Chính vì tầm quantrọng ấy, đòi hỏi giáo viên lớp 1 phải có kiến thức sư phạm tốt, tinh thần trách nhiệmcao, luôn tìm tòi học hỏi, nghiên cứu tìm ra những phương pháp phù hợp với chươngtr
Trang 1đi trước trong các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội.
1.2 Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo là đổi mới những vấn
đề lớn, cốt lõi, cấp thiết, từ quan điểm, tư tưởng chỉ đạo đến mục tiêu, nội dung,phương pháp, cơ chế, chính sách, điều kiện bảo đảm thực hiện; đổi mới từ sựlãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước đến hoạt động quản trị của các cơ
sở giáo dục - đào tạo và việc tham gia của gia đình, cộng đồng, xã hội và bảnthân người học; đổi mới ở tất cả các bậc học, ngành học
Thật vậy, tất cả tương lai, vận mệnh của dân tộc, của đất nước sau này là thế
hệ trẻ, thế hệ mà chúng ta đang gánh vác Vì thế vai trò của người giáo viên rấtquan trọng, nhất là chúng ta: Giáo viên tiểu học có trách nhiệm dạy Tiếng Việt –tiếng mẹ đẻ cho học sinh Phải làm cho các em đọc, nói, viết, hiểu tốt hơn
Đặc biệt là ở tiểu học, lớp 1 là lớp khởi đầu bậc học, môn Tiếng Việt là mônhọc có nhiệm vụ lớn lao là trao cho các em chìa khóa để mở các chữ ghi âm TiếngViệt, thông qua đó dạy trẻ biết đọc, biết viết một cách khoa học Chính vì tầm quantrọng ấy, đòi hỏi giáo viên lớp 1 phải có kiến thức sư phạm tốt, tinh thần trách nhiệmcao, luôn tìm tòi học hỏi, nghiên cứu tìm ra những phương pháp phù hợp với chươngtrình và tâm sinh lí học sinh, giúp các em học tập tốt nhằm hình thành một hệ thốngvững chắc cho việc tiếp nhận kiến thức ở các lớp học tiếp theo Trong môn TiếngViệt, Học vần là giai đoạn rất quan trọng đối với học sinh lớp 1, thông qua việc dạychữ, dạy âm, dạy vần thì giai đoạn Học vần còn phát triển vốn từ, học sinh biết nóiđúng những câu mẫu ngắn, tạo sự ham thích thơ văn Đây là điều kiện chuẩn bị đểcác em học tốt hơn môn Tiếng Việt ở các lớp trên Do đó, giáo viên cần hướng dẫn,tạo điều kiện trong học tập để các em phát âm chuẩn, đọc đúng và viết đúng
Trang 2Nhưng thực tế giáo viên giảng dạy phần Học vần (từ tuần 8 đến tuần 24)chúng tôi còn gặp nhiều khó khăn trong việc hướng dẫn học sinh học tập trênlớp Nguyên nhân chính là do các em còn rụt rè, chưa mạnh dạn phát biểu, ýthức học tập một số em chưa cao, không tập trung chú ý, dẫn đến không nắmđược các âm mới, vần mới, một số em phát âm chưa chuẩn, chưa nắm vững cáchđánh vần, chưa biết ghép âm để tạo thành vần, phát âm vần còn lẫn lộn, còn sainhững vần khó, việc ghi nhớ vần còn chậm.
