viii TÓM LƯỢC Đề tài “Ảnh hưởng của các mức năng lượng khác nhau lên năng suất và khối lượng trứng gà đẻ Hisex Brown 43 – 48 tuần tuổi”, được bố trí theo thể thức hoàn toàn ngẫu nhiên vớ
Trang 1Cần Thơ, 2014
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC MỨC NĂNG LƯỢNG KHÁC NHAU LÊN
NĂNG SUẤT VÀ KHỐI LƯỢNG TRỨNG
GÀ ĐẺ HISEX BROWN 43 – 48 TUẦN TUỔI
Luận văn tốt nghiệp
Ngành: CHĂN NUÔI – THÚ Y
VÕ THỊ HUYỀN
Trang 2Tên đề tài:
ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC MỨC NĂNG LƯỢNG KHÁC NHAU LÊN
NĂNG SUẤT VÀ KHỐI LƯỢNG TRỨNG
GÀ ĐẺ HISEX BROWN 43 – 48 TUẦN TUỔI
Luận văn tốt nghiệp Ngành: CHĂN NUÔI - THÚ Y
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
Sinh viên thực hiện:
Võ Thị Huyền MSSV: 3118088 Lớp: CN K37A
Giáo viên hướng dẫn:
Ts Nguyễn Thị Thủy
Cần Thơ, 2014
Trang 3Tên đề tài:
ẢNH HƯỞNG CÁC MỨC NĂNG LƯỢNG KHÁC NHAU LÊN
NĂNG SUẤT VÀ KHỐI LƯỢNG TRỨNG
GÀ ĐẺ HISEX BROWN 43 – 48 TUẦN TUỔI
Luận văn tốt nghiệp Ngành: CHĂN NUÔI – THÚ Y
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
Trang 4i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân Các số liệu, kết quả trình bày trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình luận văn nào trước đây
Tác giả luận văn
Võ Thị Huyền
Trang 5ii
LỜI CẢM TẠ
Sau thời gian thực tập, em đã hoàn thành xong luận văn tốt nghiệp, để hoàn thành luận văn này, ngoài nổ lực học hỏi của bản thân còn có sự giúp đỡ của các cô, chú, anh, chị trong trại gà đẻ thương phẩm ở xã Tân Phú, huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long
Đầu tiên, em xin chân thành cảm ơn quí Thầy, Cô Khoa Nông Nghiệp và Sinh học ứng dụng đã tận tình giảng dạy trong suốt thời gian học tại trường, để
em có được những kiến thức chuyên ngành cùng những kiến thức thực tiễn quý báu, làm hành trang thật vững trước khi bước vào đời Đặc biệt, em xin cảm ơn cô Nguyễn Thị Thủy đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo để em có thể hoàn thành thật tốt đề tài tốt nghiệp của mình
Em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các cô, chú, anh, chị trong trại chăn nuôi đã tận tình giúp đỡ và tạo điều kiện cho em được thực hiện đề tài, thực tập để em có được kiến thức thực tế giúp cho em hoàn thành đề tài tốt nghiệp của mình
Cuối cùng, em xin kính chúc Thầy, Cô Khoa Nông Nghiệp và Sinh học ứng dụng cùng các cô, chú, anh, chị tại trại dồi dào sức khỏe và luôn thành công trong công việc Em xin chân thành cảm ơn!
Ngày……tháng……năm 2014 Sinh viên thực hiện
Võ Thị Huyền
Trang 6iii
MỤC LỤC
Trang
Lời cam đoan i
Lời cảm tạ ii
Mục lục iii
Danh sách chữ viết tắt v
Danh sách bảng vi
Danh sách hình vii
Tóm lược viii
Chương 1 Giới thiệu 1
Chương 2 Lược khảo tài liệu 2
2.1 Giới thiệu sơ lược giống gà Hisex Brown 2
2.2 Nhu cầu dinh dưỡng của gà công nghiệp chuyên trứng 5
2.2.1 Nhu cầu năng lượng 5
2.2.2 Nhu cầu protein 9
2.2.3 Nhu cầu lipid 10
2.2.4 Vai trò của vitamin và khoáng chất 11
2.2.4.1 Vai trò của vitamin 11
2.2.4.2 Vai trò của khoáng chất 11
2.3 Vai trò của chất béo trong dinh dưỡng gà đẻ 12
2.4 Qui trình nuôi gà đẻ công nghiệp 14
2.4.1 Quy trình chọn lọc gà đẻ trứng thương phẩm 14
2.4.2 Quy luật của sự đẻ trứng 15
2.5 Chỉ tiêu về chất lượng trứng 16
2.6 Ảnh hưởng của năng lượng đến năng suất và khối lượng trứng 17
Chương 3 Phương tiện và phương pháp thí nghiệm 20
3.1 Phương tiện thí nghiệm 20
3.1.1 Thời gian thí nghiệm 20
3.1.2 Địa điểm thí nghiệm 20
Trang 7iv
3.1.3 Động vật thí nghiệm 20
3.1.4 Trại nuôi gà và dụng cụ thí nghiệm 20
3.1.5 Thức ăn cho gà thí nghiệm 21
3.1.6 Nước uống cho gà thí nghiệm 22
3.1.7 Quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng 22
3.1.8 Quy trình phòng bệnh ở trại 23
3.2 Phương pháp thí nghiệm 23
3.2.1 Bố trí thí nghiệm 23
3.2.2 Các chỉ tiêu theo dõi 24
Chương 4 Kết quả và thảo luận 27
4.1 Nhận xét chung về đàn gà thí nghiệm 27
4.2 Kết quả thí nghiệm 27
4.2.1 Ảnh hưởng của các khẩu phần thí nghiệm lên năng suất trứng của gà thí nghiệm 27
4.2.2 Ảnh hưởng của các khẩu phần thí nghiệm đến số lượng ăn vào của gà thí nghiệm 31
4.2.3 Ảnh hưởng của các khẩu phần thí nghiệm lên tăng trọng và tỷ lệ trứng loại của gà thí nghiệm 33
4.2.4 Ảnh hưởng của các khẩu phần thí nghiệm lên chất lượng trứng 34
4.2.5 Hiệu quả kinh tế nuôi gà đẻ Hisex Brown của các nghiệm thức 35
Chương 5 Kết luận và đề xuất 38
5.1 Kết luận 38
5.2 Đề xuất 38
Tài liệu tham khảo 39
Phụ chương 41
