“ Điều tra hiện trạng sử dụng thuốc trừ rầy tại Thái Bình, nghiên cứu đặc điểm sinh học và mức độ mẫn cảm của quần thể rầy lưng trắng mẫn cảmSogatella furcifera Horvath” để đánh giá khả
Trang 1PHẦN I MỞ ĐẦU
I.Đặt vấn đề
Khi đánh giá về những thành tựu đạt được trong sự nghiệp đổi mới kinh tế củaViệt Nam, các nhà kinh tế thế giới đều thống nhất nhận định: Thành công lớnnhất là nông nghiệp Cây lúa vẫn là cây lương thực quan trọng bậc nhất của ViệtNam, với lịch sử phát triển hàng nghìn năm, đã có những thay đổi quan trọng về
cơ cấu giống, biện pháp canh tác và quản lý dịch hại…Bên cạnh những thànhcông vượt bậc về năng suất sản lượng lúa thì cũng xuất hiện những trận dịch nhưdịch rầy nâu, sâu đục thân… làm sản xuất điêu đứng Nhất là trong tình trạnghiện nay
Theo Tổng cục Thống kê, sản lượng lúa cả năm 2013 ước tính đạt 44,1 triệutấn, tăng 338,3 nghìn tấn so với năm trước (Năm 2012 tăng 1,3 triệu tấn so vớinăm 2011) Để đạt được sản lượng này nhiều tiến bộ khoa học kỹ thuật đã được
áp dụng trong thâm canh lúa, bên cạnh đó việc tăng cường đổi mới về giống,đầu tư phân bón để đạt được năng suất cao, thì việc phải đầu tư vào công tác bảo
vệ thực vật cũng đáng được quan tâm Mặc dù phạm vi và biện pháp phòngchống sâu bệnh hại đã và đang được tiến hành rộng rãi với hiệu quả ngày càngcao song năng suất, sản lượng lúa chưa ổn định Trong đó rầy lưng trắng
(Sogatella furcifera Horvath) trong những năm gần đây đã trở thành một loài
côn trùng gây hại nghiêm trọng trên cây lúa không chỉ ở Việt Nam mà còn ởkhắp các vùng trồng lúa trên thế giới
Rầy lưng trắng hại lúa theo hiểu chích hút Cả rầy non và rầy trưởng thành đềutrực tiếp hút dịch cây làm cho cây bị biến vàng, làm giảm năng suất lúa, khi mật
độ tăng cao gây nên hiện tượng “cháy rầy” Rầy lưng trắng phát triển mạnh ởnhiệt độ cao, mưa nắng xen kẽ gây hại nặng cho cây lúa, có thể làm giảm 30-40% năng suất hoặc hơn.Theo Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn năm
2012, tổng diện tích nhiễm 597 ngàn ha, tăng 18% so với năm 2011, trong đó
Trang 2diện tích nhiễm nặng 93,6 ngàn ha tăng 12,3% so với năm 2011; diện tích nhiễmrầy tăng mạnh tại các tỉnh phía Bắc, với diện tích nhiễm 374,8 ngàn ha, tăng38% so với năm 2011; riêng vụ đông xuân diện tích nhiễm 253,5 ngàn ha, tăng4,79 lần so với cùng vụ năm trước với gần 50 ngàn ha bị nhiễm nặng, tăng 28,9lần so với vụ trước Năm 2013, tổng diện tích lúa bị nhiễm rầy trên 504,3 ngàn
ha, giảm 15,7% so với năm 2012, trong đó diện tích bị nhiễm nặng 54,3 ngàn ha,giảm 42% so với năm 2012, tuy nhiên diện tích bị cháy rầy lên tới 200 ha, tănggấp 3 lần so với năm 2012 Như vậy, diện tích lúa bị hại và hại nặng do rầy gây
ra xếp thứ hai trong chín loài dịch hại lúa chủ yếu sau sâu cuốn lá nhỏ( 719,6ngàn ha)
Trong năm 2010, hơn 60.000 ha ruộng lúa tại 29 tỉnh của Việt Nam và hơn1.300.000 ha trong 13 tỉnh của Trung Quốc bị nhiễm bệnh lùn sọc đen do virusRBSDS có môi giới là rầy lưng trắng trong còn năm 2011 virus RBSDS làm hưhại hơn 700.000 ha và năm 2012 hơn 500.000 ha ở Trung Quốc và Việt Nam
( Hongxing et al,2014) Năm 2012, ở Việt Nam theo Bộ Nông nghiệp, lùn sọc
đen phát sinh và gây hại tại 10 tỉnh từ Quảng Nam trở ra tổng diện tích nhiễm
798 ha,diện tích nhiễm nặng là 13 ha Năm 2013, bệnh phát sinh và gây hại tại 6tỉnh, gồm: Lai Châu, Sơn La, Ninh Bình, Lào Cai, Hòa Bình và Nghệ An, vớitổng diện tích nhiễm 183,5 ha.Theo số liệu báo cáo tình hình KT-XH của chínhphủ, từ năm 2008 đến nay, nhập khẩu thuốc trừ sâu( chiếm 60% thuốc BVTV)luôn ở mức trên 500 triệu USD/năm.Vào năm 2012, theo ước tính lượng thuốcbảo vệ thực vật được nước ta nhập khẩu là 105.000 tấn, trong khi 2010 là 72.560tấn và 2005 là 51.764 tấn Theo khảo sát trong vụ mùa 2010 tại các tỉnh đồngbằng Bắc Bộ có 46-60% phun thuốc trước giai đoạn lúa làm đòng; 60-100% hỗnhợp trên hai loại thuốc để phun/lần; riêng trừ rầy có gần 17% phun 5 lần thuốctrừ rầy/vụ; nhất là do áp lực của bệnh lùn sọc đen tại các tỉnh phía Bắc tình trạngphun thuốc sớm, nhiều lần càng làm cho rầy có điều kiện bộc phát thành dịch.Tình hình sâu bệnh ngày càng diễn biến phức tạp
Trên cơ sở đó, dưới sự giúp đỡ của tiến sỹ Lê Ngọc Anh tôi thực hiện đề tài :
Trang 3“ Điều tra hiện trạng sử dụng thuốc trừ rầy tại Thái Bình, nghiên cứu đặc điểm sinh học và mức độ mẫn cảm của quần thể rầy lưng trắng mẫn cảm
Sogatella furcifera Horvath” để đánh giá khả năng hình kháng thuốc của rầy
lưng trắng nhằm mục đích sử dụng thuốc hóa học một cách hiệu quả nhất
II Mục đích và yêu cầu.
1 Mục đích
Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học của rầy lưng trắng mẫn cảm chuẩn, mức
độ mẫn cảm của quần thể rầy lưng trắng mẫn cảm chuẩn , đánh giá hoạt tính củanhóm enzym giải độc từ đó đề xuất biện pháp quản lý tính kháng có hiệu quả
Trang 4PHẦN II TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1 Một số kết quả nghiên cứu rầy lưng trắng ở ngoài nước
1.1.Vị trí phân loại: Rầy lưng trắng đầu tiên được Horvath mô tả và đặt tên là
Delfax furcifera vào năm 1899 trên mẫu thu thập tại Nhật Bản và sau đó được đổi là Sogatella furcifera.Ngoài ra rầy lưng trắng còn có các tên khác đồng danh
đã được sử dụng như sau: Delphax furcifera Horvath (Năm 1899), Sogata distincta Distant (1912), Megamelus furcifera Muir (1917), Sogata furcifera Muir & Giffard (1924), Delphacodes furcifera Esaki & Ishihara (1931), Chloriona furcifera Fennah (1956)…
Vị trí phân loại của rầy lưng trắng
Theo Chia-hwa Tao và Ngo-Dinh Ngoan (1968), rầy lưng trắng phân bố hầu hết
ở các nước trồng lúa trên thế giới như: Nhật Bản, Trung Quốc, Philippin,Shiberia, Ấn Độ, phía Bắc Châu Phi…
1.3 Ký chủ
Theo Chia-hwa Tao và Ngo Dinh Ngoan (1968) Ký chủ của rầy lưng trắng chủ
yếu là lúa Ngoài ra còn ở trên mía (Saccharum officinarum L.), lúa mạch (Hordeum vulgare l.), kê (Setaria italica Beauv.), ngô (Zea mays.), cỏ thuộc họ
Trang 5hoà thảo (Poa annua L.), loài thực vật có hoa trong họ hòa thảo (Phalaris arundinacea L.), thực vật có hoa thuộc họ hòa thảo (Alopecurus aequalis Schol.), các loại cỏ (Digitaria adscendens Henr).