Chính vì những hạn chế trên, vấn đề đặt ra là làm thế nào qua mỗi giờ Họcvần các em nhớ được âm mới, vần mới, nắm được cách đánh vần, biết phân biệtnhững vần có âm phát ra gần giống nhau, nắm được cấu tạo của tiếng gồm có 3 bộphận: âm đầu- vần- thanh, hiểu được nghĩa của tiếng, của từ mà các em được học,trên cơ sở đó biết vận dụng tìm thêm được tiếng mới, từ mới, giúp học sinh đọcđúng, viết đúng, nhằm góp phần đổi mới phương pháp và nâng cao chất lượng dạyhọc trong nhà trường nói chung, dạy cho học sinh lớp 1 học tốt phần vần nói riêng
Vì thế chúng tôi đã chọn đề tài "Kinh nghiệm giúp học sinh học tốt môn Tiếng Việt giai đoạn Học vần ở lớp 1B trường Tiểu học Bàu Năng B"
2 Mục đích nghiên cứu:
Trong quá trình giảng dạy giáo viên sử dụng linh hoạt các phương phápvào phân môn Học vần, vận dụng tốt những kinh nghiệm rèn đọc, viết cho họcsinh, giúp học sinh phát âm đúng, viết đúng vần, biết tìm tiếng, từ có chứa vầnvừa học một cách thành thạo, nắm vững các vần ngay tại lớp, nhằm nâng caohiệu quả phân môn Học vần, có kiến thức vững chắc để chuyển sang giai đoạnTập đọc và các môn học khác
3 Đối tượng nghiên cứu:
- Kinh nghiệm giúp học sinh học tốt môn Tiếng Việt giai đoạn Học vần
- Học sinh lớp 1B trường Tiểu học Bàu Năng B
Trang 35 Phương pháp nghiên cứu:
Để nghiên cứu tốt các kinh nghiệm giúp học sinh học tốt ở giai đoạn vần,chúng tôi đã sử dụng một số phương pháp sau:
5.1 Nghiên cứu tài liệu:
- Nghiên cứu các tài liệu, công văn có nội dung liên quan đến đề tàinghiên cứu nhằm rút ra các kinh nghiệm trong giảng dạy
- Nghiên cứu các cách dạy của từng tiết dạy giai đoạn Học vần ở sách giáo viên
5.2 Quan sát:
Quan sát học sinh khi ngồi viết và cách cầm bút, chúng tôi nhận thấy một
số em cầm bút và tư thế ngồi viết chưa đúng quy định và đọc cũng chưa chuẩn 5.3 Dự giờ:
Dự giờ phân môn Học vần các giáo viên lớp 1 trong trường và dự giờ cáctiết minh họa chuyên đề cụm nắm được tình hình thực tế học sinh, ý thức họctập, hình thức hoạt động của học sinh, rút kinh nghiệm cho bản thân để cóhướng bồi dưỡng, phụ đạo kịp thời về khâu luyện đọc và viết
Qua dự giờ rút kinh nghiệm của Ban giám hiệu và đồng nghiệp trên lớp,tìm ra phương pháp giảng dạy phù hợp giúp học sinh tiếp thu kiến thức một cáchnhẹ nhàng và hiệu quả
5.4 So sánh - đối chiếu:
Ghi nhận sai sót về kỹ năng : nghe, nói, đọc, viết của học sinh trong cácgiờ học so với đầu năm nhằm đánh giá chất lượng học sinh trước khi áp dụng đềtài và sau khi áp dụng đề tài để thấy được kết quả cũng như hạn chế nhằm tìm rahướng điều chỉnh và có phương pháp giảng dạy hiệu quả hơn
Tất cả những phương pháp trên sẽ giúp chúng tôi có thêm kinh nghiệmmới, có một cách nhìn mới trong việc giảng dạy ở giai đoạn Học vần
6 Giả thuyết khoa học:
Nếu giáo viên thực hiện đầy đủ các "Kinh nghiệm giúp học sinh học tốtmôn Tiếng Việt giai đoạn Học vần ở lớp 1B" một cách linh hoạt và lựa chọnphương pháp tối ưu thì chất lượng phần Học vần sẽ đạt hiệu quả hơn
II NỘI DUNG
Trang 41 Cơ sở lý luận:
Để thực hiện tốt đề tài, chúng tôi thực hiện các công văn sau:
- Căn cứ quyết định số 16/ 2006/ QĐ- BGD&ĐT ban hành chương trìnhgiáo dục phổ thông cấp Tiểu học ngày 5 tháng 5 năm 2006 về việc " Hướng dẫnthực hiện chuẩn kiến thức kỹ năng các môn học ở Tiểu học"
- Căn cứ công văn số 9832/ BGD- ĐT- GDTH ngày 01 tháng 09 năm
2006 về việc hướng dẫn thực hiện chương trình các môn học từ lớp 1 đến lớp 5(trong đó có môn Tiếng Việt lớp 1)
- Căn cứ công văn số 5842/ BGD- ĐT- VP ngày 01 tháng 09 năm 2011 vềviệc hướng dẫn điều chỉnh nội dung dạy học các môn học cấp Tiểu học
- Căn cứ Thông tư 30/2014/ TT- BGD-ĐT ngày 28 tháng 08 năm 2014của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và đào tạo về việc "Ban hành quy định đánh giá họcsinh Tiểu học"
Trong những năm gần đây, nghị quyết của Đại hội Đảng và các văn kiệnkhác của nhà nước, của Bộ Giáo dục và Đào tạo đều nhấn mạnh: "Cần đổi mớiphương pháp giáo dục cho phù hợp với sự phát triển của đất nước để tạo ranhững con người năng động, sáng tạo, có năng lực giải quyết vấn đề" Đồng thờimục tiêu dạy và học môn Tiếng Việt ở bậc Tiểu học cũng nêu rõ: Hình thành vàphát triển ở học sinh các kỹ năng sử dụng tiếng Việt (Nghe, nói, đọc, viết) Cungcấp cho học sinh những kiến thức sơ giản về tiếng Việt Bồi dưỡng tình yêu vàhình thành thói quen giữ gìn sự trong sáng, giàu đẹp của tiếng Việt, góp phầnhình thành nhân cách con người Việt Nam
Trong tiếng Việt, yêu cầu đặc biệt quan trọng đầu tiên của ngôn ngữ là phảinói đúng, viết đúng thì việc giao tiếp mới được thuận lợi Vì thế trước khi bắt đầuhọc chữ, học sinh lớp 1 biết nói và nghe nhưng chưa biết đọc và viết tiếng Việt.Học vần là bước đầu hình thành cho học sinh vốn ngôn ngữ trong học tập, giaotiếp trong cuộc sống Do đó, chất lượng của giai đoạn Học vần trong việc dạyđọc, viết cho học sinh Tiểu học có thể xem như cái nền móng của ngôi nhà Đểngôi nhà bền vững thì việc tạo một nền móng vững chắc từ lúc khởi công xâydựng phải được đặt lên hàng đầu
Trang 5Chính vì thế, đòi hỏi người giáo viên phải giáo dục, uốn nắn ngay từ buổiđầu Lớp 1 là lớp khởi nguồn những bậc thang đầu tiên cho các cấp giáo dục Do
đó, với vị trí bản thân là giáo viên dạy lớp 1, chúng tôi thấy được sự quan trọngcủa mình trong sự nghiệp trồng người Vì vậy, chúng tôi luôn tìm hiểu nghiên cứunhững phương pháp dạy học tốt nhất để giảng dạy nhằm giúp cho các em cónhững kỹ năng: nghe, nói, đọc, viết để tiếp bước trong quá trình học tập
Vậy muốn các em đọc thông, viết thạo thì đòi hỏi người giáo viên phải tìmhiểu, nắm bắt trình độ hiểu biết của từng học sinh mà tìm phương pháp áp dụngcho phù hợp Ngoài ra trong tiết dạy, giáo viên phải tổ chức cho tiết học sinhđộng, vui tươi, thoải mái: " Học mà chơi, chơi mà học" để các em phát huy hếtvốn hiểu biết của mình, từ đó các em sẽ nắm vững các vần hơn, đọc tốt hơn
2 Cơ sở thực tiễn:
2.1 Thực tiễn vấn đề nghiên cứu:
Tổng số học sinh: 28; Trong đó:
+ Được qua mẫu giáo: 24
+ Chưa qua mẫu giáo: 03
+ Lưu ban: 01
Qua thực tế giảng dạy hằng ngày ở lớp chúng tôi nhận thấy học sinhcòn hạn chế:
+ Phát âm chưa chuẩn
+ Chưa biết ghép âm để tạo thành vần
+ Việc ghi nhớ vần còn chậm
Nếu không nhớ âm, vần học sinh sẽ không đọc được tiếng hoặc đọc rấtchậm, gây khó khăn cho việc dạy giai đoạn Tập đọc sau này Học sinh cần rènluyện tính siêng năng, chăm chỉ, năng động và sáng tạo thì giai đoạn vần sẽkhông khó, nhưng nếu các em không tập trung trong giờ học sẽ dẫn đến khôngnắm chắc hết vần Vì vậy, giáo viên cần phải tìm ra những giải pháp tối ưu đểgiúp học sinh học tốt giai đoạn này Tuy nhiên, trong quá trình giảng dạy vẫncòn một số hạn chế sau:
* Về giáo viên:
Trang 6- Trong quá trình dạy giáo viên thiếu linh hoạt khi vận dụng các phương pháp.Giáo viên còn nói và làm việc nhiều, chưa đi sâu vào cách tổ chức lớp học như thếnào cho sinh động để gây hứng thú và tính tích cực trong học tập của học sinh.
