Bản chất của tài chính doanh nghiệp là các quan hệ kinh tế biểu hiện dưới hình thái giá trị các quan hệ tài chính phát sinh trong quá trình tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ nhằm phục v
Trang 1Lời mở đầu
Từ nửa cuối thế kỷ IXX phân tích tài chính đã bắt đầu thu hút sự quantâm của các nhà quản trị.Cho đến nay, với sự phát triển mạnh mẽ của nềnkinh tế thị trờng, sự lớn mạnh của của các hệ thống tài chính và tập đoànkinh doanh , khả năng sử dụng rộng rãi công nghệ thông tin, phân tích tàichính đã thực sự phát triển , đợc chú trọng và trở thành một công việc khôngthể thiếu đối với nhà quản trị doanh nghiệp hiện đại
Với các doanh nghiệp Việt Nam phân tích tài chính phần nào cònn khámới mẻ, cha chuyên sâu và cha thực sự đợc chú trọng Chúng ta cần xây dungmột nền kinh tế thị trờng xã hội chủ nghĩa trong bối cảnh hội nhập kinh tế thếgiới, nền kinh tế biến chuyển nhanh chóng với nhiều sắc thái khác nhau Chính vì vậy muốn tồn tại , đứng vững và phát triển trong bối cảnh này cácdoanh nghiệp Việt Nam cần phải nhận thức đợc vai trò quan trọng của phântích tài chính doanh nghiệp, thờng xuyên phân tích đánh giá thực trạng tàichính của doanh nghiệp mình , trên cơ sở đó đa ra đợc những biện pháp hữuhiệu và quyết định hợp lý cho phơng án hoạt động kinh doanh nhằm đạt đợcmục tiêu nâng cao hiệu quả kinh doanh, tối đa hoá lợi nhuận
Do nhận thức đợc tầm quan trọng của việc phân tích đánh giá hoạt
động tài chính doanh nghiệp, vậy nên qua thời gian thực tập tại công ty cổ
phần cơ khí Mạo Khê đã mạnh dạn đi sâu nghiên cứu đề tài : “Đánh giá thực
trạng tài chính và một số giải pháp tài chính nâng cao hiệu quả hoạt
động SXKD tại công ty cổ phần cơ khí Mạo Khê”.
CHƯƠNG I NHỮNG NHẬN THỨC CƠ BẢN VỀ TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP VÀ
ĐÁNH GIÁ TèNH HèNH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
Trang 21.1 Tổng quan về tài chính doanh nghiệp và quản trị tài chính doanh nghiệp
1.1.1 Tài chính doanh nghiệp và hoạt động tài chính doanh nghiệp
Xét về hình thức biểu hiện tài chính doanh nghiệp là sự vận động, chuyển hoá của các nguồn lực tài chính trong quá trình phân phối để tạo lập hoặc sử dụng các quỹ tiền tệ của doanh nghiệp.
Bản chất của tài chính doanh nghiệp là các quan hệ kinh tế biểu hiện dưới hình thái giá trị (các quan hệ tài chính) phát sinh trong quá trình tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ nhằm phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doang trong mỗi doanh nghiệp và góp phần tích luỹ vốn Các quan hệ tài chính doanh nghiệp chủ yếu là :
1 Quan hệ giữa doanh nghiệp và nhà nước : phát sinh khi doanh nghiệp thực hiện nghĩa vụ nộp thuế và nhà nước góp vốn vào doanh nghiệp…
2 Quan hệ giữa doanh nghiệp với thị trường tài chính : Quan hệ này thể hiện thông qua việc doang nghiệp tìm kiếm các nguồn tài trợ trên thị trường tiền tệ và thị trường vốn Ngược lại doanh nghiệp phải trả lãi vay, vốn vay, trả lãi cổ phần cho các nhà tài trợ.
3 Quan hệ giữa doanh nghiệp với thị trường khác : bên cạnh thị trường tài chính, doanh nghiệp còn có quan hệ với nhiều thị trường khác như thị trường hàng hoá, thị trường dịch vụ, thị trường sức lao động Đó là các thị trường cung cấp các yếu tố đầu vào và phân phối các yếu tố đầu ra cho doanh nghiệp.
4 Quan hệ trong nội bộ doanh nghiệp
Quan hệ này thể hiện trong việc doanh nghiệp thanh toán tiền công, tiền lương và các khoản khác với công nhân viên trong doang nghiệp,quan hệ thanh toán với các bộ phận trong doang nghiệp, trong việc phân phối lợi nhuận sau thuế của doanh nghiệp.
Hoạt động tài chính doanh nghiệp là một trong những nội dung cơ bản của hoạt động sản xuất kinh doang của doang nghiệp nhằm giải quyết các mối quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh và được
Trang 3biểu hiện dưới hình thái tiền tệ Hoạt động tài chính trong doanh nghiệp bao gồm việc tổ chức thu chi tiền tệ phát sinh trong quá trình thực hiện kế hoạch sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Hoạt động tài chính của doanh nghiệp sẽ thúc đẩy và phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh qua
đó đẩy mạnh các quan hệ tài chính doanh nghiệp.
1.1.2 Quản trị tài chính doanh nghiệp
Một cách khái quát có thể hiểu quản trị tài chính doanh nghiệp là những tác động có ý thức của con người vào các hoạt động tài chính nhằm đạt được mục tiêu đề ra.
Cụ thể hơn quản trị tài chính cũng có thể hiểu là việc lựa chọn và đưa ra các quyết định tài chính, tổ chức thực hiện các quyết định đó nhằm đạt được mục tiêu hoạt động của doanh nghiệp, đó là tối đa hoá lợi nhuận, không ngừng làm gia tăng giá trị của doanh nghiệp và khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trong tương lai.
Trong quá trình điều hành hoạt động, các nhà quản trị tài chính doanh nghiệp thường xuyên phải đưa ra rất nhiều các quyết định tài chính tuy nhiên các quyết định này đều quay xung quanh ba vấn đề chính :
-Vốn được lấy từ đâu, và cơ cấu vốn huy động như thế nào để có được một cơ cấu vốn hợp lý.
-Nên đầu tư vào đâu cho có lợi và đạt được mục tiêt đặt ra là tối đa hoá lợi nhuận
-Phân phối lợi nhuận làm ra như thế nào để có thể làm hài hoà lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài.
Chính vì vậy nội dung của quản trị tài chính doanh nghiệp là :
-Tham gia đánh giá lựa chọn các dự án đầu tư và kế hoạch kinh doanh -Xác định nhu cầu vốn, tổ chức huy động các nguồn vốn để đáp ứng cho hoạt động của các doanh nghiệp
-Tổ chức sử dụng có hiệu quả số vốn hiện có, quản lí chặt chẽ các khoản phải thu chi, đảm bảo khả năng thanh toán của doanh nghiệp.
Trang 4-Thực hiện phân phối lợi nhuận trích lập và sử dụng các quỹ của doanh nghiệp
-Đảm bảo kiểm tra,kiểm soát thường xuyên đối với các hoạt động của doanh nghiệp, thực hiện phân tích tài chính doanh nghiệp.
1.2 Nội dung, phương pháp đánh giá tình hình tài chính doanh nghiệp
1.2.1 Ý nghĩa , mục đích của phân tích, đánh giá tình hình tài chính doanh nghiệp
Hoạt động tài chính có quan hệ trực tiếp, thường xuyên với hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và có vai trò quan trọng trong việc hình thành tồn tại và phát triển của doanh nghiệp Vai trò này thể hiện khi thành lập doanh nghiệp, trong việc thiết lập các dự án đầu tư ban đầu Vì thế chúng ta phải thường xuyên phân tích , đánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp để có đánh giá đầy đủ, toàn diện tình hình phân phối sử dụng và quản lý vốn, vạch rõ khả năng tiềm tàng giúp doanh nghiệp đạt đến cấu trúc tài chính tối ưu phù hợp nhất với doanh nghiệp của mình.
Như vậy qua phân tích đánh giá thực trạng tài chính doanh nghiệp giúp cho người quản lý uốn nắn kịp thời những sai xót lệch lạc trong công tác tài chính và có được những quyết định tài chính đúng đắn Đồng thời giúp cơ quan nhà nước, ngân hàng, nhà đầu tư…nắm được thực trạng tài chính của doanh nghiệp, củng cố tốt hơn hoạt động tài chính của mình.
1 Mục tiêu của phân tích đánh giá tài chính doanh nghiệp
Xét trên các giác độ khác nhau, phân tích tài chính hướng tới các mục tiêu cụ thể khác nhau,cụ thể :
-Trên giác độ là nhà quản trị doanh nghiệp : qua phân tích đánh giá tình hình tài chính sẽ cung cấp các thông tin tài chính cần thiết về doanh nghiệp mình, từ đó :
+ Đánh giá tình hình sử dụng vốn và làm cơ sở cho các dự báo, các quyết định đầu tư tài trợ phân phối lợi nhuận.
+ Đánh giá tình hình công nợ , tìm kiếm cách thức thu hồi công nợ.
Trang 5-Trên gác độ nhà đầu tư : qua phân tích tài chính giúp họ biết được khả năng sinh lời cũng như tiềm năng phát triển của doanh nghiệp.
-Trên gác độ những người cho vay : Mối quan tâm của họ là doanh nghiệp có khả năng trả nợ vay hay không, do vậy họ phân tích tài chính doanh nghiệp là nhằm nhận biết khả năng thanh toán khả năng sinh lời của doanh nghiệp.
Ngoài ra phân tích tài chính cũng rất cần thiết đối với những người hưởng lương trong doanh nghiệp, cán bộ thuế, thanh tra, cơ quan chủ quản…
1.1.3 Phương pháp đánh giá tình hình tài chính doanh nghiệp
Phân tích hay đánh giá tình hình tài chính doanh nghiệp đó là tập hợp các phương pháp phân tích và đánh giá tình hình đã qua và hiện tại cũng như dự đoán tình hình tài chính trong tương lai giúp cho nhà quản lý đưa ra các quyết định chính xác, đồng thời giúp các đối tượng quan tâm đưa ra các quyết định phù hợp.
Phương pháp phân tích tài chính là các cách thức, kỹ thuật để đánh giá tài chính doanh nghiệp trong quá khứ,hiện tại và dự đoán tài chính doanh nghiệp trong tương lai Từ đó giúp cho nhà quản lý đưa ra được các quyết định kinh tế phù hợp với các mục tiêu mong muốn của họ Để đáp ứng mục tiêu của phân tích tài chính người ta thường sử dụng cácphương pháp sau :
Trang 6* Về điều kiện so sánh :
-Phải tồn tại ít nhất hai đại lượng hoặc hai chỉ tiêu
-Các đại lượng chỉ tiêu khi so sánh với nhau phải có cùng nội dung kinh
tế và phải có cùng một tiêu chuẩn biểu hiện
+Phân tích theo chiều ngang : là việc so sánh cả về số tuyệt đối và số tương đối trên cùng một hàng (cùng một chỉ tiêu ) trên các báo cáo tài chính Qua đó thấy được sự biến động của từng chỉ tiêu.
+Phân tích theo chiều dọc : Là việc xem xét xác định tỷ trọng của từng chỉ tiêu trong tổng thể quy mô chung Qua đó thấy được mức độ quan trọng của từng chỉ tiêu trong tổng thể.
1.2.2.2 Phương pháp hệ số
Hệ số tài chính được tính bằng cách đem so sánh trực tiếp, chia một chỉ tiêu này với một chỉ tiêu khác để thấy được mức độ ảnh hưởng và vai trò của các yếu tố, chỉ tiêu này đối với chỉ tiêu, yếu tố khác.
1.2.2.3 Phương pháp phân tích mối quan hệ tương tác giữa các hệ
Trang 7của Mỹ đã thiết lập và phân tích mối quan hệ tương tác giữa các hệ số tài chính Phương pháp này có ý nghĩa thực tế rất cao :
*Ngoài ra người ta còn sử dụng phương pháp khác như : phương pháp liên hoàn, phương pháp biểu đồ, đồ thị phương pháp hồi quy tương quan… tuy nhiên trong đề tài chỉ tập trung phân tích tình hình tài chính dựa trên phương pháp so sánh và các phương pháp tỷ lệ.
1.2.3 Cơ sở số liệu chủ yếu để đánh giá tình hình tài chính doanh nghiệp
Để tiến hành phân tích người ta thường sử dụng nhiều tài liệu khác nhau trong đó chủ yếu là các báo cáo tài chính Những bộ phận quan trọng nhất cốt lõi của báo cáo tài chính là bảng cân đối kế toán và báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh.
*Bảng cân đối kế toán :
Bảng cân đối kế toán là một báo cáo tổng hợp về tình hình tài sản và
nguồn hình thành tài sản của một doanh nghiệp tại một thời điểm nhất định dưới hình thức tiền tệ.
Bảng cân đối kế toán bao gồm hai phần tài sản và nguồn vốn.
-Phần tài sản : phản ánh giá trị của toàn bộ tài sản hiện có đến thời điểm lập báo cáo thuộc quyền quản lí và sử dụng của doanh nghiệp.
-Phần nguồn vốn : phản ánh nguồn hình thành các tài sản hiện có của doanh nghiệp đến thời điểm lập báo cáo.
*Báo cáo kết quả kinh doanh :
Báo cáo kết quả kinh doanh là báo cáo tài chính tổng hợp phản ánh kết
quả kinh doanh trong năm của doanh nghiệp Số liệu báo cáo này cung cấp những thông tin tổng hợp nhất về tình hình tài chính và kết quả sử dụng các tiềm năng về vốn,lao động
kỹ thuật và kinh nghiệm quản lý doanh nghiệp.
Báo cáo kết quả kinh doanh gồm hai phần :
Phần 1 lãi lỗ : phản ánh tình hình kết quả kinh doanh của doanh nghiệp bao gồm hoạt động kinh doanh và hoạt động khác.
Trang 8Phần 2 Thực hiện nghĩa vụ đối với nhà nước : phản ánh tình hình thực hiện nghĩa vụ của doanh nghiệp đối với nhà nước về thuế và các khoản phải nộp khác.
1.2.4 Nội dung đánh giá tình hình tài chính doanh nghiệp xét trên góc độ quản trị
Để đánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp các nhà quản trị tài chính doanh nghiệp thường xem xét các nội dung sau :
-Đánh giá tình hình huy động tạo lập và sử dụng vốn
-Đánh giá hiệu quả sử dụng vốn
1.2.4.1 Đánh giá tình hình tạo lập và sử dụng vốn của doanh nghiệp *Phân tích diễn biến nguồn vốn và sử dụng vốn
Bảng phân tích diễn biến nguồn vốn và sử dụng vốn là một trong những
cơ sở và công cụ của các nhà quản trị tài chính để hoạch định tài chính cho
kỳ tới, bởi mục đích chính của nó là trả lời câu hỏi vốn xuất phát từ đâu và được sử dụng vào việc gì? Thông tin mà bảng kê diễn biến nguồn vốn và
sử dụng vốn cho biết doanh nghiệp đang tiến triển hay gặp khó khăn Thông tin này rất hữu ích với nhà đầu tư bởi vì họ muốn biết doanh nghiệp đang làm gì với số vốn của họ
Bảng kê diễn biến nguồn vốn và sử dụng vốn lập theo cách thức sau : -Các trường hợp tăng các khoản nợ phải trả, tăng vốn chủ sở hữu cũng như làm giảm tài sản của doanh nghiệp ở cuối kỳ so với đầu kỳ được phản ánh trên cột diễn biến nguồn vốn.
-Các trường hợp tăng tài sản của doanh nghiệp giảm các khoản nợ phải trả và vốn chủ sở hữu được đưa vào cột sử dụng vốn.
Riêng đối với phần tài sản có các khoản mục thể hiện bút toán đỏ (số âm) thì khi đưa vào bảng phân tích sẽ ngược lại với nguyên tắc trên.
Nguyên tắc lập bảng kê như sau :
Trang 9Diễn biến nguồn vốn và sử dụng vốn được thể hiện qua bảng :
Diễn biến nguồn
Trang 10Để có đánh giá hợp lý về chính sách huy động, tạo lập vốn của doanh nghiệp ta cần đi sâu phân tích cơ cấu và sự biến động của nguồn vốn thông qua số liệu ở phần nguồn vốn của bảng cân đối kế toán Việc tổ chức huy động vốn trong kỳ của doanh nghiệp như thế nào,có đủ đáp ứng nhu cầu sản xuất kinh doanh hay không được phản ánh thông qua sự biến động của nguồn vốn và chính sự biến động khác nhau giữa các nguồn vốn cũng sẽ làm cơ cấu nguồn vốn thay đổỉ.
Về cách thức phân tích : là so sánh từng nguồn vốn giữa cuối kỳ với đầu năm cả về số tương đối lẫn số tuyệt đối, xác định và so sánh giữa cuối
kỳ và đầu năm về tỷ trọng của từng loại vốn trong tổng để xác định chênh lệch cả về số tiền, tỷ lệ và tỷ trọng Phân tích kết cấu nguồn vốn nhằm đánh giá khả năng tài trợ về mặt tài chính của doanh nghiệp cũng như mức độ tự chủ trong kinh doanh hay những khó khăn mà doanh nghiệp phải đương đầu Khi tiến hành phân tích cần xác định một số chỉ tiêu sau:
+ Hệ số nợ
Hệ số nợ = Nợ phải trả
Tổng nguồn vốn + Hệ số vốn chủ sở hữu (tỷ suất tự tài trợ)
Hệ số VCSH = Nguồn vốn chủ sở hữu
Tổng nguồn vốn
Hệ số nợ cho biết trong 1 đồng vốn kinh doanh có mấy đồng hình thành từ nợ vay bên ngoài, tỷ suất tự tài trợ thì ngược lại cho thấy một đồng vốn kinh doanh có bao nhiêu đồng được đảm bảo từ nguồn hình thành là vốn chủ sở hữu Khi hệ số nợ thấp, tỷ suất tự tài trợ càng cao càng thể hiện khả năng độc lập cao về mặt tài chính hay mức độ tự tài trợ của doanh nghiệp càng nhiều Tuy vậy để có kết luận chính xác về sự hợp
lý của chính sách tạo lập vốn của doanh nghiệp cần thiết phải xét đến nhiều yếu tố khác nhau như đặc điểm sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp theo ngành nghề cũng như từng thời kỳ giai đoạn phát triển khác nhau của doanh nghiệp
*Đánh giá tình hình phân bổ và sử dụng vốn
Trang 11Trên cơ sở nguồn vốn đã huy động được doanh nghiệp sẽ tiến hành phân bổ vốn vào các khâu tương ứng Để có nhận xét chính xác về việc sử dụng vốn của doanh nghiệp trong kỳ có hợp lý hay không ta cần xem xét vốn trong kỳ đã được phân bổ vào đâu, tỷ lệ vốn từng khâu là bao nhiêu,nhiều hay ít tăng hay giảm giữa các kỳ, tỷ lệ này được coi là hợp lý hay chưa đó chính là mục tiêu của phân tích đánh giá tình hình sử dụng vốn trong doanh nghiệp.
Để tiến hành những phân tích đánh giá trên cần tập trung và những nội dung sau :
-Trước hết xem xét sự biến động của tổng tài sản vốn cũng như từng loại tài sản thông qua việc so sánh giữa cuối kỳ với đầu năm cả về số tuyệt đối lẫn số tương đối của tổng tài sản cũng như chi tiết đối với từng loại tài sản Qua đó thấy được sự biến động về quy mô kinh doanh, năng lực sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.Khi xem xét vấn đề này cần quan tâm đến các tác động của từng loại tài sản đối với quá trình kinh doanh cụ thể
+Sự biến động của tài sản cố định cho thấy quy mô và năng lực sản xuất hiện có của doanh nghiệp
-Thứ hai xem xét cơ cấu vốn có hợp lý hay không, cơ cấu đó tác động thế nào đến quá trình kinh doanh của doanh nghiệp thông qua việc xác định tỷ trọng của từng loại tài sản trong tổng tài sản , đồng thời so sánh tỷ trọng từng loại giữa cuối kỳ với đầu năm để thấy
sự biến động của cơ cấu nguồn vốn Các chỉ tiêu xem xét đánh giá cơ cấu vốn :
Trang 12Tỷ suất đầu tư vào TSDH = Giá trị còn lại của TSDH
để đầu tư vào TSDH.
Tỷ suất đầu tư vào TSDH càng lớn thể hiện mức độ quan trọng của TSDH trong tổng tài sản mà doanh nghiệp đang sử dụng kinh doanh, phản ánh tình hình trang bị cơ sở vật chất kỹ thuật, năng lực sản xuất và xu hướng phát triển lâu dài cũng như khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp Tuy nhiên để kết luận tỷ suất này tốt hay xấu còn phụ thuộc vào ngành nghề kinh doanh và điều kiện kinh doanh của doanh nghiệp trong từng thời gian cụ thể.
*Đánh giá tình hình thanh toán và khả năng thanh toán
Xem xét đến tình hình thanh toán và khả năng thanh toán cũng là một nội dung rất quan trọng khi đánh giá tình hình tạo lập và phân bổ vốn của doanh nghiệp Việc tạo lập phân bổ vốn không hợp lý có thể trực tiếp ảnh hưởng không tốt tới tình hình thanh toán cũng như khả năng thanh toán thông qua việc doanh nghiệp đầu tư vốn quá nhiều vào các khoản phải thu hay huy động vốn quá nhiều từ bên ngoài, đặc biệt là nguồn vốn ngắn hạn Ngược lại kết cấu các nguồn tài trợ và việc phân bổ vốn hợp lý phù hợp với điều kiện sản xuất kinh doanh đặc thù ngành thì điều này làm tăng tính lành mạnh về mặt tài chính của doanh nghiệp Chính vì lẽ đó khi phân tích tài chính rất cần thiết phải đánh giá tình hình thanh toán cũng như khả năng thanh toán của doanh nghiệp.
-Về tình hình thanh toán
Phân tích tình hình thanh toán là ta đánh giá tính hợp lý về sự biến động của các khoản phải thu, phải trả, tìm ra nguyên nhân dẫn đến sự trì trệ
Trang 13trong thanh toán Đồng thời thấy được sự tự chủ về mặt tài chính tình hình chấp hành kỷ luật tài chính và tôn trọng luật pháp của doanh nghiệp.
+Phân tích khoản phải thu
Tỷ lệ NPThu/VLĐ = Tổng nợ phải thuTổng VLĐ
Thông thường tỷ số này nhỏ là dấu hiệu tốt vì nó cho thấy quy mô khoản vốn bị chiếm dụng trong tổng vốn lưu động của doanh nghiệp là thấp, ngược lại khi tỷ số này lớn và dần tiến tới 1 thì đây là biểu hiện không tốt doanh nghiệp cần có biện pháp xử lý kịp thời, thúc đẩy nhanh hơn quá trình thi hồi nợ Tuy nhiên chưa thể đưa ra kết luận tỷ số này ở mức bao nhiêu là hợp lý bởi lẽ điều này còn phụ thuộc vào đặc thù sản xuất kinh doanh của từng doanh nghiệp trong từng ngành thậm chí trong từng giai đoạn khác nhau của doanh nghiệp.
+Phân tích các khoản phải trả
Tỷ lệ NPTrả/VLĐ = Tổng nợ phải trả
Tổng VLĐ
Nếu tỷ số này càng tăng thì tình hình tài chính doanh nghiệp đang gặp nhiều khó khăn Phân tích các khoản nợ quan trọng là phải sắp xếp theo thứ tự ưu tiên trong thanh toán Trên cơ sở đó xác định rõ nguyên nhân làm tăng các khoản công nọ và tình hình tồn đọng nợ để có biện pháp thanh toán đúng hạn.
-Về khả năng thanh toán
Khả năng thanh toán của doanh nghiệp biểu hiện ở số tiền và tài sản
mà doanh nghiệp hiện có có thể trang trải cáckhoản công nợ của doanh nghiệp.
Để đanh giá khả năng thanh toán của doanh nghiệp thông thường người ta sử dụng các chỉ tiêu sau:
+Hệ số khả năng thanh toán tổng quát
Hệ số khả năng thanh toán tổng quát = Tổng tài sản
Trang 14Tổng nợ phải thanh toán
Hệ số này phản ánh mối quan hệ giữa tổng tài sản hiện có với tổng nợ phải trả ( bao gồm nợ ngắn hạn và nợ dài hạn) Hệ số này nhỏ hơn 1 nó thể hiện những khó khăn về tài chính của doanh nghiệp và là một dấu hiệu cảnh báo sự phá sản Hệ số này lớn hơn 1 thì cũng chưa thể nói lên doanh nghiệp có khả năng thanh toán được hay không thanh toán được vì nó còn phụ thuộc ngành nghề kinh doanh của doanh nghiệp Nói chung hệ số này
ở mức cao là một dấu hiệu khả quan tuy nhiên nếu ở mức quá cao thì cũng cần xem xét lại.
+Hệ số khả năng thanh toán nợ ngắn hạn (hiện thời )
Hệ số khả năng thanh toán nợ ngắn hạn = TS ngắn hạn
Tổng nợ ngắn hạn
Hệ số thanh toán nợ ngắn hạn thể hiện mối quan hệ tương đối giữa tài sản ngắn hạn đối với nợ ngắn hạn Hệ số này cho biết cứ một đồng nợ ngắn hạn thì có bao nhiêu đồng tài sản ngắn hạn được đảm bảo Hệ số này có giá trị càng cao càng chứng tỏ khả năng thanh toán nợ ngắn hạn của doanh nghiệp càng lớn Tuy nhiên nếu quá cao thì điều này là không tốt vì nó phản ánh việc doanh nghiệp đầu tư qua mức vào tài sản ngắn hạn
so với nhu cầu của doanh nghiệp Và tài sản ngắn hạn dư thừa thường không tạo thêm doanh thu Do vậy, nếu doanh nghiệp đầu tư quá dư vốn vào tài sản ngắn hạn, số vốn đó sẽ không sử dụng có hiệu quả.
Để đánh giá khả năng thanh toán ngắn hạn của doanh nghiệp là tốt hoặc xấu thì ngoài việc dựa vào hệ số trên còn phải xem xét ba yếu tố sau :
2 Đặc điểm ngành nghề kinh doanh.
3 Cơ cấu tài sản ngắn hạn.
4 Hệ số quay vòng các khoản phải thu của khách hàng, hệ số quay vòng hàng tồn kho, hệ số quay vòng vốn lưu động.
Mặt khác hệ số này cao chưa phản ánh đúng năng lực thanh toán của doanh nghiệp như trường hợp vật tư hàng hoá bị ứ đọng nhiều không thể
Trang 15dễ dàng chuyển hoá thành tiền hoặc doanh nghiệp có sản phẩm dở dang quá lớn Vì vậy phải dùng hệ số thanh toán nhanh mới đánh giá chính xác được.
+Hệ số khả năng thanh toán nhanh
Hệ số khả năng thanh toán nhanh = TS ngắn hạn - HTK
Nợ ngắn hạn
Hệ số thanh toán nhanh thể hiện quan hệ giữa các loại tài sản ngắn hạn với khả năng chuyển nhanh thành tiền để thanh toán nợ ngắn hạn Các loại tài sản lưu động được xếp vào loại chuyển nhanh thành tiền gồm : tiền, các khoản đầu tư chứng khoán ngắn hạn và các khoản phải thu khách hàng vì
đó là những tài sản có thể nhanh chóng chuyển đổi thành tiền mặt Hàng tồn kho và các khoản ứng trước không được xếp vào loại tài sản ngắn hạn
có khả năng chuyển đổi nhanh thành tiền bởi vì người ta cần phải có thời gian bán chúng đi và có khả năng mất giá trị cao nghĩa là nó có khả năng thanh khoản kém nhất.
Hệ số khả năng thanh toán nhanh là một tiêu chuẩn khắt khe hơn về khả năng trả nợ ngắn hạn so với hai chỉ tiêu trên, nó giúp giúp nhà cho vay trả lời câu hỏi rằng : Nếu tất cả các khoản nợ ngắn hạn yêu cầu được thanh toán ngay tức khắc tại một thời điểm thì với tình hình tài chính hiện tại công ty có thể đáp ứng được hay không ?
+Hệ số khả năng thanh toán tức thời.
Hệ số khả năng thanh toán tức thời = Tiền + các khoản tương đương tiền
Trang 16xét đến nguyên tắc cân đối giữa tài sản và nguồn vốn Sự cân đối giữa tài sản và nguồn vốn không chỉ thể hiện ở cân đối giữa giá trị hình thành tài sản và nguồn hình thành tài sản bởi đây chỉ là hai mặt của một lượng tài sản mà còn thể hiện sự cân đối giữa thời gian vận động của tài sản và nguồn vốn Trên cơ sở đó ta có khái niệm nguyên tắc cân bằng tài chính, theo nguyên tắc này tài sản được tài trợ trong một thời gian không thấp hơn thời gian chuyển hoá tài sản ấy hay nói một cách khác thời gian của nguồn vốn được tài trợ không thấp hơn tuổi thọ của tài sản được tài trợ Khi tính đến độ an toàn trong thanh toán nguyên tắc cân bằng đòi hỏi tài sản dài hạn chỉ được tài trợ bởi một phần của nguồn vốn dài hạn; chỉ một phần tài sản ngắn hạn được tài trợ bởi nguồn vốn ngắn hạn Vì vậy khi xem xét việc tạo lập và phân bổ vốn của doanh nghiệp có đảm bảo nguyên tắc cân bằng tài chính không ta đo xem xét so sánh giữa tài sản dài hạn (TSCĐ và ĐTDH) và nguồn vốn dài hạn ( VCSH và nợ DH )
Các trường hợp có thể xảy ra :
-Nguồn vốn dài hạn < Tài sản dài hạn :
Nợ dài hạn + vốn chủ sở hữu < Tài sản cố định +đầu tư dài hạn
(hay : Tài sản ngắn hạn < nguồn vốn ngắn hạn )
Trong trường hợp này nguồn vốn dài hạn nhỏ hơn tài sản dài hạn (tài sản cố định và đầu tư dài hạn) điều này cũng đồng nghĩa với việc doanh nghiệp đã dùng một phần nguồn vốn ngắn hạn để tài trợ cho tài sản cố định và đầu tư dài hạn Đây là chính sách tài trợ không đen lai hiệu quả sự
ổn định và an toàn tuy rằng nó tiết kiệm được cho phí sử dụng vốn song khả năng rủi ro là rất lớn.
-Nguồn vốn dài hạn > Tài sản dài hạn
Nợ dài hạn + vốn chủ sở hữu > tài sản cố định +đầu tư dài hạn
(hay : Tài sản ngắn hạn > nguồn vốn ngắn hạn )
Trong trường hợp này nguồn vốn dài hạn (gồm vốn chủ sở hữu và nợ dài hạn) của doanh nghiệp lớn hơn tài sản dài hạn (hay tài sản ngắn hạn>nguồn vốn ngắn hạn) Điều này cho thấy tài sản dài hạn của doanh
Trang 17nghiệp được tài trợ hoàn toàn bởi nguồn vốn dài hạn, đồng thời đã có một phần nguồn vốn dài hạn tài trợ cho tài sản ngắn hạn Trong trường hợp này nguyên tắc cân bằng tài chính được đảm bảo, doanh nghiệp đã có nguồn tài trợ đem lại sự ổn định và an toàn Tuy nhiên chính sách tài trợ này làm cho chi phí sử dụng vốn cao hơn so với trường hợp trên, mặt khác
để có kết luận chính xác về chính sách này cần đi sâu xem xét đối chiếu nhu cầu được tài trợ của tài sản ngắn hạn với phần nguồn vốn dài hạn còn
dư để tài trợ cho tài sản ngắn hạn ( sau khi đã sử dụng tài trợ cho tài sản dài hạn).
-Nguồn vốn dài hạn = Tài sản dài hạn
Nợ dài hạn + vốn chủ sở hữu = Tài sản cố định + đầu tư dài hạn
(hay : Tài sản ngắn hạn = nguồn vốn ngắn hạn )
Cân bằng này chỉ tồn tại về mặt lý thuyết tại đó nguồn vốn dài hạn vừa
đủ tài trợ cho tài sản dài hạn, tài sản ngắn hạn được tài trợ bởi nguồn vốn ngắn hạn Đây là mô hình tài trợ hầu như không tồn tại trên thực tế tuy rằng với mô hình này nguyên tắc cân bằng tài chính vẫn được đảm bảo song nó là mô hình rất khó đạt được và cứng nhắc.
1.2.4.2 Đánh giá hiệu quả sử dụng vốn
Hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp thể hiện thông qua năng lực tạo ra giá trị sản xuất doanh thu và khả năng sinh lợi của vốn Hiệu quả sử dụng là vấn đề then chốt gắn liền với sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp.
Phân tích hiệu quả sử dụng vốn có tác dụng đánh giá chất lượng công tác quản lý sản xuất kinh doanh Trên cơ sở đó đề ra biện pháp nhằm nâng cao hơn nưac kết quả sản xuất kinh doanh, hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp.
*Hiệu quả sử dụng toàn bộ vốn
Để đánh giá hiệu quả sử dụng toàn bộ vốn nói chung của doanh nghiệp ta sử dụng chỉ tiêu vòng quay toàn bộ vốn.
Hiệu quả sử dụng toàn bộ vốn = DT thuần
Trang 18VKD bình quân
Chỉ tiêu này phản ánh trong một năm vốn của doanh nghiệp quay được mấy vòng hay một đồng vốn đầu tư có thể mang lại bao nhiêu đồng doanh thu thuần Qua đó ta có thể đánh giá được khả năng sử dụng tài sản, khả năng tận dụng vốn triệt để vào sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
*Hiệu quả sử dụng của từng loại vốn
Vốn của doanh nghiệp được dùng để đầu tư cho các loại tài sản khác nhau như TSDH và TSNH, vậy nên khi phân tích không chỉ quan tâm tới việc đo lường hiệu quả sử dụng tổng tài sản mà còn chú trọng đến hiệu quả sử dụng của từng bộ phận cấu thành tổng tài sản đó
5 Hiệu quả sử dụng vốn lưu động.
Vốn lưu động của doanh nghiệp bao gồm vốn bằng tiền các khoản phải thu, hàng tồn kho và vốn lưu động khác Để đánh giá hiệu quả sử dụng VLĐ là tốt hay chưa người ta thường căn cứ vào các chỉ tiêu sau :
-Tốc độ luân chuyển vốn lưu động
Tốc độ luân chuyển vốn lưu động thể hiện ở hai chỉ tiêu vòng quay VLĐ
và kỳ luân chuyển VLĐ
+Vòng quay vốn lưu động
Vòng quay vốn lưu động = DT thuần
VLĐ bình quân
Chỉ tiêu này phản ánh trong kỳ VLĐ quay được mấy vòng, có nghĩa là
cứ đầu tư bình quân 1 đồng vốn vào vốn lưu động sẽ tạo ra được bao nhiêu đồng doanh thu thuần Nếu chỉ tiêu này càng lớn hiệu quả sử dụng vốn lưu động càng cao vì hàng hoá tiêu thụ nhanh vật tư hàng hoá tồn kho thấp…Giúp tiết kiệm chi phí, tăng doanh thu, lợi nhuận và ngược lại Do đó doanh nghiệp cần xem xét kỹ có thể cân nhắc một mức dự trữ vốn lưu động ở các khâu thích hợp vừa bảo đảm cho hoạt động sản xuất kinh doanh tiêu thụ vừa tiết kiệm vốn nhằm mang lại hiệu quả cao nhất.
+Kỳ luân chuyển VLĐ
Trang 19Kỳ luân chuyển VLĐ = Sèvßng360quayVL§
Chỉ tiêu này phản ánh trung bình một vòng quay VLĐ hết bao nhiêu ngày Nếu chỉ tiêu này thấp thì tốt vì VLĐ không bị ứ đọng, ngược lại chỉ tiêu này cao chứng tỏ VLĐ bị ứ đọng dẫn đến hiệu quả sử dụng vốn thấp Ngoài ra để đánh giá chi tiết hơn hiệu quả sử dụng vốn lưu động ta có thể đi sâu đánh giá hiệu quả sử dụng của các bộ phận cấu thành chủ yếu của VLĐ là hàng tồn kho và các khoản phải thu qua các chỉ tiêu sau :
-Số ngày một vòng quay hàng tồn kho
Số ngày một vòng quay hàng tồn kho = Vòng quay HTK360
Chỉ tiêu này phản ánh số ngày trung bình một vòng quay hàng tồn kho Đây là nghịch đảo của chỉ tiêu vòng quay hàng tồn kho, do đó chỉ tiêu này nhỏ là tốt vì số vốn vật tư hàng hóa luân chuyển nhanh không bị ứ đọng vốn và ngược lại.
-Vòng quay các khoản phải thu
Vòng quay các khoản phải thu = DT tiêu thụ
Số dư bình quân các khoản phải thu
Doanh thu tiêu thụ ở đây là doanh thu tiêu thụ từ hoạt động sản xuất kinh doanh Chỉ tiêu này cho biết mức độ hợp lý của số dư các khoản phải
Trang 20thu và hiệu quả của việc thu hồi nợ Hệ số này càng lớn cho thấy doanh nghiệp thu hồi nợ kịp thời, ít bị chiếm dụng vốn, tuy nhiên nếu quá cao sẽ ảnh hưởng đến khối lượng hàng hoá tiêu thụ do phương thức thanh toán quá chặt chẽ.
-Kỳ thu tiền trung bình
Kỳ thu tiền trung bình = Vòng quay các khoản phải thu360
Phản ánh số ngày cần thiết để thu được các khoản phải thu Vòng quay các khoản phải thu càng lớn thì kỳ thu tiền trung bình càng nhỏ và ngược lại.
Chỉ tiêu hiệu suất sử dụng vốn cố định có thể phản ánh khái quát được tình hình sử dụng tài sản cố định nhưng vì doanh thu và vốn cố định đều là các chỉ tiêu tổng hợp, mang tính khái quát cao và thường chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố khách quan Vì vậy khi sử dụng chỉ tiêu này phải kết hợp tình hình cụ thể của doanh nghiệp mới có thể đánh giá một cách chính xác được.
-Hiệu suất sử dụng tài sản cố định
Hiệu suất sử dụng TSCĐ = DT thuần
Nguyên giá TSCĐ bình quân
Chỉ tiêu này cho biết 1 đồng nguyên giá TSCĐ tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu thuần
Trang 21
-Hàm lượng vốn cố định
Hàm lượng VCĐ = VCĐ bình quân sử dụng trong kỳDT thuần x Hiệu suất sử dụng VCĐ1
Đây là chỉ tiêu nghịch đảo của chỉ tiêu hiệu suất sử dụng vốn cố định, nó phản ánh để tạo ra 1 đồng doanh thu trong kỳ thì sẽ phải có bao nhiêu đồng vốn cố định tham gia vào sản xuất kinh doanh Chỉ tiêu này càng thấp thì hiệu quả sử dụng vốn cố định của doanh nghiệp càng cao và ngược lại.
Tóm lại trên cơ sở xác định đánh giá sự biến động các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng vốn sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong các kỳ, cần chỉ ra những nguyên nhân ảnh hưởng và kiến nghị các biện pháp nhằm không ngừng nâng cao hiệu quả sử dụng vốn sản xuất kinh doanh nói riêng và hiệu quả sản xuất kinh doanh nói chung của doanh nghiệp.
1.2.4.3 Đánh giá khả năng sinh lời
Để đánh giá khả năng sinh lời của doanh nghiệp ta sử dụng các chỉ tiêu
tài chính phản ánh khả năng sinh lời sau :
-Khả năng sinh lời của hoạt động
Trong quá trình tiến hành những hoạt động kinh tế, doanh nghiệp mong muốn lấy thu
bù chi và có lãi, bằng cách so sánh kết quả với doanh thu thuần, ta sẽ thấy khả năng sinh lời từ hoạt động của doanh nghiệp Một cách chung nhất khả năng sinh lời từ hoạt động được tính bằng tỷ lệ lợi nhuận trên doanh thu thuần.
Khả năng sinh lời = LN sau thuế
DT thuần
Phản ánh trong 1 đồng doanh thu mà doanh nghiệp thực hiện trong kỳ
có mấy đồng lợi nhuận sau thuế
Chỉ tiêu này giúp ta đánh giá được năng tạo ra lợi nhuận và khả năng
cạnh tranh của doanh nghiệp, chỉ tiêu thay đổi có thể do chi phí hoặc giá bán sản phẩm thay đổi Không phải lúc nào giá trị của nó cao là tốt Nếu nó cao do chi phí giảm thì tốt nhưng nếu cao do giá bán tăng lên trong bối
Trang 22cảnh thị trường tiêu thụ không thay đổi thì chưa phải là tốt vì có thể giảm tính cạnh tranh của doanh nghiệp trong tương lai.
-Tỷ suất lợi nhuận trước lãi vay và thuế (EBIT) trên VKD
EBIT/ VKD = LN trước lãi vay và thuế
VKD bình quân
Phản ánh bình quân 1 đồng vốn tham gia vào sản xuất kinh doanh tạo
ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận trước lãi vay và thuế.
-Tỷ suất lợi nhuận vốn kinh doanh
Tỷ suất lợi nhuận vốn kinh doanh = LNST (trước thuế)
để tăng tỷ suất lợi nhuận sau thuế(trước thuế) trên vốn kinh doanh thì phải tăng lợi nhuận bằng cách tiết kiệm chi phí và tăng doanh thu đồng thời đẩy nhanh vòng quay của vốn kinh doanh.
-Tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu
Tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu = LNST
VCSH bình quân
Chỉ tiêu này phản ánh khả năng sinh lời của vốn chủ sở hữu và được các nhà đầu tư đặc biệt quan tâm khi họ quyết định bỏ vốn đầu tư vào doanh nghiệp Để có thấy rõ hơn nguyên nhân dẫn tới ROE cao hay thấp người ra có thể sử dụ ng phân tích Dupont:
Trang 23ROE = LNST x DT thuần x VKD bình quân
DT thuần VKD bình quân VCSH bình quân
Qua phân tích trên ta thấy tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu của một công ty được giải thích theo ba cách :
+Sử dụng hiệu quả tài sản hiện có
+Gia tăng đòn bẩy tài chính( sử dụng nhiều vốn vay có hiệu quả )
+Tăng tỷ suất sinh lời trên doanh thu
Như vậy chúng ta có thể giữa các chỉ tiêu tài chính không độc lập mà có mối quan hệ với nhau Phân tích phương trình Dupont cho thấy được mối quan hệ giữa chúng, sự biến động của chỉ tiêu này tất yếu ảnh hưởng đến chỉ tiêu liên quan của nó.
1.2.5 Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh
nghiệp
Hiệu quả kinh doanh là thước đo chất lượng phản ánh trình độ tổ chức
quản lý kinh doanh Hiệu quả kinh doanh và khả năng sinh lời là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực sẵn có của doanh nghiệp về lao động, vật tư tiền vốn để đạt kết quả cao nhất với chi phí ít nhất.
Về mặt định lượng hiệu quả kinh doanh phải được thể hiện ở mối tương quan giữa thu và chi theo hướng tăng thu giảm chi, có nghĩa là tối đa hoá lợi nhuận, đồng thời với khả năng sẵn có làm ra nhiều sản phẩm.
Trong nền kinh tế thị trường, hiệu quả kinh tế là điều kiện sống còn đối với một doanh nghiệp Nó là mối quan hệ hàng đầu đối với các nhà quản trị, là mục tiêu của những chiến lược kinh doanh dù ngắn hạn hay dài hạn Doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả thì mới có thể tồn tại và khẳng định
vị trí, chỗ đứng của mình trên thương trường.
Xét trên phạm vi rộng hơn, việc nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp cũng rất cần thiết, bởi lẽ mỗi doanh nghiệp là đơn vị kinh tế
cơ sở và quan trọng của xã hội Nếu các doanh nghiệp không đảm bảo
Trang 24được yếu tố hiệu quả kinh doanh, làm ăn thua lỗ và tất yếu dẫn tới sự phá sản, thì xã hội sẽ bị ảnh hưởng lớn như nạn thất nghiệp và hàng loạt các mtổn thất khác…
Như vậy nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp là rất cần thiết và là mục đích cuối cùng của mỗi doanh nghiệp và các cá nhân tham gia hoạt động kinh doanh Đó là tiền đề phát triển đối với bản thân doanh nghiệp cũng như toàn xã hội Để có thể nâng cao được hiệu quả kinh doanh trước hết nhà quản trị phải nắm được thực trạng hoạt động sản xuất kinh doanh của mình thông qua việc tiến hành phân tích hoạt động sản xuất kinh doanh nói chung, đánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp nói riêng Qua đó cần đưa ra được các giải pháp thiết thực , hữu dụng để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh mà trước hết là nâng cao hiệu quả sử dụng vốn về cơ cấu vốn tình hình đảm bảo công nợ.
Trang 25CHơng II
Đánh giá thực trạng tài chính công ty cổ
phần cơ khí Mạo Khê.1 Sơ lợc quá trình hình thành và phát triển của Công ty.
định 03/2002/QĐ - BCN ngày 8/1/2002 Nhà máy chuyển thành đơn vị hạchtoán phụ thuộc Công ty than Mạo Khê- Tổng Công ty than Việt Nam Ngày5/11/2006 thực hiện quyết định số 125/2006/ QĐ - BCN của Bộ công nghiệp,Nhà máy cơ khí Mạo Khê (đơn vị trực thuộc Công ty Than Mạo Khê)- ThuộcCông ty than Việt Nam- đã thực hiện cổ phần hoá chuyển thành Công ty cổphần
- Công ty có:
Vốn điều lệ đăng kí kinh doanh là: 8.155.000.000 VNĐ ( Tám tỷ một trăm năm mơi năm triệu đồng)
- Các cổ đông của Công ty gồm có:
+Nhà nớc nắm giữ 36,6% số cổ phần của công ty
+ Ngoài ra các cổ đông còn lại nắm giữ 63,4% số cổ phần của Công ty
là các cán bộ công nhân viên trong Công ty Tuỳ thuộc vào số năm công táccủa cán bộ công nhân viên trong Công ty sẽ quyết định số lợng cổ phần mà họ
đợc nắm giữ (Ví dụ ngời có số năm công tác là 20 năm sẽ đợc quyền nắm giữnhiều cổ phần hơn ngời có số năm công tác là 10 năm hay 15 năm không kể làngời đó giữ chức vụ gì)
Trang 26- Trụ sở Công ty: Khu Quang Trung - Thị trấn Mạo Khê - Huyện ĐôngTriều - Tỉnh Quảng Ninh
+ Thiết kế, chế tạo sửa chữa các thiết bị phụ tùng phục vụ cho khaithác, vận tải, sàng tuyển than và khai thác chế biến vật liệu xây dựng
+ Thiết kế, chế tạo các loại xích máng cào và xích phục vụ giaothông, công nghiệp xi măng và mía đờng
+ Thiết kế, chế tạo lắp đặt các sản phẩm kết cấu thép
+ Thiết kế, đóng mới cải tạo và sửa chữa các phơng tiện cơ giới ờng bộ, đờng thủy, đờng sắt
đ-+ Sản xuất vật liệu xây dựng
+ Kinh doanh xuất nhập khẩu vật t, thiết bị hàng hóa phục vụ chosản xuất kinh doanh của Công ty
+ Kinh doanh vận tải vật t hàng hóa
+ Ngoài ra, Công ty còn đợc tiến hành các hoạt động kinh doanh vàdịch vụ khác theo pháp luật trên cơ sở khai thác tiềm năng và khả năng tiếp thịcủa Công ty
- Công ty đợc tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh của mìnhtrên phạm vi cả nớc và nớc ngoài theo đúng luật doanh nghiệp và theo giấyphép đăng ký kinh doanh
2.1.2 Điều kiện vật chất kỹ thuật của sản xuất tại Công ty
2.1.2.1 Điều kiện địa lý tự nhiên
Trang 27Công ty cổ phần cơ khí Mạo Khê là đơn vị cơ khí chủ yếu sản xuấtthiết bị, vật t phụ tùng phục vụ các đơn vị trong ngành than nằm ở địa bànQuảng Ninh
Diện tích xấp xỉ 51.039 m2 đợc giới hạn :
Phía đông giáp xã Phạm Hồng Thái, cách Hòn Gai 58 km
Phía tây giáp Công ty than Mạo Khê cách Hà Nội 100 km
Phía nam giáp thị trấn Mạo Khê cách Hải Phòng 30 km
Phía bắc giáp Công ty than Mạo Khê
Các phía đều có quốc lộ đi lại thuận lợi cho tiêu thụ sản phẩm
2.1.2.2 Công nghệ sản xuất.
Quá trình công nghệ đợc mô tả theo sơ đồ hình 1-1
Quá trình chế tạo sản phẩm của Công ty cổ phần cơ khí Mạo Khê đợc
bố trí trong 5 gian nhà xởng mỗi gian nhà xởng có diện tích là 1.800m Mỗi² Mỗinhà xởng có 01 sân công nghiệp
Lực lợng lao động động đợc bố trí và phân công theo dây chuyền côngnghệ Mỗi một phân xởng có nhiệm vụ chức năng khác nhau nhng đan xen lẫnnhau Các sản phẩm chế tạo đợc bắt đầu từ phân xởng kết cấu chuyên tạophôi các sản phẩm sau đó chuyển sang phân xởng cơ khí để gia công chế tạosau đó lắp ráp hoàn thiện sản phẩm Riêng phân xởng xích vòng là một phânxởng sản xuất đến sản phẩm cuối cùng không qua phân xởng kết cấu và phânxởng cơ khí Phân xởng đúc chuyên tạo phôi đúc thép, đúc gang
Trang 28Công ty cổ phần cơ khí Mạo Khê là một đơn vị sản xuất cơ khí đợc sửdụng và trang bị nhiều thiết bị đáp ứng mọi nhu cầu đặt hàng cơ khí của các
đơn vị cơ khí trong và ngoài ngành Nhng nếu đem so sánh với các doanhnghiệp cơ khí trong cả nớc, đặc biệt là với các doanh nghiệp cơ khí mới thànhlập thì Công ty cổ phần cơ khí Mạo Khê lại đang nắm những trang thiết bị đã
cũ, lạc hậu Vì vậy đây chính là một trong những thách thức cho Công ty khichuyển đổi hoạt động từ một doanh nghiệp nhà nớc sang Công ty cổ phần hoạt
động theo luật doanh nghiệp, có sự cạnh tranh mạnh mẽ của các doanh nghiệpkhác trên thị trờng Năm 2006 Công ty đã quan tâm đầu t một số máy mócthiết bị để tăng năng lực sản xuất và thay thế dần các máy móc thiết bị đã cũ
và lạc hậu nhng vì nguồn vốn có hạn nên cha đợc nhiều Năm 2007 Công ty
đã có phơng án đầu t lớn hơn để để khắc phục yếu điểm này
Với tổng số 229 máy móc thiết bị đợc phân thành các nhóm sau:
Bảng thống kê máy móc thiết bị của Công ty cổ phần cơ khí Mạo Khê
TT Tên nhóm thiết bị
Lắp đặt Sử dụng
Chênhlệch tuyệt
đối
Chỉ số; %
Trang 29- Nhóm thiết bị cắt gọt kim loại: Gồm tổng hợp các chủng loại máy:Tiện, phay, bào, doa, xọc.