Theo Dale (1994) S.furcifera đã được quan sát thấy trên lúa mì, kê, cỏ, tuynhiên không có thông tin về việc các loại cây trồng hoặc cỏ dại hỗ trợ hoànthành chu kì phát dục trên các kí chủ này
S.furcifera chủ yếu tấn công gốc của cây lúa, ưa cây lúa lúc còn non nhưng thiệt
hại có thể xảy ra ngay ở giai đoạn sinh sản
Rầy lưng trắng có thể gây hại toàn bộ giai đoạn phát triển của cây lúa Chúngphát triển và gây hại chủ yếu ở giai đoạn mạ và giai đoạn đẻ nhánh( Dale, 1994)
Theo Sengottayan Senthil Nathan et al (2007), khi mật độ rầy cao hiện tượng
cháy rầy xảy ra làm cho khóm lúa bị vàng đỏ và cây lúa thụt đi Lúc này rầy cóthể lan nhanh và xảy ra trên diện rộng
1.4.Triệu chứng gây hại
Cả rầy non và rầy trưởng thành đều gây hại trong toàn bộ giai đoạn phát triểncủa cây lúa Chúng phát triển và gây hại mạnh ở giai đoạn mạ, bị tấn công mạnhnên cây mạ có hiện tượng bị còi cọc, héo và cuối cùng chết (Dale, 1994)
Theo Dale (1994) trên cây lúa trưởng thành: Rầy non và rầy trưởng thành hút
tế bào nhựa tại thân lúa và bề mặt lá Các cây bị tấn công chuyển sang màu vàng
và sau đó có màu gỉ sắt, lan rộng từ đầu lá đến phần còn lại của cây S furcifera
với mật độ cao sẽ gây hiện tượng “cháy rầy” cây lúa bị vàng đỏ, héo khô vàchuyển sang màu nâu do cây mất quá nhiều nhựa Con cái mang trứng gây thiệthại bằng cách chọc lỗ đẻ trứng trên bẹ lá Dịch ngọt được tiết ra bởi rầy cái kíchthích sự phát triển của nấm mốc làm cho đồng lúa có màu khói (hiện tượngcháy) đây chính là nguyên nhân gián tiếp dẫn đến bệnh muội đen trên lúa
Rầy lưng trắng S furcifera gây thiệt hại làm ảnh hưởng đến số lượng hạt và
chiều dài bông giảm bị ảnh hưởng khi lúa bị nhiễm virus ở giai đoạn trổ bôngTrong giai đoạn trỗ, nếu cây lúa bị nhiễm virus thì vỏ trấu bị hư hỏng trở thành
Trang 6màu nâu và một số còn lại bị lép Hạt bị lép và quá trình chin bị trì hoãn khi cây
bị tấn công ở giai đoạn trỗ (Dale, 1994)
1.5.Đặc điểm sinh học, sinh thái
Theo Hongxing Xu et al (2014) rầy lưng trắng cũng như rầy nâu, trứng được đẻ
ở phần mô bẹ lá hoặc gân lá chính của lá, đẻ thành từng ổ, trứng có hình dạng vàkích thước tương tự như rầy nâu nhưng mũi trứng dài hơn, mỗi con cái có thể đẻkhoảng 300 - 500 trứng, đẻ tập trung trong 3- 6 ngày và kéo dài khoảng 10 - 15ngày
Thời gian phát dục của pha trứng trung bình là 7,1 ngày ở nhiệt độ 23 - 34ºC;9,3 ngày ở 17 - 28ºC và khoảng 21 ngày ở nhiệt độ 13 - 22ºC Tỷ lệ nở của trứngtrung bình là 64,3 – 88,9% (Ammar E D et al., 1980)
Theo Yanhua Wang et al (2008) ở Trung Quốc rầy lưng trắng trưởng thành xuất
hiện vào cuối tháng 6 đầu tháng
2 Tình hình nghiên cứu rầy lưng trắng ở trong nước
2.3 Khả năng gây hại
Rầy lưng trắng là môi giới truyền bệnh Bệnh lùn sọc đen do virus RBSDSthuộc nhóm Fijivirus-2, họ Reoviride gây ra Theo thống kê của Bộ Nôngnghiệp năm 2012, tổng diện tích lúa gây hại tại 10 tỉnh từ Quảng Nam trở ra là
798 ha, diện tích bị nhiễm nặng là 13 ha Năm 2013, bệnh phát sinh và gây hạitại 6 tỉnh gồm Lai Châu, Sơn La, Ninh Bình, Lào Cai, Hòa Bình và Nghệ An vớitổng diện tích nhiễm 183,5 ha
Trang 72.4 Đặc điểm sinh học
Theo Nguyễn Đức Khiêm (1995) trong điều kiện nhiệt độ 23,8- 29,80C và độ
ẩm 93- 94% thời gian phát dục trứng RLT là 6,4- 6,7 ngày Ở nhiệt độ 26,40C và độ ẩm 93- 93,9% thời gian phát dục của rầy non RLT là 12,5- 12,9ngày Nuôi trong điều kiện nhiệt độ 25-26,60C và độ ẩm 92- 93,8% vòng đời củaRLT là 22 ngày
24,9-Rầy lưng trắng trong điều kiện nhiệt độ từ 20 - 30ºC ±1ºC và ẩm độ dao động từ73,4 – 86,7% thời gian phát dục pha trứng kéo dài từ 5,49 – 9,10 ngày Pha rầynon dao động từ 12,48 – 15,08 ngày Trưởng thành bắt đầu đẻ trứng từ 3,29 –5,5 ngày Như vậy vòng đời của rầy lưng trắng kéo dài trung bình từ 20,86 –29,88 ngày (Hồ Thị Thu Giang và cs, 2011)
3.Tình hình kháng thuốc của rầy lưng trắng
3.1 Cơ chế kháng thuốc của côn trùng
Côn trùng có hại kháng thuốc là một hiện tượng sinh học thông thường trong
quá trình hoạt động sản xuất của con người, cũng như việc thay đổi giống câymùa vụ Đó cũng là biểu hiện tính thích nghi của sinh vật trong quy luật cânbằng sinh thái
Tính kháng thuốc là khả năng của côn trùng có hại ngày càng chịu được một
lượng thuốc lớn hơn lượng thuốc sử dụng thời gian đầu, do thuốc được sử dụngthường xuyên nhiều lần Có thể di truyền cho đời sau dù cho cá thể của đời sau
có hay không tiếp tục tiếp xúc với thuốc
Các cơ chế cho phép côn trùng sống sót qua tiếp xúc với thuốc trừ sâu có thể
chia thành 2 nhóm, đó là cơ chế chuyển hóa và không chuyển hóa
Cơ chế kháng thuốc của rầy lưng trắng cũng được nghiên cứu ở Trung Quốcchủ yếu về kiểu kháng chéo và cơ chế trong chọn lọc tính kháng thuốcImidacloprid Kết quả cho thấy mức độ tăng 11,25 lần qua 12 thế hệ và tỉ lệkháng đạt 71,83% Các dòng rầy lưng trắng kháng thuốc biểu hiện rõ rệt tínhkháng chéo với các loại thuốc thử nghiệm có cơ chế tác động lên cơ quan cảmthụ Acetylcholine Chính sự tăng hàm lượng enzyme P450-monooxygennases
Trang 8giải độc là cơ chế kháng Imidacloprid (Liu Z et al, 2003) Vì vậy, hạn chế hoặc
kìm hãm hoạt động của enzim này co thể giúp phá bỏ hoặc kiềm chế tính kháng
thuốc của rầy lưng trắng đối với Imidacloprid (Yan Hua Wan et al, 2009).
3.2 Sơ lược về tình hình kháng thuốc của côn trùng
Việc sử dụng phổ biến những loại thuốc trừ sâu tổng hợp trong nhiều năm qua
đã gặp phải một vấn đề trầm trọng: đó là sự xuất hiện của những loại côn trùngkháng thuốc trừ sâu lần đầu tiên được ghi nhận bởi AL Melander vào năm 1914 Giữa năm 1914 và năm 1946 đã ghi nhận thêm 11 trường hợp kháng thuốc trừsâu vô cơ Với sự phát triển của thuốc trừ sâu hữu cơ sự kháng thuốc của loàiruồi nhà đã được ghi nhận đầu tiên tại Thụy Điển năm 1946 và gần như ở khắpthế giới vào năm 1950, sau đó thì các loài ruồi này lại tiếp tục kháng các nhómgamma- BHC, aldrin, dieldrin và cả nhóm thuốc trừ sâu gốc lân hữu cơ
Khi cường độ sử dụng các loài thuốc hóa học ngày càng tăng thì số lượng côntrùng kháng thuốc cũng gia tăng rõ rệt từ 224 loài năm 1970 đến 364 loài năm
1975, số lượng côn trùng kháng thuốc đã gia tăng đến 428 loài vào năm 1980,với 260 loài gây hại trong nông nghiệp
Các kết quả nghiên cứu đã cho thấy, tính kháng thuốc của côn trùng xảy ra vớihầu hết các loại thuốc trừ sâu và có nhiều trường hợp côn trùng kháng cả với cácchất như chất tiệt trùng hóa học, kháng sinh, độc tố vi khuẩn và nhiều loại có thểkháng với nhiều loại thuốc khác nhau, chẳng hạn như ở Đan Mạch, các loài ruồi
nhà đã kháng được 11 loài thuốc khác nhau và sâu tơ (Plutella xylostella L) đã
được ghi nhận kháng trên 46 loài thuốc trừ sâu, tại 14 nước, bao gồm các loàithuốc thuộc gốc chlor hữu cơ, gốc lân hữu cơ, gốc carbamate và cả gốc của tổnghợp( Virapoug Noppun, T.Miyata và Saito, 1986)
Có 2 hiện tượng kháng phổ biến và quan trọng là hiện tượng kháng chéo(crossresistance) và đa kháng( multiple resistance)
Hiện tượng kháng chéo(cross resistance) (Fritzsch, 1967) của dịch hại đối vớicác loại thuốc là một loại dịch hại khi đã quen với một loại thuốc thì nó cũng cókhả năng thích ứng với một số lọai thuốc trừ dịch hại khác cùng một gốc hóa
Trang 9học và hiện tương kháng chéo âm là hiện tượng khi dịch hại đã trở nên khángvới một loại thuốc nào đó thì nó có thể trở nên mẫn cảm với một số loài hợpchất khác Nhưng nguy hiểm hơn là tính đa kháng (multiple resistance), đó làđặc tính mà côn trùng có thể kháng với nhiều loại thuốc có cơ chế tác động khácnhau trên côn trùng Tính đa kháng hiện nay rất phổ biến trên côn trùng và hiệndiện ở ít nhất 44 họ thuộc 10 bộ(Goerghion and Taylor, 1977; Goerghin,1981) Hiện tượng kháng chéo với thuốc thuộc nhóm Neonicotinoid đã được quan sát
trên đồng ruộng và ở các dòng được chọn lọc của loài Leptinotarsa
decemlineata và Drosophilia melanogastre Trong các trường hợp này mức suy
giảm độ mẫn cảm của sâu hại với thuốc Imidacloprid có liên kết với múc suygiảm độ mẫn cảm của các loại thuốc khác thuộc nhóm Neonicotinoid nhưThiamethoxam, Acetamiprid và Nitenpyram Ở rầy nâu, tính kháng chéo vớithuốc Acetamiprid cũng đã được tìm thấy ở dòng rầy nâu kháng thuốcImidacloprid đã được chọn lọc trong điều kiện phòng thí nghiệm
3.3 Nghiên cứu về tình hình sử dụng thuốc với rầy lưng trắng trong và ngoài nước
3.3.1 Tình hình sử dụng thuốc với rầy lưng trắng ở ngoài nước
Có lẽ Nhật Bản là nơi nghiên cứu về tính mẫn cảm của rầy nâu nhiều nhất vàsớm nhất Đã có những nghiên cứu từ những năm 1967 của Nagata & Kukudavới các hoạt chất như Malathion, Diazinon, Metolcarb, BHC, DDT, Carbary,Isoprocarb với cả 3 loại rầy Đến năm 1976 Nagata và các cộng sự đã một lầnnữa xác định lại tính mẫn cảm của rầy nâu với các hoạt chất để từ đó xác địnhđược tính kháng thuốc thì thấy giá trị LD50 của hoạt chất Malathion tăng từ 7đến hơn 10 lần, Diazion tăng từ 2 đến 3 lần, Carbary tăng từ 2 đến 3,5 lần TheoNagata và Masuda (1980) giá trị LD50 của quần thể rầy lưng trắng ở Thái Lan vàonăm 1977 đã tìm ra LD50 của p,p’ = DDT và organophosphates có mức độ tin cậynhỏ hơn được xác định cho quần thể tại Nhật Bản 1976 (lần lượt bằng 1/24 lần và1/5-1/12 lần)
Trang 10Đến những năm đầu của thập kỉ 80 và 90 của thế kỷ 20 đã có nhiều tài liệu nóirằng rầy nâu kháng với một số loại thuốc như ở Trung Quốc sau 7 năm sử dụnggiá trị LD50 của BHC tăng 22 lần, Monocrotophos tăng 78 lần, Methamidophostăng 13 lần, Carbary tăng 39 lần, Isoprocorb tăng 34 lần và Dethamidophos tăng
15 lần Năm 1992 quần thể rầy nâu ở Suphan buri của Thái Lan được đánh giávới 11 loại thuốc và cũng thấy rằng giá trị LD50 tăng từ 10 đến 40 lần so với giátrị LD50 xác định năm 1977 (Nagata, 2002).Theo sự nghiên cứu của Nagata ởNhật Bản nếu sử dụng nhóm thuốc BHC 4 lần trong vụ xuân thì đến vụ mùa giátrị LD50 sẽ bị giảm từ 14 đến 19 lần
Nagata et al (1980) đã so sánh tính mẫn cảm của các quần thể rầy lưng trắng
nhiệt đới và ôn đới( nhiệt đới là Thái lan và Philippin còn ôn đới là Nhật bản vàĐài Loan) với 8 loại thuốc sâu thì thấy rằng các quần thể rầy lưng trắng ở Tháilan và Philippin mẫn cảm với thuốc sâu nhiều hơn quần thể rầy ở Nhật Bản khinuôi trên mạ Điều này cho thấy rằng giữa các quần thể rầy của vùng ôn đới và
nhiệt đới có sự khác nhau về sinh lí và sinh thái.
Rầy lưng trắng bắt đầu có dấu hiệu kháng thuốc vào năm 1980 ở Nhật Bản.Nhưng tính kháng được phát triển giữa những năm 1980 và 1984 Cũng ở TrungQuốc, xác định LD50 của rầy lưng trắng tại ba địa điểm với 12 loại thuốc trongnăm 1987, 1988, 1989, 1992 và 1994 và xác định LD50 của rầy nâu năm 1992,
1994 và 1995 với 9 loại hoạt chất từ 4 địa điểm thì mức kháng thuốc của rầylưng trắng có những biến đổi So sánh mức độ kháng thì nhìn chung là tương tựvới mức kháng của quần thể rầy tại Nhật Bản Nhưng chúng ta nhận thấy có sựkhác biệt rõ rệt nhất là LD50 của monocrotophos và carbaryl trong khoảng 7năm LD50 từ 4.8 ~ 111.2 μg/g với BHC, 0.7 ~ 54.8 μg/g với monocrotophos,g/g với BHC, 0.7 ~ 54.8 μg/g với BHC, 0.7 ~ 54.8 μg/g với monocrotophos,g/g với monocrotophos,48.4 ~ 147.7 8 μg/g với BHC, 0.7 ~ 54.8 μg/g với monocrotophos,g/g với melathion, 2.4 ~ 31.1 μg/g với BHC, 0.7 ~ 54.8 μg/g với monocrotophos,g/g với methamidophos, 10.0 ~77.8 μg/g với BHC, 0.7 ~ 54.8 μg/g với monocrotophos,g/g với fenitrothion,1.0 ~ 38.5 μg/g với BHC, 0.7 ~ 54.8 μg/g với monocrotophos,g/g với carbaryl, 1.2 ~ 40.8 μg/g với BHC, 0.7 ~ 54.8 μg/g với monocrotophos,g/g vớiisoprocarb và 4.9 ~ 73.4 μg/g với BHC, 0.7 ~ 54.8 μg/g với monocrotophos,g/g với delthamethrin Vào năm 1989 và 1990 nghiêncứu tính mẫn cảm của quần thể rầy lưng trắng tại hai vùng ở Malaysia trên 14loại thuốc cho thấy LD50 gần như giống với tại Nhật Bản ngoại trừ Malathiontăng lên 4 – 7 lần so với LD50 tại Nhật Bản (Nagata, 2002)
Trang 11Theo ENDO Shozo và Masaichi TSURUMACHI (2001), dù xác định được LD50
của 18 loại thuốc trừ sâu cho quần thể rầy lưng trắng ở Indonesia năm 1988 và sosánh cùng quần thể năm 1988 có độ tin cậy cao hơn của quần thể Indonesia chop,p’- DDT (1/5 lần) ngoài ra 17 loại thuốc trừ sâu cũng có độ tin cậy LD50 nhưnhau LD50 của malathion cho quần thể Malaysia (1989 - 1990) lớn hơn (4-7 lần)quần thể Nhật Bản cùng với các loại thuốc trừ sâu khác là giống nhau giữa 3 quầnthể LD50 của organophosphates và Carbamates tại Nhật Bản (1989) là 17-28; 7-9lần
Theo kết quả nghiên cứu năm 2001 cho thấy: cơ chế kháng thuốc của rầy lưngtrắng với thuốc Malathion và MTMC là giảm dần qua các năm, còn cơ chếkháng MTMC là do sự giảm mức độ nhạy cảm của enzyme Acetycholinesterasevới thuốc (ENDO Shozo và Masaichi TSURUMACHI, 2001)
Theo Nagata (2002) tính kháng thuốc của các loại rầy di cư vào Nhật Bản cóquan hệ với sức ép chọn lọc của quần thể rầy ở nước có nguồn gốc nhập cư, hơnnữa cấu tạo hóa học của một loại thuốc và mức độ sử dụng thường xuyên cũng
là những nhân tố ảnh hưởng đến tốc độ phát triển tính kháng thuốc của côntrùng Trong ba nhóm thuốc có gốc Clo hữu cơ, lân hữu cơ, Carebamate được sửdụng trong 10 năm (1961-1971) ở Nhật Bản thì rầy lưng trắng và rầy nâu có tốc
độ phát triển tính kháng thuốc không tăng còn rầy xám thì tăng khá nhanh Hầu hết tất cả quần thể rầy lưng trắng thu từ Nhật Bản, Đài Loan, Trung Quốc,Việt Nam và Philippines có khoảng giá trị LD50 (19.7 – 239 µg.g- trọng lượng cơthể hoặc hơn 24h sau xử lý) cho fipronil rộng hơn một vài quần thể từ Philippin(0.3 – 5.9 µg.g-) và Trung Quốc (3.0 µg.g-) Ở 48 và 72h sau xử lý, giá trị LD50
giảm, nhưng một số vẫn còn lớn ở 48h sau xử lý Đối với Imidaeloprid, tất cảcác quần thể rầy lưng trắng có giá trị LD50 nhỏ (0.11 – 0.34 µgg-) trừ một quầnthể ở Nhật Bản (Japan-KM-A) (1.06µg.g-) Trong trường hợp của Fenobucarb(BPMC), LD50 cho rầy lưng trắng có ngưỡng từ (6.1 – 26.6 µg- g) (Masaya
Masumura et al, 2008).
Trong khi đó giá trị LD50 được theo dõi cùng năm 2006 ở một số nước ở Châu
Á với rầy nâu giá trị LD50 đối với Fenobucarb là rất cao đặc biệt tại
Trang 12Philippin-CG (43.2 μg/g với BHC, 0.7 ~ 54.8 μg/g với monocrotophos,g.g-), và ở Việt Nam (32.32 μg/g với BHC, 0.7 ~ 54.8 μg/g với monocrotophos,g.g-) Đối với hoạt chất fipronil giái trị
LD50 dao động từ (0.05 – 0.465 μg/g với BHC, 0.7 ~ 54.8 μg/g với monocrotophos,g.g-), cao nhất ở Việt Nam – TGH và thấp nhấttai China – FJF Trong khi đó khoáng biến động của LD50 đối với hoạt chấtimidacloprid là rất lớn từ (0.18 – 24.2 μg/g với BHC, 0.7 ~ 54.8 μg/g với monocrotophos,g.g-) với giá trị LD50 cao nhất tại ViệtNam (24.2 μg/g với BHC, 0.7 ~ 54.8 μg/g với monocrotophos,g.g-) (Masaya Masumura et al, 2008)
Kết quả nghiên cứu của Matsumura (2008) cho rằng rầy lưng trắng tại các nướcĐông Nam Á đang có xu hướng kháng với hoạt chất Fipronin, nguyên nhân củahiện tượng trên được giải thích là do Fipronin đã được sử dụng để phòng trừ sâucuốn lá nhỏ vào giai đoạn làm đòng Đây cũng là thời điểm phát triển của rầylưng trắng chính vì vậy dù việc sử dụng các thuốc hóa học của nhóm này để trừrầy lưng trắng không phổ biến nhưng tính kháng thuốc Fipronin vẫn phát triển Nghiên cứu so sánh về mức độ mẫn cảm của một số loại thuốc hóa học của 2loại rầy hại lúa và rầy nâu và rầy lưng trắng đã được tiến hành năm 2005- 2007tại Nhật Bản Kết quả cho thấy tính mẫn cảm của 2 lọai rầy so với thuốc đã giảm
đi so với trước đó Các giá trị LD50 của các quần thể rầy nâu và rầy lưng trắngthu thập từ năm 2005- 2007 với 7 loại thuốc trừ rầy được dùng phổbiến(Malathion, Fenitrothion, Isoprocarb, Fenobucarb, Carbaryl, Etofenprox vàImidacloprid) và so sánh với các kết quả thu được trước năm 2001 Nhìn chung,không có sự thay đổi lớn về tính kháng thuốc của các loại rầy, ngoại trừ có sựtăng lên LD50 của rầy nâu với thuốc Imidacloprid diễn ra từ năm 1990 đến năm
2007 Giá trị LD50 của quần thể rầy nâu thu thập năm 2000 cao gấp 10 lần so vớiquần thể rầy nâu thu thập năm 1999 Xu hướng này tiếp tục diễn ra đến năm
2005 Từ năm 2006 giá trị LD50 cũng tăng lên rất cao đối với thuốc Imidacloprid Ngược lại giá trị LD50 của rầy lưng trắng vẫn thấp cho đến năm 2007
( Matsumura M et al, 2008).
Qua kết quả của Masaya Masumura (2008) cho ta thấy được tại mỗi quốc gia vàtại mỗi vùng của một quốc gia giá trị LD50 cho mỗi hoạt chất là khác nhau vớirầy nâu và rầy lưng trắng Và tại mỗi vùng của mỗi quốc gia thì LD50 cũng rấtkhác nhau.Tại Nhật Bản, hiệu lực phòng trừ của biện pháp hóa học đối với rầylưng trắng không được chú ý đến Rầy lưng trắng thường mẫn cảm nhất với
Trang 13thuốc trừ sâu và rầy xanh có giá trị LD50 nhỏ nhất Một số biểu hiện của sự pháttriển tính kháng đã được tìm thấy cho 8 mẫu thuốc trừ sâu Và sự khác biệt củagiá trị LD50 giữa năm (1980/1976) khoảng 1.9 – 5.4 lần (Nagata, 2002)
Tính kháng thuốc của rầy lưng trắng với nhóm Neonicotinoid ( chủ yếu là thuốcImidacloprid) được ghi nhận đầu tiên ở Thái Lan năm 2003, sau đó là ở một loạt
các nước Châu Á như Việt Nam, Trung Quốc, Nhật Bản( Masumura et al,
2008)
3.3.2.Tình hình sử dụng thuốc ở trong nước đối với rầy lưng trắng
Ở Việt Nam đã có những nghiên cứu về tính kháng thuốc của rầy nâu từ nhữngnăm 1987 của Viện Bảo vệ Thực vật Khi đó đã xác định được giá trị LD50 củacác hoạt chất như Fenobucarb, Carbary, Carbofuran, Isoprocarb, Fenitrothion…Nhưng đến năm 2001, dưới sự nghiên cứu của Nguyễn Thị Me thì giá trị LD50
cũng tăng lên đáng kể như ở Thái Bình MIPC tăng 12 lần, Carbofuran tăng 7,3lần, Fenitrothion tăng 3,7 lần Ở Hải Phòng giá trị LD50 cũng tăng 11,5 lần vớiMIPC, Fenobucarb tăng 2,3 lần, Fenitrothion tăng 3,1 lần
Theo nghiên cứu của Luong Minh Chau (2007) ở một số địa điểm vùng đồngbằng sông Cửu Long cho rằng để trừ rầy nâu tốt thì khi sử dụng một số hoạt chấtnhư Imidaclopid, Fipronil, Buprofezin và Etofenprox cần phải tăng liều lượnglên so với liều khuyến cáo
Từ năm 2009 – 2010 Lê Thị Kim Oanh và các cộng sự đã có kết quả điều tra tại
7 tỉnh đồng bằng sông Hồng (Hà Nội, Nam Định, Thái Bình, Vĩnh Phúc,Hưng Yên, Phú Thọ, Bắc Giang) cho thấy có 8 nhóm thuốc trừ sâu đượcngười dân sử dụng trên lúa, trong đó 3 nhóm sử dụng với tỷ lệ cao là:Phenylpyrazol, Carbamate, Neo-nicotionid Tuy nhiên, qua các năm ở các địaphương khác nhau thì số chủng loại thuốc sử dụng, mức độ sử dụng các nhómthuốc là khác nhau
Kết quả nghiên cứu cho thấy 7/7 quần thể rầy nâu kháng với hoạt chấtFenobucard với chỉ số kháng (11.18 – 33.31) Có 4/7 quần thể rầy nâu khángcao với hoạt chất Imidacloprid với chỉ số kháng (20.00 – 98.52) Có 2/7 quần thể
Trang 14rầy nâu kháng với hoạt chất Fipronil với chỉ số kháng (11.78 – 18.52).Có 4/7quần thể rầy nâu kháng cao với hoạt chất Imidacloprid với chỉ số kháng( 20,00-98,52) Có 2/7 quần thể rày nâu kháng với hoạt chất Fipronil với chỉ sốkháng(11,78- 18,52).
Một số kết quả nghiên cứu về sử dụng thuốc bảo vệ thực vật phòng trừ rầy lưngtrắng của tác giả Nguyễn Thị Me và CS (2010) cho thấy thí nghiệm thuốcEnaldo 40FS xử lý hạt giống (với liều lượng 40 – 60 ml/60kg hạt giống lúa gieo đểcấy 1ha) đạt hiệu quả rất cao Rầy trưởng thành thả vào khay mạ 10 ngày tuổi có
xử lý hạt giống bằng Enaldo 40FS bị chết trên 80% sau 1 ngày thả và sau 3 ngàythả tỷ lệ này đạt 90% Thí nghiệm với mạ 15 ngày tuổi có xử lý hạt giống bằngEnaldo cho thấy rầy trưởng thành chết 80% sau 3 ngày thả thí nghiệm Các thuốcnên dùng là Elsin 10EC, Oshin 20WP, Dantotsu 16WSG, Penalty gold 50EC,Bassa 50EC Để bảo vệ cây lúa từ khi gieo đến khi cây 30 ngày tuổi nên ưu tiêncác thuốc nội thấp có tác dụng vừa diệt được rầy trưởng thành di trú vừa diệtđược rầy non
Theo Nguyễn Thị Phương Lan( 2012), tính kháng thuốc của các quần thể rầylưng trắng tại Hà Nội đối với 3 hoạt chất Thiamethoxam, Fenobucarb, Fipronilđều xuất hiện cụ thể như sau:
Với hoạt chất Thiamethoxam giá trị LD50 dao động từ 2,504- 4,748 và giá trị Ridao động từ 16,08- 32,10
Với hoạt chất Fenobucard giá trị LD50 dao động từ 4,719- 8,169 và giá trị Ridao động từ 16,08- 32,10
Với hoạt chất Fipronil giá trị LD50 dao động từ 1,739- 5,271 và giá trị Ri daođộng từ 7,69-23,32
Hiệu lực trừ rầy lưng trắng tại Hà Nội các loại thuốc thương mại Bassa 50EC,thuốc Regent 800WP, với thuốc Actara 25 WP vẫn đạt hiệu quả cao > 70% vàongày thứ 7 sau khi xử lý thuốc Nhóm thuốc tổng hợp Penalty gold 50EC cóhiệu lực trừ rầy lưng trắng cao nhất >80% ở các ngày thứ 7 và 10 sau thử thuốc.Thuốc Butyl 10WP có hiệu quả tăng dần và đạt >60% sau 10 ngày phun thuốc
Trang 153.4.Các biện pháp trong phòng trừ rầy lưng trắng
Biện pháp hóa học trong phòng trừ nhóm rầy hại thân cây lúa nói chung và rầy
lưng trắng nói riêng vẫn cần thiết Ở các nước Châu Á, các nhóm thuốc được sửdụng rộng rãi nhất để phòng trừ rầy nâu là Fenobucard Lý do một phần vì hiệuquả diệt rầy cao, Mặt khác các thuốc này đều có giá cả hợp lý và độ độc ở mứctrung bình với môi trường và sức khỏe con người Ở Đài Loan trên 50% thuốctrừ sâu được dùng để phòng chống sâu hại lúa trong đó chủ yếu là rầy nâu và rầylưng trắng Tuy nhiên không phải bao giờ thuốc cũng có hiệu quả trừ rầy, nhất làtrong những vụ dịch rầy nghiêm trọng Thực tế thuốc đã gây những ảnh hưởngtiêu cực mà con người chưa lường hết được mức độ và thời gian tác động củanhững ảnh hưởng phụ này ( Heinrich, 1979)
Nhật Bản là nước đi đầu xác định được những loại thuốc và những dạng thuốc
có tác dụng chống rầy nâu và rầy lưng trắng tốt nhất Đánh giá tác dụng nàytrong đồng ruộng ở Đài Loan thấy Carbofuran viên, Acephate, BPMC, MIPC cóhiệu quả trừ rầy nâu khá tốt Đến trước năm 1979, các cơ quan nông nghiệp ởmột số nước ở Đông Nam Á đã đề nghị một số loại thuốc trừ rầy lưng trắng trênđồng ruộng dựa vào hiệu quả trực tiếp và gián tiếp của thuốc, dựa vào khả năngmua thuốc của nông dân cũng như mức độ an toàn khi sử dụng ( Heinrich,1979)
Nhóm thuốc Neonicotonoid là nhóm thuốc trừ sâu mới, tác động đến rầy lưngtrắng bằng con đường nội hấp vận chuyển hướng ngọn, có thể dùng phun lêncây, xử lý giống và xử lý đất ở liều lượng khá thấp Nhiều nhà khoa học đánhgiá nhóm thuốc này là thuốc trừ sâu tốt Các hoạt chất dùng trừ rầy gồmImidacloprid, Thiamethoxam… trong đó thuốc Imidacloprid sản xuất đầu tiêncủa nhóm Neonicotinoid được đăng kí để trừ nhóm rầy hại lúa trong những nămđầu của thập niên 90 ( Thế kỉ XX) và rất nhanh chóng trở thành thuốc chủ yếucho vùng trồng lúa ở Trung Quốc vì có hiệu quả cao với các loại côn trùng chíchhút Tuy nhiên, liều lượng thuốc sử dụng đã tăng lên từ 15g a.i./ha trong năm
1990 lên 60- 120g a.i./ha trong những năm 2005 để duy trì hiệu quả trừ rầy (Yan
Hua Wang et al, 2009).
Trang 16Theo Matsumura M (1997) rầy lưng trắng tại các nước Đông Nam Á đang có
xu hướng kháng với hoạt chất Fipronil, nguyên nhân của hiện tượng trên đượcgiải thích là do Fipronil đã được sử dụng để phòng trừ sâu cuốn lá nhỏ vào giaiđoạn cây lúa làm đòng Đây cũng là thời điểm phát triển của rầy lưng trắng,chính vì vậy dù việc sử dụng các thuốc hóa học thuộc nhóm này để phòng trừrầy lưng trắng không phổ biến nhưng tính kháng thuốc Fipronil vẫn phát triển
Theo Haq et al (1991) trong nhóm các loại thuốc có nguồn gốc lân hữu cơ và
thuốc có nguồn gốc thảo mộc ở Pakistan thì thuốc lân hữu cơ cho hiệu lực caonhất (93,15%) sau đó là Methidathion (89,16%), Nicotin (61,63%) và cuối cùng
là dầu Neem (33,39%)
Biện pháp xử lý hạt giống bằng thuốc Cruiser plus 312.5FC trong điều kiệnphòng thí nghiệm với liều lượng 40- 60ml/100kg hạt giống có hiệu quả tốt trongviệc diệt trừ rầy lưng trắng ngay sau khi gieo cấy( 5-10 ngày)
Muốn phòng trừ rầy có hiệu quả cần phải phối kết hợp nhiều biện pháp khácnhau như sử dụng giống kháng, gieo trồng, luân phiên thuốc, phòng trừ sinhhọc…
Với rầy lưng trắng nói riêng và dịch hại cây trồng nói chung, phương hướng đểgiảm thiểu tính kháng thuốc của dịch hại là xây dựng một chiến lược phòng trừdịch hại đúng đắn Trong đó, bao gồm nhiều biện pháp mà sử dụng thuốc hóa họchợp lý là một mắt xích quan trọng, vừa hạn chế được tác hại của dịch hại đối vớicây trồng và nông sản, vừa làm giảm được cường độ sức ép chọn lọc của thuốc,
từ đó bảo vệ được cây trồng, hạn chế được tốc độ hình thành và phát triển tínhkháng thuốc của dịch hại
Trang 17PHẦN III NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1.Đối tượng và vật liệu nghiên cứu.
- Đối tượng: Quần thể rầy lưng trắng ( Sogatella fucifera Horvath) mẫn cảm
chuẩn
- Vật liệu nghiên cứu:
+ Dụng cụ nhân nuôi côn trùng: Nhà lưới,cốc nhựa, lồng lưới bao gồm lồng to cókích thước (60x60x120) cm, các lồng lưới nhỏ có kích thước (40x40x60) cm,(30x30x30) cm, khay gieo mạ, giá thể, ống tuýp, điều hòa nhiệt độ, các dụng cụ
đo nhiệt độ, độ ẩm v.v
+ Dụng cụ thử tính kháng thuốc: Bộ micropipettes các loại có thể hút chính xáctới 10μg/g với BHC, 0.7 ~ 54.8 μg/g với monocrotophos,l, lọ thủy tinh, bình CO2 (SGA) để gây mê rầy trưởng thành, đĩa petri, bútlông, hộp nhựa(được thiết kế thoáng khí để có thể nuôi được rầy sau khi xử lýthuốc tối thiểu 1 ngày), kính lúp cầm tay v.v…
+ Cân phân tích: Cân phân tích Mettler Toledo AG245 (có độ chính xác đến 5), dùng cân trọng lượng rầy và thuốc thử thí nghiệm
10-+ Phòng thí nghiệm: tủ lạnh, kính lúp, kính hiển vi, ống nghiệm, panh, dao, kéo,khay gieo mạ, lồng nuôi rầy…
+ Giống lúa Bắc thơm số 7, TN1 nhân nuôi nguồn rầy lưng trắng mẫn cảm
* Hóa chất: Profenofos, Imidacloprid, Pymethrozin, Thiosultap sodium
2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
- Địa điểm : Phòng thí nghiệm và nhà lưới tại Bộ môn Côn trùng, Khoa Nônghọc, Học viện Nông nghiệp Việt Nam
- Thời gian : Tháng 01/2015 đến tháng 07/2015
3 Nội dung nghiên cứu
- Điều tra tình hình sử dụng thuốc BVTV của đại lý thuốc BVTV và cán bộ trạm
BVTV tại tỉnh Thái Bình
- Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học, sinh thái của rầy lưng trắng mẫn cảmchuẩn trong phòng thí nghiệm
Trang 18-Nghiên cứu khả năng hình thành tính kháng thuốc của 4 nhóm hoạt chất đối vớiquần thể rầy lưng trắng mẫn cảm chuẩn tại Hà Nội
- Đánh giá hoạt tính của nhóm enzym giải độc
3.1 Điều tra tình hình sử dụng thuốc BVTV của đại lý thuốc BVTV và cán
bộ trạm BVTV tại tính Thái Bình.
-Đối tượng khảo sát gồm: Trạm BVTV huyện và đại lý thuốc BVTV
-Phạm vi và quy mô điều tra:
+Cấp địa phương: Tỉnh Thái Bình lựa chọn 3 huyện
+Đại lý kinh doanh thuốc BVTV: mỗi huyện tiến hành phỏng vấn 5 đại lý, tổng
số đối tượng được điều tra là 15 đại lý
-Nội dung và phương pháp điều tra: Tiến hành khảo sát và điều ta thu thập thôngtin theo phương pháp thu thập số liệu thứ cấp kết hợp phương pháp phỏng vấncác cán bộ trạm và đại lý kinh doanh địa phương Tổng số cuộc phỏng vấn đượctrình bày theo bảng
vị diện tích (ha).Nhận thức của nông dân về quy định hiện nay về sử dụng thuốcBVTV: Hiểu biết của nông dân về thiên địch và ảnh hưởng của sử dụng thuốc đếnthiên địch trên đồng ruộng: Nhận thức của nông dân về độ độc của thuốc bảo vệthực vật: Những căn cứ để nông dân lựa chọn thuốc bảo vệ thực vật khi sử dụng:Những căn cứ để nông dân quyết định phun thuốc bảo vệ thực vật trên đồngruộng: Kỹ thuật pha thuốc: Dụng cụ phun thuốc: Hiệu lực của thuốc theo các năm
sử dụng
Trang 19-Phân tích số liệu và báo cáo:
Các thông tin số liệu thu thập từ các cuộc phỏng vấn cán bộ trạm và đại lý kinhdoanh thuốc BVTV là các thông tin định tính sễ được tổng hợp và lồng ghép vớikết quả điều tra xã hội học thực tế sản xuất của nông dân Só liệu định lượng thuđược trên cơ sở phiếu điều tra sẽ được phân tích sử dụng phương pháp thống kê
mô tả để tóm tắt số liệu dưới dạng trị số trung bình, tỉ lệ phần trăm, tần suất xuấthiện… Số liệu định tính sẽ được xử lý quy về tỉ lệ phần trăm hoặc tần số xuấthiện Số liệu thu thập sẽ được phân tích cho từng vùng, từng địa phương, việc xử
lý được thực hiện trên phần mềm phân tích SPSS và MS Excel 2007
3.2 Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học.
3.2.1 Nhân nuôi quần thể rầy lưng trắng mẫn cảm chuẩn
- Phương pháp thí nghiệm: Rầy rầy lưng trắng nhân nuôi riêng rẽ trong các lồng
nuôi rầy để nhân số lượng lớn phục vụ thí nghiệm Khi rầy vũ hóa rộ từ 5 – 7ngày , dùng ống hút hút rầy cái chuyển vào lồng nuôi rầy với nguồn mạ mới đểcho rầy đẻ trứng Ngày hôm sau lấy khay mạ ra và rũ hết rầy vào trong mạ mới,cho trứng nở và phát triển Thay liên tục từ 3-5 ngày như vậy để có được nhữnglứa rầy đồng đều Thí nghiệm nhân nuôi rầy được tiến hành liên tục tại 3 phòngthí nghiệm và nhà lưới Lúa được gieo liên tục trong các khay mạ, chậu trồng cây,
ô chậu vại và ông xi măng để nhân nuôi và nuôi và lưu trữ nguồn rầy Những cáthể F1 trở đi mới bắt đầu tiến hành thí nghiệm
Trang 20Hình 1 Nhân nuôi quần thể trong lồng mica và lồng lưới
(Nguồn: Nguyễn Thị Thu Hằng)
3.2.2 Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học
Thí nghiệm được tiến hành với giống lúa Bắc thơm số 7 Hạt lúa được gieo vàocốc, khi lúa phát triển để lại 1 dảnh/cốc Khi mạ được 7 - 10 ngày tuổi tiến hànhthả rầy Bón phân: sử dụng phân urê hoà tan tưới cho mạ 15 ngày sau gieo, tướinước giữ ẩm hàng ngày
a Thí nghiệm theo dõi thời gian phát dục của trứng:
Trưởng thành đực và cái sau khi vũ hoá được ghép đôi và nuôi trong cốc có cây
mạ 7 ngày tuổi được cách ly bằng ống mi ca chụp rầy kích thước lồng chụp mi ca(Mô tả vào đây) Sau 24 giờ, cặp rầy trưởng thành được tách ra khỏi cốc mạ cũ vàchuyển sang cốc mạ mới Tiến hành chuyển cốc mạ hàng ngày cho đến khi trưởngthành chết Những cây lúa sau khi tiếp xúc với rầy được để cách ly theo dõi đểxác định thời điểm trưởng thành cái bắt đầu đẻ trứng và thời gian tiền đẻ trứng.Theo dõi hàng ngày để ghi lại thời gian nở của quả trứng đầu tiên cho đến quảtrứng cuối cùng tù đó xác định thời gian phát dục của trứng
b Thí nghiệm theo dõi thời gian phát dục của rầy non:
Trang 21Khi trứng bắt đầu nở thành rầy non tuổi 1, tách riêng để mỗi cốc mạ chỉ có 1 cáthể rầy hàng ngày quan sát ghi chép sự lột xác qua các tuổi đồng tời ghi chép số
cá thể rầy chết chết từ đó tính được thời gian phát dục từng tuổi Số cá thể theodõi n≥30
Hình 2.Thí nghiệm theo dõi thời gian phát dục các pha của rầy lưng trắng
c Sức sinh sản của rầy và nhịp điệu sinh sản
Thả 1 cặp rầy đực cái mới vũ hóa vào cốc có cây mạ 7 ngày tuổi được cách lybằng ống mi ca chụp rầy kích thước lồng chụp mi ca Sau 24 giờ, cặp rầy trưởngthành được tách ra khỏi cốc mạ cũ và chuyển sang cốc mạ mới Thí nghiệm thựchiện cho đến khi trưởng thành chết sinh lý ghi chép thời gian sống của trưởngthành đực cái Các cốc lúa đã được tiếp xúc với rầy hàng ngày được quan sát ghichép số rầy cám nở Số cặp theo dõi n≥20
3.3 Đánh giá tính kháng của các quần thể rầy lưng trắng mẫn cảm chuẩn đôi với một số nhóm hoạt chất.
- Mục đích của hoạt động: các quần thể rầy ở địa điểm nghiên cứu đã hình thànhtính kháng hay chưa và hình thành tính kháng với hoạt chất nào
Trang 22-Một số hoạt chất được sử dụng trong thí nghiệm:
+Profenofos: Thuốc thuộc Nhóm độc II, Lân hữu cơ
+Imidacloprid: Thuốc thuộc nhóm độc II, Thuốc thuộc nhóm Neonicotinoid.+Pymethrozin: Thuốc thuộc nhóm độc
+Thiosultap- sodium: Nhóm độc II, thuộc nhóm Nereistoxin
- Phương pháp thí nghiệm: Theo nghiên cứu tính kháng thuốc của Viện nghiên
cứu lúa quốc tế IRRI (Heong et al, 2011)
- Các bước tiến hành thí nghiệm:
+ Bước 1: Xác định thang nồng độ thử thuốc cho từng nhóm hoạt chất
Các nhóm hoạt chất sử dụng trong thí nghiệm là hoạt chất chuẩn Thang nồng
độ thử thuốc của từng nhóm hoạt chất được chia thành 5 – 10 bậc Nồng độtham chiếu (nồng độ trùng bình) được căn cứ vào nồng độ trung bình của hoạtchất đó theo khuyến cáo của nhà sản xuất (thông tin này được thu thập qua phầnđiều tra ở nội dung 3.4.1) Các thang nồng độ khác nhau sẽ lần lượt được tănglên theo giá trị 1-1,25-1,50 và giảm xuống lần lượt là 1-0,75-0,50…
Phương pháp pha: Dung dịch có nồng độ cao được dùng làm dung dịch mẹ (liều1), muốn chuyển sang nồng độ thấp hơn (liều 2) theo công thức:
C1V1 = C2V2
Trong đó: C1: Nồng độ thuốc ở liều 1
C2: Nồng độ thuốc ở liều 2V1: Thể tích liều thuốc 1 cần để pha chếV2: Thể tích liều thuốc 2 yêu cầu để pha chếTương tự làm như vậy để được nồng độ thấp nhất (liều n)
Vì các thuốc kỹ thuật không đạt độ tinh khiết tuyệt đối nên được hiệuchỉnh theo hệ số CF để thuốc đạt 100% hoạt chất
Hệ số CF được hiệu chỉnh theo công thức:
100%
CF =
Trang 23% a.i thuốc kỹ thuật
+ Bước 2: Tiến hành thử thuốc để thăm dò thang nồng độ chuẩn
- Tiến hành các thí nghiệm thử thuốc để thăm dò thang nồng độ đã xác định ởthí nghiệm 1 khảo sát sơ bộ các nồng độ có thể gây chết trên và dưới 50% cácthể và các nồng độ tiệm cận Các thang nồng độ pha được nếu không đạt cácngưỡng gây chết đề ra sẽ được điều chỉnh lại sao cho phù hợp (thang nồng độchuẩn với mức 5 – 10 bậc, nồng độ cao nhất gây chết 90 – 95% số cá thể vànồng độ thấp nhất gây chết 5 – 10% số cá thể thí nghiệm)
- Thí nghiệm được tiến hành như mô tả trong thí nghiệm 3
+ Bước 3: Tiến hành thử thuốc để xác định LD50 của các quần thể rầy lưng trắng
- Thí nghiệm được tiến hành trên rầy, thời điều kiện nhiệt độ phòng ổn định250C Dùng 10 – 20 con rầy cho mỗi lần tiến hành thí nghiệm và với ít nhất 3lần lặp lại cho mỗi công thức
- Pha thuốc: Dùng thuốc dạng kỹ thuật (Technical grade) pha chế dung dịch quy
về CF để tính ra lượng thuốc cần pha theo liều lượng 1,2,4,8,… lũy tiến theologarit
- 20 cá thể rầy được hút chuyển vào ống hút côn trùng, sao đó được làm bấtđộng bằng CO2 trong thời gian khoảng 10 – 20 giây Khi rầy vừa bất động đổlên đĩa petri có lót giấy thấm Dùng máy nhỏ giọt để nhỏ chính xác lên mảnhlưng ngực trước của các cá thể rầy với thể tích thuốc đồng đều là 0,2µl Kỹ thuậtnày được thực hiện dưới kính lúp soi nổi độ phóng đại 40 – 60 lần và đòi hỏi sựchính xác cao
Trang 24Sục khí CO2 làm rầy bất động Bơm thuốc
Pha thuốc Nhỏ thuốc
Hình 3 Các thao tác thí nghiệm thử thuốc
- Những cá thể rầy sau khi được tiến hành nhỏ thuốc sẽ được chuyển vào cácchai nhựa 15×7cm trong có sẵn 15 cây mạ 7-10 ngày sau gieo trồng Tỷ lệ chếtcủa các cá thể rầy thí nghiệm được theo dõi sau 24 giờ - 48 giờ
Hình 4 Rầy sau thử thuốc được chuyển vào cốc nhựa để theo dõi
Trang 25(Nguồn: Nguyễn thị thu Hằng)
Công thức tính toán:
Giá trị LD50 của từng nhóm hoạt chất thí nghiệm đối với các quần thể rầynâu và rầy lưng trắng đưc tính toán theo chương trình POLO PLUS của Viện lúaquốc tế IRRI, xử lý trên máy vi tính Tỷ lệ chết của rầy thử nghiệm với nhómhoạt chất có tương quan dương hay tương quan thuận với đường thẳng yk = ax +
b Các liều lượng của hoạt chất được logarit và tỷ lệ chết tương ứng với từngliều thử được chuyển thành probit Mức độ tin cậy của giá trị LD50 được kiểmđịnh bằng phương pháp 2
LD50 được xác định theo công thức:
LD50 được xác định theo công thức:
Nồng độ gây chết 50% cá thể rầy lưng trắng (ppm) x 0,2 (µl
LD50 = -
1000X trọng lượng trung bình 1 con rầy
* Hiệu lực thuốc tính theo CT Abbott
Hiệu lực thuốc (%) = 100
a a a
C T x C
Ca: Số cá thể sống ở công thức đối chứng sau xử lý
Ta: Số cá thể sống ở công thức thí nghiệm sau xử lý
Chỉ số kháng Ri được xác định theo quy định của FAO (1980):
LD50 của thuốc đối với sâu hại khảo sát
Trang 263.4 Nghiên cứu ảnh hưởng của một số hoạt chất đến một số đặc điểm của rầy lưng trắng
Rầy lưng trắng sau khi thử thuốc, theo dõi và ghi số liệu, các cá thể rầy sống lại
ở nồng độ gây chết 50% được đem nuôi và theo dõi sinh học
+ Lấy con cái sống sót ghép cặp với con đực, sau 2 ngày rút ra và theo dõi ngàytrứng nở Khi rầy tuổi 1 bắt đầu xuất hiện, tiến hành tách từng con cho vào từngống nghiệm có sẵn 3-4 cây mạ 7-10 ngày tuổi Theo dõi các tuổi và tỉ lệ đực cáicủa tối thiểu 30 ống
Sau đó tiến hành theo dõi các chỉ tiêu như trước khi thử thuốc , rồi tiến hành sosánh sinh học của rầy lưng trắng mẫn cảm chuẩn trước và sau thử thuốc
3.5 Đánh giá tính kháng đối với nhóm enzim giải độc.
- Địa điểm : Trung tâm bệnh cây nhiệt đới_Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam-Thời gian dự kiến:Tháng 4/2015 đến tháng 7/2015
Do trên thế giới, người ta mới chỉ nghiên cứu tính kháng enzim của rầy nâu nêndựa vào phương pháp đáng giá tính kháng enzim của rầy nâu áp dụng với rầylưng trắng mẫn cảm chuẩn để kiểm tra tính enzim của rầy lưng trắng mẫn cảmchuẩn
- Thí nghiệm đánh giá hoạt tính Cytochrome P450- dependent monooxygenase( Puine và cộng sự.,2010)
+Thí nghiệm được tiến hành trên quần thể rầy lưng trắng mẫn cảm chuẩn với 3lần nhắc lại/ thí nghiêm
+Mỗi quần thể rầy lấy 25 rầy cái trưởng thành cánh dài giữ trong lạnh – 80oC,sau đó nghiền với 0.9 mL đệm phosphate Na/K (0.1 M), pH 7.6, chứa 1 mMEDTA, 1 mM DTT, 200 mM sucrose Dịch nghiền được ly tâm ở 1000 g/15phút/4oC Dịch kết tủa được sử dụng để đánh giá hoạt tính enzyme
+50 µL dịch nghiền và 40 µL đệm phosphate Na/K (0.1 M), pH7.6, chứa 0.5 µL
100 mM 7-ethoxycoumarin (pha trong acetone) được cho vào bản ELISA vàtrộn đều Phản ứng được khởi động bằng bổ sung 10 µL NADPH dẫn tới nồng
độ cuối cùng là 0.1 mM NADPH và 0.5 mM 7-ethoxycoumarin TIếp tục ủ lắc
Trang 27đĩa 30 phút ở 30oC NADPH tự phát huỳnh quang được loại bỏ bằng bổ sung 10
µL oxidized glutathione (30 mM trong nước) và 10 µL glutathione reductase(0.5 units) Ủ tiếp 15 phút ở nhiệt độ phòng (25oC) và dừng phản ứng bằng bổsung 120 µL 50% acetonitrile trong đệm TRIZMA-base (0.05 M, pH 10) Lượng7-hydroxycoumarin được giải phóng trong quá trình phản ứng được đo bằngmáy đo huỳnh quang spectrofluorimeter ở bước sóng 465 nm (bước sóng kíchhoạt là 390 nm)
+Protein tổng số trong enzyme sẽ được tính bằng đơn vị mOD/min/mg protein
Số liệu thu được sẽ được xử lý bằng phần mềm Softmax_PRO
Hình 5: Một số thao tác thí nghiệm đánh giá enzim
Trang 28
PHẦN IV.KÊT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1 Điều tra tình hình sử dụng thuốc của đại lý thuốc và cán bộ trạm tỉnh Thái Bình.
4.1.1.Tình hình sử dụng thuốc trừ sâu thu thập thông tin từ đại lý thuốc Bảng 4.1 : Tình hình sử dụng thuốc trừ sâu của nông dân( Tỉ lệ trả lời: %)
Tỷ lệ số người (%) trả lời Huyện
Hưng Hà
Huyện Quỳnh Phụ
Huyện Đông Hưng
2 Khi nông dân tới đại lý mua thuốc
trừ rầy, họ thường yêu tư vấn
3
Tư vấn lựa chọn loại thuốc nào
4 Khi tư vấn cho nông dân lựa chọn
loại thuốc trừ rầy có quan tâm đến
Có: 100
Trang 29các loại thuốc họ đã và đang sử dụng
Không: 0
Không: 0 Không: 40
5
Lý do thay đổi các loại thuốc trừ rầy
6
Trong một thời điểm, khi mua thuốc
trừ rầy, nông dân có thường mua
kèm các thuốc khác (thuốc trừ sâu,
bệnh và cỏ dại) để phun cùng thuốc
Mỗi vụ lúa, nông dân thường mua
(hoặc phun) mấy lần thuốc trừ rầy
Tư vấn cho nông dân về liều dùng
ghi trên nhãn bao bì
Nông dân có phản ánh về việc khi sử
dụng một loại thuốc trừ rầy bị giảm
hiệu lực sau một số lần phun
Có xem xét đến các nguyên nhân khi
nghe nông dân phản ánh về việc
thuốc bị giảm hiệu lực
20
Không: 20
13 Có nghe nông dân phản ánh về hiệu
quả trừ rầy không tốt là do bình bơm
Trang 30Khi nông dân đến chọn mua các loại thuốc trừ rầy thì hầu hết họ đều chọn loại thuốc hiệu quả cao đắt tiền, bởi họ không muốn phải phun thuốc nhiều lần mà không đạt được hiệu quả như mong muốn Và rất quan tâm đến loại thuốc trừ rầy mà mình đang dùng khi đại lý thuốc tư vấn lựa chọn loại thuốc
Có rất nhiều lý do khiến các nông dân thay đổi thuốc trừ rầy trong đó lý do do hiệu quả giảm mạnh chiếm nhiều nhất và % cao nhất thuộc huyện Đông Hưng là37,5% Tuy nhiên còn 1 lý do khác mà 2 huyện Hưng Hà và Đông Hưng cũng nhận được % trả lời đó là do thuốc mới tốt hơn
Trong thời điểm khi mua thuốc trừ rầy, nông dân cả 3 huyện thường mua kèm theo loại các loại thuốc khác để phòng thêm các bệnh khác đạt hiệu quả cao
Về tần suất phun thuốc cũng như số lần mua thuốc trừ rầy /vụ thì có sự chênh khá lớn giữa các huyện Với tần suất 2 lần phun thì huyện Hưng hà chiếm ỉ lệ cao nhất là 80%, huyện Quỳnh Phụ là 40% và ít nhất là huyện Đông Hưng, Với tần suất phun nhiều hơn từ 3-4 lần/vụ thì ngược lại, huyện Đông Hưng lại chiếmnhiều nhất 80%, huyện Quỳnh Phụ 60%, huyện Hưng Hà 20%
Các đại lý thuốc ở huyện Quỳnh Phụ và Đông Hưng đều tư vấn cho nông dân vềliệu lượng, tuy chỉ có huyện Hưng Hà vẫn còn 20% đại lý thuốc không tư vấn cho nông dân Và khi tư vấn về liều dùng thì hầu như đều giống theo nhãn ghi, huyện Quỳnh Phụ đạt 100%, 2 huyện còn lại đều chỉ đạt 80% Tất cả nông dân đều nghe theo sự tư vấn này
Nông dân cả 3 huyện đều phản ánh về việc khi sử dụng một số loại thuốc trừ rầy
bị giảm hiệu lực sau một số lần phun trong đó nhiều nhất là huyện Đông Hưng
Trang 3180%, tiếp đến huyện Hưng Hà 60% và cuối cùng là huyện Quỳnh Phụ 40% Tuynhiên vẫn có một số nông dân không phản ánh về việc này với tỉ lệ không hề nhỏ: huyện Quỳnh Phụ chiếm tới 60%, huyện Hưng Hà 60% và huyện Đông Hưng 20% Sau khi nghe nông dân phản ánh thì các đại lý thuốc cũng đã xem xét đến các nguyên nhân làm giảm hiệu lực thuốc, không phải tất cả nhưng tỉ lệ này cũng chiếm một phần lớn Và một trong các nguyên nhân mà nông dân phảnánh là do bình bơm không chuẩn Đó là nguyên nhân mà 100% nông dân ở huyện Quỳnh phụ và Đông Hưng phản ánh, còn ở huyện Hưng Hà chỉ có 80%.
4.1.2.Tình hình sử dụng thuốc trừ sâu thu thập thông tin từ các trạm BVTV
Qua việc thu thập thông tin sử dụng thuốc ở các huyện khác nhau của tỉnh Thái Bình chúng ta cùng theo dõi các bảng số liệu dưới đây để thấy được sự khác biệt
Bảng 4.2 5 loại thuốc trừ rầy được dùng nhiều nhất từ 2003 đến nay tại huyện Hưng Hà tỉnh Thái Bình
Thời gian ngừng
sử dụng
Nồng độ Hiệu quả
hiện nay (Tốt=1; TB=0; Kém=-1)
Như khuyến cáo
Hơn khuyến cáo 1,2 lần
Hơn khuyến cáo 1,5 lần 2003-
Trang 325 loại thuốc được sử dụng nhiều nhất từ năm 2003 đến nay tại huyện Hưng Hà gồm có: Atara 25WP, Bassa 50WP, Midan, Penaty, Dragon trong đó chỉ có loại thuốc Dragon là mới được sử dụng từ năm 2008 còn 4 loại thuốc còn lại đã được
sử dụng từ năm 2003 Đã có 2 loại thuốc ngừng sử dụng là: Atara 25WP, Bassa 50WP Tất cả các thuốc đề dược sử dụng ở nồng độ khuyến cáo, tuy nhiên thì không phải loại thuốc nào cũng đạt được hiệu quả tốt Chỉ Bassa 50WP, Midan đạt trung bình Riêng Atara 25WP thì chỉ có 33,33% là tốt, còn lại là trung bình
Bảng 4.3.Liệt kê 5 loại thuốc trừ rầy được dùng nhiều nhất từ 2003 đến nay
tại huyện Quỳnh Phụ tỉnh Thái Bình
Thời gian ngừng
sử dụng
Nồng độ Hiệu quả
hiện nay (Tốt=1; TB=0; Kém=-1)
Như khuyến cáo
Hơn khuyến cáo 1,2 lần
Hơn khuyến cáo 1,5 lần 2003-
Có 5 loại thuốc được sử dụng nhiều nhất tại huyện Quỳnh Phụ là Atara 25WP, Bassa 50WP, Penaty, Dantotsu, Victory trong đó có 4 loại thuốc được bắt đầu sửdụng từ năm 2003- 2007 đó là Atara 25WP, Bassa 50WP, Penaty, Dantotsu, chỉ
Trang 33có thuốc Victory là mới được sử dụng từ năm 2008 Tất cả các loại thuốc đều được sử dụng theo nồng độ được khuyến cáo nhưng không phải loại thuốc nào cũng đạt được hiệu quả tôt nhất Có duy nhất 1 loại thuốc đạt hiệu quả tốt là Dantotsu, còn 3 loại thuốc Bassa 50WP, Penaty, Victory đạt hiệu quả trung bình Thuốc Atara 25WP thì có 66,67% đạt tốt, 33,33% là trung bình.
Bảng 4.4 Liệt kê 5 loại thuốc trừ rầy được dùng nhiều nhất từ 2003 đến
nay tại huyện Đông Hưng tỉnh Thái Bình
Thời gian ngừng
sử dụng
Nồng độ Hiệu quả
hiện nay (Tốt=1; TB=0; Kém=-1)
Như khuyến cáo
Hơn khuyến cáo 1,2 lần
Hơn
khuyến
cáo 1,5 lần 2003-
Ở cả 3 huyện Hưng Hà, Quỳnh Ph ụ, Đông Hưng đều sử dụng loại thuốc Atara 25WP và Bassa 50WP nhưng hiệu quả sử dụng ở các huyện lại khác nhau, chỉ
có huyện Đông Hưng khi sử dụng 2 loại thuốc trên đạt được hiệu quả tốt còn huyện Hưng Hà và Quỳnh Phụ chỉ đạt được ở mức trung bình hoặc có một số ít
Trang 34% là tốt Ngoài ra ở mỗi huyện có sử dụng các loại thuốc khác nhau và hầu hết các loại thuốc này đều đạt được hiệu quả tốt ở nồng độc khuyến cáo.
4.3 Hiện trạng quản lý tính kháng rầy nâu, rầy lưng trắng đối với thuốc BVTV tại các vùng trồng lúa ở 3 huyện Hưng Hà, Quỳnh Phụ và Đông Hưng tỉnh Thái Bình
Tỉnh Thái bình với diện tích chủ yếu là đồng bằng, là nơi có các cánh đồng thắng cánh cò bay, phần lớn người dân ở đây là làm nông nghiệp Chính vì thế
họ rất chú trọng trong việc quản lý sâu bệnh hại cây trồng là đặc biệt là cây lúa
để không bị ảnh hưởng đến năng suất cũng như chất lượng sản phẩm Qua điều tra các huyện trên ta thu được kết quả sau đây:
Nhiễm rầy lưng trắng (X)
Kháng rầy nâu (X)
Kháng rầy lưng trắng (X)
Trang 35nhiễm rầy nâu là BC15, Bắc thơm số 7, N87, TBR45 nhưng chỉ có 2 giống kháng rầy nâu là Hương thơm và RVT Xi23 Các giống nhiễm rầy lưng trắng có
2 giống là Bắc thơm số 7, N87 và có 3 giống kháng rầy lưng trắng là BC 15, RVT Xi23 và TBR45 Như vậy với cơ cấu giống trên thì số giống nhiễm rầy nâunhiều hơn số giống kháng , còn đối với rầy lưng trắng thì ngược lại
Nhiễm rầy lưng trắng (X)
Kháng rầy nâu (X)
Kháng rầy lưng trắng (X)
Huyện Quỳnh Phụ có tổng diện tích canh tác là 45000 ha trong đó diện tích
trồng lúa là 35400 ha với các giống lúa chính là: BC 15, BT số 7, N87, Q5, TBR1, Tạp giao, QR1 Giống BC 15 được trồng nhiều nhất với % diện tích là 45% và QR1 được trồng ít nhất với % diện tích là 3% Đối với các loại giống trên thì hầu hết đều bị nhiễm rầy nâu và rầy lưng trắng chỉ trừ QR1 không bị nhiễm rầy lưng trắng mà mặt khác lại còn kháng rầy lưng trắng Cơ cấu giống có
sự chênh lệch khá lớn
+ Huyện Đông Hưng
Trang 36Nhiễm rầylưng trắng(X)
Kháng rầynâu (X)
Kháng rầylưng trắng(X)
Huyện Đông Hưng – Thái Bình có tổng diện tích canh tác là 36300 ha và được
sử dụng toàn bộ vào trồng lúa Giống Q5 được trồng nhiều nhất ở đây với % diện tích lên đến 30% và giống nếp 87, 97 được trồng ít nhất với % diện tích là 5% Cơ cấu giống nhiễm/kháng rầy nâu,rầy lưng trắng khá đồng đều ,có 4 giốngnhiễm rầy nâu và rầy lưng trắng là Xi23, Bắc thơm số 7, Nếp 87, 97 3 giống kháng rầy nâu và rầy lưng trắng là Vn10, BC15, Q5
Khi so sánh giống cây trồng ở cả 3 huyện trên thấy có một số giống đều đ ược trồng ở cả 3 huyện chiếm một diện tích đáng kể là BC15 v à Bắc thơm số 7 Tuy
là trồng chung giống nhưng khi trồng ở 3 huyện thì nó lại có khả năng kháng, nhiễm rầy nâu, rầy lưng trắng khác nhau Điều này còn phụ thuộc vào điều kiện chăm sóc và chủng/ nòi rầy của vùng đó Ngoài 2 giống lúa trên ở mỗi huyện có
cơ cấu các giống khác cũng có khả năng kháng rầy nâu, rầy lưng trắng tạo sự đa dạng trong cơ cấu cây trồng
Trang 37+ Công tác chỉ đạo phòng trừ và khắc phục sâu bệnh kháng thuốc cũng đóng
một vai trò vô cùng quan trọng.Các địa phương ở 3 huyện cũng đã thực hiện được công tác này, nó được thu thập và thể hiện ở bảng sau:
Bảng 4.8 Công tác chỉ đạo phòng trừ và khắc phục sâu bệnh kháng thuốc của 3 huyện Hưng Hà, Quỳnh Phụ, Đông Hưng tỉnh Thái Bình
Tỷ lệ số người (%) trả lời Huyện
Hưng Hà (%)
Huyện Quỳnh Phụ (%)
Huyện Đông Hưng (%)
Trung bình
1
+ Địa phương có thường xuyên thực
hiện dự báo về tình hình dịch hại
Địa phương thực hiện dự báo về tình
hình dịch hại trên lúa và chỉ đạo
nông dân phòng trừ mức độ thường
Nông dân thường quyết định thời
điểm phun thuốc
Phun định kỳ
Theo thông báo của địa phương 100 100 100 100