- Giáo viên đôi khi dạy chạy theo thời gian, chưa dựa vào đặc điểm tâmsinh lí của học sinh làm hạn chế khả năng đọc, hiểu tiếng Việt của học sinh
2.2 Sự cần thiết của đề tài:
Đối với học sinh lớp 1, học tốt giai đoạn Học vần góp phần giúp cho các
em đọc đúng, viết đúng tiếng Việt làm nền tảng để chuyển sang giai đoạn Luyệntập tổng hợp Nếu học sinh không nắm vững sẽ dẫn đến đọc bài không được hoặcchậm, làm ảnh hưởng rất lớn đối với việc giảng dạy trên lớp Nhằm khắc phục cácmặt hạn chế trên, chúng tôi nhận thấy cần phải nghiên cứu và tìm ra kinh nghiệm
để giúp học sinh học tốt giai đoạn Học vần, nhằm nâng cao chất lượng của phầnHọc vần nói riêng và môn Tiếng Việt nói chung
3.1 Vấn đề đặt ra:
Trang 7Để nâng cao chất lượng ở giai đoạn Học vần, học sinh phải đạt được cácyêu cầu về kiến thức và kỹ năng cơ bản sau:
- Về kỹ năng: Học sinh biết đọc đúng vần, tiếng, từ, câu và biết cầm sáchđọc bài đúng tư thế
- Về kiến thức: Bước đầu nhận biết vần, phân tích cấu tạo vần, tiếng vànhận biết một số quy tắc chính tả: c/k, g/gh, ng/ngh
Qua thực tế, đa số học sinh lớp 1B phát âm chưa chuẩn; Thói quen sai một
số từ có âm đệm; Việc ghi nhớ vần còn chậm Cần làm gì để các em khắc phụcnhược điểm này? Phải có phương pháp hướng dẫn học sinh như thế nào để các
em đọc đúng, viết đúng phần Học vần?
Vì vậy, muốn nâng cao chất lượng giai đoạn Học vần cho học sinh lớp 1,giáo viên cần thực hiện theo phương pháp "Lấy học sinh làm trung tâm" nhằmphát huy tính tích cực chủ động, sáng tạo của học sinh Giáo viên đưa ra cáchthức hoạt động dạy học nhẹ nhàng giúp học sinh tiếp nhận các tri thức, rènluyện các kỹ năng: nghe, nói, đọc, viết để học sinh giao tiếp thuận lợi hơntrong các môi trường hoạt động phù hợp với lứa tuổi các em Bước đầu hìnhthành cho các em vốn ngôn ngữ trong học tập, giao tiếp trong cuộc sống
3.2 Các kinh nghiệm giúp học sinh học tốt môn Tiếng Việt giai đoạn Học vần:
3.2.1 Chú ý xây dựng nền nếp học tập, tư thế ngồi viết, cách cầm bút, cách cầm sách khi đọc bài, cách đặt tập và sự chuẩn bị trước khi viết của học sinh:
* Xây dựng nền nếp học tập:
- Nền nếp học tập là một công việc hết sức quan trọng mà bất cứ giáo viênlớp 1 nào cũng phải đặt lên hàng đầu Do đó vào tuần học đầu tiên, tôi đã xâydựng cho lớp những nền nếp sau: Xếp chỗ ngồi hai em là nhóm đôi bạn học tập,giờ học mạnh dạn trình bày ý kiến, tự tin trước tập thể, sử dụng bảng con kèmkhăn lau sạch, ẩm, phấn không bụi, ngồi đúng tư thế, giữ gìn sách vở sạch sẽ,học sinh biết sắp xếp đồ dùng học tập ngăn nắp, gọn gàng
* Tư thế ngồi viết:
Trang 8- Khi ngồi lưng phải thẳng, các em không được tì ngực vào bàn, đầu hơi cúixuống nhưng không được cúi sát bàn Tay phải cẩm bút, tay trái để nhẹ nhàngtrên một phẩn của vở Hai chân để song song thoải mái.
* Cách cầm sách khi đọc bài:
- Học sinh cầm sách bằng 2 tay, tay trái đặt dưới gáy sách, tay phải đặttrên trang phải và ở giữa trang sách, khi đọc bài không để sách quá gần làm ảnhhưởng mắt dễ bị cận thị
* Cách đặt tập:
- Khi viết đặt tập nghiêng so với mép bàn một góc khoảng 30 độ nghiêng
về phía bên phải
* Chuẩn bị trước khi viết:
- Giai đoạn viết bút chì, cần chuẩn bị chu đáo cho đầu nét bút chì hơi nhọnđúng tầm Nếu quá nhọn dẫn đến nét chữ mảnh, có khi chọc thủng giấy Ngượclại, đầu nét quá ù nét chữ sẽ to đậm, chữ viết rất xấu khi chuyển sang bút mực,giáo viên yêu cầu học sinh thống nhất viết bút mực màu tím Mỗi học sinh luôn
có 2 cây bút
Trang 9- Việc chuẩn bị tinh thần khi viết rất cần thiết, trạng thái phải phấn chấn,hứng thú Không viết khi quá mệt mỏi, buồn ngủ, uể oải, tránh tư tưởng viếtnhanh cho xong.
3.2.2 Quan tâm đến cơ sở vật chất và đồ dùng học tập trong tiết học:
- Về cơ sở vật chất:
Giáo viên nên quan tâm đến ánh sáng trong phòng, đảm bảo đủ ánh sáng
trong phòng để các em không bị dị tật sau này Phòng học thoáng mát, bảngphụ tranh ảnh được treo ở độ cao vừa phải ngang tầm đầu của học sinh ngồitrong lớp
- Về đồ dùng học tập:
+ Bảng viết của học sinh:
Phải có kẻ ô li rõ và có độ nhám để khi các em viết có điểm tựa Nhiềuhọc sinh sử dụng bảng làm bằng chất liệu mica màu trắng, dụng cụ viết bằng bút
dạ Dùng loại bảng và bút này có nhiều hạn chế, bảng trơn, học sinh viết khôngchủ động mực ra đậm nhạt không đều, khi xóa dễ gây bẩn, mất vệ sinh
+ Vở tập viết:
Vở tập viết do Nhà xuất bản Giáo dục ấn hành hàng năm là phương tiệnluyện tập, thực hành quan trọng của học sinh Vở tập viết in sẵn chữ mẫu thểhiện nội dung và yêu cầu của bài tập viết Giáo viên cần nắm vững yêu cầu vàđặc điểm từng bài viết để hướng dẫn cách viết thích hợp
+ Cây bút:
Cây bút phải có trọng lượng và độ dài phù hợp với tay cầm của học sinh.Không được quá ngắn hoặc quá dài, trọng lượng của cây viết cũng không đượcquá nặng, nếu sử dụng cây viết không phù hợp thì học sinh sẽ mau mỏi tay dẫnđến việc các em không thể viết một cách thoải mái, vì vậy chữ viết sẽ xấu vàkhông đúng mẫu
3.2.3 Sử dụng tốt các phương pháp và hình thức học tập trong các tiết dạy:
Giáo viên lựa chọn và sử dụng linh hoạt các phương pháp giảng dạy nhẹnhàng phù hợp với đối tượng học sinh sẽ phát huy tính tích cực, chủ động và
Trang 10giúp các em tiếp thu bài một cách vững vàng Những phương pháp được đặc biệtchú ý khi giảng dạy Học vần là: phương pháp hỏi đáp, phương pháp phân tích,tổng hợp, phương pháp quan sát, sử dụng đồ dùng trực quan, đàm thoại, gợi mở,rèn luyện theo mẫu, tổ chức trò chơi luyện tập thực hành.
* Phương pháp hỏi đáp:
- Khi soạn bài giáo viên cần chuẩn bị một hệ thống câu hỏi, các câu hỏinày tập trung hỏi về nội dung kiến thức của bài học, không hỏi dài dòng Câuhỏi phải được dành riêng cho từng đối tượng học sinh Trong tiết dạy giáo viênchú ý vận dụng phương pháp phù hợp, đúng lúc, đúng chỗ như:
+ Hỏi để rút ra từ khóa, tiếng khóa mới trong bài
+ Hỏi để phân tích tiếng mới trong bài, tìm tiếng từ mới có chứa vầnvừa học
+ Luyện viết: Hỏi để học sinh nắm độ cao và khoảng cách các con chữ + Hỏi trong phần luyện nói
Ví dụ: Dạy vần "ang".
