Nhận thấy trong cây có chứa nhiều alcaloit và những ứng dụng của nó trong thực tế như vậy nên việc nghiên cứu để xây dựng một quy trình chiết tách hỗn hợp alcaloit từ vỏ cây Mức hoa trắn
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA HÓA - -
Nghiên cứu chiết tách, xác định alcaloit
trong vỏ cây Mức hoa trắng (Holarrhena
Trang 2MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Hiện nay ngành công nghiệp dược đã sản xuất ra khoảng 10.000 biệt dược
từ khoảng 3000 hoạt chất khác nhau nhưng lại đang tồn tại tối thiểu 30.000 loại bệnh Điều đó cho thấy rằng nhu cầu tìm ra hoạt chất mới dùng trong điều trị bệnh là điều cấp thiết hàng đầu Đặc biệt là các bệnh nan y vẫn chưa có thuốc đặc hiệu để điều trị như cảm lạnh, AIDS, ung thư, các bệnh về thần kinh trung ương,…
Ở Việt Nam các hoạt chất dùng để làm thuốc có thể tự sản xuất được chỉ khoảng 5%, đa phần là nhập khẩu từ nước ngoài về bào chế Các hoạt chất dùng
để làm thuốc thường đi bằng hai con đường chủ yếu là tổng hợp hoặc chiết tách
từ dược liệu Tổng hợp các hoạt chất từ hóa chất lại không đảm bảo an toàn khi
sử dụng vì chứa nhiều hóa chất độc hại có thể chứa trong hoạt chất mà mình cần tổng hợp Vì vậy các hoạt chất chiết tách từ dược liệu luôn được quan tâm vì tính
an toàn của nó
Nước ta vốn được biết là một trong những nước có nguồn thực vật phong phú và đa dạng nhất trên thế giới, đa phần trong số đó có thể được dùng để làm thuốc Để có thể chiết tách các hoạt chất trong các cây dược liệu vẫn còn là điều khó khăn, nan giải
Trong quá trình tìm hiểu, nghiên cứu tôi thấy cây Mức hoa trắng không chỉ có tác dụng lấy gỗ mà trong cây còn có chứa nhiều hoạt chất dùng để chữa bệnh đặc biệt là các alcaloit có chứa nhiều trong vỏ cây Trong các bộ phận của cây thì hạt có tác dụng bổ thận, lá và rễ có tác dụng cầm ỉa chảy, vỏ thân có vị chát, có tác dụng trừ lỵ, trừ giun, lợi tiêu hoá, hạ sốt và tăng trương lực Vỏ thân
và các bộ phận khác được dùng trị lỵ amip, vỏ cũng được dùng trị sốt, ỉa chảy, viêm gan Vỏ và lá dùng nấu nước tắm ghẻ, có thể dùng vỏ rễ giã giập ngâm
Trang 3rượu cùng với vỏ rễ cây Hoè dùng bôi Liều dùng: bột vỏ 10g, hạt 3-6g hoặc cao lỏng 1-3g Trong đó conessin chlorhydrat hay bromhydrat trị lỵ amip, có tác dụng như emetin nhưng không độc và tiện dụng hơn emetin Nó có tác dụng đối với kén và amip, còn emetin chỉ có tác dụng đối với amip Hiện tượng không chịu thuốc rất ít hoặc không đáng kể
Trên thế giới có các công trình nghiên cứu Holarrehena antidysenterica như: Đánh giá hoạt động chống oxy hóa hạt giống của Holarrehena
antidysenterica trong các mô hình in vitro của sở Y sinh học phòng thí nghiệm
khoa học và quản lý đại học Vidyasagar Ấn Độ thực hiện Nghiên cứu ảnh
hưởng của các alkaloid có trong loài Holarrhena antidysenterica tới việc điều trị
kháng khuẩn do cục Hóa sinh, Đại học Madras, Guindy Campus Ấn Độ thực
