1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Mô tả một số yếu tố liên quan tới hành vi quan hệ tình dục khôngan toàn của nhóm nam bán dâm đồng giới tại Hà Nội năm 2009-2010

89 547 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 89
Dung lượng 1,31 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mô tả một số yếu tố liên quan tới hành vi quan hệ tình dục không an toàn của nhóm nam bán dâm đồng giới tại Hà Nội năm 2010... 2009-CÂY VẤN ĐỀCây vấn đề phân tích một số yếu tố liên quan

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI

NGUYỄN NGÂN HÀ

MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN HÀNH VI TÌNH DỤC KHÔNG AN TOÀN Ở NHÓM NAM BÁN DÂM

ĐỒNG GIỚI TẠI HÀ NỘI NĂM 2009-2010

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP BÁC SỸ ĐA KHOA

KHÓA 2006-2012

HÀ NỘI – 2012

Trang 2

NGUYỄN NGÂN HÀ

MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN HÀNH VI TÌNH DỤC KHÔNG AN TOÀN Ở NHÓM NAM BÁN DÂM

ĐỒNG GIỚI TẠI HÀ NỘI NĂM 2009- 2010

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP BÁC SỸ ĐA KHOA

KHÓA 2006-2012

Người hướng dẫn: PGS.TS NGUYỄN MINH SƠN

Trang 3

Ban giám hiệu, phòng Đào tạo đại học trường Đại học Y Hà Nội, ViệnĐào tạo Y học dự phòng và Y tế công cộng đã tạo mọi điều kiện cho em hoànthành khóa luận này.

Em xin được bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới:

PGS.TS Nguyễn Minh Sơn, người thầy đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn

em trong suốt quá trình nghiên cứu đến khi hoàn thành khóa luận này

Các thầy cô giáo đã tận tình chỉ bảo, dìu dắt em trong suốt quá trình họctập tại trường Đặc biệt là các thầy cô giáo trong bộ môn Dịch tễ đã đóng gópnhững ý kiến quý báu giúp cho em có thể hoàn thành khóa luận này

Trung tâm Nghiên cứu và Đào tạo HIV/AIDS, trường Đại học Y Hà Nội,Nhà tài trợ là Viện Quốc Gia về Lạm Dụng Ma Túy, Các Viện Quốc Gia Hoa

Kỳ đã cho phép tôi được sử dụng số liệu để viết khóa luận tốt nghiệp này

Xin ghi nhớ và biết ơn bố, mẹ đã luôn chăm lo cho bước đường sự nghiệpcủa con Xin cám ơn anh em, bạn bè đã luôn động viên và giúp đỡ em học tập vàhoàn thành khóa luận này

Hà Nội, tháng 5 năm 2012

Sinh viên

Nguyễn Ngân Hà

Trang 4

Kính gửi:

- Phòng đào tạo trường Đại học Y Hà Nội

- Khoa y tế công cộng trường Đại học Y Hà Nội

- Bộ môn Dịch tễ - Trường Đại học Y Hà Nội

- Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp

Tôi xin cam đoan tất cả số liệu được sử dụng trong luận văn này là hoàn toàn có thật, bản thân tôi đã phân tích và xử lý số liệu một cách trung thực

Nếu có sai sót tôi xin chịu toàn bộ trách nhiệm

Hà Nội, ngày 15 tháng 5 năm 2012

Người thực hiện

Nguyễn Ngân Hà

Trang 5

AIDS: Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải(Acquired

Immunodeficiency Syndrome)BCH: Bộ câu hỏi

BCS: Bao cao su

HIV: Virus gây suy giảm miễn dịch ở người (Human

Immunodeficiency Virus)MSM: Nam có quan hệ tình dục đồng giới (Men who have

sex with man)NBDĐG: Nam bán dâm đồng giới

PNBD Phụ nữ bán dâm

QHTD: Quan hệ tình dục

QHTDĐG: Quan hệ tình dục đồng giới

STIs: Những nhiễm trùng lây truyền qua đường tình dục

(Sexually transmitted infections)

TP HCM: Thành phố Hồ Chí Minh

THCS Trung học cơ sở

THPT Trung học phổ thông

Trang 6

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

15

1.5 Các chương trình nghiên cứu về MSM/NBDĐG 19

Trang 7

2.7 Sai số và khống chế sai số 25

3.1.2 Đặc điểm QHTD không vì mục đích trao đổi 31

3.2 Mô tả các yếu tố liên quan tới QHTD không an toàn 413.2.1 Sử dụng rượu bia và các chất gây nghiện 41

3.2.4 Một số yếu tố liên quan của QHTD không an toàn trong lần bán dâm

4.1 Đặc điểm chung về đối tượng tham gia nghiên cứu 48

4.3 Một số yếu tố liên quan tới QHTD không an toàn 54

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 8

Bảng 3.1 Đặc điểm nhân khẩu học và kinh tế xã hội 28

Bảng 3.2 Hấp dẫn về mặt tình dục theo đặc điểm tự nhận 30

Bảng 3.3 QHTD không an toàn ở lần đầu và lần gần đây nhất 31

Bảng 3.4 QHTD với bạn tình nữ theo nhóm đối tượng có bán dâm và không bán dâm trong 30 ngày qua 32

Bảng 3.5 QHTD với bạn tình nam không trao đổi theo nhóm đối tượng có bán dâm và không có bán dâm trong 30 ngày qua 33

Bảng 3.6 QHTD bán dâm lần đầu tiên 34

Bảng 3.7 QHTD bán dâm trong lần gần đây nhất 36

Bảng 3.9 Số lần bán dâm trong 30 ngày qua theo quê quán 39

Bảng 3.10 Thu nhập kinh tế theo số lần bán dâm 30 ngày qua 40

Bảng 3.12 Kiến thức về HIV/STIs theo trình độ học vấn 42

Bảng 3.13 Yếu tố liên quan đến QHTD không an toàn trong lần bán dâm đầu tiên 44

Bảng 3.14 Yếu tố liên quan đến QHTD không an toàn trong lần bán dâm gần đây nhất 45

Trang 10

Biểu đồ 3.1 Đặc điểm tự nhận 29Biểu đồ 3.2 Các lý do đối tượng có QHTD bán dâm nam 33Biểu đồ 3.3 Tỷ lệ QHTD an toàn theo đường miệng và hậu môn trong hành vi

QHTD bán dâm nam 38Biểu đồ 3.4 Gặp vấn đề do sử dụng rượu/bia trong 30 ngày qua 41Biểu đồ 3.5 Tỷ lệ đối tượng từng sử dụng dịch vụ y tế 43

Trang 11

ĐẶT VẤN ĐỀ

Quan hệ tình dục đồng giới (QHTDĐG) vẫn diễn ra tại tất cả các xã hội

và mọi lứa tuổi Đây cũng là sự thật tại khu vực châu Á – Thái Bình Dươnghay như ở bất kỳ nơi nào trên thế giới Và nam có QHTDĐG đang được xem

là nhóm có nguy cơ cao nhiễm HIV và các lây truyền qua đường tình dụckhác (STIs) bởi hành vi QHTD không an toàn Do vậy, để có được những ứngphó có hiệu quả với HIV/AIDS, cần có những hiểu biết sâu về vấn đề nàycũng như các hành vi tình dục vốn từng bị coi là cấm kỵ

Những nghiên cứu Dịch tễ học và xã hội học về lây nhiễm HIV/AIDS, vềđối tượng nam có QHTDĐG đã dần phác thảo về một nhóm đối tượng có liênquan chặt chẽ với nhóm nam có QHTDĐG và tiềm ẩn nhiều nguy cơ cao lâynhiễm HIV đó là nhóm nam bán dâm đồng giới (NBDĐG) Một số nghiêncứu trên thế giới và ở Việt Nam cho thấy hiện tượng NBDĐG không phải làhiện tượng hiếm Theo Manop Uthaikom (Thailand), tại Bangkok, tỷ lệNBDĐG trong nhóm nam có QHTDĐG là 27% [6] Tại Việt Nam, theonghiên cứu của Colby năm 2001, trong 219 nam có QHTDĐG thì có 22% đãtừng mua dâm và 31% đã từng bán dâm [8] Theo kết quả điều tra kết hợphành vi và các chỉ số sinh học HIV/STIs tại Việt Nam năm 2005 – 2006 ởnhóm nam có QHTDĐG trả lời có bán dâm trong vòng một tháng trước thờiđiểm điều tra là 22% ở Hà Nội và 41% ở TP HCM Trong nghiên cứu của tácgiả Nguyễn Anh Tuấn thì 65% trong số nam có QHTDĐT đã từng mua dâmhoặc bán dâm [5]

