Đề tài : Giải pháp để phát triển kinh tế tri thức trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa - hiện đại hóa ở đất nước Việt Nam hiện nay.. Trong nền văn minh này, bộ phận quan trọng nhất là
Trang 1Đề tài : Giải pháp để phát triển kinh tế tri thức trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa - hiện đại hóa ở đất
nước Việt Nam hiện nay.
I Lý do chọn đề tài:
Loài người đã trải qua hai nền văn minh và ngày nay, chúng ta đang đứng trước ngưỡng cửa của nền văn minh thứ ba -văn minh trí tuệ Trong nền văn minh này, bộ phận quan trọng nhất là nền kinh tế tri thức - có thể nói là hết sức cơ bản của thời đại thông tin.Đặc biệt là trong thập niên 90 các thành tựu về công nghệ thông tin như: công nghệ Web, Internet, thực tế ảo,
thương mại tin học Cùng với những thành tựu về công nghệ sinh học: công nghệ gen, nhân bản vô tính đang tác động mạnh mẽ, sâu sắc làm đảo lộn toàn bộ nền kinh tế thế giới và toàn bộ xã hội loài người đưa con người
đi vào thời đại kinh tế tri thức.Rất nhiều nước trên thế giới đều có tăng trưởng kinh tế từ tri thức.Việt Nam vẫn đang là một trong những nước nghèo và kém phát triển so với khu vực và trên thế giới.Do đó phát triển kinh tế là chiến lược cấp bách hàng đầu.Hơn nữa chúng ta đang trên con đường tiến hành công nghiệp hoá,hiện đại hoá đất nước nên không thể không đặt mình vào tri thức, phát triển tri thức để đưa nền kinh tế nước nhà bắt kịp và phát triển cùng thế giới
Góp phần vào chiến lược phát triển kinh tế,tiến nhanh trên con đường công nghiệp hoa,hiện đại hoá chúng ta cần phải nghiên cứu tri thức,tìm hướng đi đúng đắn cho nền kinh tế tri thức,phù hợp với điều kiện,hoàn cảnh đất nước,phù hợp với khu vực,với thế giới và thời đại trong tổng thể các mối liên hệ,trong sự phát triển vận động không ngừng của nền kinh tế tri thức
Vì vậy em quyết định chọn đề tài “ Những giải pháp để phát triển kinh tế tri thức trong thời kỳ đẩy mạnh CNH – HĐH ở Việt Nam hiện nay” này để làm đề tài nghiên cứu của mình
Do hiểu biết còn hạn chế nên đề tài còn những thiếu sót nhất định Em rất mong được sự nhận được ý kiến đóng góp của các thầy , cô để đề tài được hoàn thiện hơn
2 Tình hình nghiên cứu
Vấn đề phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa,hiện đại hóa có tính thời sự cao, có s nghĩa sâu sắc về mặt
Trang 2lý luận và thực tiễn đặt ra Đã có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này
ở nhiều góc độ khác nhau Những đóng góp và nghiên cứu các nhà khoa học về các vấn đề trên đã góp phần làm sáng tỏ hay gợi lên nhưng vấn đề bức xúc cần giải quết để phát triển kinh tế tri thức ở nước ta Đó cũng là nguồn tư liệu quý báu giúp tôi kế thưa trong quá trình nghiên cứu hoàn thiện đề tài của mình Cụ thể :
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu.
