Để giải quyết các mâu thuẫn cũng như loại bỏ khả năng kiếm tra -chồng chéo và nâng cao hơn nữa hiệu quả hoạt động và hiệu lực về kiểm tra giám sắt các hoạt động tài chính công, đề tài:
Trang 1
KIEM TOAN NHA NUGC
DE TAI KHOA HOC CAP BO
CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ THỤỰC TIEN
TRONG VIỆC XÁC ĐỊNH PHAM VI HOẠT ĐỘNG CUA KTNN VÀ SỰ KHÁC NHAU GIỮA HOẠT ĐỘNG KTNN VỚI THANH TRA NHÀ NƯỚC VÀ THANH TRA TÀI CHÍNH
Mã số: 50211
Số đăng ký: 2000-98-088
Chủ nhiệm đề tài: TS Nguyễn Đình Hựu
P Chủ nhiệm: TS Lê Quang Bính Thư ký: Ths Trương T H Giang
Thành viên: CN Hồ Sỹ Hồng
CN Lê Hùng Minh CN.Tạ Xuân Thâu
Trang 2„Đời nói dầu
Tăng cường khả năng kiểm tra, kiểm soát của nhà nước đối với mọi
hoạt động của nên kinh tế xã hội là nỗi bức xúc của mợi quốc gia trên thế
' giới, đặc biệt trên lĩnh vực tha, chỉ và quản lý sử dụng tài chính công Té nạn tham những lan tràn và phát triển là thách thức nghiêm trọng dối với mọi quốc gia Tệ nạn này đang có xu hướng hướng vào đục khoét các
nguồn lực tài chính công Nhiều quốc gia trên thế giới do hệ thống kiểm tra kiểm soát của nhà nước hoạt động kém hiệu quả nên gần như bị vô hiệu
hoá Hậu quả nghiêm trọng của nó là làm médt long tin từ phía nhân dân đốt với Chính phú và đối với các cơ quan công quyên Nhà nước, tạo nên những hậu quả khôn lường
Sự chuyển hoá nên kinh tế Việt Nam từ cơ chế kế hoạch hoá tập
trung chuyển sang cơ chế thị trường, cũng đồng nghĩa với sự chấp nhận
cạnh tranh gay gắt trong phạm vì quốc gia và trên trường quốc tế Hệ thống
kiêm tra kiểm soát theo cơ chế thanh tra và xét duyệt báo cáo quyết toán
định kỳ đối với các đơn vị nhà nước trước đây không còn phù hợp, có nguy
cơ mất dần hiệu lực hoạt động Trong nhiều trường hợp bọn tham những dùng chính hệ thống này làm phương tiện hợp thức hoá những hành ví xâm
_ hại tài sản công của nhà nước, gây nhiều khó khăn cho các đơn vị được
kiểm tra, thanh tra
Sự ra đời của Kiểm toán Nhà nước (KTNN) để thể hiện chức năng giám sát và kiểm tra thường xuyên, định kỳ một cách độc lập, khách quan
đối với các hoạt động tài chính công phù hợp với cơ chế mới của nền kinh
tế, là sự đáp ứng yêu cầu tất yếu khách quan của xu hướng cải cách Hoạt
động kiểm tra, kiểm soát của cơ quan KTINN được coi là hoạt động của cơ
quan kiểm tra, độc lập từ bên ngoài cơ quan được kiểm tra Điều này tạo ra
khả năng về ngăn chặn và phát hiện các sai phạm liên quan đến các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến quản lý, điều hành và sử dụng tài chính công cũng như nâng cao khả năng dánh giá, nhận xét một cách khách quan về quản lý và sử dụng các nguồn lực tài chính công đó
Tuy nhiên, một thực tế đặt ra cần phải xử lý gắn liền với hoàn cảnh
ra đời của KTNN dó là sự song rùng nhiều thiết chế kiểm tra với cùng một
nh vực tài chính công của nhà nước, đó là: Thanh ra Nhà nước, Thanh
Trang 3tra Tài chính, Kiếm toán Nhà nước và các loại hình kiểm tra khác Chúng
tôi cho rằng đã đến lúc cần phải làm rõ phạm ví, chức năng và tính chất
hoạt động của mỗi loạt hình kiểm tra, kiểm soát của nhà nước nhằm tạo nên hiệu quả và hiệu lực cao hơn đối với hoạt động của các cơ quan kiểm
tra nhà nước hiện nay Hơn nữa sự ra đời của KTNN, một thiết chế kiểm
tra tài chính công phù hợp với sự đổi mới của nên kinh tế, tất yếu sẽ tác - động đến các loại hình kiểm tra nhà nước vốn đã ra đời từ trước và vẫn
- biện hữu như Thanh tra Nhà nứợc và Thanh tra Tài chính
Để giải quyết các mâu thuẫn cũng như loại bỏ khả năng kiếm tra
-chồng chéo và nâng cao hơn nữa hiệu quả hoạt động và hiệu lực về kiểm tra giám sắt các hoạt động tài chính công, đề tài: "Cơ sở khoa học và thực tiễn trong việc xác định phạm vì hoạt động của Kiểm toán nhà nước và sự khác nhau giữa hoạt động Kiển toán nhà nước và Thanh tra Tài chính”
được lựa chọn nghiên cứu thuộc nhiệm vụ nghiên cứu khoa học năm 2000
_ của KTNN Ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tài được kết cấu thành 3 chương như sau:
Chương I: Vai trò, đối tượng và tính chất hoạt động của cơ quan KTNN : 'và các cơ quan kiểm tra nhà nước trong nên kinh tế thị trường Chương II: Thực trạng về hoạt động của Kiểm toán Nhà nước và các cơ
_ quan kiểm tra nhà nước khác
Chương III: Những định hướng cơ bản tăng cường và thống nhất các công
cụ kiểm tra tài chính công
Sự đổi mới hệ thống kiếm tra sẽ kéo theo nhiều vấn đề phúc tạp, cần: phải có thời gian và sự đầu tự lớn, do vậy tuy lập thể tác giả đã có nhiều cố gắng song kết quả nghiên cứu sẽ không tránh khỏi những thiết sót nhất định, rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến và giúp đỡ của các nhà khoa học, các bạn độc giả
Chúng tôi xin chân thành cảm ơn
BAN CHU NHIEM DE TAI
Trang 4MUC LUC
Lời nói đầu
Danh mục các chữ cái viết tắt
i
UI
IV
Chuong I
VAI TRO, BOI TUGNG VA TINH CHAT HOAT DONG CUA
CO QUAN KTNN VA CAC CO QUAN KIEM TRA NHA NUGC TRONG NEN KTNN
Tổng quan về các tổ chức kiểm tra kiểm soát nhà nước ở Việt
Nam
Khái quát bối cảnh ra đời các cơ quan kiểm tra nhà nước
Những đặc điểm cơ bản về hoạt động của cơ quan kiểm tra nhà nước
Vai trò và tác dụng hoạt động kiểm tra của các cơ quan kiểm
tra nhà nước
Vai trò và tác dụng hoạt động kiểm tra của các cơ quan kiểm tra nhà
nước
Ý nghĩa tác dụng của kiểm tra, kiểm soát vĩ mô và vi mô
Những nguyên tắc cơ bản về tổ chức kiểm tra - kiểm soát
trong quản lý Nhà nước
Xay dựng và phát triển hệ thống các cơ quan kiểm tra nhà nước phải
đảm bảo yêu cầu gia tăng quyền lực nhà nước và tăng cường hiệu quả
sử đụng các nguồn lực tài chính công
Xay dựng và phát triển hệ thống các cơ quan kiểm tra nhà nước phải đảm bảo tính thống nhất và hệ thống giữa các phân hệ quản lý
Xây dựng và phát triển hệ thống các cơ quan kiểm tra nhà nước phải
đảm bảo điều kiện nâng cao hiệu quả, hiệu lực của các cơ quan kiểm
tra kiểm soát nhà nước '
Phải thực hiện kiểm tra trên cơ sở một hệ thống các chuẩn mực, phương pháp kiểm tra, kiểm soát khoa học
Xây dựng và phát triển hệ thống các cơ quan kiểm tra nhà nước phải
phù hợp với môi trường kinh tế xã hội, môi trường pháp lý, đồng thời từng bước hoà nhập với thông lệ quốc tế
Bản chất và cơ chế hoạt động của các cơ quan kiểm tra nhà
Trang 5Kiểm toán Nhà nước
Cơ quan Thanh tra Nhà nước
Thanh tra Nhà nước
Thanh tra Tài chính
Kinh nghiệm và những mô hình của hệ thống kiểm tra, kiểm
soát trong quản lý vĩ mô và vỉ mô của một số nước
Hệ thống kiểm tra- kiểm soát của Cộng hoà Pháp
Hệ thống kiểm tra- kiểm soát của Cộng hoà Liên bang Đức
Hệ thống kiểm tra- kiểm soát của Hoa Kỳ
Hệ thống kiểm tra- kiểm soát của Hàn Quốc
Hệ thống kiểm tra- kiểm soát của Cộng hoà Nhân Dân Trung Hoa
Tổng kiểm toán và Thanh tra Ấn Độ
Những vấn đề rút ra từ mô hình nghiên cứu
Khái quát về quá trình phát triển của cơ quan kiểm tra nhà nước
Quá trình tổ chức lại hệ thống kiểm tra - kiểm soát ở Việt Nam trong giai đoạn đổi mới
Thực tế về tổ chức và hoạt động KTNN qua 6 năm xây dựng
và phát triển ,
Xây dựng và củng cố tổ chức bộ máy `
Kết quả kiểm toán qua 6 năm hoạt động (1995 - 2000)
Những tồn tại và hạn chế ảnh hưởng đến hoạt động KTNN
Những bài học rút kinh nghiệm và các biện pháp
Thanh tra Nhà nước - lịch sử hình thành - tổ chức hoạt động -
vấn đề đặt ra đối với kiểm tra tài chính công
Trang 6IV
H
IH
IV
Thực trạng và quá trình phát triển của Thanh tra Tài chính
Những vấn đề đặt ra trong mối quan hệ của các cơ quan kiểm
tra nhà nước và hiệu quả hoạt động của hệ thống kiểm tra Nhà nước
Phạm vỉ hoạt động và tính chất kiểm tra đối với các đơn vị sử
dụng ngân sách nhà nước của KTNN và các cơ quan kiểm tra nhà nước
Xác định phạm vi kiểm của các cơ quan kiểm tra nhà nước
Tính chất hoạt động của các cơ quan kiểm tra nhà nước và việc xử tụ kết quả kiểm tra
Kiến nghị xây dựng hệ thống kiếm toán tài chính công nhà nước thống nhất và hiệu quả
Trang 7DANH MUC CAC CHU CAI VIET TAT
Ban Kinh tế Kế hoạch (Hàn Quốc)
Cơ quan Tổng Kế toán Hoa kỳ
Kiểm toán viên Nhà nước
Nghị quyết
Quyết định
Sác lệnh
Tổ chức cán bộ Thủ Tướng Thường vụ Quốc Hội Trung ương
Uy ban Nhan dan
%ã hội Chủ nghĩa
Trang 8Chuong I
VAI TRO, DOI TUONG VÀ TINH CHAT HOAT DONG CUA
CO QUAN KIEM TOAN NHA NUGC VA CAC CO QUAN
KIỂM TRA NHÀ NUỐC TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
L TONG QUAN VE HE THONG KIEM TRA KIEM SOAT NHA
1 Khái quát về bối cảnh ra đời các cơ quan kiểm tra nhà nước
Đối với bất kỳ một quốc gia nào trên thế giới, sau khi ra đời các nhà
nước đều phải đưa ra hệ thống thiết chế về tổ chức, cơ chế hoạt động để duy
trì quyền thống trị và kiểm soát của mình đối với mọi hoạt động kinh tế xã
hội Sự ra đời của tổ chức kiểm tra kiểm soát nhà nước đối với quá trình hoạt động của nền kinh tế xã hội cũng đã xuất hiện từ rất sớm Trong chương I
này, chúng tôi muốn khái quát hoá các bối cảnh về sự ra đời các cơ quan kiểm tra nhà nước từ ngày thành lập đến nay, trong đó đi sâu giai đoạn mà
nên kinh tế đang chuyển đổi sang nền kinh tế hàng hoá và được hoạt động
theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước
Ở Việt nam, chỉ sau hơn 2 tháng tuyên bố nhà nước Việt Nam Dân chủ
Cộng hoà ra đời (2-9-1945), ngày 23-11-1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký
ngay sắc lệnh số 64 thành lập ban thanh tra đặc biệt, với chức năng kiểm tra
giám sát tất cả các công việc và các nhân viên của UBND và các cơ quan
Chính phủ Đây là tổ chức tiền thân của thanh tra nhà nước nói riêng và toàn
bộ hệ thống tổ chức thanh tra, kiểm tra nhà nước nói chung
Từ chỗ hoạt động trong phạm vi hẹp, tổ chức kiểm tra kiểm soất nhà
nước không ngừng phát triển Ngày 25-04-1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký
sắc lệnh 119/82 thành lập tổng cục thanh tra quân đội Tháng 10-1948 Ban
Chấp hành Trung ương Đảng quyết định thành lập Ban kiểm tra Trung ương
do ông Trần Đăng Ninh làm trưởng ban Ngày 18-02-1949 Chủ tịch Hồ Chí
1
Trang 9Minh ký sắc lệnh số 138/B-SL thành lập ban thanh tra Chính phủ Sau một
thời gian hoạt động, xuất phát từ yêu cầu mới của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và đấu tranh thống nhất đất nước, ngỳa 28-03-1956 Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đã ký sắc lệnh 261/SL thành lập ban thanh
tra Trung ương của Chính phủ Trên cơ sở sắc lệnh 261/SL của Chủ tịch mới
ngày 26-12 Thủ tướng Chính phủ ban hành Nghị định số 1194/TTg thành lập ban thanh tra các liên khu, tiểu khu, thành phố và các tỉnh
Quá trình cải tổ cơ cấu tổ chức của nhà nước dẫn đến làm thay đổi cơ
quan kiểm tra nhà nước Ngày 26-07-1960 Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh
số 18/L-SL công bố luật tổ chức Hội đồng Chính phủ, trong đó có Uỷ ban
Thanh tra của Chính phủ Sau gần 10 năm hoạt động, đến ngày 11-08-1969
Quốc Hội nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ra nghị quyết số 780/NQ-TVQH
thành lập Uỷ ban Thanh tra của Chính phủ và cử ông Nguyễn Thanh Bình gữi chức Chủ nhiệm Uy ban
Có thể nói sự hình thành và phát triển của các tổ chức thanh tra, kiểm tra nhà nước trong các giai đoạn trên ở trong môi trường và hoàn cảnh hết sức đặc biệt, đó là giai đoạn mà đất nước luôn ở trong tình trạng chiến tranh khốc liệt, nhà nước đồng thời thực hiện nhiều nhiệm vụ Tuy có khó khăn, song tổ
chức thanh tra và kiểm tra của nhà nước đã không ngừng phát triển, luôn
kiểm soát được tình hình, duy trì sự kiếm tra thường xuyên đối với mọi hoạt động của bộ máy quản lý nhà nước và các viên chức nhà nước, gớp phần tỏ lớn vào sự thành công của công cuộc xây dựng CNXH và thống nhất đất nước
Chuyển sang, thời kỳ xây dựng CNXH và phát triển kinh tế trong cả nước, hệ thống thanh tra không ngừng được kiện toàn và đối mới phương
thức hoạt động Ngày 25-02-1984 Hội đồng Bộ trưởng ra Nghị định số số 26
- HĐBT về việc tăng cường cơ quan thanh tra nhà nước và nâng cao hiệu lực thanh tra nhà nước Hệ thống thanh tra nhà nước gồm Uỷ ban Thanh tra nhà nước trung ương, Uỷ ban Thanh tra nhà nước cấp tỉnh, thành phố, quận huyện
và các cấp tương đương
Giai đoạn 1986 trở đi là thời kỳ đổi mới nền kinh tế, chuyển nền kinh
tế hoạt động theo cơ chế kế hoạch hoá tập trung sang cơ chế thị trường theo
2
Trang 10định hướng XHCN Để thích ứng với cơ chế mới, ngày 01-04-1990 Chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam ký sắc lệnh công bố "Pháp lệnh Thanh tra” và đến ngày 30-06-1990 Hội đồng Bộ trưởng ra nghị đính số 244/HĐÐBT để triển ' khai chỉ tiết hoá "Pháp lệnh Thanh tra" Hệ thống thanh tra bao gồm: Thanh
tra Nhà nước, Thanh tra Bộ, Uỷ ban Nhà nước, cơ quan thuộc HĐBT, Thanh
tra các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, thanh tra tỉnh, thanh tra huyện,
quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh
Kể đến các cơ quan thanh tra nhà nước không thể không kể đến thanh
tra tài chính Từ sắc lệnh số 75/SL ngày 28/05/1946 của Chủ tịch Hồ Chí
“Minh về tổ chức bộ máy Bộ tài chính, nha thanh tra tài chính ra đời với chức
năng thanh tra, kiếm soát việc thi hành các quy định về tài chính kế toán tại
các cơ quan đơn vị hành chính và sự nghiệp Thời kỳ từ năm 1956 đến 1970
để khôi phục và phát triển kinh tế, xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Miễn Bắc,
Chính phủ đã ban hành Nghị định số số 1077/TTg ngày 12-10-1956 về tổ
chức, nhiệm vụ, quyền hạn của hệ thống tài chính, từ trung ương đến các khu, tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương Thời kỳ từ năm 1970-1990 do có
sử đôi mới về cơ chế điều hành nên kinh tế, để tăng cường hoạt động cho
thanh tra tài chính, HĐBT ban hành Nghị định số số 174/CP ngày 10-09-
1970 kèm theo điều lệ về tổ chức và hoạt động của thanh tra tài chính
Tuy nhiên từ năm 1990 theo pháp lệnh vẻ thanh tra và Nghị định số
244/HĐBT ngày 30-06-1990 thì thanh tra tài chính nằm trong hệ thống thanh
tra nhà nước Phạm vi của thanh tra tài chính được giới hạn theo sự phân
công trong hệ thống thanh tra nhà nước Trên cơ sở pháp lệnh về thanh tra và Nghị định số 244/HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng, Bộ trưởng Bộ tài chính đã bạn hành quyết định số 173/TC-QĐ-TCCB về quy chế tổ chức, hoạt động của thanh tra ngành tài chính
Trên thực tế từ năm 1992 trở đi nền kinh tế thị trường của Việt Nam có
sự mở cửa với thị trường quốc tế nên thanh tra tài chính nói riêng và hệ thống thanh tra nói chung chưa thoả mãn yêu cầu về hoạt động của thanh tra, kiểm tra của nhà nước Sự chồng chéo, trùng lắp, bổ sót về sự kiểm tra giám sát từ
phía các tổ chức kiểm tra giám sát của nhà nước tạo ra những kẽ hở gây tham
nhũng, hối lộ trong quan hệ trong tài chính công, đặc biệt sự rơi rớt của cơ
Trang 11ché “xin; cho” càng trở nên ngày càng cĩ những biểu hiện nghiêm trọng Mặt khác, trong hoạt động tài chính cơng cần phải cĩ một cơ quan độc lập thực
hiện kiểm tra và giám sát thường xuyên, liên tục, và từ bên ngồi như vậy
mới cĩ khả năng ngăn chặn được các gian lận và sai sĩt trong hoạt động tài chính cơng Hơn nữa trong hồn cảnh hội nhập, nền hành chính cơng của ta cũng phải phù hợp với thơng lệ quốc tế về cơ chế kiểm tra của nhà nước Tất
cả những vấn để trên đã dẫn đến sự ra đời của cơ quan Kiểm tốn nhà nước
theo Nghị định số 70/CP ngày 11-07-1994 của Chính phủ
Sự ra đời của cơ quan Kiểm tốn nhà nước đã đánh dấu một bước
ngoặt trong sự đổi mới thiết chế, phương pháp và thể thức kiểm tra từ phía
Nhà nước đối với nền kinh tế Hoạt động kiểm tra tài chính cơng của Kiểm
tốn nhà nước được thực hiện một cách độc lập, tồn diện và thường xuyên đối với các đơn vị được kiểm tốn và việc kiểm tra được thực hiện bởi các
chuyên viên cĩ trình độ chuyên mơn hố và chuyên nghiệp hố sẽ tạo ra khả năng thực hiện về việc ngăn chặn các sai phạm trong quá trình quản lý, điều hành và sử dụng tài chính cơng từ phía cơ quan hành pháp Như vậy sự hình
thành và phát triển các cơ quan kiểm tra nhà nước ở nước ta đang đạt dân đến
trình độ quốc tế và phù hợp với tính chất hoạt động của nền kinh tế vận động theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
2 Những đặc điểm cơ bản về hoạt động của cơ quan kiểm tra nhà
nước
Kiểm tra là chức năng thuộc bản chất của quản lý - quản lý nhà nước tất yếu phải gắn với cơng tác kiểm tra Sự kiểm tra đĩ hình thành bởi các thiết
chế luật pháp và bởi các tổ chức cấu thành nên tổ chức nhà nước Nghiên cứu
đặc trưng hoạt động kiểm tra của Nhà nước cĩ thể từ các khía cạnh sau:
Thứ nhất, kiểm tra được coi là chức năng cơ bản quản lý của nhà nước Chúng ta biết rằng quản lý nhà nước là một quá trình định hướng và tổ chức
thực hiện các mục tiêu chính trị, kinh tế - xã hội trên cơ sở những nguồn lực xác định nhằm bảo đảm hiệu quả kinh tế - xã hội đạt cao nhất Quá trình này bao gồm nhiều giai đoạn và được thực hiện bởi nhiều cơ quan chức năng khác nhau Trong đĩ, chức năng kiểm tra là một chức năng quan trọng được thực hiện trên tất cả các giai đoạn của quá trình quản lý nhà nước Từ giạ
4
Trang 12đoạn xây dựng định hướng chiến lược đến vấn đề dự báo về nguồn lực và
mục tiêu cần đạt tới Chức năng quản lý là kiểm tra các nguồn lực, mục tiêu, xây dựng các chương trình, kế hoạch Sau khi các chương trình, kế hoạch đã
được kiểm tra có thể đưa ra các quyết định cụ thể ở giai đoạn tổ chức thực hiện cần kết hợp sử dụng các nguồn lực theo phương án tối ưu đồng thời thường xuyên kiểm tra diễn biến và kết quả của các quá trình để điều hoà các
mối quan hệ, điều chỉnh các định mức và mục tiêu trên quan điểm tối ưu hoá kết quả hoạt động
Rõ ràng, kiểm tra không phải là một giai đoạn hay một pha của quản
lý nhà nước mà nó được thực hiện ở tất cả các giai đoạn của quá trình này
Bởi vậy, cần quan niệm kiểm tra là một chức năng của quản lý Tuy nhiên, chức năng này được thể hiện rất khác nhau tuỳ thuộc vào cơ chế kinh té và
cấp quản lý, vào loại hình hoạt động cụ thể, vào truyền thống văn hoá và
những điều kiện kinh tế xã hội khác của mỗi quốc gia, mỗi nơi trong từng thời kỳ lịch sử cụ thể ,
Thit hai, kiểm tra nhằm mục tiêu phát hiện các sai lệch ngăn chặn các
sai phạm để bảo đảm cho các nguồn lực xã hội, được quản lý chặt chẽ và
được sử dụng có hiệu quả, duy trì sự ổn định của kinh tế và xã hội
Thứ ba, chức năng kiểm tra của nhà nước là một phương tiện để duy trì
quyền làm chủ của người lao động, duy trì sự công bằng xã hội, kiểm tra trên góc độ này gắn liền với chế độ chính trị, cơ chế kinh tế với điều kiện xã hội
cụ thể Xét trên góc độ quản lý vĩ mô, nhà nước cũng thực hiện chức năng kiểm tra của mình hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp Ở mức độ trực tiếp (hông thường với tư cách chủ sở hữu), nhà nước trực tiếp kiểm tra mục tiêu, chương
trình, kế hoạch; kiểm tra các nguồn lực; kiểm tra quá trình và kết quả thực
hiện các mục tiêu của các đơn vị; kiểm tra tính trung thực của các thông tin
và tính pháp lý của việc thực hiện các nghiệp vụ Trong kiểm tra trực tiếp có
cả những trường hợp kiểm tra theo phát giác, tố cáo, khiếu nại vv Trong trường hợp này, qua kiểm tra thường có ngay các quyết định điều chỉnh, xử
lý gắn với kết luận kiểm tra
Nếu xét trên phương diện gián tiếp Nhà nước có thể sử dụng kết quả kiểm tra của các chuyên gia, hoặc các tổ chức kiểm tra độc lập để thực hiện
Trang 13điều tiết vĩ mô qua các chính sách của mình (đặc biệt là các chính sách về
thuế, về bảo hiểm, về công trái, về chính sách đầu tư ) Dĩ nhiên, trong lịch
sử không phải bao giờ vai trò kiểm tra của nhà nước, của các chuyên gia, các
tổ chức kiểm toán cũng như nhau Tuy nhiên, từ góc độ đơn vị cơ sở, kiểm tra
của tất cả các tổ chức, chuyên gia bên ngoài đều được gọi là ngoại kiểm
Nếu xét theo mục tiêu của các hoạt động có thể quy về hai loại hoạt động cơ bản: Hoạt động kinh doanh và hoạt động sự nghiệp Với hoạt động
kinh doanh, lợi nhuận được coi là mục tiêu và là thước đo chất lượng hoạt
-động Do đó, kiểm tra cần hướng tới hiệu quả của quá trình sử dụng vốn, của
lao động và của tài nguyên Trong khi đó, hoạt động sự nghiệp có mục tiêu
chủ yếu là thực hiện tốt mục tiêu cụ thể về xã hội, về quản lý trên cơ sở tiết
kiêm kinh phí cho việc thực hiện nhiệm vụ đó Trong trường hợp này, kiểm tra thường xem xét hiệu quả kinh tế xac hội ở tầm vĩ mô và hiệu năng của quản lý thay cho hiệu quả trong kinh doanh Khi nhu cầu kiếm tra chưa nhiều
và chưa phức tạp, kiểm tra được thực biện đồng thời với các chức năng quản
lý khác trên cùng một con người, một bộ máy thống nhất Trái lại, khi nhu cầu này thay đổi tới mức độ cao, kiểm tra cũng cần tách ra một hoạt động độc lập và được thực hiện bảng hệ thống bộ máy chuyên môn độc lập
Thực tiễn ở nước ta cho thấy: ở tầm vĩ mô có rất nhiều cơ quan trọng
bộ máy Nhà nước được pháp luật quy định có chức năng kiểm tra Mặc dù có
những tên gọi khác nhau như: giám sát, kiểm sát, thanh tra, kiểm soát, kiểm
toán (nhà nước) nhưng chúng có một điểm chung là sự kiểm tra mang tính quyền lực của nhà nước đối với mọi đối tượng với mục tiêu chung là xây dựng nền nếp quản lý, phát hiện nhằm xử lý những vi phạm pháp luật, bảo đảm pháp chế, tăng cường kỷ cương trong quản lý nhà nước và thực hiện quyền dân chủ trong Nhà nước Pháp quyền Ở tâm vi mô cũng xuất hiện khá
nhiều khái niệm như kiểm soát nội bộ, thanh tra nhân dân Cả về lý luận và thực tiễn trong nhiều trường hợp các cơ chế kiểm tra ít khi được phân biệt cụ
thể theo tên gọi Vì thế xem xét lại một cách hệ thống bản chất, chức năng, phạm vi hoạt động cũng như mối quan hệ qua lại của từng cơ chế kiểm tra là
việc làm mấu chốt khi nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản về tổ chức hệ
thống kiểm tra - kiểm soát trong quản lý vĩ mô và vi mô.
Trang 14Khi phân tích sâu đặc điểm của các cơ chế kiểm tra, kiểm soát, kiểm toán theo các thuật ngữ khoa học có thể thấy một số khác biệt như sau:
- Kiểm tra: là "sự xem xét tình hình thực tế để đánh giá, nhận vét một sự
việc hay một quá trình" Kiểm tra sự tuân thủ pháp luật, quy định theo thứ bac hành chính là sự kiểm tra của cơ quan cấp trên đối với đơn vị cấp
đưới, và dựa trên cơ sở quyền lực hành chính của người thủ trưởng, nhằm
xem xét lại việc thực hiện các quy định, định mức của đơn vị thuộc quyền
và từ đó có sự đánh giá lại tính đúng đắn của những quy định trước đây
và có sự điều chỉnh kịp thời Trong cơ chế quản lý kế hoạch hoá tập trung trước đây, sự kiểm tra nêu trên là phố biến và được gọi là kiểm tra thực
hiện kế hoạch, hiện nay chủ yếu kiểm tra sự tuân thủ pháp luật
- Thanh tra: néu xem xét về nguồn gốc ngữ nghĩa thì khái niệm thanh tra bắt nguồn từ chữ Latin :”Inspectare” có nghĩa là "nhìn vào trong” Khái niệm này cho thấy tuy thanh tra gắn liền với quản lý song hoạt động của
nó không giống hoạt động nghiệp vụ của bộ máy quản lý Thanh tra phải
có tính độc lập tương đối với chủ thể quản lý, độc lập trong quá trình thu
thập phân tích, xử lý thông tin và đưa ra các kiến nghị xử lý sai phạm
Ở nước ta, khái niệm "Thanh tra" cũng dần hoàn thiện và phát triển cùng với nhận thức chung về quản lý Từ trước tới nay, khái niệm "Thanh tra" được xem là một biện pháp (phương pháp của kiểm tra) Nhiệm vụ thanh tra được
uỷ quyền cho các cơ quan nhà nước có trách nhiệm Như vậy, theo định
nghĩa này thì thanh tra hẹp hơn kiểm tra Phạm vi đối tượng của thanh tra chỉ
bó hẹp trong phạm vi kiểm tra quyền sở hữu Nhà nước, kiểm tra tính hợp
pháp của các hoạt động kinh tế, tài chính trong khuôn khổ quản lý tài sản
XHCN, sự tuân thủ pháp luật Ngày nay thanh tra được coi là sự kiểm soát,
xem xét tại chỗ việc làm của địa phương, cơ quan, doanh nghiệp Khái niệm này sơ bộ cho thấy hoạt động thanh tra không đồng nhất với hoạt động điều
hành, khác với hoạt động kiểm tra chuyên môn nghiệp vụ Tuy không nói rõ,
nhưng cũng có thể thấy thanh tra là sự kiểm tra có tính quyền lực Nhà nước,
được thực hiện theo thẩm quyền quản lý nhà nước do luật định nhằm xem xét
và xử lý những hành vi thi hành pháp luật Vì thế, thanh tra khóng chỉ là
kiểm tra mang tính nội bộ mà là sự đánh giá "từ bên ngoài” đối với hoạt động
Trang 15của các cơ quan quản lý nhà nước Vì thế, tại Điều | Pháp lệnh Thanh tra
1990 quy định:
”., Trong phạm vi chức năng của mình, các cơ quan quản lý nhà nước có trách nhiệm tự kiểm tra việc thực hiện các quyết định của mình và thanh
tra việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ, kế hoạch nhà nước của
các cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân, tổ chức hữu quan và cá
nhân có trách nhiệm (gọi chung là cơ quan, tổ chức, cá nhân) nhằm phát huy nhân tố tích cực, phòng ngừa, xử lý các vi phạm, góp phân thúc đẩy hoàn thành nhiệm vụ, hoàn thiện cơ chế quản lý, tăng cường pháp chế XHCN, bảo vệ lợi ích của nhà nước các quyền và lợi ích hợp pháp của cơ
quan, tổ chức và công đân” ;
- Kiém soat chung: 1a sự kiểm tra và giám sát có tính quyền lực Nhà nước
của cơ quan quyền lực cao nhất là Quốc hội, độc lập với hệ thống hành
pháp và là cơ chế giám sát nhằm bảo đảm sự tuân thủ triệt để các quy
định của pháp luật và bảo đảm cho pháp luật được thực hiện thống nhất ở tất cả các ngành, địa phương trong cả nước Điều 83 Hiến pháp 1992 khẳng định:" Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của nhà nước” Trong thực tế, hoạt động kiểm sát chung của
Viện Kiểm sát nhân dân các cấp chính là đã thực hiện quyền giám sát tối
cao Quốc hội đối với hoạt động của bộ máy Nhà nước từ cấp bộ, các cơ quan ngang bộ, các cơ quan khác thuộc Chính phủ, đến các cơ quan chính
quyền địa phương, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân
dân và công dân
-_ Kiểm tra của cơ quan kiểm tra Đảng và các đoàn thể quần chúng: là việc kiểm tra của một tổ chức chính trị, xã hội mà phạm vi của nó là viéc xem
xét việc thực hiện quy chế và tư cách của các thành viên Tuy nhiên, ở nước ta, Đảng là tổ chức chính trị nắm quyền lãnh đạo toàn diện và thực hiện quyền lãnh đạo thông qua các đảng viên của mình trên các cương vị quản lý trong bộ máy nhà nước Việc kiểm tra tư cách đảng viên không thể tách rời việc xem xét trách nhiệm quản lý của người đó Chính vì vậy việc kiểm tra này cũng mang tính quyền lực Nhà nước và trong một giới hạn nào đó cũng mang những nội dung của các hình thức kiểm tra trên
Trang 16- Ngoài ra, cũng có một số hình thức kiểm tra mang tính đoàn thể quản chúng ở cơ sở (thanh tra công nhân, thanh tra nhân dân ) Việc kiểm tra
này được thực hiện trong phạm vi nội bộ, không mang tính quyền lực trừ trường hợp được tiến hành theo sự uý quyền của các cơ quan thanh tra nhà nước
- Kiểm soát nội bộ: !à việc xem xét để nắm bắt hoạt động và phát hiện,
ngăn chặn những gì trái với quy định trong phạm vì của một tổ chức va
đơn vị mình Trong quản lý ví mô, hoạt động tự kiểm tra được gọi là kiểm soát nội bộ Theo định nghiã của Liên đoàn Kế toán Quốc tế (FAC) "Hệ thống kiểm soát nội bộ là một hệ thống chính sách và thủ tục nhằm bảo
vệ tài sản, bảo đảm độ tín cây của các thông tin và ngăn ngừa các sai sót trong báo cáo tài chính; bảo đảm việc tuân thủ các quy chế quản lý và bảo đảm hiệu quả hoạt động quản lý nói chung và hoạt động kinh doanh nói
riêng” Trong khái niệm về hệ thống kiểm soát nội bộ cần phải kể tới 4 yếu tố cụ thể: Môi trường kiểm soát, hệ thống kế toán, thủ tục kiểm soát
và hệ thống kiểm soát quản lý, kiểm sát bảo vệ tài sản, kiểm toán nội bộ "
-_ Kiểm toán : có gốc từ Latin là AUDITT nghiã là NGHE Cho đến nay, ý
nghĩa này chỉ còn mang tính lịch sử Hiện tại, kiểm toán được hiểu /à qué
- trình mà ở đó những cá nhân độc lập có thẩm quyên được đào tạo nghiệp
vụ đây đủ, có trình độ cao tiến hành thẩm định các thông tin số lượng về một đơn vị kinh tế cụ thể nhằm mục đích báo cáo mức độ phù hợp giữa
thông tin số lượng đó với các chuẩn mực đã xây dựng Kết quả kiểm toán
là "Báo cáo kiểm toán" theo chuẩn mực chung Từ AUDIT cần hiểu rộng
sang ý nghĩa thuyết phục và giáo dục qua xác minh và bày tỏ ý kiến của
kiểm toán viên
Tuy nhiên, từ AUDTT với ý nghĩa kiểm tra độc lập và bày tỏ ý kiến như vậy chỉ mới được du nhập vào các nước phát triển từ giữa thế kỷ XX này: vào Bắc Mỹ từ những năm 30, vào Châu Âu lục địa từ những năm 60 ở Việt
Nam, từ "kiểm toán" mới chính thức xuất hiện từ 5/1991 Vì vậy, trong cách
hiểu và cách dùng khái niệm này chưa được thống nhất Có thể khái quát cách hiểu về kiểm toán theo 3 loại quan niệm chính sau đây:
Trang 17Theo quan niệm thứ nhất, kiếm toán được hiểu theo đúng ý niệm ở thời
điểm ra đời của nó Theo quan niệm đó, người ta thường dẫn ra định nghia
trong "Lời mở đầu Giải thích về các chuẩn mực kiểm toán của Vương quốc Anh": "Kiểm toán là sự kiểm tra độc lập và là sự bày tỏ ý kiến về những bảng
kê khai tài chính của một doanh nghiệp do một kiểm toán viên được bổ
nhiệm để thực hiện công việc đó theo đúng với bất cứ nghĩa vụ pháp định có liên quan”
Với nội dung trên, định nghĩa đã nêu khá đầy đủ các mặt đặc trưng cơ
bản của kiểm toán Tuy nhiên, quan niệm này chỉ phù hợp với kiểm toán báo
cáo tài chính có đối tượng là bảng khai tài chính, do kiểm toán viên độc lập
hoặc được bổ nhiệm tiến hành trên các cơ sở chuẩn mực chung
Theo quan điểm thứ hai, kiểm toán được đồng nghĩa với kiểm tra kế
toán, một chức năng của bản thân kế toán, một thuộc tính cố hữu của kế toán Nội dung của hoạt động này là rà soát các thông tin kế toán từ chứng từ kế
toán, định khoản và ghi sổ kế toán, tính giá các đối tượng kế toán và tổng hợp
cân đối kế toán Một sự kiểm tra độc lập từ bên ngoài đi ngược lại với quá
trình hạch toán của kế toán Đây là quan điểm mang tính truyền thống trong
điều kiện kiểm toán chưa phát triển và trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung
Trong cơ chế này, Nhà nước vừa là chủ sở hữu vừa thực hiện lãnh đạo trực tiếp nền kinh tế Do đó, chức năng kiểm tra của nhà nước được thực hiện trực
tiếp với mọi thực thể kinh tế - xã hội thông qua nhiều khâu kể cả kiểm tra kế hoạch, kể cả kiểm tra tài chính thường xuyên qua "giám sát viên của nhà nước đặt tại xí nghiệp" là kế toán trưởng, đến việc duyệt quyết toán và kể cả
thanh tra các vụ việc cụ thể
Tuy nhiên, trong quá trình phát triển, kiểm toán không chỉ giới hạn ở
kiểm toán bảng khai tài chính hay tài liệu kế toán mà còn thâm nhập vào nhiều lĩnh vực khác nhau như hiệu quả của hoạt động kinh tế, hiệu năng của quản lý, hiệu lực của hệ thống pháp lý trong từng loại hoạt động Vì vậy,
theo quan điểm hiện đại, phạm vi kiểm toán (AUDIT) rất rộng: nó bao gồm
những lĩnh vực chủ yếu sau:
-_ Kiểm toán về thông tin (Information Audit) hướng vào việc đánh giá tính trung thực và hợp pháp của các tài liệu (thông tin) là cơ sở phấp lý cho
Trang 18việc giải quyết các mối quan hệ về kinh tế và tạo niềm tin cho những
người quan tâm đến tài liệu đó
Kiểm toán quy tắc (Regularity Audit ) hướng vào việc đánh giá tình hình thực hiện các thể lệ, chế độ, luật pháp ở đơn vị được kiểm toán trong quá
trình hoạt động
Kiểm toán hiệu quả (Efficiency Audit) có đối tượng trực tiếp là sự kết hợp các yếu tố, các nguồn lực trong từng loại nghiệp vụ kinh doanh: mua bán,
sản xuất hay dịch vụ Kiểm toán loại này giúp ích trực tiếp cho việc
hoạch định chính sách và phương hướng, giải pháp cho việc hoàn thiện
hoặc cải tổ hoạt động kinh doanh của đơn vị được kiểm toán
Kiểm toán hiệu năng (Effectiveness Audit) được đặc biệt quan tâm ở khu
vực công cộng ( kể cả các xí nghiệp công, các chương trình đầu tư từ
ngân sách) nơi mà lợi tức và hiệu quả không còn giữ nguyên vẹn ý nghĩa của nó như trong doanh nghiệp, nơi mà năng lực quản lý cần được đánh giá toàn diện và bồi bổ thường xuyên nhằm không ngừng nâng cao hiệu năng quản lý của đơn vị được kiếm toán Tất nhiên loại kiểm toán này cũng cần và có thể ứng dụng với quản lý toàn bộ doanh nghiệp hoặc với
từng bộ phận quản lý của các đơn vị được kiểm toán
Tóm lại, đặc điểm cơ bản của kiểm toán là xác minh, là sự kiểm tra có
tính thuyết phục để tao niém tin cho những người quan tâm vào những kết
luận kiểm toán cho dù những kết luận này có thể hướng vào những mục tiêu
cụ thể khác nhau như tính trung thực của thông tin (Information Audit), tính quy tắc trong việc thực hiện các nghiệp vụ (Regularity Audit), tính hiệu quả
(Efficiency Audit) hay tinh hiệu năng (Effectiveness Audit) của hoạt động
Qua xác minh, kiểm toán viên bày tỏ ý kiến của mình về những lĩnh vực tương ứng Chức năng này quyết định sự tồn tại của hoạt động kiểm toán
Kết quả kiểm toán chỉ đáng tin cậy khi quá trình kiểm toán được dựa trên các chuẩn mực kiểm toán đã được thừa nhận
Kiểm toán phải thực hiện mọi hoạt động kiểm tra, kiểm soát những vấn đẻ
liên quan đến thực trạng tài chính kế cả trên bảng công bố tài chính, cùng
Trang 19hiệu quả đạt được Những loại công việc này tự nó đã gắn chặt với nhau
Đó là luận cứ cho việc tổ chức kiểm toán khoa học
Nội dung trực tiếp của kiểm toán trước hết và chủ yếu là thực trạng của hoạt động tài chính Một phần của thực trạng này đã được phản ánh trên các bảng khai tài chính hay các tài liệu kế toán nói chung Tuy nhiên, dọ giới hạn về trình độ và kỹ thuật xử lý thông tin kế toán, có những phần
thông tin quan trọng khác về hoạt động tài chính chưa được phản ánh day
đủ trong các tài liệu kế toán như những chứng từ đã có làm đối tượng trực tiếp của kiểm toán Trong trường hợp thiếu những chứng từ sắn có này,
kiểm toán cần sử dụng những phương pháp kỹ thuật để tạo lập các chứng
từ kiểm toán thông qua việc xác minh, kiểm kê tài sản, phỏng vấn
Kiểm toán là một hoạt động chuyên sâu, một khoa học chuyên ngành nên
hoạt động này phải được thực hiện bởi những người có trình độ nghiệp vụ
chuyên sâu về kế toán và kiểm toán: Kiểm toán viên, giám định viên kế toán, thẩm kế viên, kế toán viên công chứng Đây là những kiểm toán viên
chuyên nghiệp hoạt động hay hành nghề theo pháp luật Bên cạnh đó có
cả những kế toán viên lâu năm, những nhà quản lý có kinh nghiệm trong
nghề nghiệp và có trình độ kiểm toán tương xứng thực hiện chức năng
kiểm toán nội bộ (nội kiểm) Có thể coi đây là những kiểm toán viên
không chuyên nghiệp (không hành nghề hoặc được nhà nước bổ nhiệm)
và gọi chung là kiểm toán viên nội bộ
Il VAI TRO VA TAC DỤNG HOAT DONG KIEM TRA CUA CAC CO
QUAN KIEM TRA NHA NUGC
1 Vai trò của hoạt động kiểm tra của các cơ quan kiểm tra Nhà nước
Sự ra đời và phát triển của nhà nước Việt Nam trong giai đoạn từ 1945 đến
nay được định hướng tới một sự hoàn thiện về một Nhà nước pháp quyền, Nhà nước thực sự của dân, do dân làm chủ và vì dân Quá trình phát triển đó
đã dẫn đến một hệ thống tổ chức và thể chế hoạt động của các cơ quan nhà nước cũng luôn có sự biến đổi Các cơ quan kiểm tra, giám sát của nhà nước
cũng có sự thay đổi tương ứng và tiến tới sự hoàn thiện
Trang 20Trước đây, hệ thống Thanh tra Nhà nước nói chung va hệ thống Thanh tra Tài chính nói riêng được coi là công cụ duy nhất và trọng yếu để Đảng và Chính phủ thực hiện quyền kiểm tra, giám sát tối cao của mình đối với mọi hoạt động của nền kinh tế Thông qua các hoạt động kiểm tra kiểm soát đó
để ngăh chặn kịp thời những sai phạm và điều chỉnh những sai lệch về đường
lối, chính sách về lãnh đạo và quản lý của mình
Ngày nay sự chuyển hướng nền kinh tế và mở rộng quan hệ quốc tế đã
dẫn đến sự ra đời của cơ quan Kiểm toán Nhà nước, với tính chất là hoạt động kiểm toán chuyên nghiệp; thực hiện công việc kiểm tra, kiểm soát hoàn
toàn độc lập với hệ thống cơ quan quản lý nhà nước về mặt tài chính sẽ tạo ra
những khả năng to lớn để ngăn chặn và phát hiện các sai phạm về thu chi,
quản lý, điều hành tài chính công Tính tích ứng và hiệu quả của hoạt động
Kiểm toán nhà nước sẽ tạo ra điều kiện để nền kinh tế nước ta có nhiều cơ hội hơn trong việc hội nhập với nên kinh tế thế giới và Khu vực Như vậy, xét trên các góc độ khác nhau thì hoạt động kiểm tra, kiểm soát của các cơ
quan kiểm tra nhà nước nhằm kiểm soát quản lý vĩ mô và vi mô của nhà
nước
2 Ý nghĩa tác dụng của kiểm tra, kiểm soát vĩ mô và vi mô
Kiểm tra - kiểm soát là việc làm thường xuyên mang tính chất nghiệp
vụ của các cơ quan chức năng tại các đơn vị hành chính sự nghiệp và các tổ
chức kinh tế Làm tốt công tác kiểm tra - kiểm soát sẽ góp phần hưởng dẫn
và điều chỉnh các đơn vị và tổ chức kinh tế đị đúng hàng lang pháp lý, ngăn
ngừa mọi biểu hiện vi phạm pháp luật, bảo toàn tài sản tiền vốn của đơn vị và
nâng cao hiệu quả của hoạt động Vì các hoạt động kinh tế trong hệ thống
kinh tế quốc dân là cực kỳ phức tạp, nên cần chỉ có hoạt động kiểm tra - kiểm
soát được xây dựng, phát triển trên cơ sở khoa học thực sự có khả nang dap
thực hiện được các hoạt động kiểm tra, kiểm soát đó, do đó mới đáp ứng
được những yêu cầu thông tin cho những quyết sách của nhà nước và mới thực sự trở thành "cái nền” vững chắc cho cả sự can thiệp trực tiếp lẫn quản
lý giấn tiếp của nhà nước
Hệ thống kiểm tra - kiểm soát hiện đại với các bộ máy tổ chức khác nhau
khẳng định ý nghĩa, tác dụng của kiểm tra, kiếm soát trong quản lý vĩ mô và
Trang 21vị mô Thực tế, kiểm tra - kiểm soát không phải là hoạt động "tự thân” và "vị thân”, nó sinh ra từ yêu cầu của quản lý và phục vụ cho yêu cầu quản lý Từ
đó, có thể thấy rõ ý nghĩa, tác dụng của kiểm tra - kiểm soát trên nhiều mặt
như tạo ra niềm tin cho những người quan tâm, củng cố nền nếp của các hoạt động, đồng thời góp phần nâng cao năng lực và hiệu quả quản lý nhà nước, củng cố uy tín và vai trò lãnh đạo của Đảng và nhà nước ta
Có thể phân tích ý nghĩa và tác dụng của kiểm tra - kiểm soát trên những
mặt chủ yếu sau:
Thứ nhất: kiểm tra - kiểm soát tạo niêm tin cho những "người quan tam" đến kết quả hoạt động Đặc biệt trong cơ chế thị trường, có nhiều người quan
tâm tới thực trạng tài chính và sự phản ánh của nó trong tài liệu kế toán
Trong "thế giới" của những người quan tâm có thể kể đến:
- Các cơ quan quản lý nhà nước cần có thông tin trung thực để điều tiết vĩ
mô nền kinh tế bằng hệ thống pháp luật, chính sách kinh tế của mình
với mọi thành phần kinh tế, mọi hoạt động xã hội Đặc biệt với NSNN, với
tài sản, tài nguyên quốc gia càng cần được kiểm tra giám sát chặt chế theo hướng đúng pháp luật và có hiệu quả
- Các nhà đầu tư cần có tài liệu tin cậy để trước hết có hướng đầu tư đúng đắn, sau đó cần điều hành sử dụng vốn đầu tư và cuối cùng có tài liệu
trung thực về ăn chia phân phối kết quả đầu tư Đề kích thích được đầu tư
đúng hướng, bảo đảm sự công bằng, quyền lợi và lợi ích cho các nhà đầu
tư trong việc lựa chọn, ra quyết định đầu tư phân bổ vốn đúng dắn, hiệu quả, thì yêu cầu đầu tiên phải là thông tin đúng đắn, trung thực, chính xác
và kịp thời
- Những nhà quản lý các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế cần biết thông tin chính xác về tình hình, hiệu quả hoạt động của tổ chức mình đang quản lý để có các quyết sách và quyết định quản lý đúng đắn
- Người lao động cũng cần có thông tin đáng tin cậy về kết quả kinh doanh,
về ăn chia, phân phối, về thực hiện chính sách tiền lương và bảo hiểm để
bảo vệ được quyền lợi của mình, mặt khác cũng để hiểu biết được trách nhiệm của chính họ đối với đơn vị mà họ đang làm việc
Trang 22- Khách hàng, nhà cung cấp và những người quan tâm khác cũng cần hiệu
rõ thực chất về kinh doanh và về tài chính của các đơn vị trên nhiều mặt:
số lượng và chất lượng sản phẩm hàng hoá, cơ cấu tài sản và khả năng thanh toán, hiệu năng và hiệu quả các bộ phận cung ứng, tiêu thụ hoặc sản
xuất ở đơn vị để đảm bảo quyền lợi kinh tế cho bản thân
Chỉ có hoạt động kiểm tra - kiểm soát độc lập từ bên ngoài mới mang lại cho họ niềm tin vào những xác minh độc lập và khách quan Có thể nói việc tạo ra niềm tin cho những người quan tâm là yếu tố quyết định sự ra đời và
phát triển của kiểm tra - kiểm soát với tư cách là một hoạt động độc lập Thứ hai: Kiểm tra - kiểm soát góp phần hướng dẫn nghiệp vụ và củng cố
nên nếp hoạt động tài chính kế toán nói riêng và hoạt động của đơn vị nói
chưng
Hoạt động tài chính lại bao gồm nhiều mối quan hệ về đầu tư, về kinh
doanh, về phân phốt và về thanh toán Tính phức tạp của hoạt động này càng
tăng lên bởi quan hệ chặt chế giữa các quan hệ tài chính với lợi ích của con
người Trong khi đó, thông tin kế toán là sự phản ánh của hoạt động tài chính, và là sản phẩm của quá trình xử lý thông tin bằng các phương pháp kỹ thuật rất đặc thù Do đó, nhu cầu hướng dẫn nghiệp vụ và củng cố nền nếp