Trang 8ME2750 Nghiệm thức có mức năng lượng 2750 kcal/kg thức ăn ME2850 Nghiệm thức có mức năng lượng 2850 kcal/kg thức ăn ME2950 Nghiệm thức có mức năng lượng 2950 kcal/kg thức ăn
Trang 9vi
DANH SÁCH BẢNG
Bảng 2.1 Lượng thức ăn ăn vào, khối lượng chuẩn và thời gian chiếu sáng đối
với gà Hisex Brown 3
Bảng 2.2 Nhu cầu dinh dưỡng của gà đẻ Hisex Brown 4
Bảng 2.3 Tỷ lệ đẻ và khối lượng trứng chuẩn của gà Hisex Brown 5
Bảng 2.4 Khả năng tiêu hóa của chất béo và năng lượng của một vài loại chất béo 12
Bảng 2.5 Nguồn acid béo quan trọng 14
Bảng 2.6 Những đặc điểm bên ngoài của gà hậu bị đẻ tốt và đẻ kém 14
Bảng 2.7 Những đặc điểm bên ngoài của gà mái đẻ tốt và đẻ kém 15
Bảng 3.1 Thành phần hóa học của thức ăn thí nghiệm 22
Bảng 3.2 Chương trình thuốc và vaccin của trại 23
Bảng 3.3 Cách bố trí thí nghiệm 24
Bảng 4.1 Ảnh hưởng của các nghiệm thức lên tỷ lệ đẻ, tiêu tốn thức ăn 27
Bảng 4.2 Ảnh hưởng của các khẩu phần thí nghiệm lên số lượng ăn vào của gà thí nghiệm 32
Bảng 4.3 Ảnh hưởng của các khẩu phần thí nghiệm lên tăng trọng và tỷ lệ trứng loại của gà thí nghiệm 33
Bảng 4.4 Ảnh hưởng của các khẩu phần thí nghiệm lên chất lượng trứng 35
Bảng 4.5 Hiệu quả kinh tế của các nghiệm thức 36
Trang 10vii
DANH SÁCH HÌNH
Hình 2.1 Gà đẻ Hisex Brown 2 Hình 2.2 Biểu đồ sự phân bố năng lượng của thức ăn trong cơ thể gia cầm 6 Hình 3.1 Dãy chuồng và ô chuồng nuôi gà Hisex Brown nuôi thí nghiệm 20 Hình 3.2 Hệ thống bạt nhựa bên ngoài và bên trong 21 Hình 3.3 Tấm làm mát và quạt hút 21 Hình 3.4 Bồn nước đặt ở đầu mỗi trại 22 Hình 4.1 Biểu đồ ảnh hưởng của các khẩu phần thí nghiệm lên khối lượng trứng qua các tuần tuổi 28 Hình 4.2 Biểu đồ ảnh hưởng của các khẩu phần thí nghiệm lên tỷ lệ đẻ trứng qua các tuần tuổi 29 Hình 4.3 Biểu đồ ảnh hưởng của các nghiệm thức lên tỷ lệ đẻ, tiêu tốn thức ăn 31 Hình 4.4 Biểu đồ ảnh hưởng của các khẩu phần thí nghiệm lên sự tiêu thụ dưỡng chất của gà thí nghiệm 32Hình 4.5 Biểu đồ tỷ lệ trứng loại của gà thí nghiệm 34
Trang 11viii
TÓM LƯỢC
Đề tài “Ảnh hưởng của các mức năng lượng khác nhau lên năng suất và khối lượng trứng gà đẻ Hisex Brown 43 – 48 tuần tuổi”, được bố trí theo thể thức hoàn toàn ngẫu nhiên với 3 nghiệm thức (NT) và 10 lần lặp lại, các nghiệm thức như sau:
Nghiệm thức ME2750: Khẩu phần có mức năng lượng 2750 (kcal/kg thức ăn) Nghiệm thức ME2850: Khẩu phần có mức năng lượng 2850 (kcal/kg thức ăn) Nghiệm thức ME2950: Khẩu phần có mức năng lượng 2950 (kcal/kg thức ăn) Mục tiêu của đề tài nhằm xác định ảnh hưởng của các mức năng lượng khác nhau lên năng suất và khối lượng trứng gà Hisex Brown giai đoạn 43 – 48 tuần tuổi, xác định được mức năng lượng thích hợp để mang lại hiệu quả kinh
tế
Thí nghiệm được kéo dài 6 tuần, kết quả như sau:
Về khối lượng trứng: các khẩu phần có các mức năng lượng khác nhau đã không ảnh hưởng lên khối lượng trứng (P>0,05), cụ thể khối lượng trứng ở nghiệm thức ME2750 là (60,46g), ME2850 là (60,74g) và ME2950 là (60,97g)
Về tỷ lệ đẻ: Nghiệm thức ME2750 có tỷ lệ đẻ là (88,15%), ME2850 là (89,05%) và ME2950 là (90,30%), sự khác biệt là không có ý nghĩa thống kê (P>0,05)
Tiêu tốn thức ăn/gà/ngày: Tiêu tốn thức ăn cao nhất ở nghiệm thức ME2750
là (117,35 g/con/ngày), kế đến là nghiệm thức ME2850 (110,53 g/con/ngày)
và thấp nhất là nghiệm thức ME2950 (107,93 g/con/ngày), khẩu phần có mức năng lượng cao hơn thì tiêu tốn ít thức ăn hơn (P<0,01)
Tiêu tốn thức ăn/trứng: không có khác biệt giữa các nghiệm thức (P=0,09), trong đó NT ME2750 (134,33 g/trứng), NT ME2850 (125,18 g/trứng) và NT ME2950 (120,71 g/trứng)
Các chỉ tiêu về chất lượng trứng thì không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê, ngoại trừ tỷ lệ vỏ (P=0,04), cao nhất là ở nghiệm thức ME2750 (12,21%), kế đến là NT ME2950 (11,39%) và thấp nhất là NT ME2850 (11,17%)
Về hiệu quả kinh tế: Lợi nhuận cao nhất ở nghiệm thức ME2950 (363.066 đồng/đợt thí nghiệm) và thấp nhất là nghiệm thức ME2750 (187.750 đồng/đợt thí nghiệm)
Trang 121
CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU
Trong những năm gần đây ngành chăn nuôi nước ta phát triển nhanh cả
về số lượng và chất lượng Nhiều giống gia súc, gia cầm có khả năng cho năng suất cao đã đem lại lợi nhuận cho người chăn nuôi Chăn nuôi đã trở thành nguồn thu nhập chính cho nhiều hộ gia đình Và chăn nuôi gà đang chiếm một
vị trí quan trọng, nó góp phần cung cấp một nguồn thực phẩm rất lớn cho con người Nhu cầu về trứng của người tiêu dùng đã làm gia tăng đáng kể số lượng
