1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Pháp luật điều chỉnh nghĩa vụ của người bán trong hợp đồng mua bán hàng hóa và thực tiễn áp dụng tại Công ty CP Đầu tư và phát triển Đô thị Long Giang

55 348 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 55
Dung lượng 111,24 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỤC LỤC TÓM LƯỢC i LỜI CẢM ƠN ii MỤC LỤC iii DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT vi LỜI MỞ ĐẦU 1 1.Tính cấp thiết của đề tài 1 2.Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan 2 3.Xác lập và tuyên bố vấn đề nghiên cứu 4 4.Đối tượng, mục tiêu và phạm vi nghiên cứu 4 5.Phương pháp nghiên cứu 5 6.Kết cấu khóa luận tốt nghiệp 6 CHƯƠNG 1: NHỮNG LÝ LUẬN CHUNG VÊ PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH NGHĨA VỤ CỦA NGƯỜI BÁN TRONG HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA 7 1.1. Những lý luận cơ bản về hợp đồng mua bán hàng hóa và nghĩa vụ điều chỉnh của người bán trong hợp đồng mua bán hàng hóa 7 1.1.1. Những lý luận cơ bản về hợp đồng mua bán hàng hóa 7 1.1.1.1. Khái niệm về hợp đồng mua bán hàng hóa 7 1.1.1.2. Đặc điểm và vai trò của hợp đồng mua bán hàng hóa 9 1.1.1.3. Hình thức của hợp đồng mua bán hàng hóa 10 1.1.1.4. Nội dung cơ bản của hợp đồng mua bán hàng hóa 11 1.1.2. Nghĩa vụ của người bán trong hợp đồng mua bán hàng hóa 12 1.1.2.1. Khái niệm và đặc điểm nghĩa vụ của người bán trong hợp đồng mua bán hàng hóa 12 1.1.2.2. Sự cần thiết phải quy định nghĩa vụ của người bán trong hợp đồng mua bán hàng hóa 13 1.2. Cơ sở ban hành và pháp luật điều chỉnh nghĩa vụ của người bán trong hợp đồng mua bán hàng hóa 14 1.2.1. Khái niệm và cơ sở ban hành pháp luật điều chỉnh nghĩa vụ của người bán trong hợp đồng mua bán hàng hóa 14 1.2.2. Nội dung của pháp luật điều chỉnh nghĩa vụ của người bán trong hợp đồng mua bán hàng hóa 16 1.2.2.1. Nghĩa vụ giao hàng, chứng từ theo thỏa thuận trong hợp đồng 16 1.2.2.2. Nghĩa vụ kiểm tra hàng hóa trước khi giao hàng 17 1.2.2.3. Nghĩa vụ đảm bảo quyền sở hữu đối với hàng hóa mua bán 18 1.2.2.4. Nghĩa vụ chịu rủi ro đối với hàng hóa 18 1.2.2.5.Các nghĩa vụ khác 19 1.3. Nguyên tắc xác định pháp luật điều chỉnh nghĩa vụ của người bán trong hợp đồng mua bán hàng hóa 20 Kết luận chương 1 21 CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH NGHĨA VỤ CỦA NGƯỜI BÁN TRONG HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA TẠI CÔNG TY CP ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN ĐÔ THỊ LONG GIANG 22 2.1. Tổng quan tình hình và các yếu tố ảnh hưởng đến pháp luật điều chỉnh nghĩa vụ của người bán trong hợp đồng mua bán hàng hóa 22 2.1.1. Tổng quan tình hình pháp luật điều chỉnh nghĩa vụ của người bán trong hợp đồng mua bán hàng hóa 22 2.1.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến pháp luật điều chỉnh nghĩa vụ của người bán trong hợp đồng mua bán hàng hóa 23 2.2. Thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật về nghĩa vụ của người bán trong hợp đồng mua bán hàng hóa tại Công ty CP Đầu tư và Phát triển Đô thị Long Giang 24 2.2.1. Thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật về nghĩa vụ giao hàng, chứng từ theo thỏa thuận trong hợp đồng tại Công ty CP Đầu tư và Phát triển Đô thị Long Giang 24 2.2.1.1. Giao hàng đúng đối tượng 24 2.2.1.2. Giao chứng từ kèm theo hàng hóa 27 2.2.1.3. Giao hàng đúng địa điểm 28 2.2.1.4. Giao hàng đúng thời hạn 29 2.2.2. Thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật về nghĩa vụ kiểm tra hàng hóa trước khi giao hàng tại Công ty CP Đầu tư và Phát triển Đô thị Long Giang 31 2.2.3. Thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật về nghĩa vụ đảm bảo quyền sở hữu đối với hàng hóa mua bán tại Công ty CP Đầu tư và Phát triển Đô thị Long Giang 32 2.2.4. Thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật về nghĩa vụ chịu rủi ro đối với hàng hóa tại Công ty CP Đầu tư và Phát triển Đô thị Long Giang 34 2.3. Các kết luận và phát hiện qua quá trình nghiên cứu pháp luật điều chỉnh nghĩa vụ của người bán trong hợp đồng mua bán hàng hóa 37 Kết luận chương 2 38 CHƯƠNG 3: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ, GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH NGHĨA VỤ CỦA NGƯỜI BÁN TRONG HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA 39 3.1. Định hướng hoàn thiện pháp luật điều chỉnh nghĩa vụ của người bán trong hợp đồng mua bán hàng hóa 39 3.2. Một số giải pháp và đề xuất kiến nghị hoàn thiện pháp luật điều chỉnh nghĩa vụ của người bán trong hợp đồng mua bán hàng hóa 40 3.2.1. Giải pháp hoàn thiện pháp luật điều chỉnh nghĩa vụ của người bán trong hợp đồng mua bán hàng hóa đối với Nhà nước 40 3.2.2. Giải pháp hoàn thiện pháp luật điều chỉnh nghĩa vụ của người bán trong hợp đồng mua bán hàng hóa đối với Công ty CP Đầu tư và Phát triển Đô thị Long Giang 41 3.2.3. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật điều chỉnh nghĩa vụ của người bán trong hợp đồng mua bán hàng hóa 43 3.3. Những vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu 44 Kết luận chương 3 46 KẾT LUẬN CHUNG 47 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 1

TÓM LƯỢC

Trước thềm hội nhập của nền kinh tế mới Việt Nam đã và đang thực hiện pháttriển mạnh mẽ mô hình kinh tế hàng hóa, theo đó hầu hết các quan hệ kinh tế đượcthực hiện trên thị trường dưới hình thái hàng hóa và dịch vụ, vận động theo cơ chế thịtrường dưới sự quản lí của Nhà nước Các hoạt động mua bán, trao đổi, chuyển giaohàng hóa, dịch vụ trong và ngoài nước ngày càng diễn ra sôi nổi làm gia tăng số lượng

và chất lượng giao dịch hợp đồng Bởi vậy, để thúc đẩy nền kinh tế theo định hướngcạnh tranh lành mạnh, nâng cao vai trò, trách nhiệm của các bên đặc biệt là nghĩa vụcủa người bán cần có một môi trường pháp lý ổn định, đảm bảo an toàn pháp lý và lợiích của các bên chủ thể khi tham gia giao kết hợp đồng Xuất phát từ cơ sở lý luậncũng như quá trình thực tập tại Công ty CP Đầu tư và phát triển Đô thị Long Giang, tôi

đã đúc rút nhiều kiến thức thực tế và có cái nhìn chi tiết hơn về hệ thống các quy phạmpháp luật về mua bán hàng hóa nói chung và pháp luật điều chỉnh nghĩa vụ của người

bán nói riêng trong đề tài khóa luận: “Pháp luật điều chỉnh nghĩa vụ của người bán trong hợp đồng mua bán hàng hóa và thực tiễn áp dụng tại Công ty CP Đầu tư và phát triển Đô thị Long Giang”.

Bài khóa luận với nội dung ba chương được tóm lược như sau: Chương 1 lànhững lý luận chung về pháp luật điều chỉnh nghĩa vụ của người bán trong hợp đồngmua bán hàng hóa Chương này đã tiếp cận đến khái niệm, đặc điểm, nội dung cơ bản,vai trò cũng như các nguồn luật điều chỉnh của hợp đồng mua bán hàng hóa và đặcbiệt chú trọng tìm hiểu nghĩa vụ của người bán trong hợp đồng mua bán hàng hóa Từnhững lý luận chung đó mà khóa luận đã có những phân tích sâu sắc về thực trạngpháp luật và áp dụng thực tiễn tại Chương 2 Qua đó, ở Chương 2 khóa luận đã phầnnào giải đáp những khó khăn, thử thách, có những đánh giá đa chiều về các quy địnhhiện hành điều chỉnh nghĩa vụ của người bán trong các hợp đồng mua bán hàng hóa.Đồng thời, tìm ra những hạn chế trong những quy định pháp luật và thực tiễn tại Công

ty CP Đầu tư và Phát triển Đô thị Long Giang Ở chương 3, bài khóa luận đã đề xuấtcác định hướng hoàn thiện pháp luật đồng thời đưa ra các kiến nghị và giải pháp hoànthiện pháp luật điều chỉnh nghĩa vụ của người bán trong hợp đồng mua bán hàng hóacho Quý Công ty nói riêng và cho hệ thống pháp luật nhà nước nói chung

Với những lý luận và phân tich cụ thể hy vọng bài khóa luận sẽ mang lại cái nhìntổng quan hơn về hệ thống các quy phạm pháp luật về nghĩa vụ của người bán tronghợp đồng mua bán hàng hóa cho các doanh nghiệp ở Việt Nam, đồng thời có địnhhướng xây dựng hành lang pháp lý bền vững và thông thoáng trước ngưỡng cửa hộinhập kinh tế như hiện nay

Trang 2

Để có được kết quả như vậy, em xin chân thành cảm ơn Quý thầy, cô bộ môn đãnhiệt huyết trang bị những kiến thức pháp luật nền tảng để em có những nhận thứcchuyên môn và có cái nhìn tổng quan hệ thống pháp luật nước nhà, qua đó biết vậndụng linh hoạt vào thực tiễn cũng như quá trình nghiên cứu làm khóa luận của mình.Đặc biệt, em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến giáo viên, Th.S Nguyễn Thị Nguyệt –người đã đồng hành, hỗ trợ và hướng dẫn tận tình em trong thời gian thực hiện khóaluận.