trong quản lý tài chính các có đòi hỏi thường xuyên và ở mức độ cao hơn và việc hướng dẫn nghiệp vụ và củng cố nền nếp này có thể được thực hiện một
cách tích cực, hiệu quả nhất thông qua hoạt động kiểm tra, kiểm soát tại từng
“don vi cu thé
Nước ta đang trong quá trình chuyển đối cơ chế kinh tế trong đó có các
quan hệ tài chính, chế độ kế toán thay đổi nhiều lần, cùng với sự "bung ra" của các thành phần kinh tế và các hoạt động kinh doanh khác nhau ở các tổ chức kinh tế xã hội khác nhau Trong khi đó, công tác kiểm tra, kiểm soát chưa chuyển hướng kịp thời, dẫn tới tình trạng kỷ cương bị buông lỏng, nhiều
kỷ cương trong kế toán, tài chính đã được tạo lập trước đây cũng bị phá vỡ, nhiều tổ chức kinh tế và đơn vị kinh doanh ngoài quốc doanh không làm kế
toán Thực tiễn đó đã nảy sinh quan điểm cho rằng chưa thể tiến hành cải cách công tác kiểm ra trong khi chưa triển khai toàn diện, thống nhất và rộng
khắp công tác kế toán Tuy nhiên, kinh nghiệm thực tiễn đã chỉ rõ, chỉ có
Trang 23triển khai tốt hơn công tác kiểm tra mới có thể nhanh chóng đưa công tác tài
chính kế toán đi vào nền nếp tài chính kế toán của kiểm toán
Thứ ba: Kiểm tra - kiểm soát góp phần nâng cao hiệu quả và năng lực
quản lý Bản hoạt động quản lý đã là một công việc phức tạp do đặc thù hoạt
động và quan hệ sinh tế tạo ta, đặc biệt trong những bước chuyển đổi cơ chế
kinh tế, lại càng có nhiều quan hệ mới, phức tạp nẩy sinh, điều này làm cho quá trình quản lý kinh tế cả ở tâm vi rô và vĩ mô càng trở nên khó khăn và
phức tạp Việc kiểm tra, kiểm soát về bản chất là đưa ra những đánh giá xác
đáng về thực trạng, hiệu quả hoạt động của một tổ chức, cơ quan, mà điều
này không chỉ đơn thuần là đem lại cho những nhà quan tâm tới thông tin về đối tượng được kiểm tra kiểm soát, mà nó còn cho họ thấy được những
nguyên nhân thành công, thất bị, vi phạm v.v của các khách thể này, và do
đó giúp cho những nhà quản lý trực tiếp ở tầm vi mô và vĩ mô có những gợi ý
cố giá trị trong việc ấp dụng các quyết sách quyết định trong quản lý Chính
vì lẽ đó, có thể khẳng định kiểm tra kiểm soát góp phần không nhỏ trong việc
nâng cao hiệu quả của hoạt động quản lý
Tóm lại, hoạt động kiểm tra - kiếm soát nảy sinh và phát triển từ chính
nhu cầu quản lý Khi đối tượng quản lý chưa phức tạp, thì nhu cầu kiểm tra
chưa nhiều và phức tạp, do đó hoạt động kiểm tra kiểm soát được thực hiện
đồng thời với các chức năng quản lý khác Nhưng khi đối tượng quản lý đã
phát triển, tính phức tạp tổ chức hoạt động cũng như các quan hệ của nó ngày càng trở nên phức tạp, thì đòi hỏi về kiểm tra, kiểm soát càng gia tăng để
đảm bảo hiệu quả cho hoạt động quản lý, cả ở tầm vi mô và vĩ mô, chính vì lẽ
đó, hoạt động kiểm tra kiểm soát cần được tách ra độc lập khỏi bộ máy quản
lý, thành cơ quan độc lập
II NHỮNG NGUYEN TAC CO BAN VE TO CHUC KIEM TRA - KIEM
SOAT TRONG QUAN LY NHA NUGC
Tổ chức nói chung là mối liên hệ giữa các yếu tố trong một hệ thống Kiểm tra - kiểm soát là những hệ thống có chức năng xác minh và bày tỏ ý kiến về thực trạng hoạt động của đơn vị Các phương pháp xác minh và bày
to ý kiến là kiểm tra cân đối, đối chiếu trực tiếp và đối chiếu logíc, kiểm kê,
Trang 24thực nghiệm và điều tra Như vậy, tổ chức kiểm tra - kiểm soát chính là sự
kết hợp các phương pháp trên theo một trình tự khoa học phù hợp với đối tượng cụ thể ở một khách thể xác định Có nhiều cách kết hợp cụ thể khác nhau và mang lại hiệu quả cụ thể khác nhau Điều này có nghĩa là tổ chức
kiểm tra - kiểm soát thể hiện tính nghệ thuật trong việc xác định chiến lược
và những bước đi cụ thể trong cuộc kiểm tra - kiểm soát «
Từ quan niệm trên có thể đi đến kết luận tổ chức công tác kiểm tra - kiểm soát là một quá trình kết hợp tập hợp cáccác phương pháp kỹ thuật dùng để xác mình và đánh giá về đối tượng kiểm tra - kiểm soát một cách khoa học, nghệ thuật và khách quan Mối liên hệ này xuất phát từ yêu cầu thực hiện
chức năng trên theo từng đối tượng, loại hình, khách thể, chủ thể
Kiểm tra - kiểm soát là phương thức đảm bảo pháp chế, thực hiện quyền
dân chủ trong nhà nước pháp quyền, tăng cường kỷ luật trong quản lý vĩ mô
và vi mô, nâng cao hiệu quả hoạt động của các cơ quan quản lý nhà nước và
' các đơn vị kinh tế cơ sở Để hoạt động kiểm tra - kiểm soát đạt hiệu quả cao, việc tổ chức kiểm tra, kiểm soát trong quản lý vĩ mô và vi mô phải dựa vào ' những nguyên tắc cơ bản sau:
1 Xây dựng và phát triển hệ thống các cơ quan kiểm tra nhà nước
phải đảm bảo yêu cầu gia tăng quyền lực nhà nước và tăng cường hiệu quả sử dụng các nguồn lực tài chính công
Nhà nước nước CHXHCN Việt nam ra đời với một sứ mệnh lịch sử quan
trọng là lãnh đạo nền kinh tế phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa, với
mục tiêu cuối cùng là đem lại sự tự do, hạnh phúc cho nhân dân Với mục
tiêu cao cả là đó, mọi hoạt động kinh tế, chính trị của Nhà nước đều hướng vào việc đem lại tự do, bình đẳng, nâng cao điều kiện vật chất và tinh thần cho mọi người dân Việt nam
Sự vững mạnh của Nhà nước được xây dựng trên nền tảng niềm tin vào
vai trò lãnh đạo tài tình và sáng xuốt của nhân dân đối với Đảng và Nhà
nước Để đảm bảo rằng mọi hoạt động của bộ máy Nhà nước ở mọi cấp, mọi
địa phương được thực hiện đúng đắn và đem lại hiệu quả và đồng thời để
đảm bảo và củng cố vai trò lãnh đạo của mình, thì việc kiểm tra sự thực hiện
Trang 25và hiệu quả của những hoạt động này là một chức năng quan trọng của Đảng
và Nhà nước ta
Với yêu cầu đặt ra đối với chức năng quản lý nhà nước, hệ thống kiểm tra
kiểm soát phải đảm bảo rằng mọi hoạt động, chính sách phát triển kinh tế xã
hội của nhà nước ở các cấp, các địa phương được thực hiện nghiêm túc và thực sự đem lại hiệu quả cho người dân Giả thiết những hoạt động chỉ đạo
từ cấp trung ương xuống cấp địa phương không được thực hiện một cách nghiêm túc có thể gây hậu quả to lớn đối với nhân dân, và làm giảm lòng tín của Nhân dân đối với Đảng và Nhà nước
Một khía cạnh khác cũng không thể bỏ qua trong khi xây dựng hệ thống
kiểm tra kiểm soát nhà nước lầ khi thực hiện kiểm tra kiếm soát không chỉ
chú trọng đến khía cạnh tính hiệu lực của các hoạt động mà còn phải chú trọng đến khía cạnh hiệu quả của các hoạt động Nếu những hoạt động, chính
sách phát triển kinh tế xã hội của Nhà nước được thực hiện, nhưng không
đem lại hiệu quả tích cực đối với người dân, thì hoạt động đó không những
không khẳng định và thể hiện được vai trò của nhà nước, mà nó còn có tác
động tiêu cực đến niềm tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước
Kiểm tra là chức năng quan trọng nhất của các cơ quan nhà nước nhằm đâm bảo mọi hoạt động của hệ thống các cơ quan thuộc sự quản lý của nhà nước thực hiện đúng chức năng nhiệm vụ và mọi kết quả hoạt động của chúng đạt được hiệu quả kinh tế xã hội nhất định, tức những mục tiêu hoạt động đã đề ra trong mỗi giai đoạn Với bất kỳ lý do nào, những hoạt động của nhà nước không đem lại lợi ích thiết thực cho nhân dân đều làm giảm niềm tin của Nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước Chính vì lẽ
đó, nguyên tắc số một cần quán triệt khi xây dựng và phát triển
2 Xây dựng và phát triển hệ thống các cơ quan kiểm tra nhà nước
phải đảm bảo tính thống nhất và hệ thống giữa các phân hệ quản lý
Kiểm tra - kiểm soát là chức năng của quản lý nhà nước, tuỳ thuộc vào cấp quản lý khác nhau, kiểm tra - kiểm soát được tổ chức tiến hành có hệ
thống độc lập, từ bên ngoài giữa các phân hệ quản lý hay phụ thuộc, nội kiếm
trong mỗi cơ quan chức năng của quản lý nhà nước Tuy vậy, cho dù có tổ
Trang 26chức việc kiểm tra kiểm soát ra sao, thì việc xây dựng và phát triển hệ thống các cơ quan kiểm tra nhà nước phải bảo đảm được tính thống nhất, và tính
toàn diện để đảm bảo mọi hoạt động, quan hệ kinh tế chính trị đều được kiểm
tra kiểm soát, thể hiện sự bao trùm trong quản lý các hoạt động quản lý của nhà nước, tức đảm bảo được khả năng kiểm tra, kiểm soát của nhà nước
Tính thống nhất trong việc xây dựng và phát triển hệ thống các cơ quan kiểm tra Nhà nước thể hiện ở chỗ mỗi cơ quan kiểm tra, kiểm soát chức
năng là một bộ phận cấu thành trong hệ thống kiểm tra kiểm soát của nhà nước, cùng thực hiện nhiệm vụ kiểm tra nhà nước, nhưng tính chất công việc
cụ thể cuả từng cơ quan chức năng có sư phân định rõ ràng, không chồng
chéo, trùng lắp, song lại có sự hộ trợ tích cực cho nhau
Tính toàn diện thể hiện ở chỗ mọi lĩnh vực, mọi hoạt động kinh tế,
chính trị xã hội trong cả nước, hoặc có liên quan đến sự phát triển của đất
nước phải được kiểm tra kiểm soát, để đảm bảo được tính bao quát và đẩy đủ,
toàn diện trong công tác quản lý nhà nước Nếu như việc tổ chức, phân định
hệ thống các cơ quan kiểm tra Nhà nước chỉ chú trọng đến khía cạnh tránh sự
trùng lắp, chồng chéo về chức năng nhiệm vụ, mà bỏ qua một số lĩnh vực,
ngành nghề, một khu vực nào đó, thì chức năng quản lý, lãnh đạo của Nhà
nước chưa được đảm bảo, như một vết đầu loang có thể gây tác động tiêu cực
đến tổng thể nền kinh tế xã hội Việt nam
Trong quản lý vĩ mô: Nhà nước thực hiện chức năng kiểm tra của ”
ˆ mình hoặc trực tiếp thông qua các bộ máy kiểm soát, thanh tra, kiếm toán hoặc gián tiếp (sử dụng kết quả kiểm tra của các chuyên gia hay tổ chức để điều tiết vĩ mô) Trong quản lý vi mô, một mặt nhà nước thực hiện việc kiểm
tra - kiểm soát đối với các đơn vị và mặt khác các đơn vị đều tự tổ chức hoạt
động kiểm tra - kiểm soát phục vụ việc quản trị nội bộ (kiểm soát nội bộ hay
nội kiểm) Điều này được thể hiện trong hoạt động thanh tra trong các cấp
quản lý:
Trong quản lý vĩ mô: Hệ thống Thanh tra Nhà nước có nhiệm vụ, quyền
hạn như sau: Chỉ đạo, hướng dẫn công tác, tổ chức nghiệp vụ thanh tra đối
với thanh tra các Bộ, Uỷ ban Nhà nước, Cơ quan thuộc Chính phủ hay UBND các cấp; Xây dựng các dự án pháp luật về thanh tra và công tác giải quyết
Trang 27khiếu nại, tố cáo; Thanh tra việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ,
kế hoạch Nhà nướé của các Bộ, Uỷ ban Nhà nước, Cơ quan trực thuộc Chính phủ, UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và các cấp tương đương Thanh tra việc liên quan đến trách nhiệm của nhiều Bộ, ngành, cơ quan thuộc Chính phủ, việc có liên quan trách nhiệm nhiều tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và các cấp tương đương, thanh tra các việc do Thủ tướng Chính phủ trực tiếp giao; Giải quyết khiếu nại, tố cáo Để thực hiện nhiệm vụ này, Thanh tra Nhà nước được tổ chức độc lập theo hệ thống từ trung ương đến địa
phương Mỗi cấp thanh tra này đều có nhiệm vụ, quyền hạn phù hợp với từng
cấp thanh tra được quy định tại Pháp lệnh Thanh tra số 33/LCT-HĐNNS
ngày 29/3/1990
Trong quản lý vi mô: các tổ chức thanh tra xã, phường, thị trấn, các tổ chức, đơn vị, xí nghiệp có nhiệm vụ và quyền hạn như sau: Thanh tra việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ, kế hoạch Nhà nước của Ngành, của các cơ quan, đơn vị ,các nhân thuộc quyền quản lý trực tiếp của UBND
xã, phường, thị trấn và trực thuộc các sở, ban, ngành, chi nhánh; Thanh tra
việc thực hiện chính sách, pháp luật của các cơ quan, đơn vị, các nhân thuộc
quyển quản lý của cơ quan cấp trên, hoặc địa phương khác đóng tại địa phương mình theo thấm quyền cùng cấp, Tiếp dân, nhận đơn xét và giải quyết các khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền
Tóm lại, tổ chức kiểm tra - kiểm soát phải bảo đảm hệ thống giữa các
phân hệ quân lý nhằm thực hiện hai yêu cầu:
Một là, phân định rõ ranh giới hoạt động của các cơ quan thực hiện chức năng kiểm soát, tránh chồng chéo hoặc bỏ trống địa bàn, phạm vi
Hai là, bảo đảm mối liên hệ giữa các phân hệ kiểm tra, kiểm soát trong
quản lý vĩ mô và vĩ mô
Tuy nhiên, trong thực tế các đơn vị hoạt động trong nên kinh tế còn chịu
sự kiểm tra của nhiều lực lượng khác nhau do các văn bản pháp quy còn thiếu đồng bộ Mối quan hệ giữa thanh tra và các hoạt động quản lý nhà nước
khác, quan hệ giữa thanh tra và các cơ quan bảo vệ pháp luật, đặc biệt là với
cơ quan kiểm sát cũng còn chưa có sự phân định rõ ràng Bên cạnh đó, việc
Trang 28phân công, phân cấp trong nội bộ ngành thanh tra, cụ thể là thanh tra bộ và
thanh tra ở các địa phương còn thiếu hợp lý và do đó trên thực tế thường thấy nhiều lực lượng dồn vào kiểm tra đồng thời ở một số đơn vị còn thiếu sự
phối hợp và chỉ đạo tổng thể, tạo ra tình trạng có đơn vị bị kiểm tra chồng
chéo, có đơn vị bị bỏ quên và những đơn vị đang hoạt động có hiệu quả có
thể bị gián đoạn và suy yếu do việc kiểm tra liên miên của nhiều đoàn khác
nhau
3 Xây dựng và phát triển hệ thống các cơ quan kiểm tra nhà nước phải đảm bảo điều kiện nâng cao hiệu quả, hiệu lực của các cơ quan
kiểm tra, kiểm soát nhà nước
Để thực hiện các mục tiêu mày, hoat động kiểm tra - kiểm soát phải quán triệt hai nguyên tắc:
Thứ nhất: Kiểm tra - kiểm soát phải được thực hiện thường xuyên liên tục Đề đảm bảo hiệu quả của các cơ quan kiểm tra, kiểm soát, thì hoạt động của các cơ quan này phải được tiến hành thường xuyên, liên tục để đắm bảo tính chất có hệ thống và tính cập nhật trong việc thu thập thông tin và nắm bắt tình hình của đối tượng được kiểm tra, kiểm soát Trên cơ sở đó, những ý
kiến, kiến nghị mới có giá trị thực tiễn cao
Trong kiểm tra kiểm soát nội bộ, việc tiến hành thường xuyên tạo điểu kiện cho bộ phận chức năng theo dõi, nắm bắt các vấn đề kiểm tra, kiểm soát
một cách có hệ thống, lôgíc, do đó cũng có nhiều thuận lợi trong việc đưa ra các ý kiến nhận xét, đánh giá hoặc kiến nghị cho bộ phận, cấp quản lý trong việc ra quyết định, sách lược hay chiến lược quản lý, tác động lên đối tượng
quản lý để nâng cao chất lượng hoạt động của tổ chức, đơn vị Tính chất kịp thời trong quản lý là điều kiện tiên quyết, đòi hỏi hoạt động kiểm tra, kiểm
soát - một chức năng quan trọng của quản lý phải được thực hiện thường
xuyên, định kỳ hoặc thậm chí đột xuất Ngoài việc tiến hành kiểm tra - kiểm
soát thường xuyên nhờ hệ thống kiểm soát nội bộ cần kết hợp kiểm tra của
các tổ chức ngoại kiểm mang tính định kỳ hay đột xuất Bên cạnh đó, cần
nhận thấy rằng tính độc lập trong hoạt động cũng như tổ chức của bộ máy
kiểm tra - kiểm soát càng cao thì hiệu quả của kiểm tra - kiểm soát nói riêng
và hoạt động quản lý nói chung càng được tăng cường
24
Trang 29Bên cạnh những hạn ché vé kiém tra kiểm soát nội kiểm là tính kém
khách quan do tính chất không độc lập, thì tính chất phức tạp của khách thể quản lý làm cho hoạt động quản lý trở nên khó khăn hơn, do đó, để đảm bảo được vai trò và chức năng hữu hiệu của quản lý, đòi hỏi phải có sự kiểm tra kiểm soát từ bên rigoài (ngoại kiểm) Do sự thay đổi liên tục và nhanh chóng
của khách thể quản lý trong điều kiện môi trường hoạt động thay đổi, đời hỏi hoạt động kiểm tra kiểm soát phải được tiến hành liên tục, để đảm bảo tính cập nhật và chính xác của hoạt động kiểm tra, kiểm soái, và cũng chỉnh là để
đảm bảo tính hiệu ích của hoạt động quản lý Tuy nhiên, hoạt động kiểm tra, kiểm soát đột xuất mang tính toàn điện hay vụ việc cũng rất cần thiết chơ hoạt động quản lý
Thứ hai: Kiểm tra kiểm soát phải được dam bdo về khía cạnh pháp lý
Để kết quả của các hoạt động kiếm tra kiểm soát trực sự có hữu ích, hay nói
cách khác là được thực hiện, thì các cơ quan kiểm tra kiểm soát phải có địa vị pháp lý tương xứng, để các ý kiến, kiến nghị của chúng có giá trị pháp lý và
có tính chất bắt buộc các khách thể kiểm tra và các đóí tượng liên quan phải
thực hiện
Sự đảm bảo về mặt pháp lý lä điều kiện không thể thiếu được để tạo nên tính hiệu lực của các hoạt động kiểm tra kiểm soát, và cũng là các bước cơ
bản để thực hiện và thể hiện được khía cạnh hiệu quả của các hoạt động này
Một ví dụ điển hình, kết quả của một cuộc tranh tra một công trình xây dựng xoột toà nhà chỉ ra rằng “cần phải ngay lập tức phải tiến hành sửa chữa công trình này vì không đảm bảo chất lượng”, xong kiến nghị này không được thực biện, kết quả là chỉ một thời gian ngắn, công trình này xụt đố và làm chết nhiều người Rõ ràng, lẽ ra hậu quả trên có thể tránh được, và thiệt hại đó
không sây ra - thể hiện tác dụng của hoạt động thanh tra, nhưng thực tế kiến nghị này không được thực hiện và không thể hiện được hiệu quả cia heat động thanh tra Ví dụ này nót lên rằng; cho dù kết quả (ý kiến, kiến nghị )
của hoạt động kiểm tra, kiểm soát nếu không cớ sự bảo đảm vẻ mặt pháp lý,
thì cũng trở thành vô nghĩa Hay nói cách khác là sẽ không thể đạt được hiệu
quả của hoạt động kiểm tra, kiếm soát nếu các loạt động và vai frò của các
cơ quan đó không được đảm bảo tương xứng bằng pháp luật
Trang 30Tóm lại, trong xây dựng và phát triển hệ thống kiểm tra, kiếm soát nhà
nước cần phải quán triệt nguyên tắc là tạo điều kiện để các cơ quan kiểm tra
hoạt động có hiệu quả và có điều kiện vật chất và các đảm bảo khác để nâng
cao hiện quả hoạt động trong từng giai đoạn nhất định
4 Phải tiến hành kiểm tra trên cơ sở một hệ thống các chuẩn mực,
phương pháp kiểm tra, kiểm soát khoa học
Đối tượng của hoạt động kiểm tra - kiểm soát là các hoạt động kinh tế
xã hội phức tạp, chứa đựng nhiều mối quan hệ khác nhau và diễn ra ở các phạm vi khác nhau Để thực hiện mục đích tạo niềm tin cho những người quan tâm, củng cố nền nếp quản lý và nâng cao hiệu quả hoạt động, kiểm tra
- kiểm soát (trong đó có kiểm toán) phải không ngừng đúc kết kinh nghiệm
và xây dựng hệ thống các chuẩn mực phương pháp tiến hành kiểm tra, kiểm
soát một cách khoa học
Như chúng ta đã biết, hoạt động kiểm tra, kiểm soát được tiến hành trên
một phạm vi rộng lớn, gồm tất cả các lĩnh vực, ngành nghề, vùng kinh tế, khu vực kinh tế xã hội, rất phức tạp, đa dạng và phong phú, và thường xuyên biến
đổi, điều này không có nghĩa là hoạt động kiểm tra, kiểm soát cũng được tiến
hành một cách tuỳ nghi, bừa bãi, mà ngược lại, do các hoạt động kinh tế, chính trị văn hoá xã hội nói chung, bên cạnh những đặc thù riêng có những
quy luật chung, do đó cần phải xây dựng một hệ thống chuẩn mực, phương
pháp phù hợp với đặc thù và quy luật pháp triển chung của từng lĩnh vực, ngành nghề
Việc xây dựng hệ thống các chuẩn mực, phương pháp kiểm tra, kiểm soát
là cần thiết, để đảm bảo rằng việc kiểm tra, kiếm soát được tiến hành một
cách khoa học, và bình đẳng cho mọi đối tượng được kiểm tra Cũng chính bản thân cách chuẩn mực này ngăn chặn được các hành vi tuỳ tiện của những
người thực thi nhiệm vụ kiểm tra kiểm soát đối với đối tượng được kiểm tra
5 Xây dựng và phát triển hệ thống kiểm tra nhà nước phải phù hợp
với môi trường kinh tế xã hội, môi trường pháp lý, đồng thời từng bước hoà nhập với thông lệ quốc tế.
Trang 31Về mặt cơ sở pháp lý: Hệ thống chuẩn mực kiểm tra - kiểm soát phải
được xây dựng phù hợp với điều kiện và trình độ quản lý kinh tế - tài chính của từng nước và bảo đảm sự kế thừa kinh nghiệm thực tiễn của hoạt động
kiểm tra - kiểm soát và các quy định có liên quan Thật vậy, hoạt động kiểm
tra - kiểm soát hiện nay đã vượt ra khỏi phạm vi khép kín của từng quốc gia,
và mang tính chất quốc tế phổ biến và trên thế giới đã hình thành những hệ thống pháp lý, thậm chí cả các chuẩn mực chuyên ngành mang tính quốc tế
Mặc dù vậy, các văn bản pháp lý, các chuẩn mực ở các quốc gia, không thể
tách rời hệ thống pháp luật nói chung và trình độ quản lý kinh tế - tài chính cũng như đặc thù riêng của từng nước
Dua trên quan điểm kế thừa có chọn lọc, việc nghiên cứu nội dung của từng luật pháp, từng hệ thống chuẩn mực quốc tế để vận dụng phù hợp với
hoàn cảnh điêu kiện thực tiễn ở Việt Nam trong quá trình xây dựng chuẩn mực quản lý và kiểm tra là điều cần thiết và quan trọng để Việt Nam nhanh
chóng tiếp cận và hội nhập với các thông lệ của khu vực và trên thế giới ,
nhưng đồng thời cần được bổ sung và cụ thể hoá, bảo đảm các yếu cầu rõ ràng, dễ hiểu và dễ vận dụng
Về bộ máy: Tổ chức kiếm tra - kiểm soát phải xây dựng bộ máy kiểm tra
phù hợp với điều kiện từng nước và từng bước hoà nhập vơí thông lệ phổ biến của quốc tế và khu vực
IV BẢN CHẤT VÀ CƠ CHẾ HOẠT DONG CUA CÁC CO QUAN KIEM
TRA NHÀ NƯỚC
1 Kiểm toán nhà nước
1.1 Vị trí và tâm quan trọng của KTNN trong nên kinh tế thị trường
Tài chính nhà nước là một bộ phận cấu thành quan trọng của nền tài chính quốc gia, đâm nhận chức năng quản lý ngân quỹ nhà nước, tập trung thu đủ, thu đúng, giữ gìn an toàn ngân quỹ và đáp ứng kịp thời nhu cầu chỉ
tiêu của đất nước Để thực hiện những nhiệm vụ chính trong lĩnh vực tài chính, bên cạnh sự hoàn thiện, tăng cường pháp ly, nan cao nãng lực nghiệp
vụ,còn cần phải tăng cường kiểm tra, kiểm soát Cùng với việc xây dung
Trang 32hoàn thiện hệ thống thanh tra, kiểm tra nhà nước, hệ thống thanh tra, kiểm tra
nội bộ, Kiểm toán nhà nước từng bước khẳng định vai trò là công cụ quản lý
của nhà nước trong nền kính tế thị trường, góp phần làm lành mạnh hoá nền
tài chính quốc gia, nâng cao hiệu quả vốn ngân sách nhà nước, hạn chế ngăn
ngừa tệ nạn tham những, thất thoát lãng phí
Sự ra đời và hoạt động của Kiểm toán nhà nước nhằm tăng cường sự kiểm soát của nhà nước trong việc sử dụng ngân sách và công quỹ quốc gia, bảo đảm tính trung thực, chính xác , hợp pháp và hợp lệ của việc sử dụng nguồn lực của tài chính công, ngăn ngừa sự xâm hại đối với tài sản nhà nước, xây dựng nhà nước pháp quyền có hiệu lực và hiệu quả trong quản lý kinh tế
Trong quá trình hoạt động, vai trò của Kiểm toán nhà nước không ngừng được củng cố và tăng cường, đáp ứng yêu cầu của Quốc hội và Chính phủ trong việc kiểm tra, giám sát, hoàn thiện và nâng cao chất lượng quản
lý điều hành ngân sách nhà nước Biểu hiện qua các mặt: ộ -_ Kiểm tra việc chấp hành những quy định về nghĩa vụ nộp ngân sách nhà
nước, thực hiện nộp đúng, nộp đủ theo quy định của Pháp luật Qua hoạt động kiểm toán đã góp phần cải cách công tác tổ chức và quản lý thu
ngân sách nhà nước có hiệu quả Một mặt tập trung tăng nguồn thu, đáp
ứng nhu cầu chỉ tiêu ngân sách nhà nước, điều quan trọng là lập lại trật tự
trong việc chấp hành luật Nhà nước, trả lại sự bình đẳng trong môi trường
kinh doanh giữa các tổ chức kinh tế trong và ngoài quốc doanh
-_ Kiểm soát chặt chẽ việc sử dụng ngân sách nhà nước, chống thất thoát,
chống lãng phí, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn và tài sản nhà nước Trong điều kiện phát triển kinh tế - xã hội hiện nay, nhu cầu chi ngân sách nhà nước rất lớn trong khi khả năng đáp ứng còn hạn hẹp, thì việc tầng cường quản lý ngân sách nhà nước, chống thất thoát lãng phí, tham nhũng nâng cao hiệu quả sử dụng ngân sách nhà nước có một ý nghĩa rất quan trọng
Để đạt được yêu cầu đó, công tác kiểm toán còn giúp các đối tượng sử
dung NSNN tuan thủ những quy định của pháp luật về các mặt thủ tục,
trình tự, chỉ đúng mục đích, đối tượng, đúng định mức dự toán được
duyệt
Trang 33- - Để giúp công tác điều hành vĩ mô của các nhà lãnh đạo quản lý kinh tế tài chính, kết quả Kiểm toán nhà nước cung cấp thông tin dữ liệu chính xác, kịp thời trong việc xây dựng dự toán, điều chỉnh dự toán phù hợp với thực
trạng và điều kiện phát triển kinh tế địa phương, ngành nghề nói riêng và
của nhà nước nói chung
- _ Đề xuất kiến nghị với nhà nước giải pháp nhằm hoàn thiện cơ chế, chính sách về kinh tế - tài chính phù hợp với từng ngành nghề, đối tượng sản xuất kinh doanh hoặc thụ hưởng ngân sách nhà nước, góp phần từng bước
đồng bộ, chuẩn hoá các thể chế, luật định, chế độ, chính sách nhà nước
trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội, ở mọi phương diện sản xuất kinh doanh, giáo dục, y tế, văn hoá xã hội.vv thực hiện đúng phương châm "Sống và làm việc theo pháp luật”
1.2 Địa vị pháp lý của cơ quan KTNN
Kiểm toán nhà nước Việt Nam ra đời và hoạt động theo quy định tại các văn bản của Chính phủ và Quốc hội: Nghị định số 70/CP ngày 11/7/1994; Quyết định 61/TTg ngày 21/1/1995; Luật Ngân sách nhà nước được Quốc hội thông qua ngày 20/3/1996 tại kỳ họp thứ 9 Quốc hội khoá IX.Theo các
quy định này Kiểm toán nhà nước là cơ quan thuộc Chính phủ Hoạt động
của Kiểm toán nhà nước chịu sự chỉ đạo và kiểm tra trực tiếp của Thủ tướng Chính phủ
Tạo dựng địa vị pháp lý tương xứng với tầm quan trọng của Kiểm toán
nhà nước là vấn đề quan trọng hành đầu hiện nay Có được địa vị pháp lý cao
thì Kiểm toán nhà nước mới có thể thực hiện được các hoạt động kiểm toán
trong nước, hướng dẫn các loại hình kiểm toán thực hiện các văn bản pháp
luật của nhà nước, những chuẩn mực kiểm toán và nghề nghiệp kiểm toán Đối với quan hệ quốc tế, các tổ chức cơ quan kiểm toán như INTOSAI,
ASOSAI, các cơ quan kiểm toán các nước việc có địa vị pháp lý tương xứng với chức năng, nhiệm vụ là yêu cầu không thể thiếu trong hội nhập và hợp tác quốc tế
Việc quy định địa vị pháp lý của cơ quan Kiểm toán nhà nước được thông qua văn bản lập quy của người đứng đầu Nhà nước hoặc người đứng đầu
Trang 34Chính phủ Cao hơn nữa là luật cơ bản (Hiến pháp) của nhà nước Từ đó xác
định được chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Kiểm toán nhà nước, phù hợp
với tổ chức bộ máy và thể chế hoạt động của nhà nước
Tuy-nhiên, với địa vị pháp lý hiện nay, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn
của Kiểm toán nhà nước chưa được thể hiện và phát huy đầy đủ do tính độc
lập chưa được xác định rổ ràng trong một hệ thống văn bản pháp luật cao
Địa vị pháp lý của Kiểm toán nhà nước cần phải được thể chế hoá và xác định
bằng Luật cơ bản là Hiến pháp Nhà nước và luật về Kiểm toán Nhà nước
1.3 Chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của Kiểm toán nhà nước
Theo quy định tại các văn bản nói trên, Kiểm toán nhà nước có các chức
năng, nhiệm vụ và quyền hạn như sau:
-_ Chức năng: thực hiện việc kiểm toán, xác định tính đúng đắn, hợp pháp của các số liệu kế toán, báo cáo quyết toán của các cơ quan nhà nước, các đơn vị
có nhiệm vụ thu, chỉ ngân sách nhà nước theo quy định của Chính phủ
- Nhiệm vụ và quyền hạn: KTNN có nhiệm vụ và quyền han sau:
" Xây dựng chương trình, kế hoạch kiểm toán hàng năm trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt và tổ chức thực hiện chương trình, kế hoạch đó Định kỳ báo cáo thực hiện chương trình, kế hoạch kiểm toán lên Thủ tướng Chính phủ
"_ Báo cáo kết quả kiểm toán với Quốc hội và Chính phủ Khi Quốc hội
và Uỷ ban thường vụ Quốc hội yêu cầu kiểm toán thì cơ quan Kiểm toán nhà nứơc có trách nhiệm thực hiện và báo cáo kết quả Cung cấp kết quả kiểm toán cho các cơ quan chức năng của nhà nước theo quy định của Chính phủ
" Xác nhận, đánh giá, nhận xét các tài liệu, số liệu kế toán, báo cáo quyết toán đã được kiểm toán và chịu trách nhiệm trước pháp luật về
những nội dung đã đánh giá, nhận xét, xác nhận
"_ Thông qua hoạt động kiểm toán góp ý kiến với các đơn vị được kiểm toán, sửa chữa những sai sót, vi phạm để chấn chỉnh công tác quản lý
Trang 35tài chính kế toán của đơn vị; kiến nghị với cấp có thẩm quyền xử lý những vi phạm chế độ kế toán, tài chính của nhà nước; đề xuất với Thủ tướng Chính phủ việc sửa đối, cải tiến cơ chế quản lý tài chính, kế toán cần thiết
" Khi thực hiện nhiệm vụ, Kiểm toán nhà nước chỉ tuân theo pháp luật
và phương pháp chuyên môn, nghiệp vụ đã được Nhà nước quy định
Chịu trách nhiệm trước pháp luật về kết quả kiểm toán của mình
Được yêu cầu đơn vị được kiểm toán và các đơn vị có liên quan cung
cấp thông tin tài liệu cần thiết để thực hiện nhiệm vụ kiểm toán
"_ Quản lý các hồ sơ, tài liệu đã được kiểm toán theo quy định của nhà nước; giữ bí mật tài liệu, số liệu kế toán và sự hoạt động của đơn vị
được kiểm toán
" Quản lý, tổ chức bộ máy, cán bộ kiểm toán viên, cơ sở vật chất của hệ
thống tổ chức Kiểm toán nhà nước theo quyết định của Chính phủ
-_ Thực hiện kiểm tra và xác nhận các thông tin, số liệu, bằng chứng kiểm
toán xảy ra trong quá khứ Đối tượng kiểm toán là các báo cáo quyết toán của các cơ quan, đơn vị kinh tế nhà nước, các đoàn thể quần chúng, tổ chức xã hội sử dụng kinh phí ngân sách nhà nước cấp Bao gồm:
- Thực hiện chức năng báo cáo: Báo cáo kiểm toán là sản phẩm quan trọng
của hoạt động kiểm toán Báo cáo kết quả kiểm toán được đưa ra những nhận xét, đánh giá kết luận nội dung kiểm toán và chịu trách nhiệm trước
pháp luật về nội dung kết luận Ngoài ra, báo cáo kiểm toán nêu đề xuất, kiến nghị của Kiểm toán nhà nước, điều chỉnh bổ xung chế độ chính sách của nhà nước phù hợp với hướng phát triển kinh tế - xã hội Kiểm toán nhà
nứơc có trách nhiệm báo cáo kết quả kiểm toán, báo cáo hoạt động của mình, b áo cáo theo yêu cầu lên Chính phủ, Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội Ngoài ra, báo cáo kết quả kiểm toán được thông báo cho các đối tượng được kiểm toán, cơ quan chủ quản, cơ quan chức năng có liên quan Hiện nay, việc công bố công khai kết quả kiểm toán chưa có điều kiện thực hiện nhưng cũng cần được coi là chức năng báo cáo của Kiểm toán nhà
Trang 36nứơc với công luận Vì nhà nước ta là "nhà nước của dân, do dan, vi dan” nên
chính người dân cần thấy được việc sử dụng và hiệu quả của các khoản đóng góp của mình
- Thực hiện chức năng tư vấn: Thông qua kết quả hoạt động và báo cáo kết quả kiểm toán, Kiểm toán nhà nứơc cung cấp thông tin đầy đủ có giá tri, đáng tin cây về thực hiện dự toán thu chỉ ngân sách nhà nước, tình hình chấp hành chế độ chính sách nhà nước qua công tác điều hành quản lý ngân sách, tình hình quản lý kinh tế của các cấp, các ngành Qua đó để Quốc hội xem xét phê chuẩn quyết toán ngân sách nhà nước năm trước cũng như dự toán phân bổ ngân sách năm sau Đồng thời giúp Chính phủ hoạch định chính sách và đề ra các biện pháp chấn chỉnh , tăng cường quản lý vĩ mô nền kinh tế Tham gia với Bộ Tài chính và các cơ quan chức năng trong việc lập dự toán, quyết toán ngân sách nhà nước hàng năm cũng như việc xây dựng các văn bản pháp quy về công tác quản lý kinh tế
- tài chính - ngân sách, thống kê kế toán Như vậy, ở địa vị pháp lý nào,
là cơ quan hành pháp hay lập pháp và nhất là khi cơ quan độc lập, chức năng tư vấn luôn giữ vai trò quan trọng trong công tác kiếm toán
2 Cơ quan Thanh tra Nhà nước
2.1 Mục đích hoạt động
Pháp lệnh Thanh tra ban hành năm 1990 da khẳng định mục đích của thanh tra là phát huy nhân tố tích cực, phòng ngừa, sử lý các vi phạm, góp phần thúc đẩy hoàn thành nhiệm vụ, hoàn thiện cơ chế quản lý, tăng cường pháp chế XHCN, bảo vệ lợi ích Nhà nước, các quyền và lợi ích hợp pháp của
cơ quan, tổ chức và công dân Hoạt động thanh tra phải coi trọng nhân tố tích cực, đấu tranh lấn át và đẩy lùi mặt tiêu cực Mỗi khi nhân tố tích cực được phát huy thì kha năng phòng ngừa vi phạm sẽ tảng lên hạn chế mặt tiêu cực phát sinh và tao điều kiện thuận lợi thúc đẩy nhân tố tích cực phát triển
Để phòng ngừa các vi phạm pháp luật, cần phải kiên quyết xử lý các vi
phạm một cách nghiêm minh, đúng người, đúng pháp luật mới mang lại hiệu qủa cao và có tác dụng giáo dục mọi người chấp hành nghiẻm chính pháp
luật, bảo đảm ký cương, trật tự quản lý mới tạo điều kiện phát huy nhân tố
Trang 37tích cực, ngăn chặn và đẩy lùi mặt tiêu cực, góp phần thúc đẩy hoàn thành
nhiệm vụ Hoạt động thanh tra còn góp phần hoàn thiện cơ chế quản lý Kinh
tế - xã hội trong nền kinh tế chuyển đổi ở nước ta hiện nay và tăng cường
pháp chế của nhà nước pháp quyền
Hoạt động xã hội phát triển không ngừng và luôn đặt ra vấn đề mới phải giải quyết Thông qua hoạt động thanh tra, phát triển các hoạt động thanh tra, phát hiện các mặt hạn chế gây cản trở ách tắc đến hoạt động Kinh
tế - xã hội của tổ chức bộ máy quản lý để có biện pháp hoàn thiện, đổi mới
cơ chế quản lý Mặt khác thông qua thanh tra sẽ giúp cơ quan đánh giá được tình hình chấp hành chính sách, pháp luật, nhiệm vụ kế hoạch nhà nước; thấy được các hạn chế, thiếu đồng bộ chưa phù hợp của chính sách, pháp luật để
sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện làm cho luật pháp thể hiện được ý chí nguyện
vọng của nhân dân, được nhân dân tự giác thực thi nghiêm chỉnh pháp luật, tăng cường được pháp chế XHCN
Qua thanh tra, cần phải xem xét đúng, sai để kiến nghị, để xuất biện pháp xử lý để đấu tranh bảo về lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp
pháp của cơ quan, tổ chức và công dân Việc đấu tranh và chống mọi biểu
hiện tham ô, lãng phí, hối lộ, chiếm dụng tiền của gây tổn hại tài sản của nhà nước, của tập thể và cá nhân; xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của công dân không chỉ là mục đích quan trọng của thanh tra, mà là còn thể hiện
bản chất của Thanh tra Nhà nước ta, hiệu quả thực tiễn của công tác thanh tra
Tóm lại, hoạt động thanh tra nhằm vào các mục đích rất cơ bản đó là:
- _ Gớp phần tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước
-_ Thực hiện nghiêm chỉnh chính sách, pháp luật Nhà nước
-_ Phát huy quyền dân chủ của công dân
Mục đích của thanh tra định hướng, chi phối toàn bộ hoạt động thanh tra từ nội dung, yêu cầu đến quy trình,phương pháp tiến hành thanh tra
2.2 Đổi tượng thanh tra
Thanh tra chức năng thiết yếu của cơ quan quản lý nhà nước nên đối tượng quản lý cũng là đối tượng thanh tra Tuy nhiên, giữa chúng có những
điểm khác nhau
Trang 38Sự tác động của chủ thể quản lý đến đối tượng quan lý là thường xuyên, liên tục bằng các quyết định quản lý trong khi đó, thanh tra với chức năng đánh giá kế quả quản lý, tấc động vào đối tượng quản lý bằng cách
kiểm tra xem xét, đánh giá, kết luận việc chấp hành quyết định quản lý đúng
hay sai, nguyên nhân của nó Điều đó có nghĩa là, toàn bộ nội dung các quyết
định quản lý là chủ thể quản lý đề cập đều là đối tượng thanh tra Phạm vi
quản lý mở rộng đến đâu thì phạm vi tác động đến đối tượng thanh tra cũng được mở rộng đến đó Nói một cách cụ thể hơn, đối tượng thanh tra là thanh
tra các cơ quan nhà nước, các đơn vị sự nghiệp, các đơn vị vũ trang nhân dân,
các tổ chức chính trị xã hội, các tổ chức xã hội nghề nghiệp, các đơn vị kinh
tế, và cá nhân có liên quan trong việc chấp hành chính sách, pháp luật, nhiệm vụ kế hoạch Nhà nước
Ở nước ta hệ thống quản lý được tổ chức theo nguyên tắc kết hợp quản
lý theo ngành với quản lý theo địa phương và vùng lãnh thổ Vì thế, quyền hạn, phạm vi lý theo ngành và địa phương của các cơ quan quản lý là khác nhau nên đối tượng thanh tra cũng khác nhau Tổ chức quản lý cấp dưới trực
thuộc phải chịu sự thanh tra, kiểm tra tổ chức quản lý cấp trên và của nhà
nước Điều này được cụ thể hoá dưới đây Đối tượng thanh tra Nhà nước là thanh tra các Bộ, các cơ quan trực thuộc Chính phủ, UBND tỉnh và thành phố trực thuộc Trung ương; thanh tra vụ việc liên quan đến trách nhiệm của nhiều
Bộ, nhiều tỉnh; thanh tra vụ việc do Chính phủ giao
Đối tượng thanh tra Bộ, căn cứ vào chức năng quản lý nhà nước của Bộ
là quản lý về cơ chế, chính sách, luật pháp thuộc ngành hoặc lĩnh vực công tác của Bộ mà tiến hành thanh tra các cơ quan, đơn vị theo thẩm quyền quản
lý nhà nước của Bộ xuyên xuốt trong cả nước Thanh tra Bộ khi cần thiết, thanh tra các đơn vị thuộc quyền quản lý của Bộ Đối với thanh tra tỉnh và
thành phố trực thuộc Trung ương, thanh tra huyện, quận, thành phố trực
thuộc tỉnh và việc thực hiện chức năng thanh tra Nhà nước ở xã, phường, thị trấn,tiến hành thanh tra các cơ quan, đơn vị, cá nhân thuộc quyền quản lý trực tiếp đồng thời thanh tra các cơ quan, đơn vị, cá nhân thuộc quyền quản
lý của cơ quan cấp trên hạc địa phương khác đóng tại địa phương mình theo quyền quản lý nhà nước của địa phương mình theo thẩm quyển quản lý nhà
nước của chính quyền cùng cấp Vì đối các của quan đơn vị, cá nhân nói
Trang 39trên, UBND địa phương không có nhiệm vụ quản lý, chi đạo việc thực hiện nhiệm vụ, kế hoạch nhà nước của họ, nên thanh tra tỉnh, huyện và ƯBND xã, phương cũng không thanh tra việc thực hiện nhiệm vụ , kế hoạch của họ Song các cơ quan, đơn vị, cá nhân đó phải chịu sự kiểm tra việc thực hiện
chính sách, pháp luật và các quy định thuộc quyền quản lý lãnh thổ của chính
quyền địa phương
Các tổ chức thanh cần nắm vững sự phân cấp theo thẩm quyền để thực
hiện đúng chức năng, quyền hạn của mình Trong hệ thống thanh tra cần có
sự phân công phối hợp giữa trên và dưới, giữa thanh tra theo cấp và thanh
theo ngành để tránh tình trạng tổ chức thanh tra cấp trên làm thay cho thanh cấp dưới, tổ chức thanh tra cấp làm thay tổ chức thanh tra theo ngành để
không có sự chồng chéo hoặc bỏ sót
2.3 Nguyên tắc hoạt động thanh tra
Để thanh tra đúng mục đích, đúng đối tượng và đạt hiệu quả cao, trong hoạt động thanh tra phải tuân thủ các nguyên tắc sau đây:
Nguyên tắc tuân thủ pháp luật
Nhà nước ta là một nhà nước Pháp quyền quản lý xã hội bằng luật pháp Pháp luật của nhà nước vừa là vừa là chuẩn mực trong quản lý kinh tế -
xã hội, vừa tạo môi trường pháp lý thuận lợi cho các hoạt động kinh tế - xã hội Các văn bản quy phạm pháp luật thể hiện ý chí của nhà nước, nguyện vọng, quyền lợi và lợi íc của nhân dân Nhưng trong thực tiễn, việc thực hiện các chính sách luật lệ của nhà nước không tránh khỏi những vi phạm, lệch lạc
vì nó phụ thuộc vào động cơ, trình độ nhận thức, ý thức trách nhiệm cuả cơ
quan quản lý, những người quản lý của công dân
Thanh tra việc chấp hành pháp luật của nhà nước là nhằm sử lý các trường hợp vi phạm, có tác dụng ngăn chặn các hành vi trái pháp luật, mang
ý nghĩa giáo dục đối với công dân, cán bộ công chức nhà nước trong việc thực thi pháp luật Vì vậy hoạt động thanh tra trước hêt phải quán triệt
nguyên tắc tuân thủ pháp luật, tôn trọng những chuẩn mực pháp lý khi xem
xét, phân tích, đánh giá, kết luận các vụ việc một cách chính xác; đồng thời
Trang 40ngăn chặn tình trạng tình trạng can thiệp trái pháp luật, làm vô hiệu hoá các hoạt động thanh tra
Việc tuân thủ pháp luật trong hoạt động thanh tra nhằm đảm bảo tính độc lập và tự chịu trách nhiệm của chủ thể thanh tra trong quá trình tiến hành thanh tra Các tổ chức thanh tra, đoàn thanh tra và các thanh tra viên phải thực hiện đúng chức năng, quyền hạn trách nhiệm của mình do pháp luật quy định Các cơ quan, đơn vị, cá nhân được thanh tra phải chấp hành đúng yêu cầu của cơ thanh tra theo pháp luạt Việc thu thập chứng cứ, kết luận vụ việc,
sử lý vi phạm phải căn cứu vào quy định của pháp luật
Để đảm bảo pháp luật thực sự là chuẩn mực trong quản lý nhà nước, làm cơ sở cho hoạt động thanh tra, cần thường xuyên nghiên cứu, sửa đổi, bổ
sung, hoàn thiện các văn bản pháp luật đã lạc hậu không còn phù hợp với tình hình kinh tế - xã hội đã thay đổi làm cho pháp luật nhà nước luôn là công cụ
có hiệu lực trong lãnh đạo, quản lý nhà nước
Nguyên tắc bảo đẩm chính xác, khách quan
Tính chính xác và tính khách quan trong thanh tra có một mối quan hệ
với nhau, tác động qua lại lẫn nhau Có khách quan, vô tư, không thiên vị mới đảm bảo tính chính xác trong đánh giá, kết lận vấn đề và ngược lại, có tính chính xác mới thể hiện được việc làm khách quan trong thanh tra
Bảo đảm chính xác, khách quan là vấn đề có tính nguyên tắc cao trong
hoạt động thanh tra Có chính xác trong công tác thnah tra thanh tra mới cho
phép đánh giá đúng thực trạng chấp hành pháp luật, chính sách, nhiệm vụ, kế hoạch nhà nước Nhà nước giao của đối tưuợng thanh tra, giúp cho việc sử lý
vi phạm đúng người, đúng việc, đúng pháp luật, để từ đó có những biện pháp đúng dắn cải thiện tình hình hoạt động kinh tế - xã hội ở khách thể thanh tra, dem lại hiệu quả thanh tra cao Nguyên tắc khách quan này đồi hỏi trong hoạt động thanh tra phải tôn trọng sự thật, đánh giá sự vật , hiện tượng đúng như nó vốn có, không suy diễn tuỳ tiện chủ quan, không gán nó cho những chi tiết, những hậu quả mà bản thân nó không có Muốn vậy, người cán bộ thanh tra phải tiếp cận với sự việc, phải trực tiếp khách quan, tìm hiểu sự việc
cần thanh tra Tính khách quan trong tra đòi hỏi một thía độ vô tư, một cách