3.1- Mục đích:
- Thứ nhất, các tiêu chí đo lường mức độ phát triển của kinh tế tri thức,
sự cần
thiết và những tác động của việc chuyển đổi sang nền kinh tế tri thức trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa,hiện đại hóa đất nước
- Thứ hai, nghiên cứu thực trạng phát triển kinh tế của nước ta trong thời gian qua dưới giác độ của của kinh tế tri thức, hàm lượng tri thức đóng góp cho nền kinh tế trong sự so sánh với khu vực và thế giới, từ đó rút ra những mặt mạnh và yếu của Việt Nam trên con đường phát triển kinh tế tri thức, đồng thời khẳng định về mặt lý luận và thực tiễn rằng, phát triển kinh tế tri thức là xu thế tất yếu đối với Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hóa hiện đại hóa
- Thứ ba, đánh giá những thuận lợi, khó khăn trên con đường xây dựng và phát triển kinh tế của Việt Nam, từ đó đề ra những quan điểm, xác định định hướng, tầm nhìn và từ đó đưa ra nhóm giải pháp tiếp cận
để phát triển kinh tế tri thức trong điều kiện công nghiệp hóa hiện đại hóa
ở nước ta hiện nay
3.2 Nhiệm vụ:
Đưa ra giải pháp để phát triển kinh tế tri thức trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa hiện đại hóa
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
4.1.Đối tương nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là nên kinh tế của Việt Nam trong thời kỳ đẩy manh công nghiệp hóa hiện đại hóa
4.2.Phạm vi nghiên cứu
+ Về không gian: tiểu Luận nghiên cứu về sự phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam trong điều kiện công nghiệp hóa hiện đại hóa, bối cảnh mà mọi quốc gia đều phát triển theo xu thế toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế + Về thời gian: Thời gian những năm 2000 trở lại đây, khi mà hầu hết các quốc gia đều nhận thấy phát triển kinh tế tri thức là cơ hội phát triển đất nước trong thế kỷ XXI, thời điểm mà Đảng và Chính phủ biến chủ trương,
Trang 3mong muốn, trở thành hành động được thể hiện tại văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốclần thứ IX,X,XI
+ Giới hạn của nghiên cứu:
Tiểu luận nghiên cứu sự phát triển kinh tế tri thức của Việt Nam đặt trong bối cảnh công nghiệp hóa hiện đại hóa
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu.
5.1.Cơ sở lý luận.
Với cơ sơ lý luận là chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh
với các đương lối cách mạng,văn kiện của Đảng Cộng Sản Việt Nam
5.2 Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp trừu tượng hóa khoa học
- Phương pháp duy vật lịch sử
- Phương pháp phân tích tổng hợp
- Phương pháp so sánh đối chiếu, thống kê
- Phương pháp suy luận logic
- Phương pháp quy nạp và diễn dịch
6 Đóng góp của đề tài.
Những điểm mới của tiểu luận được khái quát như sau:
- Thứ nhất, nêu bật bản chất hay nội hàm của kinh tế tri trức, trên cơ sở nhận thức có phê phán các quan điểm kinh tế tri thức của các nhà lý luận kinh tế trong và ngoài nước
-Thứ hai, đúc kết kinh nghiệm phát triển kinh tế tri thức của các nước trên thế giới làm bài học cho nước ta
-Thứ ba, lượng hóa phần đóng góp của tri thức vào nền kinh tế Việt Nam
- Thứ tư, đưa ra những quan điểm phát triển, định hướng, nhóm giải pháp mang tính đặc thù cho Việt Nam và có tính khả thi cao nhằm tiếp cận để phát triển kinh tế tri thức giai đoạn 2010-2020 và tầm nhìn 2030
7 Kết cấu của đề tài.
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo đề tai gồm 3 chương và 13 tiết
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ KINH TẾ TRI THỨC.
CHƯƠNG II: QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM VỀ KINH TẾ TRI THỨCVÀ THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRI THỨC TRONG NHỮNG NĂM QUA Ở VIỆT NAM
CHƯƠNG III: GIẢI PHÁP ĐỂ PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRI THỨC TRONG THỜI KỲ ĐẨY MẠNH CNH – HĐH ĐẤT NƯỚC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY.
Trang 4B PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ KINH TẾ TRI THỨC
1.1 Khái quát về sự xuất hiện và phát triển của kinh tế tri thức :
Trước hết là kinh tế săn bắn và hái lượm tồn tại trong hàng trăm nghìn năm Tiếp theo đó là kinh tế nông nghiệp kéo dài khoảng mười nghìn năm Rồi đến -5- kinh tế công nghiệp xuất hiện lần đầu tiên ở Anh vào đầu nửa sau thế kỷ XVIII đã xác lập cơ sở kỹ thuật cơ khí, hình thành lực lượng lao động và tổ chức kinh doanh trong nền kinh tế công nghiệp hiện đại Cuộc cách mạng khoa học và kỹ thuật lần thứ hai (cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX) đã nâng cao cơ sở kỹ thuật cơ khí lên trình độ bán tự động hóa và hình thành tổ chức quản lý mới Đến giai đoạn gần đây chúng ta cũng dễ nhận thấy có những chuyển biến mang tính cách mạng có là cách mạng trong quản lý, quản lý cũng đóng vai trò trở thành lực lượng sản xuất góp phần sáng tạo ra của cải xã hội, chứ không còn là quản lý về kỷ cương lao động thuần khiết Bất kỳ nền kinh tế nào nói trên, dù ít hay nhiều cũng đã dựa vào tri thức để phát triển Tuy nhiên, không phải bất kỳ một nền kinh tế nào cũng là nền kinh tế dựa trên tri thức Cái khác biệt chủ yếu của nền kinh tế tri thức với các nền kinh tế khác là tri thức đã phát triển đặc biệt mạnh mẽ,
đã trở thành yếu tố quan trọng nhất, nguồn lực có tính quyết định nhất đối với tăng trưởng kinh tế hơn cả vốn và tài nguyên; từ những căn cứ xác thực
đó, người ta cho rằng một nền kinh tế mới hoàn toàn khác các nền kinh tế truyền thống đã ra đời Thuật ngữ “Kinh tế dựa vào tri thức” là xuất phát từ việc thừa nhận vị trí mới và ảnh hưởng quyết định của tri thức và công nghệ trong các nền kinh tế phát triển nhất “Kinh tế dựa vào tri thức” lúc đầu cũng thường gọi là “Kinh tế thông tin”, “Nền Kinh tế mới”, có thể coi là xuất hiện sớm ở Mỹ vào đầu những năm 1970, sau đó ở nhiều nước công nghiệp phát triển và ngày nay cả nước công nghiệp mới (NICs)
1.2 Khái niệm về kinh tế tri thức
Đã có rất nhiều quan điểm khác nhau về nền kinh tế tri thức như của :
Bộ Thương mại và Công nghiệp Anh (năm 1998), GS.VS Đặng Hữu, Ngân
Trang 5hàng thế giới, tổ chức OECD, APEC, Từ điển Bách khoa Toàn thư Việt Nam… Khái niệm kinh tế tri thức mà tiểu luận này dùng đó là: kinh tế tri thức là một mức thang mới, là một bước tiến mới của quá trình phát triển của kinh tế thế giới mà trong nền kinh tế đó, động lực chính yếu nhất cho sự tăng trưởng chính là việc sử dụng tri thức, truyền bá và sản sinh ra thêm tri thức mới Trong nền kinh tế tri thức, tri thức được sử dụng trong tất cả các ngành, kể cả các ngành truyền thống và giá trị do tri thức tạo ra chiếm phần lớn trong tổng giá trị sản phẩm của nền kinh tế
1.3 Vai trò của nền kinh tế tri thức:
-Kinh tế tri thức mang lại những cơ hội và thách thức lớn trong sự phát triển chưa từng thấy của nhân loại Kinh tế tri thức có ý nghĩa quan trọng trong việc phát triển xã hội ngày nay Phát triển kinh tế tri thức là cơ hội để rút ngắn khoảng cách lạc hậu
Từ những tri thức, công nghệ mới, các tư liệu lao động mới, hệ thống máy móc thông minh, tự động hóa sẽ được tạo ra Quá trình đó sẽ giúp phát triển
và sáng tạo ra nhiều đối tượng lao đông mới, những nguyên liệu mới, năng lượng mới có thể tơi đây chưa từng xuất hiện, tạo ra nhiều giá trị sử dụng mới, đáp ứng thỏa mãn nhu cầu xã hội ngày càng tốt hơn, giảm bớt việc khai thác các nguồn tài nguyên hiện hữu sẽ tiết kiệm được tài nguyên thiên nhiên, giảm thiểu ô nhiễm môi trường
- Kinh tế tri thức là động lực thúc đẩy tiến trình xã hội hóa quan hệ sản xuất
và lực lượng sản xuất, làm chó phân công lao động xã hội phát triển cả chiều rộng lẫn chiều sâu
Kinh tế tri thức được hình thành và phát triển trên cơ sở các ngành sản xuất
sử dụng công nghệ cao Ví dụ: Trong công nghiệp nuôi gà ở Cây Gáo huyện Tràng Bom – Đồng Nai tự động Từ đó mà tác động mạnh mẽ đến quá trình phát triển của toàn bộ nền kinh tế Nó thúc đẩy nông nghiệp phát triển nhanh tăng năng suất lao động thông qua các cuộc cách mạng, cách mạng xanh, cách mạng sinh học
-Nó thúc đẩy công nghiệp, không ngừng ra tăng hàm lượng khoa học - kỹ thuật, công nghiệp trong sản phẩm công nghiệp qua đó mà gia tăng giá trị sử dụng, giá trị trao đổi của sản phẩm công nghiệp
Nó thúc đẩy trí nghiệp phát triển ở các ngành dịch vụ, thông tin, thuong mại, tiền tệ, với nhiều hình thức phong phú Nó thúc đẩy việc nâng cao đời sống
xã hội, hướng đến một nền văn ming cao hơn
1.4 Đặc trưng của nền kinh tế tri thức:
-Trong nền KTTT, các yếu vật chất cũng như hàm lượng vật chất trong các sản phẩm ngày càng giảm, hàm lượng tri thức, lao động chất xám, lao động trí óc tăng lên, chiếm tỷ trọng ngày càng cao lớn trong giá trị sản phẩm
Trang 6Trong nền KTTT, các sản phẩm trí tuệ dựa vào nguồn lực hàng đầu là tri thức Đây là nguồn vốn cơ bản của quá trình sản xuất và tái sản xuất của xã hội, thay vì chỉ là đất đai, tài nguyên và vốn tiền tệ như trước đây
Thông tin, kiến thức lao động có trình độ cao được sử dụng nhiều, ít sử dụng tài nguyên thiên nhiên Những trung tâm công nghệ cao được hình thành Đặc biệt tri thức khoa học và công nghệ cùng với lao động kỹ thuật cao là thành phần quan trọng của lực lượng sản xuất, là lợi thế phát triền kinh tế Nguồn nhân lực nhanh chóng được tri thức hóa Sự sáng tạo đổi mới trở thành yêu cầu thường xuyên đối với mọi người
-Cơ cấu kinh tế kỹ thuật thay đổi một cách sâu sắc, theo hướng tri thức hóa, làm thay đổi phương thức tổ chức và quản lý không chỉ trong các ngành đó
mà còn tác động đến các ngành kinh tế khác trong nền kinh tế
Do những thay đổi trong cơ cấu kinh tế- kỹ thuật sẽ làm thay đổi về chất trong cơ cấu sản phẩm, làm thay đổi cơ cấu giá trị sản phẩm; điều này tất yếu dẫn đến sự thay đổi trong cơ cấu lao động xã hội Nếu như trước đây, lao động nông nghiệp chủ yếu bằng tay chân tay, thì sau đó lao động sản xuất công nghiệp, lao động “ cổ xanh” hầu hết là bằng máy móc Nhưng từ những năm 70 đến nay, do lao động và công nghệ phát triển, đã là xuất hiện một đội ngũ “ công nhân cổ trắng” và trong cơ cấu giá trị hàng hóa, lao động trí óc đã chiếm tỷ trọng lớn
- Qui trình công nghệ trong sản xuất luôn luôn được thay đổi, làm cho năng xuất lao động ngày càng tăng, cường độ lao động ngày càng giảm, chủng loại sản phẩm ngày càng đa dạng, phong phú, chất lượng sản phẩm ngày càng cao, giúp đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của cuộc sống…
sự cạnh tranh được tạo điều kiện đầy đủ, sự tăng trưởng kinh tế theo chiều sâu, tạo ra lợi thế cho quốc gia, tác động lớn đến đời sống xã hội
- Siêu xa lộ thông tin trong hệ thống mạng toàn cầu được hình thành, có ảnh hưởng to lớn đến lĩnh vực khoa học, kinh tế và văn hóa, quan hệ quốc tế, đặc biệt giúp mở rộng thị trường cho các nước… bởi vì nó đảm bảo sự tham gia đông đảo của tất cả các quốc gia trên thế giới Siêu xa lộ thông tin sẽ tạo ra một xã hội tri thức, xã hội thông tin mà không có biên giới
Trong nền KTTT, khoa học và công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin, lựu lượng sản xuất và các hoạt động kinh tế của mỗi con người, của mỗi quốc gia đều mang tính toàn cầu
- Trong điều kiện của kinh tế tri thức, các thành tựu khoa học – công nghệ, nhất là công nghệ thông tin được phổ biến và ứng dụng hết sức nhanh
chóng, trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp Các ngành kinh tế được tri thức hóa đều phải dựa vào công nghệ mới để đổi mới và phát triển
Trang 7Chỉ khi nào các ngành công nghệ cao, ứng dụng các tiến bộ khoa học – kỹ thuật hiện đại, có giá trị mới do tri thức đem lại chiếm trên 2/3 tổng giá trị thì kinh tế tri thức mới được tỏ rõ Tiêu chí của kinh tế tri thức: hơn 70% GDP phải được tạo ra từ các ngành sản xuất dịch vụ áp dụng công nghệ cao; hơn 70% giá trị gia tăng là do trí tuệ mang lại; hơn 70% công nhân tri thức trong cơ cấu lao động; hơn 70% cơ cấu vốn là vốn con người
Nền kinh tế và xã hội luôn luôn đổi mới, cái mới ngày càng nhiều Đó là đặc trưng của sự phát triển, của sự tiến hóa xã hội và sự phát triển từ cái mới
1.5 Những nhân tố tác động đến sự ra đời và phát triển kinh tế tri thức:
- Thứ nhất, tác động của khoa học, công nghệ cao
- Thứ hai, Kinh tế thị trường là động lực mạnh mẽ đẩy nhanh sự hình thành
và phát triển kinh tế tri thức toàn cầu
- Thứ ba, Thương mại thế giới thúc đẩy sự hình thành và phát triển kinh tế tri thức toàn cầu
CHƯƠNG II: QUAN ĐIỂM VÀ THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH
TẾ TRI THỨC TRONG NHỮNG NĂM QUA Ở VIỆT NAM
2.1 Quan điểm của Đảng về phát triển kinh tế tri thức
Đại hội lần thứ IX (năm 2001) của Đảng đã lần đầu tiên đề cập đến vấn đề phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam Tuy lần đầu tiên thuật ngữ “phát triển kinh tế tri thức” được đưa vào đường lối, chiến lược phát triển đất nước,
nhưng Đảng đã coi phát triển kinh tế tri thức là cách thức để rút ngắn quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, để tạo ra những bước nhảy vọt Để thực hiện được những mục tiêu đề ra, Đảng ta đã đưa ra ba nhiệm vụ
chủ yếu là: “Nâng cao năng lực khoa học, công nghệ; đổi mới cơ chế quản lý; đẩy mạnh nghiên cứu ứng dụng” Điều này không chỉ phản ánh tư duy tích cực đổi mới, ngày càng nắm bắt xu thế tất yếu của thời cuộc mà còn cho thấy sự vận dụng sáng tạo của Đảng ta về phát triển kinh tế tri thức nhằm đưa nước ta trở thành một nước công nghiệp hiện đại
2.2 Thực trạng phát triển kinh tế tri thức trong những năm qua
Ở Việt Nam, ngay từ những năm 90 của thế kỷ XX, Đảng Cộng sản Việt
Nam đã xác định: “Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại đang
diễn ra mạnh mẽ, cuốn hút tất cả các nước khác nhau” Gần đây nhất, Đảng
ta đã xác định gắn công nghiệp hóa, hiện đại hóa với phát triển kinh tế tri thức: “Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa với phát triển kinh tế tri
Trang 8trong đó Đảng ta khẳng định, phát triển khoa học và công nghệ thực sự là động lực then chốt của quá trình phát triển nhanh và bền vững Như vậy có thể thấy ngay từ thời kỳ đầu, Đảng ta đã rất coi trọng việc tạo ra động lực cho việc hình thành và phát triển kinh tế tri thức Tuy nhiên, hiện nay về cơ bản nền kinh tế Việt Nam vẫn là nền kinh tế mang những dấu ấn của kinh tế nông nghiệp, đang chuyển dần sang kinh tế công nghiệp Vị trí của Việt Nam trong nền kinh tế tri thức toàn cầu là rất thấp Những chỉ số về kinh tế tri thức của Việt Nam đều ở nửa dưới của bảng xếp hạng Chỉ số KEI của Việt Nam hiện đang là 3,51, trong đó chỉ số sáng tạo chỉ là 2,72, trong khi
đó chỉ số KEI của một số nước trong khu vực là rất cao: Singapore là 8,44; Malaysia là 6,07; Thái Lan là 5,52 Xét phương diện những đặc trưng của nền kinh tế tri thức thì chúng ta thấy cơ cấu kinh tế - lao động của Việt Nam hiện nay vẫn là lạc hậu: tỷ trọng các ngành dịch vụ, công nghiệp trong GDP còn hạn chế, ngành nông nghiệp còn cao Cơ cấu lao động cũng chưa chuyển biến mạnh mẽ: lao động trong lĩnh vực nông nghiệp còn chiếm tỷ trọng rất cao, chất lượng lao động còn nhiều hạn chế Trong khi đó hiện nay ở Mỹ khoảng 80% lực lượng lao động làm việc trong các ngành dịch vụ, nghiên cứu, ứng dụng và triển khai
Hiện nay, hàm lượng chất xám trong sản phẩm của Việt Nam là rất
thấp, “đến 2020 giá trị sản phẩm công nghệ cao và sản phẩm ứng dụng
công nghệ cao đạt khoảng 45% trong tổng GDP Giá trị sản phẩm công nghệ chế tạo chiếm khoảng 40% trong tổng giá trị sản phẩm công nghiệp” (Văn kiện Đại hội XI Đảng Cộng sản Việt Nam).
Sự đầu tư cho khoa học, công nghệ ở Việt Nam so sánh tương quan với các quốc gia trong khu vực là rất thấp Hiện nay, Việt Nam chỉ dành khoảng 0,3% GDP cho hoạt động khoa học, công nghệ, trong khi đó con số này ở Malaysia là 1%, Singapore là 3%
Theo Robert Walter Global – một công ty chuyên về tuyển dụng: năm 2012 mặc dù kinh tế khó khăn, nhiều công ty phá sản hoặc giảm quy mô hoạt động, Việt Nam vẫn “khát” nhân sự có trình độ Hiện nay, tỷ lệ lao động qua đào tạo ở Việt Nam đạt khoảng 35%, đây là con số rất thấp so với các nước trong khu vực và trên thế giới
Một trong những tiêu chí quan trọng của kinh tế tri thức là sự ứng dụng công nghệ vào sản xuất kinh doanh và quản lý Phần lớn các doanh nghiệp ở nước
ta đều thiếu thông tin về công nghệ Theo một khảo sát của Viện Nghiên cứu
và Quản lý TW trên 82 doanh nghiệp, chỉ có 16 doanh nghiệp có ý tưởng đổi mới công nghệ Xét một cách tổng quát, những yếu tố cho sự ra đời và phát triển kinh tế ở Việt Nam hiện nay đang ở thời kỳ hình thành
Trang 92.3 Những mặt hạn chế.
-Thứ nhất, Thiếu vắng một chiến lược tổng thể về xây dựng và phát triển kinh
tế tri thức tận dụng tối đa điều kiện hội nhập quốc tế
-Thứ hai, Các điều kiện vật chất - kỹ thuật để phát triển kinh tế tri thức vẫn còn thiếu và yếu trên nhiều phương diện
-Thứ ba, Trình độ phát triển kinh tế thị trường còn thấp
-Thứ tư, Tính sẵn sàng cho hội nhập và phát triển chưa cao
CHƯƠNG III: GIẢI PHÁP ĐỂ PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRI THỨC TRONG THỜI KỲ ĐẨY MẠNH CNH – HĐH ĐẤT NƯỚC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
3.1 Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN; bảo đảm
ổn định kinh tế vĩ mô; huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực.
■ Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN:
-Sức bật tăng trưởng nhờ đổi mới thể chế kinh tế:
Trong hai mươi năm thực hiện sự nghiệp CNH-HÐH nền kinh tế, tính
từ năm 1991 đến nay, nền kinh tế nước ta đạt mức tăng trưởng cao nhất là trong năm năm đầu (1991-1995, riêng năm 1995 GDP tăng 9,5%, mức cao nhất cho đến nay) và kéo dài đến hết năm 1996 (GDP tăng 9,3%), trước khi xảy ra cuộc khủng hoảng tài chính khu vực (1997-1999) Có thể nói giai đoạn này là thời kỳ nền kinh tế có sức bật mạnh nhất, nhờ động lực đổi mới thể chế kinh tế (chuyển từ cơ chế cũ sang cơ chế mới) Nhưng thời gian tăng trưởng chỉ được bốn năm (1992-1996), cuộc khủng hoảng tài chính khu vực
đã kéo lùi tốc độ tăng trưởng kinh tế từ năm 1997 đến năm 2000, mà năm
1999 được xem là đáy của suy giảm (GDP tăng 4,8%) Thể chế kinh tế chưa đồng bộ và đủ mạnh để phát huy năng lực nội sinh của nền kinh tế (nội lực), nên dù quy mô nền kinh tế còn quá nhỏ vẫn không 'trụ' được khi có tác động
từ bên ngoài Trong thời kỳ này, Ðảng đề ra chủ trương phát huy nội lực, dựa vào nội lực là chủ yếu để phát triển Trên thực tế, việc đổi mới thể chế kinh tế không theo kịp và chưa đáp ứng được chủ trương trên Bước qua giai đoạn 2001-2005, tình hình kinh tế khu vực và thế giới diễn biến thuận lợi, môi trường kinh doanh trong nước được cải thiện hơn, nền kinh tế đã phục hồi tốc độ tăng trưởng, nhưng chưa lấy lại được tốc độ của giai đoạn
1992-1996 (năm cao nhất là 2005, GDP cũng chỉ 8,4%) và bắt đầu suy giảm dần
Trang 10từ năm 2006 (tăng 8,2%) cho đến chạm đáy vào quý 1-2009 (3,1%) do tác động của cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu
Trong ba năm qua, chúng ta đã thành công trong việc chèo lái để đưa nền kinh tế thoát nhanh khỏi tác động của cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu; nhưng cũng thể hiện rõ hơn những tiềm ẩn bất ổn từ
cơ cấu kinh tế Trên thực tế, nền kinh tế nước ta chưa ra khỏi giai đoạn 1 (gia công, lắp ráp; xuất khẩu thô, lao động rẻ, dựa vào nước ngoài) của bốn giai đoạn trong quá trình CNH, nên càng hội nhập sâu vào nền kinh tế toàn cầu, thì tình trạng nhập siêu càng tăng và dễ bị tổn thương do tác động bên ngoài Sự tăng đột biến về đầu tư từ năm 2001 đến nay, làm tăng nhanh hệ
số ICOR (năm 1991, yếu tố vốn chỉ đóng góp 8,4% vào tốc độ tăng trưởng; lao động 16,9%; năng suất tổng hợp 74,7%; thì đến năm 2000, các con số trên vào là 47,4%; 13,8% và 38,8%; năm 2005 là: 59,8%; 16,4% và 23,8%; năm 2007 là: 59,5%; 14,8% và 27,7% )
-Ðột phá khâu hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN:
Ðiểm qua một số nét về những mặt tích cực và hạn chế qua bốn kế hoạch năm năm để càng khẳng định rằng: trong chiến lược phát triển kinh tế
- xã hội 2011-2020 tập trung vào ba đột phá chiến lược như đề ra trong Dự thảo Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011-2020 là đúng đắn Chúng tôi cho rằng, cần đột phá vào khâu hoàn thiện thể chế kinh tế, tạo động lực cho doanh nghiệp tái cấu trúc, nâng cao năng lực cạnh tranh cũng chính là tiền
đề để thực hiện hai khâu đột phá còn lại (nguồn nhân lực và kết cấu hạ tầng) Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN có nhiều nội dung, nhưng trong những năm tới, tôi đề nghị quan tâm các vấn đề sau đây:
Thứ nhất, chính sách kinh tế ưu tiên cho bài toán 'tam nông' Chúng ta phải nhận diện cho được những nhược điểm của nền nông nghiệp Việt Nam trên các phương diện cơ cấu sản phẩm, phương thức tổ chức sản xuất và tình trạng 'thất nghiệp trá hình' trong khu vực nông nghiệp Sự chuyển dịch cơ cấu trong nông nghiệp cần đặt trọng tâm là cơ cấu lao động, chứ không phải
cơ cấu giá trị Ở đây có nhiều vấn đề liên quan đến quan điểm lớn như: duy trì mô hình nông hộ với hạn điền 3 ha hay phát triển theo quy mô mang lại hiệu quả nhất? Phương thức tổ chức sản xuất; chính sách giảm rủi ro thị trường cho sản xuất nông nghiệp trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế;