quả đã làm giảm tỷ lệ lợn con phân trắng
Như vậy, việc đảm bảo tốt kỹ thuật chăm sóc, nuôi dưỡng như thức ăn đảm bảo chất lượng, tập cho lợn con ăn sớm, việc đảm bảo tốt vệ sinh chuồng nuôi, vệ sinh tiểu khí hậu chuồng nuôi là rất quan trọng nhằm hạn chế tỷ lệ lợn con theo mẹ mắc hội chứng tiêu chảy
Việc tiêm phòng vaccine là biện pháp có hiệu quả cao trong phòng các bệnh truyền nhiễm gây tiêu chảy cho lợn, tạo miễn dịch chủ động cho gia súc