- Nhóm thiết bị Hàn, uốn nắn kim loại: Gồm tổng hợp các chủng loạimáy hàn, máy búa, máy dập, máy cắt đột, máy ép, máy mài
- Hệ thống xích vòng: gồm máy cắt uốn, máy hàn, lò tôi, lò ram
- Nhóm thiết bị vận tải, nâng tải: Xe vận tải, cầu trục
- Nhóm thiết bị khác bao gồm: Thiết bị động lực, thiết bị quản lý
2.1.3.2 Tình hình tổ chức quản lý.
Bộ máy quản lý của Công ty Công ty cổ phần cơ khí Mạo Khê là một
đơn vị cổ phần nhà nớc không chi phối Công ty có quyền chủ động trong mọicông việc Bởi vậy muốn Công ty hoạt động có hiểu quả điều quan trọng nhất
là phải có bộ máy quản lý tốt Đối với Công ty cổ phần cơ khí Mạo Khê bộmáy quản lý đợc thành lập theo cơ cấu trực tuyến chức năng và t tởng điềuhành là tăng cờng các mối quan hệ ngang nhằm giải quyết công việc nhanhchóng Theo cơ cấu này, bên cạnh đờng trực tuyến còn có các bộ phận tham
mu Ngời lãnh đạo trực tuyến chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động của các
đơn vị cấp dới do mình phụ trách
Hình thức quản lý này có nhợc điểm là: Phức tạp trong mối quan hệ vìngời lãnh đạo phải thờng xuyên phải giải quyết các mối quan hệ giữa các đơn
vị trực tuyến và các đơn vị chức năng Tuy nhiên lại có u điểm là phụ hợp vớicông nghệ sản xuất của Công ty đồng thời phát huy hết tính chuyên mônCBCNV trong toàn Công ty và tạo điều kiện cho cán bộ trẻ tham gia công cácquản trị
Từ những đặc điểm của đơn vị sản xuất cơ khí cho thấy quá trình tổchức quản lý sản xuất kỹ thuật của Công ty hết sức phức tạp, từng khâu sảnxuất cũng nh giữa các khâu với nhau có mối quan hệ khăng khít Để đáp ứngcho quá trình sản xuất, khối lợng các công việc chuẩn bị kinh tế kỹ thuậtcũng rất lớn Hiện nay Công ty tổ chức quản lý theo 3 cấp: Cấp Công ty, cấpphân xởng, cấp tổ sản xuất
Mô hình tổ chức của Công ty cổ phần cơ khí Mạo Khê thể hiện nh trên hình(1-2)
Bộ máy quản lý của Công ty bao gồm:
Công ty cổ phần cơ khí Mạo Khê hiện có 360 CB, CNV
Trang 30Bộ máy lãnh đạo Công ty gồm 1 đồng chí Giám đốc, 2 đồng chí phógiám đốc, 7 phòng ban chức năng và 4 phân xởng sản xuất
Giám đốc Công ty: 01 ngời
Phó giám đốc Công ty: 02 ngời
Phòng kinh doanh: 11 ngời
dự kiến các sản phẩm theo nhu cầu thờng xuyên của các đơn vị trong và ngoàingành, các sản phẩm tồn kho để có kế hoạch sản xuất cho hợp lý Từ đó cácphân xởng bố trí thiết bị, lao động theo nhiệm vụ sản xuất
Bộ máy quản lý của Công ty ngày càng đợc hoàn thiện, mặt khác Công
ty còn chú trọng đến việc nâng cao trình độ cán bộ để đáp ứng yêu cầu côngtác nh đào tạo tại chỗ, cử CBCNV đi học nâng cao trình độ
Trong hệ thống tổ chức quản lý và sản xuất của Công ty, chức năngnhiệm vụ của các phòng ban rất rõ ràng và tơng đối hợp lý, đảm bảo khôngchồng chéo, bảo đảm tính chủ động và khả năng thực hiện nhiệm vụ tốt hơn
Trang 31Để đạt đợc điều này, từ ngày thành lập đến nay Công ty luôn có những
điều chỉnh trong bộ máy quản lý, tổ chức sản xuất của Công ty để cho phù hợpvới điều kiện SXKD, Công ty đã hợp lý hóa sản xuất, bố trí lại các phòng bansao cho gọn nhẹ, bên cạnh đó năm 2008 Công ty thành lập thêm phòng vật t từ1/4/2008 nhằm mục đích chuyên môn hóa trong chức năng nhiệm vụ
Tuy nhiên bộ máy quản lý của Công ty vẫn còn cồng kềnh do sử dụngquá nhiều nhân lực Điều này dẫn đến sự sử dụng lãng phí trong việc sử dụngnhân lực của khối gián tiếp, tăng chi phí quản lý doanh nghiệp của Công ty
Điều này Công ty cha thể một lúc mà giải quyết ngay đợc vì nhiều lý do Mặc
dù vậy hình thức quản lý của Công ty hiện nay đã và đang rất phù hợp với
điều kiện hiện tại, tạo điều kiện thuận lợi cho công tác quản lý và chỉ đạo sảnxuất Hình thức quản lý ngày càng phù hợp hơn trong giai đoạn hiện nay, khiCông ty đang dần từng bớc mở rộng quy mô sản xuất và hoàn thiện việc hạchtoán kinh tế ở các đơn vị và chuẩn bị cho việc tổ chức giao khoán cho từngphòng ban phân xởng
2.1.3.4 Tình hình sử dụng lao động trong Công ty cổ phần cơ khí Mạo Khê
Là một doanh nghiệp hạch toán kinh doanh độc lập trong cơ chế thị ờng Việc tổ chức sắp xếp lao động hợp lý trong dây chuyền sản xuất cũng nhcác khâu quản lý luôn là vấn đề rất đợc quan tâm Chính vì thế hàng nămCông ty luôn trích ra một phần kinh phí cho việc đào tạo cán bộ, khuyến khíchCBCNV học tập nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ tay nghề cho ngờilao động
tr-Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý và chất lợng lao động của Công ty cổphần cơ khí Mạo Khê đợc thể hiện qua bảng ( 1 -2)
Bảng báo cáo chất lợng lao động