- Giáo viên cho học sinh quan sát "lá bàng" rút ra tiếng "bàng"
- Giáo viên hướng dẫn học sinh phân tích tiếng "bàng" rút ra vần "ang"
giáo viên hỏi:
+ Tiếng "bàng" có âm đầu gì dấu gì em đã học rồi ?
- Giáo viên hướng dẫn học sinh tổng hợp tiếng "bàng" giáo viên hỏi: + Có vần "ang" muốn có tiếng "bàng" ta làm sao ?
- Giáo viên kết hợp phương pháp đàm thoại, gợi mở, tổ chức tìm tiếng và
từ mới có chứa vần vừa học
+ Đối với học sinh nắm được âm: Giáo viên cho xem vật thật, tranhảnh như "cái bảng", "màu vàng", "bánh tráng" gợi ý cho học sinh tìm tiếng + Đối với học sinh mức độ hiểu biết nhanh: Giáo viên gợi ý cho các emtìm từ
- Đến phần luyện nói giáo viên gợi ý để học sinh luyện nói tự nhiêntheo chủ đề
- Đọc tên chủ đề luyện nói: Buổi sáng.
Trang 11- Giáo viên hướng dẫn học sinh xem tranh, nêu câu hỏi gợi ý thực hànhhỏi đáp theo cặp, theo nhóm hoặc trả lời cá nhân Khi trả lời giáo viên nênhướng dẫn các em nói tròn câu.
+ Trong tranh vẽ gì ?
+ Trong bức tranh, buổi sáng mọi người đang đi đâu ?
+ Em quan sát buổi sáng thấy những người trong nhà em làm những việcgì? (học sinh mức độ hiểu biết nhanh trả lời)
Trong tiết dạy, giáo viên sử dụng phương pháp này rất hiệu quả vì nó giúphọc sinh tìm hiểu bài mới một cách sinh động, tích cực chủ động Nhờ đó các
em nắm vững vần vừa học, hứng thú học tập Qua đó giáo viên phân loại họcsinh theo nhóm và áp dụng phương pháp giảng dạy phù hợp với từng đối tượnghọc sinh
* Phương pháp phân tích, tổng hợp:
Phân tích trong dạy Học vần là tách các hiện tượng ngôn ngữ theo: từ tiếng - vần Tổng hợp là ghép các yếu tố ngôn ngữ đã tách đó trở lại dạng banđầu thành tiếng các thao tác tách và ghép này phải được phối hợp nhuầnnhuyễn Phương pháp này được áp dụng khi giảng bài mới Giáo viên cho họcsinh phân tích từ - tiếng - vần, khi các em nắm được vần mới thì tổng hợp trở lại
-và đọc trơn Để sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp đạt hiệu quả giáo viênphải kết hợp với phương pháp hỏi đáp
Ví dụ: Dạy vần mới "ia"
- Phân tích từ khóa "lá mía"
- Giáo viên hỏi: từ "lá mía" tiếng nào em đã học rồi ? (tiếng "lá")
- Giáo viên nêu: tiếng "lá" học rồi, giáo viên xóa tiếng "lá" còn tiếng mới
là tiếng "mía"
- Phân tích tiếng khóa "mía"
- Giáo viên hỏi: tiếng "mía" có âm đầu là gì và dấu gì đã học rồi? (âm "m"
và dấu sắc)
- Giáo viên xóa âm "m" và "dấu sắc" còn lại vần mới là vần "ia"
- Phân tích vần "ia"
Trang 12- Giáo viên hỏi: Vần "ia" gồm có mấy âm ghép lại? Học sinh nêu vị trí củatừng âm Sau đó cho học sinh phân tích vần "ia" vào bảng con i- a, cả lớp đánhvẩn, giáo viên nhận xét, sửa sai cho học sinh.