hiện Nghiên cứu steroidal alkaloids từ vỏ của loài Holarrhena do Phòng nghiên
cứu thí nghiệm khu vực (CSIR), Jammu Tawi Ấn Độ thực hiện
Trong nước có công trình nghiên cứu như: Đề tài nghiên cứu chiết tách và thử hoạt tính chống ung thư từ cây Mộc hoa trắng của viện sinh thái và tài nguyên sinh vật Thuốc Mộc hoa trắng, viên nén bao phim do Công ty CP Dược
& TBYT Hà Tĩnh sản xuất
Nhận thấy trong cây có chứa nhiều alcaloit và những ứng dụng của nó trong thực tế như vậy nên việc nghiên cứu để xây dựng một quy trình chiết tách hỗn hợp alcaloit từ vỏ cây Mức hoa trắng, từ đó xác định thành phần hóa học chính
của nó là một vấn đề cần thiết Vì lý do trên tôi thực hiện đề tài “Nghiên cứu
chiết tách, xác định alcaloit trong vỏ cây Mức hoa trắng (Holarrhena
antidysenterica) xã Đại Tân, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam”
2 Đối tƣợng nghiên cứu
Vỏ cây Mức hoa trắng ở xã Đại Tân, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam
3 Mục đích nghiên cứu
Trang 4- Xây dựng quy trình chiết tách alcaloit trong vỏ cây Mức hoa trắng
- Xác định thành phần hoá học, cấu trúc các alcaloit trong vỏ cây Mức hoa trắng
4 Phương pháp nghiên cứu
4.1 Nguyên cứu lí thuyết
- Thu thập, tổng hợp các tài liệu, tư liệu, sách báo trong và ngoài nước có liên quan đến đề tài
- Hội thảo, trao đổi kinh nghiệm với các thầy cô, các bạn cùng ngành
4.2 Phương pháp thực nghiệm
- Phương pháp lấy mẫu, thu hái và xử lý mẫu
- Phương pháp phân tích trọng lượng để xác định độ ẩm
- Phương pháp phân hủy mẫu phân tích để khảo sát hàm lượng tro
- Phương pháp quang phổ hấp thụ nguyên tử AAS để xác định hàm lượng các kim loại nặng trong vỏ cây Mức hoa trắng
- Phương pháp quang phổ hấp thụ phân tử UV-VIS: Khảo sát các điều kiện chiết tối ưu: tỉ lệ R-L, thời gian chiết
- Chiết bằng phương pháp chiết soxhlet
- Phương pháp sắc ký khí-phổ khối liên hợp (GC-MS) nhằm phân tách và xác định thành phần hóa học các hợp chất alcaloit trong dịch chiết
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
5.1 Ý nghĩa khoa học
- Cung cấp những thông tin khoa học về quy trình chiết tách, xác định thành
phần hóa học, công thức cấu tạo của alcaloit có trong vỏ cây
- Cung cấp những thông tin, tư liệu làm cơ sở cho việc nghiên cứu sau này
5.2 Ý nghĩa thực tiễn: Trau dồi kinh nghiệm về việc tách các hợp chất có hoạt tính sinh học và các phương pháp nghiên cứu
Trang 5CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1.1 Giới thiệu cây Mức hoa trắng
- Tên khoa học: Holarrhena antidysenterica
- Tên khác: Cây Sừng Trâu, Mức lá to, Thừng mực lá to, Mộc hoa trắng, Mộc vài (Thổ), Mức lông, Hồ liên lá to
Hình 1.1: Quả, lá và thân cây
Trang 6Lá đơn, nguyên, mọc đối, phiến lá hình xoan hoặc hình trứng đỉnh kéo dài thành mũi nhọn dài 0,5-1 cm, màu xanh đậm mặt trên hơn mặt dưới, có lông
trắng ở mặt dưới nhiều hơn mặt trên, kích thước dài 7-11 cm, rộng 5-6 cm
Gân lá hình lông chim, 9-13 cặp gân phụ cấp 1 hơi chếch không đối nhau chạy sát mép và nối nhau ở mép rất mờ, gân phụ cấp 2 hình lưới rõ
Cuống lá ngắn, hình trụ, dài 0,5-0,6 cm, màu xanh, nhiều lông Không có
Tràng hoa: 5 cánh hoa đều, màu trắng, dính phía dưới tạo thành ống phình
to ở gần đáy dài 0,4-0,5 cm, 5 phiến phía trên hình thuôn dài đầu tù, dài 1,5cm, rộng 0,3-0,4 cm, mặt trong của phiến có lông tiết dính, mặt ngoài có lông che chở, tiền khai vặn theo chiều kim đồng hồ; họng tràng có tràng phụ dạng bản mỏng chia 2-3 thùy, dài 0,8-1 cm, rộng 0,2-0,3 cm, màu hồng, có lông
1,3-Bộ nhị: 5 nhị đều, rời; chỉ nhị ngắn đính trên họng tràng; bao phấn màu vàng chụm vào nhau, chung đới kéo dài thành mũi nhọn và dính với đầu nhụy, dài 0,7-0,8 cm
Hạt phấn rời, hình cầu màu vàng, đường kính 52,5 µm Bộ nhụy: 2 lá noãn rời, bầu trên, màu xanh, hình trứng cao 0,1 - 0,15 cm, nhiều noãn đính bên 1 vòi nhụy hình trụ tròn, màu trắng, dài 0,6 - 0,7 cm
Trang 7* Đặc điểm bột dược liệu:
Bột vỏ thân Mức hoa trắng có màu vàng, thể chất tơi thô, không có mùi, vị rất đắng gồm các thành phần sau: Rất nhiều tế bào mô cứng vách dày, khoang hẹp, có ống trao đổi rõ, kích thước khác nhau, có màu vàng, nằm riêng lẻ hoặc
tập trung thành cụm
Mảnh bần tế bào đa giác, kích thước khác nhau, vách dày, màu vàng
Mảnh mô mềm gồm những tế bào đa giác, vách mỏng
Tinh thể calci oxalat hình khối dài khoảng 40 µm, rộng 30 µm Hạt tinh bột hình
cầu có tễ rõ
Ống nhựa mủ với khoang rộng vách mỏng hay những ống có vách dày,
khoang hẹp
* Phân bố, sinh học và sinh thái:
Có ở Ấn Độ, Miến Điện, Thái Lan, Malaysia Ở Việt Nam mọc ở khắp nơi, tại miền bắc có ở Bắc Giang, Bắc Ninh, Cao Bằng, Lạng Sơn, Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Hà Tây, Hòa Bình và nhiều tỉnh khác Mùa hoa: tháng 3-7, mùa quả:
Trang 8holarimin (C21H34N2O), conimin (C22H36N2), conarimin (C21H34N2), holaremin (C24H38ON2), cokurchin (C21H32N2), conessidin (C22H34N2)… Đặc biệt conessin
là alcaloit chính trong cây
13 14 9
8 10
12 11
7 5
6
CH31
- Những alcaloit có oxi thường ở thể rắn ở nhiệt độ thường
- Những alcaloit không có oxi thường ở thể lỏng nhưng cũng có những chất không có oxi ở thể rắn như Conessin
- Các alcaloit ở thể rắn thường kết tinh được và có điểm chảy rõ ràng Các alcaloit ở thể lỏng bay hơi được và thường không bền vững
8 10
12 11
7 5
N
R2
CH3H
N
R
R1
R3
Trang 9- Mùi vị: đa số không mùi, có vị đắng, một số it có vị cay
- Màu sắc: hầu hết là không màu, trừ một số có màu vàng
- Độ tan: không tan trong nước, dễ tan trong các dung môi hữu cơ: metanol, etanol, ether, cloroform, benzen Các alcaloit dạng muối dễ tan trong nước
1.3.2 Hóa tính
Có tính bazơ yếu có khả năng làm xanh giấy quỳ, có thể giải phóng
MgO, cacbonat kiềm, NaOH,
Tác dụng với các axit cho muối tương ứng
Kết hợp với kim loại mạnh tạo ra muối phức
* Phản ứng tạo kết tủa
+ Thuốc thử Dragendorff tạo kết tủa vàng da cam đến đỏ
+ Thuốc thử Mayer tạo kết tủa màu trắng hoặc vàng cam
+ Thuốc thử Wagner (Bouchardat) tạo kết tủa nâu
* Tạo màu với alcaloit
sự co bóp của tử cung và ruột, có tác dụng trừ giun đối với chuột bạch Chữa lỵ amip (conessin hydrat hay bromohydrat)
Vỏ cây được sử dụng giải nhiệt, lợi tiểu, đau bụng, khó tiêu
Trang 10Nó là một loại thuốc nổi tiếng với bệnh lỵ amoebic và rối loạn dạ dày khác Nó cũng được chỉ định trong tiêu chảy, khó tiêu, đầy hơi và đau bụng
* Công dụng
Thân và các bộ phận khác được dùng làm thuốc trị lỵ amip, dùng dưới dạng bột, cồn thuốc hoặc cao lỏng chữa lỵ amip Liều dùng 1 ngày: vỏ cây khô 3-10g, hoặc hạt 3-6g Còn dùng dưới dạng alcaloid toàn phần, hoặc conessin Dùng vỏ cây hoặc lá nấu nước tắm chữa ghẻ Vỏ rễ giã ngâm rượu cùng với rễ hòe bôi ghẻ
1.5 Các phương pháp kỹ thuật
1.5.1 Xác định độ ẩm trong vỏ cây Mức hoa trắng
* Cơ sở của phương pháp: Nguyên liệu ẩm có thể xem như hỗn hợp cơ học
Trong đó:
m: khối lượng chung của nguyên liệu
mo: khối lượng của chất khô tuyệt đối (không có ẩm)
w: khối lượng nước chứa trong nguyên liệu (nước tự do)
Độ ẩm tương đối (ω) của nguyên liệu ẩm: là tỷ số giữa khối lượng nước trên khối lượng chung (m) của nguyên liệu ẩm, tính bằng phần trăm:
100.wm
w100
.m
1.5.2 Xác định hàm lượng tro trong vỏ cây Mức hoa trắng
* Cơ sở của phương pháp :
Mẫu nguyên liệu khô có thành phần gồm vô cơ (tro) và hữu cơ
Hàm lượng tro là hiệu số khối lượng giữa mẫu sau khi xác định độ ẩm (mẫu nguyên liệu khô ) với mẫu sau khi tro hóa so với khối lượng nguyên liệu
Trang 11ẩm ban đầu Vì sau khi tro hoá ở nhiệt độ cao, các chất hữu cơ trong mẫu nguyên liệu đã bị phân huỷ và bay hơi hết, còn lại tro là phần vô cơ
(%) 3 , 0 100%
m
m m H
Trong đó: m0: Khối lượng chén sứ
m3: Khối lượng chén sứ và mẫu sau khi tro hoá (g)
m : Khối lượng nguyên liệu ban đầu (g)
1.5.3 Phương pháp hấp thụ nguyên tử AAS
1.5.3.1 Đặc điểm của phổ AAS
Nếu ta chiếu một chùm tia sáng có bước sóng xác định vào đám hơi nguyên tử thì các nguyên tử tự do sẽ hấp thụ các bức xạ có bước sóng ứng đúng với những tia bức xạ mà có thể phát ra được trong quá trình phát xạ Phổ sinh ra trong quá trình này gọi là phổ hấp thụ nguyên tử
Nghiên cứu sự phụ thuộc cường độ một số vạch phổ hấp thụ của một nguyên tố vào nồng độ C của nguyên tố đó trong mẫu phân tích, người ta nhận thấy trong vùng nồng độ C nhỏ, mối quan hệ giữa cường độ vạch phổ hấp thụ và
1.5.3.2 Nguyên tắc của phép đo AAS
Trên cơ sở của sự xuất hiện phổ hấp thụ nguyên tử, chúng ta thấy phổ hấp thụ nguyên tử chỉ sinh ra được khi nguyên tử tồn tại ở trạng thái khí tự do và trong mức năng lượng cơ bản Do vậy, muốn thực hiện được phép đo AAS cần phải thực hiện các công việc sau:
1 Hóa hơi mẫu phân tích, đưa vật mẫu về trạng thái khí
2 Nguyên tử hóa đám hơi đó, tức là phân ly các phân tử để tạo ra các đám hơi các nguyên tử tự do của các nguyên tố cần phân tích ở trong mẫu có khả
Trang 12năng hấp thụ bức xạ đơn sắc Hai công việc này được gọi là quá trình nguyên tử hóa mẫu Đây là giai đoạn quan trọng nhất và ảnh hưởng đến quyết định kết quả của phép đo AAS vì nó tạo ra môi trường hấp thụ nguyên tử của phép đo
3 Chọn nguồn phát tia sáng có bước sóng phù hợp với nguyên tố phân tích (bức xạ cộng hưởng) và chiếu vào đám hơi đó, như vậy phổ hấp thụ sẽ xuất hiện
4 Thu toàn bộ chùm sáng sau khi đi qua môi trường hấp thụ, phân ly chúng thành phổ và chọn 1 vạch phổ cần đo của nguyên tố phân tích để hướng vào khe đo, để đo cường độ của nó
5 Thu và ghi lại kết quả đo của cường độ vạch phổ hấp thụ bằng thiết bị
ghi và xử lý thích hợp
1.5.4 Phương pháp chiết
* Giới thiệu chung
Chiết là dùng dung môi thích hợp có khả năng hòa tan chất đang cần tách
và tinh chế để tách chất đó ra khỏi môi trường rắn hoặc lỏng khác
Trong đề tài này tôi sử dụng hai phương pháp chiết chính là:
Trang 13dung dịch chảy xuống bình cầu bên dưới, dung môi nguyên chất lại tiếp tục được cất lên, cứ lặp đi lặp lại như vậy đến khi chiết xong
1.5.5 Phương pháp quang phổ hấp thụ phân tử UV-VIS
* Giới thiệu phương pháp
Theo nguyên tắc chung, để xác định một chất bất kì, ta có thể tìm cách đo một tín hiệu bất kỳ có quan hệ trực tiếp hoặc gián tiếp với chất đó Phương pháp phân tích đo quang có nhiệm vụ nghiên cứu cách xác định các chất dựa trên việc
đo đạc những tín hiệu bức xạ điện từ và tác dụng tương hỗ của bức xạ này với chất nghiên cứu
Các phương pháp phân tích đo quang cổ điển chỉ mới dựa trên quan hệ của những ánh sáng khả kiến –VIS tức là vùng bức xạ nhạy cảm với mắt người
có bước sóng 400nm - 800nm) với chất nghiên cứu nên vẫn được gọi là phương pháp so màu
Ngày nay, phương pháp phân tích đo quang dùng để khảo sát cả một vùng bức xạ điện từ rộng lớn từ tử ngoại (có vùng bước sóng từ 10nm) đến hồng ngoại (10-2 cm), và có thể tới các vùng có bước sóng bé hơn nữa (như ở các phương pháp phổ tia X hoặc các vùng có bước sóng lớn hơn nữa (như ở các phương pháp cộng hưởng spin-electron-miền sóng viba-và cộng hưởng từ hạt nhân)
Phương pháp này cho phép nghiên cứu mối quan hệ giữa cấu trúc phân tử
và sự hấp thụ bức xạ do đó dẫn tới làm sáng tỏ mối quan hệ giữa cấu tạo và màu sắc của các chất
1.5.6 Phương pháp sắc ký ghép khối phổ GC-MS
1.5.6.1 Phương pháp sắc ký khí (GC)
* Nguyên tắc hoạt động: Nhờ có khí mang trong bom chứa trong bom khí
(hoặc máy phát khí), mẫu từ buồng bay hơi được dẫn vào cột tách nằm trong
Trang 14buồng điều nhiệt Quá trình sắc ký xảy ra tại đây Sau khi rời khỏi cột tách tại các thời điểm khác nhau, các cấu tử lần lượt đi vào detectơ, tại đó chúng được chuyển thành tín hiệu điện Tín hiệu này được khuếch đại rồi chuyển sang bộ ghi, tích phân kế hoặc máy vi tính Các tín hiệu được xử lý ở đó rồi chuyển sang
bộ phận in và lưu kết quả (bộ hiện số, máy in hoặc máy ghi) Trên sắc đồ nhận được, sẽ có tín hiệu ứng với các cấu tử được tách gọi là pic.Thời gian lưu của pic
là đại lượng đặc trưng cho chất cần phân tích Diện tích pic là thước đo định lượng cho từng chất trong hỗn hợp cần nghiên cứu
Sắc đồ là tập hợp tất cả các pic, mỗi pic đại diện cho mỗi chất Dựa vào thời gian lưu ta có thể xác định được tên chất và đo diện tích mỗi pic ta xác định được thành phần mỗi chất trong hỗn hợp
1.5.6.2 Phương pháp khối phổ (MS)
* Nguyên tắc của phương pháp khối phổ: Dựa vào chất nghiên cứu được
ion hóa trong pha khí hoặc pha ngưng tụ dưới chân không bằng những phương pháp thích hợp thành những ion (ion phân tử,ion mảnh) có số khối khác nhau, sau đó những ion này được phân tách thành những dãy ion theo cùng số khối m (chính xác là theo cùng tỷ số khối trên điện tích ion, m/e) và xác suất có mặt của mỗi dãy ion có cùng tỉ số m/e được ghi lại trên đồ thị có trục tung là xác suất có mặt (hay cường độ), trục hoành là tỉ số m/e gọi là khối phổ đồ
Phổ khối lượng được ghi lại dưới dạng phổ vạch hay bảng, trong đó cường
độ vạch được đo bằng phần trăm so với đỉnh có cường độ cao nhất Đỉnh ion phân tử thường là đỉnh cao nhất, tương đương với khối lượng phân tử của hợp chất khảo sát
Phổ khối lượng không những cho phép xác định chính xác phân tử lượng,
mà căn cứ vào các mảnh phân tử tạo thành, ta cũng suy ra được cấu trúc phân tử
Trang 15.Xác suất tạo thành mảnh phụ thuộc vào cường độ liên kết trong phân tử cũng như vào khả năng bền hóa các mảnh tạo thành nhờ các hiệu ứng khác nhau Các mảnh có độ bền lớn sẽ ưu tiên tạo thành, các liên kết yếu nhất dễ bị đứt nhất Có những mảnh có khối lượng đặc trưng gọi là mảnh chìa khóa, chúng cho phép phân tích các phổ khối lượng dễ dàng
1.5.7 Phương pháp sắc ký khí ghép khối phổ GC-MS
Phương pháp GC-MS dựa trên cơ sở “nối ghép” máy sắc ký khí (GC) với máy phổ khối lượng (MS)
Việc liên kết hai kĩ thuật đó đã tạo ra một công cụ mạnh mẽ để tách biệt
và nhận biết các hợp chất Nhờ có sự liên kết chặt chẽ này người ta có thể thu được phổ khối lượng đủ chấp nhận đối với tất cả các hợp phần mà sắc ký khí tách ra được, kể cả những hợp phần với khối lượng chỉ cỡ vài picogam và có mặt trong vài giây
Trang 16CHƯƠNG 2 NGUYÊN LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Nguyên liệu
- Vỏ cây Mức hoa trắng (Holarrhena pubescens) được lấy vào tháng 9 năm 2011
ở huyện Đại Lộc tỉnh Quảng Nam
- Vỏ cây tươi cạo lớp vỏ bên ngoài, sau đó phơi khô ngoài nắng và nghiền thành bột mịn rồi cho vào lọ thủy tinh sạch để bảo quản nơi khô ráo thoáng mát
2.2 Hóa chất và thiết bị thí nghiệm
2.2.1 Hóa chất
- Acid hydroclorid 5%, sữa vôi, cát mịn, cồn, hecxan, dung dịch NaOH
- Dung môi dùng cho sắc ký khí ghép khối phổ (Merck) đạt tiêu chuẩn
2.2.2 Thiết bị thí nghiệm
- Phễu lọc Buchner, cân phân tích, tủ sấy, tủ nung, máy cô quay chân không, bộ chiết soxhlet, bếp điện, cốc thủy tinh, bình tam giác, ống nghiệm, cốc sứ, bình hút ẩm,…
- Máy quang phổ hấp thụ nguyên tử AAS
- Máy đo sắc ký khí ghép khối phổ GS-MS
- Máy đo quang phổ hấp thụ phân tử UV-VIS
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Phân tích trọng lượng
Áp dụng phương pháp phân tích trọng lượng để phân tích các yếu tố sau:
- Khảo sát độ ẩm
- Khảo sát hàm lượng tro
2.3.2 Phương pháp quang phổ hấp thụ nguyên tử AAS
Trang 17- Xác định hàm lượng kim loại nặng trong vỏ cây Mức hoa trắng
2.3.3 Phương pháp chiết chất rắn
- Chiết nóng bột vỏ cây Mức hoa trắng khô trong dung môi HCl 5%
2.3.4 Phương pháp vật lý
- Đo phổ UV-VIS khảo sát tỉ lệ rắn lỏng, khảo sát thời gian chiết
- Đo phổ GC-MS để định danh alcaloit trong vỏ cây Mức hoa trắng
* QUY TRÌNH NGHIÊN CỨU
C
Trang 18CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 3.1 Nguyên liệu
Vỏ cây sau khi đã phơi khô ta đem nghiền mịn thành bột rồi cho vào bình thủy tinh sạch bảo quản (hình 3.1)
3.2 Xác định một số chỉ số vật lý
3.2.1 Xác định độ ẩm trong bột vỏ cây Mức hoa trắng
suy ra khối lượng nước tự do trong nguyên liệu
* Cách tiến hành:
C và đánh số từ 1 đến 5 Đặt vào bình hút ẩm, làm nguội đến nhiệt độ phòng
C, sau 1 giờ lấy ra cân, cứ như
cho vào bình hút ẩm để làm nguội Độ ẩm của mỗi mẫu là hiệu số của tổng khối lượng chén và mẫu trước khi sấy so với tổng khối lượng chén và mẫu sau khi sấy
Hình 3.1: Vỏ cây khi phơi khô và sau khi xay mịn
Trang 19Hàm lượng % ẩm được tính theo công thức:
m : Khối lượng nguyên liệu (g)
W (%): độ ẩm của mỗi mẫu
Từ bảng 3.1 thu được độ ẩm bột vỏ cây Mức hoa trắng là 12,868%
3.2.2 Xác định hàm lƣợng tro trong vỏ cây Mức hoa trắng
Trang 20* Cơ sở của phương pháp : Mẫu nguyên liệu khô có thành phần gồm vô cơ
(tro) và hữu cơ
Hàm lượng tro là khối lượng giữa mẫu sau khi tro hóa so với khối lượng nguyên liệu ban đầu Vì sau khi tro hóa ở nhiệt độ cao, các chất hữu cơ trong mẫu nguyên liệu đã bị phân hủy và bay hơi hết, còn lại tro là phần vô cơ
(%) 3 0 100%
m
m m H
m3: Khối lượng chén sứ và mẫu sau khi tro hoá (g)
m: Khối lượng nguyên liệu ban đầu (g)
Từ 5 mẫu vỏ cây Mức hoa trắng vừa được xác định độ ẩm ở thí nghiệm
C –
ra, làm nguội mẫu trong bình hút ẩm và cân lại mẫu để xác định hàm lượng tro
Kết quả xác định hàm lượng tro trong vỏ cây Mức hoa trắng được thể hiện
Trang 21Trong đó: m0: Khối lượng chén sứ
m3: Khối lượng chén sứ và mẫu sau khi tro hoá (g)
m : Khối lượng nguyên liệu ban đầu (g)
Như vậy hàm lượng tro trung bình trong vỏ cây Mức hoa trắng là: 7,164% 3.2.3 Hàm lƣợng kim loại nặng
Mẫu vỏ cây Mức hoa trắng sau khi tro hóa được hòa tan bằng dung dịch
định hàm lượng một số kim loại nặng tại Trung Tâm Khí Tượng Thủy Văn Quốc Gia Đài Khí Tượng Thủy Văn Khu Vực Trung Trung Bộ
Kết quả xác định hàm lượng kim loại nặng trong vỏ cây Mức hoa trắng được thể hiện ở hình 3.2 và bảng 3.3
Hình 3.2: Kết quả đo hàm lƣợng kim loại nặng