1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khảo sát ngôn ngữ ñộc thoại nội tâm trong 27 truyện ngắn của bốn cây bút nữ: Trần Thuỳ Mai, Nguyễn Thị Thu Huệ, Phan Thị Vàng Anh, Võ Thị Hảo

111 461 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 111
Dung lượng 1,06 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tìm hiểu các cách thức thể hiện ngôn ngữ ñộc thoại nội tâm và hiệu quả của chúng trong các văn bản nghệ thuật là một trong những phương hướng nghiên cứu không chỉ ñể làm rõ phong cách tá

Trang 1

Truyện ngắn Việt Nam từ 1975 ñến nay phát triển mạnh mẽ cả về số

lượng và chất lượng với hàng loạt những cuộc thi sáng tác, những tác phẩm ñạt

giải cao, những cây bút nổi bật như Nguyễn Kiên, Nguyễn Minh Châu…

Đặc biệt từ năm 1985 trở lại ñây, nhờ vào công cuộc ñổi mới và không

khí dân chủ cởi mở, truyện ngắn Việt Nam có ñược bước ñột khởi Mật ñộ các

cuộc thi truyện ngắn 1985 - 2000 tăng rất nhiều, kéo theo ñó là một loạt tên tuổi

mới làm truyện ngắn Việt Nam trở nên ña dạng hơn bao giờ hết:

Nguyễn Huy Thiệp, Trần Thuỳ Mai, Phạm Thị Hoài, Nguyễn Thị Thu

Huệ, Phan Thị Vàng Anh, Võ Thị Hảo… cùng với các tác giả trẻ, truyện ñã mở

rộng biên ñộ, nội dung phản ánh, cách viết và hình thức truyện Trong số ñó

không thể không kể ñến sự ñổi mới cách viết và một yếu tố làm truyện ngắn

thành công về nghệ thuật ñó là việc tìm tòi, ñổi mới và sử dụng khéo léo nghệ

thuật ñộc thoại nội tâm của các nhà văn

Tìm hiểu các cách thức thể hiện ngôn ngữ ñộc thoại nội tâm và hiệu quả

của chúng trong các văn bản nghệ thuật là một trong những phương hướng

nghiên cứu không chỉ ñể làm rõ phong cách tác giả, làm rõ hơn phong cách nhân

vật mà còn giúp người ñọc tiếp cận sâu sắc, mới mẻ, thâm nhập lí thú vào tác

phẩm văn học nghệ thuật và khơi dậy ñược những cảm xúc tinh tế của bản thân,

từ ñó người ñọc dễ hoà ñồng với tác phẩm, tác giả hơn, nắm bắt ñược tư tưởng

chủ ñề tác giả thể hiện trong tác phẩm Vì vậy việc tìm tòi, khảo sát cách thể

hiện ngôn ngữ ñộc thoại nội tâm là rất cần thiết

Độc thoại nội tâm là một thủ pháp nổi trội trong văn bản nghệ thuật của

nhiều nhà văn Tuy nhiên, thủ pháp này có những ñặc thù riêng về kết cấu và

cách thức thể hiện nội dung ở mỗi nhà văn Trong số các nhà văn hiện ñại, ñặc

biệt từ năm 1985 trở lại ñây Trần Thuỳ Mai, Nguyễn Thị Thu Hụê, Phan Thị

Trang 2

Vàng Anh và Võ Thị Hảo là những cây bút ñược nhận xét là có khả năng làm

"nóng bầu không khí văn chương" nước nhà Nhiều ñộc giả biết ñến họ bởi

phong cách riêng, ñộc ñáo và cuốn hút mà họ ñã tạo dựng ñược ở tác phẩm của

mình Đặc biệt bốn cây bút trên ñều sử dụng khá nhiều ñộc thoại nội tâm ñể khai

thác các khía cạnh tâm lí nhân vật, phát triển câu chuyện theo tâm lí nhân vật…

Song ở mỗi nhà văn lại có cách thể hiện ñộc thoại nội tâm riêng Những nhân

vật ở mọi tầng lớp, lứa tuổi với cách sống, cách nghĩ, cách yêu khác nhau ñược

bốn nhà văn thể hiện hết sức phong phú, sinh ñộng dưới thủ pháp ñộc thoại nội

tâm

Nghiên cứu ñộc thoại nội tâm trong văn bản nghệ thuật của bốn cây bút

nữ hiện ñại (Trần Thuỳ Mai, Nguyễn Thị Thu Huệ, Phan Thị Vàng Anh, Võ Thị

Hảo), nhằm giúp ñộc giả một cách tiếp cận ñể cảm nhận ñúng hơn, sâu hơn về

các tác phẩm văn học ñương ñại trước những biến ñổi ña dạng của các tác phẩm

văn xuôi hiện ñại Vì vậy, chúng tôi mạnh dạn chọn cho mình ñề tài khoá luận

này

Chúng tôi hi vọng việc khảo sát ñộc thoại nội tâm theo cách nhìn ngôn

ngữ học sẽ ñóng góp một phần công sức nhỏ bé vào việc nghiên cứu giá trị ñóng

góp về mặt phát triển ngôn ngữ văn xuôi Việt Nam của các nhà văn thuộc thế hệ

trẻ

1.2 C ơ sở lí luận:

Xã hội hiện ñại ngày càng phát triển nhanh chóng, cùng với nó là sự phát

triển của các ý niệm (khoa học và mỹ thuật) về ñời sống tâm lý con người, về

mức ñộ tự phân tích tâm lí hoàn toàn có thể ñạt tới ñược Do ñó, giới hạn và

hình thức ñộc thoại nội tâm cũng dần dần biến ñổi, ña dạng xác ñịnh hơn Chính

vì vậy mà hiện nay ñộc thoại nội tâm ñang là một vấn ñề ñược các nhà lí luận

văn học quan tâm

Độc thoại nội tâm là một dạng hoạt ñộng nói năng của nhân vật văn học

Lí luận và thao tác phân tích ñộc thoại nội tâm chưa nhiều.Thực hiện ñề tài trên

Trang 3

Những lý thuyết và phương pháp phân tích ñộc thoại nội tâm thật sự rất

cần thiết không chỉ với các nhà văn, các nhà lí luận văn học, lí luận ngôn ngữ

với bạn ñọc nói chung mà còn rất bổ ích ñối với học sinh phổ thông và giáo viên

giảng dạy truyện ngắn trong nhà trường Xuất phát từ yêu cầu lí luận và thực

tiễn thực tiễn giảng dạy văn học ở phổ thông ñặt ra trên ñây Chúng tôi chọn ñề

tài này làm khoá luận tốt nghiệp

2 Mục ñích của ñề tài

- Giới thiệu các kiến giải về ñộc thoại nội tâm trong mối tương quan ñến

khắc hoạ nhân vật văn học

- Khảo sát các ñặc ñiểm tổ chức ngôn ngữ ñộc thoại nội tâm trong 27 tác

phẩm tiêu biểu của bốn cây bút nữ: Trần Thuỳ Mai, Nguyễn Thị Thu Huệ, Phan

Thị Vàng Anh, Võ Thị Hảo, từ ñó nêu giá trị biểu hiện ý nghĩa của ñộc thoại nội

tâm trong tác phẩm văn học và chỉ ra sự phát triển mới mẻ ñộc ñáo của một

phương diện ngôn ngữ văn học Việt Nam hiện ñại

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của khoá luận là các ñoạn, câu ñộc

thoại nội tâm của các nhân vật trong 27 truyện ngắn tiêu biểu của 4 cây bút nữ:

Trần Thuỳ Mai, Nguyễn Thị Thu Huệ, Phan Thị Vàng Anh, Võ Thị Hảo

Cụ thể là:

+ 19 truyện ngắn in trong tập Truyện ngắn bốn cây bút nữ, NXB Văn học,

2002

+ 2 truyện ngắn in trong tập Gió thiên ñường, NXB Văn học, 2004

+ 6 truyện ngắn in trong tập Biển ñời người,NXB Công an nhân dân, 2003

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

Trang 4

- Tìm hiểu các công trình nghiên cứu, các sách báo viết về ñộc thoại nội

tâm, từ ñó giới thiệu những lý thuyết cơ bản về ñộc thoại nghệ thuật và khái

niệm liên quan

- Khảo sát thống kê các ñoạn ñộc thoại nội tâm của các nhân vật trong 27

tác phẩm của bốn cây bút nữ Trần Thuỳ Mai, Nguyễn Thị Thu Huệ, Phan Thị

Vàng Anh, Võ Thị Hảo

- Phân loại các nội dung ñộc thoại trong các cảnh huống khác nhau mà

nhân vật thể hiện

- Khảo sát, phân tích ñặc trưng riêng ngôn ngữ ñộc thoại nội tâm.Từ ñó

nêu lên giá trị biểu hiện của ngôn ngữ ñộc thoại nội tâm trong 27 tác phẩm văn

học của bốn cây bút nữ

5 Phương pháp nghiên cứu

- Khoá luận sẽ sử dụng phương pháp thống kê, phân loại, mô tả, so sánh,

và phân tích ngôn ngữ ở hai mặt, cấu trúc hình thức của các ñoạn ñộc thoại và

nội dung thể hiện các ñoạn ñộc thoại nội tâm

- Phân tích tính cách nhân vật ñộc thoại nội tâm, cũng thông qua ñó tìm

hiểu phong cách riêng của bốn nhà văn nữ (Trần Thuỳ Mai, Nguyễn Thị Thu

Huệ, Võ Thị Hảo)

- Kết hợp phương pháp của ngôn ngữ học với phương pháp phân tích,

bình giảng, nghiên cứu văn học trong quá trình khảo sát ngôn ngữ ñộc thoại nội

tâm

6 Ý nghĩa và ñóng góp của khoá luận:

- Đóng góp một cách nhìn cụ thể chi tiết, tương ñối ñầy ñủ về ñộc thoại

nội tâm, thông qua ñó giúp người ñọc dễ ñi vào khám phá tâm hồn nhân vật,

thâm nhập cảm thụ sâu sắc tác phẩm văn học, hiểu tác phẩm, chân thực sinh

ñộng hơn

- Thông qua việc khảo sát ngôn ngữ ñộc thoại nội tâm làm rõ phong cách

viết truyện ngắn của bốn cây bút nữ nổi trội hiên nay(Trần Thuỳ Mai, Nguyễn

Trang 5

Thị Thu Huệ, Phan Thị Vàng Anh) Từ ñó giúp ñộc giả thấy ñược giá trị của

ngôn ngữ ñộc thoại nội tâm trong tác phẩm văn học, thấy ñược sự phát triển mới

mẻ của ngôn ngữ văn học Việt Nam hiện ñại Và từ ñó có hướng tiếp cận mới,

tích cực với các tác phẩm văn xuôi hiện nay

- Góp thêm kĩ thuật phân tích nhân vật và cảm thụ tác phẩm văn xuôi ở

phổ thông trung học tốt hơn, sâu sắc hơn.Trong khoá luận này người viết muốn

thử nghiệm một cách phân tích văn bản nghệ thuật với tư cách nghệ thuật từ

7 Bố cục khoá luận

Ngoài phần mở ñầu, kết luận, khoá luận có ba chương:

Chương 1: Cơ sở lý thuyết liên quan ñến ñề tài

Chương 2: Khảo sát ngôn ngữ ñộc thoại nội tâm trong 27 truyện ngắn của

bốn cây bút nữ: Trần Thuỳ Mai, Nguyễn Thị Thu Huệ, Phan Thị Vàng Anh, Võ

Thị Hảo

Chương 3: Giá trị biểu hiện của các ñoạn ñộc thoại nội tâm trong việc thể

hiện nội dung trong các truyện ngắn của Trần Thuỳ Mai, Nguyễn Thị Thu Huệ,

Phan Thị Vàng Anh, Võ Thị Hảo

Trang 6

CƠ SỞ LÝ THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

1.1 Về ñộc thoại nội tâm và các khái niệm có liên quan

1.1.1 Ngôn ng ữ nhân vật

Ngôn ngữ nhân vật là lời trực tiếp do nhân vật nói lên trong tác phẩm

(trong thế ñối sánh ở mức tương ñối với lời gián tiếp- lời trần thuật, miêu tả, lời

tác giả)

Ngôn ngữ nhân vật trong tác phẩm văn xuôi có nhiều chức năng:

- Chức năng phản ánh hiện thực ở ngoài nhân vật

- Chức năng tự bộc lộ của nhân vật cho thấy sự tồn tại của nó

- Chức năng như một hành ñộng, một sự kiện ñối với nhân vật khác

- Chức năng của thực tại lời nói bên ngoài ý thức tác giả, ñối tượng suy tư của

tác giả

- Chức năng biểu hiện nội tâm, thế giới bên trong của nhân vật …v.v.[11;331]

Trong tác phẩm văn xuôi, ngôn ngữ nhân vật tồn tại ở hai dạng thức: Lời nội

tâm (là ñối tượng khảo sát của khoá luận) và lời thoại (lời ñối thoại)

Trang 7

Độc thoại chiết tự có nghĩa là "Nói một mình"; trong ngôn ngữ học, ñộc

thoại còn ñược gọi là ñơn thoại Đó là hình thức giao tiếp trong ñó chỉ có một

bên nói còn một bên tiếp nhận Không có phản ứng của một người thứ hai và

không bị tác ñộng và chi phối bởi các nhân tố ngôn cảnh của một cuộc

thoại.Thoại trường ở ñây không có các vai cùng tham gia với tư cách các tham

thoại

Theo Đỗ Hữu Châu ñộc thoại là một quá trình giao tiếp ở ñó "người nhận

bị trừu tượng hoá, xem như không có mặt nhưng không có ảnh hưởng gì tới việc

nói và viết cả" và "nó xuất phát từ nguyên lý câu chỉ có một chiều: Người nói

(viết)- câu" [1; 227]

Theo Lại Nguyên Ân: Độc thoại là phát ngôn dài dòng, rườm rà, không

dự tính

Nhà lí luận văn học Nga G.N Pôpêlốp cũng viết:

"Lời ñộc thoại là lời không nhằm hướng tới người khác và tác ñộng qua

lại giữa người và người" [3; 224]

Như vậy có thể nói ñặc thù của ñộc thoại là hình thức giao tiếp một chiều:

Chủ ñề, bố cục, diễn biến theo mạch nội dung hoàn toàn có thể tuân theo một

lôgic ñịnh trước của người nói (viết).Độc thoại có cũng có nhiều kiểu loại, hình

thức khác nhau Chúng ta thường gặp 1 loại ñộc thoại ñặc biệt rất phổ biến trong

văn bản nghệ thuật (các tác phẩm văn học) ñó là ñộc thoại nội tâm lời ñộc thoại

nội tâm là lời xuất phát từ tâm sự của chính nhân vật tự sự và rất tự nhiên, không

gò bó

Vì thế mà ngôn ngữ ñộc thoại nội tâm có hình thức khá ña dạng, phong

phú.Vậy ñộc thoại nội tâm thường dùng trong hoàn cảnh nào? Với mục ñích gì?

có những kiểu dạng và cấu trúc như thế nào? ñó cũng là những nội dung chính

mà khoá muốn làm rõ trước khi tiến hành khảo sát ngôn ngữ ñộc thoại nội tâm

1.1.3 Độc thoại nội tâm

Trang 8

- Độc thoại nội tâm (tiếng Pháp: Monlogue int'erieur; tiếng Anh: Interion

monologue; tiếng Nga (ñã chuyển ngữ sang la tinh): Vnoutrenni monolog)

Lịch sử khái niệm này bắt ñầu từ kịch cổ ñại, ñộc thoại nội tâm ñã xuất

hiện như một hiện tượng ñặc biệt trong kịch Sếcxpia Trong văn tự sự cận ñại,

ñộc thoại nội tâm vẫn còn mang tính chất sân khấu, giống như một sự tự bộc lộ,

“ chân thành”, “khách quan” Nhưng sang ñến sáng tác của L.Tônxtôi thì ñộc

thoại nội tâm ñược truyền ñạt gần như không có sự can thiệp của tác giả, phản

ánh ñược cả ý thức lẫn vô thức của nhân vật Đến thế kỷ XX, ñộc thoại nội tâm

có xu hướng xuất hiện dưới dạng dòng ý thức (ñây là một biểu hiện cực ñoan

của ñộc thoại nội tâm)

Độc thoại nội tâm là một loại ñộc thoại tồn tại chủ yếu trong văn bản nghệ

thuật (tiểu thuyết, truyện ngắn….) là phương thức ñể truyền ñạt tư tưởng, tình

cảm nên các nhà văn thường sử dụng ñộc thoại nội tâm như một thủ pháp nghệ

thuật, nhằm thể hiện chân thực, sống ñộng, nhân cách con người, với những suy

nghĩ, tâm tư, tình cảm thường thấy trong xã hội loài người Khi sử dụng ñộc

thoại nội tâm tức là nhà văn muốn sử dụng một ngôn ngữ riêng, bỏ qua người

ñối thoại trực tiếp ñể ñào sâu tính cách, tâm hồn của nhân vật Có thể coi ñó là

hành vi “mượn lời”(mượn lời nhân vật) ñể thể hiện ý ñồ của tác giả; ñiều này

làm hoạt ñộng ý thức của nhân vật sinh ñộng hơn, nhân vật ñược khai thác sâu

hơn, chân thực và sống ñộng hơn

Lời nội tâm là một dạng ñặc biệt của lời trực tiếp Thực chất nó không

phải là lời giao tiếp, mặc dầu nhân vật có thể hướng ñến ai ñó hoặc là lời ñược

cấu tạo theo cách của lời tự nhiên Lời nội tâm (ñộc thoại nội tâm) thường ñược

chỉ ra bằng các từ “tự nhủ”, “thầm nghĩ”… và không phải bao giờ cũng rành rọt

mà thường rối ren, lộn xộn, chắp nối Đó chính là hình thức tái hiện tính tự phát

của dòng ý thức và cảm xúc.Tác giả Trôvenxki trong cuốn “Lý luận văn học”

ñịnh nghĩa “Độc thoại nội tâm là hình thức ngôn ngữ của tư duy và ấn tượng

nhân vật Trong cấu trúc của nó có thể xuất hiện hai khuynh hướng: Muốn dẫn

dắt trật tự suy nghĩ và ấn tượng nhân vật, và phản ánh chúng trong những hình

Trang 9

thức giao tiếp Mặt khác lại muốn tái hiện dòng ý thức về trật tự rối rắm trong

hình thức nội tại của nó” (dẫn theo 9; 8)Độc thoại nội tâm thường là những suy

nghĩ, toan tính, tâm tư về cách sống, về gia ñình, bạn bè, và bản thân của nhân

vật mà chỉ một mình nhân vật biết , không ñược thể hiện bằng âm thanh

Nhưng khi thể hiện dưới dạng viết nó mang ñậm tính khẩu ngữ tự nhiên (Có sự

sắp xếp ñể ñạt mục ñích riêng của nhà văn).Vì thế các phát ngôn trong các ñoạn

ñộc thoại nội tâm là rất phong phú Có thể là ñoản ngữ, câu ñơn, câu

phức…Phản ánh tâm lí, phương ngữ, phong tục, văn hoá từng vùng…

Thông thường trong văn bản nghệ thuật, các ñoạn ñộc thoại nội tâm ñược

phát hiện thông qua các hình thức khác nhau của các phát ngôn ñứng trước nó

như:

Dạng phát ngôn kể, phát ngôn lập luận: (X) “tự hỏi rằng”, “nghĩ rằng” ,

“cho rằng như thế là…”, “có sao không nhỉ?”…v v

Dạng cảm thán : “chao ơi! mình mà, “ khốn thay” “ mình lại”…

Hoặc dưới dạng hồi ức : “Hồi ñó”, “nhớ lại hồi xưa”…v v

Tuy nhiên không phải lúc nào cũng dễ dàng xác ñịnh ñược các ñoạn ñộc

thoại nội tâm Ngày nay khi các ý niệm (trong khoa học và mỹ học ) về ñời

sống tâm lí con người phát triển mạnh mẽ thì cách thức sử dụng ñộc thoại nội

tâm (một thủ pháp các nhà văn thường dùng ñể miêu tả diễn biến tâm lí của

nhân vật) cũng có nhiều biến ñổi, nhiều hình thức phong phú và khó xác ñịnh

hơn Cụ thể là: ranh giới giữa ñộc thoại nội tâm với “dòng ý thức”, “bình luận

ngoại ñề”, “ngôn từ nửa trực tiếp” và ngay cả “ñối thoại” ngày càng có xu

hướng ñan xen vào nhau, khiến người ñọc và ngay cả nhà nghiên cứu cũng khó

phân biệt rạch ròi.Ở các phần sau của chương1, chúng tôi có ñề cập rõ hơn vấn

ñề này

Để có ñược hiểu biết ñúng ñắn về thủ pháp nghệ thuật ñộc thoại nội tâm

cùng với giá trị biểu ñạt của nó, dưới ñây chúng tôi tiếp tục tìm hiểu một số

thuật ngữ có liên quan

Trang 10

1.1.4 Ngôn t ừ nửa trực tiếp

Đây là biện pháp diễn ñạt lời văn có hình thức là lời tác giả nhưng về mặt

nội dung và phong cách lại thuộc ngôn ngữ nhân vật (dẫn theo 2;160) Đây cũng

là phương thức tu từ sử dụng phổ biến trong văn xuôi nhằm gây ấn tượng về sự

“hiện diện” của ý thức nhân vật cho người ñọc và cho phép người ñọc xâm nhập

vào ý nghĩ thầm kín của nhân vật Khi ngôn từ, giọng nói của người kể chuyện

lẫn với giọng ñiệu nhân vật ngay tại vỏ ngôn từ thì ngôn từ nửa trực tiếp trùng

với ñộc thoại nội tâm

1.1.5 Bình lu ận ngoại ñề:

Đây là một trong những yếu tố ngoài cốt truyện: một bộ phận của ngôn

ngữ người kể chuyện trong các tác phẩm thuộc loại hình tự sự Trong ñó tác giả

hoặc người kể chuyện trực tiếp bộc lộ những tư tưởng, tình cảm, quan niệm của

mình ñối với cuộc sống và nhân vật ñược trình bày qua cốt truyện [2; 319]

Trữ tình ngoại ñề có thể là những ñoạn văn nằm xen vào giữa những quá

trình diễn biến của các sự kiện và nhân vật trong cốt truyện, từ khi cốt truyện

ñược bắt ñầu triển khai cho ñến khi kết thúc Chính việc nằm xen kẽ này khiến

cho lời bình luận nhiều khi rất khó xác ñịnh Nhất là khi giọng ñiệu bình luận

của tác giả lại tồn tại rõ nét ñằng sau những suy nghĩ và dưới lớp vỏ ngôn từ của

nhân vật

1.1.6 Dòng ý th ức

Đây là một xu hướng sáng tạo văn học (chủ yếu là văn xuôi nghệ thuật) ở

thế kỷ XX, tái hiện trực tiếp ñời sống nội tâm, những xúc cảm, những liên tưởng

ở con người Thuật ngữ “dòng ý thức” do nhà tâm lý học Mỹ W.Jammes ñề ra

Ông cho rằng ý thức là một dòng chảy, một con sông ở ñó những tư tưởng, cảm

xúc, liên tưởng bất chợt luôn luôn lấn át nhau và ñan bện vào nhau một cách kỳ

quặc, “phi logic”(…) “Dòng ý thức” là mức tới hạn, là dạng cực ñoan của ñộc

thoại nội tâm…(dẫn theo 4; 122)

Trang 11

Một tác phẩm ñược xây dựng theo kiểu dòng ý thức khi mà “nhà văn cố ý

vứt bỏ tính nhất quán và hoàn chỉnh của cốt truyện” không chú ý bối cảnh, ngoại

cảnh câu văn (…) ñồng thời nhà văn sáng tạo nhiều phương pháp nghệ thuật

mới: ñảo ngược thời gian, ñồng hiện hoà trộn thực hư, hiện tại, quá khứ, tương

lai

1.1.7 Đối thoại

“Lời ñối thoại là lời trong giao tiếp song phương mà lời này xuất hiện như

một phản ứng ñáp lại lời nói trước Lời nói ñối thoại bộc lộ thuận lợi nhất khi

hai bên ñối thoại có sự tiếp xúc phi quan phương và không công khai, không bị

câu thúc, trong không khí bình ñẳng về mặt ñạo ñức của người ñối thoại Lời ñối

thoại thường kèm theo các ñộng tác cử chỉ biểu cảm và tạo nên bởi phát ngôn

của nhiều người” [2; 159]

Khi bàn về lời thoại nhân vật, M Bakhtin có nhận xét “ Lời nói của con

người mang tính ñối thoại, tính ñối thoại là thuộc tính phổ quát của ngôn từ và

tư duy của con người Nói tức là nói với ai ñấy Ngay khi nói với mình, nó cũng

ñược trả lời Khi nói với ai ñó cái gì, ta cố gắng nói thế nào ñể vừa diễn ñạt

ñược cái ta muốn nói vừa nhận ñược lời ñáp như ta mong ñợi Lời nói của ta, với

tất cả các ñặc ñiểm, sắc thái không chỉ phụ thuộc vào ñiều ta muốn nói mà còn

phụ thuộc rất nhiều vào người ñối thoại với ta Đây cũng là thí dụ ñơn giản nhất

về tính ñối thoại của lời nói”[22; 18]

Trong tác phẩm văn học, lời ñối thoại và ñộc thoại có thể thâm nhập vào nhau

ñặc biệt trong kịch Lời ñộc thoại trần thuật có thể bao hàm ñối thoại Trong lý

thuyết hội thoại hiện ñại, ñối thoại ñược xem là bản chất bao trùm quan trọng

nhất của hoạt ñộng lời nói Do vậy ñối thoại cũng ñược coi là một dạng thể hiện

những diễn biến ñấu tranh của nội tâm

Trang 12

1.2 Một số quan niệm hiện nay về sự biến ñổi của “ñộc thoại nội tâm”:

Như trên ñã nói, do có sự phát triển trong các ý niệm( khoa học và mỹ

học) về ñời sống tâm lý con người…mà giới hạn và hình thức ñộc thoại nội tâm

dần dần biến ñổi.Độc thoại nội tâm là một hình thức thường có nhiều cách hiểu

lẫn lộn nhất trong số những dạng thức lời thoại của nhân vật Thuật ngữ ñộc

thoại nội tâm cũng như việc xác ñịnh các ñoạn ñộc thoại nội tâm trên văn bản

thường bị lẫn lộn, bị ñồng nhất với ngôn từ trực tiếp, bình luận ngoại ñề, dòng ý

thức hơn nữa nó còn ñược coi là một biến thể của ñối thoại

Trong các nghiên cứu của các tác giả: Đặng Anh Đào, Nguyễn Thái Hoà,

Phùng Văn Tửu… ñều ñề cập ñến phạm trù ñộc thoại nội tâm Dưới ñây chúng

tôi xin nêu một số quan niệm tiêu biểu:

Phùng Văn Tửu ñưa ñịnh nghĩa về ñộc thoại nội tâm như sau: “Độc thoại

nội tâm là ngôn từ trực tiếp không diễn tả thành lời của nhân vật” [5; 169]

Theo ông ñộc thoại nội tâm còn có một dạng khác là “ñộc thoại bên trong ở ñó

giọng nói của nhân vật bị xẻ làm ñôi thành hai giọng ñối nghịch

Theo Đặng Anh Đào, ngôn từ nửa trực tiếp chỉ “khoác giọng ñiệu từ vựng

của nhân vật” sẽ trở thành ñộc thoại nội tâm Trong cuốn Đổi mới nghệ thuật

ti ểu thuyết phương Tây, bà cũng nêu lên ranh giới khó xác ñịnh giữa ñộc thoại

nội tâm và bình luận ngoại ñề Đó là trường hợp sự giao hoà giọng ñiệu của hai

chủ thể phát ngôn (người kể chuyện và nhân vật) chỉ mới nửa chừng Lối nói và

giọng nói của nhân vật chưa trực tiếp Điều này khiến người ñọc khó phân biệt

cụ thể lời lẽ của tác giả hay của nhân vật

Có ý kiến cho rằng ñộc thoại nội tâm và dòng tâm tư (dòng ý thức) là sự

chuyển hoá của ñộc thoại ở kịch sang tiểu thuyết, truyện ngắn Cơ sở của ý kiến

này là ñiểm giống nhau rất lớn giữa ñộc thoại nội tâm và ñộc thoại ñó là tính

hướng nội, là sự tái hiện ý nghĩ của nhân vật Tuy nhiên người ta vẫn có thể

phân biệt ñộc thoại nội tâm với ñộc thoại ở tính chất hành ñộng (Độc thoại

thường gắn liền với hành ñộng còn ñộc thoại nội tâm thiên về mô tả nhiều hơn)

Trang 13

Hoặc ở tính chất “không thốt lên lời”(Độc thoại nội tâm thường không thốt nên

lời còn ñộc thoại thì có thể nói thành tiếng) Mặc dù tồn tại một số ñiểm phân

biệt như vậy,song trong những tác phẩm hiện ñại thì ranh giới giữa ñộc thoại nội

tâm và ñộc thoại cũng không dễ xác ñịnh.Chẳng hạn,ñoạn ñộc thoại nội tâm

dưới ñây của nhân vật Robert, trong tác phẩm Chuông nguyện hồn ai (

Hemingway), thể hiện một ranh giới khó xác ñịnh giữa ñộc thoại với ñộc thoại

nội tâm :

“ Hãy nghĩ tới những người ñã ra ñi, anh nói: nghĩ tới họ ñang ñi qua

rừng, nghĩ tới họ ñang ñi qua suối, nghĩ tới họ trên mình ngựa, trong rừng dầy,

nghĩ tới họ ñêm nay ñi suốt canh thâu, nghĩ tới họ ngày mai phải ẩn mình Nghĩ

tới họ Mẹ kiếp! Hãy nghĩ tới họ Đó là tất cả cái ñiều mà ta có thể làm ñược

nghĩ tới họ, anh nói.”

Rõ ràng Robert khi bị thương rất nặng ñã coi ý nghĩ là một hành ñộng duy

nhất mà anh có thể làm và phải cố gắng làm bằng ñược Khi anh “ nghĩ tới họ”

tức là anh ñang cùng họ tiếp tục công cuộc vật lộn với chiến tranh, giành sự

sống ở phía trước Vì thế mà ñộc thoại nội tâm ở ñây vẫn toát lên tính chất hành

ñộng của ñộc thoại

Các tác giả M.Bakhtine, Đặng Anh Đào Nguyễn Thái Hoà còn ñặc biệt

nhấn mạnh việc ñổi mới ñộc thoại nội tâm dưới hình thức của “dòng ý thức” và

“ ñối thoại”

Trước kia chúng ta thường phân biệt ñộc thoại nội tâm và dòng ý thức ở

chỗ: ñộc thoại nội tâm chỉ xuất hiện trong một số tình huống nhất ñịnh còn dòng

là dòng chảy triền miên làm nên cốt truyện (dẫn theo 6; 81).Độc thoại nội tâm

có sự quy chuẩn về văn phạm, dòng ý thức bất chấp quy chuẩn của văn phạm

Các tác giả hiện ñại ngày càng nhận thấy sức mạnh của ñộc thoại nội tâm

nằm ở tính chất tức thì của dòng tâm tư Vì vậy sự ñổi mới của nghệ thuật ñộc

thoại nội tâm so với các thế kỷ trước nhằm vào việc khiến dòng suy nghĩ ñược

hình dung ngay trên lối viết.Thế nên nhiều trường hợp, không chỉ giọng ñiệu

của nhân vật ñược khôi phục nguyên si, các ý nghĩ thầm kín, mơ hồ lộn xộn nhất

Trang 14

của nhân vật ñược ghi lại mà cách viết bất chấp cú pháp, qui ước văn phạm (câu

dài không chấm phẩy…) cũng giúp nhà văn thể hiện trung thành suy nghĩ của

nhân vật

Đọc các tác phẩm văn xuôi hiện ñại, quan sát kỹ lời thoại nhân vật ta sẽ

thấy những quy ước chuyển tiếp ở thế kỷ trước như: mở ngoặc kép, gạch ngang

ñầu dòng, hoặc lời dẫn chuyện “nó nghĩ”, “anh nghĩ”…dần dần bỏ Thay vào

ñó là lối dẫn thẳng từ lời người kể chuyện sang ñộc thoại nội tâm nhân vật Điều

này khiến dòng suy nghĩ trào ra, tự nhiên hơn, chân thật hơn Đây là những ñiểm

ñổi mới của lối viết ñộc thoại nội tâm, khiến nó thực sự trở thành dòng tâm tư

không thể lẫn lộn với ñộc thoại của kịch

Sự ñổi mới của ñộc thoại nội tâm ñặc biệt ñược thể hiện dưới hình thức

ñối thoại của nhân vật Theo Đôxtôjevxki : Tâm hồn có tính tự do, tính không

thể kết thúc còn ñộc thoại thì luôn có giới hạn, có tính kết thúc.Vì thế nếu chỉ sử

dụng ñộc thoại ñể miêu tả tâm hồn là không ñủ (dẫn theo7; 295).Theo ông: “Sự

sống ñích thực của nhân cách chỉ có thể hiểu bằng cách thâm nhập vào nó dưới

dạng ñối thoại, một sự ñối thoại mà cá nhân tự nó sẽ bộc lộ bản thân một cách

tự do ñể ñược ñáp lại” [8;49]

Nguyễn Thái Hoà cũng cho rằng: Thực ra, ñộc thoại nội tâm cũng là hình

thức ñối thoại của nhân vật, trong ñó người ñối thoại cũng chính là mình Nói

cách khác, ñó là một sự phân thân, mình nói chuyện với mình, một mình ñóng

cả hai vai người nói và người nghe và nói lại bằng một giọng khác, một cách suy

nghĩ khác

Các ý kiến trên rất có lí, bằng chứng là ñã có khá nhiều tác phẩm thể hiện

hình thức ñộc thoại nội tâm bằng ñối thoại.Chẳng hạn ñộc thoại nội tâm thể

hiện dưới dạng ñối thoại tâm linh như trong các tác phẩm : Bức tranh, Người

ñàn bà trên chuyến tầu tốc hành của Nguyễn Minh Châu, hay gần ñây, như lời

ñộc thoại bằng ñối thoại ngầm với chính mình, ñịnh hướng giải thích cho mình

của nhân vật, trong tác phẩm si tình của Phan Thị Vàng Anh

Trang 15

Trước những chuyển biến và ñổi mới nói trên, chúng ta thấy rằng ñộc

thoại nội tâm là một phương tiện rất khó sử dụng với người sáng tạo, càng

không dễ xác ñịnh với người tiếp nhận tác phẩm văn học

Độc thoại nội tâm trong văn bản nghệ thuật ñược thể hiện dưới dạng viết

khi lời ñộc thoại nội tâm là một ñoạn văn, tức là nó mang trong mình tất cả các

hình thức liên kết của văn bản cả về hình thức lẫn nội dung Do vậy trong khoá

luận này chúng tôi không chỉ trả lời những câu hỏi như : Trong các ñoạn ñộc

thoại nội tâm, tác giả ñề cập tới những vấn ñề gì ? Những vấn ñề ñó ñặt ra trong

hoàn cảnh nào ? Tác giả sử dụng thứ ngôn ngữ nào ? Có dễ nhận biết hay

không? Tác giả ñã tổ chức và chi phối ñộc thoại nội tâm như thế nào ñể ñạt ñược

mục ñích ñề ra? mà chúng tôi còn ñi vào thông kê, phân tích cấu trúc hình thức,

phân tích câu ñộc thoại nội tâm, nêu lên những hình thức thể hiện ñoạn ñộc thoại

nội tâm như :cách thức nhập ñề, cách thức kết thúc, cấu trúc ngôn ngữ…

Độc thoại nội tâm là một thủ pháp thể hiện ý ñồ sáng tạo của nhà văn ,

chủ ñề của tác phẩm và là yếu tố quan trọng làm nên ñặc trưng phong cách tác

giả

1.3 Tiểu kết

Độc thoại nội tâm trong văn bản nghệ thuật (truyện, tiểu thuyết …) là một

hình thức ñộc thoại ñặc biệt, phong phú về hình thức,ña dạng về cách thức thể

hiện và hoàn cảnh sử dụng

Các nhà văn ngày càng ý thức ñược lợi thế, tác dụng quan trọng của thủ

pháp nghệ thuật này trong việc xây dựng nhân vật và biểu ñạt tư tưởng.Đã có

nhiều nhà văn sử dụng ñộc thoại nội tâm như một thủ pháp nghệ thuật ñộc ñáo ,

ñặc sắc của mình Do ñó trong tác phẩm văn học ñộc thoại nội tâm không ngừng

ñổi mới, chuyển biến Nó không chỉ góp phần thể hiện tư tưởng, chủ ñề tác

phẩm mà còn làm nên phong cách riêng của mỗi nhà văn

Trong làng truyện ngắn Việt Nam (1985 lại ñây) các cây bút nữ ñang

chiếm ưu thế không chỉ về số lượng tác phẩm mà còn phong phú về phong

Trang 16

cách.Trần Thuỳ Mai, Nguyễn Thị Thu Huệ, Phan Thị Vàng Anh, Võ Thị Hảo là

những cây bút có khả năng làm nóng bầu không khí văn chương hiện nay Mỗi

người trong số họ ñều ñể lại phong cách riêng thu hút ñộc giả, ñặc biệt là cách

sử dụng ñộc thoại nội tâm của mỗi tác giả ñã ñem lại hiệu quả nghệ thuật cao

cho các tác phẩm của họ Trên cơ sở nhận thức lí thuyết ñã lựa chọn nghiên cứu

và xem xét ở chương này, chúng tôi sẽ ñi vào khảo sát , phân tích cách thể hiện

ngôn ngữ trong các ñoạn ñộc thoại nội tâm mà bốn nhà văn nữ ñã xây dựng

thành công trong tác phẩm của mình

Từ nhận thức lý luận ñến áp dụng vào phân tích cụ thể các ñoạn ñộc thoại

nội tâm trong các tác phẩm của các nhà văn nữ là cả một quy trình Nó ñòi hỏi

người nghiên cứu phải dạn dày, trải nghiệm Khoá luận này chỉ là bước ñầu thử

nghiệm Nhiệm vụ chủ yếu của khoá luận là tri nhận và phân tích ñược giá trị

nghệ thuật ngôn từ của các ñoạn ñộc thoại nội tâm trong các tác phẩm của bốn

nhà văn nữ - những cây bút ñóng góp vào sự ñổi mới văn xuôi tiếng việt hiện

nay

CH ƯƠNG 2

KHẢO SÁT NGÔN NGỮ ĐỘC THOẠI NỘI TÂM TRONG 27 TRUYỆN

NGẮN CỦA BỐN CÂY BÚT NỮ: TRẦN THUỲ MAI, NGUYỄN THỊ

THU HUỆ, PHAN THỊ VÀNG ANH, VÕ THỊ HẢO

2.1.Nhận xét mở ñầu

Trong số các nhà văn nữ hiện ñại, Trần Thuỳ Mai là một cây bút có tuổi

văn khá dày dạn, với nhiều tác phẩm ñoạt giải, ñã in riêng thành tập như "Biển

ñời người", "Đêm tái sinh", "Quỷ trong trăng", "Gió thiên ñường", "Thị trấn

hoa quỳ vàng"…Nữ nhà văn thuộc thế hệ thứ tư (cùng với Nguyễn Huy Thiệp,

Trang 17

Bảo Ninh) này có một phong cách rất nữ tính và ñộc ñáo Những trang viết của

Trần Thuỳ Mai thường hướng về cuộc sống ñời thường, về tình yêu, hôn nhân,

về những băn khoăn trước cuộc sống Nhẹ nhàng mà sâu sắc, truyện ngắn Thuỳ

Mai luôn có cái nhìn nhân ái và niềm tin sâu xa ở bản chất tốt ñẹp của cuộc

sống, của tình người

Với thủ pháp ñộc thoại nội tâm, Trần Thuỳ Mai ñã xây dựng nên các nhân

vật với những cung bậc cảm xúc, diễn biến tâm lí của ñời thường nhưng ñược

phát hiện ở những góc ñộ hết sức tinh tế, ñộc ñáo, giàu triết lí Nhân vật của

Trần Thuỳ Mai có khi là một cô gái ñang bước vào tình yêu với ñủ các cung bậc

cảm xúc vui, buồn, nhớ nhung, hờn giận (My - "Gió thiên ñường’’), là người

phụ nữ bất hạnh nhưng giàu ñức hi sinh (Hạnh - "Trăng nơi ñáy giếng"), hoặc là

chàng trai yêu chân thành, bao dung, nhân ái (Măng - "Biển ñời người")…

Những suy nghĩ, tình cảm ñó ở các nhân vật ñược Thuỳ Mai thể hiện qua các

ñoạn ñộc thoại nội tâm ñã ñể lại những cảm xúc sâu lắng trong ñộc giả

So với Trần Thuỳ Mai, Nguyễn Thị Thu Huệ là thế hệ ñàn em song cây bút

này không hề xa lạ với ñộc giả Với phong cách khá ấn tượng, "luôn có hai mặt"

.Đó là: "bụi bặm" trong tả chân và trữ tình ñằm thắm.Thu Huệ lôi cuốn ñộc giả

bằng lối văn vừa táo tợn lại vừa thanh khiết Đặc biệt với cách thể hiện linh hoạt,

phong phú các ñoạn ñộc thoại nội tâm, các nhân vật của Nguyễn Thị Thu Huệ ñã

thực sự gây ấn tượng với người ñọc bởi sự sinh ñộng, ña dạng của các nét trong

nhân cách: Lúc bạo liệt, khi thật thà, khi thâm trầm triết lí, khi ñỏng ñảnh và có khi

dịu dàng ñến bất ngờ Điều này chúng ta có thể tìm thấy trong rất nhiều tác phẩm

của Nguyễn Thị Thu Huệ, tiêu biểu như: "Hậu thiên ñường", "Thiếu phụ chưa

chồng", "Tân Cảng", "Xin hãy tin em".v.v…

Bên cạnh Trần Thuỳ Mai, Nguyễn Thị Thu Huệ, Phan Thị Vàng Anh là một tác

giả rất trẻ và có sức sáng tạo cao Cây bút nữ này ñã không ngừng ñổi mới nghệ

thuật viết truyện của mình Độc thoại nội tâm dưới ngòi bút của Phan Thị Vàng

Anh vì thế mà vô cùng biến ảo Có khi nó giống như sự ñối thoại giả (lời ñộc

thoại ñặt trong ngoặc kép) hoặc có khi nó diễn ra liên miên, kéo dài như dòng ý

thức…Đây chính là yếu tố quan trọng làm nên phong cách ñặc biệt của Phan

Thị Vàng Anh: "Biết cách lạ hoá những ñiều quen thuộc… làm cho da diết

Trang 18

Sẽ thật thiếu sót nếu không nhắc ñến Võ Thị Hảo, người ñược mệnh danh

"người kể chuyện cổ tích hiện ñại", nhà văn nữ trẻ tuổi và xinh ñẹp này có kiểu

sáng tác truyện ngắn "ñiểm huyệt hiện thực bằng cách nắm bắt những tình

huống cho phép phơi bày cái chủ yếu nhưng lại bị che giấu trong muôn mặt

cuộc sống hàng ngày" (dẫn theo21; 1-2).Độc thoại nội tâm trong tác phẩm của

Võ Thị Hảo tuy không nhiều và không diễn ra liên miên như ở tác phẩm của

nhiều tác giả hiện ñại Nhưng Võ Thị Hảo ñã vận dụng khéo léo, hiệu quả các

ñoạn ñộc thoại nội tâm khiến chúng giống như những lời tự ñối thoại xoáy sâu

vào tình huống hiện thực mà tác giả khai thác Chúng ta có thể tìm thấy các ñoạn

ñộc thoại như thế trong nhiều tác phẩm của Võ Thị Hảo như: Dây neo trần gian,

v ầng trăng mồ côi, Vũ ñịa ñịa ngục.v.v…

Sử dụng ñộc thoại nội tâm chỉ là một khía cạnh trong nghệ thuật viết

truyện của bốn cây bút nói trên Nhưng chính ñiều này là yếu tố rất quan trọng

ñể xây dựng phong cách nghệ thuật , tạo nên thành công của các nhà văn ñó

Lựa chọn trong 27 truyện ngắn, chúng tôi ñã thống kê ñược trên 100 ñoạn

ñộc thoại nội tâm Dưới ñây là bảng thống kê cụ thể số lượng ñoạn ñộc thoại nội

tâm trong các tác phẩm của bốn nhà văn ñược khảo sát:

Nhà v ăn Tác ph ẩm S ố lượng ñoạn ñộc

tho ại nội tâm

Trang 19

Qua bảng thống kê trên, chúng tôi thấy: Số lượng tác phẩm khảo sát

tương ñương nhau (mỗi tác giả 7 tác phẩm),còn số lượng các ñoạn ñộc thoại nội

tâm lại chênh lệch nhau.Các ñoạn ñộc thoại nội tâm trong các tác phẩm của

Nguyễn Thị Thu Huệ chiếm số lượng nhiều nhất (44 ñoạn).Các ñoạn ñộc thoại

trong các tác phẩm của Võ Thị Hảo có số lượng ít nhất (14 ñoạn) Mặc dù sự

phân bố về số lượng của các ñoạn ñộc thoại nội tâm trong các tác phẩm của mỗi

nhà văn không ñều nhưng vai trò của chúng ở mỗi tác phẩm là không ñổi

Chúng ñều có giá trị nhất ñịnh trong việc thể hiện tư tưởng, tình cảm và góp

phần tạo nên phong cách riêng của các tác giả

2.2 Các phát ngôn cấu thành các ñoạn ñộc thoại nội tâm:

Qua lựa chọn, khảo sát 27 truyện ngắn in trong 3 tập truyện Truyện ngắn

b ốn cây bút nữ (NXB Văn học, Hà Nội, 2002); Gió thiên ñường (NXB Văn

h ọc, 2001); Biển ñời người (NXB Công an nhân dân, 2003) của 4 tác giả nữ

Trần Thuỳ Mai, Nguyễn Thị Thu Huệ, Phan Thị Vàng Anh, Võ Thị Hảo chúng

tôi ñã thống kê ñược hơn 100 ñoạn ñộc thoại nội tâm với 380 phát ngôn ñộc

thoại

Hình thức thể hiện cũng như cách thức tổ chức phát ngôn trong các ñoạn

ñộc thoại nội tâm nói trên rất phong phú, ña dạng Dưới ñây là bảng thống kê

các dạng phát ngôn trong các ñoạn ñộc thoại:

Như vậy trong lời ñộc thoại của nhân vật, ngữ trực thuộc có tỉ lệ ít

nhất.Đó là những phát ngôn không hoàn chỉnh cả về cấu trúc hình thức lẫn nội

dung, có ñộ ñộc lập kém ,phải phụ thuộc vào các phát ngôn tồn tại ở ñằng trước

Trang 20

Ví dụ 3:Vậy mà bây giờ [T9;281]

Ví dụ 4:Thôi, xong rồi.[T12;301]

Ví dụ 5:Nhưng tôi.[T12;307]

Ví dụ 6:Một mình [T13;323]

Ví dụ 7:Sao lại thế này nhỉ?[T12;288]

Ví dụ 8:Thế là xong.[T12;346]…

Các câu tỉnh lược cũng không xuất hiện nhiều trong các ñoạn ñộc thoại

nội tâm nhưng loại câu này cũng ñóng một vai trò nhất ñịnh trong việc thể hiện

diễn biến tâm lí khi kéo dài, khi ngắt quãng của nhân vật.Dưới ñây là một số câu

tỉnh lược trong các truyện ngắn của 4 cây bút nữ:

Ví dụ9:Bao giờ thì chìm xuống ñáy? [T12;313]

Ví dụ 10:Không hiểu từ ñâu nhỉ? [T14;115]

Ví dụ 11:Thà làm việc gì ñó thật ñiên rồ, còn hơn không làm gì [23;119]

Ví dụ 12:Đâu cứ phải có ba ñầu sáu tay hay phồng mang trợn mép lên là giữ

ñược [ T9;262]

Ví dụ13:Thời xa xưa ấy, nghĩ lại làm gì [ T11;288]

Ví dụ14: Rồi về nhà [T12;305]

Ví dụ15: Cũng chẳng ngăn ñược mà chỉ làm con lạnh thôi [T12;316]

Ví dụ16: Nếu thiếu mắt thì nhìn bằng cái gì?

Ví dụ17: Chẳng lẽ một phút xiêu lòng mà lại khốn khổ ñến thế này

sao?[T12;307]

Ví dụ18: Đến lúc nào, sẽ là một cái hang sâu hun hút [T12;310]…

Các câu ghép chiếm tỉ lệ nhiều thứ hai sau câu ñơn, kiểu câu này xuất

hiện với tần suất cao trong các tác phẩm của Phan Thị Vàng Anh.Thậm chí

trong một số tác phẩm của tác giả này, có những ñoạn ñộc thoại chỉ toàn câu

ghép chuỗi.Chẳng hạn: “Mười giờ ñêm, khách ñã bắt ñầu lục ñục ra về, anh và

Trang 21

em ñã bắt ñầu ngáp vặt, (chúng mình thân quá mà, ñiều này ñâu còn phải là cái

ñể gọi là "xúc phạm nhau" như hồi mới quen cách ñây hai năm!)”.[T16;50]

Trong các tác phẩm của 3 tác giả Trần Thuỳ Mai, Nguyễn Thị Thu Huệ, câu

ghép thường ñược sử dụng xen kẽ với các kiểu câu khác nhằm tạo nên sự sinh

ñộng, phong phú trong diễn ñạt tâm lí nhân vật.Chẳng hạn: “Vậy mà nhiều lần

mình bảo anh ấy ñi yêu người khác, anh ấy không chịu Anh ấy không nỡ Rồi

ñây, lấy nhau, cuộc sống sẽ hết sức tẻ nhạt…”[T22;104]

Trong tác phẩm của Nguyễn Thị Thu Huệ, câu ghép thường xuất hiện xen kẽ với

các dạng câu khác và thường là câu ghép có quan hệ từ diễn tả quan hệ tương

phản

Ví dụ19: Cuộc ñời dài lắm, mà những cái hoan lạc mà con người ai cũng trải

qua thì ngắn [T12;307]

Ví dụ20: Hai mươi tư tuổi, mẹ mới biết thế nào là hạnh phúc thì lập tức một

chuỗi ñau khổ kéo theo.[T12;307]

Ví dụ21: Thôi thà ñể hắn ôm con cho ấm còn hơn là mẹ chỉ có thể thành gió ñể

ngăn con [T316]…

Các phát ngôn ñộc thoại nội tâm là câu ñơn (gồm câu ñơn ngắn, câu ñơn

mở rộng thành phần) chiếm tỉ lệ nhiều nhất tổng số các phát ngôn ñộc thoại

Nhất là trong tác phẩm của Nguyễn Thị Thu Huệ, với hơn 170 câu ñơn chiếm

gần 45% tổng số phát ngôn Các câu ñơn phân bố dày ñặc trong các ñoạn ñộc

thoại nội tâm, có nhiều ñoạn chứa toàn câu ñơn chẳng hạn:

Ví dụ22: Tôi sai rồi, còn oán ai Người ta là vợ chồng, ñã có con cái Còn tôi…

“tôi chỉ là một vật thừa”.[T4;165]

Ví dụ23: Cô gái này là ai?Cô ta ñịnh làm gì ở ñây?Hưng chậm chạp nghĩ

[T6;57]

Ví dụ24: Thôi mình yêu Hưng mất rồi Làm sao mà Mại có thể quên Hưng ñược

nữa Mà tại sao, bỗng nhiên Hưng lại xưng anh với Mại bằng một giọng yêu

thương ñến thế.[T11;294]

Trang 22

Những câu ñơn ñộc thoại nằm xen kẽ với các câu khác thường là câu ñơn

ngắn Thể hiện nội dung nhận xét ngầm hoặc lời kể mở ñầu cho toàn bộ diễn

biến nội tâm tiếp theo.Chẳng hạn như:

Ví dụ25: Con tôi lớn thật rồi.[T12;;305]

Ví dụ26: Con gái vẫn chưa về.[T12;306]

Ví dụ27: Mình hư hỏng mất rồi.[T11;291]…

Bên cạnh việc sử dụng các dạng phát ngôn phong phú về cấu trúc ngữ

pháp nói trên, các tác giả nữ còn sử dụng nhiều từ ngữ, nhiều câu hỏi thể hiện

các hành vi hỏi và các mục ñích khác của nhân vật khi ñộc thoại nội tâm(hỏi ñể

nghi vấn, hỏi ñể khẳng ñinh, hỏi ñể cảm thán…).Trong 27 tác phẩm ñã khảo sát,

chúng tôi ñã thống kê ñược 75/380 câu hỏi chiếm 19.7%tổng số phát ngôn ñộc

thoại Các câu hỏi không chỉ ña dạng về hình thức mà còn phong phú về nội

dung thể hiện

Về hình thức, các câu hỏi thường ñược cấu tạo bởi các từ ngữ chuyên

dùng ñể hỏi và kết thúc câu bằng dấu chấm hỏi, dưới ñây là bảng thống kê một

số cấu trúc câu hỏi cơ bản trong các ñoạn ñộc thoại nội tâm :

thế?” Nhưng lẽ nào con gái mà tuôn ra

những lời rủa sả như thế?[T1;10]

Về hành ñộng của chủ thể phát ngôn

2

“có phải…không?”

Tôi nghĩ thầm: "Mẹ con với ba lúc nào cũng chung thuỷ, nhưng có phải

tình yêu không?[T1]

Hỏi ñể nghi vấn, phủ ñịnh

Trang 23

Không hiểu sao ñã chịu ñứng bao

ñiều nặng nề, mà giờ ñây tôi lại

không kham nổi cái cảnh tượng hết

sức bình thường thế này?[T4]

Hỏi ñể bộc lộ tâm trạng

không?[T11]

Hỏi, nghi vấn

về hiệu quả của hành ñộng

8 “… gì ?”

Kim xem tôi là hạng người gì?[T7] Hỏi ñể nghi

vấn

9 “Tại sao…?” Tại sao Dương không phải là người

yêu của cô mà lại là chồng chị Hảo?

Hỏi ñể bộc lộ tâm trạng bất bình, ghen tị của nhân vật

12 “… nào ?” Lâu nay tôi cứ trượt trên những cái

dốc nào?[T12] Hỏi -nghi vấn

và nỗi bất hạnh

Trang 24

Mặc dù các câu hỏi trong bảng thống kê trên ñều có ñặc ñiểm bản chất

chung là có hành vi hỏi, nhưng các lời ñộc thoại dạng câu hỏi của nhân vật

trong truyện ngắn của bốn cây bút nữ có sự thay ñổi phong phú trong việc thể

hiện những ý nghĩa tiềm ẩn, nằm ngoài phát ngôn.Sự khác nhau ñó thể hiện rõ ở

cách thể hiện thái ñộ, tình cảm của người phát ngôn ñộc thoại với nội dung ñộc

thoại và sự kiện trong phát ngôn.chẳng hạn:

- Với cách dùng nhóm từ hỏi là “sao, tại sao…” thường hàm chứa thái ñộ ngạc

nhiên,sửng sốt.Những phát ngôn này, người nói nhận thức ñược sự mâu thuẫn,

vô lý trong hiện thực.Người ta hỏi ñể tìm nguyên nhân nhưng cũng có khi là bày

tỏ sự than vãn hoặc một sự bất bình, ghen tị nào ñó Cách cấu trúc vị trí của từ

ñể hỏi trong câu cũng làm thay ñổi ý nghĩa của các phát ngôn dạng này(xem

bảng thống kê cấu trúc câu hỏi)

Ví dụ28: Tại sao Dương không phải là người yêu của cô mà lại là chồng chị

Hảo?[T13] Nhân vật My trong truyện ngắn Thiếu phụ chưa chồng ý thức

ñược sự xinh ñẹp trẻ trung của mình,nên tỏ ra bất bình ghen tị vì mình không có

người chồng tốt như chị

Trang 25

- Cách sử dụng nhóm từ hỏi “ai, ở ñâu, bao giờ, có…không?” thường dùng ñể

khám phá hiện thực Hiện thực trong phát ngôn luôn là những ñiều chưa biết:

Ví dụ29: Anh ở ñâu?[T9]

Ví dụ30: Cô gái này là ai?[T6]

- Còn cách sử dụng nhóm từ hỏi “hay, có hay không,chẳng lẽ…? ”thể hiện thái

ñộ băn khoăn của người nói

Ví dụ31: Con trai hay con gái?[T9]…

2.3 Cách thức tổ chức các ñoạn ñộc thoại nội tâm

2.3.1 C ấu trúc hình thức

Để có ñược hiệu quả trong việc sử dụng ngôn ngữ ñộc thoại nội tâm, mỗi

tác giả phải có khả năng tạo ñược những cấu trúc hình thức nhất ñịnh ñể biểu ñạt

nội dung tư tưởng tác phẩm của mình Qua khảo sát các ñoạn ñộc thoại nội tâm

của bốn cây bút nữ nói trên, chúng tôi thấy những cấu trúc hình thức thường

dùng ñể xây dựng ñoạn văn ñộc thoại nội tâm như: Cấu trúc hỏi, cấu trúc cú

pháp, cấu trúc liệt kê, diễn giải Trong phần này chúng tôi ñặc biệt quan tâm tơi

cấu trúc hỏi, cấu trúc diễn giải và cấu trúc liệt kê Đây là những kiểu cấu trúc

thường xuất hiện ở tác phẩm của bốn nhà văn nữ nói trên và giàu giá trị biểu ñạt

nội dung tác phẩm

*Cấu trúc hỏi :

Ví dụ32:Hưng sửng sốt Trông cô gái như vầng trăng, lồ lộ, nõn nà Có một sắc

ñẹp như thế mà chịu mở áo cho người xem thân thể chỉ vì một chầu ốc

nóng?[T6;58]

Trong ñoạn ñộc thoại nói trên, Trần Thuỳ Mai ñã sử dụng cấu trúc hỏi ñể

thể hiện nhận ñịnh chủ quan của nhân vật ñộc thoại ñối với khách thể Cách sử

dụng loại cấu trúc này không chỉ diễn ñạt ñược thái ñộ ngạc nhiên của nhân vật

trước những sự vật hiện tượng hoàn toàn mới lạ trong tác phẩm mà còn bộc lộ

ñược cảm xúc, sự băn khoăn của nhân vật.Nhờ vậy mà ñoạn ñộc thoại tạo ra sự

cuốn hút tự nhiên ñối với người ñọc

Trang 26

Loại cấu trúc này xuất hiện nhiều trong tác phẩm của Trần Thuỳ Mai , Nguyễn

Thị Thu Huệ Chúng tôi ñã liệt kê ñược tương ñối nhiều ví dụ về kiểu cấu trúc

này:

Ví dụ33: Bao năm nay Từ lúc linh cảm về sự ra ñi của chị Ban ñầu là thể xác

Rồi ñến tinh thần Lúc nào anh cũng ám ảnh về chuyện này ñể rồi bây giờ, anh

lại chẳng tại sao?[[T13;161]

Ví dụ35:Đàn ông, cái sự quên hay nhớ của họ ñều có ý thức Họ ñã không muốn

cái gì thì ñừng cố mà giữ Đâu phải có ba ñầu sáu tay hay phồng mang trợn

mép lên là giữ ñược? Anh không ñến Nghĩa là anh không muốn Vậy Lụa tìm ñể

làm gì? [T8;262]

Ví dụ36: Con tôi lớn thật rồi Sao ñến bây giờ tôi mới biết ñiều ñó nhỉ? Những

người ñàn ông ñi qua tôi như thể bất chợt họ gặp cơn mưa rào mà họ thì không

mang vải nhựa ñể che Tôi là một cái hiên rộng ñể họ có thể chạy vào ñó, yên

tâm, tưng tửng chờ cơn mưa qua Rồi về nhà Hoá ra lâu nay, tôi ñi ñường tôi,

còn con gái thì tự tìm một ñường mà ñi Liệu nó có ñi lại con ñường của tôi

không nhỉ?[T12;305]…

Hiện nay, với sự ñổi mới của nghệ thuật ñộc thoại nội tâm, ñặc biệt là xu

hướng tới thể hiện dòng ý thức trong truyện hiện ñại khiến cấu trúc của các ñoạn

ñộc thoại nôi tâm ngày càng thay ñổi với cách viết bất chấp cú pháp, quy ước

văn phạm như câu dài, ít sử dụng dấu chấm… ñể nhằm bộc lộ trung thành

những suy nghĩ thầm kín, mơ hồ, sâu lắng của nhân vật Cách viết câu dài,

không có chấm câu trong toàn ñoạn ñộc thoại nội tâm ở một số tác phẩm của

Phan Thị Vàng Anh và Võ Thị Hảo (hai cây bút trẻ rất có triển vọng hiện nay)

là một ví dụ cho xu hướng sử dụng cấu trúc này:

Ví dụ37: …Cái ñề này thật khó viết, khó vì tôi không hiểu cái mà mình ñang nói

có phải là yêu không, hay mới chỉ là một trò lạ cho cả hai người, một thằng bé

mới lớn lần ñầu “vào ñời”, và cho tôi ñã quá âm u, giờ loá mắt bởi sự trong

sáng?[T18;270]

Ví dụ38: Cậu bỗng có cảm giác ân hận, có thể vì cậu và những người bạn của

cậu, những người khác nữa, trên cuộc ñời này ñã quá tham lam, ñã nhìn thấy

Trang 27

quá nhiều, ñã lạm dụng ánh sáng ñể làm những ñiều xằng bậy, nên ñã dồn ñêm

tối cho một vài người bất hạnh như cô hàng xóm mù xinh ñẹp kia chăng? [T27;

159]

Cùng với cấu trúc trên thì các tác giả hiện ñại còn có xu hướng sử dụng

ñoạn ñộc thoại nội tâm mang tính chất ñối thoại, một sự ñối thoại ngầm, mình

tự ñáp lại mình bằng một giọng khác Trong tác phẩm của Phan Thị Vàng Anh

có rất nhiều ñoạn ñộc thoại nội tâm có hình thức như trên:

Ví dụ39: Em cũng nghi lắm (kinh thật, sao em có thể chịu ñựng ñược tình trạng

phập phồng này trong suốt hai năm nhỉ?)[T16]

Ví dụ40:Người hiền kia lại ñến, gõ lạch xạch vào cái cổng tôn han rỉ phủ ñầy ti

gôn rồi lí nhí mời em ñi “uống nước” (Anh ấy không dám dùng từ “cà phê”, sợ

rằng sẽ xúc phạm em Tội nghiệp!)”.[T16]

Cấu trúc ñộc thoại mang tính chất ñối thoại trong tác phẩm của Phan Thị Vàng

Anh thường ñược thể hiện dưới dạng một phát ngôn trần thuật, có nội dung nhận

xét, kể về một sự tình Còn phát ngôn ñặt cạnh phát ngôn tường thuật ñược ñặt

trong ngoặc ñơn diễn tả một giọng ñiệu khác, một suy nghĩ khác

Như vậy, cấu trúc hình thức của các ñoạn ñộc thoại nội tâm là ña dạng, phong

phú và có sự biến ñổi phù hợp với nhu cầu “bộc lộ bản thân một cách tự do”

(chữ dùng của Doxtojevxki) của nhân vật văn học mà các nhà văn hiện ñại muốn

xây dựng ñể “nhằm miêu tả toàn bộ chiều sâu tâm hồn con người” (bởi vì nếu

chỉ sử dụng cấu trúc ñộc thoại ñơn thuần thì chưa ñủ ñể có thể miêu tả bản chất

của con người - vốn là thứ không có giới hạn).Các cấu trúc hình thức này khi

ñược nhà văn chọn sử dụng ñúng và chính xác với ñối tượng mà nhà văn cần

miêu tả sẽ không chỉ tạo ra tính mạch lạc trong tác phẩm, cho các ñoạn ñộc thoại

nội tâm mà còn giúp diễn tả tinh tế, sâu sắc những cảm xúc mơ hồ, những cung

bậc tình cảm hết sức phong phú của các nhân vật trong cuộc sống hiện tại

Trần Thuỳ Mai và Nguyễn Thị Thu Huệ thiên về sử dụng những cấu trúc

diễn giải thể hiện suy lí vừa giản ñơn vừa phức tạp của những con người bình

thường khi trải qua diễn biến của cuộc sống hiện ñai Thì Võ Thị Hảo, Phan Thị

Vàng Anh lại hướng tới sử dụng cấu trúc ñộc thoại dưới dạng dòng ý thức hoặc

Trang 28

dạng ñối thoại ñể thể hiện sinh ñộng, phong phú những suy tư, tình cảm phức

tạp trong tình yêu, tình người trước cuộc ñời

2.3.2 Các cách th ức nhập ñề của các ñoạn ñộc thoại nội tâm

Trước khi khảo sát, phân tích cách nhập ñề của các ñoạn ñộc thoại nội

tâm , chúng tôi muốn phân biệt rõ khái niệm dẫn thoại và thoại dẫn Đây là hai

khái niệm thể hiện rõ nhất mối quan hệ chặt chẽ giữa ngôn ngữ người kể chuyện

(tác giả, nhân vật kể chuyện) và ngôn ngữ nhân vật.Dẫn thoại là việc người viết(

người nói) dùng ngôn ngữ ñể thuật lại, dẫn lại lời thoại của người khác trong

thực tế hội thoại vào diễn ngôn của mình Nhờ sự dẫn thoại mà chúng ta có các

thoại dẫn trong diễn ngôn nói và viết Thoại dẫn là lời thoại vốn có trong hội

thoại ñược ñưa vào diễn ngôn Trong thực tế hội thoại, một lượt lời có rất nhiều

yếu tố ngoài ngôn ngữ, ñó có thể là những yếu tố kèm lời (giọng ñiệu, cách

thức, tình cảm, thái ñộ, trạng thái…) và những yếu tố phi lời (ñiệu bộ, cử chỉ,

ánh mắt…) Những yếu tố này ñược dẫn lại một phần hoặc hoàn toàn trong lời

dẫn thoại của người dẫn thoại

Cách thức nhập ñề của các ñoạn ñộc thoại nôi tâm cũng một hình thức

dẫn thoại của tác giả Có nhiều hình thức nhập ñề phong phú, tuỳ thuộc dụng ý

của các nhà văn, hình thức nhập ñề có thể là: Dẫn thoại trực tiếp, dẫn thoại gián

tiếp hoặc ñan xen giữa dẫn thoại trực tiếp và gián tiếp.Chẳng hạn:

Dẫn thoại gián tiếp thực chất chính là việc người viết dùng ngôn ngữ của

mình ñể thuật lại lời thoại của người khác.Ví dụ41: Cô Hạnh chỉ lặng lẽ nhìn:

người ñàn ông này ñã là người cô yêu thương, tôn thờ cho ñến nửa ñời người

Trước ñây, mỗi cái nhìn của ông là mệnh lệnh ñối với, vậy mà nay cô phải trái ý

ñông Ý nghĩa ñó làm cho rơm rớm nước mắt.[T4;165] Đoạn ñộc thoại nội tâm

trong tác phẩm của Trần Thuỳ Mai ở trên có ngôi ñộc thọai là ngôi thứ ba “Cô

Hạnh”, người viết ñóng vai trò quan sát và kể lại những ý nghĩ diễn ra ñằng sau

cái nhìn của cô Hạnh Như vậy dẫn thoại gián tiếp có dấu hiệu cụ thể là câu trần

thuật ở ñầu ñoạn , các phát ngôn sau ñó cũng vẫn là ngôn ngữ của người viết kể

về suy nghĩ của nhân vật

Trang 29

Dẫn thoại trực tiếp thực ra chính là cách nhà văn ñể lời thoại dẫn của nhân vật

bộc lộ tự nhiên mà không cần có lời dẫn chuyện, không có ngôn từ, giọng ñiệu

của tác giả kiểu như (anh nghĩ, nó nghĩ)xuất hiện ñằng trước ñoạn ñộc thoại

Ví dụ42:

Mình hư hỏng mất rồi Ai lại có thể ngủ với một người ñàn ông chỉ gặp nhau

loáng thoáng trong những cuộc họp của công ty Ngày mai, ngày kia và sau này

nữa, mỗi lần gặp Hưng, mình sẽ thế nào? Và nhỡ mình yêu Hưng thì sao?Trời

ơi, thật khủng khiếp vì sẽ chẳng bao giờ có ñiều ñó cả.Hưng ào ñến bên mình,

cuồng si với mình chẳng qua Hưng con trẻ quá Lại là ñàn ông nữa.Và chẳng

bao giờ Hưng yêu mình cả Thật khủng khiếp.[T11;291]

Dẫn thoại gián tiếp xen kẽ với trực tiếp là trường hợp ngôn ngữ, giọng ñiệu của

nhân vật chỉ ñược dẫn ra một phần, người ñọc vẫn cảm nhận ñược giọng ñiệu

ngôn từ của tác giả ẩn trong lời thoại của nhân vật

Ví dụ43: Đời thật chó má Đàn bà chửa là cửa mả Đàn bà ñẻ là vượt cạn một

mình Một mình Một mình vượt cạn Một mình ñau ñớn giằng xé Một mình

quyết ñịnh mổ mình giữa những người xa lạ.[T13;323]

Đoạn ñộc thoại của My trong tác phẩm Thiếu phụ chưa chồng của Nguyễn Thị

Thu Huệ, chỉ có một vài phát ngôn mang giọng ñiệu, ngôn từ của nhân vật như

“Đời thật chó má”, còn các phát ngôn dài ở sau không phải ngôn từ giọng ñiệu

của nhân vật, ñó không phải ngôn ngữ của một cô gái nông thôn thuần phác mà

là lời bình xen kẽ của tác giả ñược ñặt lẫn trong lời ñộc thoại của nhân vật

Đối với các tác phẩm văn xuôi hiện ñại, nếu ñọc và quan sát kĩ, ta sẽ thấy những

quy ước về dẫn thoại ở thế kỉ trước kiểu như mở ngoặc kép với lời dẫn chuyện

“anh nghĩ”, “nó nghĩ”…dần dần bỏ, lối dẫn thẳng từ lời người kể chuyện sang

ñộc thoại nội tâm ngày càng xuất hiện nhiều hơn.Vì thế trong tác phẩm của bốn

cây bút nữ hiện ñại số lượng các ñoạn ñộc thoại nội tâm ñược thể hiện trực tiếp

luôn chiếm tỉ lệ cao hơn Đây là bảng thống kê các hình thức nhập ñề của các

ñoạn ñộc thoại nội tâm trong tác phẩm bốn cây bút nữ:

STT Các hình th ức

d ẫn nhập

S ố lần xuất hiện T ỷ lệ

Trang 30

Trong tác phẩm của Trần Thuỳ Mai rất ít xuất hiện ñoạn dẫn thoại ñan

xen giữa dẫn thoại trực tiếp hoặc dẫn thoại gián tiếp, xuất hiện nhiều nhất là các

ñoạn dẫn thoại trực tiếp: 15/25 tổng số ñoạn ñộc thoại nội tâm của Trần Thuỳ

Mai mà chúng tôi khảo sát trong khoá luận:

Các ñoạn dẫn thoại trực tiếp trong tác phẩm Trần Thuỳ Mai như:

Ví dụ44:“Dã Thảo ơi, ta sẽ không bao giờ còn ñến ñây Từ biệt khung cửa sổ

mênh mông và gió Và những bản nhạc mà Hiếu Thích Giờ ñây tôi hiểu vì sao

Hiếu không thích nghe nhạc tiền Chiến Trong ñó không có cách yêu, cách nghĩ

của Hiếu Thôi ñừng nghĩ ñến Hiếu, ñừng nghĩ nữa…”[T1;14]

Ví dụ45: “Tôi bỗng ngượng ngùng không khóc ñược nữa Ừ, ñã cho thì

cho ñứt luôn, sao tôi ñã nói hi sinh mà còn tiếc nuối, Nhưng là người có máu

thịt, làm sao bỗng chốc cắt lìa? Tôi ñâu phải là thánh mà một phút dứt bỏ một

nửa cuộc ñời…không, không phải một nửa cuộc ñời, anh là cả cuộc ñời tôi…”

[“T4.16]…

Trong các ñoạn ñộc thoại kiểu này, Trần Thuỳ Mai thường ñể lời phát

ngôn của nhân vật ở ngôi thứ nhất: “Tôi”, “Ta” Việc sử dụng dẫn thoại trực tiếp

như vậy khiến cảm xúc, suy tư của nhân vật ñược bộc lộ trực tiếp, rõ nét và ñem

ñến cho Trần Thuỳ Mai một lối văn ñộc ñáo, nữ tính và rất giàu tình cảm, cuốn

hút với ñộc giả

Trong tác phẩm của Nguyễn Thị Thu Huệ các ñoạn ñộc thoại nội tâm

ñược dẫn nhập phong phú hơn với nhiều ñoạn dần thoại trực tiếp, dẫn thoại gián

tiếp và cả ñoạn xen giữa dần thoại trực tiếp với gián tiếp Tuy nhiên dẫn thoại

Trang 31

Cách dẫn thoại trực tiếp của Nguyễn Thị Thu Huệ không chỉ sử dụng ñại

từ nhân xưng ở ngôi thứ nhất mà cả ngôi thứ hai “anh”, “chị”, nhưng không vì

thế mà nội tâm nhân vật không ñược bộc lộ một cách chân thành, sâu sắc nhất:

Ví dụ46: Tại sao? Tại sao? Hôm qua anh không vứt bỏ lòng tự ái, ghen

tuông và tha thứ cho chị Thậm chí van xin chị nghĩ lại? Tại sao anh luôn lường

trước những rủi ro cho những hợp ñồng kí với ñối tác cả Ta lẫn Tây mà lại

không lường trước ñược các rủi ro của ngày hôm nay? Tại sao ñến hôm qua

anh vẫn nghĩ sự chia tay sẽ không có thật? Chỉ là một câu chuyện ñùa? Tại sao

cơ chứ?” [T14;155]

Ví dụ47:Mẹ vì con Thôi thà ñể hắn ôm con cho ấm còn hơn là mẹ chỉ có

thể thành gió ñể ngăn con Cũng chẳng ngăn ñược mà chỉ làm con lạnh

thôi.”[T12;316]

Ví dụ48: Thế là xong Chỉ có nó, một mình nó là ñủ Cầu mong cho nó

giống Dương, vì dù sao lúc này sống với Dương cũng ổn thoả nhất.[T13;33]

Nếu các ñoạn dẫn thoại trực tiếp trên(thể hiện ở lời ñộc thoại ñặt ở ngôi

thứ nhất, giọng ñiệu, ngôn ngữ ñều là của nhân vật) giúp việc miêu tả tâm lí

nhân vật xác thực hơn, các thắc mắc ñẩy lên cao trào hơn, tạo nên phong cách

táo tợn trong tả chân thì các ñoạn dẫn thoại gián tiếp trong các tác phẩm của

Nguyễn Thị Thu Huệ lại giúp việc miêu tả tâm lí nhân vật có chất chữ tình, dịu

dàng, nhẹ nhàng hơn, với cách sử dụng ñại từ nhân xưng ở ngôi thứ ba: “nàng”,

“cô”, “nó”:

Ví dụ49:Tại sao nàng lại phải ngồi ñây nhìn những ñứa trẻ con xa lạ hậm

hực với nàng? Mà chúng hậm hực cũng có lí do của chúng Chúng sợ nàng là

mẹ ghẻ, là mụ phù thuỷ ñối xử tàn tệ với chúng Giờ này ngoài ñường, nắng ñã

tắt, chỉ có gió mát và hương thơm Nàng phải ngồi ñây ñể ngửi khói của than tổ

ong, ñể nhảy vào cuộc sống xa lạ với cơm áo gạo tiền, bếp núc Có lẽ hai ñứa

trẻ bình thường rất ngoan ngoãn kia lo sợ nàng sẽ cướp mất người bố, chiếm

căn nhà và tống chúng nó ra ngoài ñường như bao cảnh con chung con riêng

Trang 32

Ví dụ50: Bao lần ngồi một mình uống nước ñợi mẹ, nó ñều ước giá có em

ngồi cùng Thằng bé sẽ chạy chơi trên những bài cỏ xanh và khô Nó sẽ gọi cho

em một cốc kem sẽ cùng em ñếm những chiếc tàu vào ra mê mải Vậy mà ñến

giờ Chưa một lần nó cho em ñến ñược Tân cảng.[T14;155]

So với Trần Thuỳ Mai và Nguyễn Thị Thu Huệ thì tỉ lệ ñoạn ñộc thoại nội

tâm có dẫn thoại gián tiếp và xen kẽ giữa dẫn thoại trực tiếp với gián tiếp, trong

tác phẩm của Phan Thị Vàng Anh, Võ Thị Hảo xuất hiện nhiều hơn Trong tác

phẩm của Phan Thị Vàng Anh, dẫn thoại gián tiếp xuất hiện 5/30 lần, dẫn thoại

trực tiếp xen kẽ gián tiếp xuất hiện 8/30 lần

Những ñoạn ñộc thoại nội tấm sử dụng ñan xen dẫn thoại trực tiếp và gián

tiếp có nhiều ở tác phẩm của Phan Thị Vàng Anh như:

Ví dụ51:Nhưng khi ngồi vào bàn ăn, nhìn thấy mẹ mình yêu thương và sợ

sệt gắp thức ăn cho chồng, nó tủi thân một cách trẻ con: “À, cái ñám mắt lồi

chúng mình ñây ñược yêu thương chẳng qua chúng mình là sản phẩm của ông

bố này Mẹ yêu bố gấp ñôi tụi mình Nếu bây giờ có một ñám cháy, cho mẹ cứu

một người duy nhất, chắc hẳn là mẹ sẽ cứu bố” [T15;20]

Vídụ52: Rồi tủi thân, ông loạng choạng ñạp xe giữa cây cỏ hai bên

ñường “Mình chết ñi, nó có khóc không?[T15;23]

Loại ñộc thoại nội tâm ñược dẫn trực tiếp xen gián tiếp này giúp việc thể

hiện lời ñộc thoại linh hoạt, tự nhiên, liên tục, không bị gián ñoạn Qua ñó,

chúng ta thấy ñược nhân vật nghĩ gì, nhân vật ñó thuộc tầm lứa tuổi nào từ ñó

thúc ñẩy khả năng cảm nhận của ñộc giả về nhân vật, về sự trình diễn ra trong

truyện và thấy ñược tâm tư tình cảm, suy nghĩ về tình yêu, gia ñình, các mối

quan hệ của từng thế hệ, từng lứa tuổi của con người trong xã hội hiện ñại

Và bằng cách sử dụng nhiều những ñoạn thoại xen kẽ dẫn thoại trực tiếp

và gián tiếp như trên Phan Thị Vàng Anh ñã thể hiện một lối viết biến ảo, lạ hoá

những cái quen thuộc như nếp sống gia ñình với những diễn biến tâm lý của lứa

tuổi mới lớn, tuổi ñang yêu của lớp trẻ, nếu không ñể ý, không biết thì chúng ta

Trang 33

sữ không bao giờ thấy ñược.Đây cũng chính là một thành công mà Phan Thị

Vàng Anh ñã ñạt ñược khi sử dụng nhiều ñoạn dẫn thoại xen kẽ trực tiếp và gián

tiếp

Khác với ba tác giả trên, Võ Thị Hảo sử dụng nhiều ñoạn ñộc thoại ñược

dẫn gián tiếp Độc thoại gián tiếp xuất hiện 7/14 lần trên tổng số ñoạn ñộc thoại

nội tâm của Võ Thị Hảo:

Ví dụ53: Sao trước ñây nàng chưa bao giờ ñể ý ñến những mẹt lá ña ñong

ñầy cháo nhỉ? Đựng vào bát không xuể, người ta phải ñong vào lá ñể ñủ ban

phát cho những hồn côi?”[T23;110]

Ví dụ54: Cậu bỗng có cảm giác ân hận, có thể vì cậu và những người bạn

của cậu, những người khác nữa, trên cuộc ñời này ñã quá tham lam, ñã nhìn

thấy quá nhiều, ñã lạm dụng ánh sáng ñề làm những ñiều xằng bậy, nên ñã dần

ñêm tối cho một vài người bất hạnh như cô hàng xóm mù xinh ñẹp kia

chăng?[T27;159]

Ví dụ55:Vậy là người - ñàn - ông - của - trời ñã ñến Nàng thoả nguyện,

và nàng sắp chết Nàng sẽ chết trước khi Người - ñàn - ông ấy kịp bỏ lại nàng

bên vệ ñường bụi rậm”.[T27;162]

Những ñoạn ñộc thoại ñược dẫn trực tiếp nói trên cùng với việc sử dụng ñại từ

nhân xưng ở ngôi thứ ba kiểu như: “Nàng”, “cậu”…Cho người ñọc cảm nhận

truyện của Võ Thị Hảo giống như câu chuyện cổ tích hiện ñại, cổ tích xây dựng

trên những tình huống hiện thực của cuộc sống Điều này giúp những tác phẩm

của Võ Thị Hảo giống như sự thanh lọc, lắng ñộng những cảm xúc thi vị, tốt ñẹp

trong tâm hồn con người giữa những rối ren, bận bịu của cuộc ñời

Để ñi vào các ñoạn ñộc thoại nội tâm, các nhà văn ñã sử dụng nhiều lời

dẫn khác nhau ñó có thể là một câu kể, câu ñề, câu luận, câu lửng vô nhân xưng

hoặc ñi thẳng vào lời ñộc thoại của nhân vật…

Nếu trong văn xuôi Việt Nam từ năm 1945 trở về trước, dấu hiệu của ñộc

thoại nội tâm thường bắt ñầu bằng câu kể kiểu như: “Y, hắn, nó nghĩ rằng” thì

ñến văn xuôi hiện ñại những lời dẫn như vậy chỉ có ở một vài ñoạn như:

Ví dụ56: Tôi nghĩ thầm:…[T1;311]

Trang 34

Ví dụ57: Rồi nằm dài, một trưa, nó nghĩ:…”[T15;20]

Ví dụ58: Và không biết tự lúc nào, tôi cứ ñóng ñinh trong ñầu ý nghĩ:…

[T24;125,126]

Ví dụ59: Hạc nghĩ:…[T17;68]

Khi xuất hiện những lời dẫn bằng câu kể như vậy chúng ta sẽ dễ dàng

nhận ra ñó chính là lời dẫn nhập ñể cho ñoạn ñộc thoại nội tâm sắp xuất hiện

ñằng sau

Ngoài ra trong 27 truyện ngắn của 4 cây bút nữ còn có rất nhiều ñoạn ñộc

thoại ñược dẫn và mở ñầu bằng một câu ñề, chẳng hạn như:

Ví dụ60:Cô Hạnh chỉ lặng lẽ nhìn: Người ñàn ông này ñã là người cô yêu

thương, tôn thờ cho ñến nửa ñời người Trước ñây, mỗi cái nhìn của ông là

mệnh lệnh ñối với cô, vậy mà nay cô phải trái ý ông ý nghĩa ñó làm cô rơm rớm

nước mắt[T4;156]

Ví dụ61:Tôi nghẹn ngào ra ñi, ñầu óc hoang mang không sao hiểu nổi:

Tôi còn chưa vợ, trúc không có chồng, vậy mà sao chúng tôi không ñược sống

với nhau? [T5;34]

Ví dụ62:Tôi bất giác rụt tay lại Đúng là tôi ñuối sức vì công việc Đúng

là tôi có cần tiền Nhưng làm sao có thể ñể ông ta “bao” tôi như thế Kim xem

tôi là hạng người gì?[T7;313]

Ví dụ63:Vội vã thế con Cuộc ñời dài lắm, mà những cái hoan lạc mà con

người ai cũng trải qua thì ngắn Vội mà làm gì Hai mươi tư tuổi, mẹ mới biết

thế nào là hạnh phúc thì lập tức một chuỗi ñau khổ kéo theo Thế mới hay, ai

cũng nhem nhẻm nói rằng mọi thứ ñều có giá của nó Hoặc trồng cây gì thì ăn

quả ñấy, hay gieo gì gặt ñấy Nhưng tôi Tôi có gieo gì ñâu mà sao ñời tôi gặt

toàn cỏ dại? Chẳng lẽ một phút xiêu lòng mà lại khốn khổ ñến thế này

sao?[T12;307]

Cũng có những ñoạn ñộc thoại ñược mở ñầu bằng một câu luận, chẳng

hạn:

Ví dụ64:Ừ, con gái thật khờ, ai cũng thế Một ngày có ñến hai mươi bốn

giờ Dù có ghé sáng, trưa, chiều, cùng lắm chỉ mười tiếng ñồng hồ Chỉ cần một

Trang 35

ngày một giờ, chàng trai ñủ tạo nên một huyền thoại phiêu lưu mới Và một

trong những huyền thoại phiêu lưu ấy là tôi…” [T1;14]

Ví dụ65: Mình hư hỏng thật rồi Ai lại có thể ngủ với một người ñàn ông

chỉ mới gặp nhau loáng thoáng trong những cuộc họp của công ty Ngày mai,

ngày kia và sau này nữa, mỗi lần gặp Hưng mình sẽ thế nào? và nhỡ mình yêu

Hưng thì sao? Trời ơi, thật khủng khiếp vì sẽ chẳng bao giờ có ñiều ñó

cả…[T11;291]

Cũng dó những ñoạn ñộc thoại nội tâm lại ñược mở ñầu bằng một câu

lửng, vô nhân xưng Chẳng hạn như:

Ví dụ66: Thế ñấy Cũng tại anh, giá anh quan tâm ñến nó hơn một tí thì

nó ñỡ phải trả giá cho cái sự thiếu kinh nghiệm của mình như thế không? cứ

làm thầy rồi lại làm trò, giá ñắt quá.[T9;254]

Ví dụ67: Thế là xong Chỉ có nó, một mình nó là ñủ Cần mong cho nó

giống Dương, vì dù sao Dương cũng ổn thoả nhất.[T13;346]

Ví dụ68:“Sẽ quen” Phải rồi Mọi thói quen ñều bắt ñầu bằng vô thức Vô

thức tồn tại và thành thói quen Thói quen làm thành ngôn ngữ Thói quen tạo ra

tác phong cho cá nhân và phong tục cho cả một cộng ñồng Thói quen làm

thành số phận và con người phải gánh số phận bằng chính hai vai mình Từ ñâu

nhỉ? Chắc từ hôm chị bay ra Hà Nội họp.[T14;153]

Bên cạnh những ñoạn ñộc thoại nội tâm có lời dẫn và mở ñầu như trên thì

các tác phẩm văn xuôi hiện ñại còn có xu hướng ñi thẳng vào lời ñộc thoại nội

tâm của nhân vật kiểu như:

Ví dụ69: Ờ ñúng rồi, mấy năm nay ñã chẳng có ai ñến nhặt là cho Hạc

Tuyến lấy vợ, Nhật xuất cảnh, Chức cách ñây mấy hôm thấy chạy xe vào ngoài

ngã ba, chở một ñứa con gái bé như cái kẹo, không ôm iếc gì cả nhưng nhìn thì

biết ngay là bồ bịch”.[T17;66]

Ví dụ70: Ba tôi hiền lành hơn: “Con không nghĩ ñến con sao? Nghĩ nhiều

lắm chớ, không phải chỉ nghĩ ñến mình tôi, tôi nghĩ ñến ba, mẹ, ñến ông chồng

tương lai của tôi, ñến những ñứa bé tương lai của tôi, ñến những ñứa bé tương

lai của tôi (hai hạng nhân vật này có thể không bao giờ có!) [T18;71,72]

Trang 36

Những ñoạn ñộc thoại không có lời dẫn như thế thường xuất hiện sau một

sự kiện tác ñộng ,sau lời ñối thoại của nhân vật khác với nhân vật ñộc thoại,

khiến ñoạn ñộc thoại nội tâm giống như dòng suy tư trực tiếp, như những lời ñối

thoại ngầm xuất hiện tức thì ñể ñáp lại những tác ñộng ñó.Những ñoạn ñộc thoại

như thế có sức mạnh tuyệt vời trong việc bộc lộ tâm lý, bản chất của nhân vật

Đây cũng là một xu hướng phát triển tốt của Độc thoại nội tâm trong truyện

ngắn hiện ñại

Như vậy chúng ta thấy rằng việc các tác giả sử dụng nhiều hình thức dẫn

thoại khác nhau ở các ñoạn ñộc thoại nội tâm ñều nhằm thể hiện tâm trạng nhân

vật ở nhiều cấp ñộ, nhiều tình huống, hình thức, hoàn cảnh khác nhau Điều này

giúp khẳng ñịnh ñược tính chân thực của lời ñộc thoại, giúp miêu tả chân thực

chân dung, suy nghĩ, lối sống của con người hiện ñại Đặc biệt thông qua cách

dẫn thoại phong phú của cây bút trên mà chúng ta phần nào thấy ñược lối viết,

cách nhận thức sự việc và cách sử dụng, phát triển ngôn ngữ văn xuôi của các

nhà văn trẻ Việt Nam, từ Trần Thuỳ Mai ñến Nguyễn Thị Thu Huệ, ñến Võ Thị

Hảo và Phan Thị Vàng Anh, bốn cây bút nữ cũng một thời ñại nhưng thuộc các

lớp khác nhau Trần Thuỳ Mai là lớp trước rồi ñến Nguyễn Thị Thu Huệ, rồi Võ

Thị Hảo, Phan Thị Vàng Anh Mỗi người một phong cách riêng, nhưng thông

qua các ñoạn ñộc thoại nội tâm trong các tác phẩm của bốn cây bút này, chúng

ta vẫn có thể thấy ñược phần nào sự phát triển của ngôn ngữ ñộc thoại nội tâm

nói riêng và sự phát triển của ngôn ngữ văn xuôi Việt Nam nói chung Và từ góc

ñộ của ngôn ngữ học mà nói thì ngòi bút của Trần Thuỳ Mai, Nguyễn Thị Thu

Huệ, Phan Thị Vàng Anh là những ngòi bút khá ñộc ñáo, linh hoạt, cuốn hút và

ñầy triển vọng

2.3.3 Các cách th ức kết thúc các ñoạn ñộc thoại nội tâm

Cũng như cách thức nhập ñề, cách thức kết thúc các ñoạn ñộc thoại nội

tâm cũng tuỳ thuộc vào ý ñồ của mỗi tác giả trong tác phẩm cụ thể

Khi khảo sát 27 truyện ngắn, chúng tôi thấy có nhiều ñoạn ñộc thoại nội

tâm ở tác phẩm của Trần Thuỳ Mai, Nguyễn Thị Thu Huệ, Võ Thị Hảo ñều có

cách kết thúc mang tính ñộc lập tương ñối Nhiều ñoạn ñộc thoại nội tâm không

Trang 37

phải là ñộc thoại nội tâm thuần tuý mà có chứa ngôn từ nửa trực tiếp và bình

luận ngoại ñề Và không phải lúc nào ngôn từ của nhân vật cũng ñược bộc lộ

trực tiếp mà thường xen lẫn lời kể, lời bình của tác giả Điều này gây khó khăn

cho việc xác ñịnh ñâu là lời ñộc thoại nội tâm, lời kể chuyện Tuy nhiên sự xen

kẽ ñó lại hợp lí, hợp với logic kể chuyện

Ví dụ71: Khi người ta bới ñược hai mẹ con lên từ tảng ñất ñen to bằng

nửa gian nhà, môi vợ lão ñã bị một hòn sỏi nhỏ chặn vào mép bà nhếch lên như

trong một cái cười ngạc nhiên “Tại sao?” Tại sao?” Cái cười ñó ñã ám ảnh

lão suốt cuộc ñời Tại sao, và tại sao chứ, tại sao phải chết ñau ñớn trong khi

ñang uống nước chè xanh, chết lạc hồn lạc vía dưới một tảng ñất

ñen?”[T26;144,145] Chẳng hạn ,trong ñoạn trên,những câu như: “Tại sao?”

Tại sao?” Cái cười ñó ñã ám ảnh lão suốt cuộc ñời Tại sao, và tại sao chứ, tại

sao phải chết ñau ñớn trong khi ñang uống nước chè xanh, chết lạc hồn lạc vía

dưới một tảng ñất ñen?” ta khó xác ñịnh ñược là lời của nhân vật hay lời của tác

giả Phải ñọc kĩ ta mới nhận ra ñó là lời bình của tác giả ñược thể hiên dưới dạng

câu hỏi , trong cách kết mở, nhằm nhấn mạnh nỗi ñau chiến tranh trong quá khứ

còn ám ảnh ñến cuộc sống hiện tại của nhân vật Lão Nhát

Trong truyện ngắn trước ñây, lời ñộc thoại trong các ñoạn ñộc thoại nội tâm

thường ñược rút ra từ một loại sự tình, nằm ở vị trí cuối ñoạn ñộc thoại có giá trị

kết thúc ñoạn văn

Ví dụ72: Một lát sau, Ninh nghĩ thương em quá, Ninh lại ñi tìm dong,

nhưng hết Ninh moi củ ráy, ráy nước, ăn ngứa lắm Nhưng ñói còn biết gì là

ngứa? Ninh ñem về ăn ráy nước Đật ăn tợn lắm, chẳng thấy kêu ca gì cả Ninh

rơi nước mắt Ninh dặn em “Từ giờ ñừng ăn cơm nhà thằng Chúc nữa” Đật gật

ñầu Thế mà hôm nay nó lại lần sang nhà bác Vụ Có bực mình hau không? [Từ

ngày m ẹ chết”, trang 299, tập I, Nam Cao]

Còn truyện ngắn ngày nay, lời ñộc thoại không nhất thiết phải nằm ở cuối

ñoạn mà nó có thể trực tiếp ở ngay ñầu ñoạn, không cần thông qua lời kể về một

loạt những sự tình ở ñằng trước Và như vậy cách kết ở truyện ngắn hiện nay

cũng có thể không ñơn thuần là lời ñộc thoại nội tâm trực tiếp của nhân vật, mà

Trang 38

ñó có thể là giọng ñiệu bình luận ngoại ñề mang tính triết lí của tác giả Ví dụ73:

Thế nào nhỉ? Bốn mươi tuổi, tôi ñã có gì cho mình Tiền tài thì vớ vẩn, chỉ ñủ ăn

và giữ một cuộc sống ñạm bạc(…)Không có cái gì trong tay mình là nhất

cả”.[T12;301] Ngay phát ngôn mở ñầu ñoạn ñã xuất hiện dòng suy nghĩ trực

tiếp ñược thể hiện bằng chính ngôn ngữ, giọng ñiệu của nhân vật, ñến phát ngôn

kết thúc ñoạn thì ngôn ngữ nhân vật lại lẫn vào giọng ñiệu triết lí của tác giả

Thông thường thì các ñoạn ñộc thoại nội tâm có một kết thúc tương ñối

ñộc lập với các sự tình khác trong truyện Tuy nhiên ñể tạo mối quan hệ chặt chẽ

giữa các ñoạn văn trong một văn bản và ñể cuốn hút ñộc giả theo những suy

tư, trăn trở của nhân vật, hồi hộp với những biến cố,sự tình sảy ra với nhân vật,

các tác giả lại hay xây dựng các kết cấu mở ở các ñoạn văn ñối thoại, kết thúc

mà như không có kết thúc hoặc kết thúc bằng một câu lửng Những ñoạn văn

ñối thoại nội tâm có kết cấu mở như :

Ví dụ74: Con tôi lớn thật rồi Sao ñến bây giờ tôi mới biết ñiều ñó nhỉ?

Những người ñàn ông ñi qua tôi như thể bất chợt họ gặp họ gặp cơn mưa rào

mà họ thì không mang vải nhựa ñể che Tôi là một cái hiên rộng ñể họ có thể

chạy vào ñó, yên tâm, tưng hửng chờ cơn mưa qua Rồi về nhà Hóa ra lâu nay,

tôi ñi ñường tôi, còn con gái thì tự tìm một ñường mà ñi Liệu nó có ñi lại con

ñường của tôi không nhỉ?” [T12;305]

Ví dụ75: Nếu có phép lạ ñến, cô sẽ hiện ra trước mắt anh với hình dạng ra

sao ñây? Với một thân hình tàn tạ bơ phờ, mát mộng du tay cầm cành liễu? Hay

với bộ quần áo nâu sòng, tay chắp trước ngực: “A di ñà! Phật!” ? Hay một bà

chủ sang trọng tay ñầy xuyến nhẫn? Hay một phóng viên tài năng vừa từ Sài

Gòn bay ra? [T22;109]

Ví dụ76: Cái nhìn xoáy buốt làm tôi nhận ra chị thật ñẹp, khuôn mặt trái

xoan, nước da rời rợi trắng - không hiểu sao người như thế mà chồng nỡ chê

bỏ? [T5;34]

Ví dụ77: Tôi thầm Nghĩ: “Nếu mình mà hồng hào, hơn” Thêm một chút

một chút một chút phấn chẳng hạn, mới có thể gọi là xinh.Thế, nhưng mà kim

Trang 39

Qua khảo sát, chúng tôi cũng nhận thấy ở các ñoạn ñộc thoại có kết thúc

mở thì phát ngôn ñộc thoại ở cuối ñoạn thường là một câu khẳng ñịnh, câu luận

và thường gặp nhất là câu hỏi Điều nạy tạo nên sự chú ý của ñộc giả, khiến ñộc

giả như bị cuốn ñi theo diễn biến tâm lý của nhân vật Các ñoạn ñộc thoại có kết

thúc mở buộc ñộc giả phải suy nghĩ, tự ñánh giá về nhân vật hoặc những diễn

biến tiếp theo của sự tình Điều này cũng tạo nên sự lôi cuốn với ñộc giả Nhìn

từ góc ñộ ngôn ngữ học thì ñó là một sự sắp ñặt chủ quan của các tác giả nhằm

miêu tả, lý giải mọi khía cạnh phong phú của tâm lý con người trước cuộc sống

hiện ñại xô bồ cùng các mối quan hệ, những diễn biến phức tạp trong cuộc sống

ấy Những ñoạn ñộc thoại nôi tâm có kết thúc là một câu lửng như:

Ví dụ78: Sao thế hả con? Con lú mất rồi Tôi phải làm gì bây giờ hả trời?

Không phải con ñáng chấp chừng ở miệng vực nữa mà ñang ở trong lòng vực

rồi Bao giờ thì xuống ñáy? [T12;313]

Ví dụ79:Thôi, xong rồi Con gái tôi thành ñàn bà mất rồi Cái mặt nó ngây

dại vì hạnh phúc, và ánh mắt nó như người có lỗi, ngượng ngùng và ñờ ñẫn

Đấy là ánh mắt của tôi mười mấy năm về trước Lúc ấy, tôi như ñi trên chín

tầng mây mười tầng gió Tôi không nhìn thấy ai hết, không biết gì hết ngoài việc

là tôi ñang hạnh phúc Tôi vừa bước vào một thiên ñường của ñời người mà anh

- người ñàn ông ñầu tiên trong ñời ñã mở cho tôi và dìu tôi vào ñó Người ñàn

ông ñó, vừa mở cửa ñể cho tôi kịp nhìn thấy những vòng hào quang của nỗi ñam

mê thì lập tức, sau ñó sáu tháng, anh ta dẫn tôi ñến một cái hang sâu hun hút và

ñẩy tôi vào ñó Đến tận bây giờ…

[T12;308]

Khi kết thúc các ñoạn ñộc thoại nôi tâm bằng các câu lửng, vô nhân xưng

như vậy, các tác giả ñều có mục ñích cụ thể Như trong các ñoạn trên, Nguyễn

Thị Thu Huệ sử dụng những câu lửng, vô nhân xưng ở cuối ñoạn nhằm thể hiện

tâm lý tuyệt vọng, lo lắng và cả nỗi ñau ñớn xót xa của người mẹ khi thấy cuộc

ñời con gái có nguy cơ lặp lại như cuộc ñời ñau khổ, bị lừa gạt trong tình yêu

Trang 40

như chính mình Điều ñó khiến cho nỗi ñau của người mẹ càng bị kéo dài ra,

càng xoáy sâu hơn bao giờ hết

Ngoài những cách kết thúc trên, chúng ta không thể không nhắc ñến cách

kết thúc như không có kết thúc ở những ñoạn ñộc thoại nội tâm của Phan Thị

Vàng Anh.Xuất phát từ kết cấu khá ñặc biệt ở các ñoạn ñộc thoại nội tâm mà

Phan Thị Vàng Anh ñã sử dụng, ñó là trong phát ngôn ñộc thoại của nhân vật về

ẩn chứa tính chất ñối thoại, giọng ñiệu trong lời ñộc thoại của nhân vật như bị xẻ

ñôi thành hai giọng ñối nghịch bên trong Nói như M Bakhtin thì: “trong ý thức

bản ngã của nhân vật ñã có ý thức về người khác mà bó xâm nhập vào” Đây là

xu hướng phức ñiệu, ña thanh của tiểu thuyết, truyện hiện ñại Truyện của Phan

Thị Vàng Anh có nhiều dấu hiệu sử dụng nhiều giọng ñiệu giống như ñối thoại

ngầm trong ñộc thoại, những lời lẽ của cùng một nhân vật lại mang tính ñịnh

hướng ngược chiều ở phía người nghe Nhân vật ñộc thoại sợ người nghe hiểu

lầm mình, nên rào trước ñón sau, giải thích:

Ví dụ 80:Mười giờ ñêm, khách ñã bắt ñầu lục ñục ra về, em ñã bắt ñầu ngáp

vặt, (chúng mình thân nhau quá mà, ñiều này ñâu còn phải là cái ñể gọi là “xúc

phạm nhau” như hồi mới quen cách ñây hai năm!)[T16]

Ví dụ81: Em cũng nghi lắm (kinh thật, sao em có thể chịu ñựng ñược tình

trạng phập phồng này trong suốt hai năm nhỉ?)…[T16]

Rõ ràng trong những ñoạn ñộc thoại trên,kết thúc ñoạn chính là lời giải

thích, lời ñối thoại ngầm ñặt trong ngoặc ñơn Cách kết thúc như vậy tạo nên sự

phong phú sinh ñộng cho việc thể hiện tâm lý và khiến câu văn sôi sục hẳn lên

Đồng thời cách kết này cũng khiến người ñọc nghĩ ngay tới những ñoạn tiếp

theo nối liền như dòng ý thức Bởi những lời ñộc thoại kiểu trên có thể xuất hiện

ở ngay những diến biến chi tiết nhỏ nhặt của ñời thường: Sau cái ngáp vặt, sau

một câu nói của người khác… chứ không cần phải xuất hiện sau những sự kiện,

những tình huống quan trọng

Sự ñổi mới này suy cho cùng chính là nhằm mục ñích mở rộng khả năng

miêu tả tâm hồn con người sâu sắc hơn, chi tiết hơn, trực tiếp và thuyết phục

hơn

2.4 Tần số xuất hiện các ñoạn ñộc thoại nội tâm trong 27 tác phẩm của bốn

cây bút nữ: Trần Thuỳ mai, Nguyễn Thị Thu Huệ, Pham Thị Vàng Anh, Võ

Thị Hảo

Ngày đăng: 02/12/2015, 08:35

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hỡnh thức thể hiện cũng như cỏch thức tổ chức phỏt ngụn trong cỏc ủoạn -  Khảo sát ngôn ngữ ñộc thoại nội tâm trong 27 truyện ngắn của bốn cây bút nữ: Trần Thuỳ Mai, Nguyễn Thị Thu Huệ, Phan Thị Vàng Anh, Võ Thị Hảo
nh thức thể hiện cũng như cỏch thức tổ chức phỏt ngụn trong cỏc ủoạn (Trang 19)
Bảng thống kê cấu trúc câu hỏi). -  Khảo sát ngôn ngữ ñộc thoại nội tâm trong 27 truyện ngắn của bốn cây bút nữ: Trần Thuỳ Mai, Nguyễn Thị Thu Huệ, Phan Thị Vàng Anh, Võ Thị Hảo
Bảng th ống kê cấu trúc câu hỏi) (Trang 24)
Hỡnh  như  anh  ủó  nghe  bài  hát  này  ở  góc  một  cánh  rừng  trụi  lá,  bên  một  con  suối nhỏ, trong vắt -  Khảo sát ngôn ngữ ñộc thoại nội tâm trong 27 truyện ngắn của bốn cây bút nữ: Trần Thuỳ Mai, Nguyễn Thị Thu Huệ, Phan Thị Vàng Anh, Võ Thị Hảo
nh như anh ủó nghe bài hát này ở góc một cánh rừng trụi lá, bên một con suối nhỏ, trong vắt (Trang 67)
Hỡnh như ai trong ủời  cũng  ủó  từng  ủặt  chân  tới  ủú(…)  Rồi -  Khảo sát ngôn ngữ ñộc thoại nội tâm trong 27 truyện ngắn của bốn cây bút nữ: Trần Thuỳ Mai, Nguyễn Thị Thu Huệ, Phan Thị Vàng Anh, Võ Thị Hảo
nh như ai trong ủời cũng ủó từng ủặt chân tới ủú(…) Rồi (Trang 77)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w