Tương tự, sau khi phân tích xong cho học sinh tổng hợp lại vần "ia", tiếng
"mía", từ "lá mía" Cuối cùng cho học sinh đọc trơn vần, tiếng, từ
Trong quá trình sử dụng phương pháp này, chúng tôi nhận thấy học sinhnắm chắc được vần đã học, tiếp thu kiến thức một cách chủ động
* Phương pháp quan sát, sử dụng đồ dùng trực quan:
- Đây là phương pháp quan trọng trong quá trình hướng dẫn học sinh nắm
vững các vần đã học Đối với học sinh lớp 1 khả năng tư duy còn kém, phần lớncác em phải dựa trên mô hình vật thật, tranh, ảnh.Vì thế, đồ dùng trực quan đóngvai trò quyết định hiệu quả của mỗi tiết dạy, nó giúp các em chú ý vào bài học,hứng thú học tập, nhất là những em học hiếu động
Ví dụ: Dạy vần "ung".
- Đồ dùng trực quan: bông súng
Giáo viên cho học sinh quan sát "bông súng" rất đẹp để thu hút sự chú ýcủa các em, sau khi quan sát các em tự tìm ra từ "bông súng", rồi rút ra tiếngkhóa "súng", có tiếng khóa rồi tự tìm ra âm đầu "s" và "dấu sắc" đã học rồi đểrút ra vần "ung"
- Bộ chữ là đồ dùng trực quan, học sinh dùng bộ chữ ghép vần "ung",tiếng "súng" giúp khắc sâu kiến thức đã học
Giáo viên tổ chức trò chơi để củng cố kiến thức bằng cách cho học sinh thiđua tìm nhiều tiếng có chứa vần vừa học qua bộ đồ dùng của học sinh hoặc củagiáo viên, trưng bày lên bàn một số vật thật và tranh ảnh giáo viên chuẩn bị sẵnnhư (bông súng, bông hồng, vải mùng, lá bàng, cái thùng, trái sung, củ lang),cho học sinh tìm những đồ vật nào có tên có chứa vần "ung" vừa học, qua đógiúp các em nhớ vần lâu hơn và hứng thú học tập khắc sâu kiến thức tốt hơn
* Phương pháp luyện tập thực hành:
- Phương pháp này đưa ra kiến thức từ đơn giản đến phức tạp, từ dễ đếnkhó dưới sự hướng dẫn của giáo viên, học sinh vận dụng kiến thức đã học rèn
Trang 13luyện kỹ năng phát âm Tăng cường luyện tập thực hành để phát triển kỹ năngnghe, nói, đọc, viết cho học sinh nhằm đạt được yêu cầu của giai đoạn Học vần.
Ở phương pháp này giáo viên kết hợp nhuần nhuyễn với các phương phápnhư: hỏi đáp, trực quan thì tiết học sẽ đạt kết quả cao
Ví dụ: Dạy vần "am".
- Học sinh thực hành ghép chữ qua bộ đồ dùng:
- Giáo viên cho học sinh đọc trơn vần "am" Học sinh ghép tiếng "cam"
- Giáo viên hỏi: Có vần "am" muốn có tiếng "cam" ta làm sao ?
- Sau khi học sinh tìm tiếng mới có vần "am": Giáo viên hỏi: trong tiếng
"cam" âm nào đứng trước vần "am"? Vậy muốn tìm tiếng có vần "am" ta làmsao? (Học sinh nêu: muốn tìm tiếng có vần "am" ta tìm âm đứng trước ghép vớivần "am" sau đó thêm dấu thanh đặt trên hoặc dưới âm a) Học sinh thực hành tìm
âm đứng trước ghép với vần "am" và thêm dấu thanh để tạo thành tiếng mới như:(lam, thảm, tám, chàm) Đối với học sinh nắm chưa vững vần giáo viên yêu cầucác em lấy một âm trong bộ đồ dùng như: (b, h, c, n, đ, t, l) ghép lại với vần "am"
và thêm dấu thanh đặt trên hoặc dưới âm a rồi cho học sinh đánh vần, đọc trơn Ngoài việc ghép chữ qua bộ đồ dùng, giáo viên còn cho học sinh viết lạicác vần đã học, viết lại các tiếng đã học Từ đó các em biết tìm viết tiếng và từ
có chứa vần vừa học Với phương pháp này giáo viên giúp cho học sinh khắcsâu kiến thức vừa học, góp phần hình thành các kỹ năng đọc và viết một cáchchính xác và phát triển được những đặc trưng tâm lý lứa tuổi, nhất là phát triểnkhả năng quan sát
Tóm lại: Mỗi phương pháp đều có những ưu điểm riêng phù hợp với từngtiết dạy, từng hoạt động trong học tập Nếu giáo viên biết vận dụng, phối hợp hàihòa các phương pháp trong tiết học sẽ giúp học sinh phát huy được tính tích cựchọc tập, từ đó tiết học trở nên nhẹ nhàng và có hiệu quả tốt hơn
- Trong quá trình thực hiện một tiết dạy, tôi luôn sử dụng linh hoạt cácphương pháp phù hợp với từng đối tượng học sinh, đến từng bàn quan sát, uốnnắn kịp thời để học sinh hoàn thành công việc đúng thời gian
* Phương pháp giúp học sinh nắm chắc luật chính tả:
Trang 14Trong tiết dạy, giáo viên hướng dẫn các em tìm tiếng mới có chứa vần
vừa học, khi học sinh tìm tiếng không phải bất cứ âm nào đều cũng ghép đượcvới vần Vì vậy khi tìm tiếng mới tôi cần lưu ý cho học sinh những vần có âm
đứng trước là e, ê, i các vần như: (eo, ênh, et, êt, inh, iêng) thì sẽ không ghép được với các âm như: c, g, ng mà chỉ ghép được các âm k, gh, ngh.
Để giúp học sinh ghép hoặc viết đúng các tiếng, giáo viên cần cho họcsinh nắm vững các luật chính tả như sau:
- Luật chính tả âm c/k:
+ Viết bằng chữ "c" khi đứng trước các vần có âm bắt đầu là a, ă, â, o, ô, ơ,
u, ư.
Ví dụ: cái, cam, cân, cung, cánh
+ Viết bằng chữ "k" khi đứng trước các vần có âm bắt đầu là e, ê, i.
Ví dụ: kênh, kính, kẻng, kéo
- Luật chính tả âm g/gh:
+ Viết bằng chữ "g" khi đứng trước các vần có âm bắt đầu là a, ă, â, o,
ô, ơ, u, ư.
Sau khi giáo viên hướng dẫn cho học sinh nắm luật chính tả, giáo viên đưa
ra một số cặp từ cho các em thi đua điền chữ vào chỗ chấm để kiểm tra mức độnắm luật chính tả của học sinh
Ví dụ:
- Điền chữ c hoặc k vào chỗ chấm ?
Trang 15Ông trồng ây cảnh, Bà ể chuyện.
- Điền chữ g hoặc gh vào chỗ chấm ?
ghi bằng âm gì, nếu âm đó ghi bằng chữ e, ê, i thì điền vào chỗ chấm đó là chữ
k, gh, ngh, còn nếu như đã ghi bằng chữ a, ă, â, o, ô, ơ, u, ư thì điền vào chỗ chấm đó là chữ c, g, ng.
Tóm lại, giáo viên cần chốt lại cho các em nhớ là:
Âm c đứng trước e, ê, i thì được viết bằng chữ k.
Âm g đứng trước e, ê, i thì được viết bằng chữ gh.
Âm ng đứng trước e, ê, i thì được viết bằng chữ ngh.
- Bên cạnh đó giáo viên cần giúp học sinh nắm chắc quy tắc dấu thanh như: những vần có âm cuối c, t, p, ch thì không ghép được với thanh huyền, hỏi,
ngã, thanh ngang mà chỉ ghép được với thanh sắc và thanh nặng
Ví dụ: nhạc, bát, tháp, gạch
- Đối với những vần bắt đầu bằng u như: (uyêt, uôc) khi tìm tiếng các em
có thể ghép với âm qu thì giáo viên nên giải thích là âm qu đứng trước nhưng vìhai âm u đứng liền nhau nên lược bỏ bớt một âm u
Ví dụ: quyết, quốc.
3.2.4 Hình thành và phát triển kỹ năng: Nghe, nói, đọc, viết Tiếng Việt:
Trước hết ta cần xác định rằng:Yêu cầu cơ bản của tiếng Việt là hìnhthành và phát triển kỹ năng: nghe, nói, đọc, viết tiếng Việt Để đạt được những
kỹ năng trên khi dạy môn Tiếng Việt giai đoạn Học vần, chúng tôi hướng dẫnhọc sinh nắm vững các yêu cầu sau:
* Yêu cầu về kỹ năng nghe: