1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn thạc sĩ báo chí học Thông tin khoa học kỹ thuật phục vụ phát triển kinh tế nông nghiệp nông thôn trên báo chí hưng yên hiện nay

126 301 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 126
Dung lượng 4,73 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chương 1BÁO CHÍ VỚI VIỆC THÔNG TIN KHOA HỌC KỸ THUẬT PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN KINH TẾ NÔNG NGHIỆP NÔNG THÔN HIỆN NAY1.1. Một số khái niệm liên quan1.1.1. Các khái niệm liên quan đến lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn Qua nghiên cứu cuốn Từ điển Tiếng Việt thông dụng của NXB Giáo dục (2007), Từ điển bách khoa Việt Nam 2, NXB Từ điển bách khoa, Hà Nội (2002), Từ điển Tiếng Việt của NXB KHXH, Hà Nội (1977) chúng tôi thống nhất các khái niệm sử dụng trong luận văn như sau:Nông nghiệp: Là ngành sản xuất chủ yếu của xã hội có nhiệm vụ cung cấp sản phẩm trồng trọt và sản phẩm chăn nuôi. Nông thôn: Là vùng tập trung dân cư làm nghề nông; phân biệt với thành thị.Nông dân: Là người sống chủ yếu bằng nghề làm nông nghiệp (trồng trọt, chăn nuôi).Kinh tế nông nghiệp (KTNN): Là một trong hai ngành kinh tế cơ bản của nền kinh tế quốc dân (nông nghiệp và công nghiệp), là ngành sản xuất vật chất chủ yếu, sản xuất thực phẩm cho nhân dân và nguyên liệu cho công nghiệp. Kinh tế nông nghiệp có vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế của đất nước, nó gồm hai nhóm ngành chính là trồng trọt và chăn nuôi.Công nghiệp hóa Hiện đại hóa nông nghiệp: Là quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng sản xuất hàng hóa lớn, gắn với công nghiệp chế biến và thị trường; thực hiện cơ giới hóa, điện khí hóa, thủy lợi hóa, ứng dụng các thành tựu khoa học công nghệ nhất là công nghệ sinh học, đưa thiết bị kỹ thuật và công nghệ hiện đại vào các khâu sản xuất nông nghiệp nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của nông sản hàng hóa.Công nghiệp hóa hiện đại hóa nông thôn: Là quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng tăng nhanh tỷ trọng giá trị sản phẩm và lao động các ngành công nghiệp và dịch vụ, giảm dần tỷ trọng sản phẩm và lao động nông nghiệp, xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội, quy hoạch phát triển nông thôn, tổ chức lại sản xuất và xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp, xây dựng nông thôn dân chủ, công bằng, văn minh, không ngừng nâng cao đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân ở nông thôn.1.1.2. Khái niệm thông tin và thông tin khoa học kỹ thuật trên báo chí Thông tinTheo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia thì Thông tin (information) là sự phản ánh sự vật, sự việc, hiện tượng của thế giới khách quan và các hoạt động của con người trong đời sống xã hội. Điều cơ bản là con người thông qua việc cảm nhận thông tin làm tăng hiểu biết cho mình và tiến hành những hoạt động có ích cho cộng đồng.Theo từ điển Tiếng Việt thông dụng của NXB Giáo dục 2007:Thông tin là truyền tin, đưa tin báo cho nhau biết 44, tr755 Khoa học kỹ thuậtBách khoa toàn thư mở Wikipedia cho rằng: Khoa học kỹ thuật là các ngành khoa học liên quan tới việc phát triển kỹ thuật và thiết kế các sản phẩm trong đó có ứng dụng các kiến thức khoa học tự nhiên.Ngoài ra, khoa học kỹ thuật còn là tên gộp chung những khoa học cụ thể được hình thành trên cơ sở ứng dụng những tri thức lý thuyết của các khoa học cơ bản vào trong hoạt động thực tiễn, chủ yếu là sản xuất vật chất và dịch vụ bằng con đường tạo ra những phương tiện kỹ thuật và phương pháp công nghệ thích hợp. 41, tr508Trên cơ sở khái niệm thông tin, khoa học kỹ thuật chúng tôi đưa ra khái niệm về Thông tin KHKT sử dụng trong luận văn này như sau: Thông tin khoa học kỹ thuật: Là hình thức thông tin mà trong đó nội dung thông điệp phổ biến, tuyên truyền về những kiến thức, kỹ năng, phương pháp áp dụng những thành tựu khoa học kỹ thuật vào trong sản xuất nhằm nâng cao năng suất lao động và chất lượng sản phẩm làm ra.

Trang 1

MỞ ĐẦU 1 Chương 1: Báo chí với việc thông tin KHKT phục vụ phát triển

KT NNNT hiện nay 9

1.1 Một số khái niệm liên quan 91.2 Vài đặc điểm tình hình kinh tế - xã hội Hưng Yên 111.3 Quan điểm của Đảng, Nhà nước và Tỉnh ủy, UBND tỉnh Hưng Yên vềvấn đề phát triển kinh tế nông nghiệp nông thôn 141.4 Vai trò của báo chí trong việc thông tin KHKT phục vụ phát triển kinh tếnông nghiệp nông thôn 22

Chương 2: Thông tin KHKT phục vụ phát triển KT NNNT trênBáo chí Hưng Yên những năm qua 28

2.1 Hệ thống thông tin báo chí của Tỉnh 282.2 Báo chí Hưng Yên thực hiện nhiệm vụ thông tin KHKT phục vụ pháttriển kinh tế NNNT những năm qua 322.3 Nội dung thông tin KHKT phục vụ phát triển kinh tế NNNT 402.4 Hình thức thông tin KHKT phục vụ phát triển kinh tế NNNT 552.5 Những thành công và hạn chế trong hoạt động thông tin KHKT phục vụphát triển kinh tế NNNT 73

Chương 3:Một số kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng và hiệuquả thông tin KHKT phục vụ phát triển KT NNNT của Báo chí Hưng Yên hiện nay 83

3.1 Nâng cao chất lượng đội ngũ phóng viên, biên tập viên 83

Trang 2

3.4 Nắm bắt nhu cầu thực tế về tiếp nhận thông tin KHKT trong công chúng 91

3.5 Tăng cường sự lãnh đạo, quản lý của các cơ quan chức năng về đẩy mạnh thông tin KHKT phục vụ phát triển kinh tế nông nghiệp nông thôn 97

KẾT LUẬN 101

TÀI LIỆU THAM KHẢO 105

PHỤ LỤC 109

Trang 3

BCH TW: Ban chấp hành Trung ương

CNH - HĐH : Công nghiệp hóa, hiện đại hóa

KHKT: Khoa học kỹ thuật

KHCN: Khoa học công nghệ

KT - XH: Kinh tế xã hội

KTNN: Kinh tế nông nghiệp

KTNNNT: Kinh tế nông nghiệp nông thôn

NNNT: Nông nghiệp nông thôn

NN&PTNT: Nông nghiệp và phát triển nông thôn

NQ: Nghị quyết

TW: Trung ương

TU: Tỉnh ủy

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Hiện nay ở nhiều nước, nhất là các nước đang phát triển, phát triển kinh

tế nông nghiệp, nông thôn được coi là vấn đề tất yếu có ý nghĩa chiến lược lâudài Việt Nam là một quốc gia đi lên từ nền sản xuất nông nghiệp truyềnthống, hơn 70% dân số sống ở nông thôn với một cơ cấu kinh tế độc canhthuần nông, năng suất lao động thấp, nhu cầu việc làm còn rất bức bách TạiHội nghị BCH TW lần thứ 7 khóa X đã ra nghị quyết 26 - NQ/TƯ “Về nôngnghiệp, nông dân, nông thôn” Nghị quyết khẳng định:

“Phát triển nhanh nghiên cứu, chuyển giao và ứng dụng khoa

học, công nghệ, đào tạo nguồn nhân lực, tạo đột phá để hiện đại hóa nông nghiệp, công nghiệp hóa nông thôn Tăng đầu tư ngân sách cho nghiên cứu, chuyển giao khoa học - công nghệ để nông nghiệp sớm đạt trình độ tương đương với các nước tiên tiến trong khu vực; ưu tiên đầu tư ứng dụng công nghệ sinh học để chọn, tạo ra nhiều giống cây trồng, vật nuôi và quy trình nuôi trồng, bảo quản, chế biến, tạo đột phá về năng suất, chất lượng

và hiệu quả sản xuất.” [17, tr138]

Ngày 29/01/2010, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 176/QĐ TTg “Phê duyệt Đề án phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao đếnnăm 2020” Với mục tiêu chung là góp phần xây dựng nền nông nghiệp pháttriển toàn diện theo hướng hiện đại, sản xuất hàng hóa lớn, có năng suất, chấtlượng, hiệu quả và sức cạnh tranh cao, đạt mức tăng trưởng trên 3,5% / năm;đảm bảo vững chắc an ninh lương thực, thực phẩm quốc gia cả trước mắt vàlâu dài

Trang 5

-Cùng với quá trình phát triển của khoa học và công nghệ, hệ thốngthông tin và truyền thông của nước ta đang phát triển mạnh cả ở khu vựcthành thị và nông thôn Các cơ quan, tổ chức có liên quan đến lĩnh vực nôngnghiệp, nông thôn từ Chính phủ đến các Bộ, ngành và địa phương đều tăngcường hệ thống báo chí, truyền thông phục vụ phát triển sản xuất tại địa bànkinh tế nông nghiệp, nông thôn Kiến thức về khoa học và kỹ thuật phục vụ bàcon nông dân là hết sức phong phú và có thể được khai thác từ nhiều nguồnkhác nhau nhằm giúp nâng cao năng lực sản xuất của người nông dân Các cơquan báo chí, các loại hình báo chí đều dành một phần đáng kể để chuyển tảicác thông tin khoa học kỹ thuật nhằm phục vụ phát triển sản xuất cho bà connông dân Hệ thống sách, báo, tài liệu có nội dung chuyên môn về khoa học

kỹ thuật phục vụ phát triển sản xuất cho vùng nông nghiệp, nông thôn đượcghi nhận là xuất bản ngày càng nhiều và đa dạng với các hình thức truyềnthông hết sức phong phú như qua phim, ảnh, truyền hình, phát thanh, sách,báo, tranh, các buổi nói chuyện chuyên đề hay tập huấn trực tiếp của cán bộkhuyến nông tại địa phương Tuy nhiên, hiệu quả của truyền thông khoa học

kỹ thuật phục vụ phát triển sản xuất nông nghiệp nông thôn còn chưa cao.Đây có thể coi là một trong những nguyên nhân đáng kể khiến cho giá trị sảnxuất nông nghiệp ở nước ta còn thấp

Truyền thông có vai trò quan trọng trong việc định hướng thông tin,tuyên truyền giáo dục nhằm nâng cao nhận thức và sự hiểu biết của ngườidân Đặc biệt thông tin về khoa học kỹ thuật phục vụ phát triển sản xuất ởvùng kinh tế nông nghiệp nông thôn hiện nay càng có giá trị to lớn trong quátrình phát triển đất nước Vấn đề ở đây là thông tin như thế nào, thông tin vớinội dung gì và hình thức thông tin ra sao để người nông dân hiểu và ứng dụngnhững tiến bộ khoa học kỹ thuật đó nhằm đạt hiệu quả cao trong sản xuấtnông nghiệp là vấn đề cần được quan tâm, nghiên cứu Xuất phát từ thực tế

Trang 6

trên, tôi chọn đề tài “Thông tin khoa học kỹ thuật phục vụ phát triển kinh tế nông nghiệp nông thôn trên Báo chí Hưng Yên hiện nay” nhằm mục đích

tìm hiểu, đánh giá thực trạng thông tin khoa học kỹ thuật ở vùng kinh tế nôngnghiệp, nông thôn để từ đó có những kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng vàhiệu quả thông tin khoa học kỹ thuật ở vùng kinh tế nông nghiệp nông thônHưng Yên, một địa bàn kinh tế nông nghiệp nông thôn được coi là khá điểnhình đối với khu vực đồng bằng Bắc bộ

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Việt Nam vốn chủ yếu là một nước sản xuất nông nghiệp với hơn 70%dân số có đời sống gắn với kinh tế nông nghiệp, nông thôn Chính vì vậy,trong thời kỳ đất nước ta đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá không thểkhông chú trọng đến vấn đề CNH - HĐH nông nghiệp, nông thôn Hoạt độngthông tin khoa học kỹ thuật phục vụ phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôntuy không phải là một đề tài mới nhưng vẫn liên tục đặt ra nhiều vấn đề cầntiếp tục nghiên cứu và giải quyết để phù hợp với nhu cầu phát triển trong điềukiện hội nhập kinh tế quốc tế, cần thiết cho cả công tác lý luận và hoạt độngthực tiễn, nhất là đối với lĩnh vực báo chí và truyền thông

Vấn đề tuyên truyền chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn

và chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật đã có một số công trình nghiên cứu

ở những địa bàn và vùng miền khác nhau Có thể nêu một số đề tài nghiêncứu tại Học viện Báo chí và Tuyên truyền sau:

- Luận văn Thạc sỹ truyền thông của Đinh Quang Hạnh, năm 2002,

“Công tác tuyên truyền vấn đề nông nghiệp - nông thôn trên sóng truyền hình Việt Nam” Tác giả đã khảo sát các chuyên đề liên quan đến nông nghiệp,

nông thôn trên kênh VTV1 Sau khi làm rõ các khái niệm liên quan, đặc điểmnông nghiệp, nông thôn Việt Nam cũng như vai trò của đài truyền hình ViệtNam trong hoạt động tuyên truyền Tác giả đã đề xuất những giải pháp nhằm

Trang 7

nâng cao chất lượng các chương trình truyền hình về vấn đề nông nghiệp,nông thôn.

- Luận văn Thạc sỹ truyền thông của Nguyễn Đông Bắc, năm 2003,

“Tuyên truyền chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn miền núi phía

Bắc” (Qua khảo sát các Báo Lạng Sơn, Cao Bằng, Bắc Cạn từ năm 2001 đến năm 2003) Tác giả đã đánh giá thực trạng nội dung các bài báo, từ đó kiến nghị

những giải pháp nâng cao chất lượng tuyên truyền về chuyển dịch cơ cấu kinh

tế nông nghiệp - nông thôn miền núi phía Bắc

- Luận văn Thạc sỹ truyền thông của Nguyễn Hoàng Anh Tuấn, năm

2006, “Báo chí An Giang tuyên truyền chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông

nghiệp” (Qua khảo sát Báo An Giang, Đài PTTH An Giang, Phân xã Thông tấn xã Việt Nam tại An Giang) Tác giả đã nêu tình hình tuyên truyền chuyển

dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp ở An Giang và đề xuất một số giải phápnhằm nâng cao hiệu quả tuyên truyền

- Luận văn Thạc sỹ truyền thông của Hà Huy Hồng, năm 2007, “Nâng

cao chất lượng bài viết chuyển giao tiến bộ kỹ thuật về vùng sâu, vùng xa trên báo Nhân dân hàng ngày” (Khảo sát từ năm 1998 đến năm 2006) Đề tài đã

đưa ra thực trạng tuyên truyền chuyển giao tiến bộ kỹ thuật về vùng sâu vùng

xa của các cơ quan báo chí nói chung và của báo Nhân dân nói riêng Trên cơ

sở thực trạng đó, tác giả đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao chất lượngcác bài báo viết về chuyển giao tiến bộ kỹ thuật về vùng sâu, vùng xa

- Luận văn Thạc sỹ truyền thông của Nguyễn Hoàng Linh, năm 2010,

“Báo chí Hưng Yên tuyên truyền chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn trên địa bàn tỉnh” Tác giả đã làm rõ được vai trò của báo chí với

việc tuyên truyền chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn, thựctrạng công tác tuyên truyền chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông

Trang 8

thôn và đưa ra quan điểm, giải pháp nâng cao chất lượng tuyên truyền chuyểndịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn của báo chí Hưng Yên.

Ngoài các đề tài nghiên cứu trên, vấn đề nông nghiệp, nông thôn cũngđược nhiều nhà khoa học, nhà quản lý nước ta đặc biệt quan tâm Có thể nêumột số công trình nghiên cứu, lý luận tiêu biểu mà chúng tôi nắm được trong

đó có đề cập đến vấn đề truyền thông KHKT phục vụ kinh tế NNNT sau:

- “Chính sách phát triển nông nghiệp và nông thôn sau Nghị quyết 10của Bộ chính trị”, PGS, TSKH Lê Đình Thắng (chủ biên), NXB Chính trịQuốc gia, Hà Nội, 2000 Các tác giả đã phân tích và xác định tầm quan trọngcủa sản xuất nông nghiệp và phát triển kinh tế nông nghiệp ở nước ta tronggiai đoạn CNH - HĐH Thông qua sự đánh giá tình hình thực hiện chính sáchphát triển nông nghiệp, nông thôn từ sau Nghị quyết 10, các tác giả đã kiếnnghị phương hướng và giải pháp để tiếp tục đổi mới, phát triển nông nghiệp,nông thôn nước ta trong thời gian tới Vấn đề truyền thông chính sách, quántriệt quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước đối với phát triển kinh tếNNNT được quan tâm và nhấn mạnh

- “Chính sách nông nghiệp nông thôn Việt Nam nửa cuối thế kỷ XX vàmột số định hướng” (NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, năm 2002) của tác giảTrần Ngọc Bút đã làm rõ các chính sách phát triển nông nghiệp nông thônnước ta trong các giai đoạn từ Cách mạng tháng Tám cho đến nay Cuốn sáchcũng đề cập đến một số vấn đề cần được quan tâm đối với nông nghiệp, nôngthôn, những chính sách dành cho nông dân trong thời kỳ CNH - HĐH Nhấnmạnh việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đào tạo nghề, chuyển giao tiến bộKHKT cho người lao động khu vực kinh tế NNNT

- “CNH - HĐH nông nghiệp và nông thôn ở Việt Nam con đường vàbước đi” của GS.TS Nguyễn Kế Tuấn chủ biên do NXB Chính trị Quốc gia,

Hà Nội, 2006 Các tác giả đã lý giải có tính tổng quát về con đường, bước đi

Trang 9

và các giải pháp thực hiện công cuộc CNH - HĐH nông nghiệp và nông thôn

ở nước ta Cuốn sách còn giúp chúng ta hiểu rõ hơn khái niệm, mục tiêu, nộidung, bước đi và các giải pháp thúc đẩy quá trình CNH - HĐH nông nghiệp

và nông thôn từ nay đến năm 2020 Một trong những giải pháp quan trọng làđẩy mạnh hoạt động truyền thông KHKT phục vụ phát triển kinh tế NNNT

- “Nông nghiệp, nông dân, nông thôn Việt Nam - Hôm nay và mai sau”của TS Đặng Kim Sơn, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2008 Tác giả đãcung cấp nhiều thông tin có giá trị lý luận và thực tiễn về bức tranh kinh tếNNNT Việt Nam Trong tất cả các nội dung quan tâm tác giả đã đặc biệt nhấnmạnh tới vai trò của truyền thông KHKT phục vụ phát triển sản xuất tại vùngkinh tế NNNT Việt Nam trong quá trình đi lên CNH - HĐH

Nhìn chung, các công trình nghiên cứu đều cho thấy được chính sáchphát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn trong thời kỳ CNH - HĐH là mộtvấn đề quan trọng trong chiến lược phát triển nền kinh tế đất nước Với ýnghĩa đó, chúng tôi muốn đóng góp thêm vào nguồn tư liệu chung nhữngnghiên cứu có tính lý luận và thực tiễn về kinh tế NNNT nói chung và hoạtđộng thông tin khoa học kỹ thuật phục vụ phát triển kinh tế NNNT nói riêng,qua đó phục vụ nhiệm vụ nghiên cứu được đặt ra trên địa bàn tỉnh Hưng Yên

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

· Đối tượng nghiên cứu

Thông tin về khoa học kỹ thuật phục vụ phát triển kinh tế nông nghiệp,nông thôn trên báo chí Hưng Yên

· Phạm vi nghiên cứu

Luận văn khảo sát, nghiên cứu thực trạng thông tin khoa học kỹ thuậtphục vụ phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn trên Báo Hưng Yên, ĐàiPhát thanh - Truyền hình Hưng Yên từ năm 2007 đến 2010, đây là khoảngthời gian phát triển kinh tế - xã hội được xác định trong nhiệm kỳ Đại hộiĐảng bộ Tỉnh Hưng Yên khóa XVI

Trang 10

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

* Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của đề tài là nhằm nâng cao chất lượng và hiệuquả của thông tin khoa học kỹ thuật phục vụ phát triển kinh tế nông nghiệpnông thôn trên địa bàn tỉnh Hưng Yên hiện nay

* Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu vai trò và nhiệm vụ của báo chí trong việc thông tin khoahọc kỹ thuật phục vụ phát triển kinh tế nông nghiệp nông thôn hiện nay

- Nghiên cứu thực trạng thông tin khoa học kỹ thuật phục vụ phát triểnkinh tế nông nghiệp nông thôn trên báo chí Hưng Yên hiện nay

- Đề xuất giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quảthông tin khoa học kỹ thuật phục vụ phát triển kinh tế nông nghiệp nông thônhiện nay

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của đề tài

cơ sở lý luận quan trọng để nghiên cứu

· Phương pháp nghiên cứu

Về phương pháp nghiên cứu, chúng tôi sẽ vận dụng linh hoạt một sốphương pháp cụ thể như sau:

- Phương pháp nghiên cứu tài liệu có liên quan đến vấn đề nghiên cứu

- Phương pháp khảo sát, chọn mẫu, thống kê

- Phương pháp phân tích - tổng hợp

- Điều tra xã hội học: Phát phiếu điều tra, phỏng vấn

Trang 11

- Kế thừa một cách có chọn lọc những kết quả nghiên cứu có liên quanđến đề tài.

6 Đóng góp mới của đề tài

Đề tài “Thông tin khoa học kỹ thuật phục vụ phát triển kinh tế nông nghiệp nông thôn trên Báo chí Hưng Yên hiện nay” đi sâu vào tìm hiểu

tình hình thông tin khoa học kỹ thuật trên Báo chí Hưng Yên hiện nay để thấyđược những thành quả đã đạt được và những điểm còn hạn chế tồn tại trongquá trình thông tin khoa học kỹ thuật phục vụ phát triển sản xuất thông quahoạt động của hệ thống báo chí, truyền thông Trên cơ sở nghiên cứu thựctiễn, tác giả đưa ra một số kiến nghị, giải pháp phù hợp trong việc thông tinkhoa học kỹ thuật phục vụ phát triển kinh tế nông nghiệp nông thôn nhằm tạo

ra những sản phẩm báo chí có nội dung hay và thiết thực, hướng đến mụcđích phục vụ kinh tế NNNT phát triển, góp phần đạt được năng suất, chấtlượng và hiệu quả cao trong các hoạt động sản xuất nông nghiệp, đẩy nhanhtiến trình CNH - HĐH nông nghiệp nông thôn

Qua nghiên cứu, khảo sát, chúng tôi hy vọng luận văn sẽ trở thành tàiliệu tham khảo có ích cho việc học tập, nghiên cứu của các sinh viên ngànhBáo chí và Truyền thông, đồng thời cũng mong muốn góp phần giúp cho cácnhà nghiên cứu, các nhà lãnh đạo, quản lý có thể định hướng và chỉ đạo cáchoạt động báo chí, truyền thông KHKT ngày càng có những đóng góp quantrọng, thiết thực đối với sự phát triển của kinh tế nông nghiệp nông thôn trênmột địa bàn cụ thể cũng như trên cả nước

7 Kết cấu luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và các phụlục Đề tài được kết cấu thành 3 chương với 14 tiết và 104 trang

Trang 12

Chương 1 BÁO CHÍ VỚI VIỆC THÔNG TIN KHOA HỌC KỸ THUẬT PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN KINH TẾ NÔNG NGHIỆP NÔNG THÔN HIỆN NAY

1.1 Một số khái niệm liên quan

1.1.1 Các khái niệm liên quan đến lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn

Qua nghiên cứu cuốn Từ điển Tiếng Việt thông dụng của NXB Giáo

dục (2007), Từ điển bách khoa Việt Nam 2, NXB Từ điển bách khoa, Hà Nội

(2002), Từ điển Tiếng Việt của NXB KHXH, Hà Nội (1977) chúng tôi thốngnhất các khái niệm sử dụng trong luận văn như sau:

Nông nghiệp: Là ngành sản xuất chủ yếu của xã hội có nhiệm vụ cung

Kinh tế nông nghiệp (KTNN): Là một trong hai ngành kinh tế cơ bản

của nền kinh tế quốc dân (nông nghiệp và công nghiệp), là ngành sản xuất vật chất chủ yếu, sản xuất thực phẩm cho nhân dân và nguyên liệu cho công nghiệp Kinh tế nông nghiệp có vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế của đất nước, nó gồm hai nhóm ngành chính là trồng trọt và chăn nuôi.

Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa nông nghiệp: Là quá trình chuyển dịch

cơ cấu kinh tế theo hướng sản xuất hàng hóa lớn, gắn với công nghiệp chế biến

và thị trường; thực hiện cơ giới hóa, điện khí hóa, thủy lợi hóa, ứng dụng các thành tựu khoa học công nghệ nhất là công nghệ sinh học, đưa thiết bị kỹ thuật

và công nghệ hiện đại vào các khâu sản xuất nông nghiệp nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của nông sản hàng hóa.

Trang 13

Công nghiệp hóa - hiện đại hóa nông thôn: Là quá trình chuyển dịch cơ

cấu kinh tế nông thôn theo hướng tăng nhanh tỷ trọng giá trị sản phẩm và lao động các ngành công nghiệp và dịch vụ, giảm dần tỷ trọng sản phẩm và lao động nông nghiệp, xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, quy hoạch phát triển nông thôn, tổ chức lại sản xuất và xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp, xây dựng nông thôn dân chủ, công bằng, văn minh, không ngừng nâng cao đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân ở nông thôn.

1.1.2 Khái niệm thông tin và thông tin khoa học kỹ thuật trên báo chí

- Thông tin

Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia thì Thông tin (information) là

sự phản ánh sự vật, sự việc, hiện tượng của thế giới khách quan và các hoạt động của con người trong đời sống xã hội Điều cơ bản là con người thông qua việc cảm nhận thông tin làm tăng hiểu biết cho mình và tiến hành những hoạt động có ích cho cộng đồng.

Theo từ điển Tiếng Việt thông dụng của NXB Giáo dục 2007:

Thông tin là truyền tin, đưa tin báo cho nhau biết [44, tr755]

- Khoa học kỹ thuật

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia cho rằng: Khoa học kỹ thuật là các

ngành khoa học liên quan tới việc phát triển kỹ thuật và thiết kế các sản phẩm

trong đó có ứng dụng các kiến thức khoa học tự nhiên.

Ngoài ra, khoa học kỹ thuật còn là tên gộp chung những khoa học cụthể được hình thành trên cơ sở ứng dụng những tri thức lý thuyết của các khoahọc cơ bản vào trong hoạt động thực tiễn, chủ yếu là sản xuất vật chất và dịch

vụ bằng con đường tạo ra những phương tiện kỹ thuật và phương pháp côngnghệ thích hợp [41, tr508]

Trang 14

Trên cơ sở khái niệm thông tin, khoa học kỹ thuật chúng tôi đưa ra kháiniệm về Thông tin KHKT sử dụng trong luận văn này như sau:

- Thông tin khoa học kỹ thuật: Là hình thức thông tin mà trong đó nội dung thông điệp phổ biến, tuyên truyền về những kiến thức, kỹ năng, phương pháp áp dụng những thành tựu khoa học kỹ thuật vào trong sản xuất nhằm nâng cao năng suất lao động và chất lượng sản phẩm làm ra.

1.2 Vài đặc điểm tình hình kinh tế - xã hội Hưng Yên

Tỉnh Hưng Yên được thành lập năm 1831, là nơi sinh sống của ngườiViệt từ xưa (thời Hùng Vương) Năm1968, tỉnh Hưng Yên và tỉnh Hải Dươngđược hợp nhất thành tỉnh Hải Hưng Thực hiện Nghị quyết kỳ họp thứ 10,Quốc hội khoá IX, tỉnh Hải Hưng được chia thành tỉnh Hải Dương và tỉnhHưng Yên Ngày 1.1.1997 tỉnh Hưng Yên được tái lập và chính thức làm việctheo đơn vị hành chính mới Hưng Yên nằm ở trung tâm vùng Đồng BằngBắc Bộ, giữa hai thành phố lớn là Hà Nội và Hải Phòng, có vị trí quan trọngtrong vùng tam giác tăng trưởng kinh tế Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh, có

hệ thống đường giao thông hoàn chỉnh từ tỉnh xuống huyện và tới các trungtâm xã, có nhiều tuyến giao thông quan trọng chạy qua, gần các sân bay, cảngbiển, các trung tâm kinh tế và các thành phố lớn của đất nước Từ khi tái lập,Hưng Yên quan tâm nhiều đến việc phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội,

có những chính sách ưu đãi, thông thoáng để thu hút các nhà đầu tư vào địabàn, đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế Với chủ trương đúng của tỉnh nênmức tăng trưởng kinh tế đạt khá, bình quân đạt 11,87%/năm; trong đó, nôngnghiệp tăng 5,6%/năm, công nghiệp tăng 42%/năm, dịch vụ tăng 15%/năm;đời sống người dân đang dần được nâng lên; các vấn đề về xã hội có nhiềuthay đổi rõ rệt Về hợp tác thu hút đầu tư nước ngoài, tỉnh ngoài, Hưng Yênđược đánh giá là một trong những tỉnh tích cực và kết quả đạt được khá tốt sovới các tỉnh trong vùng và cả nước về hợp tác thu hút đầu tư nước ngoài, tỉnh

Trang 15

ngoài Tỉnh đã qui hoạch 5 khu công nghiệp tập trung, và qui hoạch thêm 5khu khác ở phía nam tỉnh, dọc quốc lộ 39A, 39B, 38 để phát huy hiệu quả cầuYên Lệnh, 10 khu công nghiệp làng nghề để tạo điều kiện thu hút các dự ánvào đầu tư Khu vực dọc quốc lộ 5 từ Hà Nội đi Hải Phòng sẽ ưu tiên bố trícác khu công nghiệp để tập trung phát triển các ngành công nghiệp nhẹ, điện

tử, chế biến,…Hưng Yên đang phấn đấu trở thành một tỉnh phát triển CNH HĐH với một cơ cấu kinh tế hợp lý, nâng cao hiệu quả đầu tư và giải quyếttốt các vấn đề xã hội

Hưng Yên là cửa ngõ phía Đông của Hà Nội, có 23 km quốc lộ 5A vàtrên 20 km tuyến đường sắt Hải Nội - Hải Phòng chạy qua, ngoài ra có quốc

lộ 39A, 38 nối từ quốc lộ 5 qua thành phố Hưng Yên đến quốc lộ 1A (qua cầuYên Lệnh) và đến quốc lộ 10 (qua cầu Triều Dương), là trục giao thông quantrọng nối các tỉnh Tây - Nam Bắc bộ (Hà Nam, Ninh Bình, Nam Định, ThanhHoá…) với Hải Dương, Hải Phòng, Quảng Ninh Bên cạnh đó, Hưng Yên gầncác cảng biển Hải Phòng, Cái Lân; Sân bay quốc tế Nội Bài, giáp ranh với cáctỉnh và thành phố Hà Nội, Bắc Ninh, Hà Tây, Hà Nam, Thái Bình và HảiDương Cũng như các tỉnh khác thuộc vùng đồng bằng sông Hồng, Hưng Yênchịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm Hàng năm có haimùa nóng và lạnh rõ rệt tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp, đặcbiệt là các cây vụ đông

Hưng Yên mang đặc trưng của một tỉnh đồng bằng, không có đồi, núi,địa hình tương đối bằng phẳng Diện tích tự nhiên toàn tỉnh là 98.084 ha, đấtnông nghiệp 61.037 ha, trong đó đất trồng cây hàng năm 55.645 ha (chiếm91%), còn lại là đất trồng cây lâu năm, không có đất lâm nghiệp, mặt nướcnuôi trồng thuỷ sản, đất chuyên dùng và đất sử dụng cho các mục đích khác.Đất chưa sử dụng khoảng 7.471 ha, toàn bộ diện tích trên đều có khả năngkhai thác và phát triển sản xuất nông nghiệp Phần lớn đất đai của Hưng Yên

Trang 16

do phù sa hệ thống sông Hồng và sông Thái Bình bồi đắp nên ruộng đất màu

mỡ, bằng phẳng, nguồn nước ngọt rất dồi dào có thể trồng 2 - 4vụ/năm HưngYên là tỉnh trọng điểm sản xuất lúa của vùng Đồng bằng sông Hồng, cótruyền thống trồng lúa, năng suất bình quân đạt khá cao, có thể quy hoạchnhững vùng trồng tập trung để sản xuất lúa hàng hóa chất lượng cao Các điềukiện tự nhiên, xã hội, cơ sở hạ tầng của Tỉnh thuận lợi cho trồng lúa Tuynhiên, diện tích tự nhiên nhỏ, ruộng đất bình quân đầu người thấp và giao đấtcho hộ nông dân quá manh mún nên hạn chế cho phát triển nông nghiệp theohướng sản xuất hàng hóa

Là một tỉnh mới được tái lập, mặc dù còn những khó khăn, thách thức,kinh tế Hưng Yên vẫn duy trì tăng trưởng khá Tốc độ tăng trưởng bình quântrong 5 năm (2006 - 2010) đạt 11% Năm 2010 sản xuất nông nghiệp đạt 25%(mục tiêu Đại hội đề ra là 20%) Thu nhập bình quân đầu người 20 triệu đồng(1.110USD) Hưng Yên phấn đấu trở thành một tỉnh có nền kinh tế phát triển,thực hiện CNH - HĐH với cơ cấu kinh tế hợp lý để nâng cao đời sống ngườidân và giải quyết tốt các vấn đề xã hội Nông nghiệp phát triển toàn diện theohướng sản xuất hàng hóa, phát triển nhanh cây, con có giá trị kinh tế cao.Diện tích lúa chất lượng cao dạt 45% Giá trị sản xuất tăng bình quân3,5%/năm Hưng Yên là một trong hai tỉnh trên toàn quốc sớm thực hiện miễnthủy lợi phí cho nông dân, thực hiện nhiều chính sách hỗ trợ để nông nghiệp,nông thôn và nông dân đẩy mạnh sản xuất, nhiều nghề truyền thống và cácloại hình dịch vụ trong nông thôn được khuyến khích phát triển Để phục vụ

sự nghiệp phát triển chung và phục vụ kinh tế NNNT, công tác nghiên cứu,ứng dụng khoa học công nghệ đã được đẩy mạnh và đạt nhiều kết quả Đếnnay, Tỉnh đã thực hiện 20 dự án và 30 đề tài khoa học Ứng dụng thành côngcông nghệ sản xuất một số cây, con giống chất lượng cao, hỗ trợ chuyển giao

Trang 17

và ứng dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất, chế biến, bảo quản, phát triển cây

ăn quả đặc sản có giá trị kinh tế cao

Vốn là một tỉnh nông nghiệp, những năm gần đây Hưng Yên là địaphương có nền kinh tế phát triển nhanh, giá trị sản xuất Công nghiệp bìnhquân đạt 21%/năm Tỉnh đã phát triển một số ngành có tính động lực như điện

tử, dệt may, cơ khí và luyện thép với kỹ thuật tiên tiến Sản phẩm đa dạng vềchủng loại, chất lượng tốt hơn, nhiều sản phẩm có thương hiệu, sức cạnhtranh lớn trên thị trường trong nước và quốc tế

Song song với phát triển kinh tế, Tỉnh cũng rất chú trọng đến sựnghiệp giáo dục - đào tạo góp phần nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồidưỡng nhân tài Hưng Yên nằm trong nhóm 5 tỉnh có tỷ lệ học sinh vào Đạihọc cao nhất toàn quốc Khuyến học được quan tâm, mặt bằng dân trí và chấtlượng nguồn nhân lực được nâng lên Mạng lưới giáo dục - đào tạo tiếp tụcđược mở rộng, nâng cấp…

Trong thời gian thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ (2006 - 2010),Hưng Yên đã có những chủ trương, chính sách nhằm thúc đẩy phát triển kinh

tế gắn với giải quyết các vấn đề xã hội, nâng cao đời sống vật chất và tinhthần của nhân dân Số hộ nghèo từ 13% năm 2006 giảm còn 3% năm 2010,đạt yêu cầu so với nhiệm vụ mà Đại hội đề ra

1.3 Quan điểm của Đảng, Nhà nước và Tỉnh ủy, UBND tỉnh Hưng Yên về vấn đề phát triển kinh tế nông nghiệp nông thôn

1.3.1 Tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề phát triển kinh tế nông nghiệp nông thôn

Mặc dù không có một tác phẩm riêng biệt nào tập trung nói về tư tưởngkinh tế, nhưng thông qua các bài viết, phát biểu, nói chuyện của Người, Chủtịch Hồ Chí Minh đã thể hiện những tư tưởng và quan điểm sâu sắc về kinh tế,đặc biệt là về phát triển kinh tế nông nghiệp nông thôn ở nước ta

Trang 18

Tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển kinh tế nông nghiệp nông thôn là

sự cụ thể hóa quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về vấn đề nông dân, nôngnghiệp, nông thôn Khi bàn về vai trò của sản xuất của cải vật chất là cơ sởcủa sự tồn tại và phát triển xã hội loài người, Ph.Ănghen đã khẳng định:

“Trước hết con người cần phải có ăn, uống, ở, mặc, trước khi lo đến chuyện làm chính trị, khoa học, nghệ thuật và tôn giáo…” [25, tr264] Xã hội ngày

càng phát triển thì nhu cầu của con người về sản phẩm thiết yếu được sản xuất

ra từ nông nghiệp ngày càng tăng và đa dạng, phong phú Đối với nhiều quốcgia phát triển, vấn đề giữ một tỷ lệ nông nghiệp hợp lý trong cơ cấu tổng thểnền kinh tế vẫn luôn được chú trọng Với các nước đi lên CNH - HĐH xuấtphát từ kinh tế nông nghiệp truyền thống thì quan tâm phát triển nông nghiệp,lấy chính nông nghiệp làm cơ sở vừa là nguồn lực ban đầu, vừa là khu vựcđóng góp tích cực vào quá trình chuyển dịch sang kinh tế công nghiệp và dịch

vụ được coi là con đường phát triển phù hợp

Thấm nhuần những quan điểm trên của chủ nghĩa Mác, trong “Thư gửi

điền chủ nông gia Việt Nam”, Hồ Chí Minh khẳng định: “Việt Nam là nước sống về nông nghiệp, nền kinh tế của ta lấy canh nông làm gốc Trong công cuộc xây dựng nước nhà, Chính phủ trông mong vào nông dân, trông cậy vào nông nghiệp một phần lớn Nông dân ta giàu thì nước ta giàu, nông nghiệp ta thịnh thì nước ta thịnh” [26, tr215]

Tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển kinh tế nông nghiệp nông thôn

xuất phát từ thực tiễn lịch sử phát triển nước ta, nơi được coi là một trong

những cái nôi của nền văn minh lúa nước Khi trở thành vị Chủ tịch nước,Người đã rất quan tâm đến vấn đề phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn.Người xác định vai trò của phát triển nông nghiệp, nông thôn đối với các

ngành kinh tế khác của nền kinh tế quốc dân đó là: “Phải lấy nông nghiệp

làm chính, nhưng phải toàn diện, phải chú ý các mặt công nghiệp, thương

Trang 19

nghiệp, tài chính, ngân hàng, giao thông, kiến trúc, văn hóa, giáo dục, y tế … các ngành này phải lấy phục vụ nông nghiệp làm trung tâm” [27, tr325].

Điều này đòi hỏi mọi chủ trương, đường lối, phương châm, kế hoạch, mụctiêu phát triển của công nghiệp và các ngành kinh tế khác phải lấy nôngnghiệp, nông thôn làm đối tượng phục vụ, phải có chính sách ưu tiên, ưu đãiđối với nông nghiệp và nông thôn

Để phát triển kinh tế nông nghiệp đạt hiệu quả cao, Người rất chú ý

đến việc áp dụng kỹ thuật trong trồng trọt Điều này, Hồ Chí Minh đã khái

quát bằng một bài thơ rất sinh động để mọi người dân dễ hiểu, dễ nhớ, dễthực hiện:

“ Nước phải đủ, phân phải nhiều

Cày sâu, giống tốt, cấy đều dảnh hơn

Trừ sâu diệt chuột chớ quên

Cải tiến nông cụ là nền nhà nông

Ruộng nương quản lý gia công

Tám điều đầy đủ thóc bông đầy bồ” [16 ,tr201-202]

Khi nói về tầm quan trọng của thủy lợi hóa trong phát triển kinh tế

nông nghiệp, nông thôn - Người khẳng định: phát triển hợp tác hóa phải đi

liền với công tác thủy lợi hóa, coi thủy lợi là biện pháp hàng đầu của việccanh nông bởi khí hậu nước ta không kém phần khắc nghiệt, nắng lắm mưanhiều hay gây hạn hán, lũ lụt, làm tốt công tác thủy lợi sẽ điều hòa được nướctưới tiêu, góp phần khắc phục thiên tai

Tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn rấtsâu sắc Nó vừa thể hiện tình cảm và sự quan tâm của Người đối với nôngdân, nông nghiệp, nông thôn vừa là vấn đề nhận thức đúng đắn về tính đặc thùtrong quá trình xây dựng và phát triển đất nước

1.3.2 Quan điểm của Đảng, Nhà nước về vấn đề phát triển kinh tế nông nghiệp nông thôn

Trang 20

Trên cơ sở nền tảng tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển kinh tế nôngnghiệp nông thôn, Đảng và Nhà nước ta luôn chú trọng đến vấn đề phát triểnkinh tế nông nghiệp nông thôn Đảng ta xác định phát triển kinh tế nôngnghiệp nông thôn chiếm một vị trí quan trọng trong sự nghiệp phát triển đấtnước, bởi đây không chỉ là lĩnh vực sản xuất ra những sản phẩm thiết yếunuôi sống con người mà còn là lĩnh vực tạo tiền đề và cơ sở nguồn lực quantrọng để phát triển các ngành kinh tế công nghiệp và dịch vụ Ở nước ta, mộtnước nông nghiệp với hơn 70% dân số sống ở nông thôn và chủ yếu hoạtđộng trong nông nghiệp Đảng ta luôn xác định đổi mới kinh tế phải bắt đầu

từ đổi mới trong nông nghiệp, nông thôn Tư tưởng ấy được bắt đầu từ Chỉthị 100, Nghị quyết 10 và được tiếp tục phát triển trong các văn kiện tiếptheo của Đảng Việc nâng cao trình độ văn hóa, khoa học kỹ thuật cho lựclượng lao động ở nông thôn là vấn đề được Đảng và Nhà nước ta rất quantâm trong quá trình phát triển kinh tế nông nghiệp nông thôn Văn kiện Đại

hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VII đã nhấn mạnh: “Phát triển nông nghiệp

gắn với công nghiệp chế biến, phát triển toàn diện kinh tế nông thôn và xây dựng nông thôn mới là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu để ổn định tình hình kinh tế - xã hội” [13, tr63]

Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII tiếp tục nhấn mạnhquan điểm:

“Coi trọng công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông

thôn Phát triển toàn diện nông nghiệp, hình thành các vùng tập trung chuyên canh, có cơ cấu hợp lý về cây trồng, vật nuôi, có sản phẩm hàng hóa nhiều về số lượng, tốt về chất lượng, đảm bảo an toàn về lương thực trong xã hội, đảm bảo yêu cầu của thị trường trong, ngoài nước” [14, tr86-87]

Trang 21

Đối với Đảng ta phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn là cơ sở để đảmbảo ổn định kinh tế - xã hội làm nền tảng phát triển đất nước Báo cáo chínhtrị Đại hội IX của Đảng đã định hướng phát triển các ngành kinh tế và cácvùng kinh tế Đối với nông nghiệp và phát triển kinh tế nông thôn, chủ trương

của Đảng là: “Đưa nhanh tiến bộ khoa học - công nghệ vào sản xuất nông

nghiệp đạt mức tiên tiến trong khu vực về trình độ công nghệ về thu nhập trên một đơn vị diện tích, tăng năng suất lao động, nâng cao chất lượng và sức cạnh tranh của sản phẩm Mở rộng thị trường tiêu thụ nông sản trong và ngoài nước”[15, tr 168-169]

Sau hơn 20 năm đổi mới, đến nay Việt Nam là nước sản xuất gạođứng thứ hai trên thế giới Nông nghiệp phát triển, lương thực không nhữngđược đảm bảo mà còn tạo ra nguyên liệu cho công nghiệp, cung cấp nông sảnxuất khẩu Tuy nhiên, những thành tựu đạt được chưa tương xứng với lợi thế,tiềm năng và chưa đồng đều giữa các vùng Nông nghiệp phát triển còn kémbền vững, tốc độ tăng trưởng có xu hướng giảm dần, chưa phát huy tốt nguồnlực cho phát triển sản xuất, nghiên cứu, chuyển giao khoa học - công nghệ vàđào tạo nguồn nhân lực còn hạn chế, sản xuất nông nghiệp mang tính nhỏ lẻ,phân tán, năng suất, chất lượng nhiều mặt hàng còn thấp Tại Hội nghị TWlần thứ 7 khóa X đã ra Nghị quyết số 26 - NQ/TW ngày 5/8/2008 về nôngnghiệp nông thôn, trong đó nêu rõ:

“Phát triển nông nghiệp, nông thôn và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nông dân phải dựa trên cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, phù hợp với điều kiện của từng vùng, từng lĩnh vực, để giải phóng và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực xã hội, trước hết là lao động, đất đai, rừng và biển; khai thác tốt các điều kiện thuận lợi trong hội nhập kinh tế quốc tế cho phát triển lực lượng sản xuất trong nông nghiệp, nông thôn; phát huy cao nội lực; đồng

Trang 22

thời tăng mạnh đầu tư của Nhà nước và xã hội, ứng dụng nhanh các thành tựu khoa học, công nghệ tiên tiến cho nông nghiệp, nông thôn, phát triển nguồn nhân lực, nâng cao dân trí nông dân”[17, tr124].

Để Nghị quyết 26 - NQ/TW thực sự đi vào cuộc sống người dân, Đảng

đã đề ra nhiệm vụ và giải pháp lâu dài là phát triển nhanh nghiên cứu, chuyểngiao và ứng dụng khoa học, công nghệ, đào tạo nguồn nhân lực, tạo đột phá

để hiện đại hóa nông nghiệp, công nghiệp hóa nông thôn Nhà nước tăng đầu

tư ngân sách cho nghiên cứu, chuyển giao khoa học - công nghệ để nôngnghiệp sớm đạt trình độ tương đương với các nước trong khu vực; ưu tiên đầu

tư ứng dụng công nghệ sinh học để chọn, tạo ra nhiều giống cây trồng, vậtnuôi và quy trình nuôi trồng, bảo quản, chế biến, tạo bước đột phá về năngsuất, chất lượng và hiệu quả sản xuất

Như vậy, có thể khẳng định chủ trương, chính sách phát triển kinh tếnông nghiệp, nông thôn của Đảng, Nhà nước là nhất quán, trong đó đặc biệt làvấn đề áp dụng những thành tựu khoa học - kỹ thuật vào trong sản xuất nôngnghiệp, nông thôn đã thể hiện nhận thức đúng đắn về con đường và mục tiêuthúc đẩy tăng trưởng kinh tế nông nghiệp, nông thôn phù hợp với sự pháttriển của nền kinh tế hiện đại Đây là tiền đề quan trọng cho quá trình côngnghiệp hóa - hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn trong giai đoạn hiện nay

1.3.3 Chủ trương của Tỉnh ủy, UBND Hưng Yên về phát triển kinh

tế nông nghiệp nông thôn

Nghị quyết số 26, Hội nghị TW lần thứ 7, khóa X là một chủ trươngđúng đắn mang tính toàn diện của Đảng bao gồm các mặt phát triển lực lượngsản xuất, xây dựng cơ sở hạ tầng sản xuất phù hợp gắn với xây dựng nông

thôn mới, trong đó nhấn mạnh đến việc ứng dụng nhanh các thành tựu khoa

học, công nghệ tiên tiến cho nông nghiệp, nông thôn, phát triển nguồn nhân

Trang 23

lực, nâng cao dân trí nông dân nhằm từng bước chuyển dịch cơ cấu kinh tếnông nghiệp, nông thôn theo hướng gắn với thị trường và phát triển bền vững.

Thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 BCH Trung ương Đảng khoá X vềnông nghiệp, nông dân, nông thôn, ngày 24/10/2008, Tỉnh uỷ Hưng Yên đãxây dựng Chương trình hành động số 18/CTr-TU về việc thực hiện Nghịquyết Hội nghị lần thứ 7 BCH Trung ương khóa X và ngày 31/12/2008, Uỷban Nhân dân tỉnh ban hành Kế hoạch số 149/KH-UBND về tổ chức thựchiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 của BCH Trung ương Đảng khóa X, Nghịquyết của Chính phủ về nông nghiệp, nông dân, nông thôn Trong đó đã phâncông trách nhiệm cụ thể cho các sở, ngành, đơn vị thực hiện gồm 17 chươngtrình, dự án và Quyết định số 425/QĐ-UB ngày 27/02/2009 về thành lập Banchỉ đạo tỉnh thực hiện kế hoạch 149/KH-UBND, hàng năm Ban chỉ đạo xâydựng kế hoạch thực hiện Tỉnh đã chỉ đạo các sở, ngành, địa phương căn cứtheo chức năng, nhiệm vụ được phân công, xây dựng kế hoạch hoạt độngnhằm cụ thể hoá các chủ trương, giải pháp của Trung ương và của Tỉnh, huyđộng tối đa các nguồn lực đầu tư phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn

Mục tiêu và nhiệm vụ của Chương trình hành động số 18/CTr - TU làphát triển nông nghiệp toàn diện theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóagắn với xây dựng nông thôn mới Tiếp tục đẩy nhanh chuyển dịch cơ cấu kinh

tế nông nghiệp, nông thôn phát triển toàn diện theo hướng hiện đại, hiệu quả

và bền vững; bố trí lại cơ cấu cây trồng, vật nuôi; phát triển kinh tế hộ, trangtrại, tổ hợp tác, hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp Hình thành các khu côngnghiệp công nghệ cao, vùng chuyên canh, thâm canh, sản xuất hàng hóa chấtlượng, an toàn, gắn sản xuất với chế biến và thị trường, mở rộng xuất khẩu, cóchính sách khuyến khích tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp, xây dựng thươnghiệu sản phẩm Mở rộng diện tích, áp dụng công nghệ cao để tăng năng suất,chất lượng các loại rau màu, cây ăn quả, cây công nghiệp có lợi thế Phát triển

Trang 24

các tổ chức khuyến nông, dịch vụ nông nghiệp, có cơ chế thực hiện tốt việcgắn kết chặt chẽ “4 nhà” (nhà nông, nhà khoa học, nhà doanh nghiệp và nhànước) Chương trình hành động số 18/CTr - TU chú trọng đến việc nghiêncứu, chuyển giao, ứng dụng các tiến bộ khoa học - công nghệ vào sản xuất vàđời sống, áp dụng kỹ thuật tiên tiến kết hợp với cung ứng các loại giống cây,con có năng suất chất lượng và hiệu quả kinh tế cao, khuyến khích hoạt động

tư vấn dịch vụ khoa học - công nghệ, đổi mới cơ chế quản lý và tăng cườngđầu tư từ ngân sách Nhà nước đi đôi với xã hội hóa đầu tư cho khoa học -công nghệ, hỗ trợ các doanh nghiệp triển khai ứng dụng kết quả nghiên cứukhoa học

Mục tiêu của Chương trình 18 CTr - TU là phấn đấu tỷ trọng giá trịnông nghiệp thủy sản bình quân 5 năm đạt 4%, tỷ trọng cơ cấu trong nôngnghiệp đến năm 2015 là cây lương thực 20%, cây công nghiệp, rau quả 35%,chăn nuôi 45% Trong đó chú ý cải tạo, nâng cấp và xây dựng các công trìnhthủy lợi đáp ứng yêu cầu của sản xuất nông nghiệp theo hướng khoa học vàhiện đại Ngoài ra, việc xây dựng nông thôn mới là hướng đến một xã hộicông bằng, văn minh, giàu đẹp, có nền kinh tế phát triển, kết cấu hạ tầng kinh

tế - xã hội đồng bộ, hiện đại, giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa truyềnthống và các ngành nghề truyền thống ở từng địa phương

Ngay từ năm 2006, Ban chấp hành Đảng bộ Tỉnh khóa XVI đã ra Nghịquyết số 08 - NQ/TU ngày 20/10/2006 về chương trình phát triển nôngnghiệp, nông thôn Tỉnh giai đoạn 2006 - 2010 trong đó đề ra mục tiêu đẩynhanh CNH - HĐH nông nghiệp nông thôn; xây dựng nền nông nghiệp sảnxuất hàng hóa có năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh cao; chú trọng sảnxuất các sản phẩm nông nghiệp sạch theo tiêu chuẩn quốc tế Phát triển nôngnghiệp toàn diện và bền vững trên cơ sở ứng dụng các thành tựu khoa học -công nghệ tiên tiến Nghị quyết của Ban chấp hành Đảng bộ Hưng Yên cũng

Trang 25

đề ra nhiệm vụ cụ thể đối với việc phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn

đó là ứng dụng khoa học - công nghệ tiên tiến vào sản xuất, nâng cao sứccạnh tranh, mở rộng thị trường tiêu thụ hàng hóa nông sản Đẩy mạnh ứngdụng tiến bộ khoa học - công nghệ vào sản xuất giống cây trồng, vật nuôi,hình thành các cơ sở sản xuất nông nghiệp công nghệ cao; tạo ra vùng chuyêncanh, thâm canh sản xuất hàng hóa chất lượng cao; bảo quản sau thu hoạch,chế biến nông sản theo quy trình sản xuất tiên tiến Giới thiệu, xây dựng một

số mô hình liên kết giữa nhà nước, nhà doanh nghiệp, nhà khoa học và nhànông để giảm thiểu rủi ro, thúc đẩy sản xuất nông nghiệp Trên cơ sở Nghịquyết của Tỉnh ủy, các cấp ủy đảng, chính quyền đã đề ra nhiều chương trình

cụ thể về phát triển kinh tế NNNT:

- Quyết định số 2497/QĐ - UBND ngày 4/11/2006 về việc quy địnhmức chi phí về hỗ trợ thực hiện chương trình “Nạc hóa” đàn lợn và “Sindhóa” đàn bò thời kỳ 2007 - 2010 tỉnh Hưng Yên

- Chỉ thị số 14/CT - TU ngày 11/01/2007 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy

về việc tập trung lãnh đạo sản xuất vụ đông xuân 2006 - 2007

- Chỉ thị số 1622/UBND ngày 19/9/2008 của UBND tỉnh Hưng Yên vềviệc xây dựng chương trình giống sản xuất nông nghiệp

Có thể khẳng định rằng Đảng bộ, chính quyền tỉnh Hưng Yên đã rấtquan tâm đến vấn đề phát triển kinh tế nông nghiệp nông thôn, trong đó nhấnmạnh đến việc áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào trong sản xuất nôngnghiệp để tạo ra những sản phẩm nông nghiệp đạt hiệu quả, chất lượng cao.Các Nghị quyết, chỉ thị chính sách của Tỉnh đều mang tính cụ thể, thiết thựctác động trực tiếp vào lĩnh vực NNNT, tạo cơ sở đẩy mạnh tiến trình côngnghiệp hóa - hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn trên địa bàn Tỉnh

1.4 Vai trò của báo chí trong việc thông tin KHKT phục vụ phát triển kinh tế nông nghiệp nông thôn

Trang 26

Báo chí là kênh truyền thông đại chúng có khả năng tác động mộtcách rộng lớn, nhanh chóng và mạnh mẽ vào toàn bộ xã hội Đảng ta luôn đềcao vai trò của báo chí trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước Báochí đã và đang thể hiện tốt vai trò của mình trong mọi lĩnh vực, đã đóng góptích cực trong việc thông tin tuyên truyền chủ trương, đường lối, chính sáchcủa Đảng và Nhà nước đối với kinh tế - xã hội nói chung và kinh tế nôngnghiệp, nông thôn nói riêng Trong việc thông tin khoa học kỹ thuật phục vụphát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn những năm qua, các cơ quan báochí từ Trung ương đến địa phương đã tỏ ra có những hoạt động khá tích cực

và góp phần quan trọng vào quá trình phát triển của lĩnh vực này Sau 20năm đổi mới nước ta từ chỗ thiếu ăn, phải nhập khẩu lương thực đã trở thànhquốc gia xuất khẩu gạo đứng thứ hai trên thế giới Không những thế, sảnphẩm nông nghiệp của chúng ta làm ra còn đạt năng suất và chất lượng cao

Có được thành tựu đó phải kể đến sự đóng góp không nhỏ của hệ thống báochí, truyền thông

Ngày nay, bên cạnh việc tuyên truyền chủ trương, đường lối của Đảng,chính sách pháp luật của Nhà nước, báo chí còn có chức năng giáo dục nhằmnâng cao dân trí Báo chí góp phần nâng cao trình độ nhận thức, giúp conngười có những thay đổi trong hành vi và thái độ Là một nước đang pháttriển, với hơn 70% dân số còn sống ở nông thôn nên việc nâng cao trình độdân trí nhằm nâng cao năng suất lao động không chỉ đơn thuần là trang bịkiến thức phổ thông mà quan trọng là làm sao để người dân có trình độ bắtkịp với các nước tiên tiến trong khu vực Xuất phát từ thực tế đó, hệ thốngthông tin báo chí của chúng ta từ trung ương đến địa phương đều dành nhữngchuyên mục, trang cố định để thông tin, tuyên truyền về vấn đề phát triểnnông nghiệp, hướng dẫn áp dụng thành tựu KHKT trong lao động sản xuất.Theo thống kê thì hiện nay cả nước ta có hơn 700 cơ quan báo chí, đài phát

Trang 27

thanh truyền hình với hơn 800 ấn phẩm gồm nhật báo, báo thưa kỳ, tạp chí,bản tin, báo điện tử và các trang thông tin điện tử và khoảng 17.000 nhà báođược cấp thẻ Cùng với sự phát triển toàn diện của hệ thống báo chí, các tờbáo, trang báo điện tử, các bản tin chuyên viết về mảng nông nghiệp, nông

thôn như: Báo nông thôn ngày nay, Báo Nông nghiệp Việt Nam, Báo Lao

động… hay chương trình Nông thôn ngày nay, Bạn của nhà nông… trên sóng

Đài THVN Ngoài ra, tại các tờ báo địa phương đều dành một trang để thôngtin tuyên truyền về mảng đề tài kinh tế tại địa phương

Trong việc thông tin KHKT nhằm phục vụ phát triển kinh tế nôngnghiệp nông thôn trên báo chí, vai trò của báo chí được thể hiện ở chỗ:

- Báo chí thực hiện tốt việc tuyên truyền đường lối, chủ trương củaĐảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về mục tiêu CNH-HĐH nôngnghiệp nông thôn, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nâng cao chất lượngtăng trưởng, cải thiện đời sống người lao động nông thôn Trong thời gianqua, báo chí đã thông tin một cách nhanh chóng và kịp thời mọi thông tin liênquan đến chính sách, văn bản về vấn đề ứng dụng các thành tựu khoa họccông nghệ, chuyển giao công nghệ vào trong quá trình sản xuất nông nghiệpnhằm phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn đồng thời báo chí còn trựctiếp tham gia vào việc giám sát thực thi pháp luật Báo chí là diễn đàn để cáccấp, bộ, ngành, người dân tham gia đóng góp ý kiến, thể hiện quan điểm củamình để hệ thống chính sách phát triển kinh tế NNNT được hoàn thiện và đạthiệu quả hơn

- Với chức năng và nhiệm vụ của mình, các phương tiện truyền thôngđại chúng nói chung và báo chí nói riêng đã thông tin, tuyên truyền, phản ánhsinh động những vấn đề trong thực tiễn cuộc sống, đó là việc phát hiện, biểudương, nhân rộng những nhân tố mới, gương “Người tốt việc tốt”, những điểnhình tiên tiến trong việc tham gia sản xuất, chăn nuôi giỏi Qua những nộidung thông tin này, báo chí đã giới thiệu những tấm gương điển hình trong

Trang 28

sản xuất để người dân tham khảo và học tập nhằm nâng cao kiến thức và kinhnghiệm trong sản xuất

- Báo chí tham gia vào việc phổ biến kiến thức khoa học kỹ thuật trongsản xuất nông nghiệp, nông thôn Bên cạnh việc nhân rộng những điển hìnhtiên tiến trong lao động sản xuất, báo chí còn có nhiệm vụ thông tin nhữngkiến thức về khoa học kỹ thuật vào trong sản xuất, trồng trọt, chăn nuôi Kiếnthức về khoa học kỹ thuật, kiến thức về nông nghiệp, nông thôn là vô cùng đadạng và phong phú nhưng làm thế nào để chuyển tải được thông điệp đó đếnvới công chúng là vô cùng quan trọng Do vậy đòi hỏi, phóng viên, nhà báophải biết chắt lọc, lựa chọn thông tin cho phù hợp với trình độ và thực tiễncuộc sống của người nông dân để kiến thức về KHKT phục vụ sản xuất nôngnghiệp, bảo quản, chế biến nông sản, kiến thức cơ bản về làm kinh tế thực sự

có chất lượng và mang lại hiệu quả cao Kiến thức về KHKT phục vụ pháttriển sản xuất nông nghiệp nông thôn giúp cho người nông dân làm quen vớinhiều kiến thức mới mà các nền nông nghiệp tiên tiến trên thế giới đang sửdụng Trên báo chí có thể thấy những nội dung về phổ biến kiến thức đó là:đưa các giống cây, con năng suất, hiệu quả kinh tế cao vào sản xuất như giốnglúa chất lượng cao, giống bò lai sind, lợn hướng nạc, gia cầm siêu trứng, siêunạc… hay các biện pháp phòng chống sâu bệnh, trồng xen canh gối vụ

- Báo chí góp phần đưa người nông dân tiếp cận với các chuyên gia,nhà khoa học gần hơn Thông tin KHKT phục vụ phát triển kinh tế nôngnghiệp, nông thôn là một vấn đề thuộc lĩnh vực chuyên môn, không phảiphóng viên, nhà báo nào cũng có kiến thức, kinh nghiệm trong sản xuất Việcthông tin KHKT trên báo chí đòi hỏi phải có sự tham gia của các chuyên gia,các nhà khoa học, các cán bộ trong lĩnh vực nông nghiệp Họ là những ngườiđóng góp tích cực trong việc thông tin, xây dựng mô hình sản xuất, truyền đạt

Trang 29

kinh nghiệm, hướng dẫn áp dụng khoa học kỹ thuật vào trong sản xuất nhằmnâng cao năng suất giống cây trồng, vật nuôi cho nông dân Họ là người gópphần làm cho người nông dân có lòng tin vào các chủ trương, chính sách pháttriển kinh tế nông nghiệp nông thôn của Đảng và Nhà nước ta.

Tiểu kết chương 1

Trong chương 1, trên cơ sở lý luận và thực thiễn đời sống xã hội, cáckhái niệm về nông nghiệp, nông thôn, CNH-HĐH nông nghiệp, nông thôn,khoa học kỹ thuật… cũng như những vấn đề về thông tin KHKT phục vụphát triển kinh tế nông nghiệp nông thôn, quan điểm của Đảng, Nhà nước và

Tư tưởng Hồ Chí Minh và chủ trương của Tỉnh ủy, UBND tỉnh Hưng Yên

về phát triển kinh tế nông nghiệp nông thôn đã được chúng tôi cố gắng tậptrung làm rõ trong phạm vi khả năng nghiên cứu của mình Chúng tôi cũng

đã cố gắng phân tích về vai trò quan trọng của hệ thống báo chí trong việcthông tin tuyên truyền chủ trương đường lối của Đảng, chính sách pháp luậtcủa Nhà nước, đặc biệt thông tin về KHKT nhằm phục vụ phát triển kinh tếnông nghiệp nông thôn Điều này càng có ý nghĩa hơn khi mà dân số nước

ta sống ở nông thôn vẫn còn chiếm tỷ lệ cao chủ yếu sống bằng nghề sảnxuất nông nghiệp nhưng mặt bằng trình độ văn hóa và dân trí nói chung cònnhiều hạn chế

Gần 80% dân số của Hưng Yên cư trú tại địa bàn nông thôn, sinh sốngchủ yếu bằng nghề nông nghiệp, do đó sản xuất nông nghiệp đóng vai tròquan trọng trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của Tỉnh Trong điềukiện đó, báo chí càng có vai trò và nhiệm vụ to lớn trong việc thông tinKHKT cũng như phổ biến, hướng dẫn cho người nông dân và lao động nôngthôn phương pháp, kỹ thuật và thực hành trong sản xuất để có thể nắm bắtkiến thức được tốt hơn nhằm đạt được chất lượng và năng suất sản phẩm cao

Trang 30

Là địa phương nằm ở vùng kinh tế trọng điểm đồng bằng sông Hồng, nhữngvấn đề liên quan đến kinh tế nông nghiệp nông thôn của Hưng Yên khôngnhững có ý nghĩa trực tiếp đối với địa phương mà còn góp một bài học quantrọng trong phát triển kinh tế nông nghiệp nông thôn vùng đồng bằng SôngHồng cũng như cả nước nói chung.

Từ năm 2007 - 2010 Báo chí Hưng Yên đã làm được gì, đã thực hiệnchức năng, nhiệm vụ của mình như thế nào để góp phần vào nhiệm vụthông tin khoa học kỹ thuật phục vụ phát triển kinh tế nông nghiệp nôngthôn của tỉnh là vấn đề mà chúng tôi sẽ đề cập đến trong nội dung chương 2của luận văn

Trang 31

Chương 2 THÔNG TIN KHOA HỌC KỸ THUẬT PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN KINH TẾ NÔNG NGHIỆP NÔNG THÔN TRÊN BÁO CHÍ HƯNG

YÊN NHỮNG NĂM QUA

2.1 Hệ thống thông tin báo chí của Tỉnh

Hệ thống thông tin báo chí của Hưng Yên rất phong phú và đa dạng vớinhiều loại hình khác nhau Trong khuôn khổ của luận văn này, chúng tôi khảo

sát Báo Hưng Yên và Đài Phát thanh - Truyền hình Hưng Yên là hai loại hình

cơ bản nhất trong hệ thống báo chí của Tỉnh, là cơ quan của Đảng bộ Đảngcộng sản Việt Nam tỉnh Hưng Yên, là tiếng nói của Đảng bộ, chính quyền vànhân dân Hưng Yên

2.1.1 Báo Hưng Yên

Tháng 6/1943, tờ báo Bãi Sậy - tiền thân của Báo Hưng Yên hiện nay

xuất bản số đầu tiên, với nội dung kêu gọi quần chúng nhân dân trong tỉnhđoàn kết đứng lên cứu nước, cứu nhà Với danh nghĩa là cơ quan tuyên truyền

của Tỉnh bộ Việt Minh Hưng Yên, báo Bãi Sậy do các đồng chí trong Ban cán

sự Đảng tỉnh trực tiếp biên soạn, xuất bản và phát hành Trong hoàn cảnh hoạtđộng bí mật, phải thường xuyên thay đổi địa điểm để tránh sự kiểm soát gắt

gao của địch, cuối năm 1943 báo Bãi Sậy xuất bản được chưa đầy 10 số phải tạm dừng phát hành Tuy chỉ phát hành được 10 số nhưng báo Bãi Sậy đã có

tác động mạnh mẽ đến quần chúng nhân dân và phong trào cách mạng củatỉnh Hưng Yên trong thời gian ấy Đến ngày 19/12/1946 đúng ngày Chủ tịch

Hồ Chí Minh ra “Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến”, báo Bãi Sậy lại tiếp

tục được xuất bản Dưới hình thức là bản tin khổ nhỏ, kỹ thuật in tiến bộ hơn

trước, báo Bãi Sậy kịp thời tuyên truyền những chủ trương, sự chỉ đạo của

tỉnh về cuộc kháng chiến, động viên nhân dân tích cực sản xuất, tham gia

Trang 32

đánh giặc bảo vệ làng xóm quê hương Sau khi hoà bình lập lại, Tờ tin Hưng

Yên trực thuộc Uỷ ban hành chính tỉnh quản lý, in 4 trang, phát hành 5 ngày

một kỳ vào các ngày 5 và 10 trong tháng Tờ tin Hưng Yên phản ánh và động

viên kịp thời cuộc sống lao động sản xuất, đấu tranh chống thiên tai, khắcphục hậu quả chiến tranh, xây dựng chủ nghĩa xã hội của Đảng bộ và nhândân trong tỉnh

Từ tháng 2.1962 Tờ tin Hưng Yên được phát triển thành báo với tên gọi ban đầu là Báo Tên Lửa, hai tháng sau theo gợi ý của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Ban Thường vụ Tỉnh uỷ quyết định đổi tên thành Báo Hưng Yên Mỗi tuần

báo xuất bản 2 kỳ vào thứ Tư và thứ Bảy Sự kiện đó đánh dấu một bước phát

triển của Báo Hưng Yên, đồng thời tạo điều kiện và động viên những người

làm báo ở Hưng Yên tiếp tục bám sát sự chỉ đạo của Tỉnh, tuyên truyền phảnánh sinh động cuộc sống chiến đấu, lao động sản xuất và xây dựng chủ nghĩa

xã hội của cán bộ nhân dân trong toàn tỉnh, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ củacuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, góp phần quan trọng vào việc giảiphóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước

Từ tháng 3.1968, cùng với việc hợp nhất hai tỉnh, Báo Hưng Yên và

Báo Hải Dương được hợp nhất thành Báo Hải Hưng Những người làm Báo Hải Hưng tiếp nối truyền thống đoàn kết, hết lòng chăm lo xây dựng đội ngũ

cán bộ có bản lĩnh chính trị vững vàng, có đạo đức nghề nghiệp và năng lựcchuyên môn tốt để nâng cao chất lượng, nội dung và hình thức tờ báo Trong

suốt gần 3 thập kỷ, với 3.780 kỳ, Báo Hải Hưng đã giữ vững định hướng

chính trị, hoàn thành nhiệm vụ được giao, xứng đáng với niềm tin yêu củaĐảng bộ và nhân dân trong tỉnh

Tháng 1.1997, tỉnh Hải Hưng được chia tách thành hai tỉnh Hưng Yên

và Hải Dương, theo đó Báo Hưng Yên cũng được tái lập để đáp ứng yêu cầu tuyên truyền phục vụ nhiệm vụ chính trị của tỉnh Ngày 2.1.1997, tờ Báo

Trang 33

Hưng Yên số 1 (bộ mới) được tái bản, xuất bản 1 kỳ/tuần vào thứ Tư hàng

tuần và in tại Xí nghiệp in Hải Dương Tháng 6.1997 nâng lên 2 kỳ/tuần Mộtnăm sau, tháng 6.1998 khi xưởng in của Tỉnh đi vào hoạt động, báo mới chính

thức được in tại Hưng Yên Từ tháng 7.1998 có thêm tờ Hưng Yên hằng

tháng ra mắt bạn đọc với số độ dày 36 trang, sau tăng lên 40 trang và được

duy trì cho đến nay Tháng 10.2000, nhân Đại hội thi đua toàn tỉnh, Báo

Hưng Yên tăng số phát hành lên 3 kỳ/tuần vào các ngày thứ Hai, thứ Tư và

thứ Sáu; tháng 1.2003 tăng lên 4 kỳ/tuần Tháng 6/2005 Báo Hưng Yên điện

tử chính thức ra mắt bạn đọc Đến năm 2009, sau hơn 10 năm tái lập, Báo Hưng Yên đã phát hành 5 kỳ/tuần và kịp thời tuyên truyền các sự kiện trọng

đại của đất nước và địa phương

Về cơ cấu tổ chức, Báo Hưng Yên thành lập 4 phòng chức năng: 1

phòng Hành chính - Trị sự và 3 phòng phóng viên thuộc các mảng Chính trị,

Kinh tế, Bạn đọc - Phụ san Hiện tại Báo Hưng Yên có 42 cán bộ, công nhân

viên chức, 100% cán bộ quản lý có trình độ đại học và sau đại học về chuyênmôn nghiệp vụ, 70% phóng viên, biên tập viên có trình độ từ trung cấp đếnđại học

Về cơ sở vật chất kỹ thuật, Báo Hưng Yên đã đầu tư một xưởng in,

công tác chế bản trình bày trang báo đều đã được thực hiện qua hệ thống máytính điện tử nối mạng toàn cơ quan Việc chế bản báo tuần, báo tháng đềuđược thực hiện trên máy tính, không còn bản thảo, maket viết tay Trung bình

3 phóng viên được trang bị một máy tính tại phòng làm việc, mỗi phòngphóng viên được trang bị máy ghi âm, máy ảnh kỹ thuật số với trị giá từ 30 -

40 triệu đồng/ máy

2.1.2 Đài Phát thanh - Truyền hình Hưng Yên

Tháng 1/1997 Tỉnh Hưng Yên được tách ra từ tỉnh Hải Hưng và đây

cũng là cột mốc đánh dấu sự ra đời của Đài Phát thanh - Truyền hình (Đài

Trang 34

PT-TH) tỉnh Ngay từ ngày đầu thành lập Đài hoạt động với hai kênh phátsóng: Phát thanh 92,7 Mhz hệ FM; Truyền hình 42 băng tần UHF và hệ thốngMyTV Bộ máy tổ chức của cơ quan gồm 89 phóng viên, biên tập viên, cán

bộ kỹ thuật và các phòng chuyên trách như: Văn phòng, Phòng Kế hoạch Tài vụ, Phòng Thư ký chương trình, Phòng Thời sự và chuyên đề, PhòngKhoa giáo và giải trí, Phòng Văn nghệ - thể thao, Phòng Kỹ thuật, Phòng

-Dịch vụ và quảng cáo Đài PT-TH Hưng Yên đã kịp thời thông tin tuyên

truyền chủ trương, đường lối, chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước,

phản ánh các vấn đề trong đời sống xã hội đến với người dân Đài PT-TH

Hưng Yên là nơi phản ánh những vấn đề vướng mắc, những tiêu cực, bức xúc

của địa phương, là nơi để người dân bày tỏ quan điểm và chia sẻ những vấn

đề trong cuộc sống thường ngày Các phóng viên, biên tập viên, cán bộ củaĐài tận tâm yêu nghề luôn hoàn thành tốt công việc được giao phó Bên cạnhcác cán bộ của Đài còn có một lực lượng cộng tác viên đông đảo đã hợp tácchặt chẽ với Đài để góp phần vào công tác thông tin tuyên truyền, cổ vũphong trào thi đua nhằm đẩy mạnh sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh nhàđồng thời tạo ra những sản phẩm báo chí có chất lượng cao đáp ứng nhu cầucủa bạn xem truyền hình và bạn nghe đài

Sau hơn mười năm thành lập, được sự quan tâm và chỉ đạo sát sao của

Tỉnh ủy, UBND, Đài PT-TH Hưng Yên ngày càng trưởng thành và lớn mạnh.

Nội dung và hình thức các chương trình luôn được đổi mới, các phòng, banđược trang bị những thiết bị hiện đại để tác nghiệp Đến nay, số lượng cán bộ,công nhân viên trong cơ quan lên đến 89 người và đội ngũ cộng tác viên có ởkhắp các huyện, thị trong toàn tỉnh với nhiệm vụ thông tin nhanh nhạy, chínhxác, kịp thời các sự kiện kinh tế - chính trị - văn hóa xã hội diễn ra trên địabàn tỉnh Các cán bộ, phóng viên, biên tập viên đều có trình độ chuyên mônnghiệp vụ từ cao đẳng, đại học và sau đại học Năng lực nghề nghiệp của đội

Trang 35

ngũ cán bộ từng bước được nâng lên, những năm qua đội ngũ phóng viên củaĐài đã thông tin đầy đủ các nhiệm vụ chính trị - xã hội tại địa phương.

Hiện nay, Đài PT-TH Hưng Yên đã phủ sóng 100% đến các nơi trong

toàn tỉnh Đài còn được trang bị một xe lưu động để phục vụ cho các chươngtrình truyền hình trực tiếp Từ ngày đầu mới thành lập, thời lượng phát sóng

là 3 buổi/tuần với cơ sở vật chất kỹ thuật còn khó khăn Đến nay, được trang

bị những máy móc tối tân, hiện đại phục vụ cho việc sản xuất chương trìnhtruyền hình với 18h phát sóng/ngày liên tục từ 5h30 đến 23h30 và phát 7buổi/tuần Với sóng phát thanh có thời lượng phát sóng 2 chương trình/ngày,tổng thời lượng 120 phút, buổi sáng từ 6h30 đến 7h30, buổi chiều từ 17h đến18h, mỗi chương trình kéo dài 15 phút Hệ thống đài huyện, cơ sở phát sóngcũng chú trọng việc tiếp âm đài cấp tỉnh và xây dựng thêm một số chươngtrình truyền thanh địa phương Ngoài chương trình thời sự, phim truyện,

chương trình ca nhạc, Đài PT-TH Hưng Yên còn có thêm nhiều chương trình,

chuyên mục khác trong đó phải kể đển các chương trình, chuyên mục liênquan đến vấn đề phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn

2.2 Báo chí Hưng Yên thực hiện nhiệm vụ thông tin KHKT phục

vụ phát triển kinh tế NNNT những năm qua

2.2.1 Khái quát vấn đề thông tin KHKT phục vụ kinh tế NNNT trên báo chí Hưng Yên

Báo Hưng Yên và Đài PT-TH Hưng Yên là cơ quan trực thuộc Tỉnh ủy,

UBND tỉnh Hưng Yên, là hệ thống báo chí ở địa phương Nhiệm vụ chủ yếucủa các cơ quan báo chí này là thông tin, tuyên truyền đường lối của Đảng,chính sách pháp luật của Nhà nước và của Tỉnh ủy, UBND Hưng Yên, trong

đó việc tuyên truyền về nông nghiệp, nông thôn được xác định là một trongnhững nhiệm vụ trọng tâm xuyên suốt các hoạt động của Báo chí Hưng Yên.Các thông tin về sản xuất nông nghiệp, đời sống của người nông dân được

Trang 36

truyền tải đến bạn đọc của Báo chí Hưng Yên một cách kịp thời Báo chíphản ánh những thực tiễn đặt ra về nông nghiệp, nông thôn và nông dân;tuyên truyền những kinh nghiệm tốt, cách làm hay, những tiến bộ KHKT,thông tin thị trường đến với người nông dân góp phần nâng cao hiệu quả sảnxuất nông nghiệp, nâng cao đời sống của người nông dân.

Từ năm 2009 đến nay đặc biệt là sau Nghị quyết TW7 khóa X củaĐảng, Báo chí Hưng Yên đã tích cực phối hợp với Sở NN&PTNN, Tàinguyên - Môi trường cùng các sở ngành liên quan của tỉnh đẩy mạnh tuyêntruyền về “Tam nông” một cách hiệu quả Mảng đề tài tuyên truyền về nôngnghiệp, nông thôn đã được định hình rất rõ qua các chuyên trang, chuyên mụctập trung vào các nội dung chính là chuyển tải những chỉ thị, nghị quyết liênquan đến nông nghiệp, nông thôn, các cách làm hay, những mô hình V.A.C.Rhiệu quả, các gương làm giàu, cung cấp thông tin, kiến thức khoa học kỹ thuậtphục vụ sản xuất cho người dân nông thôn Để hoạt động thông tin, tuyêntruyền về nông nghiệp, nông thôn nói chung và về KHKT phục vụ phát triểnkinh tế NNNT nói riêng đạt được chất lượng và hiệu quả tốt thì trong công tácchỉ đạo của Báo chí Hưng Yên hàng tháng căn cứ vào chương trình công táccủa BBT, các phòng phóng viên phân công viết tin, bài theo kế hoạch trong

đó chủ đạo là phóng viên kinh tế Các tin, bài phản ánh chân thực và sinhđộng cuộc sống lao động sản xuất của nhân dân trong đó có việc tuyên truyền

về nông nghiệp, nông thôn cùng những khó khăn, vướng mắc cũng như tâm

tư, nguyện vọng của nhân dân từ đó các cấp ủy, chính quyền các cấp nắmđược và có biện pháp giải quyết, khắc phục

Trên Báo Hưng Yên hiện nay có 4 trang trong đó trang 3 là trang dành

cho những thông tin về kinh tế (Riêng số cuối tuần, trang 2 là trang dành chocác bài viết về kinh tế - chính trị - xã hội và trang 3 dành riêng cho trang vănhóa văn nghệ cuối tuần) Trang 3 là trang có các bài viết, tin, bài phản ánh,

Trang 37

phỏng vấn về nông nghiệp rất đều đặn trên mỗi số báo Để thu hút độc giả,

Báo Hưng Yên đã mở thêm nhiều chuyên mục mới thuộc lĩnh vực nông

nghiệp như: “Nhà nông nên biết”, “Nhìn ra tỉnh bạn”, “Muôn cách làm giàu”,

“Phóng sự ảnh” Trên trang kinh tế của Báo Hưng Yên, thông thường mỗi số

có một bài dài khoảng 1000 chữ, chiếm ¾ trang báo liên quan đến vấn đềthông tin khoa học kỹ thuật phục vụ phát triển kinh tế nông nghiệp, nôngthôn, tuyên truyền chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn, phổbiến các chủ trương, chính sách của Tỉnh ủy, UBND, các cơ quan, sở, ngành

có liên quan đến vấn đề nông nghiệp nông thôn như: Sở KH&CN, Sở Nôngnghiệp và Phát triển nông thôn, Chi cục Bảo vệ thực vật Tỉnh

Việc thiết kế, trình bày báo được cho là khá đẹp mắt, mới lạ và có tínhthẩm mỹ ít bị gò bó trong các khuôn mẫu có sẵn Tùy theo từng thời điểm mà

có những chủ đề, bài viết phù hợp để mang đến cho công chúng những thôngtin một cách nhanh nhất và chính xác Ví dụ như vào thời điểm thu hoạch vụĐông Xuân hay vụ Mùa đều có những bài phản ánh kịp thời như: “Vụ Đôngsớm ở Tiên Lữ” [số 2464], “Vụ Đông ở Thuần Hưng” [số 2458], “Giải pháp

cho một vụ mùa bội thu” [số 2353], “Nhìn lại vụ sản xuất lúa mùa” [số

2450] Tùy theo từng nội dung thông tin, chủ đề mà có thể sử dụng một đếnhai ảnh nhằm tạo sự tin cậy, hiệu quả cho thông tin, các ảnh được bố trí hợp

lý, đẹp mắt, rõ nét gây sự chú ý, sự hấp dẫn cho người đọc

Qua thực tế thống kê khảo sát Báo Hưng Yên cho thấy số lượng các bài

viết, tin liên quan đến định hướng nhận thức và phổ biến chính sách về đẩymạnh chuyển giao, áp dụng tiến bộ KHKT hay những bài viết mang tính chấtphổ biến kiến thức, truyền đạt kinh nghiệm KHKT phục vụ phát triển kinh tếNNNT như sau: Năm 2007 có 2000 tin, bài; Năm 2008 có 2000 tin, bài; Năm

2009 có 2600 tin, bài và năm 2010 có 2600 tin, bài Có thể thấy trong hai năm

2007 và 2008 số lượng tin bài ít hơn là vì năm 2007 và năm 2008 Báo Hưng

Trang 38

Yên chỉ xuất bản 4 kỳ/tuần, số lượng bài viết trong hai năm đều nhau chứng tỏ

thông tin về mảng NNNT luôn được cập nhật thường xuyên và đều đặn Năm

2009 và 2010 lượng tin, bài nhiều hơn vì kỳ hạn xuất bản được tăng lên 5kỳ/tuần và thông tin về KHKT phục vụ phát triển KTNNT được chú trọng vàquan tâm nhiều hơn

Tại Đài PT-TH Hưng Yên, ngoài những tin tức về phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn được cập nhật trên các “Bản tin thời sự” của Đài vào

lúc 6h30 phút, 11giờ 15 phút, 19h45 phút và thời sự cuối ngày, hàng ngày còn

có những chương trình, chuyên mục liên quan đến nông nghiệp như: “Thông

tin cùng nhà nông”, “Thị trường và tiêu dùng”, “Nhà nông làm giàu”, “Nông thôn Hưng Yên”, “Người tốt việc tốt” Nội dung thông tin về nông nghiệp,

nông thôn chủ yếu là tuyên truyền chuyển dịch cơ cấu kinh tế NNNT, thôngtin KHKT phục vụ phát triển sản xuất NNNT, chuyển giao tiến bộ KH&CNtrong sản xuất và chế biến sản phẩm nông sản, thông tin thời sự về mùa màng,hạn hán, lũ lụt, dịch bệnh gia súc gia cầm; thông tin về những tấm gương điểnhình làm kinh tế giỏi; những hợp tác xã tham gia sản xuất, chăn nuôi tốt; phảnánh đời sống sinh hoạt, lao động của bà con nông dân Giờ phát sóng của cácchuyên mục được bố trí định kỳ vào 20h10 phút vào thứ Ba, thứ Năm và thứ

Bảy hàng tuần sau chương trình thời sự của Đài PT-TH Hưng Yên Đây cũng

là thời điểm kết thúc chương trình Thời sự của VTV1, Đài Truyền hình ViệtNam nên sẽ thu hút được sự quan tâm của đông đảo công chúng Hưng Yênhơn Các chương trình, chuyên mục về mảng đề tài nông nghiệp có nội dung

và hình thức thể hiện phong phú chuyển tải đến bạn xem truyền hình nhữngchủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về vấn đề phát triểnkinh tế nông nghiệp nông thôn, tuyên truyền chuyển dịch cơ cấu giống câytrồng, vật nuôi hiệu quả hay thông tin về kỹ thuật trong nuôi trồng, thu hoạch,chế biến, chăn nuôi hay đưa những tấm gương điển hình trong lao động sản

Trang 39

xuất, các chương trình phát triển thủy sản Các chương trình và chuyên mụcnày tuy thời lượng phát sóng chưa nhiều nhưng cơ bản đã đáp ứng một phầnnhu cầu thông tin của người nông dân trong tỉnh Trong các chương trình thời

sự của Đài PT-TH Hưng Yên thường có những tin, phóng sự ngắn liên quan

đến vấn đề thông tin KHKT phục vụ phát triển kinh tế nông nghiệp, ngoài racác chuyên mục, chương trình về mảng nông nghiệp được bố trí phát định kỳtheo khung chương trình của Đài Chất lượng hình ảnh ngày càng đẹp, rõ nét,hình ảnh âm thanh rõ ràng phản ánh sinh động và chân thực bức tranh sảnxuất của người nông dân nơi đây

Từ năm 2007 đến nay Đài PT-TH Hưng Yên phát sóng 18h/ngày với 7

buổi/tuần và phủ sóng đến tất cả các phường, xã, hay các khu vực vùng sâu,vùng xa trong toàn tỉnh Đây là một lợi thế để tuyên truyền mọi chủ trương,đường lối, chính sách pháp luật của Đảng, Nhà nước và của Tỉnh ủy đến vớingười nông dân, đặc biệt những thông tin về KHKT phục vụ phát triển kinh tếnông nghiệp nông thôn Hưng Yên càng có ý nghĩa và cần thiết hơn trong giaiđoạn hiện nay

Qua khảo sát số lượng các bản tin, chương trình phát sóng trên Đài

PT-TH Hưng Yên từ năm 2007 đến 2010 cho kết quả sau: Năm 2007: có 2430 tin,

bài, phóng sự ngắn (PSN); Năm 2008: có 2600 tin, bài, PSN; Năm 2009: có

2800 tin, bài, PSN; Năm 2010: có 3100 tin, bài, PSN

Qua thực tế khảo sát, thống kê cho thấy lượng tin, bài, chương trìnhtruyền hình liên quan đến vấn đề nông nghiệp nông thôn này càng được phảnánh nhiều hơn Điều này chứng tỏ thông tin về KHKT phục vụ phát triển kinh

tế NNNT là một mảng đề tài thiết thực không thể thiếu trong các trang báo,các chương trình, chuyên mục, bản tin của Báo chí Hưng Yên Những sảnphẩm báo chí này góp một phần không nhỏ vào quá trình phát triển kinh tế xãhội của cả nước nói chung và của Hưng Yên nói riêng

Trang 40

2.2.2 Đội ngũ những người làm báo phục vụ phát triển KT NNNT

Nói đến đội ngũ những người làm báo thì trước hết phải nói đến vai tròđặc biệt quan trọng của đội ngũ phóng viên Một tác phẩm báo chí ra đời là cảmột quá trình lao động sáng tạo của phóng viên (nhà báo) Để tác phẩm báochí của mình đi vào lòng công chúng thì nhiệm vụ của phóng viên là phải làmthế nào để công chúng đón đọc bài báo hay xem chương trình của mình.Muốn làm được điều này phóng viên, tác giả phải thường xuyên quan tâm đếnngười đọc, người xem một cách thành thực để hiểu được họ muốn đọc gì,muốn xem gì hay nói khác đi là phải hiểu được tâm lý tiếp nhận tác phẩm báochí Khi viết người phóng viên phải thường xuyên đặt cho mình câu hỏi: viếtcho ai ? (đối tượng báo chí hướng tới), viết cái gì? (mục đích) và viết như thếnào? (cách thức) Có đặt ra câu hỏi như vậy thì mới xác định được nội dungviết phù hợp, cách diễn đạt phù hợp để thích ứng với nhu cầu và trình độ hiểubiết của công chúng

Nếu như trước đây, thông tin báo chí mang tính áp đặt một chiều thìhiện nay khi xã hội phát triển, nhu cầu tương tác trên báo chí ngày càng caonên thông tin của báo chí đã được khai thác, chuyển tải theo hướng đa chiều

và thu hút được sự quan tâm của khán giả hơn Điều này tạo cho công việc vàtrách nhiệm của người phóng viên càng nặng nề hơn do phải nắm bắt nhu cầu,tâm lý của công chúng để có những bài viết hay, thiết thực với cách thể hiệnphù hợp với nhu cầu thông tin của công chúng

Phóng viên viết về mảng nông nghiệp, nông thôn cũng giống nhưphóng viên viết các mảng khác phải am hiểu, nắm được quan điểm, chủtrương đường lối, chính sách của Tỉnh ủy, UBND Thông qua tác phẩm báochí của mình để thông tin lại cho người nông dân, họ sẽ tiếp nhận thông tin và

có việc làm, hành động cần thiết, phù hợp với chủ trương của Tỉnh ủy, UBNDtỉnh Trong quá trình lao động sáng tạo của mình, người phóng viên viết về

Ngày đăng: 18/05/2016, 01:16

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Hoàng Anh (2003), Một số vấn đề về sử dụng ngôn ngữ trên báo chí, NXB Lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàng Anh (2003), "Một số vấn đề về sử dụng ngôn ngữ trên báo chí
Tác giả: Hoàng Anh
Nhà XB: NXBLao động
Năm: 2003
3. PGS.TS Nguyễn Văn Bích (2007), Nông nghiệp nông thôn Việt Nam sau hai mươi năm đổi mới, NXB Chính trị Quốc Gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: PGS.TS Nguyễn Văn Bích (2007), "Nông nghiệp nông thôn Việt Nam sauhai mươi năm đổi mới
Tác giả: PGS.TS Nguyễn Văn Bích
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc Gia
Năm: 2007
4. PTS Nguyễn Văn Bích - KS Chu Tiến Quang (1996), Chính sách kinh tế và vai trò của nó đối với phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn Việt Nam, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: PTS Nguyễn Văn Bích - KS Chu Tiến Quang (1996), "Chính sách kinh tếvà vai trò của nó đối với phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn ViệtNam
Tác giả: PTS Nguyễn Văn Bích - KS Chu Tiến Quang
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 1996
5. TS Hoàng Đình Cúc - TS Đức Dũng chủ biên (2007), Những vấn đề của báo chí hiện đại, NXB Lý luận chính trị, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: TS Hoàng Đình Cúc - TS Đức Dũng chủ biên (2007), "Những vấn đề củabáo chí hiện đại
Tác giả: TS Hoàng Đình Cúc - TS Đức Dũng chủ biên
Nhà XB: NXB Lý luận chính trị
Năm: 2007
6. Claudia Mast (2004), Truyền thông đại chúng - Những kiến thức cơ bản, NXB Thông tấn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Claudia Mast (2004), "Truyền thông đại chúng - Những kiến thức cơ bản
Tác giả: Claudia Mast
Nhà XB: NXB Thông tấn
Năm: 2004
7. Claudia Mast (2004), Truyền thông đại chúng - Công tác biên tập, NXB Thông tấn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Claudia Mast (2004), "Truyền thông đại chúng - Công tác biên tập
Tác giả: Claudia Mast
Nhà XB: NXBThông tấn
Năm: 2004
8. PGS.TS Đức Dũng (2010), Báo chí & Đào tạo báo chí, NXB Thông tấn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: PGS.TS Đức Dũng (2010), "Báo chí & Đào tạo báo chí
Tác giả: PGS.TS Đức Dũng
Nhà XB: NXB Thông tấn
Năm: 2010
9. Đức Dũng (2002), Sáng tạo tác phẩm báo chí, NXB Văn hóa - Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đức Dũng (2002), "Sáng tạo tác phẩm báo chí
Tác giả: Đức Dũng
Nhà XB: NXB Văn hóa - Thông tin
Năm: 2002
10. Nguyễn Văn Dững (chủ biên), (2006), Truyền thông - lý thuyết và kỹ năng cơ bản, NXB Lý luận chính trị, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Văn Dững (chủ biên), (2006), "Truyền thông - lý thuyết và kỹnăng cơ bản
Tác giả: Nguyễn Văn Dững (chủ biên)
Nhà XB: NXB Lý luận chính trị
Năm: 2006
11. PGS.TS Nguyễn Văn Dững (chủ biên), nhà báo Hữu Thọ, TS Nguyễn Thị Thoa, ThS Lê Thanh Xuân (2006), Tác phẩm báo chí (tập 2), NXB Lý luận chính trị, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: PGS.TS Nguyễn Văn Dững (chủ biên), nhà báo Hữu Thọ, TS Nguyễn ThịThoa, ThS Lê Thanh Xuân (2006), "Tác phẩm báo chí (tập 2)
Tác giả: PGS.TS Nguyễn Văn Dững (chủ biên), nhà báo Hữu Thọ, TS Nguyễn Thị Thoa, ThS Lê Thanh Xuân
Nhà XB: NXB Lýluận chính trị
Năm: 2006
12. Hà Đăng (2002), Nâng cao năng lực phẩm chất phóng viên báo chí trong thời kỳ CNH - HĐH, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hà Đăng (2002), "Nâng cao năng lực phẩm chất phóng viên báo chí trongthời kỳ CNH - HĐH
Tác giả: Hà Đăng
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2002
13. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991): Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảng Cộng sản Việt Nam (1991): "Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lầnthứ VII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 1991
14. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996): Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảng Cộng sản Việt Nam (1996): "Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lầnthứ VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 1996
15. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001): Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảng Cộng sản Việt Nam (2001): "Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lầnthứ IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2001
17. Đảng cộng sản Việt nam (2008), Văn kiện Hội nghị lần thứ 7, Ban chấp hành Trung ương khóa X, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảng cộng sản Việt nam (2008), "Văn kiện Hội nghị lần thứ 7, Ban chấphành Trung ương khóa X, NXB
Tác giả: Đảng cộng sản Việt nam
Nhà XB: NXB "Chính trị Quốc gia
Năm: 2008
18. Đài PT-TH Hưng Yên (2007), Báo cáo tổng kết 10 năm tái lập (1997 - 2007) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đài PT-TH Hưng Yên (2007)
Tác giả: Đài PT-TH Hưng Yên
Năm: 2007
19. TS. Nguyễn Tiến Đức (2004), Phương pháp nghiên cứu khoa học, NXB Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: TS. Nguyễn Tiến Đức (2004), "Phương pháp nghiên cứu khoa học
Tác giả: TS. Nguyễn Tiến Đức
Nhà XB: NXBThống kê
Năm: 2004
20. Đinh Quang Hạnh (2002), Công tác tuyên truyền vấn đề nông nghiệp nông thôn trên sóng truyền hình Việt Nam, Luận văn thạc sỹ Báo chí, Phân viện Báo chí và Tuyên truyền, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đinh Quang Hạnh (2002), "Công tác tuyên truyền vấn đề nông nghiệpnông thôn trên sóng truyền hình Việt Nam
Tác giả: Đinh Quang Hạnh
Năm: 2002
21. Đinh Thúy Hằng (2009), Truyền hình trong xã hội hiện đại, Giáo trình Học viện Báo chí và Tuyên truyền, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đinh Thúy Hằng (2009), "Truyền hình trong xã hội hiện đại
Tác giả: Đinh Thúy Hằng
Năm: 2009
22. Vũ Quang Hào (2004), Ngôn ngữ báo chí, NXB Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vũ Quang Hào (2004), "Ngôn ngữ báo chí
Tác giả: Vũ Quang Hào
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia
Năm: 2004

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

BẢNG TỔNG HỢP KHẢO SÁT CÁC TIN, BÀI TRÊN BÁO HƯNG - Luận văn thạc sĩ  báo chí học  Thông tin khoa học kỹ thuật phục vụ phát triển kinh tế nông nghiệp nông thôn trên báo chí hưng yên hiện nay
BẢNG TỔNG HỢP KHẢO SÁT CÁC TIN, BÀI TRÊN BÁO HƯNG (Trang 112)
Bảng 1: Tương quan giữa tuổi của NTL và mục đích nghe xem đài PTTH Hưng Yên (%) - Luận văn thạc sĩ  báo chí học  Thông tin khoa học kỹ thuật phục vụ phát triển kinh tế nông nghiệp nông thôn trên báo chí hưng yên hiện nay
Bảng 1 Tương quan giữa tuổi của NTL và mục đích nghe xem đài PTTH Hưng Yên (%) (Trang 122)
Bảng 3: Tương quan giữa tuổi của NTL và mục đích đọc báo Hưng Yên (%) - Luận văn thạc sĩ  báo chí học  Thông tin khoa học kỹ thuật phục vụ phát triển kinh tế nông nghiệp nông thôn trên báo chí hưng yên hiện nay
Bảng 3 Tương quan giữa tuổi của NTL và mục đích đọc báo Hưng Yên (%) (Trang 122)
Bảng 6: Đánh giá hình thức thông tin KHKT phục vụ phát triển KT NN  NT (%) - Luận văn thạc sĩ  báo chí học  Thông tin khoa học kỹ thuật phục vụ phát triển kinh tế nông nghiệp nông thôn trên báo chí hưng yên hiện nay
Bảng 6 Đánh giá hình thức thông tin KHKT phục vụ phát triển KT NN NT (%) (Trang 123)
Bảng   5 : Đánh giá Mức độ các thông tin KHKT phục vụ KT nông nghiệp nông thôn(%) - Luận văn thạc sĩ  báo chí học  Thông tin khoa học kỹ thuật phục vụ phát triển kinh tế nông nghiệp nông thôn trên báo chí hưng yên hiện nay
ng 5 : Đánh giá Mức độ các thông tin KHKT phục vụ KT nông nghiệp nông thôn(%) (Trang 123)
Bảng 4 :  Đánh giá nội dung truyền thông KHKT phục vụ KT NNNT (%) - Luận văn thạc sĩ  báo chí học  Thông tin khoa học kỹ thuật phục vụ phát triển kinh tế nông nghiệp nông thôn trên báo chí hưng yên hiện nay
Bảng 4 Đánh giá nội dung truyền thông KHKT phục vụ KT NNNT (%) (Trang 123)
Bảng 8  : Sự cần thiết tham gia phối hợp của đội ngũ cán bộ trong lĩnh vực kinh tế nông nghiệp nông thôn (%) - Luận văn thạc sĩ  báo chí học  Thông tin khoa học kỹ thuật phục vụ phát triển kinh tế nông nghiệp nông thôn trên báo chí hưng yên hiện nay
Bảng 8 : Sự cần thiết tham gia phối hợp của đội ngũ cán bộ trong lĩnh vực kinh tế nông nghiệp nông thôn (%) (Trang 124)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w