gà công nghệp Để chăn nuôi gia cầm thành công thì ngoài việc tạo ra những giống gia cầm mới cho năng suất sinh học cao chưa đủ, mà điều quan trọng là phải tạo ra nguồn thức ăn giàu dinh dưỡng, phù hợp với đặc tính sinh học, mục đích sản xuất và giống gia cầm mới (Lê Cẳm Hiền, 2005)
Đối với yếu tố dinh dưỡng, thành phần chất béo đóng vai trò rất quan trọng trong khẩu phần ăn của gà Đây là nguồn cung cấp năng lượng tuyệt vời cho cơ thể gia cầm và là dung môi để hòa tan các vitamin và sắc tố, giúp cơ thể gia cầm hấp thu thuận tiện Ngoài ra, chất béo còn góp phần làm bớt độ bụi, tạo mùi vị thơm ngon cho thức ăn và tham gia vào quá trình tổng hợp màng tế bào, cung cấp các acid béo thiết yếu
Năng lượng được cung cấp từ việc bổ sung chất béo trong khẩu phần và năng lượng trong các chất dinh dưỡng được biến dổi thành các dạng năng lượng cần thiết cho hoạt động sống của cơ thể là nhờ quá trình trao đổi chất, tất cả năng lượng thừa sẽ không loại khỏi cơ thể mà tích lũy trong mỡ Để giảm chi phí trong quá trình sản xuất chăn nuôi, đem lại hiệu quả kinh tế thì việc nghiên cứu khẩu phần dinh dưỡng của từng giai đoạn nuôi, cụ thể các mức đạm, năng lượng là cần thiết
Xuất phát từ tình hình thực tế trên, đề tài nghiên cứu “Ảnh hưởng của các mức năng lượng khác nhau lên năng suất và khối lượng trứng gà đẻ Hisex Brown 43 – 48 tuần tuổi” được thực hiện
Mục tiêu của đề tài nhằm xác định hiệu quả của việc sử dụng các mức năng lượng khác nhau trong khẩu phần lên năng suất, chất lượng trứng để qua
đó có thể đánh giá được mức năng lượng thích hợp ở giai đoạn thí nghiệm mang lại hiệu quả kinh tế nhất
Trang 132
CHƯƠNG 2 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU
2.1 GIỚI THIỆU SƠ LƯỢC GIỐNG GÀ HISEX BROWN
Nguồn gốc
Gà Hisex Brown được nhập vào Việt Nam năm 1997, có nguồn gốc ở Hà
Lan (Nguyễn Thị Mai và ctv, 2009) được công ty Emivest nhập giống gà bố
mẹ về nuôi nhân giống Gà Hisex Brown bố mẹ được công ty nuôi để sản xuất
gà hậu bị để lấy trứng thương phẩm Gà con sản xuất ra dùng để thả nuôi ở các trang trại nuôi gia công cho công ty và một số để bán ra thị trường
Đặc điểm và ngoại hình
Hisex Brown là giống gà đẻ trứng cao sản, lông con mái màu nâu (Hình 2.1), lông con trống màu trắng Theo Bùi Xuân Mến (2008), gà Hisex Brown đạt ỷ lệ nuôi sống cao 96 – 98% lúc 17 tuần tuổi Mái lúc bắt đầu đẻ nặng 1,7 kg/con Năng suất trứng 290 quả/năm, trứng nặng 60 – 65 g/quả Bình quân 1
kg trứng tiêu tốn 2,36 kg thức ăn; 1 quả cần tiêu thụ 149 g Gà loại thải lúc 78 tuần đạt 2,15 kg
Hình 2.1 Gà đẻ Hisex Brown
Nguồn: http://www.airmarket.strana.de/eng.html
Trang 14Nguồn: Công ty TNHH Emivest Việt Nam, 2010
Nhu cầu dinh dưỡng của gà Hisex Brown qua các tuần tuổi và tỷ lệ đẻ, khối lượng trứng chuẩn được thể hiện qua bảng 2.2 và bảng 2.3
Trang 15+ Cysteine
Tryptophan % 0,23 0,23 0,14 0,15 0,17 0,16 0,15 Threonine % 0,78 0,78 0,49 0,52 0,56 0,53 0,5
Nguồn: Công ty TNHH Emivest Việt Nam, 2010
Trang 165
Bảng 2.3 Tỷ lệ đẻ và khối lượng trứng chuẩn của gà Hisex Brown
Nguồn: Công ty TNHH Emivest Việt Nam, 2010
2.2 NHU CẦU DINH DƯỠNG CỦA GÀ CÔNG NGHIỆP CHUYÊN TRỨNG
2.2.1 Nhu cầu năng lượng
Gia cầm luôn trao đổi năng lượng với môi trường xung quanh và thu nhận năng lượng từ bên ngoài vào trong quá trình sống của nó, vì mọi hoạt động sống đều cần năng lượng Năng lượng cần thiết cho hoạt động sống của gia cầm được lấy từ các chất dinh dưỡng của thức ăn mà nó ăn hàng ngày như:
Carbohydrate, lipid, protein (Nguyễn Thị Mai và ctv, 2009)
Theo NRC (1994) thì năng lượng là nhiệt lượng làm cho 1 gram nước từ 16,50C tăng lên 17,50C, được đo bằng calori
Quy tắc viết tắt: 1000 cal = 1 kcal, 1000 kcal = 1 Mcal
1J = 0,239 cal, 1kJ = 0,239 kcal, 1MJ = 0,239 Mcal
1 cal = 4,184 J, 1kcal = 4,184 kJ, 1 Mcal = 4,184 MJ
Người ta tính toán nhu cầu năng lượng cho gia cầm bằng năng lượng trao đổi (ME) cho một con trong một ngày đêm hay một kilogram thức ăn hỗn hợp, được thể hiện bằng calo (cal), kilocalo (kcal), megacalo(Mcal) hoặc Jun (J), kilojun (kJ), megajun (MJ)
Gia cầm bài tiết phân và nước tiểu chung qua lỗ huyệt, rất khó để tách phân đo lường khả năng tiêu hóa Vì thế giá trị DE thường không sử dụng
trong các công thức thức ăn gia cầm (Bùi Đức Lũng và ctv, 1999)
Trang 176
Năng lượng là một trong những chỉ tiêu quan trọng để đánh giá giá trị dinh dưỡng của thức ăn Năng lượng tỏa nhiệt tùy thuộc vào môi trường nuôi dưỡng, thành phần dinh dưỡng của khẩu phần và trạng thái, chức năng sinh lý
của cơ thể (Vũ Duy Giảng và ctv, 1997) Năng lượng cần thiết cho các hoạt
động sống của cơ thể: tiêu hóa, tuần hoàn, hô hấp, sinh sản, bài tiết và trao đổi chất
Phối hợp khẩu phần cho gia cầm phải đảm bảo đủ nhu cầu năng lượng và cân đối các dưỡng chất như protein, acid amin, khoáng và vitamin…bởi vì gia cầm thu nhận thức ăn trước hết để thỏa mãn nhu cầu về năng lượng Vì vậy, khi chúng nhận đủ năng lượng thì chúng không ăn thêm nữa, mặc dù nhu cầu
các dưỡng chất khác vẫn còn thiếu (Nguyễn Thị Mai và ctv, 2009)
Sự phân bố năng lượng ở gia cầm
Thành phần dưỡng chất thức ăn thay đổi thì sự chuyển hóa năng lượng cũng thay đổi Các yếu tố về loài, đặc điểm di truyền, tuổi, điều kiện môi trường cũng ảnh hưởng đến sự phân bố năng lượng chính xác của thức ăn gia
đẻ trứng, tinh trùng)
ME tiêu hóa (DE) duy trì
Hình 2.2 Biểu đồ sự phân bố của thức ăn trong cơ thể gia cầm
Nguồn: Bùi Đức Lũng và ctv, 1999
Trang 187
Năng lượng trong các chất dinh dưỡng được biến dổi thành các dạng năng lượng cần thiết cho hoạt động sống của cơ thể là nhờ quá trình trao đổi chất, tất cả năng lượng thừa sẽ không loại khỏi cơ thể mà tích lũy trong mỡ
Theo Nguyễn Mạnh Hùng và ctv (1994), nhu cầu năng lượng cho gà có
thể tính theo công thức: ME = 5ΔP + P(170 – 2,2T) +2LE Trong đó: ME là năng lượng trao đổi (Kcal/con/ngày); T là nhiệt độ môi trường (0C); P là khối lượng gà (kg); ΔP là tăng trọng bình quân (g/ngày); L là tỷ lệ đẻ (%); E là khối lượng trứng sản xuất ra (g)
Nhu cầu năng lượng cho duy trì
Nhiệt độ môi trường có ảnh hưởng rất lớn đến nhu cầu năng lượng duy trì ở gia cầm Vì gia cầm không có tuyến mồ hôi nên những ngày có nhiệt độ
cao sẽ làm cho gà thở nhiều và ăn ít (Kakuk và ctv, 1998)
Theo Bùi Xuân Mến (2008) thì nuôi gia cầm cho mục đích sản xuất, trước hết phải nuôi dưỡng để duy trì sự sống, mặc dù chúng có sản xuất hay không Một lượng đáng kể thức ăn tiêu tốn của gia cầm là sử dụng cho duy trì
sự sống Nhu cầu năng lượng để duy trì của gia cầm bao gồm sự trao đổi cơ bản và hoạt động bình thường Trao đổi cơ bản là sự tiêu phí năng lượng tối thiểu hoặc sự sinh nhiệt trong những điều kiện khi ảnh hưởng của thức ăn, nhiệt độ môi trường và hoạt động chủ động bị loại ra Sự sinh nhiệt cơ bản thay đổi theo độ lớn của vật nuôi, nhìn chung thì độ lớn của vật nuôi tăng thì
sự sinh nhiệt cơ bản trên một đơn vị thể trọng giảm Sự sinh nhiệt cơ bản của
gà con mới nở vào khoảng 5,5 calo trên một gam thể trọng trong một giờ, nhưng trái lại đối với gà mái trưởng thành thì chỉ cần phân nửa số năng lượng này
Năng lượng yêu cầu cho hoạt động có thể thay đổi đáng kể, thường được ước tính bằng khoảng 50% của sự trao đổi cơ bản Điều này có thể bị ảnh hưởng bởi những điều kiện chuồng trại cũng như giống gia cầm được nuôi Sử dụng chuồng lồng làm giới hạn các hoạt động sẽ dẫn đến sự tiêu phí năng lượng thấp hơn, khoảng 30% của sự trao đổi cơ bản so với nuôi nền
Mặc dù thực tế những động vật lớn hơn yêu cầu năng lượng duy trì thấp hơn trên một đơn vị thể trọng, nhưng tổng năng lượng cần cho những động vật lớn hơn lại cao hơn nhiều so với vật nhỏ hơn Từ quan điểm thực tiễn cho thấy, một gà mái sản xuất trứng có độ lớn cơ thể nhỏ nhất, đẻ trứng lớn và sức sống cao sẽ có khả năng chuyển đổi thức ăn thành sản phẩm đạt hiệu quả nhất,
vì tiêu phí năng lượng duy trì thấp
Trang 198
Lượng thức ăn gia cầm tiêu thụ có liên quan trước hết đến nhu cầu năng lượng của gia cầm trong thời gian này Khi các chất dinh dưỡng khác có đủ lượng trong thức ăn thì khả năng tiêu thụ thức ăn được xác định trước tiên dựa trên mức năng lượng của khẩu phần Mức tiêu thụ năng lượng của gia cầm hàng ngày có thể đo bằng kilocalo năng lượng trao đổi thì chắc chắn sẽ ổn định hơn là tổng lượng thức ăn tiêu thụ, nếu trong khẩu phần có chứa các mức năng lượng khác nhau (Bùi Xuân Mến, 2008)
Nhu cầu năng lượng cho sinh trưởng
Theo Bùi Xuân Mến (2008), tốc độ tăng trưởng tốt có thể đạt được với một biên độ của các mức năng lượng Nhìn chung tốc độ tăng trưởng tối đa sẽ không đạt được với khẩu phần khởi động cho gà và gà tây con có mức năng lượng dưới 2640 Kcal ME/kg Gà thịt thường được cho ăn mức năng lượng cao hơn gà hậu bị thay thế Thực tế sản xuất cho thấy, khẩu phần khởi động cho gà con làm gà hậu bị thay thế từ 2750 đến 2970 kcal/kg, ngược lại khẩu phần khởi động của gà thịt lại chứa mức năng lượng cao hơn, trong phạm vi
từ 3080 đến 3410 kcal/kg
Nhu cầu năng lượng cho sản xuất trứng
Theo Nguyễn Mạnh Hùng và ctv (1994), nhu cầu năng lượng để sản xuất
1 quả trứng là:
Trong đó: P là khối lượng của trứng (g); 1,6 là giá trị năng lượng của 1 g trứng; 0,8 là hiệu quả sử dụng năng lượng cho sản xuất trứng
Theo Bùi Xuân Mến (2008) năng lượng thuần cần cho một mái đang có
tỷ lệ đẻ cao gồm năng lượng tiêu phí cho duy trì và năng lượng dự trữ trong trứng Gà mái có khả năng thay đổi mức tiêu thụ thức ăn theo mức năng lượng trong khẩu phần Tuy nhiên mức năng lượng tối thiểu trong khẩu phần cho gà
đẻ không thể dưới mức 2640 Kcal ME/kg Khi gà mái phải chịu đựng trong môi trường lạnh thì mức năng lượng không thể thấp hơn 2750 Kcal ME/kg Thường thì mức năng lượng thực trong khẩu phần sẽ tùy thuộc nhiều vào mức
độ của giá thức ăn trong thực tế sản xuất
Theo Dương Thanh Liêm (2003) đặc trưng của gia cầm là không có vùng nhiệt độ trung hòa rõ rệt Khi nhiệt độ môi trường tăng lên hay giảm thấp thì chúng ăn thức ăn ít hay nhiều lên Nếu dựa vào trao đổi chất cơ bản (hay nhiệt
P × 1,6
0,8
MEsxt =
Trang 209
lượng tỏa ra do phân giải lúc đói) với công thức tính của Brody thì nhu cầu cho duy trì phải cao hơn 20% nhu cầu trao đổi chất cơ bản
2.2.2 Nhu cầu protein
Nhu cầu protein của gia cầm của gia cầm chính là yêu cầu các acid amin không thay thế (acid amin thiết yếu) Nhu cầu protein trong khẩu phần cũng chính là nhu cầu về các acid amin có mặt trong protein thức ăn, acid amin từ các protein trong khẩu phần của gia cầm được sử dụng vào nhiều chức năng (NRC, 1994)
Protein rất cần thiết cho sự sống Trao đổi protein xảy ra ngay cả khi cơ thể động vật không nhận được protein từ thức ăn Nhu cầu protein cho duy trì
sự sống được xác định từ giá trị trao đổi chất của cơ thể và mối tương quan chặt chẽ với nhu cầu năng lượng cho quá trình trao đổi cơ bản Trung bình 1 kcal năng lượng trao đổi cơ bản tạo ra được 2 mg N nội sinh trong nước tiểu Trong cơ thể động vật nói chung và cơ thể gia cầm nói riêng, protein không thể tổng hợp từ glucid mà phải lấy protein từ thức ăn đưa vào hàng ngày với
số lượng đầy đủ và theo một tỷ lệ thích hợp theo nhu cầu của cơ thể (Bùi Đức
Lũng và ctv, 1995)
Các protein trong cơ thể diễn ra quá trình đồng hóa và dị hóa liên tục dẫn đến nhu cầu được đáp ứng một lượng đủ acid amin trong khẩu phần (NRC, 1994) Nếu khẩu phần thiếu hụt protein (acid amin) sẽ gây ra việc giảm hay ngừng tăng trưởng, để duy trì các chức năng của nhiều mô quan trọng thì cơ thể sẽ lấy nguồn acid amin ở các mô không quan trọng như cơ để bù đắp Nhu cầu protein cho duy trì
Theo Vũ Duy Giảng và ctv (1997), nhu cầu protein cho duy trì có thể
tính theo công thức:
Trong đó, 0,0016: 1 g thể trọng gia cầm tương ứng với 0,0016 g protein
0,55: hiệu quả sử dụng protein thức ăn thành protein cơ thể gia cầm là 55% Nhu cầu protein cho tăng trưởng
Sự phát triển của gà gắn liền với sự tích lũy protein trong cơ thể chúng
Sự tích lũy xảy ra nhanh ở gia cầm non, sau đó giảm dần theo lứa tuổi Theo
Nhu cầu duy trì =
0,0016 × Thể trọng (g)
0,55
Trang 2110
Bùi Đức Lũng và ctv (1995), nhu cầu protein cho tăng trưởng của gà có thể
tính theo công thức:
Trong đó: Prtt là nhu cầu protein cho tăng trưởng (g); Wo là khối lượng
cơ thể lúc ban đầu; Wc là khối lượng cơ thể lúc kết thúc; 0,18 là hàm lượng protein trong thịt; 0,64 là hệ số sử dụng protein
Nhu cầu protein cho sản xuất trứng
Theo Bùi Xuân Mến (2008), trong thời kỳ đầu của sản xuất trứng, gà mái đang còn tăng trọng nên chúng cần tích lũy protein cho cơ thể và cho sản xuất trứng Sau đó nhu cầu protein của tăng trọng giảm xuống nhưng độ lớn của trứng lại tăng lên Để có thể tạo ra được những trứng lớn và đạt tỷ lệ đẻ tối
đa, một gà mái một ngày cần phải tiêu thụ 17 g protein (cân đối các acid amin)
2.2.3 Nhu cầu lipid
Theo Dương Thanh Liêm (2003) thì chất béo là nguồn cung cấp năng lượng cao cho gia cầm Xu hướng trong dinh dưỡng người trên thế giới, người
ta sử dụng dầu thực vật, nên mỡ động vật ngày càng ít được sử dụng Số lượng
mỡ dư này được dùng để làm giàu năng lượng trong thức ăn gia cầm vốn có nhu cầu năng lượng cao hơn các loại thú khác
Năng lượng đốt cháy trong cơ thể của chất béo cao gấp 2 – 2,5 lần so với bột đường và chất protein Năng lượng tỏa nhiệt khi chuyển hóa chất béo ít hơn chuyển hóa chất đạm và chất bột đường nên trong mùa hè giải quyết năng lượng bằng chất béo cho gà tốt hơn chất bột đường và protein (Dương Thanh Liêm, 1999)
Trong thức ăn hỗn hợp cho gà, thành phần chất béo không nhiều nhưng không thể thiếu Hầu hết các lipid thực vật đều có chứa các tỷ lệ khác nhau hai loại chất béo, là acid béo bão hòa và acid béo chưa bão hòa Trong đó các acid béo chưa bão hòa như acid linoleic, acid linolenic, acid arachidonic, đây là những acid béo thiết yếu cho cơ thể gà Các tổ hợp gà đẻ đang nuôi tại Việt Nam thường dùng 1 – 1,6% acid linoleic trong thức ăn Trong giai đoạn sắp đẻ
và đang đẻ trước đỉnh cao, tỷ lệ acid linoleic được dùng tối đa (Võ Bá Thọ, 1996) Nhu cầu acid linoleic cho gà đẻ/ngày là 250 mg acid linoleic trong thức
ăn hỗn hợp Ở độ tuổi khác nhau, trong thức ăn của gà nên tối thiểu từ 0,8 –
Wc – Wo
0,64
× 0,18 Prtt =
Trang 2211
1% acid linoleic, đối với gà cao sản phải tối thiểu 1,5% acid linoleic, acid béo thiết yếu phải đáp ứng đủ 3 – 4% giá trị năng lượng của khẩu phần
2.2.4 Vai trò của vitamin và khoáng chất
2.2.4.1 Vai trò của vitamin
Vitamin được phân loại theo hai nhóm: vitamin tan trong chất béo (A, D,
E, K) và các vitamin tan trong nước bao gồm các vitamin B – complex và vitamin C Vitamin C được tổng hợp trong cơ thể gia cầm nên nó không được xem là chất dinh dưỡng cần có trong khẩu phần Theo NRC (1994) thì vai trò của các vitamin được trình bày như sau:
Vitamin A: cần cho việc bảo vệ niêm mạc của cơ thể chống lại sự xâm nhập của mầm bệnh Thiếu vitamin A gà có biểu hiện khô da, khô lông, viêm kết mạc mắt, gà còi cọc, rối loạn thần kinh gà chết ồ ạt như bị dịch Gà mái đẻ giảm, trứng ấp nở kém
Vitamin D: là tác nhân chống còi xương Thiếu vitamin D3 gà chậm lớn, xương bị biến dạng, gà giảm đẻ, vỏ trứng mềm, tỷ lệ ấp nở giảm
Vitamin E: cần cho khả năng sinh sản Thiếu vitamin E gà trống bị teo dịch hoàn, gà mái bị thoái hóa buồng trứng, khả năng thụ tinh ấp nở giảm hoặc mất hẳn
Vitamin B1: là tác nhân chống phù thủng, viêm thần kinh, đóng vai trò quan trọng trong trao đổi chất bột đường
Vitamin B2: là tác nhân quan trọng cho quá trình oxy hóa của tế bào, chống rối loạn thần kinh, đảm bảo tỷ lệ đẻ Thiếu vitamin B2 gà chậm lớn, nếu
bị nặng thì bị liệt, run rẩy và chết trong 3 tuần đầu tiên
Vitamin B6: cần cho quá trình trao đổi chất đạm, chất béo để phát triển
cơ thể, chống viêm da
Vitamin B12: rất quan trọng trong cấu tạo máu, tổng hợp các protid tế bào, thúc đẩy quá trình sinh trưởng bình thường của cơ thể, mọc lông, đảm bảo tỷ lệ ấp nở của trứng
Vitamin K: là nhân tố làm đông máu, chống chảy máu
Vitamin C: làm tăng sức đề kháng cho gia cầm với các yếu tố stress hoặc
bị bệnh và tránh tình trạng vỏ trứng bị mỏng
2.2.4.2 Vai trò của khoáng chất
Trang 2312
Khoáng rất cần thiết đối với gia cầm và tùy theo nhu cầu đối với cơ thể
mà khoáng được chia làm hai loại là các nguyên tố đa lượng và các nguyên tố
vi lượng
Theo Dương Thanh Liêm (2003) vai trò chủ yếu của khoáng đa lượng là xây dựng bộ xương, tham gia vào các chức năng sinh lý quan trọng để duy trì tình trạng bình thường của cơ thể, đồng thời cũng tham gia vào cấu tạo nên sản phẩm như thịt, trứng
2.3 VAI TRÒ CỦA CHẤT BÉO TRONG DINH DƯỠNG GÀ ĐẺ
Gia cầm có khả năng chịu nhiệt rất kém Khi gà bị stress nhiệt thì lưu lượng máu đến hệ thống tiêu hóa giảm dẫn đến việc hấp thu chất dinh dưỡng trong thức ăn kém hiệu quả Bên cạnh đó, nếu gà ăn khẩu phần có chứa nhiều chất béo sẽ tăng tích lũy mỡ, làm gà tăng cân Cung cấp khẩu phần giảm về số lượng nhưng đầy đủ acid béo thiết yếu để tổng hợp acid béo ở gan sẽ làm tăng khối lượng lòng đỏ của trứng (Whitehead, 1981; March & MacMillan, 1990) Khi lượng thức ăn giảm, sự gia tăng acid béo thiết yếu giúp gà mái duy trì sự
hình thành trứng trong khi giảm thiểu nhiệt sinh ra (Valencia và ctv., 1980)
Khi phân hủy 1g lipid sẽ có 9,3 kcal được giải phóng Sự oxy hóa hoàn toàn 100g lipid sẽ cho 107g nước Lipid đặc biệt là lipid dưới da thường dẫn nhiệt rất kém, cho nên có hạn chế sự tỏa nhiệt và bảo vệ cơ thể khỏi bị lạnh Lipid cần thiết cho sự tạo thành trứng gia cầm Theo Dương Thanh Liêm (1999), chất béo trong thức ăn cũng có ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm, nếu thức ăn có nhiều acid béo chưa no thì mỡ động vật lỏng, ngược lại thiếu acid béo chưa no thì mỡ cứng Chất béo là nguồn cung cấp năng lượng và khi
sử dụng ở mức độ cao làm tăng năng lượng chuyển hóa ME của khẩu phần (Bảng 2.4)
Bảng 2.4 Khả năng tiêu hóa của chất béo và năng lượng của một vài loại chất béo
Các loại chất béo Tỉ lệ tiêu hóa (%) ME (MJ/kg) ME (kcal/kg)
Nguồn: Kakuk and Schmidt, 1988
Theo Dương Thanh Liêm và ctv (2002), chất béo cung cấp các acid béo
thiết yếu, dung môi giúp hòa tan các vitamin tan trong dầu và là nguồn cung
Trang 2413
cấp năng lượng và hàm lượng chất béo khẩu phần có ảnh hưởng đến trọng lượng trứng Chất béo cũng là chất dung môi để hòa tan các vitamin và sắc tố tan trong béo giúp cho cơ thể hấp thu thuận tiện Nếu thiếu chất béo dẫn đến giảm hấp thu carotene, vitamin A, D, E, K Đặc biệt ở gia cầm chất béo xúc tiến hấp thu và tích lũy sắc tố vàng để sơn màu lòng đỏ và da gà thích hợp với thị hiếu người tiêu dùng
Chất béo làm tăng khẩu vị thức ăn cho gia cầm, làm giảm độ bụi cho thức ăn Chất béo có tác dụng bôi trơn khi gà nuốt thức ăn, cung cấp các acid béo thiết yếu, cần thiết cho cơ thể như acid linoleic, acid linolenic và acid arachidonic Trong đó, acid linoleic rất cần thiết cho sự sinh trưởng và mọc lông của gia cầm, nếu thiếu thì chúng sẽ bị còi cọc, rụng lông, lở da, gan bị tích mỡ, khả năng chống đỡ bệnh đường tiêu hóa giảm, sức đẻ trứng của gia cầm giảm, chất lượng trứng kém Từ acid linoleic, cơ thể có thể chuyển thành acid arachidonic với sự có mặt của vitamin B6, từ acid linolenic thì không Từ chất béo, cơ thể cũng có thể chuyển hóa thành chất khác và cùng tham gia tạo nên sản phẩm thịt trứng của gia cầm
Acid linoleic dùng bổ sung năng lượng cho gà nhưng không sinh thêm nhiều nhiệt, trong trường hợp gà bị stress do nóng, ăn không hết khẩu phần, không hấp thu đủ năng lượng cần thiết ta có thể bổ sung cho gà nhằm duy trì năng suất đẻ và kích cỡ trứng (Võ Bá Thọ, 1996)
Theo Bùi Xuân Mến (2008) cho biết acid linoleic phải có trong thức ăn của gà con nếu không chúng sẽ sinh trưởng kém, gây tích lũy mỡ trong gan và
dễ cảm nhiễm với bệnh đường hô hấp Đặc biệt đối với gà mái cho ăn thức ăn thiếu acid linoleic trầm trọng sẽ làm giảm sức đẻ trứng, trứng bé, giảm tỷ lệ ấp
nở của trứng giống, tăng tỷ lệ chết phô, trứng thiếu acid linoleic sẽ không ấp được Chất béo làm nên 40% lượng vật chất khô trong trứng Trong thực tế thì chất béo chỉ chứa một lượng rất ít trong khẩu phần khoảng 2 – 5%, do đó chất béo được coi là nguồn cung cấp năng lượng kinh tế trong khẩu phần của gia cầm và bổ sung trong thức ăn của gà thịt và gà đẻ trứng hiện nay
Chất béo là dạng năng lượng dự trữ trong cơ thể và trứng của gia cầm
Tỷ lệ chất béo ít làm cho con vật gầy ốm và có khi lên trên 40% ở những con vật vỗ béo Ta thấy chỉ có chất béo mới thực sự là nguồn năng lượng tốt cho nuôi dưỡng động vật Hầu hết các acid béo trong chất béo có thể được tổng hợp, tuy nhiên có một số acid béo trong cơ thể vật nuôi không thể tự tổng hợp như: acid linoleic, acid linolenic và acid arachidonic Nguồn cung cấp tốt nhất của acid béo thiết yếu này là trong dầu thực vật như dầu thực vật như dầu lạc, dầu dừa, dầu ngô,…(Bảng 2.5)
Trang 2514
Bảng 2.5 Nguồn acid béo quan trọng
Thức ăn Acid linoleic Acid linolenic Acid arachidonic
(% của lượng acid béo)
Nguồn: Tôn Thất Sơn, 2005
2.4 QUI TRÌNH NUÔI GÀ ĐẺ CÔNG NGHIỆP
Bảng 2.6 Những đặc điểm bên ngoài của gà mái hậu bị tốt và xấu
Mào và tích tai Phát triển tốt có nhiều mao mạch Nhỏ, nhợt nhạt
Bụng To, mềm, khoảng cách giữa cuối
xương lường và xương hang rộng
Nhỏ, không mềm, khoảng cách giữa cuối xương lường
và xương hang hẹp Chân Màu vàng, bóng, ngón chân
ngắn
Màu vàng, bóng, ngón chân ngắn
Nguồn: http://www.cucchannuoi.gov.vn
Ngoài việc chọn lọc thời kỳ gà con và hậu bị lúc lên đẻ, trong thời gian
gà đẻ tiếp tục chọn lọc và loại thải những gà đẻ kém hoặc không đẻ, vì tiếp tục nuôi những gà này sẽ bị tổn thất kinh tế Những gà teo mồng hoặc mồng có
Trang 26mõm xương lưỡi hái
và xương háng
Rộng, mềm, đặt lọt 3 ngón tay
Hẹp, chỉ đặ lọt 1 – 2 ngón tay
Lỗ huyệt Ướt, to, cử động, màu nhạt Khô, bé, ít cử động, màu
chân
Màu sắc của mỏ, chân vẫn vàng
Nguồn: http://www.cucchannuoi.gov.vn
2.4.2 Quy luật của sự đẻ trứng
Thời gian loại thải gà đẻ trứng thường là sau 1 năm đẻ (500 – 550 ngày tuổi), từ khi đẻ quả trứng đầu tiên gia cầm mái trải qua những biến đổi sinh lý, sinh hóa có liên quan đến sức đẻ trứng, khối lượng trứng, khối lượng cơ thể và hiệu quả sử dụng thức ăn
Quy luật đẻ trứng ở gà mái đẻ trứng năm đầu diễn ra theo ba pha:
Pha 1: Trong pha này sản lượng trứng tăng từ ngày đẻ đầu tiên đến khoảng 2 – 3 tháng đẻ, khối lượng trứng và khối lượng cơ thể cũng tăng lên Pha đầu tiên thường kết thúc lúc 42 tuần tuổi
Pha 2: Pha 2 kéo dài đến khoảng 62 tuần tuổi khi sức đẻ trứng giảm xuống còn 65% so với tổng số gà mái đẻ trong ngày Sau khi sản lượng trứng đạt đỉnh cao thì bắt đầu pha 2, lúc này sản lượng trứng giảm từ từ nhưng khối lượng cơ thể không giảm, giai đoạn cuối gà có biểu hiện tích lũy mỡ
Pha 3: Tiếp theo pha 2 cho đến khi gà mái có biểu hiện thay lông Ở pha này, sản lượng trứng giảm đến khi ngừng đẻ hẳn, khối lượng trứng giảm hoặc
ổn định Chi phí thức ăn để sản xuất trứng tăng lên
Gà đẻ trứng các năm sau, quy luật đẻ trứng diễn ra tương tự như gà đẻ trứng năm đầu nhưng sản lượng trứng và thời gian kéo dài đẻ trứng giảm dần Trên thực tế gà đẻ trứng thương phẩm chỉ sử dụng 1 năm đẻ trứng, gà giống
có thể sử dụng ở cả năm đẻ thứ 2
Trang 2716
2.5 CHỈ TIÊU VỀ CHẤT LƯỢNG TRỨNG
Chất lượng trứng thể hiện ở chất lượng bên ngoài (chỉ số hình dáng, màu sắc vỏ trứng, độ dày vỏ và độ bền vỏ trứng) và chất lượng bên trong (tỷ lệ các thành phần cấu tạo trứng, chỉ số lòng trắng trứng, chỉ số lòng đỏ trứng, màu lòng đỏ, đơn vị Haugh)
Chỉ số hình dáng: có ý nghĩa quan trọng trong việc ấp trứng cũng trong vận chuyển bảo quản trứng thương phẩm Hình dạng trứng được đánh giá qua chỉ số hình dáng trứng Chỉ số hình dáng trứng là tỷ lệ giữa đường kính lớn D (chiều dài) và đường kính nhỏ d (chiều rộng) của trứng
Chỉ số hình dáng có liên quan mật thiết đến tỷ lệ ấp nở, trứng bình thường có tỷ lệ ấp nở cao, trứng quá dài hoặc quá tròn có tỷ lệ ấp nở thấp
Trứng có chỉ số hình dáng 71 – 76 % là trứng chuẩn, tốt (Bùi Hữu Đoàn và
ctv, 2009)
Khối lượng trứng (g): Theo Nguyễn Thị Mai và ctv (2009), khối lượng
trứng phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: giống, hướng sản xuất, cá thể, chế độ dinh dưỡng, tuổi và khối lượng gà mái Khối lượng trứng còn là một chỉ tiêu
để đánh giá sản lượng trứng
Đơn vị Haugh (Haugh Unit, HU): là chỉ số mối quan hệ giữa khối lượng trứng với chiều cao lòng trắng đặc của trứng, là đơn vị dùng để đánh giá chất lượng lòng trắng
Đơn vị Haugh càng cao phẩm chất trứng càng tốt Đơn vị Haugh của trứng chênh lệch 1 – 8 thì coi như có chất lượng tương tự
Độ dày vỏ (mm): độ dày vỏ trứng liên quan đến tỷ lệ dập vỡ và tỷ lệ ấp
nở Trứng có độ dày từ 0,25 – 0,55 mm là tốt (Nguyễn Đức Hưng, 2006), phụ thuộc vào loài, giống, cá thể, điều kiện nuôi dưỡng, bệnh tật
Độ bền vỏ trứng: được xác định bằng dụng cụ chuyên dùng đo độ chịu lực của trứng (kg/cm2), trung bình từ 3 – 5 kg/cm2 (Nguyễn Đức Hưng, 2006) Màu sắc vỏ trứng: được quyết định bởi yếu tố di truyền mạnh hơn là dinh dưỡng Để thay đổi màu vỏ trứng phải thông qua việc tạo ra các tổ hợp gen mới Vỏ trứng màu thường gắn với lông màu và thường di truyền liên kết với giới tính Xu hướng chung hiện nay là tạo ra gia cầm đẻ trứng có vỏ màu (nâu hồng, nâu sẫm…) thay cho trứng vỏ trắng Ở Anh 100% gà trứng thương phẩm là vỏ màu, ở Pháp 85%, Đức 80% Màu sắc trứng phù hợp với người tiêu dùng là màu nâu (Nguyễn Đức Hưng, 2006)
Trang 2817
Chỉ số lòng đỏ: là mối quan hệ chiều cao và đường kính lòng đỏ, chỉ số này càng cao thì trứng có phẩm chất càng tốt Được xác định bằng cách đập trứng ra đĩa petri sau đó đo đường kính và chiều cao, chỉ số này thay đổi theo thời gian bảo quản trứng và độ dày màng lòng đỏ
Chỉ số này ở trứng tươi là 0,4 – 0,5, chỉ số này càng cao càng tốt Chỉ số này thay đổi tùy thuộc vào đặc điểm loài, giống, cá thể, nó giảm dần theo thời gian
bảo quản trứng (Nguyễn Thị Mai và ctv, 2009)
Chỉ số lòng trắng: Chỉ số này ở trứng tươi là 0,08 – 0,09, chỉ số này càng cao thì phẩm chất trứng càng tốt Chỉ số này khác nhau tùy theo loài,
giống và cá thể (Nguyễn Thị Mai và ctv, 2009)
Màu lòng đỏ: độ đậm nhạt của lòng đỏ là do sắc tố trong thức ăn quyết định, được xác định bằng quạt so màu Roche, có đếm số từ 1 đến 14, điểm số màu lòng đỏ từ 1 đến 6 là màu vàng nhạt, 7 đến 10 là màu vàng trung bình và
từ 11 đến 14 là vàng sậm Để thay đổi màu lòng đỏ trứng chỉ cần thay đổi thành phần khẩu phần ăn
Tỷ lệ các thành phần của quả trứng: tách riêng các thành phần bao gồm: lòng đỏ, lòng trắng, vỏ trứng Sau đó cân trọng lượng từng phần, tỷ lệ các thành phần của quả trứng được tính bằng cách lấy khối lượng của thành phần đó chia cho khối lượng vỏ trứng
Theo Lã Thị Thu Minh (1995), trứng đạt yêu cầu khi: