Tòa án nhân dân tối cao số 4/2008, Việc quy định những người tham gia tố tụng trong Bộ luật tố tụng hình sự, Tập san Tòa án nhân dân số 4/2000, Xác định tư cách người tham gia tố tụng hì
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
ĐẶNG HOÀNG PHƯƠNG
§ÞA VÞ PH¸P Lý CñA NG¦êI BÞ H¹I TRONG Tè TôNG H×NH Sù
(¸P DôNG TRONG THùC TIÔN Tè TôNG H×NH Sù
TR£N §ÞA BµN THµNH PHè Hµ NéI)
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
ĐẶNG HOÀNG PHƯƠNG
§ÞA VÞ PH¸P Lý CñA NG¦êI BÞ H¹I TRONG Tè TôNG H×NH Sù
(¸P DôNG TRONG THùC TIÔN Tè TôNG H×NH Sù
TR£N §ÞA BµN THµNH PHè Hµ NéI)
Chuyên ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số: 60 38 01 04
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS TS NGUYỄN TẤT VIỄN
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
ĐẶNG HOÀNG PHƯƠNG
Trang 4MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các từ viết tắt
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA NGƯỜI BỊ HẠI TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ 7
1.1 Khái niệm địa vị pháp lý của người bị hại trong tố tụng hình sự 7
1.1.1 Quan niệm về người bị hại – Cơ sở để xác định địa vị pháp lý của người bị hại 7
1.1.2 Vai trò của người bi ̣ ha ̣i trong tố tu ̣ng hình sự 11
1.2 Nô ̣i dung đi ̣a vi ̣ pháp lý của người bi ̣ ha ̣i trong t ố tụng hình sự 15
1.2.1 Quyền của người bị hại 15
1.2.2 Nghĩa vụ của người bị hại 18
1.3 Địa vị pháp lý của người bi ̣ ha ̣i trong Luâ ̣t tố tu ̣ng hình sự mô ̣t số nước trên thế giới 19
Tiểu kết chương 1 27
Chương 2: CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA NGƯỜI BỊ HẠI TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TRÊN ĐỊ A BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI 28
2.1 Các quy định pháp luật về địa vị pháp lý của người bị hại 28
2.1.1 Trước khi ban hành Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988 28
2.1.2 Từ khi ban hành Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988 đến nay 32
2.2 Thực tiễn áp du ̣ng các quy đi ̣nh pháp luâ ̣t về địa vị pháp lý
Trang 52.2.1 Tình hình xét xử các vụ án hình sự trên địa bàn thành phố Hà Nội 51
2.2.2 Thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật về địa vị pháp lý của người bị hại trên địa bàn thành phố Hà Nội 55
Tiểu kết chương 2 71
Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM THỰC HIỆN CÓ HIỆU QUẢ CÁC QUY ĐỊNH VỀ ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA NGƯỜI BỊ HẠI TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI 72
3.1 Giải pháp hoàn thiện pháp luật 72
3.1.1 Sửa đổi, bổ sung Điều 51 của Bộ luật tố tụng hình sự 72
3.1.2 Bổ sung quy định Điều 217 của Bộ luật tố tụng hình sự về việc trình bày lời buộc tội của người bị hại hoặc người đại diện hợp pháp của họ tại phiên tòa 75
3.1.3 Bổ sung quy định tại Điều 191 của Bộ luật tố tụng hình sự về đảm bảo sự có mặt của người bị hại tại phiên tòa 79
3.2 Các giải pháp khác 80
3.2.1 Nâng cao chất lượng tranh tụng tại phiên tòa 80
3.2.2 Nâng cao trách nhiệm của các cơ quan và những người tiến hành tố tụng 83
3.2.3 Nâng cao chất lượng của đội ngũ Luật sư 86
3.2.4 Thực hiện tốt sự phân công, chỉ đạo, phối hợp trong giải quyết án hình sự 87
3.2.5 Hoàn thiện mô hình tố tụng hình sự Việt Nam theo hướng phân định rõ chức năng, nhiệm vụ của từng cơ quan tiến hành tố tụng 88
Tiểu kết chương 3 90
KẾT LUẬN 91
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 93
PHỤ LỤC 99
Trang 6DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Bộ luật tố tụng hình sự được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 28 tháng 6 năm 1988 (có hiệu lực thi hành ngày 01 tháng 01 năm 1989), là một đạo luật quy định về trình tự, thủ tục khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án các vụ án hình sự Tuy nhiên, sau 15 năm thực hiện, Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988 đã bộc lộ những bất cập, hạn chế, thiếu sót từ phía các cơ quan tiến hành tố tụng và những người tiến hành tố tụng Một trong những hạn chế dẫn đến tình trạng trên là việc Bộ luật quy định về người tham gia tố tụng, đặc biệt là các quy định về người bị hại còn tương đối sơ sài và chưa đầy đủ
Thể chế hoá chủ trương của Đảng về cải cách tư pháp, ngày 17/12/2003, Quốc hội nước ta đã thông qua Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 với nhiều quy
đi ̣nh mới so với Bô ̣ luâ ̣t tố tụng hình sự năm 1988 Bộ luật đã dành chương IV tại phần thứ nhất (Những quy định chung) quy định về người bị hại với tính chất là một loại người tham gia tố tụng đặc biệt trong tố tụng hình sự
Tuy nhiên, dưới góc độ khoa học pháp lý vẫn còn nhiều vấn đề về lý luận và thực tiễn áp dụng trong tố tụng hình sự cần được tiếp tục nghiên cứu
và làm sáng tỏ hơn Luật tố tụng hình sự nước ta chỉ coi người bị hại là công dân Pháp nhân hay tổ chức xã hội không được coi là người bị hại Thiệt hại
mà người bị hại phải chịu là thiệt hại thực tế, nếu thể chất, tinh thần, tài sản của một người chưa bị thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra thì người đó không được coi là người bị hại
Xét về mặt hình thức, người bị thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản do tội phạm gây ra chỉ trở thành người bị hại trong tố tụng hình sự khi họ được
cơ quan có thẩm quyền công nhận là người bị hại thông qua hành vi triệu tập
họ đến khai báo với tư cách là người bị hại Việc nghiên cứu những vấn đề lý
Trang 8luận và thực tiễn về người bị hại trong tố tụng hình sự ở nước ta hiện nay cũng như thực trạng về người bị hại ở từng địa phương (nhất là địa bàn thành phố Hà Nội) để đưa ra các giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng chế định này trong thực tế, góp phần xử lý kịp thời, khách quan nhằm bảo vệ tốt hơn các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, lợi ích của Nhà nước và xã hội là một nhu cầu khách quan và cần thiết
Trước yêu cầu cải cách tư pháp thì các vấn đề đảm bảo quyền dân chủ
và nhân quyền, đặc biệt là các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân trong
tố tụng hình sự luôn được Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm Nghị quyết
số 48- NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm
2020 đã tiếp tục xác định: “Cải cách mạnh mẽ các thủ tục tố tụng tư pháp theo hướng dân chủ, bình đẳng, công khai, minh bạch, chặt chẽ nhưng thuận tiện, đảm bảo sự tham gia và giám sát của nhân dân đối với hoạt động tư pháp” [5] Nghị quyết số 49- NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về
Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 cũng đã khẳng định cụ thể hơn tư
tưởng chỉ đạo này
Với những lý do trên, tác giả đã chọn đề tài: Địa vị pháp lý của người
bị hại trong tố tụng hình sự (Áp dụng trong thực tiễn tố tụng hình sự trên địa bàn thành phố Hà Nội) làm Luận văn thạc sĩ Luật học
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Người bị hại là một loại người tham gia tố tụng được quy định trong luật tố tụng hình sự năm 2003, tại Điều 51 Trong thời gian qua, kể cả trước khi Bộ luật ra đời, ở nước ta đã có nhiều bài viết, công trình khoa học nghiên cứu về việc quy định và áp dụng trong tố tụng hình sự như Luận văn thạc sỹ Luật học, các bài viết, công trình nghiên cứu phân tích, giải quyết và làm rõ được một số vấn đề lý luận về người bị hại trong tố tụng hình sự như: khái
Trang 9(Viện nghiên cứu khoa học pháp lý – NXB TP Hồ Chí Minh, năm 2004), Bàn
về việc tòa án cấp phúc thẩm có được thay đổi tư cách của người tham gia tố tụng khi xét thấy Tòa án cấp sơ thẩm xác định không đúng, Tạp chí Tòa án nhân dân tối cao số 24/2005, Một số vướng mắc khi giải quyết vụ án được khởi tố theo yêu cầu của người bị hại, Tạp chí kiểm sát số 7/2008, Một số vấn
đề cần chú ý khi xác định người tham gia tố tụng trong vụ án hình sự, Tạp chí Toà án nhân dân số 13/2008, Người bị hại trong tố tụng hình sự, Tạp chí khoa học pháp lý số 01/2007, Quyền và nghĩa vụ của người tham gia tố tụng tại phiên tòa hình sự phúc thẩm, Tạp chí Tòa án Tòa án nhân dân tối cao số 5/2004, Tư cách của người tham gia tố tụng trong vụ án hình sự tại phiên tòa phúc thẩm, Tạp chí Tòa án Tòa án nhân dân tối cao số 4/2008, Việc quy định những người tham gia tố tụng trong Bộ luật tố tụng hình sự, Tập san Tòa án nhân dân số 4/2000, Xác định tư cách người tham gia tố tụng hình sự, Tập
san Tòa án số 12/1999…
Các bài viết, công trình nghiên cứu trên đã phân tích, giải quyết và làm
rõ được một số vấn đề lý luận về chế định quyền và nghĩa vụ của người bị hại trong tố tụng hình sự Việt Nam như: khái niệm về người bị hại, ý nghĩa của việc tìm hiểu chế định về người bị hại, các kiến nghị về hoàn thiện các quy định pháp luật về quyền và nghĩa vụ của người bị hại, việc áp dụng quy định khởi tố vụ án theo yêu cầu của người bị hại Nhưng vẫn còn nhiều vấn đề về
lý luận và thực tiễn mà các công trình nghiên cứu trên chưa đề cập đầy đủ, phương pháp tiếp cận còn chưa phù hợp, chưa có nghiên cứu về áp dụng thực tiễn tố tụng hình sự của từng địa phương, đặc biệt là trên địa bàn Thủ đô Hà Nội sau khi Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 ra đời Do hầu hết các công trình trên đều đề cập và nghiên cứu vấn đề trước khi Bộ luật ra đời nên việc đánh giá tình hình chưa có cơ sở thực tiễn
Bên cạnh đó, Luận văn thạc sỹ Luật học: Người bị hại trong tố tụng hình
sự Việt Nam - Thịnh Quang Thắng (2010) đã đề cập tương đối đầy đủ các luận
Trang 10cứ khoa học như: bản chất, ý nghĩa, mục đích của việc nghiên cứu về người bị hại, tham khảo kinh nghiệm nước ngoài Tuy nhiên, các dẫn chứng số liệu đều được lấy ở một địa bàn nhỏ hẹp là huyện Đông Anh – một huyện ngoại thành
Hà Nội nên việc nghiên cứu đánh giá còn nhiều hạn chế, chưa làm bật lên những đặc điểm đặc thù của Thủ đô Hà Nội để đưa ra những giải pháp, kiến nghị cho phù hợp nhằm áp dụng chế định về địa vị pháp lý của người bị hại trong tố tụng hình sự chặt chẽ và sát với thực tế của Thủ đô Hà Nội
Luận án tiến sĩ Luật học của tác giả Lê Nguyên Thanh (2012), “Người
bị thiệt hại do tội phạm gây ra trong tố tụng hình sự”, trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh đi sâu nghiên cứu quyền và nghĩa vụ của người bị hại
và nguyên đơn dân sự với tư cách là người tham gia tố tụng độc lập Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Thị Mai (2014), “Quyền của người bị hại trong tố tụng hình sự”, Viện khoa học và Xã hội Viê ̣t Nam tiếp cận quyền của người bị hại dưới góc độ quyền con người, đồng thời nêu ra cơ chế bảo đảm quyền của người bị hại trong tố tụng hình sự Tuy nhiên cũng cần khẳng định rằng cho đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu trực tiếp địa vị pháp lý của người
bị hại trong tố tụng hình sự và đặc biệt là viê ̣c áp dụng trong thực tiễn các quy
đi ̣nh về địa vị pháp lý của người bị hại trên địa bàn thành phố Hà Nội
Trong quá trình dự thảo Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003, các cơ quan
đã khảo sát và nghiên cứu về tố tụng hình sự của một số nước trên thế giới về việc áp dụng chế định về người bị hại trong tố tụng hình sự Các nghiên cứu
đã đề cập tương đối đầy đủ các luận cứ khoa học như: bản chất, ý nghĩa, mục đích của việc nghiên cứu về người bị hại, tham khảo kinh nghiệm nước ngoài Tuy nhiên, việc nghiên cứu ở phạm vi rộng, chưa đi sâu vào nghiên cứu tình hình áp dụng của từng địa phương cụ thể để đưa ra những giải pháp, kiến nghị cho phù hợp nhằm áp dụng trong tố tụng hình sự chặt chẽ và sát với thực tế các địa phương, nhất là ở địa bàn thành phố Hà Nội, nơi mà tình hình tội
Trang 11hướng gia tăng thì việc nghiên cứu tình hình và áp dụng các quy định về người bị hại trên địa bàn này là hết sức có ý nghĩa, đáp ứng tốt yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm và công cuộc cải cách tư pháp của Thủ đô
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích của luận văn là trên cơ sở phân tích đi ̣a vi ̣ pháp lý của người
bị hại trong TTHS , đánh giá v iê ̣c áp du ̣ng các quy đi ̣nh này trên đi ̣a bàn Hà
Nô ̣i, đưa ra một số giải pháp thực hiê ̣n có hiê ̣u quả các quy định về người bị hại trong thực tiễn điều tra , truy tố , xét xử các vụ án hình sự trên địa bàn thành phố Hà Nội
Để đạt được mục đích trên, luận văn đề ra những nhiệm vụ như sau:
- Nêu cơ sở lý luận về ng ười bị hại và địa vị pháp lý của người bị hại trong tố tụng hình sự
- Đánh giá khái quát thực trạng thực hiê ̣n các quy đi ̣nh pháp luâ ̣t về địa
vị pháp lý của người bị hại trên địa bàn thành phố Hà Nội; chỉ ra những bất cập, vướng mắc trong quá trình thực hiện và nguyên nhân
- Đề xuất các giải pháp thực hiê ̣n có hiê ̣u quả các quy đi ̣nh pháp luâ ̣t về địa vị pháp lý của người bị hại từ thực tiễn của Hà Nô ̣i
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu đi ̣a vi ̣ pháp lý của ng ười bị hại trong tố tụng hình
sự, viê ̣c áp dụng các quy đi ̣nh của Bô ̣ luâ ̣t tố tu ̣ng hình sự năm 2003 về đi ̣a vi ̣ pháp lý của ng ười bị hại trên địa bàn thành phố Hà Nội Các cơ quan tiến hành tố tụng hình sự trong Quân đội nhân dân không thuô ̣c pha ̣m vi nghiên cứu của đề tài
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
- Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật
- Các phương pháp nghiên cứu cụ thể: Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể phù hợp với yêu cầu của từng vấn đề nghiên cứu
Trang 12như: phương pháp phân tích tài liệu, nghiên cứu lịch sử, tổng hợp, so sánh, thống kê tư pháp
6 Những đóng góp về khoa học của luận văn
- Trên cơ sở phân tích đi ̣a vi ̣ pháp lý của người bi ̣ ha ̣i trong tố tu ̣ng hình sự, đánh giá một cách có hệ thống, toàn diện các vấn đề về thực trạng áp dụng các quy định về quyền và nghĩa vụ của người bị hại trong tố tụng hình sự trên địa bàn thành phố Hà Nội;
- Đề xuất các giải pháp hoàn thiện các quy định về quyền và nghĩa vụ của người bị hại trong Bô ̣ luâ ̣t tố tu ̣ng hình sự cũng như các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng trong tố tụng hình sự trên địa bàn thành phố Hà Nội
7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
- Tăng cường nhận thức thống nhất của những ng ười tiến hành tố tụng
và các cơ quan tiến hành tố tụng về bảo vê ̣ quyền , lợi ích hợp pháp của người
bị hại trong tố tụng hình sự
- Đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định về quyền và nghĩa vụ của ng ười bị hại trong điều kiê ̣n Bô ̣ luâ ̣t tố tu ̣ng hình sự năm 2003 đang được nghiên cứu sửa đổi, bổ sung
8 Bố cục của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục, Luận văn gồm 3 chương với kết cấu như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận về địa vị pháp lý của người bị hại trong tố
tụng hình sự
Chương 2: Các quy định pháp luật về địa vị pháp lý của người bị hại
trong tố tụng hình sự trên địa bàn thành phố Hà Nội
Chương 3: Một số giải pháp bảo đảm thực hiện có hiệu quả các quy
định về địa vị pháp lý của người bị hại trên địa bàn thành phố Hà Nội
Trang 13Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA NGƯỜI BỊ HẠI
TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ
1.1 Khái niệm địa vị pháp lý của người bị hại trong tố tụng hình sự
1.1.1 Quan niệm về người bị hại – Cơ sở để xác định địa vị pháp lý của người bị hại
Để nghiên cứu về đi ̣a vi ̣ pháp lý của người bị hại trong tố tụng hình sự, trước hết cần làm rõ khái niê ̣m đi ̣a vi ̣ pháp lý Trong khoa ho ̣c pháp lý , khái niê ̣m “đi ̣a vi ̣” cũng như khái niê ̣m “đi ̣a vi ̣ pháp lý ” thường được nh ắc đến trong giáo trình các môn luâ ̣t , trong các bài viết v à công trình nghiên cứu nhưng chưa có mô ̣t đi ̣nh nghĩa hoàn chỉnh mang tính chính thống Trước hết, khái niệm “địa vị” được nhắc đến trong Từ điển tiếng Việt, đó là vị trí cá nhân trong quan hệ xã hội, do chức vụ, cấp bậc, quyền lực mà có, về mặt được coi trọng ít hay nhiều…; vị trí trong quan hệ xã hội, kinh tế, chính trị do vai trò, tác dụng mà có còn pháp lý là căn cứ, cơ sở của pháp luật [27] Địa vị của một cá nhân là vị trí của cá nhân đó trong vai trò xã hội của mình, thể hiện năng lực, trình độ, vai trò của cá nhân đó trong mối quan hệ tương quan với các cá nhân khác trong xã hội Địa vị này có thể do cá nhân tạo lập nên hoặc
do thừa hưởng từ cá nhân khác Khái niệm “ địa vị” thường được dùng đi kèm bổ ngữ, tạo thành khái niệm mang tính tâ ̣p hợp, ví dụ: “đi ̣a vi ̣ xã hô ̣i”, “đi ̣a vi ̣ pháp lý” Khái niệm “địa vị pháp lý” được giả i thích trong Từ điển luật học, đó là vị trí của chủ thể pháp luật trong mối quan hệ với những chủ thể khác trên cơ sở các quy định pháp luật; địa vị pháp lý của chủ thể pháp luật thể hiện thành một tổng thể các quyền và nghĩa vụ pháp lý của chủ thể, qua đó xác lập cũng như giới hạn khả năng của chủ thể trong các hoạt động của mình Thông qua địa vị pháp lý có thể phân biệt chủ thể pháp luật này với chủ
Trang 14thể pháp luật khác , đồng thời, cũng có thể xem xét vị trí và tầm quan trọng của chủ thể pháp luật trong các mối quan hệ pháp luật [7] Như vâ ̣y “địa vị pháp lý” khác với “địa vị xã hội” ở chỗ nó được pháp luật quy định và nó biểu hiện ở các quyền và nghĩa vụ pháp lý cụ thể Cách giải thích này của Từ điển Luâ ̣t ho ̣c được đa số luâ ̣t gia, các nhà nghiên cứu chấp nhận
Địa vị pháp lý của các chủ thể bao gồm tổng thể các quyền và nghĩa vụ pháp lý của các chủ thể, qua đó xác lập, giới hạn khả năng của chủ thể đối với các hoạt động của mình trong phạm vi quyền và nghĩa vụ Xác định địa vị pháp lý của các chủ thể giúp phân biệt chủ thể pháp luật này với chủ thể pháp luật khác trong mối quan hệ với nhau Do vậy, nghiên cứu làm rõ khái niệm địa vị pháp lý của từng chủ thể trong quan hệ pháp luật nói chung và quan hệ pháp luật tố tụng hình sự nói riêng và đặc biệt là địa vị pháp lý của người bị hại là cần thiết không chỉ đối với người bị hại mà còn có ý nghĩa đối với các chủ thể khác Chỉ khi làm rõ địa vị pháp lý của từng chủ thể trong quan hệ pháp luật tố tụng hình sự mới bảo vệ được quyền và lợi ích của người tham gia tố tụng có hiệu quả Địa vị pháp lý thể hiện vị trí, vai trò của chủ thể khi tham gia vào một hoặc nhiều quan hệ pháp luật và gắn liền với nó là quyền và nghĩa vụ cũng như trách nhiệm pháp lý phát sinh Người bi ̣ ha ̣i là mô ̣t chủ thể tham gia tố tu ̣ng hình sự, có địa vị pháp lý riêng biệt so với những người tham gia tố tu ̣ng hình sự khác
Để tìm hiểu đi ̣a vi ̣ pháp lý của người bi ̣ ha ̣i , cần xác đi ̣nh được khái niê ̣m người bi ̣ ha ̣i Khái niệm người bị hại đã xuất hiện từ rất sớm, khi bắt đầu
có thủ tục tố tụng hình sự Sau này, do ngành khoa ho ̣c nghiên cứu về na ̣n nhân ho ̣c trên thế giới phát triển ma ̣nh vào thế kỷ XX , khái niệm người bị hại được các nhà nghiên cứu về tô ̣i pha ̣m ho ̣c đưa vào ứng du ̣ng trong viê ̣c xác
đi ̣nh những mất mát, tổn thương do tô ̣i pha ̣m gây ra từ khía ca ̣nh của tô ̣i pha ̣m học Đối với Việt Nam , người bị hại là khái niệm quen thuộc trong tố tụng
Trang 15hình sự Tuy nhiên thế nào là người bị hại? Địa vị pháp lý của người bị hại là gì? Phạm vi quyền ha ̣n và nghĩa vu ̣ của người bị hại ra sao… thì đến nay vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau, và cho đến nay vẫn chưa có sự thống nhất Vì vậy, để có sự nhận thức đầy đủ và thống nhất về khái niệm người bị hại và địa
vị pháp lý của người bị hại cần phải tiếp cận khái niệm này dưới những góc
độ khác nhau
Trong khoa ho ̣c luâ ̣t tố tu ̣ng hình sự, khái niệm người bị hại được hiểu dưới nhiều góc độ khác nhau với những phương pháp tiếp cận khác nhau
Viê ̣c coi người bi ̣ ha ̣i là mô ̣t cá nhân (thể nhân) thì trong các ngành khoa ho ̣c
pháp lý liên quan đến tư pháp hình sự như luật hình sự , tô ̣i pha ̣m ho ̣c, luâ ̣t tố tụng hình sự, khoa ho ̣c điều tra tô ̣i pha ̣m hầu như không có sự tranh luâ ̣n Vấn
đề tranh luâ ̣n nhiều nhất trong lý thuyết và trong thực tiễn là trong tr ường hợp
cơ quan, tổ chức (pháp nhân) bị tội phạm trực tiếp gây thiệt hại thì họ có phải
là bị hại không thì có nhiều ý kiến khác nhau
Ý kiến thứ nhất cho rằng người bị hại chỉ là thể nhân, một con người cụ thể; cơ quan, tổ chức không thể là người bị hại Bởi lẽ khái niệm “người” ở đây là đề cập đến con người cụ thể Người bị hại là người bị thiệt hại về thể chất, tinh thần… do hành vi phạm tội gây ra, mà thể chất và tinh thần thì chỉ gắn liền với con người, một thể nhân cụ thể, thiệt hại này không thể xảy ra đối với pháp nhân hay tổ chức [42]
Ý kiến thứ hai cho rằng ngoài cá nhân là người bị hại, trong trường hợp
cơ quan, tổ chức bị tội phạm trực tiếp gây thiệt hại thì phải xem cơ quan, tổ chức đó là người bị hại Cần quan niệm khái niệm người bị hại theo nghĩa rộng của từ này Những người theo quan điểm này cho rằng trong thực tế hành vi phạm tội không chỉ gây thiệt hại cho cá nhân, hành vi phạm tội trong thực tế còn nhằm đến để gây thiệt hại cho pháp nhân, tổ chức Thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra cho cơ quan, tổ chức là rất đa dạng, không thuần tuý
Trang 16là thiệt hại về tài sản trong thực tế, cơ quan, tổ chức có thể bị thiệt hại về vật chất và tinh thần, chẳng hạn như một doanh nghiệp bị giả mạo về thương hiệu, bị vu khống làm mất uy tín trong kinh doanh
Vâ ̣y nếu nghiêng về ý kiến cho rằng ngư ời bị hại chỉ có thể là cá nhân thì cơ quan, tổ chức bị tội phạm trực tiếp xâm hại sẽ tham gia tố tụng với tư cách gì? Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam quy đi ̣nh trong trư ờng hợp này cơ quan hay tổ chức bị tội phạm xâm hại thì tham gia tố tụng với tư cách là nguyên đơn dân sự khi có đơn yêu cầu Quy định này chưa được hợp lý, không phù hợp với thực tiễn bởi lẽ:
Thứ nhất, đối với các cơ quan, tổ chức mà tài sản thuộc về sở hữu nhà
nước khi bị tội phạm gây thiệt hại, cơ quan, tổ chức đó không có đơn yêu cầu thì họ sẽ tham gia tố tụng với tư cách gì? Tài sản của nhà nước liệu được đảm bảo? Vậy khi tham gia tố tụng toà án có đưa họ vào tham gia tố tụng không và với tư cách gì?
Thứ hai, dưới góc độ quyền và nghĩa vụ, có thể thấy người bị hại không
chỉ là người bị tội phạm gây thiệt hại mà họ còn là chủ thể của quan hệ pháp luật tố tụng hình sự, là chủ thể của quyền con người trong tư pháp hình sự Do vậy, khái niệm người bị hại cũng cần phải được xem xét trên cơ sở quyền và nghĩa vụ pháp lý [22]
Như vâ ̣y, nếu không coi cơ quan, tổ chức là người bị hại sẽ vi phạm nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng trước tòa án và nguyên tắc tranh tụng Điều này thể hiện sự bất bình đẳng giữa cá nhân và cơ quan, tổ chức, vì cơ quan, tổ chức phải có đơn yêu cầu mới được tham gia tố tụng mà tham gia với
tư cách là nguyên đơn dân sự và nguyên đơn dân sự thì lại không có quyền kháng cáo về hình phạt, chỉ có quyền kháng cáo về bồi thường Điều này còn tạo nên sự khác biệt và bất bình đẳng đối với bị cáo và đối tượng được bảo vệ Phải chăng có sự không công bằng trong việc bảo vệ tài sản của cá nhân và cơ
Trang 17quan, tổ chức Có sự không công bằng giữa bị cáo gây thiệt hại cho cá nhân
và pháp nhân , tổ chức Cần coi ngư ời bị hại là cá nhân, cơ quan, tổ chức bị thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản do tội phạm gây ra, được cơ quan có thẩm quyền công nhận theo quy định của pháp luật, có quyền và nghĩa vụ pháp lý được pháp luật bảo đảm thực hiện, từ đó xác đi ̣nh đúng đi ̣a vi ̣ pháp lý của họ trong tố tụng hình sự
1.1.2 Vai trò của người bi ̣ hại trong tố tụng hình sự
Cũng cần nhấn mạnh rằng , vai trò của người bị hại trong tố tụng hình
sự không phải là thu ̣ đô ̣ng , mà trái lại , có sự chủ động nh ất đi ̣nh Xét theo chức năng của tố tu ̣ng hình sự và vai trò của các chủ thể tham gia tố tu ̣ng ,
người bi ̣ ha ̣i (hoă ̣c đa ̣i diê ̣n hợp pháp của ho ̣ ) trước hết được thể hiê ̣n ở việc
buộc tội, thông qua việc đóng góp của họ vào quá trình giải quyết vụ án đó là buộc tội (nhân danh cá nhân) người đã gây thiệt hại cho mình đồng thời yêu cầu người gây thiệt hại phải bồi thường và khắc phục thiệt hại do tội phạm gây ra Trong tố tụng hình sự mô ̣t số quốc gia , bên ca ̣nh khái niê ̣m công tố , viê ̣c buộc tội nhân danh cá nhân được gọi là tư tố (Liên bang Nga, Trung Quốc, Phần Lan, mô ̣t số bang của Hoa Kỳ ) Viê ̣c cơ quan công tố nhân danh lợi ích công cộng , lợi ích Nhà nước để truy cứu trách nhiê ̣m hình sự mô ̣t người pha ̣m tô ̣i nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức , cá nhân… là hoa ̣t đô ̣ng công tố Tuy nhiên, trong thực tế pháp luật quy định trường hợp khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại, tạo khả năng
và điều kiện cho người bị hại được tự do lựa chọn cách giải quyết, hoặc là yêu cầu pháp luật can thiệp hoặc là tự dàn xếp với người đã gây thiệt hại cho mình một cách ổn thoả, đó là tư tố Tố tụng hình sự Việt Nam chỉ quy định thủ tục công tố cho tất cả các vụ án hình sự Điều đó có nghĩa là việc khởi tố, trừ một
số trường hợp phải có yêu cầu của người bị hại, thì đều do cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Toà án thực hiện, còn việc truy tố hình sự, thực hành quyền
Trang 18công tố trước toà chỉ thuộc thẩm quyền, chức năng của Viện kiểm sát Tố tụng hình sự của chúng ta không áp dụng thủ tục tư tố, không cho phép người
bị hại quyền truy tố hình sự và thực hiện việc buộc tội trước toà Tuy nhiên, cũng có ý kiến cho rằng, nếu hiểu theo nghĩa rộng thì việc quy định trong một
số trường hợp chỉ được khởi tố theo yêu cầu của người bị hại có thể coi là tư
tố Bởi lẽ chức năng buộc tội trong tố tụng hình sự là chức năng của Viện kiểm sát thay mặt Nhà nước truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội, nhưng quyền buộc tội cá nhân vẫn được tôn trọng ở mức độ nhất định Như vậy, không giống quyền công tố, với quyền tư tố, pháp luật cho phép sự thể hiện ý chí cá nhân của người bị hại trong việc tự giải quyết các sự việc gây thiệt hại cho chính mình trong giới hạn nhất định mà xã hội và cộng đồng
có thể chấp nhận được Đó là sự tự định đoạt của người bị hại đối với người
đã gây ra thiệt hại cho mình, nói cách khác họ có thể thoả thuận, hoà giải với nhau xem có nên đưa vụ án ra toà để giải quyết hay không
Hai là, vai trò của người bị hại trong việc xác định sự thật khách quan của vụ án Ngoài vai trò buộc tội, người bị hại còn có vai trò tích cực trong việc xác định sự thật khách quan của vụ án Điều này thể hiện ở việc khai báo những tình tiết liên quan đến việc giải quyết vụ án hình sự…; vai trò bảo vệ lợi ích cá nhân trong vụ án hình sự thông qua quyền yêu cầu khởi kiện dân sự trong vụ án hình sự Việc người bị hại khai báo những tình tiết liên quan giúp
cơ quan tiến hành tố tụng trong việc điều tra, khám phá tội phạm, thu thập chứng cứ để làm sáng tỏ những vấn đề cần chứng minh nhằm giải quyết đúng đắn vụ án hình sự
Để tìm hiểu đi ̣a vi ̣ pháp lý của người bi ̣ ha ̣i, cần xem xét đến mối tương quan giữa người bi ̣ ha ̣i với các c hủ thể tham gia tố tụng hình sự bao gồm nhiều tư cách tố tụng khác nhau và được phân thành các nhóm như cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng; cơ quan có thẩm quyền tiến hành
Trang 19một số hoạt động điều tra…; người tham gia tố tụng có quyền lợi pháp lý liên quan (người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án); người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của đương sự; và người tham gia tố tụng không
có quyền lợi pháp lý liên quan như người làm chứng, người giám định, người phiên dịch và chủ thể khác Tuy nhiên cách phân chia này chưa chỉ rõ được sự khác nhau về mục đích và hướng tham gia tố tụng của các chủ thể cũng như vai trò, chức năng của từng chủ thể trong tố tụng hình sự Ví dụ đều là cơ quan tiến hành tố tụng nhưng Viện kiểm sát và Tòa án lại thực hiện các chức năng tố tụng khác nhau Hoặc đều là người tham gia tố tụng có quyền lợi pháp lý liên quan nhưng bị can, bị cáo và người bị hại tham gia tố tụng với mục đích không như nhau Vì vậy để làm rõ vị trí của người bị hại cần có cách tiếp cận khác về vị trí của các chủ thể trong tố tụng hình sự, đó là dựa vào mục đích, nhiệm vụ, chức năng… của các chủ thể Để xác định được vị trí của người bị hại, trước hết chúng ta phải xác định người bị hại thuộc nhóm nào và mối quan hệ giữa họ với các chủ thể còn lại
Tiếp cận theo cách phân chia này thì nhóm thứ nhất gồm người bị thiệt hại do tội phạm gây ra, đó là người bị hại, nguyên đơn dân sự, người có quyền lợi liên quan đến vụ án và người bảo vệ quyền lợi của họ Những chủ thể này tham gia với mục đích buộc tội người gây thiệt hại và yêu cầu được bồi thường thiệt hại Cùng với những người nói trên, nhóm này còn có những chủ thể đại diện cho nhà nước có quyền tiến hành các hoạt động tố tụng nhằm truy cứu trách nhiệm hình sự và buộc tội đối với người thực hiện hành vi phạm tội như cơ quan điều tra, viện kiểm sát và những người tiến hành tố tụng của cơ quan này Tuy nhiên mục đích của họ lại hướng tới việc buộc tội nhằm cải tạo giáo dục, trừng trị người phạm tội chứ không nhằm để được bồi thường hay khắc phục thiệt hại do tội phạm gây ra [22]
Trang 20Nhóm chủ thể thứ hai có vị trí tố tụng đối lập với người bị hại, đó là người bị buộc tội (người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo), người có trách nhiệm bồi thường thiệt hai do hành vi phạm tội gây ra như bị đơn dân
sự, người có nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người bào chữa…
Nhóm chủ thể thứ ba là Tòa án, Chánh án, Phó Chánh án tòa án, Thẩm phán, Hội thẩm và Thư ký Tòa án có nhiệm vụ giải quyết vụ án (Hội đồng xét xử), tức là có vị trí trọng tài nhằm giải quyết vụ án một cách khách quan và công bằng
Ngoài ra, còn một nhóm chủ thể nữa là những người tham gia tố tụng nhằm hỗ trợ và giúp cơ quan có thẩm quyền làm rõ chứng cứ và xác định sự thật khách quan của vụ án như người làm chứng, người giám định, người phiên dịch Khác với những nhóm trên, các chủ thể trong nhóm này không có quyền và lợi ích liên quan đến vụ án Với cách tiếp cận này người bị hại có
vi trí độc lập với nhóm chủ thể bị buộc tội và bị đơn dân sự Người bị hại
có thể được coi là chủ thể cùng bên với cơ quan điều tra, viện kiểm sát nhưng lại có địa vị tố tụng độc lập Trong quan hệ với Tòa án, người bị hại được coi là một trong những bên tranh tụng thực hiện quyền buộc tội, yêu cầu bồi thường thiệt hại [41, tr.58]
Với tư cách là người tham gia tố tu ̣ng hìn h sự, đi ̣a vi ̣ pháp lý của người
bị hại bị chi phối bởi nhiều yếu tố như : như đă ̣c điểm của mô hình tố tu ̣ng hình sự thẩm vấn hay tranh tu ̣ng , kết hợp giữa mô hình thẩm vấn và mô hình tranh tu ̣ng; quan niê ̣m về người bi ̣ ha ̣i trong tố tu ̣ng hình sự (cá nhân h oặc pháp nhân, cả pháp nhân và cá nhân ); mối tương quan giữa người bi ̣ ha ̣i và các chủ thể khác tham gia tố tụng hình sự ; hê ̣ thống quy đi ̣nh pháp luâ ̣t về t ố tụng hình sự hiện hành Sự tác động của các yếu tố nói trên dẫn đến sự khác biệt giữa địa vị pháp lý của với địa vị pháp lý của người bi ̣ ha ̣i với những người tham gia tố tu ̣ng khác như bi ̣ can, bị cáo, người có quyền và lợi ích liên
Trang 21quan đến vu ̣ án , luâ ̣t sư , người bào chữa , và lại càng khác với các chủ thể
tham gia tố tu ̣ng khác
Từ sự phân tích trên có thể đưa ra khái niệm địa vị pháp lý của người bị
hại như sau: Địa vị pháp lý của người bị hại trong tố tụng hình sự là tổng thể các quyền và nghĩa vụ của họ khi tham gia tố tụng được pháp luật tố tụng hình sự quy định và bảo đảm thực hiện
1.2 Nô ̣i dung đi ̣a vi ̣ pháp lý của người bi ̣ ha ̣i trong tố tu ̣ng hình sự
1.2.1 Quyền của người bị hại
Trong tố tụng hình sự, người bị hại là chủ thể của quan hệ pháp luật cũng như các chủ thể khác có quyền nhất định Tuy nhiên, do tư cách tố tụng của mình nên người bị hại có một số quyền giống và một số quyền khác mà những người tham gia tố tụng khác không có
Quyền của người bị hại trong tố tụng hình sự chưa được định nghĩa trong giáo trình luật tố tụng hình sự của các cơ sở đào tạo luật một cách cụ thể Quyền của người bị hại trong tố tụng hình sự là sự cụ thể hóa các quyền con người trong lĩnh vực tư pháp hình sự được quy định dành cho người bị hại khi tham gia quan hệ pháp luật tố tụng hình sự Đây được coi là tiêu chuẩn nhân quyền trong tư pháp hình sự Theo nghiên cứu của chúng tôi, hiện nay
có nhiều công trình nghiên cứu khái niệm quyền con người trong tố tụng hình
sự nhưng chủ yếu tập trung vào quyền của người bị buộc tội mà ít quan tâm đến quyền của người bị hại
Học viên cho rằng: Quyền của người bị hại trong tố tụng hình sự là những quyền con người dành cho người bị thiệt hại (cá nhân, cơ quan, tổ chức) do tội trực tiếp gây ra khi tham gia quan hệ pháp luật tố tụng hình sự
Khác với quyền con người nói chung, quyền của người bị hại trong tố tụng hình sự là quyền có điều kiện chỉ phát sinh khi cá nhân, cơ quan hoặc tổ chức bị hành vi phạm tội trực tiếp gây thiệt hại và họ tham gia chủ động hay
bị động vào quá trình tố tụng [22, tr.54]
Trang 22Là người bị tội phạm trực tiếp gây thiệt hại, người bị hại phải gánh chịu những hậu quả do tội phạm gây ra mà họ hoàn toàn không mong muốn Tuy nhiên, người bị hại chỉ tham gia tố tụng trong trường hợp được cơ quan có thẩm quyền thừa nhận bằng một quyết định tố tụng dưới các hình thức khác nhau tùy theo mỗi quốc gia
Một là, quyền buộc tội, quyền yêu cầu khởi tố vụ án hình sự: Buộc tội
là hoạt động tố tụng hướng đến việc xác định có tội phạm xảy ra, người thực hiện hành vi phạm tội và lỗi của họ trong việc thực hiện hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và hình phạt được áp dụng… Trong tố tụng hình sự, quyền buộc tội thuộc về Nhà nước (quyền truy cứu trách nhiệm hình sự) nhằm giải quyết mối quan hệ giữa nhà nước với cá nhân khi tội phạm xảy ra qua đó bảo vệ lợi ích của nhà nước bị xâm hại Ở một số nước trên thế giới quyền buộc tội còn thuộc về người bị hại hay còn gọi là tư tố Là người
bị thiệt hại trực tiếp do tội phạm gây ra nên người bị hại có quyền buộc tội nhân danh cá nhân nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình Ở Việt Nam, BLTTHS năm 2003 không quy định quyền buộc tội của người bị hại nhưng có quy định quyền này trong trường hợp vụ án được khởi tố theo yêu cầu của người bị hại, đó là quyền trình bày lời buộc tội tại phiên tòa
Theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam thì quyền buộc tội của người bị hại trước hết là quyền yêu cầu (hoặc rút yêu cầu) khởi tố vụ
án hình sự và quyền trình bày lời buộc tội tại phiên tòa Đối với các vụ án không thuộc trường hợp khởi tố theo yêu cầu của người bị hại thì cơ quan có thẩm quyền nhân danh nhà nước có vai trò chính trong hoạt động buộc tội, nhưng không phải vì thế mà người bị hại không có quyền buộc tội Quyền kháng cáo về hình phạt đối với bị cáo của người bị hại theo chúng tôi ở một góc độ nào đó cũng là quyền buộc tội Như vậy, về mặt khoa học, chúng tôi hoàn toàn đồng ý với quan điểm cho rằng, người bị hại tham gia thực hiện
Trang 23việc buộc tội không chỉ trong vụ án được khởi tố theo yêu cầu của người đó,
mà thực tế trong tất cả các vụ án hình sự [28, tr.27] Quyền buộc tội của người
bị hại cũng có mối quan hệ với quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại Nếu hoạt động buộc tội không được chấp nhận thì cũng ảnh hưởng đến kết quả giải quyết bồi thường thiệt hại
Hai là, quyền được bồi thường: Quyền được bồi thường của người bị hại bao gồm các quyền được đề nghị mức bồi thường và quyền đề nghị biện pháp đảm bảo bồi thường Trong số những người tham gia tố tụng, thì chỉ có người bị hại có quyền kháng cáo về hình phạt Đồng thời có quyền yêu cầu bị can, bị cáo hoặc bị đơn dân sự bồi thường thiệt hại do tội phạm gây ra dưới hình thức bồi hoàn, sửa chữa, khắc phục những thiệt hại đó Quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại của người bị hại được bảo đảm bởi nguyên tắc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự Người bị hại có quyền đề nghị các biện pháp đảm bảo bồi thường
Ba là, quyền được tham gia tố tụng: Quyền được tham gia tố tụng của người bị hại là các quyền như: Tham gia một số hoạt động điều tra…; tham gia phiên tòa; trình bày ý kiến, tranh luận tại phiên tòa;
Bốn là, quyền được bảo vệ: Quyền được bảo vệ gồm các quyền như được áp dụng những biện pháp cần thiết để bảo vệ tính mạng, sức khỏe, danh
dự, nhân phẩm, tài sản… khi tham gia tố tụng; được có người bảo vệ quyền lợi cho mình; được giữ bí mật thông tin của người bị hại…
Năm là, quyền được thông tin: Trong tố tụng hình sự, quyền được thông tin của người bị hại thể hiện ở việc họ được giải thích quyền và nghĩa vụ; được thông báo kết quả điều tra; được giao nhận các quyết định liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp của họ trong suốt quá trình giải quyết vụ án
Sáu là, quyền khiếu nại; kháng cáo bản án và quyết định chưa có hiệu lực pháp luật của tòa án, quyền đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng… khi
Trang 24không đồng ý hoặc cho rằng quyết định, hành vi tố tụng của những người tiến hành tố tụng hoặc bản án, quyết định của Tòa án là không có căn cứ
1.2.2 Nghĩa vụ của người bị hại
Quyền và nghĩa vụ của người bị hại là bộ phận hợp thành địa vị pháp lý của người bị hại trong tố tụng hình sự Việc thực hiện quyền luôn luôn gắn liền với thực hiện nghĩa vụ Nghĩa vụ của người bị hại là cách xử sự mà người bị hại buộc phải thực hiện khi tham gia quan hệ pháp luật tố tụng hình sự nhằm đáp ứng việc thực hiện quyền của các chủ thể khác Việc buộc người bị hại phải thực hiện nghĩa vụ của mình nhằm đáp ứng cho việc thực hiện trách nhiệm
và quyền hạn của cơ quan tiến hành tố tụng Điều này thể hiện nguyên tắc thống nhất về quyền và nghĩa vụ trong mối quan hệ giữa nhà nước và công dân Nhà nước tạo mọi khả năng để người bị hại bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của mình, đồng thời cũng đòi hỏi người bị hại thực hiện một số nghĩa vụ nhất định nhằm bảo đảm cho việc xác định sự thật khách quan của vụ án
Cùng với việc tham gia tố tụng với tư cách là chủ thể có quyền nhất định để thỏa mãn ý chí, lợi ích cá nhân, thì người bị hại còn là chủ thể tham gia tố tụng có nghĩa vụ nhất định Đó là nghĩa vụ có mặt theo giấy triệu tập của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng; nếu từ chối khai báo mà không
có lý do chính đáng thì phải chịu trách nhiệm hình sự Với nghĩa vụ này người bị hại có vai trò gần như người làm chứng Lời khai của người bị hại là một trong những nguồn chứng cứ quan trọng giúp cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng xác định sự thật khách quan của vụ án để đưa ra cách giải quyết
vụ án chính xác Việc người bị hại có nghĩa vụ khai báo xuất phát từ thực tiễn, họ là người có thể biết được những tình tiết có liên quan đến vụ án Những thông tin do người bị hại trình bày sẽ trở thành chứng cứ quan trọng trong nhiều trường hợp như đối với các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe…
Trang 251.3 Địa vị pháp lý của người bi ̣ ha ̣i trong Luâ ̣t tố tu ̣ng hình sự mô ̣t số nước trên thế giới
Trong quá trình nghiên cứu luật tố tụng hình sự của một số nước trên thế giới chúng tôi thấy rằng, người bị hại luôn được coi là chủ thể quan trọng của quan hệ pháp luật tố tụng hình sự nhưng việc quy định về địa vị pháp lý của họ lại không như nhau, cụ thể là một số nước coi người bị thiệt hại là nạn nhân của tội phạm hoặc bên bị thiệt hại như các nước thuộc hệ thống luật Châu Âu lục địa Luật tố tụng hình sự của các nước này không đưa ra khái niệm nạn nhân của tội phạm và cũng không phân biệt người bị hại với nguyên đơn dân sự
Theo BLTTHS Cộng hòa Pháp, những người có quyền nộp đơn kiện đòi bồi thường thiệt hại được gọi là “nạn nhân” hoặc “bên dân sự”
Theo BLTTHS của Cộng hòa liên bang Đức thì những đối tượng tham gia vào quan hệ tố tụng hình sự để giải quyết vụ án đều là chủ thể của quan hệ pháp luật tố tụng hình sự và giống như Luật tố tụng hình sự của Cộng hòa Pháp, luật tố tụng hình sự của Cộng hòa liên bang Đức cũng không phân biệt giữa người bị hại và nguyên đơn dân sự và họ có vai trò là chủ thể của quyền
tư tố, đồng thời có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại Tuỳ theo loại người có những vai trò khác nhau trong tố tụng hình sự mà pháp luật quy định quyền
và nghĩa vụ của họ tham gia giải quyết vụ án Trong luật tố tụng hình sự hình
sự Cộng hòa Liên bang Đức thì người bị hại là nạn nhân của tội phạm trước đây có vai trò không đáng kể trong tố tụng hình sự [42] Về mặt hình phạt của tội phạm, lợi ích của họ được coi là phụ so với lợi ích công chúng và vai trò của họ đơn thuần chỉ là nguyên đơn kiện bồi thường các thiệt hại về dân sự Địa vị pháp lý của người bị hại đã được cải thiện một cách đáng kể với sự ra đời của Luật bảo vệ nạn nhân năm 1986 mà theo đó luật tố tụng hình sự cũng
đã sửa đổi Sự tham gia của người bị hại trong tiến trình tố tụng được quy
Trang 26định thành một phần riêng trong Bộ luật tố tụng hình sự Người bị hại của các tội phạm nghiêm trọng được bảo vệ tốt hơn và được bổ sung một số quyền của một bên tham gia tố tụng: quyền được thông tin về tiến trình tố tụng (Điều 406), quyền tiếp cận hồ sơ (Điều 406e), quyền được trợ giúp pháp lý (Điều 406f), quyền khởi tố lại và quyền được bồi thường thiệt hại do tội phạm gây ra Người bị hại của tội phạm nghiêm trọng có thể tham gia tích cực và tiến trình tố tụng với vai trò phụ cho công tố viên Đời tư cá nhân của họ được bảo vệ Toà án có thể tổ chức nghe riêng khi những vấn đề liên quan đến người bị hại còn đang tranh cãi và họ có quyền phản đối những câu hỏi liên quan đến đời tư của mình Người bị hại có thể đưa ra yêu cầu truy tố các tội phạm (quyền tư tố) mà không cần phải nhờ cơ quan công tố truy tố Công tố viên không bắt buộc phải tham gia vào thủ tục tư tố Cơ quan công tố chỉ truy
tố khi việc truy tố đó có liên quan đến lợi ích công (Điều 376) Điều 374 của
Bộ luật tố tụng hình sự Đức quy định các danh mục các tội phạm được quy định trong Bộ luật hình sự mà bị hại có quyền tư tố, đó là các tội xâm phạm gia cư bất hợp pháp, tội xúc phạm nhân phẩm, vi phạm quyền tự báo chí, tội gây thương tích, đe doạ, nhận hoặc đưa hối lộ trong những giao dịch kinh doanh, bị thiệt hại đến mức phải truy cứu và các tội phạm khác về luật chống cạnh tranh không công bằng, luật về bằng sáng chế, Luật về thiết kế, Luật về quyền tác giả… Nếu người bị hại có đại diện theo pháp luật thì quyền yêu cầu
tư tố sẽ do họ thực hiện Nếu bên bị hại là một tập đoàn, một công ty hoặc một tổ chức khác thì có thể khởi kiện tranh chấp dân sự thông qua người đại diện của họ Cùng với người bị hại hoặc thay mặt cho người bị hại, người có quyền đưa ra yêu cầu truy tố hình sự cũng có thể đưa ra yêu cầu tư tố Tư tố viên có thể được hỗ trợ hoặc đại diện bởi một luật sư chỉ định trong phạm vi thẩm quyền của Luật sư đó Tư tố viên có quyền đưa ra yêu cầu bảo đảm về chi phí dự kiến phát sinh cho bị cáo Việc bảo đảm có thể bằng đặt cọc tiền
Trang 27Theo luật tố tụng hình sự của nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa thì các đối tượng tham gia vào quan hệ tố tụng đều là chủ thể tham gia tố tụng Người bị hại trong tố tụng hình nước công hoà nhân dân Trung Hoa được phân thành hai loại là người bị hại trong vụ án thuộc công tố và người bị hại trong vụ án thuộc tư tố
Người bị hại trong vụ án thuộc công tố từ ngày vụ án được chuyển giao để thẩm tra trước khi truy tố, có quyền chỉ định người đại diện liên quan đến vụ án Người bị hại chịu thiệt hại vật chất do hành vi phạm tội của bị cáo có quyền nộp đơn kiện dân sự trong quá trình tố tụng và được giải quyết đồng thời với vụ án hình sự Đối với những vụ án mà viện kiểm sát miễn tố có người bị hại thì người bị hại có quyền được nhận quyết định miễn tố Nếu người bị hại không tán thành quyết định thì người bị hại có quyền khiếu nại lên Viện kiểm sát nhân dân cấp trên trực tiếp và yêu cầu truy tố Trong trường hợp Viện kiêm sát nhân dân cấp trên đồng ý với quyết định miễn tố thì người bị hại có thể kiện ra Toà án nhân dân Người
bị hại cũng có thể trực tiếp kiện ra Toà án nhân dân mà không cần phải khiếu nại trước quyết định miễn tố của Viện kiểm sát nhân dân Đối với vụ án tư tố người bị hại có quyền chỉ định người đại diện pháp lý cho mình và có quyền trực tiếp đưa vụ án ra trước toà Nếu người bị hại chết hoặc mất khả năng hành động, người đại diện pháp lý và họ hàng thân thích có quyền đưa vụ án ra trước toà [42] Theo Bộ luật tố tụng hình sự Liên bang Nga được DUMA quốc gia
thông qua ngày 22/11/2001 thì “người bị hại là người bị tội phạm gây ra thiệt hại về tinh thần, thể chất hoặc tài sản, người tiến hành điều tra, dự thẩm viên, thẩm phán, toà án ra quyết định công nhận là người bị hại” [42]
Chủ thể tham gia tố tụng hình sự gồm: Toà án, các chủ thể tham gia tố
Trang 28tụng thuộc bên buộc tội, các chủ thể tham gia tố tụng hình sự thuộc bên bào chữa
và những chủ thể khác tham gia tố tụng hình sự Trong đó, Kiểm sát viên, Dự thẩm viên, Thủ trưởng cơ quan điều tra, nhân viên điều tra, người bị hại, nguyên đơn dân sự… thì thuộc nhóm chủ thể tham gia tố tụng hình sự thuộc bên bào chữa Tuỳ theo loại người có những vai trò khác nhau trong tố tụng hình sự mà pháp luật Liên bang Nga có quy định quyền và nghĩa vụ của họ tham gia giải quyết vụ án Theo khoản 1 Điều 42 của Bộ luật tố tụng hình sự Liên bang Nga thì người bị hại là thể nhân, bị thiệt hại về thể chất tinh thần, tài sản do tội phạm gây ra, cũng như pháp nhân trong trường hợp bị thiệt hại về tài sản và uy tín do tội phạm gây ra Người bị hại được công nhận bằng quyết định công nhận người
bị hại của kiểm sát viên, dự thẩm viên hoặc Toà án Địa vị pháp lý của người bị hại trong Luật tố tụng hình sự Liên bang Nga được quy định bằng các quyền và nghĩa vụ rất cụ thể Như theo khoản 2 Điều 42 của Bộ luật tố tụng hình sự Liên bang Nga quy định về quyền của người bị hại như sau:
Người bị hại có quyền:
1/ Được biết về nội dung buộc tội bị can;
2/ Được đưa các lời khai;
3/ Từ chối làm chứng để chống lại bản thân, vợ hoặc chồng,
họ hàng thân thích được liệt kê tại mục 4, Điều 5 Bộ luật này Trong trường hợp người bị hại đồng ý khai báo thì phải báo trước cho họ biết rằng những khai báo của họ có thể được sử dụng làm chứng cứ trong vụ án, kể cả trong trường hợp sau đó họ từ chối những lời khai của mình;
Trang 297/ Được sự giúp đỡ miễn phí của người phiên dịch;
8/ Có người đại diện;
9/ Tham gia vào các hoạt động điều tra được tiến hành theo yêu cầu của họ hoặc người đại diện cho họ, nếu được dự thẩm viên hoặc nhân viên điều tra ban đầu đồng ý;
10/ Được xem các biên bản hoạt động điều tra, được tiến hành với sự tham gia của họ và đưa ra những nhận xét;
11/ Được xem quyết định trưng cầu giám định tư pháp và kết luận giám định trong những trường hợp quy định tại khoản 2 điều
198 Bộ luật này;
12/ Được xem toàn bộ hồ sơ vụ án sau khi kết thúc điều tra, ghi chép bất kỳ tài liệu nào có trong hồ sơ vụ án và với bất kỳ số lượng nào, sao chụp hồ sơ tài liệu của vụ án, kể cả với sự hỗ trợ của các thiết bị kỹ thuật Trong trường hợp có nhiều người bị hại trong
vụ án thì mỗi người trong số họ có quyền xem những hồ sơ vụ án liên quan đến thiệt hại gây ra cho người đó;
13/ Nhận bản sao các quyết định: Khởi tố vụ án hình sự, công nhận hoặc từ chối là người bị hại, đình chỉ vụ án, tạm đình chỉ vụ án
và cả bản sao bản án của toà án cấp sơ thẩm, quyết định của Toà cấp chống án và Toà cấp phúc thẩm;
14/ Tham gia phiên toà xét xử vụ án tại các Toà án cấp sơ thẩm, phúc thẩm và giám đốc thẩm;
15/ Phát biểu ý kiến tranh luận tại phiên toà;
16/ Thực hiện việc buộc tội;
17/ Xem biên bản phiên toà và những nhận xét;
18/ Khiếu nại với hoạt động và quyết định của nhân viên điều tra ban đầu, dự thẩm viên, kiểm sát viên và Toà án;
Trang 3019/ Kháng cáo đối với bản án, quyết định của Toà án;
20/ Được biết về những khiếu nại và đề nghị đối với vụ án và đưa ra ý kiến phản đối của mình;
21/ Đề nghị áp dụng các biện pháp bảo vệ theo quy định tại khoản 3 điều 11 Bộ luật này;
22/ Thực hiện những quyền hạn khác theo quy định của Bộ luật này [42]
Ngoài những quyền trên, tại khoản 3 Điều 42 của Bộ luật tố tụng hình
sự Liên bang Nga còn quy định về quyền được đảm bảo, được bồi thường thiệt hại do tội phạm gây ra và những chi phí trong việc họ tham gia trong quá trình điều tra và xét xử vụ án Còn theo khoản 4 thì việc bồi thường bằng tiền đối với thiệt hại về tinh thần đã gây ra cho họ, mức bồi thường thì được giải quyết trong cùng một vụ án hoặc được giải quyết theo tố tụng dân sự
Theo quy định tại khoản 5 Điều 43 của Bộ luật tố tụng hình sự Liên bang Nga bên cạnh các quy định về quyền của người bị hại, còn quy định về các trường hợp người bị hại không có quyền gồm:
1/ Từ chối có mặt theo giấy triệu tập của nhân viên điều tra ban đầu, dự thẩm viên, kiểm sát viên và Toà án;
2/ Khai báo gian dối hoặc từ chối khai báo;
3/ Tiết lộ bí mật điều tra, trước đó họ đã được thông báo về việc này theo thủ tục quy định tại điều 161 Bộ luật này [42]
Bộ luật tố tụng hình sự của Liên bang Nga quy định nghĩa vụ của người
bị hại phải có mặt theo giấy triệu tập nếu không có mặt theo giấy triệu tập mà không có lý do chính đáng thì sẽ bị áp giải (khoản 6 điều 43); nếu người bị hại
từ chối khai báo hoặc khai báo gian dối thì phải chịu trách nhiệm theo quy định điều 307 và Điều 308 của Bộ luật hình sự Liên bang Nga Nếu người bị hại tiết
lộ bí mật điều tra thì phải chịu trách nhiệm theo quy định tại Điều 310 của Bộ
Trang 31luật hình sự Liên bang Nga (khoản 7 điều 43); đối với các vụ án hình sự về những tội phạm mà hậu quả dẫn đến chết người thì các quyền của người bị hại quy định tại điều này được chuyển cho một số người họ hàng thân thích của người đó (khoản 8); trong trường hợp người bị hại được công nhận là pháp nhân thì đại diện của pháp nhân đó thực hiện các quyền của người bị hại [42]
Bộ luật tố tụng hình sự của Tiệp Khắc trước đây quy định: “Người bị hại là người bị tội phạm gây thiệt hại về sức khoẻ hoặc tài sản, tinh thần hoặc những thiệt hại khác” [42, Điều 43, Khoản 1]
Bộ luật tố tụng hình sự của Rumani cũng có quy định tương tự [42]
Bộ luật tố tụng hình sự của một số nước như Ba Lan có đưa ra khái niệm người bị hại tại chương 4 và nguyên đơn dân sự tại chương 7 nhưng có điểm khác biệt với BLTTHS Việt Nam ở chỗ là không phân biệt người bị hại với nguyên đơn dân sự Nguyên đơn dân sự theo Luật tố tụng hình sự của Ba Lan chính là người bị hại nộp đơn yêu cầu bồi thường thiệt hại Người bị hại
là cá nhân hoặc pháp nhân mà tài sản hoặc quyền của họ trực tiếp bị xâm hại hoặc bị đe dọa xâm hại
Một số nước thuộc hệ thống thông luật (Common law) mà điển hình là
Mỹ thì người bị thiệt hại được gọi là nạn nhân Tuy nhiên, đặc thù của tố tụng hình sự của hệ thống thông luật là không giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự nên ngoài nạn nhân được coi là người bị hại thì các bên dân sự khác không hiện diện trong tố tụng hình sự Nạn nhân trong tố tụng hình sự của Mỹ
là chủ thể của quyền tư tố mà điển hình là quyền phát biểu tại tòa án trước khi tòa án kết án bị cáo hoặc tại phiên phóng thích và quyền tham gia các phiên thương lượng nhận tội [41, tr.69]
Bộ luật tố tụng hình sự của một số nước quy định cụ thể địa vị pháp lý của người bị hại và nguyên đơn dân sự mà điển hình là BLTTHS của Việt Nam (Điều 51 và Điều 52 của BLTTHSVN năm 2003) và BLTTHS của Liên bang Nga (Điều 42 và 43)
Trang 32Nhìn chung, pháp luật các nước có sự thống nhất trong định nghĩa người bị hại: người bị hại là con người cụ thể, bị thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản hoặc những thiệt hại khác, những thiệt hại đó do tội phạm gây
ra Trong bối cảnh mô hình tố tụng của chúng ta đang chuyển hoá dần dần từ
mô hình tố tụng xét hỏi sang mô hình tố tụng hỗn hợp tăng cường yếu tố tranh tụng thì, sự chuyển tiếp này dẫn đến hệ quả tất yếu là cần phải có sự thay đổi đồng bộ trong cơ chế hoạt động của những người tham gia tố tụng, đặc biệt là người bị hại Việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ của người bị hại trong hoạt động xét xử trong những năm qua đã cho thấy nhiều bất cập
Để giải quyết những vướng mắc này trong thực tế Viê ̣t Nam , cần thừa nhận
cơ quan , tổ chức bị thiệt hại trực tiếp do tội phạm gây ra là người bị hại Điều này nên xem xét trong quá trình sửa đổi , bổ sung Bô ̣ luâ ̣t tố tu ̣ng hình sự năm 2003 Sự phát triển mạnh mẽ của xã hội buộc chúng ta phải nhìn nhận lại sự tham gia của các chủ thể quan hệ pháp luật tố tụng hình sự và xác định địa vị pháp lý của họ sao cho phù hợp để bảo vệ tốt hơn nữa quyền con người trong tố tụng hình sự
Trang 33Tiểu kết chương 1
Trên cơ sở làm rõ khái niệm người bị hại, khái niệm địa vị pháp lý, luận văn đã đưa ra khái niệm địa vị pháp lý của người bị hai trong tố tụng
hình sự là: Địa vị pháp lý của người bị hại trong tố tụng hình sự là tổng thể các quyền và nghĩa vụ của cá nhân, cơ quan, tổ chức bị thiệt hại do tội phạm gây ra được pháp luật tố tụng hình sự quy định và bảo đảm thực hiện khi tham gia tố tụng Luận văn đã chỉ rõ đặc điểm việc xác định địa vị pháp lý
của người bị hại trong tố tụng hình sự cũng như vị trí, vai trò của người bị hại trong mối quan hệ với cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng hình sự Khẳng định quyền của người bị hại trong tố tụng hình sự là quyền con người khi tham gia quan hệ pháp luật tố tụng hình
sự, luận văn đã làm rõ khái niệm “Quyền của người bị hại trong tố tụng hình
sự là những quyền con người dành cho người bị thiệt hại (cá nhân, cơ quan,
tổ chức) do tội phạm gây ra khi tham gia quan hệ pháp luật tố tụng hình sự”
và nội dung của các quyền này cũng như nghĩa vụ của người bị hại
Trang 34Chương 2
CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ ĐỊA VỊ PHÁP LÝ
CỦA NGƯỜI BỊ HẠI TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ
VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
2.1 Các quy định pháp luật về địa vị pháp lý của người bị hại
2.1.1 Trước khi ban hành Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988
Người bị hại là một trong những người tham gia tố tụng trong pháp luật
tố tụng hình sự Sự phát triển của các chế định về người bị hại luôn gắn liền với sự phát triển của luật tố tụng hình sự Việt Nam Lịch sử pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam gắn liền với lịch sử phát triển pháp luật Việt Nam Lịch sử phát triển của pháp luật Việt Nam đã trải qua rất nhiều thời kỳ, nhưng chúng
ta có thể chia ra các thời kỳ như: Thời kỳ từ nguồn gốc đến nhà Trần; từ thời
kỳ nhà Hồ đến thời kỳ Lê Sơ; từ thế kỷ XVI, XVII, XVIII đến thời kỳ nhà Nguyễn; thời kỳ thực dân Pháp xâm lược; từ Cách mạng tháng Tám năm
1945 đến năm 1954…
Thời kỳ thực dân Pháp xâm lược có ba Bộ luật hình sự tố tụng khác nhau được áp dụng tại Nam kỳ, Trung kỳ và Bắc kỳ Hiện nay chỉ còn lại Bộ luật hình sự tố tụng áp dụng tại Bắc kỳ, còn hai bộ luật còn lại chưa tìm được Theo nghiên cứu Bộ luật hình sự tố tụng áp dụng tại Bắc kỳ cho thấy theo Điều 20 và 51 của Bộ luật này đã quy định các loại người tham gia tố tụng bao gồm: Bị can, bị cáo, người làm chứng, người bị hại, nhưng lại chưa đưa
ra được định nghĩa pháp lý của khái niệm về những người này
Tại Điều 9 của Bộ luật này quy định về người bị hại như sau: “Bất cứ người nào phàm đã bị hại về trọng tội, khinh tội, thì đều có quyền xin minh cứu Người bị hại có thể khai miệng hoặc làm đơn mà khống tố với cơ quan hành chánh hoặc cơ quan tư pháp” [42] Ngoài ra bộ luật này còn quy định
Trang 35tụng này quy định: “… Các người bị hại vì tội phạm hoặc vì sự truy tố mà có liệt danh trong án – không cứ có khống tố hay không - hoặc người đại biểu đúng phép hoặc người thừa kế của các người ấy” [42]
Thời kỳ này pháp luật tố tụng hình sự của nước ta chịu ảnh hưởng nặng
nề của pháp luật tố tụng hình sự Pháp Pháp luật hình sự và pháp luật tố tụng hình sự thời kỳ này đều là công cụ để thực dân Pháp và thế lực tay sai duy trì chế độ thực dân xâm lược cho nên vị trí, quyền và nghĩa vụ của người bị hại chưa được đề cập nhiều
Sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đời Chính quyền nhân dân non trẻ thời kỳ này phải đối mặt với những khó khăn chồng chất Nền kinh tế nước ta vốn lệ thuộc vào thực dân Pháp, bị phát xít Nhật khai thác triệt để trong Chiến tranh thế giới thứ hai, giờ đây rất kiệt quệ, tiêu điều Ở miền Bắc, khoảng 200.000 quân Tưởng Giới Thạch mượn danh nghĩa đồng minh vào giải giáp quân Nhật nhưng dã tâm của chúng là lật đổ chính quyền nhân dân để thành lập chính quyền phản động tay sai cho chúng Ở miền Nam, thực dân Pháp và bọn can thiệp Anh chiếm Sài Gòn mở rộng chiến tranh, tìm cách chiếm các tỉnh ở Nam Bộ và Nam Trung Bộ Trong tình hình đó, mặc dù phải cùng lúc đối phó với thù trong giặc ngoài, hoạt động lập pháp nói chung, hoạt động tố tụng hình sự, trong đó
có vị trí của người bị hại nói riêng vẫn được Nhà nước ta quan tâm Tại Sắc lệnh số 85/SL ngày 22-5-1955 quy định:
Về việc hình, người bị thiệt hại nào đã đầu đơn kiện thì có quyền kháng cáo để xin tăng hình phạt, tăng bồi thường và khoản bồi hoàn Nhưng nếu người đó vì ác ý mà kháng cáo, thì toà án có thể tự mình hoặc theo lời thỉnh cầu của bị can mà bắt người kháng cáo phải bồi thường một số tiền tương đương với sự thiệt hại gây ra
về vật chất cũng như về tinh thần [42, Điều 18]
Thời kỳ này đã quy định quyền và nghĩa vụ của người bị hại Việc quy
Trang 36định nghĩa vụ bồi thường của người bị hại trong trường hợp kháng cáo vì ác ý
là nhằm nâng cao trách nhiệm của người bị hại trong việc thực hiện quyền năng của mình
Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, Hiệp định Giơnevơ đã được ký kết, miền Bắc hoàn toàn được giải phóng, miền Nam tạm thời bị đế quốc Mỹ và bọn tay sai thống trị Hội nghị Ban chấp hành trung ương Đảng lần thứ II đã xác định: “Đường lối củng cố miền Bắc của ta là: củng cố và phát triển chế độ dân chủ nhân dân, tiến dần từng bước vững chắc lên chủ nghĩa xã hội” Đảng
ta còn xác định miền Bắc là căn cứ địa chung của cách mạng cả nước; nhiệm
vụ của cách mạng miền Nam là giải phóng miền Nam khỏi ách thống trị của
đế quốc Mỹ và tay sai, thực hiện thống nhất nước nhà Cho nên pháp luật tố tụng hình sự thời kỳ này phải phục vụ thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ chiến lược cách mạng Tuy nhiên, pháp luật tố tụng hình sự thời kỳ này cũng quan tâm đến địa vị pháp lý của người tham gia tố tụng trong đó có người bị hại