Cuối cùng, em xin chân thành cảm ơn Ban Giám đốc, các phòng Kế toán, phòngNhân sự và toàn thể nhân viên tại Quý Công ty CP Đầu tư và Phát triển Đô thị LongGiang đã cho em cơ hội được làm quen và tiếp cận công việc cũng như luôn sẵn sàngcung cấp, bổ sung thông tin, số liệu giúp em hoàn thành tốt bài khóa luận

Trong quá trình tìm hiểu và nghiên cứu, do kinh nghiệm thực tiễn cũng như thờigian thực tập còn hạn chế nên bài khóa luận không tránh khỏi những thiếu sót Kínhmong nhận được sự đóng góp của Quý thầy cô trong Khoa để bài khóa luận của emđược hoàn thiện hơn nữa để góp phần tạo tiếng nói trong việc xây dựng và đổi mới cơchế pháp luật cho Quý Công ty CP Đầu tư và phát triển Đô thị Long Giang

Em xin chân thành cảm ơn!

Trang 3

MỤC LỤC

TÓM LƯỢC i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT vi

LỜI MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan 2

3 Xác lập và tuyên bố vấn đề nghiên cứu 4

4 Đối tượng, mục tiêu và phạm vi nghiên cứu 4

5 Phương pháp nghiên cứu 5

6 Kết cấu khóa luận tốt nghiệp 6

CHƯƠNG 1: NHỮNG LÝ LUẬN CHUNG VÊ PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH NGHĨA VỤ CỦA NGƯỜI BÁN TRONG HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA 7 1.1 Những lý luận cơ bản về hợp đồng mua bán hàng hóa và nghĩa vụ điều chỉnh của người bán trong hợp đồng mua bán hàng hóa 7

1.1.1 Những lý luận cơ bản về hợp đồng mua bán hàng hóa 7

1.1.1.1 Khái niệm về hợp đồng mua bán hàng hóa 7

1.1.1.2 Đặc điểm và vai trò của hợp đồng mua bán hàng hóa 9

1.1.1.3 Hình thức của hợp đồng mua bán hàng hóa 10

1.1.1.4 Nội dung cơ bản của hợp đồng mua bán hàng hóa 11

1.1.2 Nghĩa vụ của người bán trong hợp đồng mua bán hàng hóa 12

1.1.2.1 Khái niệm và đặc điểm nghĩa vụ của người bán trong hợp đồng mua bán hàng hóa 12

1.1.2.2 Sự cần thiết phải quy định nghĩa vụ của người bán trong hợp đồng mua bán hàng hóa 13

1.2 Cơ sở ban hành và pháp luật điều chỉnh nghĩa vụ của người bán trong hợp đồng mua bán hàng hóa 14

1.2.1 Khái niệm và cơ sở ban hành pháp luật điều chỉnh nghĩa vụ của người bán trong hợp đồng mua bán hàng hóa 14

1.2.2 Nội dung của pháp luật điều chỉnh nghĩa vụ của người bán trong hợp đồng mua bán hàng hóa 16

1.2.2.1 Nghĩa vụ giao hàng, chứng từ theo thỏa thuận trong hợp đồng 16

1.2.2.2 Nghĩa vụ kiểm tra hàng hóa trước khi giao hàng 17

Trang 4

1.2.2.3 Nghĩa vụ đảm bảo quyền sở hữu đối với hàng hóa mua bán 18

1.2.2.4 Nghĩa vụ chịu rủi ro đối với hàng hóa 18

1.2.2.5.Các nghĩa vụ khác 19

1.3 Nguyên tắc xác định pháp luật điều chỉnh nghĩa vụ của người bán trong hợp đồng mua bán hàng hóa 20

Kết luận chương 1 21

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH NGHĨA VỤ CỦA NGƯỜI BÁN TRONG HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA TẠI CÔNG TY CP ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN ĐÔ THỊ LONG GIANG 22

2.1 Tổng quan tình hình và các yếu tố ảnh hưởng đến pháp luật điều chỉnh nghĩa vụ của người bán trong hợp đồng mua bán hàng hóa 22

2.1.1 Tổng quan tình hình pháp luật điều chỉnh nghĩa vụ của người bán trong hợp đồng mua bán hàng hóa 22

2.1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến pháp luật điều chỉnh nghĩa vụ của người bán trong hợp đồng mua bán hàng hóa 23

2.2 Thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật về nghĩa vụ của người bán trong hợp đồng mua bán hàng hóa tại Công ty CP Đầu tư và Phát triển Đô thị Long Giang 24

2.2.1 Thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật về nghĩa vụ giao hàng, chứng từ theo thỏa thuận trong hợp đồng tại Công ty CP Đầu tư và Phát triển Đô thị Long Giang 24

2.2.1.1 Giao hàng đúng đối tượng 24

2.2.1.2 Giao chứng từ kèm theo hàng hóa 27

2.2.1.3 Giao hàng đúng địa điểm 28

2.2.1.4 Giao hàng đúng thời hạn 29

2.2.2 Thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật về nghĩa vụ kiểm tra hàng hóa trước khi giao hàng tại Công ty CP Đầu tư và Phát triển Đô thị Long Giang 31

2.2.3 Thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật về nghĩa vụ đảm bảo quyền sở hữu đối với hàng hóa mua bán tại Công ty CP Đầu tư và Phát triển Đô thị Long Giang 32

2.2.4 Thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật về nghĩa vụ chịu rủi ro đối với hàng hóa tại Công ty CP Đầu tư và Phát triển Đô thị Long Giang 34

2.3 Các kết luận và phát hiện qua quá trình nghiên cứu pháp luật điều chỉnh nghĩa vụ của người bán trong hợp đồng mua bán hàng hóa 37

Kết luận chương 2 38

Trang 5

CHƯƠNG 3: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ, GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH NGHĨA VỤ CỦA NGƯỜI BÁN TRONG HỢP ĐỒNG MUA BÁN

HÀNG HÓA 39

3.1 Định hướng hoàn thiện pháp luật điều chỉnh nghĩa vụ của người bán trong hợp đồng mua bán hàng hóa 39

3.2 Một số giải pháp và đề xuất kiến nghị hoàn thiện pháp luật điều chỉnh nghĩa vụ của người bán trong hợp đồng mua bán hàng hóa 40

3.2.1 Giải pháp hoàn thiện pháp luật điều chỉnh nghĩa vụ của người bán trong hợp đồng mua bán hàng hóa đối với Nhà nước 40

3.2.2 Giải pháp hoàn thiện pháp luật điều chỉnh nghĩa vụ của người bán trong hợp đồng mua bán hàng hóa đối với Công ty CP Đầu tư và Phát triển Đô thị Long Giang 41

3.2.3 Kiến nghị hoàn thiện pháp luật điều chỉnh nghĩa vụ của người bán trong hợp đồng mua bán hàng hóa 43

3.3 Những vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu 44

Kết luận chương 3 46

KẾT LUẬN CHUNG 47 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 7

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Qua nhiều giai đoạn cải cách kinh tế mạnh mẽ trong hơn hai thập kỷ đổi mới vừaqua đã mang lại cho Việt Nam những thành quả đáng kể Việt Nam đã tạo ra được mộtmôi trường kinh tế thị trường có tính cạnh tranh và năng động Nền kinh tế hàng hóanhiều thành phần được khuyến khích phát triển, tạo nên tính hiệu quả trong việc huyđộng các nguồn lực xã hội phục vụ cho tăng trưởng kinh tế Các quan hệ kinh tế đốingoại đã trở nên thông thoáng hơn, thu hút được ngày càng nhiều các nguồn vốn đầu

tư trực tiếp nước ngoài, mở rộng thị trường cho hàng hóa xuất khẩu và phát triển thêmmột số lĩnh vực hoạt động tạo ra nguồn thu ngoại tệ ngày càng lớn Theo đó,tổng sảnphẩm trong nước (GDP) quý I/2016 ước tính tăng 5,46% so với cùng kỳ năm trước,trong đó khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 6,72%, đóng góp 2,33 điểm phần trămvào tăng trưởng chung; khu vực dịch vụ tăng 6,13%, đóng góp 2,48 điểm phần trăm;riêng khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản giảm 1,23%, làm giảm 0,16 điểm phầntrăm mức tăng trưởng chung Tăng trưởng quý I năm nay cao hơn mức tăng của quý Icác năm 2012-2014, nhưng có dấu hiệu chững lại so với mức tăng 6,12% của cùng kỳnăm 2015 [1] Mặt khác, dòng tiền chảy vào Việt Nam mạnh khiến nhu cầu tiêu dùng,xây dựng tăng cao, gây bùng nổ thị trường chứng khoán và đặc biệt thị trường BĐSthời gian gần đây Năm 2015 ước tính khoảng 18.000 giao dịch BĐS thành công.Trong đó, 6 tháng đầu năm tại Hà Nội và TP Hồ Chí Minh, lượng giao dịch thànhcông đều tăng gấp 2,5 lần lượng giao dịch so với cùng kỳ năm 2014[2]

.Hiện nay, Việt Nam đang ở trước thềm xu thế hội nhập kinh tế quốc tế nói chung

và TPP nói riêng, nền kinh tế nước ta đã và đang có dấu hiệu phục hồi tương đối rõnét, triển vọng 2016 tiếp tục có tiến bộ, giữ được ổn định kinh tế vĩ mô ngắn hạn.Cùng với sự lớn mạnh của nền kinh tế trước ngưỡng cửa hội nhập hiện nay thì nhu cầutrao đổi, mua bán hàng hóa giữa các thương nhân ngày càng gia tăng và ngày càng cósức lan tỏa mạnh mẽ Bởi vậy, từ công đoạn thỏa thuận cho đến khi giao kết và tất cảnhững vấn đề phát sinh từ các giao dịch mua bán hàng hòa sẽ được kiểm soát tốt nhấtbằng các hợp đồng mua bán đầy đủ, hợp lý và có sự rà soát kỹ lưỡng các quy định củapháp luật

Thực tế, trong quá trình thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa còn tồn tại khánhiều bất cập Những quy định về nghĩa vụ của người bán còn chưa rõ ràng dẫn đếntình trạng lợi dụng, gian lận, khả năng thực hiện của hợp đồng không cao gây thấtthoát cho doanh nghiệp Đặc biệt trong lĩnh vực kinh doanh BĐS, mặc dù đây còn là

Trang 8

lĩnh vực khá non trẻ nhưng có vị trí chiến lược quan trọng đối với nền kinh tế quốcdân Theo đó, để hoàn thiện đồng bộ thể chế kinh doanh BĐS Nhà nước đã xây dựng

và hoàn thiện khung pháp luật về kinh doanh BĐS nhằm hạn chế rủi ro và tăng khảnăng cạnh tranh giữa các doanh nghiệp cùng ngành, trong đó chú trọng những quyđịnh về nghĩa vụ của người bán trong tất cả các hợp đồng mua bán hàng hóa

Đồng thời, xuất phát từ thời gian được thực tập tại Công ty CP Đầu tư và Pháttriển Đô thị Long Giang tôi thấy hàng năm Công ty kí kết rất nhiều dự án đấu thầutrong lĩnh vực BĐS, phát sinh nhiều hợp đồng mua bán nguyên vật liệu xây dựng,nhiều hợp đồng kí kết mua – bán, chuyển giao dự án…Nhận thức vấn đề pháp luậttrong hợp đồng mua bán hàng hóa là điều tất yếu và để có cái nhìn tổng quan về khungpháp lí quy định nghĩa vụ của người bán trong hợp đồng mua bán hàng hóa từ gócnhìn của một doanh nghiệp cụ thể, để có những phân tích, cập nhật rõ nét những biếnchuyển trong hoạt động mua bán trước ngưỡng cửa kinh tế hội nhập, giải đáp nhữngvấn đề nóng, bức xúc về quyền của người bán em đã mạnh dạn nghiên cứu sâu hơn và

đề xuất những kiến nghị nhằm xây dựng và hoàn thiện khung pháp luật cho Công ty

CP Đầu tư và Phát triển Đô thị Long Giang

2 Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan

Những năm qua có nhiều tác phẩm như bài báo, bài tham luận, luận văn, luận án,chuyên đề đề cập đến pháp luật điều chỉnh nghĩa vụ của người bán trong hợp đồngmua bán hàng hóa, nghiên cứu về thuộc tính, bất cập trong những quy định về nghĩa

vụ của người bán, thực trạng và đề xuất các kiến nghị giải pháp nhằm hoàn thiện hệthống pháp luật nói chung và pháp luật điều chỉnh ngĩa vụ của người bán nói riêng.Một số tác phẩm đề cập đến đề tài cần được quan tâm như:

Lại Cẩm Linh (2014), Chế độ pháp lý về hợp đồng mua bán hàng hóa ở Việt Namhiện nay, bài nghiên cứu khoa học, trường Đại học Luật Hà Nội Bài viết đã đi sâuphân tích các chế độ pháp lý về hợp đồng mua bán hàng hóa gồm: những khái quátchung về hợp đồng, ký kết hợp đồng mua bán hàng hóa, những lý luận về chế độ thựchiện hợp đồng mua bán hàng hóa, trách nhiệm do vi phạm hợp đồng và giải quyếttranh chấp Bài viết cũng có những phân tích khách quan về thực tiễn pháp luật về hợpđồng mua bán hiện nay và có sự vận dụng vào thực tiễn Tuy nhiên, bài nghiên cứu chỉdừng lại phân tích lý luận mà chưa đề xuất các giải pháp hiệu quả nhằm hoàn thiệnpháp luật, đồng thời cũng chưa nêu được những bất cập pháp luật về nghĩa vụ củangười bán trong các hợp đồng mua bán hàng hóa

Nguyễn Như Phát, Lê Thị Thu Thủy (2003), Một số lý luận và thực tiễn về phápluật hợp đồng ở Việt Nam hiện nay, NXB Công an nhân dân Tác phẩm đã có những

Trang 9

nhận xét, bình luận về vấn đề hợp đồng nói chung, nghiên cứu về miễn trách nhiệmbồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng nhưng mới chỉ dừng lại ở khía cạnh nghiêncứu tổng thể, khái quát, chưa đi sâu vào nghiên cứu tất cả nghĩa vụ của người bántrong các loại hợp đồng, từ đó chưa đề cập đến thực trạng pháp luật hiện hành về nghĩa

vụ của người bán, đồng thời các phương hướng hoàn thiện pháp luật chưa có tính mớitrước ngưỡng cửa hội nhập nền kinh tế thị trường của Việt Nam nói chung và cácdoanh nghiệp kinh doanh nói riêng

Đinh Văn Trường (2015), Trách nhiệm dân sự do vi phạm hợp đồng thi công xâydựng công trình, luận văn Thạc sĩ luật học, trường Đại học Luật Hà Nội Luận văn đãtập trung nghiên cứu đặc trưng, những vi phạm hợp đồng thi công xây dựng, tráchnhiệm do vi phạm hợp đồng, nghiên cứu sâu pháp luật thực định về trách nhiệm do viphạm hợp đồng thi công xây dựng công trình và thực tiễn áp dụng Tuy nhiên, bài luậnvăn chưa đi sâu vào những bất cật của pháp luật cũng như thực trạng thực thi về nghĩa

vụ của người bán, đồng thời những giải pháp và định hướng hoàn thiện pháp luật cònchưa đáp ứng được sự đổi mới cũng như cơ chế phát triển của nền kinh tế hiện nay Các công trình nghiên cứu đã có những thành công nhất định, góp phần làm rõthêm vấn đề lý luận và thực tiễn khi áp dụng pháp luật điều chỉnh nghĩa vụ của ngườibán Song, bên cạnh đó nhiều đề tài nghiên cứu các tác giả chỉ xem xét những khíacạnh riêng biệt, mang tính tạm thời như điều kiện áp dụng, tính ưu việt, nguyên tắc,nội dung…nghĩa vụ của người bán mà chưa phân tích đầy đủ, toàn diện để giải quyếtđược căn bản những hạn chế, vướng mắc Một số công trình nghiên cứu còn chưa bắtkịp sự sửa đổi, bổ sung mới đây của pháp luật hiện hành Vì vậy, pháp luật về nghĩa vụcủa người bán cần được quan tâm, nghiên cứu sâu hơn nữa ở thời điểm hiện nay Theo đó, việc nghiên cứu pháp luật về nghĩa vụ của người bán trong hợp đồngmua bán hàng hóa là cần thiết Đề tài này tập trung vào khía cạnh pháp luật về quyềnnghĩa vụ của người bán và tập trung phân tích thực trạng tại doanh nghiệp cụ thể -Công ty CP Đô thị và Phát triển Đô thị Long Giang, điều mà doanh nghiệp cần chútrọng quan tâm không chỉ nhằm bảo về quyền lợi cho mình mà còn cho chính nhữngbạn hàng của họ Bên cạnh thực trạng pháp luật về nghĩa vụ của người bán trong hợpđồng mua bán hàng hóa, đề tài còn đưa ra thực tiễn thi hành pháp luật về nghĩa vụ củangười bán, làm rõ những bất cập của pháp luật hiện hành và đưa ra những kiến nghị,giải pháp cho bất cập đó Đồng thời qua đó cũng góp phần xây dựng khung pháp lí chophía Công ty CP Đầu tư và Phát triển Đô thị Long Giang

3 Xác lập và tuyên bố vấn đề nghiên cứu

Trang 10

Kinh tế Việt Nam đang trên đà đổi mới toàn diện, các mối quan hệ hợp tác kinhdoanh không ngừng gia tăng Đứng trước ngưỡng cửa hội nhập của nền kinh tế và sựphát triển của giao lưu mua bán hàng hóa, vấn đề về hợp đồng mua bán hàng hóa ngàycàng trở nên quan trọng Việc hoàn thiện những quy định về nghĩa vụ của người báncần được chú trọng nhằm nâng cao trách nhiệm của người bán cũng như bảo vệ quyềnlợi của người mua khi thực hiện hợp đồng.

Nhận thức được tính cấp thiết của đề tài, có thể thấy việc phân tich và đánh giá cácvấn đề liên quan đến nghĩa vụ của người bán trong các hợp đồng mua bán hàng hóa cóvai trò quan trọng trong việc cân bằng hệ thống pháp luật về mua bán hàng hóa Đồngthời, thông qua việc tiếp cận các tài nghiên cứu trước đó cùng với thời gian thực tập tạiCông ty CP Đầu tư và Phát triển Đô thị Long Giang và sự hướng dẫn tận tình của

giảng viên Th.S Nguyễn Thị Nguyệt, em đã lựa chọn đề tài: “Pháp luật điều chỉnh nghĩa vụ của người bán trong hợp đồng mua bán hàng hóa và thực tiễn áp dụng tại Công ty CP Đầu tư và phát triển Đô thị Long Giang”

Trước hết, đề tài chỉ ra được những khái niệm, đặc điểm, nội dung nền tảng vềnghĩa vụ của người bán, đồng thời đi sâu nghiên cứu những quy định pháp luật hiệnhành, có những phân tích, đánh giá cụ thể hạn chế còn tồn tại trong hệ thống các quyđịnh pháp luật và thực trạng thực thi nghĩa vụ của người bán trong hợp đồng mua bánhàng hóa Đặc biệt, đề tài chú trọng phân tích trong phạm vi doanh nghiệp với lĩnh vựckinh doanh bất động sản, nghiên cứu nghĩa vụ của người bán và thực tế tại Công ty CPĐầu tư và Phát triển Đô thị Long Giang, Trên tinh thần đó, bài khoá luận đã nêu địnhhướng sửa đổi và đề xuất nhiều giải pháp, kiến nghị hoàn thiện pháp luật điều chỉnhnghĩa vụ của người bán trong hợp đồng mua bán hàng hóa cho Nhà nước cũng nhưcho phía Công ty CP Đầu tư và Phát triển Đô thị Long Giang

4 Đối tượng, mục tiêu và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu:

Các quy định của pháp luật điều chỉnh nghĩa vụ của người bán trong hợp đồngmua bán hàng hóa và thực tiễn áp dụng tại Công ty CP Đầu tư và Phát triển LongGiang

Mục tiêu nghiên cứu:

-Tìm hiểu những vấn đề lý luận về hợp đồng mua bán hàng hóa, nghĩa vụ củangười bán và pháp luật điều chỉnh nghĩa vụ của người bán trong hợp đồng mua bánhàng hóa theo hệ thống pháp luật của Việt Nam hiện nay đồng thời có sự so sánh, nhìnnhận với pháp luật và những quy định chung của quốc tế

Trang 11

- Phân tích và đánh giá thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật điềuchỉnh nghĩa vụ của người bán trong hợp đồng mua bán hàng hóa Việt Nam nói chung

và đặc biệt nghiên cứu sâu tại Công ty CP Đầu tư và Phát triển Đô thị Long Giang

- Nêu định hướng, quan điểm, nhóm giải pháp phù hợp nhằm giảm thiểu, khắcphục những bất cập trong thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật điềuchỉnh nghĩa vụ của người bán trong hợp đồng mua bán hàng hóa tại Công ty CP Đầu

tư và Phát triển Đô thị Long Giang

Phạm vi nghiên cứu:

Nội dung nghiên cứu: Pháp luật điều chỉnh nghĩa vụ của người bán trong hợp đồng

mua bán hàng hóa và thực tiễn áp dụng tại Công ty CP Đầu tư và phát triển Đô thịLong Giang (bao gồm các vấn đề lý luận, pháp luật điều chỉnh nghĩa vụ của người bántrong hợp đồng mua bán hàng hóa, thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luậttại Công ty CP Đầu tư và phát triển Đô thị Long Giang, cùng một số đề xuất kiến nghị,giải pháp)

Không gian nghiên cứu: Công ty CP Đầu tư và Phát triển Đô thị Long Giang nói

riêng cũng như các cơ sở kinh doanh khác, các tổ chức, cá nhân nói chung…đóng vaitrò là người bán trong hợp đồng mua bán hàng hóa

Thời gian nghiên cứu: Từ năm 2013 đến năm 2016.

5 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp thu thập thông tin

Thu thập nguồn dữ liệu thứ cấp thông qua các số liệu thống kê hàng tháng từphòng kinh doanh và phát triển, phòng marketing, phòng tài chính…của Công ty Đây

là nguồn thông tin nội bộ được quản lí và cung cấp một cách chính xác nhất giá trị củatừng hợp đồng, những quy định chuẩn mực, rõ ràng qua từng điều khoản, quyền vànghĩa vụ của các bên trong hợp đồng khi Công ty thực hiện giao dịch

Bên cạnh đó bài nghiên cứu còn sử dụng một số dữ liệu sơ cấp thu thập được bằngnhiều cách khác nhau như quan sát, điều tra

Phương pháp xử lý thông tin

Với dữ liệu đã thu thập được, để nghiên cứu khái quát các nội dung về lý luận vàthực tiễn bài nghiên cứu đã vận dụng linh hoạt các phương pháp duy vật lịch sử, biệnchứng, so sánh và phân tích để có sự nhìn nhận trên nhiều phương diện pháp luật Cụthể:

Trang 12

- Phương pháp duy vật lịch sử: Tìm hiểu quá trình hình thành và phát triển của hợpđồng mua bán hàng hóa Theo đó, nghiên cứu trên phương diện nghĩa vụ của ngườimua trong hợp đồng mua bán hàng hóa

- Phương pháp biện chứng: Nghiên cứu pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóanói chung và những quy định về nghĩa vụ của người bán nói riêng trong sự thay đổikhông ngừng của nó qua những lần sửa đổi, bổ sung của hệ thống pháp luật

- Phương pháp so sánh, đối chiếu: Không chỉ nghiên cứu pháp luật điều chỉnhnghĩa vụ của người bán trong hợp đồng mua bán hàng hóa tại Công ty CP Đầu tư vàPhát triển Đô thị Long Giang, đề tài còn đối chiếu và so sánh pháp luật điều chỉnhnghĩa vụ của người bán trong hợp đồng mua bán hàng hiện nay với chính nó thời giantrước lần sửa đổi bổ sung gần đây nhất tại các văn bản pháp luật như Công ước viên

1980, Luật Dân sự hay Luật thương mại Đồng thời, để có cái nhìn tổng quan về hệthống các quy phạm pháp luật, đề tài còn so sánh với một số văn bản pháp luật cácnước Nga, Pháp để có những phân tích khách quan và rút ra những bài học kinhnghiệm nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam và khung pháp lý chung cho các doanhnghiệp trong lĩnh vực mua bán hàng hóa

- Phương pháp phân tích, tổng hợp: Với những phân tích, đánh giá được đúc kết từviệc sử dụng các phương pháp trên cùng với những kiến thức đã học đề tài đã đưa ranhững quan điểm, định hướng cá nhân và đề xuất những kiến nghị nhằm xây dựng vàphát triển những quy định về nghĩa vụ của bán trong hợp đồng mua bán hàng hóa tạiCông ty CP Đầu tư và Phát triển Đô thị Long Giang nói riêng và hành lang pháp lí nóichung

6 Kết cấu khóa luận tốt nghiệp

Đề tài khóa luận bao gồm 3 phần chính: mở đầu, nội dung và kết luận Trong đó,

kết cấu phần nội dung của bài gồm 3 chương:

Chương 1: Pháp luật điều chỉnh nghĩa vụ của người bán trong hợp đồng mua bán

hàng hóa

Chương 2: Thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật điều chỉnh nghĩa

vụ của người bán trong hợp đồng mua bán hàng hóa tại công ty CP Đầu tư và Pháttriển đô thị Long Giang

Chương 3: Một số kiến nghị, giải pháp hoàn thiện pháp luật điều chỉnh nghĩa vụ

của người bán trong hợp đồng mua bán hàng hóa

Trang 13

NỘI DUNG CHƯƠNG 1: NHỮNG LÝ LUẬN CHUNG VÊ PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH NGHĨA VỤ CỦA NGƯỜI BÁN TRONG HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA 1.1 Những lý luận cơ bản về hợp đồng mua bán hàng hóa và nghĩa vụ điều chỉnh của người bán trong hợp đồng mua bán hàng hóa

1.1.1 Những lý luận cơ bản về hợp đồng mua bán hàng hóa

1.1.1.1 Khái niệm về hợp đồng mua bán hàng hóa

Ở Việt Nam, hợp đồng mua bán hàng hóa được ra đời cùng với sự chuyển đổi củanền kinh tế Xuất phát điểm từ một nền kinh tế nhiều thành phần phát triển bình đẳngtheo định hướng xã hội chủ nghĩa, nên trong chặng đường xây dựng, thực hiện và pháttriển kế hoạch mở rộng quyền tự chủ kinh doanh của mình thì các đơn vị kinh tế thuộcmọi thành phần kinh tế khác nhau đều phải dựa vào các quan hệ hợp đồng mua bánhàng hóa Theo đó, hợp đồng mua bán được hình thành rất lâu đời, có vai trò tất yếu

và luôn song hành với bất kì doanh nghiệp nào trên trường kinh doanh trước ngưỡngcửa hội nhập

Như C.Mac từng viết: “Tự chúng hàng hóa không thể đi tới thị trường và trao đổivới nhau được Muốn cho những vật đó quan hệ với nhau như những hàng hóa thìngười giữ hàng hóa phải đối xử với nhau như những người mà trong ý chí nằm trongcác vật đó, mối quan hệ đó” [3] Theo đó, mối quan hệ kinh tế giữa những người giữahàng hóa được thiết lập trên cơ sở tự do, ý chí giữa các chủ thể trong quan hệ trao đổisản phẩm hàng hóa Dưới sự tác động điều chỉnh của pháp luật thì mối quan hệ trên trởthành một hợp đồng giao kết hàng hóa Có nhiều cách tiếp cận khác nhau về hợp đồng.Theo từ điển Tiếng Việt, hợp đồng là một sự giao dịch mà trong đó các bên tự trao đổi

ý chí với nhau nhằm đi đến sự thỏa thuận cùng nhau làm phát sinh các quyền và nghĩa

vụ nhất định Theo phương diện kinh tế, hợp đồng thường gắn liền với dự án, trong đómột bên thỏa thuận với các bên khác thực hiện dự án hay một phần dự án cho mình

Và cũng giống như dự án, có dự án chính trị xã hội và dự án sản xuất kinh doanh, hợpđồng có thể là các thỏa ước dân sự về kinh tế (hợp đồng kinh tế) hay xã hội Theophương diện pháp lí, hợp đồng là một cam kết giữa hai hay nhiều bên (pháp nhân), là

sự thỏa thuận giữa các bên trong khuôn khổ pháp luật về việc xác lập, thay đổi hoặcchấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự

Trong kinh tế chính trị Mac-Lenin, hàng hóa cũng được định nghĩa là sản phẩmcủa lao động thông qua trao đổi, mua bán Hàng hóa có thể là hữu hình hay ở dạng vôhình như sức lao động Sự thay đổi và phát triển nhận thức đối với đời sống kinh tế

Trang 14

dẫn đến cách hiểu hàng hóa không như các nhà kinh tế cổ điển xác định Phạm trùhàng hóa mất đi ranh giới của sự hiển hiện vật lý của vật thể và tiến sát đến gần phạmtrù giá trị Theo cách tiếp cận của luật học hiện nay, hàng hóa bao gồm tất cả các loạiđộng sản, kể cả động sản hình thành trong tương lai hoặc những vật gắn liền với đấtđai.

Đối với hợp đồng mua bán hàng hóa thì hiện nay trên thế giới có rất nhiều cáchthức định nghĩa và nhiều nguồn tìm hiểu Theo pháp luật của nước Pháp: “Hợp đồngmua bán hàng hóa là sự thỏa thuận theo đó một bên có nghĩa vụ giao một vật và ngườikia có nghĩa vụ trả tiền cho vật ấy” Việc mua bán được hoàn thành khi quyền sở hữuvật được coi đã chuyển sang cho người mua sau khi đã thỏa thuận về giá cả và vật bán,mặc dù vật chưa được giao và tiền chưa được trao Việc mua bán có thể được tiếnhành không kèm theo điều kiện đình chỉ thi hành hoặc điều kiện hủy bỏ [4] Theo phápluật Liên bang Nga quy định: “Bằng hợp đồng mua bán, một bên (bên bán) sẽ thựchiện quyền chuyển giao quyền sở hữu một vật (hàng hóa) cho bên kia (bên mua), trongkhi đó bên mua sẽ chấp nhậ trả một khoản tiền nhất định (giá) cho hàng hóa đó” [5] ỞViệt Nam, tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI tháng 12/1986 đã ra quyết định đổimới cơ chế quản lí kinh tế theo định hướng xã hội chủ nghĩa, cơ chế quản lí cũng yêucầu cần được thay đổi Do đó, ngày 25/9/1989 Hội đồng Nhà nước đã thông qua Pháplệnh hợp đồng Kinh tế bước đầu xây dựng một chế độ pháp lý về hợp đồng kinh tế Bộluật Dân sự 1997 được Quốc hội thông qua ngày 28/10/1995 cũng đưa ra những quyđịnh về hợp đồng dân sự Luật Thương mại 1997 được Quốc hội thông qua ngày10/5/1997 cũng quy định về hợp đồng đối với một số hành vi thương mại Tuy nhiên,sau nhiều lần bổ sung và thay đổi để phù hợp với cơ chế kinh tế thì ngày 14/6/2005,

Bộ luật Dân sự 2005 được Quốc hội khóa 11 thông qua và có hiệu lực ngày 1/1/2006thay thế cho Bộ luật Dân sự năm 1995 và Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế năm 1989 đượccoi là đạo luật chung, thống nhất trong việc điều chỉnh quan hệ hợp đồng LuậtThương mại năm 1997 cũng được thay đổi và được Quốc hội thông qua ngày14/6/2005, có hiệu lực ngày 1/1/2006 được coi là nguồn luật chính điều chỉnh các quan

hệ hợp đồng trong lĩnh vực kinh doanh thương mại bao gồm hai phạm trù: hợp đồngmua bán hàng hóa trong nước và hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế (gọi là hợp đồngngoại thương)

Như vậy, theo góc độ kinh tế hợp đồng mua bán hàng hóa là sự thỏa thuận giữacác thương nhân (hoặc một bên là thương nhân) về việc thực hiện hoạt động mua

Trang 15

bán hàng hóa nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận Theo góc độ pháp lí, mặc dù khôngquy định cụ thể hợp đồng mua bán hàng hóa song đây được coi là một dạng cụ thể củahợp đồng mua bán tài sản được đề cập trong Luật dân sự năm 2005, đó là sự thoảthuận giữa các bên, theo đó bên bán có nghĩa vụ giao tài sản cho bên mua và nhận tiền,còn bên mua có nghĩa vụ nhận tài sản và trả tiền cho bên bán

1.1.1.2 Đặc điểm và vai trò của hợp đồng mua bán hàng hóa

Đặc điểm của hợp đồng mua bán hàng hóa:

Quan hệ mua bán hàng hoá được xác lập và thực hiện thông qua hình thức pháp lí

là hợp đồng mua bán hàng hoá, có bản chất chung của hợp đồng dân sự, là sự thoảthuận nhằm xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt các quyền và nghĩa vụ trong quan hệ muabán Bởi vậy, hợp đồng mua bán hàng hóa có những đặc điểm cơ bản sau:

Một là, hợp đồng mua bán hàng hóa là hợp đồng ưng thuận và có tính sinh lời Tại

thời điểm các bên thỏa thuận xong các điều khoản cơ bản thì hợp đồng được coi là đãgiao kết, thời điểm có hiệu lực của hợp đồng không phụ thuộc vào thời điểm bàn giaohàng hóa, việc bàn giao hàng hóa chỉ được coi là hành động của bên bán nhắm thựchiện nghĩa vụ của hợp đồng mua bán đã có hiệu lực

Hai là, hợp đồng mua bán hàng hóa là hợp đồng song vụ và có tính đền bù Mỗi

bên trong hợp đồng mua bán hàng hóa đều bị ràng buộc bởi nghĩa vụ đối với bên kia,đồng thời lại cũng là bên có quyền đòi hỏi bên kia thực hiện nghĩa vụ đối với mình.Trong hợp đồng mua bán hàng hóa tồn tại hai nghĩa vụ chính mang tính chất qua lại vàliên quan mật thiết với nhau: nghĩa vụ của bên bán phải bàn giao hàng hóa cho bênmua và nghĩa vụ của bên mua phải thanh toán cho bên bán bên bán khi thực hiện nghĩa

vụ giao hàng hóa cho bên mua thì sẽ nhận từ bên mua một lợi ích tương đương với giátrị hàng hóa theo thỏa thuận dưới dạng khoản tiền thanh toán

Ba là, về chủ thể của hợp đồng mua bán hàng hóa phải là sự giao kết, thỏa thuận,

dựa trên cở sở tự nguyện giữa các bên thương nhân hoặc một bên là thương nhân hoặcgiữa các cá nhân, tổ chức khác có hoạt động kinh doanh thương mại Theo luậtThương mại năm 2005, thương nhân bao gồm: tổ chức kinh tế được thành lập hợppháp, cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên và có đăng kýkinh doanh Thương nhân có quyền hoạt động thương mại trong các ngành nghề, tạicác địa bàn, dưới các hình thức và theo các phương thức mà pháp luật không cấm

Bốn là, đối tượng của hợp đồng mua bán hàng hóa là tất cả các loại động sản, kể

cả động sản hình thành trong tương lai; những vật gắn liền với đất đai Ngoài ra, đốivới hợp đồng mua bán quốc tế thì mua bán hàng hoá quốc tế được thực hiện dưới cáchình thức xuất khẩu, nhập khẩu, tạm nhập, tái xuất, tạm xuất, tái nhập và chuyển khẩu

Trang 16

Bởi vậy, đối tượng của hợp đồng là những hàng hoá theo quy định pháp luật của cảbên mua và bên bán Căn cứ vào điều kiện kinh tế - xã hội của từng thời kỳ và điềuước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên, Chính phủ quyđịnh cụ thể danh mục hàng hoá cấm kinh doanh, hàng hoá hạn chế kinh doanh, hànghoá kinh doanh có điều kiện và điều kiện để được kinh doanh hàng hóa đó Đồng thời,đối với hàng hoá hạn chế kinh doanh, hàng hoá kinh doanh có điều kiện, việc mua bánchỉ được thực hiện khi hàng hoá và các bên mua bán hàng hóa đáp ứng đầy đủ cácđiều kiện theo quy định của pháp luật.

Vai trò của hợp đồng mua bán hàng hóa:

Về phía doanh nghiệp:

Hợp đồng hàng hóa có vai trò cốt lõi trong quá trình hoạch định chiến lược củadoanh nghiệp mình, chi tiết hóa cấc kế hoạch kinh doanh như ngày, tháng, sản lượng,thời gian, địa điểm giao hàng, định giá, phương thức thanh toán hoặc quy định quyền

và nghĩa vụ của các bên tham gia kí kết Thông qua việc đàm phán, kí kết hợp đồngmua bán hàng hóa doanh nghiệp sẽ tìm hiểu được sản phẩm của mình có đáp ứng thịtrường hay không Qua đó, trong quá trình định giá, doanh nghiệp chủ động cân nhắctính toán chênh lệch chi phí và hiệu quả kinh tế của phương án kinh doanh

Hợp đồng mua bán hàng hóa được xác lập và thực hện đúng pháp luật sẽ là cầu nốibảo vệ quyền và lợi ích của các bên tham gia kí kết khi có tranh chấp phát sinh, từ đólàm giảm cạnh tranh không lành mạnh, hạn chế rủi ro và tổn thất cho doanh nghiệptrong quá trình thực hiện các nghiệp vụ kinh doanh

Về phía Nhà nước:

Hợp đồng mua bán hàng hóa là công cụ đắc lực giúp Nhà nước điều tiết các quan

hệ xã hội, định hướng các quan hệ phát triển theo trật tự pháp luật nhất là trong nềnkinh tế đang mở cửa như hiện nay càng nhiều quốc gia trên thế giới đang tìm kiếm đầu

tư vào Việt Nam, cũng như các doanh nghiệp trong nước đang bắt tay hợp tác, liên kết

mở rộng thị trường Bởi vậỵ, hợp đồng mua bán hàng hóa là phương tiện giúp Nhànước ổn định tình hình kinh tế vi mô và vĩ mô

Mặt khác, Nhà nước cũng có thể sử dụng pháp luật nhằm thực hiện các biện phápcưỡng chế trực tiếp hoặc gián tiếp vào các quan hệ hợp đồng đó nhằm bảo vệ và cânbằng lợi ích chính đáng giữa bên mua và bên bán, cũng như lợi ích của cả cộng đồng

1.1.1.3 Hình thức của hợp đồng mua bán hàng hóa

Hợp đồng mua bán hàng hóa được thiết lập trên thiện chí bình đẳng, tự nguyệngiữa các bên nên các quy định của pháp luật cũng khá thông thoáng và linh hoạt, phù

Trang 17

hợp với thực tiễn cuộc sống nói chung cũng như hoạt động thương mại nói riêng Theo

đó, hợp đồng mua bán hàng hóa có thể được giao kết bằng nhiều hình thức khác nhau

Bộ luật dân sự 2005 giải thích rằng, hợp đồng mua bán nói chung và hợp đồng muabán tài sản nói riêng có thể được giao kết bằng lời nói, bằng văn bản hoặc được xác lậpbằng hành vi cụ thể khi pháp luật không quy định loại hợp đồng đó phải được giao kếtbởi một hình thức nhất định Đối với các loại hợp đồng mua bán hàng hóa mà phápluật quy định phải lập thành văn bản có công chứng hoặc chứng thực, phải đăng kýhoặc xin phép thì phải tuân theo quy định đó

Trên tinh thần thần đó, Luật thương mại năm 2005 cũng rất linh động khi quy định

về hình thức của hợp đông mua bán trong lĩnh vực thương mại, có thể được thể hiệnbằng lời nói, bằng văn bản hoặc được xác định bởi một hành vi cụ thể, hoặc tuân theoquy định của pháp luật

1.1.1.4 Nội dung cơ bản của hợp đồng mua bán hàng hóa

Nội dung của hợp đồng nói chung là các điều khoản do các bên thỏa thuận, thểhiện quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ hợp đồng Nội dung của hợp đồngmua bán hàng hóa là các điều khoản do các bên thỏa thuận, thể hiện quyền và nghĩa vụcủa bên bán và bên mua trong quan hệ hợp đồng mua bán hàng hóa Nếu trước kiaLuật thương mại 1997 quy định hợp đồng mua bán hàng hóa phải có các nội dung chủyếu như: tên hàng; số lương; quy cách, chất lượng; giá cả; phương thức thanh toán; địađiểm và thời hạn giao hàng thì nay Luật thương mại 2005 và Luật dân sự 2005 khôngràng buộc không quy định hợp đồng mua bán hàng hóa phải bao gồm nội dung bắtbuộc trên nhằm tránh sự vô hiệu ngoài mong muốn giữa các bên Như vậy, các bên cóquyền tự do, tự nguyện thỏa thuận các nội dung của hợp đồng trên tinh thần của Luậtdân sự 2005 như: Đối tượng của hợp đồng là tài sản phải giao, công việc phải làmhoặc không được làm; số lượng, chất lượng; giá, phương thức thanh toán; thời hạn, địađiểm, phương thức thực hiện hợp đồng; quyền, nghĩa vụ của các bên; trách nhiệm do

vi phạm hợp đồng; phạt vi phạm hợp đồng và các nội dung khác[6]

Tuy nhiên, thông thường một hợp đống mua bán hàng hóa thường bao gồmnhững nội dung sau:

Nội dung chủ yếu: bao gồm những điều khoản cần thiết phải có trong hợp đồng

nếu thiếu thì hợp đồng sẽ không được giao kết Các điều khoản này phụ thuộc vào tínhchất của từn hợp đồng quyết định hoặc do pháp luật quyết định Theo đó, các bên cóthể thỏa thuận các nội dung sau:

Trang 18

- Ngày, tháng, năm kí kết hợp đồng mua bán hàng hóa, địa chỉ, số tài khoản ngânhàng giao dịch của các bên, họ tên người đại diện, người đăng kí kinh doanh.

- Chủ thể trong quan hệ hợp đồng: Cần xác định rõ các bên tham gia trong hợpđồng cũng như yếu tố pháp lí cần thiết liên quan như: quốc tịch của các bên, ngànhnghề kinh doanh, trụ sở kinh doanh, địa chỉ giao dịch, mã số thuế của doanh nghiệp…

- Đối tượng của hợp đồng: Tên gọi của hàng hóa trong điều khoản này, số lượnghàng hóa, chất lượng của hàng hóa, thời gian, địa điểm giao hàng, giá cả, thời gian vàphương thức thanh toán, bao bì sản phẩm, trách nhiệm do vi phạm hợp đồng, tráchnhiệm đối với sản phẩm

Nội dung thường lệ: là điều khoản được đã được quy định trong các văn bản

quy phạm pháp luật dù không đề cập vào hợp đồng nhưng các bên tự ngầm hiểu vàthực hiện đúng theo quy định của pháp luật Các nội dung này bao gồm: trách nhiệmchuyển giao hàng hóa, chuyển quyền sở hữu hàng hóa cho người mua sau khi giao kếthợp đồng, cũng như quyền và nghĩa vụ của người mua với hàng hóa của mình và vớingười bán, địa điểm giao hàng đối với hàng hóa là bất động sản Các bên mặc nhiênthỏa thuận, nếu một trong hai bên không thực hiện đầy đủ các nhiệm vụ của mình thì

sẽ căn cứ theo thỏa thuận của hợp đồng để thực hiện phạt vi phạm

Nội dung tùy nghi: là những điều khoản đưa vào theo sự thỏa thuận của các bên,

tùy vào khả năng và nhu cầu của các bên nhằm làm cho nội dung của hợp đồng được

rõ ràng, cụ thể hơn Các bên trong quá trình đàm phán, ký kết hợp đồng có thể định giáhàng hóa, bên bán có quyền đưa ra mức giá sàn, ngược lại bên mua có thể cân nhắc lựachọn mức giá và sản phẩm phù hợp với khả năng tài chính của mình Bên mua cũng cóquyền gia hạn thời gian thanh toán hoặc thực hiện hợp đồng theo từng phần với bênbán sao cho phù hợp về điều kiện hoàn cảnh thực tế của các chủ thể Nói cách khác,các bên có thể lựa chọn cách thức nhất định để thực hiện hợp đồng sao cho thuận lợi

mà vẫn đảm bảo được quyền yêu cầu của bên còn lại

1.1.2 Nghĩa vụ của người bán trong hợp đồng mua bán hàng hóa

1.1.2.1 Khái niệm và đặc điểm nghĩa vụ của người bán trong hợp đồng mua bán hàng hóa

Trong luật La-tinh, nghĩa vụ được hình dung như một mối liên hệ pháp lý mà theo

đó, một người, người có quyền, có thể đòi hỏi ở một người khác, người có nghĩa vụ,chuyển giao một quyền, làm một việc hoặc không làm một việc Nếu xét về mặt xãhội, nghĩa vụ còn được hiểu là việc một người thực hiện một việc vì lợi ích của ngườikhác, những hành vi đó pháp luật không quy định buộc phải thực hiện (việc thực hiệnnày năm ngoài nghĩa vụ thực hiện công việc không có sự uỷ quyền)

Trang 19

Xét về mặt pháp lý quy định: “Nghĩa vụ dân sự là việc mà theo đó, một hoặc nhiềuchủ thể (bên có nghĩa vụ) phải chuyển giao một vật, chuyển giao quyền, trả tiền hoặcgiấy tờ có giá, thực hiện công việc khác hoặc không được thực hiện công việc nhấtđịnh vì lợi ích của một hoặc nhiều chủ thể khác (bên có quyền)” [7]

Theo nội dung của những quy định trên, nghĩa vụ của người bán trong hợp đồngmua bán hàng hóa là nghĩa vụ dân sự theo đó chủ thể mang quyền (người mua) cóquyền yêu cầu chủ thể mang nghĩa vụ (người bán) phải chuyển giao một tài sản, thựchiện một việc hoặc không được thực hiện một việc vì lợi ích của mình hay lợi ích củangười thứ ba, phải bồi thường một thiệt hại về tài sản hoặc nhân thân do có hành vigây thiệt hại, vi phạm lợi ích hợp pháp của các bên có quyền Người bán có nghĩa vụthực hiện quyền yêu cầu của người mua Các quyền và nghĩa vụ của các bên chủ thểtrong quan hệ nghĩa vụ theo quy định của pháp luật hoặc theo thoả thuận của các bênxác lập trong hợp đồng mua bán

Như vậy, nghĩa vụ của người bán trong hợp đồng mua bán hàng hóa bản chất lànghĩa vụ dân sự nên nó mang những đặc điểm sau:

Nghĩa vụ của người bán trong hợp đồng mua bán hàng hóa thể hiện mối quan hệràng buộc giữa người bán và người mua Hai chủ thể này đã thiết lập một sự gắn kếtkhi tham gia vào giao kết hợp đồng mua bán, theo đó người có nghĩa vụ luôn hướngmột mục đích có lợi cho người có quyền

Nghĩa vụ của người bán trong hợp đồng mua bán hàng hóa là một loại quan hệ đối

nhân (quyền đối nhân): Quan hệ đối nhân là quan hệ mà trong đó một bên chủ thể có

quyền đối với một bên xác định, hoặc cả hai bên đều có những quyền và nghĩa vụ nhấtđịnh đối với nhau

1.1.2.2 Sự cần thiết phải quy định nghĩa vụ của người bán trong hợp đồng mua bán hàng hóa

Ở Việt Nam, từ khi nền kinh tế chuyển đổi từ tập trung quan liêu bao cấp sang nềnkinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Đảng và nhà nước ta đã thực hiệnnhững đường lối đổi mới chính sách kinh tế, đẩy mạnh công nghiệp hóa – hiện đại hoáđất nước, tiến tới xu hướng toàn cầu hóa Kinh tế hàng hóa phát triển, giao lưu thịtrường thông thoáng là tiền đề cho việc xây dựng khung pháp lí về lĩnh vực hợp đồngmua bán hàng hóa

Thực tế cho thấy, công tác thực hiện, kiểm soát quyền và nghĩa vụ trong các hợpđồng mua bán hàng hóa còn chưa đạt hiệu quả Nhất là việc thực hiện đúng tráchnhiệm và thực thi nghĩa vụ còn lỏng lẻo khiến hiệu quả kinh tế chưa cao Vấn đề đặt ra

Trang 20

trước mắt là nâng cao công tác chỉ đạo và tạo hành lang pháp lí vững chắc trong cáchợp đồng mua bán hàng hóa nhất là những quy định về nghĩa vụ của người bán tronghợp đồng mua bán hàng hóa là điều tất yếu.

Sự ra đời của hệ thống các quy định về nghĩa vụ của người bán trong hợp đồngmua bán hàng hóa là bước ngoặt lớn đánh dấu sự trưởng thành của hệ thống pháp luậthợp đồng nói chung và pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa nói riêng Sau nhiềulần sửa đổi và bổ sung, Luật dân sự năm 2005, Luật thương mại năm 2005 hay Luậtbảo vệ người tiêu dùng năm 2010 đã chú trọng xây dựng và phát triển mạnh mẽ côngtác thực thi nghĩa vụ của người bán, đề cao vai trò trách nhiệm của người bán tronghoạt động kinh doanh

Ngày nay, trước thềm hội nhập yêu cầu sự thống nhất trong những quy định vềnghĩa vụ của người bán trong hợp đồng mua bán hàng hóa để nhằm nâng cao ý thức,trách nhiệm, đồng thời bảo vệ lợi ích của các bên khi tham gia giao kết hợp đồng Xâydựng những định chế về pháp luật của người bán trong hợp đồng mua bán hàng hóa sẽ

là bước đệm phát triển khung pháp lí về lĩnh vực hợp đồng, từ đó mở rộng hoạt độngmua bán trong và ngoài nước được thúc đẩy mạnh mẽ và có chiều sâu hơn nữa, dễdàng thâm nhập trên trường quốc tế

1.2 Cơ sở ban hành và pháp luật điều chỉnh nghĩa vụ của người bán trong hợp đồng mua bán hàng hóa

1.2.1 Khái niệm và cơ sở ban hành pháp luật điều chỉnh nghĩa vụ của người bán trong hợp đồng mua bán hàng hóa

Pháp luật điều chỉnh nghĩa vụ của người bán trong hợp đồng mua bán hàng hóa là

hệ thống các quy phạm pháp luật điều chỉnh mối quan hệ giữa một bên là người bán vàmột bên là người mua Mối quan hệ pháp luật này phát sinh khi cả hai bên đàm phán,xác lập hợp đồng mua bán

Xét về phương diện hình thức, pháp luật điều chỉnh nghĩa vụ của người bán tronghợp đồng mua bán hàng hóa bao gồm các văn bản quy phạm pháp luật như văn bảnluật, nghị định và nghị quyết của Chính phủ, quyết định và chỉ thị của Thủ tướngChính phủ, quyết định, thông tư và chỉ thị của các Bộ… liên quan đến lĩnh vực hợpđồng mua bán hàng hóa, đặc biệt là những quy định về nghĩa vụ của người bán

Xét trên phương diện nội dung, pháp luật điều chỉnh nghĩa vụ của người bán tronghợp đồng mua bán hàng hóa bao hàm các vấn đề chủ yếu như trách nhiệm của ngườibán trong việc thông báo, kiểm tra, giao hàng, ấn định thời gian và phương thức thanhtoán cho người mua, chuyển quyền sở hữu hàng hóa …

Trang 21

Như vậy, pháp luật về điều chỉnh nghĩa vụ của người bán trong hợp đồng mua bánhàng hóa là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh các mối quan hệ phát sinhgiữa một bên chủ thể là người bán và một bên chủ thể là các tổ chức, cá nhân với vaitrò là người mua, có quyền yêu cầu người bán thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ như đãthỏa thuận trong hợp đồng Trong đó quy định pháp luật điều chỉnh nghĩa vụ củangười bán trong hợp đồng mua bán hàng hóa là hệ thống các văn bản quy phạm phápluật hiện hành trong lĩnh vực thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa nói chung và phápluật điều chỉnh nghĩa vụ của người bán nói riêng quy định về trách nhiệm giao hàng,kiểm tra số lượng, chất lượng hàng hóa, các trường hợp chuyển quyền sở hữu hoặcchuyển rủi ro hàng hóa

Trên cơ sở Nhà nước coi pháp luật là công cụ quyền lực để thực hiện các biệnpháp cưỡng chế hiệu quả, thì việc ban hành pháp luật điều chỉnh nghĩa vụ của ngườibán trong hợp đồng mua bán hàng hóa có vai trò chủ đạo đảm bảo việc thực hiện hợpđồng theo đúng cam kết các bên Theo đó, Nhà nước quy định hệ thống các văn bảnpháp luật nhằm điều chỉnh nghĩa vụ của người bán trong hợp đồng mua bán hàng hóabao gồm:

Công ước Viên năm 1980 (CISG) về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, đến nay

đã có hơn 60 nước phê chuẩn trong đó có Việt Nam Những nguyên tắc của Công ướccũng có hiệu lực ràng buộc đối với hệ thống pháp luật quốc gia Đây là nền tảng đểpháp luật quốc gia có thể học hỏi những quy định về giao kết, đàm phán, thanh toántrong mua bán hàng hóa nói chung cũng như những quy định về nghĩa vụ của ngườibán nói riêng Bên cạnh đó, những hiệp định song phương và đa phương giữa ViệtNam với các nước Hoa kỳ, Thụy Điển, các nước khu vực Đông Nam Á, trong cácquan hệ thương mại đã thiết lập nhiều hợp đồng mua bán Với vai trò là người bántrong các hợp đồng mua bán, Việt Nam cũng bị chi phối bởi cả pháp luật trong nước

và quốc tế Việc thực hiện nghĩa vụ của người bán sẽ trở nên phức tạp nếu không cómột khung pháp luật thồng nhất điều chỉnh Bởi vậy, Công ước viên 1980 hoặc nhữnghợp đồng mua bán hàng hóa thương mại song phương – đa phương có vai trò quantrọng để hoàn thiện pháp luật điều chỉnh nghĩa vụ của người bán

Ngoài ra, còn có hệ thống các quy phạm pháp luật quốc gia như Luật Dân sự 2005,Luật thương mại 2005 với tư cách là nguồn luật điều chỉnh các mối quan hệ về hợpđồng mua bán hàng hóa Mọi phát sinh trong hợp đồng mua bán hàng hóa trong đó cóquy định về nghĩa vụ của người bán đều được áp dụng nguồn luật chung Ngoài ra, còn

có các văn bản luật chuyên ngành khác như Luật bảo vệ người tiêu dùng 2014, Luật

Trang 22

kinh doanh bất động sản 2014… quy định nghĩa vụ của người bán trong từng lĩnh vựckinh doanh cụ thể.

Một nguồn luật khác cũng có vai trò cốt lõi quy định nghĩa vụ của người bán tronghợp đồng mua bán hàng hóa là hợp đồng mẫu Hợp đồng này do doanh nghiệp kinhdoanh hoặc do một hiệp hội nghề nghiệp tự soạn thảo một cách độc lập dựa trên quychuẩn pháp luật phù hợp với mục đích cũng như thực tiễn kinh doanh của doanhnghiệp, được các thương nhân thừa nhận và áp dụng

1.2.2 Nội dung của pháp luật điều chỉnh nghĩa vụ của người bán trong hợp đồng mua bán hàng hóa

1.2.2.1 Nghĩa vụ giao hàng, chứng từ theo thỏa thuận trong hợp đồng

Những quy định về nghĩa vụ của người bán trong tất cả các hợp đồng mua bánhàng hóa được quy định rất rõ ràng, chình xác Đây là nội dung chủ đạo nhằm đảmbảo quyền và lợi ích các bên tham gia kí kết hợp đồng Cụ thể:

Giao hàng đúng đối tượng

Giao hàng đúng đối tượng là việc người bán có nghĩa vụ giao hàng đúng chủngloại, đúng tên hàng như đã thỏa thuận trong hợp đồng Theo đó, người bán phải cónghĩa vụ ghi chép tên hàng hóa một cách đầy đủ, rõ ràng, chính xác, có kèm theo tênthương mại Nếu đối tượng của việc mua bán gồm nhiều mặt hàng, chủng loại hàngkhác nhau thì phải ghi rõ danh mục của mặt hàng đó Danh mục các loại mặt hàng này

có thể được coi là phụ lục của hợp đồng

Giao chứng từ kèm theo hàng hóa

Chứng từ là các văn bản giấy tờ ghi lại nội dung của một sự kiện giao dịch, mộtnghiệp vụ phát sinh Chứng từ hợp lệ là các văn bản ghi lại nội dung giao dịch phátsinh phải đảm bảo:

Tính pháp lý: ví dụ như các bên tham gia vào giao dịch phải ký xác nhận để nếu có

xảy ra tranh chấp giữa các bên thì đây sẽ là bằng chứng, là cơ sở để phân xử đúng sai

mà các bên không thể chối cãi được

Đảm bảo tính pháp luật: tuân thủ theo đúng các quy định của Nhà nước, kể cả về

mặt hình thức như hoá đơn giá thị gia tăng

Đảm bảo tính trung thực: sự kiện ghi lại phải là có thực, rõ ràng, đầy đủ nội dung,

cụ thể, không đa nghĩa

Giao các chứng từ kèm theo hàng hóa là trách nhiệm của bên bán khi có yếu cầucủa bên mua Nếu có thỏa thuận về việc giao chứng từ thì bên bán có nghĩa vụ giao

Trang 23

chứng từ liên quan đến hàng hoá cho bên mua trong thời hạn, tại địa điểm và bằngphương thức đã thỏa thuận.

Việc quy định về giao hàng đúng đối tượng và giao chứng từ kèm theo hàng hóa làmột điều tất yếu, bởi hợp đồng mua bán có được thực hiện hay không là phụ thuộc vàotrách nhiệm của người bán, đồng thời nó ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của ngườimua Do đó, những quy định về nghĩa vụ của người bán trong việc giao hàng và chứng

từ liên quan đến hàng hóa nhằm cân bằng quyền lợi và trách nhiệm của các bên khitham gia giao kết hợp đồng

Giao hàng đúng thời hạn

Thời hạn trong hợp đồng mua bán hàng hóa là mốc thời gian do các bên thỏathuận nhằm thực hiện việc chuyển giao hàng hóa, quyền sở hữu cho nhau Do vậy, bênbán phải giao hàng vào đúng thời điểm giao hàng đã thoả thuận trong hợp đồng hoặcbên bán phải giao hàng trong một thời hạn hợp lý sau khi giao kết hợp đồng nếu không

có thỏa thuận Hoặc bên bán có thể giao hàng trước thời hạn đã thỏa thuận khi đó bênmua có quyền nhận hoặc không nhận hàng nếu các bên không có thoả thuận khác

Giao hàng đúng địa điểm

Địa điểm giao hàng là do các bên trong quá trình đàm phán hợp đồng đã thông báocho nhau Nghĩa vụ của người bán là giao hàng đến đúng địa điểm đã thỏa thuận Thời gian và địa điểm giao hàng là điều khoản quan trọng của hợp đồng mua bánhàng hóa vì nó liên quan đến một số quyền và nghĩa vụ của các bên, thời điểm chuyểnquyền sở hữu và rủi ro, liên quan đến giá cả của hàng hóa Việc quy định địa điểmgiao hàng có ý nghĩa hết sức quan trọng không những về mặt pháp lý mà còn trongkhía cạnh thương mại, giúp cho các cá nhân, doanh nghiệp hạn chế những rủi ro, tổnthất trong kinh doanh

1.2.2.2 Nghĩa vụ kiểm tra hàng hóa trước khi giao hàng

Người bán có nghĩa vụ thống nhất kế hoạch cũng như cách thức kiểm tra chấtlượng của hàng hóa cụ thể, đảm bảo kiểm tra các yếu tố vể quy cách, phẩm chất củahàng hóa, thời gian, địa điểm và cách thức kiểm tra chất lượng Thông thường địađiểm kiểm tra chất lượng của hàng hóa do các bên tự thỏa thuận có tính đến tính chấtcủa từng loại hàng và điều kiện giao hàng Hàng hóa có thể kiểm tra toàn bộ hay mộtphần theo xác xuất tùy theo tính chất của hàng hóa

Bên bán phải chịu trách nhiệm về những khiếm khuyết của hàng hoá mà bên muahoặc đại diện của bên mua đã kiểm tra nếu các khiếm khuyết của hàng hoá không thể

Trang 24

phát hiện được trong quá trình kiểm tra bằng biện pháp thông thường và bên bán đãbiết hoặc phải biết về các khiếm khuyết đó nhưng không thông báo cho bên mua.Thực tế, khâu kiểm tra hàng hóa còn tồn tại nhiều bất cập Tình trạng gian lận củabên mua và sự kiểm tra lỏng lẻo của bên bán ngày càng tinh vi và phức tạp Nhữngquy định chặt chẽ về việc kiểm tra hàng hóa giúp doanh nghiệp nắm bắt được tình hìnhsản xuất, giám sát được chất lượng và số lượng, hạn chế khả năng bị bồi thường thiệthại Mặt khác, công tác kiểm tra này cũng là công cụ đắc lực giúp người mua được bảo

vệ lợi ích của mình, được trả lại hàng bị hư hỏng hoặc được yêu cầu bồi thường thíchđáng Đây cũng là đòn bẩy nâng cao tinh thần trách nhiệm trong kinh doanh của cácbên tham gia hợp đồng mua bán

1.2.2.3 Nghĩa vụ đảm bảo quyền sở hữu đối với hàng hóa mua bán

Chuyển quyền sở hữu đối với hàng hóa của bên bán cho bên mua là việc bên bánchuyển quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt hàng hóa cho bên mua Như vậy, sau khiđược chuyển quyền sở hữu đối với hàng hóa, bên mua sẽ trở thành người chủ thực sựđối với những hàng hóa đó với đầy đủ các quyền năng của chủ sở hữu như đã nêu Vớiviệc xác định quyền sở hữu hàng hóa đã được chuyển giao hay chưa, địa điểm, thờigian chuyển quyền sở hữu có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định tài sản của doanhnghiệp, giải quyết phá sản và đặc biệt là để xác định trách nhiệm về rủi ro đối với hànghóa Theo đó, bên bán phải đảm bảo về tính hợp pháp của quyền sở hữu và việc quyểngiao quyền sở hữu đối với hàng hóa giao cho bên mua và phải đảm bảo quyền sở hữucủa bên mua đối với hàng hóa đã bán không bị tranh chấp bởi các bên thứ ba

Trong thực tiễn mua bán hàng hóa, vấn đề chuyển quyền sở hữu hàng hóa là mộtvấn đề hết sức phức tạp và nhạy cảm Nó liên quan rất nhiều tới vấn đề xử lý rủi ro về

hư hỏng mất mát hàng hóa, về quyền được bảo đảm thanh toán tiền bán hàng, hoặcquyền về định đoạt hàng hóa của bên bán khi bên mua lâm vào tình trạng khó khăn vềtài chính hoặc phá sản Vì vậy, quy định về nghĩa vụ đảm bảo quyền sở hữu đối vớihàng hóa mua bán là điều vô cùng quan trọng trong giao kết hợp đồng mua bán, giúpgiải đáp khúc mắc và đảm bảo lợi ích tối đa cho người mua

1.2.2.4 Nghĩa vụ chịu rủi ro đối với hàng hóa

Bên cạnh nghĩa vụ quan trọng nhất là bàn giao hàng hóa, bên bán còn có mộtnghĩa vụ khác, đó là chịu rủi ro đối với hàng hóa (nghĩa vụ bảo hành), tức là trong mộtthời hạn nhất định, bên bán phải chịu trách nhiệm về hàng hóa sau khi đã giao hànghóa cho bên mua

Thực tế hiện nay tồn tại rất nhiều bất cập trong việc chịu rủi ro đối với hàng hóa đãbán, như không cung cấp cho người mua giấy bảo hành trong đó ghi rõ thời gian và

Trang 25

điều kiện thực hiện bảo hành; không cung cấp giấy tiếp nhận bảo hành trong đó ghi rõthời gian thực hiện bảo hành; không cung cấp cho người tiêu dùng hàng hóa, linh kiện,phụ kiện tương tự để sử dụng tạm thời hoặc không có hình thức giải quyết khác đượcngười tiêu dùng chấp nhận trong thời gian thực hiện bảo hành; không đổi hàng hóa,linh kiện, phụ kiện mới tương tự hoặc thu hồi hàng hóa và trả lại tiền cho người tiêudùng trong trường hợp đã thực hiện bảo hành hàng hóa, linh kiện, phụ kiện từ 3 lần trởlên trong thời hạn bảo hành mà vẫn không khắc phục được lỗi hoặc trong trường hợphết thời gian thực hiện bảo hành mà không sửa chữa hoặc không khắc phục đượclỗi….

Vì vậy, ban hành quy định nghĩa vụ của người bán trong việc chịu rủi ro hàng hóa

là điều tất yếu nhằm hạn chế những bất cập, qua đó nâng cao ý thức của người bán,đồng thời bảo vệ lợi ích chính đáng cho người mua Nghĩa vụ chịu rủi ro hàng hóađược quy định rất chi tiết trong Luật thương mại năm 2005, Luật bảo vệ người tiêudùng năm 2010

1.2.2.5.Các nghĩa vụ khác

Bên cạnh các nghĩa vụ cần thiết trên, với vai trò là người bán trong hợp đồng muabán hàng hóa thì nghĩa vụ báo giá và nghĩa vụ quy định việc thanh toán với người muacũng giữ vai trò quan trọng Người bán phải có nghĩa vụ báo giá sản phẩm cho bênmua bởi giá cả là điều khoản gắn liền với các điều khoản đối tượng hợp đồng Giátrong hợp đồng thường được xác định dựa trên những căn cứ như đơn giá, điều kiện cơ

sở tính giá, điều khoản bảo lưu về giá hàng hóa…Người bán phải có trách nhiệm ghiđúng giá bán tránh sự gian lận trong việc nộp thuế của các bên Đồng thời, người bánnên ấn định rõ ràng và chặt chẽ hình thức và thời gian thanh toán chặt chẽ cho ngườimua nhằm xác định trách nhiệm của các bên trong thời gian thực hiện hợp đồng Mặt khác trong quá trình đàm phán về số lượng hàng hóa người bán phải có tráchnhiệm thông báo với người mua thông số, đơn vị đo lường tùy vào tính chất của hànghóa, vào tập quán thương mại quốc tế đối với các mặt hàng cụ thể Theo nguyên tắc,

số lượng của hàng hóa có thể được xác định bởi một số liệu cụ thể hoặc có thể đượcquy định trong một giới hạn Do tính chất của một số loại hàng hóa nên cần phải quyđịnh tỷ lệ dung sai, như đối với hàng hóa có sự bốc hơi hay có sự thay đổi độ ẩm.Ngoài ra, bên bán cần phải thỏa thuận với bên mua là có hay không tính trọng lượngcủa bao bì và khối lượng của hàng hóa Sau khi đàm phán kết thúc người bán có nghĩa

vụ giao hàng, chứng từ kèm theo đúng với những thỏa thuận trước đó

Trang 26

1.3 Nguyên tắc xác định pháp luật điều chỉnh nghĩa vụ của người bán trong hợp đồng mua bán hàng hóa

Nguyên tắc tiền đề và quan trọng nhất trong việc lựa chọn pháp luật điều chỉnhnghĩa vụ của người bán là sự thỏa thuận của các bên Đối với các hợp đồng mua bánhàng hóa quốc tế, ưu tiên lựa chọn pháp luật quốc gia, trong trường hợp điều ước quốc

tế mà Việt Nam là thành viên có quy định khác với quy định của Bộ luật này thì ápdụng quy định của điều ước quốc tế đó Nếu trong hợp đồng thỏa thuận có dẫn chiếuđến việc áp dụng pháp luật nước ngoài thì pháp luật của nước đó được áp dụng và việc

áp dụng hoặc hậu quả của việc áp dụng không trái với các nguyên tắc cơ bản của phápluật Việt Nam; trường hợp pháp luật nước đó dẫn chiếu trở lại pháp Việt Nam thì ápdụng pháp luật Việt Nam [8]

Đối với các hợp đồng mua bán hàng hóa trong nước, việc lựa chọn pháp luật điềuchỉnh nghĩa vụ của người bán được các chủ thể làm hợp đồng đề cập khá thôngthoáng Trong quá trình đàm phán và thực hiện giao kết các chủ thể lựa chọn nguồnluật chung là Bộ luật dân sự năm 2005 và Luật thương mại 2005 điều chỉnh các mọivấn đề liên quan đến nghĩa vụ của người bán Bên cạnh đó, bên bán và bên mua đềurất linh hoạt trong việc vận dụng những quy định của pháp luật chuyên ngành khác để

cụ thể hóa quyền và nghĩa vụ của các chủ thể nhằm giải quyết những mâu thuẫn trong

hệ thống pháp luật cũng như đảm bảo việc thực hiện nghĩa vụ của người bán được theođúng tinh thần luật định

Trang 27

Kết luận chương 1

Trong nền kinh tế thị trường nào thì các quy luật kinh tế của sản xuất và lưu thônghàng hóa đều được phản ánh và tác động một cách khách quan thông qua cơ chế thịtrường Bàn tay vô hình của thị trường đã tạo mối quan hệ ràng buộc giữa người bán

và người mua Trong thị trường tự do kinh doanh ấy, người bán bao giờ cũng muốnbán giá cao, người mua thì muốn mua giá thấp Bởi vậy, cần có sự thống nhất ý chí,thỏa thuận và bình đẳng giữa người mua và người bán

Qua những lý luận khái quát về khái niệm, đặc điểm vai trò của hợp đồng mua bánhàng hóa cùng những lý luận về khái niệm, đặc điểm, tìm hiểu các quy định pháp luật

về nghĩa vụ của người bán trong hợp đồng mua bán hàng hóa có thể thấy răng phápluật về nghĩa vụ của người bán trong hợp đồng mua bán hàng hóa đã có nhiều bướctiến đáng kể và giải quyết được những thiếu sót trước kia chưa giải

Ngày đăng: 05/05/2016, 21:28

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w