Các nghiên cứu cũng chỉ ra QHTD không an toàn với nhiều loại bạn tình

là nguyên nhân gây nên lây nhiễm HIV/STIs với tỉ lệ cao ở nhóm này Nghiêncứu tại Jakarta-Indonesia cũng đã cho biết, tỉ lệ không sử dụng BCS khi

Trang 12

QHTD đường hậu môn trong nhóm NBDĐG lên tới 64,8% Kết quả nghiên cứutại Thái Lan cho thấy nhóm NBDĐG có trung bình 2,5 khách nam giới mua dâmtrong 1 tuần 87% NBDĐG có QHTD với bạn tình nữ, trung bình mỗi NBDĐG

có 12,7 bạn tình nữ trong đời và gần 2 bạn tình nữ trong 3 tháng qua [7]

Ở Việt Nam, mại dâm nam đang phát triển nhanh chóng, đặc biệt là ở cáckhu đô thị lớn như Hà Nội Tuy nhiên sự hiểu biết về nhóm mại dâm nam, vềhành vi tình dục cũng như nguy cơ lây nhiễm HIV của nhóm này còn chưa đầy

đủ Vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu này nhằm đạt được 2 mục tiêu:

MỤC TIÊU:

1 Mô tả đặc điểm hành vi quan hệ tình dục của nhóm nam bán dâm đồng giới tại Hà Nội.

2 Mô tả một số yếu tố liên quan tới hành vi quan hệ tình dục không

an toàn của nhóm nam bán dâm đồng giới tại Hà Nội năm 2010.

Trang 13

2009-CÂY VẤN ĐỀ

Cây vấn đề phân tích một số yếu tố liên quan đến hành vi QHTD không

an toàn ở nhóm NBDĐG

HÀNH VI TÌNH DỤC KHÔNG AN TOÀN Ở NHÓM NBDĐG

ĐẶC ĐIỂM HÀNH VI QHTD

Yếu tố cá

nhân

QHTD không vì mục đích trao đổi

QHTD với bạn tình nam vì mục đích trao đổi

Sử dụng dịch vụ

y tế

Một số yếu tố khác: tình huống gặp khách hàng mua dâm, mục đích bán dâm…

Trang 14

CHƯƠNG 1

TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Một số khái niệm cơ bản

1.1.1 Nam có quan hệ tình dục đồng giới

Hiện nay trên thế giới mại dâm nam được xem là nhóm đối tượng cónguy cơ cao lây nhiễm HIV và các bệnh lây truyền qua đường tình dục, tuynhiên ở một số quốc gia đặc biệt là các nước châu Á các chương trình phòngchống HIV cho nhóm này còn gặp rất nhiều khó khăn Thời gian đầu mớiphát hiện căn bệnh AIDS ở người đồng giới nam, người ta cũng coi AIDS làcăn bệnh của những người đồng tính luyến ái Do ở nhiều nước trong khu vựcquan hệ đồng giới không được xã hội thừa nhận và thậm chí bị kỳ thị nên việcthừa nhận QHTDĐG là điều khó khăn Mặt khác với nhiều nền văn hóa châu

Á, khái niệm QHTDĐG chỉ mới xuất hiện gần đây cũng tạo sự khó khăn choviệc bàn luận công khai trên các diễn đàn

Thuật ngữ “nam có quan hệ tình dục đồng giới” ( Men who have sexwith men – MSM) mô tả một hiện tượng thuộc về hành vi hơn là một nhóm

cụ thể Cụm từ này thường được dùng nhiều hơn trong khung cảnh liên quanđến HIV, mô tả một hành vi nguy cơ hơn là mô tả khuynh hướng tình dục cánhân Trong khuôn khổ khái niệm tình dục đồng giới nam, có nhiều mức độnam tính khác nhau, nhiều định dạng về giới và tình dục, nhiều cộng đồng,mạng lưới và nhóm khác nhau cũng như những hành vi không liên quan đếnmột nhóm, hoặc một cộng đồng nào Nhóm nam có QHTDĐG không chỉ baogồm những người tự nhận là người đồng tính (gay) và người lưỡng tĩnh (bi-sexual), mà còn bao gồm cả những người đàn ông nhận là dị tính(heterosexual) nhưng có QHTDĐG Thuật ngữ này bao gồm cả những người

Trang 15

nam có ham muốn tình dục đồng giới và những người nam có quan hệ tìnhdục đồng giới bị cưỡng ép [6].

Nhóm nam có QHTDĐG không phải là nhóm đồng nhất hoặc mộtnhóm thiểu số bị cách biệt trong xã hội với duy nhất một sở thích tình dục mà

họ thuộc nhiều tầng lớp xã hội khác nhau Nhóm này có thể là những ngườivẫn duy trì các đặc điểm nam tính theo quy ước và không tự coi bản thânmình là những đồng giới, gay hoặc thậm chí là người có xu hướng tình dụclưỡng giới Nhiều nam giới có QHTDĐG cũng vẫn có QHTD với phụ nữ [7]

1.1.2 Nam bán dâm đồng giới

Đầu những năm 1980, trên cơ sở lý luận của lý thuyết tương tác biểutrưng, G W Levi Kamel đã chỉ ra một vài kiểu quan hệ bán dâm – mua dâm

có tác động tích cực, dựa trên cơ sở tuổi tác, những định hướng về giới tính,những phong cách riêng do giới tính tạo ra, và những sở thích riêng về giớitính Ông đã đề cập đến 3 nhóm chính là:

- Những kẻ bán dâm còn trẻ tuổi, non tơ và là người đồng tính, vànhững kẻ mua dâm “cáo già” không tìm được những chàng trai đủ trẻ để đápứng nhu cầu của họ

- Những kẻ bán dâm đầy nam tính và những kẻ mua dâm muốn “vượtrào” vì luôn cảm thấy không hài lòng về sự nữ tính, ẻo lả của những ngườiđồng tính nam khác

- Những kẻ bán dâm chuyên nghiệp và những khách mua dâm “kín đáo” –thường là những người đàn ông nông thôn đã có gia đình hoặc những người ở vùngngoại ô, họ không thể tiếp cận được với thế giới của người đồng tính

Cũng trong nghiên cứu này, Kamel thấy rằng không phải tất cả nhữngngười bán dâm nam đều là người đồng tính; một số trong họ vẫn chưa rõ về

Trang 16

giới tính của mình và trên thực tế nhiều người vẫn có nhu cầu QHTD vớingười khác giới Một nghiên cứu khác được D Kelly Weisberg thực hiện tạiWashington D.C tìm ra rằng 87% nam bán dâm đồng giới trả lời rằng chínhtiền đã khiến họ làm công việc này Ngoài ra, 72% những người trong nghiêncứu thừa nhận có sử dụng chất kích thích trong khi bán dâm, đây cũng là mộtnguyên nhân làm tăng áp lực về tiền bạc lên bản thân họ [20].

Bán dâm nam hay còn gọi là male prostitute hay male sex worker được

mô tả là người đàn ông đem bán khả năng tình dục cho một ai đó có nhu cầu,bất luận người đó có tự nhận là người đồng tính hay không Tuy nhiên hiệnnay khái niệm bán dâm còn được mở rộng ra thêm, ngoài trao đổi bằng tiềncòn có thể là vì nhiều lợi ích vật chất khác như chỗ ăn, chỗ ở, công việc…vàcòn có thể là lợi ích về tình dục, muốn khám phá tình dục đồng giới, haynhững người đồng giới do việc kiếm bạn tình khó khăn mà họ có thể đi bándâm để được thỏa mãn nhu cầu tình dục

1.1.3 Một số khái niệm khác

- QHTD bằng miệng nhận: Là người bị bạn tình nam giới khác đưa

dương vật vào miệng mình trong QHTD bằng đường miệng – sinh dục

- QHTD bằng miệng cho: Là người đưa dương vật của mình vào

miệng của bạn tình trong QHTD bằng đường miệng – sinh dục

- QHTD bằng hậu môn nhận: Là người bị bạn tình khác đưa dương

vật vào hậu môn của mình trong QHTD bằng đường hậu môn

- QHTD bằng hậu môn cho: Là người đưa dương vật của mình vào

hậu môn bạn tình trong QHTD bằng đường hậu môn

- Đa hệ: Là người có quan hệ tình dục đồng giới nam nhưng vừa có cả

quan hệ tình dục với nữ

Trang 17

- Bạn tình nước ngoài: Là những bạn tình nam giới người nước ngoài

bao gồm cả Việt Kiều

1.2 Thực trạng nam có quan hệ tình dục đồng giới/Nam bán dâm đồng giới (MSM/NBDĐG)

1.2.1 Trên thế giới

Phần lớn các nghiên cứu đều ước tính số nam giới có quan hệ tình dụcđồng giới thấp hơn tỷ lệ thực Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng này.Thứ nhất, trong số các vấn đề nhạy cảm có liên quan tới giới, tình dục vàAIDS, vấn đề quan hệ tình dục đồng giới nam bị kỳ thị và không được thừanhận nhất Chính vì vậy nhiều người thấy khó khăn khi thảo luận thẳng thắn

và cởi mở về nó Một nguyên nhân nữa là sự đa dạng của những nhóm namgiới có quan hệ tình dục đồng giới cũng như hoàn cảnh xã hội nơi tình dụcđồng giới diễn ra

Ước tính số nam giới có quan hệ tình dục với nam giới chiếm 2% - 5%tổng số nam giới trên toàn thế giới (Caceres và cộng sự - 2006) Tình dụcđồng giới nam diễn ra ở mọi nền văn hóa Các tác phẩm từ cổ xưa bằng tiếngPhạn đã mô tả mối quan hệ đồng giới, các tác phẩm cổ đại bằng tiếng TrungHoa và Triều Tiên cũng mô tả những mối quan hệ này Ở Đông Á, các nghiêncứu đã ước tính rằng 3% - 5% nam giới đã từng có quan hệ tình dục với namtrong cuộc đời Tỷ lệ này ở vùng Nam và Đông Nam châu Á là 6 - 18% [7]

1.2.2 Tại Hà Nội

Theo một nghiên cứu trong tổng số 1270 nam thanh niên sử dụngheroin ở Hà Nội có 79 đối tượng đã từng tham gia bán mại dâm nam Nghiêncứu của Doussantousse và cs về nhóm mại dâm nam ở Hà Nội vào năm 2002cho kết quả đa số nam giới bán dâm có đặc điểm tự nhận là đàn ông, là dânlao động ngoại tỉnh

Trang 18

Cộng đồng MSM ở Hà nội không phải là nhóm đồng nhất trên cả haiphương diện: xã hội và tính dục Tính đa dạng này có những ý nghĩa khácnhau đối với sức khỏe tính dục của họ, và do vậy cần xét đến điều này khithiết kế và thực hiện các can thiệp về sức khỏe tính dục với nhóm này.

Xét về thành phần xã hội, MSM ở Hà Nội đến từ nhiều thành phần khácnhau Do vậy, hoạt động can thiệp về sức khỏe tình dục không thể giống nhau

mà cần được đa dạng hóa để thích hợp với đặc thù xã hội của từng nhóm

MSM ở Hà Nội trải nghiệm sự kỳ thị và phân biệt đối xử từ cả phía giađình và xã hội Trong khi hầu hết những người đồng tính có thể dựa vào sự hỗtrợ của gia đình về mặt kinh tế và tình cảm, họ cũng khó mà trông đợi sự chấpnhận của gia đình về bản sắc tính dục đích thực của mình Thay vào đó, họluôn phải sống dưới áp lực phải tuân theo những chuẩn mực xã hội về hônnhân và con cái để thích ứng với những khuôn mẫu về nam tính phổ biếntrong xã hội Việt Nam Những thái độ tiêu cực của xã hội với nhóm bóng lộcàng làm họ sợ bị phát hiện nhiều hơn, và vì thế nhóm MSM càng cố gắng trởnên vô hình Điều đó càng khiến cho các hoạt động can thiệp trở nên khókhăn hơn trong việc tiếp cận tới các nhóm này

Xét về lối sống và mức độ bộc lộ khuynh hướng tính dục đồng giới,MSM ở Hà Nội có thể được chia làm 2 nhóm bóng kín và bóng lộ Bóng kín

là những MSM luôn giấu kín ham muốn tình dục đồng giới và các mối quan hệvới người đồng giới Bóng lộ lại thường công khai về bản sắc tính dục đồng giớicủa mình Nhiều người bóng lộ ăn mặc và cư xử giống như phụ nữ Do bóng kínkhó nhận dạng nên những nỗ lực can thiệp sẽ khó tiếp cận tới nhóm này hơn Kỳthị liên quan đến bóng lộ có thể là rào cản cho các nỗ lực tạo lòng tin của cácthành viên trong nhóm và vận động sự hỗ trợ từ cộng đồng

Thế giới của cộng đồng MSM tại Hà Nội có thể được mô tả bằng

Trang 19

hoạt động giải trí của các thành viên thuộc cộng đồng này Internet ngày càngtrở thành một phương tiện quan trọng giúp các MSM trẻ tuổi kết nối và tạomạng lưới với nhau.

Xét về bản sắc tính dục, cộng đồng MSM ở Hà Nội bao gồm ba nhómchính: nhóm đồng tính, nhóm lưỡng tính và nhóm khác giới Hầu hết nhữngngười trong nhóm đồng tính hoàn toàn chỉ có quan hệ tình dục với nam giới,một vài trong số họ thử quan hệ tình dục với phụ nữ để khẳng định bản sắctính dục của mình Những người lưỡng tính và khác giới trong nghiên cứunày có quan hệ tình dục với cả nam giới và phụ nữ Cả bóng lộ và bóng kínthích quan hệ tình dục với đàn ông “ xịn” Bóng kín rất hiếm khi muốn có liên

hệ với bóng lộ và ngược lại nếu bóng lộ biết được bản sắc tính dục thật sự củabóng kín

Thị trường mại dâm nam-nam ở Hà Nội hiện nay đang rất sôi động.Bên cạnh người dân bản địa, nam di dân trở thành một nguồn cung quan trọngcho thị trường này Tham gia hoạt động mại dâm nam không chỉ gồm ngườiđồng tính, mà còn có cả những người nam không đồng tính di cư đến Hà Nội

từ các tỉnh thành khác Họ có thể là sinh viên, công nhân, quân nhân, người sửdụng ma túy, thất nghiệp, hay người lang thang, vô gia cư

Khách hàng của mại dâm nam-nam cũng thuộc nhiều thành phần xã hộikhác nhau Điều này cho thấy cộng đồng người đồng tính và MSM ở Hà Nộirất đông đảo thành viên Họ giữ bí mật về bản sắc tính dục và lối sống nhằmtránh sự xấu hổ và phân biệt đối xử liên quan đến tính dục đồng giới Nhómdân cư đông đảo nhưng tàng hình này tạo nên những thách thức to lớn cho cácchương trình khuyến khích tình dục an toàn

Hầu hết MSM có trải nghiệm tình dục lần đầu tiên với nam giới khi còntrong độ tuổi vị thành niên Phần lớn người đồng tính và lưỡng tính sau lầnđầu quan hệ có cảm giác lẫn lộn giữa giải tỏa và lo lắng Họ rất thích quan hệtình dục với nam giới nhưng đồng thời cảm thấy xấu hổ và tội lỗi Hầu hết

Trang 20

phải tiếp tục đấu tranh với những băn khoăn về bản sắc tính dục của bản thântrong nhiều năm sau [2].

1.3 Hành vi quan hệ tình dục ở nhóm MSM/NBDĐG

1.3.1 Đặc điểm hành vi quan hệ tình dục ở nhóm MSM/NBDĐG

Hành vi tình dục của MSM/NBDĐG được đặc trưng bởi các hình thứchẹn hò kết bạn sôi nổi, quan hệ tình dục với tần suất cao, có nhiều bạn tình,hình thức quan hệ đa dạng, ít hoặc không sử dụng bao cao su Tin vào sự antoàn trong quan hệ tình dục nam-nam là nhân tố chủ yếu khiến họ không sửdụng bao cao su Với nhiều MSM/ NBDĐG, thiếu khả năng thương lượng sửdụng bao cao su với bạn tình là một rào cản để họ thực hành tình dục an toànhơn, đặc biệt với nhóm mại dâm nam Chỉ một số ít MSM/NBDĐG biết đến

và sử dụng chất bôi trơn trong quan hệ hậu môn

Mặc dù MSM/NBDĐG biết về HIV/ STIs cũng như giang mai và lậu,nhiều người cũng nhận thức được những nguy cơ lây nhiễm của các bệnh này,nhưng vẫn còn tồn tại nhiều nhận thức và tưởng tượng sai lầm xung quanhtình dục giữa nam với nam Nhiều người trong số họ tin rằng tình dục nam-nam an toàn hơn tình dục nam- nữ, và phụ nữ mới là nguồn lây các bệnh quađường tình dục Có một quan niệm cho rằng tình dục hậu môn và tình dụcđường miệng có thể an toàn nếu người cho xuất tinh ra ngoài Một số người

tự tin cho rằng họ có thể nhận biết được bạn tình của mình có phải là ngườikhỏe mạnh không qua vẻ bề ngoài của người đó

Rất ít MSM/NBDĐG biết đến và sử dụng dịch vụ tư vấn và xét nghiệm

tự nguyện Nhiều người khi mắc STIs thích tự mua thuốc để điều trị do muốntránh bị kỳ thị MSM/NBDĐG thường tìm đến điều trị tại các cơ sở y tế tư nhân

để tránh bị phát hiện Một số nhà cung cấp dịch vụ y tế có thể chưa nhận thứcđược sự tồn tại của các vấn đề sức khỏe tính dục của MSM Điểu này có thể hạn

Trang 21

chế khả năng xác định được nhu cầu đặc thù của khách hàng MSM và từ đó hạnchế khả năng đưa ra những lời khuyên và hướng điều trị thích hợp [2].

Bên cạnh đó, sự chồng chéo giữa tình dục khác giới và tình dục đồnggiới nam chính là vấn đề nảy sinh trong cuộc đấu tranh phòng chống AIDS.Nhiều người đàn ông có quan hệ tình dục đồng giới vẫn có quan hệ tình dục

cả với phụ nữ Nhiều người đàn ông đã lập gia đình nhưng vẫn có quan hệtình dục đồng giới với bạn tình nam khác 42% những người tham gia trả lờitrong cuộc khảo sát về Nam quan hệ tình dục đồng giới ở Andhra Pradesh, Ấn

Độ đã lập gia đình ( Dandona và cộng sự,2005) Một khảo sát được tiến hànhvới 482 người nam có quan hệ tình dục đồng giới ở Bắc Kinh (Gibson vàcộng sự, 2004) cho thấy gần 2/3 trong số những người tham gia phỏng vấn đã

có quan hệ tình dục với phụ nữ 28% trong số họ có quan hệ tình dục với phụ

nữ trong vòng 6 tháng qua Nhiều người đàn ông bán dâm cho đàn ông đều có

vợ hoặc bạn tình nữ, một số khác bán hoặc mua dâm từ phụ nữ Tình dục giữanam với nam có thể diễn ra trong những hoàn cảnh chỉ có nam giới, ví dụ nhưtrong tù hoặc trong nhóm những người lái xe tải (Khan và Hyder,1988).Những người có những hành vi này có thể không nghĩ họ là người đồng tính.Trong hoàn cảnh khác họ vẫn có thể quan hệ tình dục với phụ nữ

Nguy cơ rất rõ ràng là những người nam có quan hệ tình dục đồng giớinhiễm HIV sẽ truyền sang cho vợ hoặc bạn tình nữ của họ Chính vì thế, dịchAIDS trong nhóm những người nam quan hệ tình dục đồng giới không táchbiệt với dịch trong cộng đồng dân cư như mọi người thường nghĩ Do đó, cóthể ngăn chặn sự lan truyền rộng của HIV thì việc cần làm là phòng lây truyềnHIV trong nhóm những người nam có quan hệ tình dục đồng giới

1.3.2 Nguy cơ lây nhiễm HIV/STIs trong quan hệ tình dục

a Nguy cơ lây nhiễm HIV/STIs ở nhóm MSM

Trang 22

* Quan hệ tình dục qua đường hậu môn

Trong QHTD nam – nam, hành vi QHTD qua đường hậu môn là hành

vi đem lại nguy cơ lây nhiễm HIV và STIs cao nhất trong tất cả các loại hìnhthức QHTD nếu không áp dụng biện pháp bảo vệ Hành vi này thực sự rấtnguy hiểm cho những người thực hành chúng bởi hậu môn không có cơ chếtiết dịch bôi trơn và giảm đau như khi có QHTD qua đường âm đạo đối với

nữ Hơn nữa, niêm mạc trực tràng có nhiều mao mạch dễ bị tổn thương xâyxước khi có QHTD qua đường này Có thể tính miễn dịch tế bào tại đườngvòng hậu môn thấp hơn so với tính miễn dịch tế bào tại âm đạo, khả năng tựbảo vệ khi có QHTD không an toàn thấp [19]

Tại Việt Nam, Quỹ cứu trợ trẻ em của Anh đã tiến hành một nghiêncứu hành vi trên 276 nam giới có QHTDĐG tại TP HCM năm 1997 cho thấy64% đã từng có QHTD qua đường hậu môn và 42% có QHTD qua đường hậumôn trong lần QHTD lần gần nhất [17] Một nghiên cứu hành vi tiến hànhtrên 219 nam giới có QHTDĐG cũng tại TP Hồ Chí Minh trong năm 2001cho thấy phần lớn những người này (81%) có QHTD với bạn tình bất chợt vàmột nửa có QHTD qua đường hậu môn với bạn tình bất chợt [9]

Nhận thức được hành vi nguy cơ lây nhiễm HIV và STIs trong hìnhthức QHTD qua đường hậu môn nên các nghiên cứu trên nhóm này đều đềcập đến các chỉ số này như là một thông tin gián tiếp cho tình trạng nhiễmHIV và các bệnh STIs khác

* Sử dụng Bao cao su và chất bôi trơn

Nếu QHTD qua đường hậu môn có sử dụng BCS và dùng thêm chấtbôi trơn hòa tan với nước cho mọi lần quan hệ thì nguy cơ lây truyền HIVgiảm đi rất nhiều

Trang 23

Nguy cơ lây truyền HIV qua đường QHTD bằng đường hậu môn cũng

có thể giữa nam giới với nữ giới là đặc biệt cao nếu không dùng BCS

Một nghiên cứu điều tra trên 206 nam giới có QHTDĐG tại PhnômPênh về hành vi QHTD và xét nghiệm nhiễm HIV và các bệnh STIs cho thấy81% trong số họ báo cáo có QHTD với bạn tình nam giới khác trong 6 thángtrước khi điều tra và có 61,2% báo cáo có QHTD qua đường âm đạo với phụ

nữ Tỷ lệ sử dụng BCS của nhóm này với các loại bạn tình khác nhau là rấtkhác nhau, hơn 48% NQHTDĐG có QHTD không an toàn trong QHTD quađường hậu môn với bạn tình nam, hơn 23% có QHTD không an toàn với bạntình nữ [18]

Một điều tra trên 600 nam giới có QHTDĐG tại hành phố Hồ Chí Minhcũng báo cáo 43% người nhận - 51% người cho đã QHTD đường hậu mônkhông bảo vệ với bạn tình nam bất chợt trong tháng qua [5] Kết quả điều tratrên nhóm nam giới có QHTDĐG từ kết quả giám sát lồng ghép các chỉ sốhành vi và sinh học HIV/AIDS năm 2006 và năm 2009 cho thấy tỷ lệ sử dụngBCS thường xuyên với các loại bạn tình khác nhau, nhưng nhìn chung là rấtthấp ở tất cả các nhóm [4]

Không chỉ việc QHTD không dùng BCS mà cả việc dùng chất bôi trơntrong QHTD cũng rất thấp và cũng dùng không thường xuyên ở nhóm nam cóQHTDĐG Một nghiên cứu cho thấy chỉ có 44,4% luôn sử dụng chất bôi trơntrong 6 tháng qua, chỉ có 20,5% đối tượng sử dụng chất bôi trơn hòa tan trongnước, các chất bôi trơn khác được sử dụng bao gồm nước bọt, mỡ kháng sinh,chất dưỡng da, chất bôi trơn không tan trong nước [5]

* Số lượng bạn tình

Nhiều nam giới có QHTDĐG vẫn có QHTD với cả nữ giới, nhiềungười vẫn lập gia đình nhưng có QHTD với bạn tình nam khác Sự đa dạng về

Trang 24

các loại bạn tình cũng như số lượng bạn tình là những chỉ số phản ảnh nguy

cơ lây nhiễm HIV và STIs mà các nghiên cứu trên nhóm nam có QHTDĐGtrước đây đã đề cập phần nào

Các yếu tố nguy cơ lây nhiễm HIV trên nhóm nam có QHTDĐG tạiPhnom Pênh là QHTD bằng đường hậu môn với nhiều bạn tình (OR=3,3), cóQHTD qua đường âm đạo với PNBD trong tháng qua (OR=3,3), hiện tại mắcgiang mai (OR=9,0) và có mắc bất cứ STIs (OR=5,9) [18]

Tại Việt Nam, một nghiên cứu đã khẳng định có trên 5 bạn tình namgiới có QHTD qua đường hậu môn trong tháng qua là một trong những yếu tốnguy cơ gây nhiễm HIV (OR=2,43) [5]

b Nguy cơ lây nhiễm HIV/STIs ở nhóm NBDĐG

* QHTD đường hậu môn không an toàn

Trên thế giới, nhiều nghiên cứu chuyên sâu về NBDĐG cho thấy tỉ lệQHTD đường hậu môn, đặc biệt là QHTD không an toàn đều rất cao và caohơn đáng kể so với nhóm không bán dâm Nghiên cứu tại Jakarta-Indonesiacũng đã cho biết, tỉ lệ không sử dụng BCS khi QHTD đường hậu môn trongnhóm NBDĐG lên tới 64,8%, cao nhất trong các nhóm đối tượng nam QHTDđồng giới khác [13] Thượng Hải là thành phố có hoạt động mại dâm namhoạt động khá mạnh với khoảng 60 địa điểm đồng tính hoạt động, một vàitrang web đồng tính được ưa chuộng và một số tổ chức đồng tính phi chínhphủ nhưng có tới 29,1% không dùng biện pháp bảo vệ khi QHTD với kháchhàng Hồng Kông [16] Theo một nghiên cứu tại Ấn Độ trên 75 đối tượngNBDĐG, 100% số người được hỏi báo cáo có QHTD đường hậu môn, tuynhiên chỉ có 33% sử dụng BCS thường xuyên và có tới 13% chưa bao giờ sửdụng BCS [14]

Trang 25

* QHTD với nhiều bạn tình thuộc cả hai giới

Nguy cơ lây nhiễm HIV và STIs, thể hiện qua số bạn tình cũng như sự

đa dạng của các loại bạn tình trên nhóm NBDĐG cũng đã được nhiều nghiêncứu đề cập Kết quả nghiên cứu tại Thái Lan cho thấy nhóm NBDĐG có trungbình 2,5 khách nam giới mua dâm trong 1 tuần Số liệu một nghiên cứu tạiNga trên 434 nam giới có QHTDĐG cho thấy, trong 96 đối tượng có bán dâmthì trung bình mỗi đối tượng có 74 bạn tình nam trong đời và có 4,1 bạn tìnhnam trong 3 tháng qua Bên cạnh, nhóm NBDĐG cũng có quan hệ tình dục vớinhiều bạn tình nữ 87% NBDĐG có QHTD với bạn tình nữ, trung bình mỗiNBDĐG có 12,7 bạn tình nữ trong đời và gần 2 bạn tình nữ trong 3 tháng qua

So sánh với nhóm nam có QHTDĐG không có QHTD bán dâm, nhóm nam cóQHTDĐG có QHTD dục bán dâm có nhiều bạn tình nam và bạn tình nữ hơnnhóm nam có QHTDĐG khác và 1/3 trong số họ đã từng điều trị STIs [10].1.4 Một số yếu tố liên quan đến hành vi tình dục không an toàn ở nhómNBDĐG

Một số yếu tố liên quan đến hành vi nguy cơ trong nhóm NBDĐG cóthể chia thành 3 nhóm: yếu tố cá nhân, yếu tố môi trường và hoàn cảnh cụ thểcủa việc bán dâm

Trang 26

được Chính vì vậy, những người đồng tính luyến ái nam được xếp vào nhómnhững người có nguy cơ cao bị lây nhiễm HIV/AIDS.

Những khác biệt về đặc điểm kinh tế xã hội, về quá trình tiếp cận vàphát triển của tình dục đồng giới nam, về môi trường văn hóa và chính trị ảnhhưởng đến sự “chấp nhận” QHTD đồng giới đều có ảnh hưởng đáng kể đến

sự khác biệt trong đặc điểm nhân khẩu và xã hội cũng như trong nguy cơ lâynhiễm HIV ở nhóm NBDĐG Theo McNamara, những người bán dâm thường

có nhận thức sai lầm về những căn bệnh STIs, như việc họ tin rằng họ có thểphân biệt được khách hàng nào bị nhiễm bệnh hay không thông qua việc quansát bên ngoài thấy anh ta trông sạch sẽ hoặc trông bệnh tật, đó thực sự là mộtniềm tin rất ngây thơ và nguy hiểm [19] Hơn nữa, McNamara cũng đã tiếnhành điều tra cơ chế thích nghi và tìm ra một thực tế rằng một số người bándâm sau khi biết mình nhiễm bệnh đã tỏ ra lãnh đạm, che giấu nó và vẫn tiếptục hành nghề bán dâm Các yếu tố như kiến thức HIV/AIDS, sự khó khăn vềkinh tế, xu hướng tình dục và sự tin tưởng vào mỗi quan hệ với bạn tình đãđược một nghiên cứu trên nhóm NBDĐG tại Trung Quốc đề cập là các yếu tốảnh hưởng đến việc sử dụng BCS trong nhóm này [11]

- Một số NBDĐG khi chuyển từ nông thôn lên thành phố đã phải đốimặt với rất nhiều vấn đề để có thể hòa nhập, như khó khăn về tài chính, áp lựctâm lí Điều này cũng góp phần ảnh hưởng đến việc sử dụng BCS khi QHTD

và làm gia tăng nguy cơ lây nhiễm HIV và STIs cho các nhóm sinh sống tạilàng quê của họ Một nghiên cứu ở nhóm NBDĐG ở Hà Nội năm 2007 chothấy hơn 80% nam giới trong mẫu nghiên cứu (n=110) là nam thanh niên từcác tỉnh khác về Hà Nội; khoảng 75% nói rằng mình bán dâm là vì lý do kinh

tế, hơn 70% nói rằng mình là “đàn ông” và chỉ hấp dẫn tình dục bởi phụ nữ và

có đến hơn 50% nói rằng đã tham gia bán dâm trong khoảng thời gian từ 1

Trang 27

năm trở lại, điều này chứng tỏ sự quay vòng nhanh chóng trong nhómNBDĐG [1].

1.4.2 Yếu tố môi trường

- Sự kì thị của gia đình và xã hội

Mặc dù đã có nhận thức về tầm quan trọng của nhóm đồng giới namtrong việc phát triển dịch HIV/AIDS, nhưng nhận thức về nguy cơ của nhómmại dâm bị hạn chế bởi sự kỳ thị ở mức độ cao đối với cả hai loại hành vi làquan hệ đồng tính và mại dâm Một nghiên cứu được thực hiện qua nhữngcuộc phỏng vấn với 18 mại dâm nam tuổi từ 17 đến 40 cho thấy nghề mạidâm nam vẫn bị định kiến rất nhiều ở Hồng Kông, xã hội cho rằng đó là mộtnghề thiếu văn hóa, những NBDĐG bị cho là những nạn nhân hay nhữngcông cụ tình dục thiếu tri thức và kỹ năng [15]

Một nghiên cứu mới được tiến hành năm 2009 do Trung tâm phòngchống STDs/HIV/AIDS (SHAPC) tiến hành về đề tài: “Tình dục đồng giớinam tại Việt Nam, sự kỳ thị và hệ quả xã hội” tại 6 thành phố gồm: Hà Nội,Thái Nguyên, Đà Nẵng, Nha Trang, Thành phố Hồ Chí Minh và Cần Thơ.Nghiên cứu này đề cập đến những áp lực từ phía gia đình, cộng đồng và dưluận xã hội lên người đồng tính khiến họ gặp nhiều khó khăn trong cuộc sốngngay cả ở giai đoạn học sinh, đi làm và không được sự hậu thuẫn của giađình Nghiên cứu này cho rằng: “Sự kỳ thị của gia đình và cộng đồng đối vớingười đồng tính nam đã làm cho cuộc sống của người đồng tính nam, đặc biệt

là “bóng lộ” gặp khó khăn về nhiều mặt, hoặc gây ra những hệ quả xấu khôngchỉ cho người đồng tính nam mà còn cho xã hội Một thực tế cần phải nhìnnhận đó là nhiều người đồng tính nam, khi bỏ nhà ra đi họ không có việc làm

ổn định, họ kiếm sống bằng những nghề lao động tự do hoặc phải sống bằngnhững nghề mà xã hội không mong muốn như lô đề, cờ bạc, trộm cắp… Họ

Trang 28

dễ bị đẩy vào hoàn cảnh gia đình không hạnh phúc phải li thân, li hôn với vợ

do bị gia đình ép lập gia đình; do bị kỳ thị họ cũng khó khăn tìm kiếm đượcbạn tình và dễ bị bạo lực tình dục” [3]

- Khả năng tiếp cận với các dịch vụ y tế, chăm sóc sức khởe

Tại quận Mombasa-trung tâm kinh tế và du lịch của Kenya NBDĐGphải đối mặt với định kiến từ xã hội và xa lánh từ gia đình, họ bị cấm chia sẻđời sống tình dục và cấm tìm đến các dịch vụ sức khỏe, nhu cầu phòng tránhHIV cho những người này phần lớn bị bỏ qua nên nạn dịch HIV càng trở nêntồi tệ hơn

Ở Việt Nam, khả năng tiếp cận dịch vụ y tế của nhóm NBDĐG vẫn chưađược quan tâm nhiều, một số nghiên cứu trong nhóm NQHTDĐG đã cho thấyhạn chế của nhóm này trong việc tiếp cận dịch vụ y tế Tỷ lệ đã từng làm xétnghiệm HIV của NQHTDĐG tại Hà Nội (20%) cũng như tỷ lệ những người đãnhiễm HIV có biết về tình trạng nhiễm HIV của họ (10%) thấp nhất trong cácnhóm đối tượng có nguy cơ Trong nhóm NQHTDĐG, tỷ lệ đã từng làm xétnghiệm HIV của nhóm tự nhận chỉ bán dâm là 12%, thấp hơn nhiều so với tỷ lệtrung bình (20%) Ngoài ra chỉ có khoảng 40% nam giới có QHTDĐG đã từngnhận được BCS Trong đó, tỷ lệ của nhóm bán dâm là thấp nhất (22%) [5]

1.4.3.Hoàn cảnh cụ thể mỗi lần mua bán dâm

Hình thức quan hệ cũng như việc sử dụng BCS khi QHTD phụ thuộcnhiều vào hoàn cảnh cụ thể của mỗi lần mua bán dâm Theo kết quả của nhiềunghiên cứu, ba yếu tố thường được đề cập đến là địa điểm bán dâm, việc sửdụng chất kích thích/ma túy trước khi quan hệ và các yếu tố liên quan đếnkhách hàng [16] Trong đó, khách hàng thường là yếu tố quan trọng, quyếtđịnh hình thức quan hệ, cũng như việc sử dụng BCS khi quan hệ Khoảng 2/3

số khách hàng thường yêu cầu hình thức quan hệ mà họ muốn trong quá trình

Trang 29

dục trong QHTD nam – nam đã được tiến hành năm 2007 tại Trung Quốc chothấy, thực hành tình dục trong nhóm này bị chi phối rất lớn bởi mạng lưới xãhội mà họ có quan hệ, sự yêu cầu của khách hàng trong lần quan hệ tình dục

đó [12]

Các kết quả nghiên cứu sơ bộ nói trên cho thấy tầm quan trọng củanhóm NBDĐG trong dịch HIV/AIDS cũng như tầm quan trọng của việcnghiên cứu đầy đủ hơn trong nhóm này Những khác biệt về đặc điểm kinh tế

xã hội, về quá trình tiếp cận và phát triển của tình dục đồng tính nam, về môitrường văn hóa và chính trị ảnh hưởng đến sự “chấp nhận” quan hệ tình dụcđồng giới đều có ảnh hưởng đáng kể đến sự khác biệt trong đặc điểm nhânkhẩu và xã hội cũng như trong nguy cơ lây nhiễm HIV và STIs trên nhómNBDĐG

1.5 Các chương trình nghiên cứu về MSM/NBDĐG

1.5.1 Trên thế giới

Phần lớn các chương trình phòng chống AIDS ở các quốc gia trong khuvực châu Á và Thái Bình Dương đều bỏ qua nhóm nam có quan hệ tình dụcđồng giới Trong 20 nước được tiến hành khảo sát trong năm 2006 thì chỉ có 9nước có các chương trình hoặc can thiệp HIV cho nhóm nam có quan hệ tìnhdục đồng giới trong kế hoạch chiến lược quốc gia phòng chống AIDS Mặc

dù dịch AIDS ở khu vực châu Á xuất hiện đầu tiên trong nhóm nam có quan

hệ tình dục đồng giới nhưng hiện nay chiến lược dự phòng và điều trị HIVcủa hầu hết các quốc gia đều tập trung vào cộng đồng dân cư chung hoặcnhững nhóm nguy cơ cao dễ nhận diện như phụ nữ hành nghề mại dâm, vàkhách hàng của họ, hoặc nhóm khó nhận diện hơn như nhóm tiêm chích matúy [6]

Mức độ bao phủ của các chương trình dành cho nhóm nam quan hệ tìnhdục đồng tính còn thấp Một khảo sát được thực hiện năm 2006 về mức độ

Trang 30

bao phủ của các hoạt động can thiệp HIV ở 15 nước khu vực châu Á – TháiBình Dương ước tính rằng các chương trình dự phòng dành cho nam quan hệtình dục đồng giới chỉ tiếp cận chưa tới 8% nam giới có quan hệ tình dụcđồng giới ( Stover và cộng sự, 2006)

1.5.2 Ở Việt Nam

Trong khi nguy cơ và các nhu cầu về dự phòng lây nhiễm HIV chonhóm nam giới có quan hệ tình dục với nam (MSM) đã được công nhận ở cácnước châu Á, ở Việt Nam nhóm này vẫn chưa được tìm hiểu cặn kẽ, và do đóMSM đến nay vẫn chưa được coi như một nhóm nguy cơ cao trong cácchương trình phòng chống HIV Sự thiếu quan tâm này có thể là kết quả của

sự thiếu hiểu biết về tình dục đồng giới Tất cả hình ảnh và thông tin về tìnhdục ở Việt Nam hiện nay đều tập trung đến tình dục khác giới Tình dục đồnggiới gần như không được đề cập đến trong văn hóa nói chung, chưa nói đếntrong các chiến dịch HIV/AIDS cụ thể Kết quả là, vẫn còn nhiều nhận thức

và tưởng tượng sai lầm về MSM tồn tại trong cộng đồng, không phải dongười dân có kiến thức không đúng về vấn đề, mà họ thường giả định trên cơ

sở những tưởng tượng được đưa ra như là sự thật trên các thông điệp củatruyền thông đại chúng và các nghiên cứu không có tính khoa học [2]

Tình trạng này đến nay đã được cải thiện phần nào sau một số nghiên cứu

về MSM được thực hiện ở các tỉnh phía Nam Việt Nam trong một vài năm qua.Tuy nhiên nhóm MSM ở miền Bắc vẫn hoàn toàn chưa được biết đến

Trang 31

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Địa điểm nghiên cứu:

Nghiên cứu này được tiến hành tại Hà Nội, tập trung ở các quận nội thành.Các địa bàn thực địa gồm có: hồ Hoàn Kiếm, hồ Thuyền Quang, công viên ThốngNhất, khu tẩm quất, mát xa Quan Thánh, các spa, xông hơi ở Tôn Đức Thắng,Kim Liên; các quán bar như Go Go club… dành cho người đồng tính

2.2 Đối tượng nghiên cứu:

- Đối tượng nghiên cứu: Là nam có QHTD bán dâm đồng giới tại Hà Nội.

- Tiêu chuẩn lựa chọn đối tượng vào nghiên cứu

+ Nam giới tuổi từ 16 đến 35

+ Sống tại Hà Nội ít nhất 1 tháng qua

+ Có hành vi QHTD miệng hoặc hậu môn với một nam giới khác trongvòng 90 ngày qua mà trong mối quan hệ đó có sự mong đợi một phầnhay toàn bộ về mặt vật chất hoặc sự đền bù (gồm có tiền, ma túy, chỗ ở,quần áo, quà tặng hoặc các trao đổi có giá trị kinh tế khác) để trao đổivới việc QHTD

+ Hợp tác tham gia nghiên cứu

- Tiêu chuẩn loại trừ

+ Không hợp tác

+ Không phù hợp với tiêu chuẩn trên

Trang 32

2.3 Thời gian: Thời gian từ tháng 1/2009 đến tháng 6/2011

2.4 Phương pháp nghiên cứu

2.4.1 Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu mô tả cắt ngang, với mục đích nhằm mô tả hoạt động mại dâmnam và thực trạng nhiễm HIV/STIs trên nhóm này tại thời điểm nghiên cứu

2.4.2 Cỡ mẫu nghiên cứu

Áp dụng công thức

n = 2

) 2 / 1 (  

- n: Là cỡ mẫu nghiên cứu tối thiểu

- p = 34,8% ( Tỉ lệ đối tượng không sử dụng bao cao su khi có QHTD quađường hậu môn trong lần bán dâm gần đây nhất - Dựa theo kết quả nghiêncứu đặc điểm dịch tễ học và các yếu tố nguy cơ lây nhiễm HIV/STIs ở HàNội năm 2009 của tác giả Nguyễn Hữu Anh)

- Z1-α/2 là hệ số giới hạn tin cậy, ứng với độ tin cậy 95%,   0 05 thì Z(1

Trang 33

lĩnh vực mại dâm đồng giới nam và có tham khảo các nghiên cứu trước đó đềphần nào nhận diện những địa điểm ban đầu nhóm này thường xuất hiện

Sau thời gian đi thực địa hàng ngày để quan sát, tiếp xúc với cộngđồng, tìm hiểu, làm quen và tiếp cận đối tượng tại địa điểm nghiên cứu chúngtôi đã xác định được các điểm nóng có nhóm nam có QHTDĐG hoạt động là

hồ Hoàn Kiếm, hồ Thuyền Quang, khu vực Quán Thánh và các tụ điểm Spa,các quán bar, club dành cho người đồng tính

Sự có mặt thường xuyên của nghiên cứu viên trên địa bàn thực địa giúptạo niềm tin đối với nhóm nam giới có quan hệ tình dục nam-nam là đốitượng đích của chúng tôi rằng chúng tôi là các nghiên cứu viên và sự xuấthiện của chúng tôi không có mục đích nào khác là nghiên cứu để nâng caosức khỏe cộng đồng

Nghiên cứu viên tiếp cận với tất cả những nam giới trẻ tuổi có mặt tạicác điểm nghiên cứu được xác định có hoạt động mại dâm nam và mời họtham gia vào hoạt động phỏng vấn ngắn (sàng lọc) về hành vi QHTD Phỏngvấn ngắn tập trung vào những thông tin liên quan tới tiêu chí lựa chọn đốitượng vào tham gia nghiên cứu như; hỏi về lần QHTD gần đây nhất và hành

vi QHTD trong 90 ngày trước đó, bao gồm cả QHTD với bạn tình nữ, bạntình nam, bạn tình mua bán dâm

Sau giai đoạn phỏng vấn sàng lọc, các thông tin sẽ được đối chiếu đểxem đối tượng được phỏng vấn có phù hợp với tiêu chuẩn tham gia nghiêncứu không Những đối tượng đủ các tiêu chuẩn trên sẽ được mời về vănphòng thực địa tại trường Đại học Y Hà Nội, chính thức trở thành đối tượngnghiên cứu và tham gia phỏng vấn điều tra ngang, làm các xét nghiệm theothỏa thận trong nghiên cứu

Trang 34

2.5 Phương pháp thu thập thông tin

- Nghiên cứu sử dụng bộ câu hỏi được thiết kế để thu thập các thông tinphục vụ cho mục đích nghiên cứu bao gồm những nội dung chính sau:+ Phần A: Đặc điểm nhân khẩu học/kinh tế

+ Phần B: Sử dựng rượu bia và các chất gây nghiện khác

+ Phần C: Quan hệ tình dục với bạn tình nữ

+ Phần D: Quan hệ tình dục với bạn tình nam không vì mục đích trao đổi+ Phần E: Quan hệ tình dục trong hoạt động mại dâm nam

+ Phần F: Tình trạng sức khỏe và dịch vụ y tế

+ Phần G: Kiến thức về lây truyền HIV/STIs

- Bộ câu hỏi được thử nghiệm tại thực địa trước khi triển khai để bổ sung vàchỉnh sửa những câu hỏi thích hợp với đối tượng là những người đangmuốn che dấu những hành vi nguy cơ và những thông tin nhạy cảm vềQHTD, nhất là trong QHTD bán dâm nam

2.6 Biến số, chỉ số, phương pháp và công cụ thu thập số liệu

Mục tiêu Nhóm biến số Định nghĩa biến số và chỉ số

Phương pháp thu thập

Đặc điểmnhân khẩu học

Phân bố độ tuổi

Bộ câu hỏiphỏng vấn

Phân bố trình độ học vấnPhân bố tình trạng hôn nhânPhân bố quê quán

Phân bố nơi ngủ qua đêmThâm niên bán dâmCách kiếm tiền chính trong

30 ngày qua

Trang 35

Đặc điểmgiới vàhấp dẫntình dục

Đặc điểm tự nhận

Giới hấp dẫn về mặt tình dụcQHTD không vì

mục đích trao đổi

Lần đầu có QHTDQHTD trong 30 ngày quaLần gần đây nhất

QHTD với bạn tình nam vì mụcđích trao đổi

Lý do đối tượng có QHTD bán dâm đồng giới

Lần đầu tiênTrong 30 ngày quaLần gần đây nhất

Sử dụng rượu bia và các chất gây nghiện

Tính OR,

CI và p.Kiến thức về HIV/STIs

Sử dụng dịch vụ y tếMột số yếu tố liên quan đến QHTD không an toàn trong lần bán dâm đầu tiên và lần gần đây nhất

2.7 Sai số và khống chế sai số

Các sai số có thể gặp

- Sai số nhớ lại do đối tượng không nhớ kỹ các thông tin

- Sai số thu thập thông tin hay sai số phỏng vấn

- Đối tượng nói dối,

Khống chế sai số

Trang 36

- Để tạo niềm tin với đối tượng trước khi về tham gia điều tra ngang, nghiêncứu viên thường xuyên đi thực địa, làm quen và tạo niềm tin cho họ.

- Với những câu hỏi quan trọng trong bộ câu hỏi đều có các câu hỏi kiểm tralại thông tin để tạo sự thống nhất trong thông tin thu thập được từ các câu hỏi

- Đào tạo và tập huấn bộ câu hỏi cho các điều tra viên, tạo lòng tin cho đốitượng qua việc điều tra viên có mặt hàng ngày tại các địa điểm nghiên cứu,điều tra viên là các cán bộ tốt nghiệp khoa YTCC trường ĐHYHN

- Phiếu hỏi được giám sát ngay trong ngày điều tra, kèm theo phiếu sànglọc, bảng kiểm để lựa chọn đúng đối tượng vào mẫu nghiên cứu

- Đối tượng thoả thuận tự nguyện tham gia nghiên cứu Thông tin thu thậpđược dựa trên quan hệ giữa nghiên cứu viên và đối tượng được xây dựngtrong quá trình làm việc lâu dài, có hiểu biết và tin cậy

- So sánh tìm sự khác biệt gía trị trung bình của nhóm sử dụng test T độc lập

và test Mann – Whitney

2.9 Đạo đức nghiên cứu

- Nghiên cứu năm trong dự án "Nguy cơ lây nhiễm một số bệnh LTQĐTD,viêm gan B, viêm gan C, và HIV trong nhóm mại dâm nam tại một số

Trang 37

thành phố lớn ở Việt Nam” đã được thông qua hội đồng đạo đức củatrường Đại học Y Hà Nội năm 2008.

- Nghiên cứu được sự cho phép của chính quyền địa phương trên địa bànnghiên cứu triển khai

- Các đối tượng tự nguyện tham gia nghiên cứu trên cơ sở hiểu mục tiêu củanghiên cứu

- Các thông tin do đối tượng cung cấp được giữ bí mật hoàn toàn và chỉphục vụ cho mục đích của nghiên cứu

- Khi tham gia nghiên cứu đối tượng được hưởng các dịch vụ mà nghiêncứu đem lại như tư vấn sức khỏe, khám và điều trị các bệnh STIs Bêncạnh những lợi ích có thể đo lường được, đối tượng tham gia nghiên cứu

có cơ hội để chia sẻ với các nghiên cứu viên về những băn khoăn trongcuộc sống, về các hành vi nguy cơ mà không phải e ngại bị phán xét

- Đối tượng có quyền từ chối trả lời hoặc rút khỏi nghiên cứu bất cứ thờiđiểm nào mà họ muốn

Trang 38

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1 Mô tả đặc điểm hành vi quan hệ tình dục

3.1.1 Yếu tố cá nhân

3.1.1.1 Đặc điểm nhân khẩu học và kinh tế xã hội

Bảng 3.1 Đặc điểm nhân khẩu học và kinh tế xã hội

(n=250)

Tỷ lệ

% Tuổi

Trang 39

Thu nhập bình quân trong 30 ngày qua của đối tượng 5.100.000 ±5.200.000 đồng.

3.1.1.2 Đặc điểm giới và hấp dẫn về mặt tình dụcsA5

Trang 40

5,2 5,2

20,8 68,8

Ngày đăng: 06/11/2015, 15:36

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
8. D. Colby, N. H. Cao và S. Doussantousse (2004), "Men who have sex with men and HIV in Vietnam: a review", AIDS Educ Prev. 16(1), tr.45-54 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Men who have sexwith men and HIV in Vietnam: a review
Tác giả: D. Colby, N. H. Cao và S. Doussantousse
Năm: 2004
9. D. J. Colby (2003), "HIV knowledge and risk factors among men who have sex with men in Ho Chi Minh City, Vietnam", J Acquir Immune Defic Syndr. 32(1), tr. 80-5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: HIV knowledge and risk factors among men whohave sex with men in Ho Chi Minh City, Vietnam
Tác giả: D. J. Colby
Năm: 2003
10. J. A. Kelly và các cộng sự. (2001), "HIV risk behavior and risk-related characteristics of young Russian men who exchange sex for money or valuables from other men", AIDS Educ Prev. 13(2), tr. 175-88 Sách, tạp chí
Tiêu đề: HIV risk behavior and risk-relatedcharacteristics of young Russian men who exchange sex for money orvaluables from other men
Tác giả: J. A. Kelly và các cộng sự
Năm: 2001
11. T. S. Kong (2008), "Risk factors affecting condom use among male sex workers who serve men in China: a qualitative study", Sex Transm Infect. 84(6), tr. 444-8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Risk factors affecting condom use among male sexworkers who serve men in China: a qualitative study
Tác giả: T. S. Kong
Năm: 2008
12. H. Liu và các cộng sự. (2009), "Egocentric networks of Chinese men who have sex with men: network components, condom use norms, and safer sex", AIDS Patient Care STDS. 23(10), tr. 885-93 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Egocentric networks of Chinese menwho have sex with men: network components, condom use norms, andsafer sex
Tác giả: H. Liu và các cộng sự
Năm: 2009
13. E. Pisani và các cộng sự. (2004), "HIV, syphilis infection, and sexual practices among transgenders, male sex workers, and other men who have sex with men in Jakarta, Indonesia", Sex Transm Infect. 80(6), tr.536-40 Sách, tạp chí
Tiêu đề: HIV, syphilis infection, and sexualpractices among transgenders, male sex workers, and other men whohave sex with men in Jakarta, Indonesia
Tác giả: E. Pisani và các cộng sự
Năm: 2004
14. S. Shinde và các cộng sự. (2009), "Male sex workers: are we ignoring a risk group in Mumbai, India?" Indian J Dermatol Venereol Leprol.75(1), tr. 41-6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Male sex workers: are we ignoringa risk group in Mumbai, India
Tác giả: S. Shinde và các cộng sự
Năm: 2009
16. J. T. Lau và các cộng sự. (2009), "Psychosocial factors in association with condom use during commercial sex among migrant male sex workers living in Shenzhen, mainland China who serve cross-border Hong Kong male clients", AIDS Behav. 13(5), tr. 939-48 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Psychosocial factors in associationwith condom use during commercial sex among migrant male sexworkers living in Shenzhen, mainland China who serve cross-borderHong Kong male clients
Tác giả: J. T. Lau và các cộng sự
Năm: 2009
17. Marise ST-Pierre (1997), Evaluation of SCF (UK) HIV/AIDS prevention program for men who have sex with men (MSM) final report, Ho Chi Minh City Sách, tạp chí
Tiêu đề: Evaluation of SCF (UK) HIV/AIDSprevention program for men who have sex with men (MSM) finalreport
Tác giả: Marise ST-Pierre
Năm: 1997
18. Tobi Saidel Philippe Girault, Ngak Song, JanW, (2004), "HIV, STIs, and sexual behaviors among men who have sex with men in Phnom Penh, Cambodia", AIDS Education and Prevetion. 16(1), tr. 31 - 44 Sách, tạp chí
Tiêu đề: HIV, STIs,and sexual behaviors among men who have sex with men in PhnomPenh, Cambodia
Tác giả: Tobi Saidel Philippe Girault, Ngak Song, JanW
Năm: 2004
19. Robert P và McNamara (1992), The times Square Hustler. Male Prostitution in New York City, New York Sách, tạp chí
Tiêu đề: The times Square Hustler. MaleProstitution in New York City
Tác giả: Robert P và McNamara
Năm: 1992
20. Two Sj, Huang YF và lai AC (2004), "Updates and Projection on HIV/AIDS in Taiwan", AIDS Educ Prev. 16, tr. 53-63 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Updates and Projection onHIV/AIDS in Taiwan
Tác giả: Two Sj, Huang YF và lai AC
Năm: 2004

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.1. Đặc điểm nhân khẩu học và kinh tế xã hội - Mô tả một số yếu tố liên quan tới hành vi quan hệ tình dục khôngan toàn của nhóm nam bán dâm đồng giới tại Hà Nội năm 2009-2010
Bảng 3.1. Đặc điểm nhân khẩu học và kinh tế xã hội (Trang 39)
Bảng 3.2. Hấp dẫn về mặt tình dục theo đặc điểm tự nhận - Mô tả một số yếu tố liên quan tới hành vi quan hệ tình dục khôngan toàn của nhóm nam bán dâm đồng giới tại Hà Nội năm 2009-2010
Bảng 3.2. Hấp dẫn về mặt tình dục theo đặc điểm tự nhận (Trang 41)
Bảng 3.3. QHTD không an toàn ở lần đầu và lần gần đây nhất - Mô tả một số yếu tố liên quan tới hành vi quan hệ tình dục khôngan toàn của nhóm nam bán dâm đồng giới tại Hà Nội năm 2009-2010
Bảng 3.3. QHTD không an toàn ở lần đầu và lần gần đây nhất (Trang 42)
Bảng 3.4. QHTD với bạn tình nữ theo nhóm đối tượng có bán dâm và - Mô tả một số yếu tố liên quan tới hành vi quan hệ tình dục khôngan toàn của nhóm nam bán dâm đồng giới tại Hà Nội năm 2009-2010
Bảng 3.4. QHTD với bạn tình nữ theo nhóm đối tượng có bán dâm và (Trang 44)
Bảng 3.5. QHTD với bạn tình nam không trao đổi theo nhóm đối tượng có bán dâm và không có bán dâm trong 30 ngày qua - Mô tả một số yếu tố liên quan tới hành vi quan hệ tình dục khôngan toàn của nhóm nam bán dâm đồng giới tại Hà Nội năm 2009-2010
Bảng 3.5. QHTD với bạn tình nam không trao đổi theo nhóm đối tượng có bán dâm và không có bán dâm trong 30 ngày qua (Trang 45)
Bảng 3.6. QHTD bán dâm lần đầu tiên - Mô tả một số yếu tố liên quan tới hành vi quan hệ tình dục khôngan toàn của nhóm nam bán dâm đồng giới tại Hà Nội năm 2009-2010
Bảng 3.6. QHTD bán dâm lần đầu tiên (Trang 46)
Bảng 3.7. QHTD bán dâm trong lần gần đây nhất - Mô tả một số yếu tố liên quan tới hành vi quan hệ tình dục khôngan toàn của nhóm nam bán dâm đồng giới tại Hà Nội năm 2009-2010
Bảng 3.7. QHTD bán dâm trong lần gần đây nhất (Trang 48)
Bảng 8. Số khách trung bình trong 30 ngày qua - Mô tả một số yếu tố liên quan tới hành vi quan hệ tình dục khôngan toàn của nhóm nam bán dâm đồng giới tại Hà Nội năm 2009-2010
Bảng 8. Số khách trung bình trong 30 ngày qua (Trang 50)
Bảng 3.9. Số lần bán dâm trong 30 ngày qua theo quê quán - Mô tả một số yếu tố liên quan tới hành vi quan hệ tình dục khôngan toàn của nhóm nam bán dâm đồng giới tại Hà Nội năm 2009-2010
Bảng 3.9. Số lần bán dâm trong 30 ngày qua theo quê quán (Trang 52)
Bảng 3.10. Thu nhập kinh tế theo số lần bán dâm 30 ngày qua - Mô tả một số yếu tố liên quan tới hành vi quan hệ tình dục khôngan toàn của nhóm nam bán dâm đồng giới tại Hà Nội năm 2009-2010
Bảng 3.10. Thu nhập kinh tế theo số lần bán dâm 30 ngày qua (Trang 53)
Bảng 11. Sử dụng ma túy - Mô tả một số yếu tố liên quan tới hành vi quan hệ tình dục khôngan toàn của nhóm nam bán dâm đồng giới tại Hà Nội năm 2009-2010
Bảng 11. Sử dụng ma túy (Trang 55)
Bảng 3.12. Kiến thức về HIV/STIs theo trình độ học vấn - Mô tả một số yếu tố liên quan tới hành vi quan hệ tình dục khôngan toàn của nhóm nam bán dâm đồng giới tại Hà Nội năm 2009-2010
Bảng 3.12. Kiến thức về HIV/STIs theo trình độ học vấn (Trang 55)
Bảng 3.13. Yếu tố liên quan đến QHTD không an toàn trong lần - Mô tả một số yếu tố liên quan tới hành vi quan hệ tình dục khôngan toàn của nhóm nam bán dâm đồng giới tại Hà Nội năm 2009-2010
Bảng 3.13. Yếu tố liên quan đến QHTD không an toàn trong lần (Trang 58)
Bảng 3.14. Yếu tố liên quan đến QHTD không an toàn trong lần bán dâm - Mô tả một số yếu tố liên quan tới hành vi quan hệ tình dục khôngan toàn của nhóm nam bán dâm đồng giới tại Hà Nội năm 2009-2010
Bảng 3.14. Yếu tố liên quan đến QHTD không an toàn trong lần bán dâm (Trang 59)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w