Trong bản hướng dẫn về trình tự tố tụng sơ thẩm kèm theo Thông tư
16/TATC ngày 27-9-1974 của Toà án nhân dân tối cao đã quy định: “Để bảo vệ việc xét xử được chính xác, cần xác định rõ tư cách của những người tham gia tố tụng và những quyền của họ Tư cách của người tham gia tố tụng khác nhau nhau thì quyền của họ cũng khác nhau” [46] Lần đầu tiên
định nghĩa pháp lý của khái niệm người bị hại trong TTHS Việt Nam đã được đề cập cụ thể:
Người bị hại là công dân đã bị kẻ phạm pháp trực tiếp xâm phạm đến thể chất, tài sản, hoặc xâm hại về tinh thần (như bị lăng nhục, đánh giết, trộm cắp, lừa đảo…) Người đã can thiệp để ngăn cản bị cáo đánh giết người khác nhng bản thân cũng bị kẻ phạm tội gây thương tích, người có nhà cửa bị cháy
vì bị cáo đốt nhà của người khác những đám cháy đã lan sang nhà của họ cũng là người bị xâm hại trực tiếp đến thể chất, tài sản
Trang 37Trong Thông tư nói trên cũng quy định quyền của người bị hại, đó là những quyền:
Được đề xuất chứng cứ và những lời thỉnh cầu; được yêu cầu bồi thường và yêu cầu áp dụng biện pháp nhằm bảo đảm bồi thường; được xin thay đổi Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân; được tham gia cuộc thẩm vấn và tranh luận ở phiên toà về những sự việc đã gây thiệt hại cho mình; được kháng tố theo quy định của pháp luật để xin tăng hình phạt đối với bị cáo hoặc xin tăng bồi thường [46]
Ngoài ra, trong bản hướng dẫn về trình tự tố tụng sơ thẩm về hình sự kèm theo Thông tư số 16/TATC ngày 27- 9-1974 của Toà án nhân dân tối cao
có đề cập đến người đại diện của bị hại và một số người tham gia tố tụng khác Thông tư này quy định:
Nếu bị cáo hoặc người bị hại là vị thành niên thì cha mẹ hoặc người giám hộ là đại diện hợp pháp đương nhiên của họ Những người này cần được triệu tập đến phiên toà để họ có sử dụng những quyền về tố tụng của
bị cáo hoặc người bị hại, để bảo vệ những lợi ích hợp pháp của bị cáo hoặc người bị hại
Người bị hại đã thành niên, có thể uỷ nhiệm cho người đại diện cho mình tham gia tố tụng Người đại diện có những quyền của người mà mình thay mặt đã uỷ nhiệm trên giấy tờ Người bị hại hoặc người đại diện của người bị hại đều có quyền kháng cáo
Qua những điểm trên cho thấy pháp luật về những người tham gia tố tụng đặc biệt là chế định về người bị hại đã được Nhà nước ta quan tâm xây dựng trong thời kỳ này Quyền và nghĩa vụ của bị hại, đại diện cho bị hại đã được quy định cụ thể rõ ràng thuận lợi cho việc áp dụng pháp luật tố tụng hình sự của các cơ quan tư pháp hình sự
Trang 382.1.2 Từ khi ban hành Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988 đến nay
2.1.2.1 Quy định pháp luật về địa vị pháp lý của người bị hại theo Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988
Đến khi có Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988, thì vấn đề người bị hại đã được quan tâm và quy định định đầy đủ như về định nghĩa thế nào là người bị hại, quyền và nghĩa vụ của người bị hại cũng được quy định tương đối rộng Hơn nữa, Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988, đã có quy định khá mới so với luật tố tụng hình sự Việt nam đó là quyền yêu cầu khởi tố Theo quy định tại Điều 88 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988 thì những vụ án vê các tội phạm được quy định tại khoản 1 Điều 109, đoạn 1, khoản 2 Điều 112; đoạn 1 Điều 113; khoản 1 Điều 116; khoản 1 Điều 117 và Điều 126 của Bộ luật tố tụng hình sự chỉ được khởi tố khi có yêu cầu của người bị hại Ngoài ra còn quy định cả quyền rút yêu cầu của người bị hại nhưng phải trước ngày mở phiên toà [34]
Qua những điểm trên cho thấy pháp luật về những người tham gia tố tụng đặc biệt là chế định về người bị hại đã được Nhà nước ta quan tâm xây dựng trong thời kỳ này Quyền và nghĩa vụ của bị hại, đại diện cho bị hại đã được quy định cụ thể rõ ràng thuận lợi cho việc áp dụng pháp luật tố tụng hình sự của các cơ quan tư pháp hình sự
2.1.2.2 Quy định pháp luật về địa vị pháp lý của người bị hại theo Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003
Việc xác định đúng tư cách của người bị hại là rất quan trọng, vì nó liên quan đến việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ trong vụ án hình sự Địa vị pháp lý của người bị hại được quy định trong Điều 51 của BLTTHS và một số văn bản pháp luật khác liên quan
Một là, quy định về khái niệm người bị hại
Theo khoản 1 Điều 51 BLTTHS thì, người bị hại là người bị thiệt hại
Trang 39So với quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988, quy định về người bị hại cũng không có thay đổi bổ sung gì hơn với quy định về người bị hại trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 Theo đó, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 vẫn xác định người bị hại là người bị thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản do tội phạm gây ra Như vậy, tiêu chí để xác định người bị hại bao gồm những nội dung sau:
- Trước hết họ phải là con người cụ thể chứ không phải là cơ quan,
tổ chức;
- Họ phải là người bị thiệt hại về thể chất, về tinh thần hoặc tài sản;
- Các thiệt hại về thể chất, về tinh thần hoặc tài sản phải là những thiệt hại do tội phạm gây ra Nếu đó là những thiệt hại không phải do tội phạm gây
ra thì người bị thiệt hại không phải là người bị hại;
Trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 cũng quy định cụ thể về quyền
và nghĩa vụ của người bị hại và đại diện hợp pháp của người bị hại Ngoài ra
người bị hại và đại diện hợp pháp của bị hại còn có quyền “nhờ Luật sư, bào chữa viên nhân dân hoặc người khác được Cơ quan điều tra, Viện Kiểm sát, Toà án chấp nhận bảo vệ quyền lợi cho mình và được tham gia tố tụng từ khi khởi tố bị can” [38, Điều 59] Các quyền của người bảo vệ quyền lợi của
người bị hại và đại diện hợp pháp của người bị hại về cơ bản họ cũng có quyền như quyền của người bị hại được quy định tại Điều 51 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003
Hai là, quy định về người đại diện hợp pháp của người bị hại
Người đại diện hợp pháp của người bị hại là người mà theo quy định của pháp luật hoặc theo uỷ quyền họ tham gia tố tụng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị hại hoặc của chính bản thân họ Người đại diện hợp pháp của người bị hại phải là một con người cụ thể chứ không thể là cơ quan tổ chức, Họ là người đã thành niên và đủ năng lực hành vi để tham gia
Trang 40tố tụng và không thuộc trường hợp pháp luật cấm chẳng hạn một người bị pháp luật tước quyền làm cha, mẹ đối với người con thì không thể làm người đại diện hợp pháp cho người con này nếu người con là người bị hại Một người bị mắc bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình thì không thể là người đại diện hợp pháp của người bị hại
Thực tiễn xét xử có nhiều trường hợp Toà xác định người đại diện hợp pháp của người bị hại không đúng nên bản án đã bị Toà án cấp phúc thẩm hoặc Toà án cấp giám đốc thẩm huỷ để xét xử lại như: xác định một đứa trẻ là người đại diện hợp pháp của người bị hại đã chết; xác định anh, chị, em ruột của người bị hại là đại diện hợp pháp trong khi người bị hại đã chết nhưng còn có vợ hoặc chồng, bố, mẹ hoặc con đã thành niên; xác định không đầy đủ người đại diện hợp pháp của người bị hại trong trường hợp có nhiều người cùng là đại diện hợp pháp và những người này không uỷ quyền cho bất cứ người nào làm đại diện nhưng chỉ xác định một người là đại diện hợp pháp của người bị hại trong khi còn có những người khác làm đại diện hợp pháp đương nhiên của người bị hại
Người đại diện hợp pháp của người bị hại bao gồm: Người đại diện đương nhiên và người đại diện do được uỷ quyền
Người đại diện hợp pháp đương nhiên của người bị hại là người mà theo pháp luật họ đương nhiên được tham gia tố tụng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị hại hoặc của chính bản thân họ Theo quy định của
Bộ luật tố tụng hình sự thì trong các trường hợp người bị hại chết, người bị hại là người chưa thành niên, người có nhược điểm về tinh thần hoặc về thể chất thì phải có người đại diện hợp pháp tham gia tố tụng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị hại hoặc của chính bản thân họ
Đối với người bị hại chết, thì người thân thích của họ là người đại diện