Chính vì lẽ đó, việc nghiên cứu đề tài: “So sánh pháp luật của Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào và Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa” sẽ góp phần giải quyết đ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT 000
Somdeth KEOVONGSACK
SO S¸NH PH¸P LUËT CñA Céng HßA D¢N CHñ NH¢N D¢N LµO
Vµ Céng HßA X· HéI CHñ NGHÜA VIÖT NAM VÒ B¶O Hé
NH·N HIÖU HµNG HãA
LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2014
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT 000
Somdeth KEOVONGSACK
SO S¸NH PH¸P LUËT CñA Céng HßA D¢N CHñ NH¢N D¢N LµO
Vµ Céng HßA X· HéI CHñ NGHÜA VIÖT NAM VÒ B¶O Hé
NH·N HIÖU HµNG HãA
Chuyên ngành : Luật Kinh tế
Mã số : 62 38 01 07
LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: 1 PGS.TS Ngô Huy Cương
2 TS Nguyễn Thị Quế Anh
HÀ NỘI - 2014
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi, các số liệu nêu trong Luận án là trung thực Những kết luận khoa học của Luận án chưa được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả Luận án
Somdeth KEOVONGSACK
Trang 4DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN
Ký hiệu các chữ viết tắt Chữ viết đầy đủ
WIPO Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới
Trang 5LỜI CAM ĐOAN
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT TRONG LUÂN ÁN
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 : TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 8
1.1 Tình hình nghiên cứu lý luận về bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa 8
1.2 Tình hình nghiên cứu các quy định pháp luật về bảo hộ
nhãn hiệu hàng hóa 14
1.3 Tình hình nghiên cứu về thực trạng áp dụng pháp luật về bảo hộ
nhãn hiệu hàng hóa và những kiến nghị 17
1.4 Nhận xét, đánh giá và những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu
của luận án 21
Kết luận chương 1 25
CHƯƠNG 2 : NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO HỘ NHÃN HIỆU HÀNG HÓA 27
2.1 Khái quát chung về nhãn hiệu hàng hóa 27
2.1.1 Quá trình hình thành nhãn hiệu hàng hóa 27
2.1.2 Chức năng của nhãn hiệu hàng hóa 28
2.1.3 Khái niệm nhãn hiệu hàng hóa 32
2.1.4 Phân loại nhãn hiệu hàng hóa 40
2.1.5 Phân biệt nhãn hiệu hàng hóa với một số đối tượng khác 46
2.2 Khái quát chung về pháp luật bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa 50
2.2.1 Quá trình hình thành pháp luật bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa 50
2.2.2 Khái niệm pháp luật bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa 61
2.2.3 Ý nghĩa của pháp luật bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa 64
Kết luận chương 2 67
Trang 6CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT BẢO HỘ NHÃN HIỆU
HÀNG HÓA CỦA LÀO TRONG SỰ SO SÁNH VỚI PHÁP LUẬT
VIỆT NAM 69
3.1 Điều kiện bảo hộ đối với nhãn hiệu hàng hóa 70
3.2 Thực trạng pháp luật về xác lập quyền đối với nhãn hiệu hàng hóa 73
3.2.1 Nguyên tắc xác lập quyền đối với nhãn hiệu hàng hóa 73
3.2.2 Thực trạng áp dụng quy định về xác lập quyền đối với
nhãn hiệu hàng hóa 74
3.3 Thực trạng quy định pháp luật về chủ sở hữu, nội dung quyền đối với nhãn hiệu hàng hóa 83
3.3.1 Chủ sở hữu nhãn hiệu hàng hóa 83
3.3.2 Nội dung quyền sở hữu đối với nhãn hiệu hàng hóa 84
3.4 Bảo vệ quyền đối với nhãn hiệu hàng hóa 88
3.4.1 Khái quát chung về bảo vệ quyền đối với
nhãn hiệu hàng hóa 88
3.4.2 Quy định pháp luật về bảo vệ quyền đối với
nhãn hiệu hàng hóa 91
3.4.3 Thực trạng các cơ quan bảo vệ quyền đối với
nhãn hiệu hàng hóa 117
Kết luận chương 3 121
CHƯƠNG 4: NHỮNG GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ BẢO HỘ NHÃN HIỆU
HÀNG HÓA TỪ KINH NGHIỆM CỦA VIỆT NAM 123
4.1 Định hướng hoàn thiện pháp luật về bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa 123
4.2 Kinh nghiệm của Việt Nam trong việc bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa 125
4.2.1 Kinh nghiệm trong việc ban hành văn bản pháp luật về
bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa 125
Trang 74.2.2 Kinh nghiệm trong việc xáp lập quyền đối với
nhãn hiệu hàng hóa 126
4.2.3 Kinh nghiệm trong việc bảo vệ quyền đối với
nhãn hiệu hàng hóa 127
4.2.4 Kinh nghiệm trong việc nâng cao nhận thức xã hội về bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa 130
4.3 Kiến nghị hoàn thiện pháp luật và giải pháp nâng cao hiệu quả
áp dụng pháp luật bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa ở Lào 133
4.3.1 Kiến nghị hoàn thiện pháp luật bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa 133
4.3.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật bảo hộ
nhãn hiệu hàng hóa 154
Kết luận chương 4 157
KẾT LUẬN 160
DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ
LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 163
TÀI LIỆU THAM KHẢO 164
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào (Lào) là một trong những nước đang phát triển trên thế giới và mới giành được quyền độc lập từ các thế lực bên ngoài hơn ba mươi năm trở lại đây Bắt đầu từ năm 1986, Đảng và Chính phủ Lào đã đổi mới chính sách kinh tế từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung bao cấp sang nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần hoạt động theo cơ chế thị trường Chính phủ Lào luôn luôn tạo mọi điều kiện thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài, do đó việc hội nhập kinh tế khu vực và kinh tế toàn cầu đã trở thành nhu cầu tất yếu của Chính phủ Lào
Kết quả đó, Lào đã gia nhập Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á năm
1998 và ký Hiệp định song phương về đầu tư thương mại với nhiều quốc gia trong khu vực và thế giới Đặc biệt nhất là ngày 3/2/2013 vừa qua Lào đã trở thành thành viên thứ 158 của Tổ chức thương mại thế giới (WTO) Đây có thể được coi là thời khắc lịch sử trên con đường hội nhập kinh tế quốc tế của Lào Trước khi gia nhập WTO, Chính phủ Lào cũng đã có nhiều cố gắng trong việc cải cách hệ thống luật pháp và thể chế để đảm bảo cho nhân dân Lào có được các điều kiện cần thiết nhằm thu được những tiềm năng kinh tế và lợi ích từ quá trình phát triển Chính phủ Lào tin rằng, việc gia nhập WTO sẽ giúp thúc đẩy phát triển, thu hút đầu tư nước ngoài và đẩy mạnh tăng trưởng kinh tế quốc gia Ngoài ra, việc gia nhập WTO sẽ giúp mở đường để Lào có thể thực hiện được Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ vào năm 2020
Trước những tiềm năng thuận lợi và thành công trong việc đàm phán gia nhập WTO, thách thức và những khó khăn lớn đang ở phía trước Lào là phải thực hiện đầy đủ và hiệu quả các cam kết quốc tế trong khuôn khổ WTO, đặc biệt nhất là Lào phải xây dựng hệ thống bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ (SHTT) tuân thủ đầy đủ và hiệu quả theo quy định của Hiệp định về các khía cạnh liên
Trang 9quan đến thương mại của quyền SHTT (Hiệp định TRIPs)
Trong khi đó, Lào cũng không khác với các nước đang phát triển khác, tình trạng vi phạm quyền SHTT ở thị trường trong nước vẫn đang diễn ra ngày càng gia tăng trên nhiều lĩnh vực khác nhau với các hành vi vi phạm đa dạng và phức tạp, nhất là hàng hóa xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu hàng hóa (NHHH) Bởi vì Lào có biên giới với các nước láng giềng hoàn toàn là trên đất liền cho nên việc vận chuyển hàng hóa vi phạm quyền SHTT qua lại biên giới và lưu thông trên thị trường của Lào là rất khó kiểm soát và trở nên ngày càng gia tăng Những gia tăng và lan rộng của hàng hóa vi phạm quyền SHTT tại Lào là do nhận thức và hiểu biết của các doanh nghiệp, người tiêu dùng lẫn cán bộ nhà nước từ Trung ương đến địa phương vẫn còn hạn chế về việc bảo hộ quyền SHTT nói chung và NHHH nói riêng
Nhãn hiệu hàng hóa là một trong những đối tượng quyền SHTT đầu tiên được pháp luật Lào bảo hộ Chính phủ Lào đã ban hành Nghị định số 06/CP
về NHHH vào năm 1995 Với những nỗ lực và quyết tâm gia nhập WTO, Quốc hội Lào đã ban hành Luật sở hữu trí tuệ số 08/QH ngày 24/12/2007 Đây là Luật SHTT đầu tiên của Lào điều chỉnh tất cả các khía cạnh của quyền SHTT trong một văn bản pháp luật chuyên biệt này
Mặc dù, Luật SHTT được ban hành và có hiệu lực từ năm 2008, nhưng Chính phủ Lào vẫn chưa ban hành văn bản pháp luật nào quy định hướng dẫn việc thi hành pháp luật này Trong thực tế triển khai áp dụng, Luật SHTT 2007 Lào đã bộc lộ nhiều bất cập Điều này dẫn đến việc sửa đổi, bổ sung một số quy định của luật này vào cuối năm 2011 để làm cho nội dung phù hợp với các yêu cầu và đòi hỏi của pháp luật quốc tế về bảo hộ quyền SHTT Nhưng Luật SHTT 2011 Lào vẫn còn vấp phải nhiều bất cập, nhiều nội dung quan trọng trong việc xác lập quyền sở hữu công nghiệp (SHCN), nội dung quyền, cũng như các biện pháp và chế tài thực thi quyền SHTT vẫn còn chưa được cụ thể
Trang 10Trước tình trạng trên, Chính phủ Lào cũng hết sức nỗ lực trong việc bảo
hộ quyền SHTT, song phải thừa nhận rằng, nó chưa đáp ứng ngang tầm với đòi hỏi của thực tiễn khách quan xuất phát từ các điểm bất cập chính sau:
- Hệ thống pháp luật bảo hộ quyền SHTT chưa đáp ứng được tính đầy đủ
và hiệu quả theo đòi hỏi của Hiệp định TRIPs
- Hoạt động thực thi bảo hộ quyền SHTT của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền chưa có hệ thống và biện pháp đồng bộ
- Việc xử lý các vụ xâm phạm quyền SHTT của các cơ quan chức năng còn thiếu nghiêm túc, mức xử phạt còn thấp, không đủ răn đe người vi phạm
- Năng lực và kiến thức về SHTT nói chung và NHHH nói riêng của cán
bộ chuyên môn còn hạn chế, nhận thức của cộng đồng xã hội còn chưa cao Tình trạng này đã làm cho việc bảo hộ NHHH ở Lào chưa đạt được kết quả cao, gây nản lòng cho các doanh nghiệp, các nhà đầu tư trong và ngoài nước Phải thừa nhận rằng, trên thực tế có rất nhiều cách để xây dựng hệ thống bảo hộ quyền SHTT một cách có hiệu quả, phù hợp với yêu cầu của các điều ước quốc tế và tương đồng với pháp luật của các nước trong khu vực Trong
đó, cách nhanh chóng và hiệu quả nhất là tăng cường việc học hỏi kinh nghiệm của quốc gia tiên phong như Việt Nam là rất quan trọng và bổ ích đối
Trang 11Chính vì lẽ đó, việc nghiên cứu đề tài: “So sánh pháp luật của Cộng
hòa dân chủ nhân dân Lào và Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về bảo
hộ nhãn hiệu hàng hóa” sẽ góp phần giải quyết được nhiều vấn đề lý luận và
thực tiễn trong việc hoàn thiện hệ thống pháp luật bảo hộ NHHH của Lào, nhằm đảm bảo quyền lợi chính đáng của chủ sở hữu và người tiêu dùng, cũng như tạo môi trường kinh doanh lành mạnh, đồng thời đảm bảo thực hiện nghĩa
vụ cam kết quốc tế trong lĩnh vực SHTT
Tác giả tin rằng, từ kinh nghiệm thực tiễn trong việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật bảo hộ quyền SHTT của Việt Nam trước và sau khi gia nhập WTO trong thời gian qua sẽ giúp tác giả gặt hái được bài học quý giá trong việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật bảo hộ quyền SHTT cho quốc gia mình
2 Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu: là làm rõ về lý luận và thực tiễn pháp luật bảo hộ
NHHH của Lào, trên cơ sở so sánh, đối chiếu với pháp luật bảo hộ NHHH của Việt Nam và quốc tế Từ đó đưa ra những kiến nghị hoàn thiện pháp luật
và giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật bảo hộ NHHH của Lào từ kinh nghiệm của Việt Nam để làm cho pháp luật bảo hộ NHHH của Lào
tương đồng với các nước khu vực và phù hợp với các công ước quốc tế
Nhiệm vụ nghiên cứu: để đạt được mục đích trên, luận án đã đặt ra
nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể sau:
Trang 12- Nghiên cứu lý luận về pháp luật bảo hộ NHHH;
- Nghiên cứu thực trạng pháp luật bảo hộ NHHH của Lào trong sự so sánh với pháp luật Việt Nam;
- Nghiên cứu thực trạng áp dụng pháp luật bảo hộ NHHH của Lào trong sự so sánh với pháp luật Việt Nam;
- Nghiên cứu về bộ máy và các biện pháp, chế tài thực thi bảo hộ NHHH của Lào và Việt Nam, từ đó đưa ra đề xuất, các giải pháp tốt nhất nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật bảo hộ NHHH của Lào trong tương lai
Phạm vi nghiên cứu: Luận án tập trung nghiên cứu các quy định hiện
hành về pháp luật bảo hộ NHHH của Lào, Việt Nam và các điều ước quốc tế liên quan Nghiên cứu những hoạt động bảo hộ NHHH của cơ quan nhà nước
có thẩm quyền của Lào và Việt Nam
Về mặt thời gian, luận án tập trung nghiên cứu pháp luật bảo hộ NHHH của Lào từ năm 1995, đến hết 6 tháng đầu năm 2014 và đưa ra phương hướng hoàn thiện pháp luật bảo hộ NHHH của Lào đến năm 2020
3 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện các mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu mà đề tài đặt ra, tác giả luận án đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu truyền thống của khoa học pháp lý, như: Phương pháp lịch sử được sử dụng chủ yếu tại chương 2; Phương pháp phân tích pháp luật được sử dụng chủ yếu tại chương 2 và chương 3; Phương pháp so sánh pháp luật được sử dụng chủ yếu tại chương 2
và chương 3; Phương pháp đánh giá pháp luật được sử dụng chủ yếu tại chương 2 và chương 3; Phương pháp tổng hợp được sử dụng ở tất cả các chương của luận án để chỉ rõ những điểm tương đồng, điểm khác biệt và điểm cần khắc phục của hệ thống pháp luật bảo hộ NHHH của Lào
Để thực hiện các phương pháp trên, tác giả luận án sử dụng các tài liệu
Trang 13pháp luật trong và ngoài nước, văn bản hành chính, bài nghiên cứu của các nhà khoa học, sách, báo khoa học, báo pháp luật và những số liệu thống kê của các cơ quan chức năng của Lào và Việt Nam và các tài liệu khác từ quá trình tham gia hội nghị, cuộc họp khoa học về NHHH
4 Những đóng góp mới của luận án
Đề tài này là công trình chuyên khảo đầu tiên đi sâu nghiên cứu một cách toàn diện các quy định pháp luật bảo hộ NHHH của Lào trên cơ sở so sánh và đúc rút kinh nghiệm thực tiễn trong việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật bảo hộ NHHH của Việt Nam Luận án đã có một số đóng góp mới đối với việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật bảo hộ NHHH của Lào, cụ thể như:
- Luận án đã tổng hợp và phân tích, đánh giá tổng quan các công trình nghiên cứu hiện có của Lào, Việt Nam có liên quan đến đề tài, đồng thời cũng
đã đưa ra những nhận xét, đánh giá về tình hình nghiên cứu về các vấn đề liên quan đến pháp luật của Lào và Việt Nam về bảo hộ NHHH
- Luận án đã hệ thống hóa những vấn đề lý luận về NHHH và pháp luật bảo hộ NHHH từ đó phân tích làm rõ chức năng của NHHH; phân biệt NHHH với các đối tượng có liên quan cũng như phân loại NHHH Đồng thời tác giả đã nghiên cứu hệ thống pháp luật quốc tế về bảo hộ NHHH, để muốn khẳng định rằng bảo hộ NHHH đã được quốc tế hóa chứ không chỉ là chuyện riêng rẽ của từng quốc gia
- Luận án đã nghiên cứu về thực trạng pháp luật bảo hộ NHHH của Lào, chỉ ra những nguyên nhân hạn chế trong lĩnh vực bảo hộ NHHH ở Lào, đồng thời có so sánh, đối chiếu các quy định pháp luật bảo hộ NHHH của Lào với các quy định pháp luật quốc tế quan trọng, các quy định pháp luật của một
số quốc gia, đặc biệt nhất là pháp luật Việt Nam về bảo hộ NHHH;
- Luận án đã đề xuất quan điểm, các kiến nghị hoàn thiện pháp luật và giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật bảo hộ NHHH của Lào, cũng
Trang 14như công tác xây dựng hệ thống pháp luật bảo hộ quyền SHTT của Lào dựa trên những bài học kinh nghiệm của Việt Nam
5 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
Luận án là một công trình nghiên cứu công phu, có tính sáng tạo, được thực hiện trên cơ sở một nguồn tài liệu tham khảo trong và ngoài nước phong phú, đa dạng về pháp luật bảo hộ NHHH
Luận án đã đưa ra các kiến nghị hoàn thiện pháp luật và giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật bảo hộ NHHH cũng như công tác xây dựng hệ thống pháp luật bảo hộ quyền SHTT của Lào Các kiến nghị trong luận án rất
cụ thể, được rút ra từ kết quả nghiên cứu của luận án
Luận án có ý nghĩa lý luận và thực tiễn trong khoa học pháp lý, đặc biệt
là môn học Luật so sánh Luận án cũng có tính thời sự trong thực tiễn pháp lý
ở Lào và Việt Nam
Kết quả nghiên cứu và các kiến nghị của luận án có ý nghĩa quan trọng góp phần hoàn thiện pháp luật hiện hành về bảo hộ quyền SHTT nói chung và bảo hộ NHHH nói riêng của Lào nhằm đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
6 Cấu trúc của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, phần nội dung của luận án được cấu trúc thành bốn chương
- Chương 1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
- Chương 2 Những vấn đề lý luận về pháp luật bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa
- Chương 3 Thực trạng pháp luật bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa của Lào
trong sự so sánh với pháp luật Việt Nam
- Chương 4 Những giải pháp hoàn thiện và nâng cao hiệu quả áp dụng
pháp luật về bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa từ kinh nghiệm của Việt Nam
Trang 15CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1.1 Tình hình nghiên cứu lý luận về bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa
- Tình hình nghiên cứu lý luận về nhãn hiệu hàng hóa:
Qua tìm hiểu một số tài liệu qua các kênh hiện có cho thấy, ở nước ngoài cũng như ở Việt Nam việc nghiên cứu lý luận về NHHH luôn được các tác giả, các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu, trong đó đáng chú ý nhất là các công trình: “Philosophical and doctrinal foundations: Traditional and contemporary functions of trademarks”, của RAVEEN Obhrai (12 J Contemp Legal Issues 16 (2001)); “A New Economics of Trademarks” của David W Barnes (5 Nw J, Tech & Intell Prop 22 (2006)); Các công trình trên chủ yếu đề cập đến các khía cạnh khác nhau nghiên cứu lý luận về NHHH như: triết học và nền tảng giáo lý về các chức năng truyền thống và chức năng hiện đại của NHHH; Lợi ích kinh tế của việc bảo hộ NHHH đối với chủ sở hữu
Ở Việt Nam, vào những năm gần đây, nhất là từ những năm cuối của quá trình đàm phán gia nhập WTO trở lại đây, vấn đề quyền SHTT được rất nhiều người quan tâm nghiên cứu Vì vậy, đã có một số công trình, bài nghiên cứu
đề cập đến lý luận về NHHH tương đối toàn diện như:
- Luận án tiến sĩ Luật học“Bảo hộ quyền SHCN đối với NHHH ở Việt
Nam” của nghiên cứu sinh Nguyễn Văn Luật [36] Trong công trình của
mình, tác giả tập trung phân tích làm rõ những vấn đề lý luận về NHHH như: phân tích khái niệm NHHH theo pháp luật quốc tế, Châu Âu, Hoa Kỳ, Đức,
Úc và Việt Nam; Ngoài ra, tác giả còn phân tích và làm sáng tỏ về chức năng của NHHH; các loại NHHH chẳng hạn như: nhãn hiệu tập thể (NHTT), nhãn hiệu liên kết, nhãn hiệu nổi tiếng (NHNT) và nhãn hiệu dịch vụ; phân biệt NHHH với tên thương mại, nhãn hàng hóa và thương hiệu Đồng thời, tác giả
Trang 16nghiên cứu lược sử về sự hình thành và phát triển của hoạt động bảo hộ NHHH trên thế giới và Việt Nam
- Luận án tiến sĩ Luật học “Những vấn đề pháp lý về bảo hộ NHHH
trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế ở Việt Nam” của nghiên cứu sinh Lê
Mai Thanh [61] Luận án tập trung phân tích làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về NHHH trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam như: vai trò và ý nghĩa của NHHH; phân tích khái niệm NHHH theo pháp luật của Hoa Kỳ, Pháp, Đức, Nhật Bản, Nga… từ đó tác giả phân loại NHHH theo tính chất các dấu hiệu được sử dụng, theo phạm vi hàng hóa hoặc dịch vụ được bảo hộ và phân loại NHHH theo chức năng và cách thức sử dụng NHHH Ngoài ra, luận án còn phân biệt NHHH với các đối tượng khác có liên quan như phân biệt NHHH với thương hiệu, phân biệt NHHH với nhãn hàng hóa, phân biệt NHHH với chỉ dẫn địa lý
Ngoài luận án tiến sĩ trên, còn có một số công trình, các bài nghiên cứu
đề cập đến lý luận về NHHH được công bố của Vũ Thị Hải Yến về “Khái niệm NHHH trong Bộ luật dân sự”, Tạp chí Luật học số 3/2003, tr.86-91; Lê Hồng Hạnh về “Các khái niệm chuẩn xác - Điều kiện tiên quyết cho việc giải quyết có hiệu quả tranh chấp SHCN”, Tạp chí Luật học số 6/2004, tr.43-49;
Lê Mai Thanh về “Nhãn hiệu và các khái niệm pháp lý khác có liên quan”, Tạc chí Nhà nước và Pháp luật số 11/2006, tr.56-58; Đàm Thị Diễm Hạnh về
“Xây dựng khái niệm nhãn hiệu trong Luật SHTT”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 8 tháng 4/2010 (169), tr.56-59; Lê Hồng Hạnh về “Thương hiệu hay nhãn hiệu”, Tạp chí Luật học số 6/2003, tr.19-25; Nguyễn Thị Quế Anh về
“Phân loại nhãn hiệu theo hình thức của nhãn hiệu”, Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Luật học 26 (2010), tr.99-107 Các công trình này chủ yếu nghiên cứu lý luận về NHHH dưới nhiều khía cạnh khác nhau như nghiên cứu, phân
Trang 17tích khái niệm NHHH theo quy định pháp luật Việt Nam, phân biệt NHHH với các đối tượng khác có liên quan và phân loại NHHH
- Tinh hình nghiên cứu lý luận về bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa:
Ngoài những công trình nghiên cứu liên quan đến lý luận về NHHH nói trên, qua tìm hiểu một số tài liệu hiện có thì có rất nhiều công trình nghiên cứu, bài viết đề cập đến lý luận về bảo hộ NHHH Có thể nói là vấn đề bảo hộ NHHH là vấn đề trọng tâm về NHHH được các nhà nghiên cứu, các tác giả trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu Trong đó nổi bật nhất là: “The International Protection of Trademarks after the TRIPs agreement” của Joanna Schmidt-Szalewski (9 Duke J.Comp & Int’l L 189 (1998));
“Trademark Protection in China: Trends and Directions” của Paul B Birden (Jr, 18 Loy L.A Int’l & Com L.J.431(1996)) Các công trình này đề cập đến các khía cạnh khác nhau về bảo hộ NHHH chẳng hạn như, bảo hộ NHHH trên góc độ quốc tế sau khi ban hành Hiệp định TRIPs và việc bảo hộ NHHH trong một xu hướng và phương hướng mới ở một nước nhất định
- Luận án tiến sĩ Luật học của tác giả Nguyễn Văn Luật và tác giả Lê Mai Thanh đều đưa ra khái niệm bảo hộ quyền SHCN đối với NHHH một cách khái quát nhất và có quan niệm tương đồng nhau về khái niệm bảo hộ quyền SHCN đối với NHHH Ngoài ra, tác giả Lê Mai Thanh còn nêu những vấn đề đặt ra đối với pháp luật bảo hộ NHHH trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam
- Luận án tiến sĩ Luật học “Bảo hộ NHNT nghiên cứu so sánh giữa
pháp luật Liên minh Châu Âu và Việt Nam” của nghiên cứu sinh Phan Ngọc
Tâm [59] Tác giả luận án đã khái quát những vấn đề lý luận về bảo hộ NHHH nói chung và bảo hộ NHNT nói riêng Ngoài ra, luận án còn phân tích pháp luật bảo hộ NHNT theo các quy định của công ước quốc tế liên quan, phân tích pháp luật bảo hộ NHNT theo pháp luật Châu Âu và Việt
Trang 18Ở khía cạnh khác về bảo hộ NHHH còn được đề cập tại Luận án tiến sĩ
Luật học “Dấu hiệu mang chức năng trong pháp luật về nhãn hiệu - Quy định
của pháp luật và thực tiễn áp dụng tại Hoa Kỳ, Châu Âu và Việt Nam” của
nghiên cứu sinh Vương Thanh Thuý [67] Công trình này tập trung làm sáng
tỏ cơ sở lý luận về dấu hiệu mang chức năng trong pháp luật về nhãn hiệu Ngoài ra, tác giả còn khảo sát khung pháp lý và thực tiễn áp dụng dấu hiệu mang chức năng trong pháp luật nhãn hiệu của Hoa Kỳ và Châu Âu Sau đó, tác giả xây dựng, đưa ra các kiến nghị về việc quy định dấu hiệu mang chức
năng trong pháp luật nhãn hiệu tại Việt Nam Luận án tiến sĩ Luật học “Hết
quyền đối với nhãn hiệu và những đề xuất nhằm hoàn thiện pháp luật nhãn hiệu của Việt Nam” của nghiên cứu sinh Nguyễn Như Quỳnh [56] Công trình
này nghiên cứu và làm rõ những vấn đề về hết quyền đối với nhãn hiệu trên
cơ sở khai thác các khía cạnh lý thuyết pháp lý và thực tiễn của hết quyền đối với nhãn hiệu theo quy định của Hiệp định TRIPs, pháp luật và thực tiễn của Hoa Kỳ, Châu Âu và Việt Nam Ngoài ra, tác giả đã so sánh mức độ tương đồng và khác biệt giữa pháp luật cũng như thực tiễn của Việt Nam với Hoa
Kỳ và Châu Âu Trên cơ sở đó, đưa ra các kiến nghị cho Việt Nam trong việc hoàn thiện pháp luật về hết quyền đối với nhãn hiệu
Riêng về công trình nghiên cứu lý luận về bảo hộ NHHH ở Lào trong những năm qua là rất khiêm tốn Vấn đề lý luận về bảo hộ NHHH chỉ được đề
Trang 19cập tại một số luận văn thạc sĩ của các tác giả Lào như: Luận văn thạc sĩ của Somdeth KEOVONGSACK (2009) “Lao PDR Trademark Protection in Context”, trong luận văn của mình tác giả đã khái quát về khái niệm NHHH, thủ tục xác lập quyền đối với NHHH Ngoài ra, tác giả còn đưa ra cách thức giải quyết tranh chấp và xử lý các hành vi xâm phạm NHHH, tìm hiểu về khó khăn, vướng mắc trong việc giải quyết tranh chấp và xử lý các hành vi xâm phạm NHHH tại Lào, từ đó đưa ra giải pháp và phương hướng hoàn thiện pháp luật Lào về bảo hộ NHHH; Bài viết của Souligna SISOMNUCK (2007) về
“Comparative Study on Japanese Trademark System and Lao Trademark System”, tác giả đã so sánh từng vấn đề về hệ thống NHHH giữa Nhật Bản và Lào như: so sánh về khái niệm, điều kiện chung đối với dấu hiệu được bảo hộ, cũng như so sánh về thủ tục xác lập quyền đối với NHHH theo pháp luật của hai nước Từ đó, tác giả đưa ra kiến nghị chung đối với Lào về việc xác lập quyền đối với NHHH Nhưng trong bài viết này, tác giả không đề cập đến cách thức giải quyết tranh chấp và xử lý các hành vi xâm phạm NHHH Ngoài ra, còn có tài liệu hội thảo của Aphivat Sombounkhanh (2007) “Trademark Protection in Lao PDR” Công trình này khái quát về bảo hộ NHHH tại Lào trong thời gian qua Có thể thấy rằng, các bài viết trên của tác giả Lào chủ yếu đề cập đến vấn
đề bảo hộ NHHH theo pháp luật Lào Các công trình trên chưa đi sâu nghiên cứu, phân tích lý luận về NHHH cũng như cách thức bảo hộ NHHH
Ngoài những công trình nghiên cứu về lý luận bảo hộ NHHH tại các luận
án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ và các bài viết của tác giả nước ngoài, Việt Nam và Lào nêu trên, vấn đề lý luận về bảo hộ NHHH còn được rất nhiều tác giả Việt Nam quan tâm nghiên cứu, được đăng và công bố trên các tạp chí có uy tín hàng đầu Việt Nam như: Lê Xuân Thảo về “Bảo hộ nhãn hiệu – Yếu tố cần thiết của các doanh nghiệp Việt Nam trong hội nhập kinh tế quốc tế”, Tạp chí Cộng sản số 17 tháng 6/2003; Vũ Thị Phương Lan về “Bảo hộ NHHH đối với
Trang 20vấn đề chống chia cắt thị trường và chống cạnh tranh không lành mạnh”, Tạp chí Luật học số 2/2004, tr.46-50); Lê Hoài Dương về “Bảo hộ NHHH ở Việt Nam”, Tạp chí Tòa án nhân dân số 2 tháng 1/2004, tr.3-8; Trần Hữu Nam về
“Áp dụng hệ thống Madrid về đăng ký quốc tế nhãn hiệu ở Việt Nam”, Tạp chí Hoạt động Khoa học, số (574) tháng 3/2007, tr.11-12; Nguyễn Hồng Vân
về “Một số vấn đề về góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng nhãn hiệu”, Tạp chí Hoạt động Khoa học, số (614) tháng 7/2010, tr.22-24; Lê Xuân Lộc, Nguyễn Thanh Diệu, Hoàng Thái Sơn về “Nghĩa vụ sử dụng nhãn hiệu”, Tạp chí Luật học số 4/2012, tr.38-43; Lê Xuân Lộc, Mai Duy Linh, Hoàng Thái Sơn về
“Bảo hộ nhãn hiệu 3 chiều – Từ lý thuyết đến thực tiễn”, Tạp chí Khoa học pháp lý số 5/2012, tr.42-48; Đào Minh Đức về “Một số vấn đề về định giá nhãn hiệu”, Tạp chí Khoa học pháp lý số 6/2006 (37), tr.28-36
Hơn nữa, đề nhằm phục vụ cho công tác nghiên cứu và đào tạo về việc bảo hộ quyền SHTT nói chung và bảo hộ NHHH nói riêng, Việt Nam đã dịch một số cuốn sách rất quan trọng sang tiếng Việt như:
- Cuốn sách “Cẩm nang SHTT: chính sách, pháp luật và áp dụng” của
Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) [9] Công trình này đề cập tới mọi khía cạnh về bảo hộ quyền SHTT và giới thiếu khái quát về các điều ước quốc
tế quan trọng liên quan đến quyền SHTT Ngoài ra, còn đề cập nhiều đến vai trò của SHTT trong phát triển, việc khai thác lợi ích các đối tượng SHTT, thực thi quyền SHTT, cũng như việc quản lý và giảng dạy về SHTT
- Cuốn sách “SHTT, một công cụ đắc lực để phát triển kính tế” của
Kamil Idris [30] Cuốn sách này đã dành riêng một chương để phân tích về lợi ích kinh tế mang lại từ việc bảo hộ NHHH Ngoài ra, cuốn sách đã hướng dẫn thực hành về SHTT với vai trò một công cụ đắc lực để phát triển kinh tế và tạo ra sự thịnh vượng, nhằm phục vụ các đối tượng quan tâm không phải là chuyên gia Cuốn sách này giúp người đọc nhận thấy sự khác biệt về tài sản
Trang 21thuộc SHTT giữa thế giới phát triển và đang phát triển cũng lớn tương tự như
sự khác biệt trong những biểu hiện khác của sự thịnh vượng Trên cơ sở đó, cuốn sách đã nêu đến sứ mạnh của WIPO trong việc thúc đầy bảo hộ quyền SHTT trên phạm vi toàn cầu, cũng như trợ giúp cho việc mở rộng tầm với và lợi ích của hệ thống SHTT quốc tế tới tất cả các quốc gia thành viên
- Cuốn sách “Các điều ước quốc tế về SHTT trong quá trình hội nhập”
của chương trình hợp tác đặc biệt Việt Nam – Thủy Sĩ về SHTT [8] Công trình này giới thiệu tóm tắt những nội dung quan trọng và các quy định của công ước và hiệp định quốc tế về SHTT, trong đó có NHHH, đang được áp dụng trong quan hệ kinh tế quốc tế hiện nay
1.2 Tình hình nghiên cứu các quy định pháp luật về bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa
Trong những yêu cầu, đòi hỏi thực tiễn của việc bảo hộ quyền SHTT cũng như bảo hộ NHHH, trong thời gian qua, nhiều nhà quản lý, nhà lý luận, cán bộ thực tiễn đã rất quan tâm nghiên cứu về quy định pháp luật bảo hộ NHHH Trong đó, đáng chú ý là các công trình sau:
- Trong luận án tiến sĩ luật học của tác giả Nguyễn Văn Luật đã phân
tích các quy định pháp luật Việt Nam về bảo hộ NHHH tại chương 2 của luận
án Trong đó, tác giả nêu tính đặc thủ của quyền SHCN đối với NHHH, nội dung quyền SHCN đối với NHHH cũng như các quy định pháp luật Việt Nam
về bảo hộ quyền SHCN đối với NHHH
- Trong luận án tiến sĩ luật học của tác giả Lê Mai Thanh đã đánh giá thực trạng pháp luật Việt Nam về bảo hộ quyền SHCN đối với NHHH trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế Tác giả nêu thực trạng pháp luật về xác lập quyền SHCN đối với NHHH, thực trạng pháp luật quy định về quyền và giới hạn quyền của chủ sở hữu NHHH và thực thi quyền SHCN đối với NHHH theo pháp luật Việt Nam
Trang 22Ngoài luận án tiến sĩ trên được các tác giả Việt Nam quan tâm nghiên cứu, ở Việt Nam còn có một số công trình đề cập đến nhiều khía cạnh của pháp luật bảo hộ NHHH như:
- Cuốn sách “Quyền SHTT” của tác giả Lê Nết [42] Cuốn sách này đề
cập một cách khái quát lý luận pháp luật về bảo hộ quyền SHTT, trong đó có pháp luật bảo hộ NHHH Tác giả phân tích luật pháp trên những nguyên tắc triết học và kinh tế, dựa vào điều kiện kinh tế - xã hội Việt Nam Ngoài ra, tác giả còn phân tích những mặt lợi, mặt hại của việc bảo hộ và thực thi quyền SHTT tại Việt Nam thông qua một số ví dụ cụ thể Theo đó, tác giả đưa ra những khó khăn chủ quan và khách quan trong việc thực thi quyền SHTT tại Việt Nam
- Sách chuyên khảo “Những nội dung cơ bản của Luật sở hữu tri tuệ”
của Vụ công tác lập pháp, Bộ tư pháp [72] Công trình này chủ yếu phân tích
về nội dung Luật SHTT 2005 Việt Nam, trong đó có nội dung về NHHH
- Cuốn sách chuyên khảo “Thực thi quyền SHTT trong tiến trình hội
nhập quốc tế - những vấn đề lý luận và thực tiễn” của tác giả Nguyễn Bá
Diễn [16] Cuốn sách này trình bày và luận giải khái niệm, cấu trúc, nội dung của cơ chế pháp lý thực thi quyền SHTT ở Việt Nam trong mối quan hệ so sánh với kinh nghiệm quốc tế và nước ngoài Đồng thời tác giả hệ thống hóa, phân tích những vấn đề thực tiễn liên quan đến cơ chế thực thi quyền SHTT, trên cơ sở đó nêu ra các quan điểm, đề xuất nhằm tiếp tục hoàn thiện cơ chế thực thi quyền SHTT Việt Nam
- Giáo trình “Pháp luật quốc tế về SHTT” của tác giả Nguyễn Thái Mai
- Vũ Thị Phương Lan [39] Cuốn sách này dành riêng một chương phân tích
về pháp luật bảo hộ NHHH theo quy định của các điều ước quốc tế liên quan Ngoài ra, còn đề cập đến hầu hết các đối tượng quyền SHTT và các
Trang 23giáo trình này chủ yếu trình bày về nội dung pháp luật bảo hộ quyền SHTT và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật SHTT Việt Nam Nội dung về bảo hộ NHHH được quy định chung với pháp luật bảo hộ quyền SHCN Các giáo trình trên chủ yếu được soạn thảo dựa trên cơ sở các quy định của Luật SHTT và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật SHTT Việt Nam
- Để đáp ứng nhu cầu nghiên cứu, giảng dạy và học tập của giảng viên,
sinh viên, học viên và những người quan tâm khác, ở Lào cũng đã xuất bản
“Giáo trình những nội dung cơ bản của Luật SHTT Lào” (Bản tiếng Lào) của
Khamnhong Sichanthavong - Somdeth Keovongsack [101] Giáo trình này có nội dung chủ yếu đề cập đến pháp luật bảo hộ quyền SHTT theo pháp luật Lào và bao gồm tất cả các đối tượng quyền SHTT như: quyền tác giả và quyền liên quan và quyền SHCN như, sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp… Còn đối với nội dung pháp luật bảo hộ NHHH được các tác giả trình bày và phân tích tại một chương cụ thể Ngoài ra, vấn đề pháp luật bảo hộ NHHH còn được đề cập trong Luận văn thạc sĩ của Sida
YOUTRICHANTHACHAK [105] về “Giải quyết tranh chấp về NHHH tại
Cộng hòa dân chủ nhân đân Lào” (Bản tiếng Lào) Tác giả luận văn chủ yếu
phân tích, đánh giá cách thức giải quyết tranh chấp về NHHH theo quy định của Luật SHTT 2007 Lào và theo tập quán áp dụng cách thức giải quyết tranh chấp về NHHH mà Cục SHTT Lào đã từng áp dụng trước đây
Trang 241.3 Tình hình nghiên cứu về thực trạng áp dụng pháp luật về bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa và những kiến nghị
Qua tìm hiểu trong thời gian qua đã có nhà nghiên cứu, nhà lý luận, cán
bộ thực tiễn rất quan tâm nghiên cứu về thực trạng quy định pháp luật, các giải pháp hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật bảo hộ NHHH Trong đó nổi bật nhất là các công trình sau:
- Trong Luận án tiến sĩ Luật học của tác giả Nguyễn Văn Luật, đã nghiên
cứu thực trạng quy định pháp luật bảo hộ NHHH, từ đó đưa ra các giải pháp
cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả thực thi bảo hộ NHHH Thứ nhất, hoàn thiện
hệ thống các văn bản pháp luật bảo hộ NHHH Thứ hai, kiện toàn và tăng
cường năng lực của các cơ quan thực thi bảo hộ NHHH, trong đó phải phân định rõ nhiệm vụ quyền hạn của các cơ quan thực thi, khắc phục tình trạng chồng chéo giữa các cơ quan này Hơn nữa, các cơ quan thực thi phải đủ năng lực để chủ động thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình một cách hiệu quả
và cần tăng cường sự phối hợp hành động của các cơ quan này trong hoạt
động thực thi Thứ ba, tăng cường và nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng
nguồn nhân lực thực thi bảo hộ NHHH Mở rộng, tăng cường và nâng cao chất lượng của các hoạt động hỗ trợ, bổ trợ về SHCN và tăng cường hoạt động hợp tác quốc tế về bảo hộ NHHH
- Trong Luận án tiến sĩ Luật học của tác giả Lê Mai Thanh đã đưa ra thực trạng pháp luật Việt Nam về bảo hộ NHHH trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, từ đó đưa ra các giải pháp hoàn thiện pháp luật bảo hộ NHHH
trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam như sau: một là, hoàn thiện pháp luật liên quan đến việc xác lập quyền đối với NHHH; hai là, hoàn thiện quy định pháp luật về nội dung và giới hạn quyền đối với NHHH; ba là,
hoàn thiện cơ chế và quy định pháp luật về thực thi quyền đối với NHHH, trong đó phải hoàn thiện quy định pháp luật về các biện pháp thực thi, hoàn
Trang 25thiện hệ thống các cơ quan thực thi và nâng cao ý thức tôn trọng quyền đối với NHHH của các doanh nghiệp cũng như người tiêu dùng và các tổ chức xã hội nghề nghiệp có chức năng hỗ trợ quá trình thực thi
Ngoài những luận án tiến sĩ trên đề cập trực tiếp đến thực trạng pháp luật bảo hộ NHHH và các giải pháp hoàn thiện và nâng cao hiệu qủa thực hiện pháp luật bảo hộ NHHH, còn có một số luận văn thạc sĩ luật của các học viên cao học Việt Nam quan tâm nghiên cứu về thực trạng pháp luật bảo hộ NHHH Từ đó các tác giả đã đưa ra các phương hướng hoàn thiện và nâng cao hiệu qủa thực thi pháp luật bảo hộ NHHH tại Việt Nam trên cơ sở so sánh với pháp luật bảo hộ NHHH của một số nước và các điều ước quốc tế có liên quan để góp phần hoàn thiện pháp luật bảo hộ NHHH của Việt Nam phù hợp
với các chuẩn mực quốc tế như: Hà Thị Nguyệt Thu [66] “Bảo hộ quyền
SHCN đối với nhãn hiệu theo Luật SHTT 2005”; Hứa Thị Hồng [25] “Bảo vệ quyền SHTT đối với NHHH tại biên giới theo quy định của pháp luật Việt Nam và các điều ước quốc tế liên quan”; Nguyễn Thị Lan Anh [1] “Bảo hộ quyền SHCN đối với nhãn hiệu theo luật nước ngoài”
Ngoài những luận án và luận văn nghiên cứu trực tiếp về thực trạng pháp luật bảo hộ NHHH và trực tiếp đưa ra các giải pháp hoàn thiện và nâng cao hiệu qủa thực thi pháp luật bảo hộ NHHH, còn có một số luận án tiến sĩ của các nghiên cứu sinh Việt Nam nghiên cứu về thực trạng pháp luật và phương hướng hoàn thiện và nâng cao hoạt động thực thi pháp luật SHTT Việt Nam, trong đó có NHHH Đáng chú ý nhất là các công trình sau:
- Luận án tiến sĩ Luật học “Đấu tranh phòng, chống các tội phạm quyền
SHCN ở Việt Nam” của nghiên cứu sinh Nguyễn Đức Nga [43] Tác giả luận
án nêu thực trạng đấu tranh phòng, chống các tội phạm quyền SHCN ở Việt Nam và đưa ra một số giải pháp chủ yếu đấu tranh phòng, chống các tội phạm quyền SHCN ở Việt Nam, cụ thể là: hoàn thiện chính sách, pháp luật về
Trang 26SHCN; nâng cao hiệu quả hoạt động và tăng cường sự phối hợp giữa các cơ quan quản lý nhà nước về SHCN và các cơ quan bảo vệ pháp luật trong đấu tranh phòng, chống các tội phạm quyền SHCN; tuyên truyền phổ biến, giáo dục pháp luật về SHCN và nâng cao trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh và người tiêu dùng trong đấu tranh phòng, chống các tội xâm phạm quyền SHCN và tăng cường hợp tác quốc tế trong đấu tranh phòng, chống các tội xâm phạm quyền SHCN
- Luận án tiến sĩ Luật học “Đấu tranh phòng, chống các tội xâm phạm
quyền SHTT” của nghiên cứu sinh Lê Việt Long [33] Tác giả luận án phân tích
thực trạng đấu tranh phòng, chống các tội xâm phạm quyền SHTT và đưa ra 2 nhóm giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống các tội xâm
phạm quyền SHTT, đó là: nhóm giải pháp thứ nhất: hoàn thiện pháp luật hình
sự quy định về các tội xâm phạm quyền SHTT và hoàn thiện hoạt động áp
dụng pháp luật; nhóm giải pháp thứ hai: hoàn thiện một số giải pháp khác
nhằm đấu tranh phòng, chống có hiệu quả các tội xâm phạm quyền SHTT như: giải pháp về kinh tế-xã hội; về cơ chế quản lý kinh tế; về nâng cao vai trò của các cơ quan bảo vệ pháp luật; về tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật cho người dân; tăng cường thanh tra, giám sát; tăng cường áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời và các giải pháp liên quan đến hợp tác quốc tế
- Luận án tiến sĩ Luật học “Bồi thường thiệt hại do hành vi trái pháp luật
xâm phạm quyền SHCN theo pháp luật Việt Nam” của nghiên cứu sinh Đinh
Thị Mai Phương [54] Tác giả luận án đưa ra kiến nghị về hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi liên quan đến bồi thường thiệt hại do hành vi trái pháp luật xâm phạm quyền SHCN Trong đó, tác giả đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao cơ chế thực thi pháp luật về bồi thường thiệt hại trong lĩnh vực SHTT như: tăng cường đào tạo đội ngũ thẩm phán có trình độ chuyên môn cao về SHCN và thiết lập tòa án trung tâm về SHTT tại Việt Nam
Trang 27- Luận án tiến sĩ Luật học “Hoạt động phòng ngừa tội phạm về SHTT ở
Việt Nam theo chức năng của lực lượng cảnh sát nhân dân” của nghiên cứu
sinh Lê Hoài Nam [40] Tác giả luận án nêu thực trạng hoạt động phòng ngừa tội phạm về SHTT của lực lượng cảnh sát Để nâng cao hiệu quả phòng ngừa
tội phạm về SHTT, tác giả luận án đưa 3 nhóm giải pháp như, nhóm giải pháp
thứ nhất: hoàn thiện pháp luật về SHTT như: hoàn thiện các quy phạm pháp
luật bảo hộ quyền SHTT; hoàn thiện các quy định pháp luật về hệ thống và
chức năng của cơ quan thực thi quyền SHTT Nhóm giải pháp thứ hai: nhóm
giải pháp về nâng cao hiệu quả các biện pháp phòng ngừa chung như: lực lượng cảnh sát phải thực hiện tốt công tác tham mưu cho các cấp có thẩm quyền trong việc bảo vệ quyền SHTT; tổ chức tốt công tác giáo dục, tuyên
truyền về SHTT Nhóm giải pháp thứ ba: nhóm giải pháp nâng cao hiệu quả
phòng ngừa riêng như: làm tốt công tác điều tra cơ bản, nắm chắc các địa bàn, tuyến trọng điểm và đối tượng buôn bán, sản xuất hàng hóa vi phạm SHTT; nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác sưu tra đối tượng; chú trọng công tác xây dựng và sử dụng mạng lưới bí mật và tăng cường xác lập và đấu tranh chuyên án Ngoài ra, cần tăng cường phối hợp giữa lực lượng cảnh sát với các lực lượng thực thi quyền SHTT trong đấu tranh phòng, chống tội phạm về SHTT; hoàn thiện tổ chức các lực lượng cảnh sát trong đấu tranh phòng chống tội phạm về SHTT và tăng cường hợp tác quốc tế trong công tác phòng, chống tội phạm về SHTT
Ngoài ra, công trình nghiên cứu về thực trạng pháp luật, các giải pháp hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật bảo hộ quyền SHTT nói chung và NHHH nói riêng còn đề cập trong các bài nghiên cứu và bài viết của rất nhiều tác giả như: Lê Xuân Thảo về “Hội nhập quốc tế và đổi mới cơ chế thực thi, bảo hộ quyền SHTT ở Việt Nam”, Tạp chí Cộng sản số 1(124), 2007; Nguyễn Thanh Tâm về “Pháp luật về SHCN trong tiến trình đổi mới và
Trang 28số 12/2006, tr.40-45; Lê Việt Long về “Xâm phạm SHTT: thực trạng, nguyên nhân và giải pháp”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 10/2008, tr.49-53; Phạm Văn Toàn về “Xử lý xâm phạm quyền SHTT bằng biện pháp dân sự tại Việt Nam – thực tiễn pháp luật và đề xuất hoàn thiện”, Báo điện tử - Thanh tra, Bộ khoa học và công nghệ Việt Nam: http://thanhtra.most.gov.vn, đăng ngày 15/10/2013) Mặc dù, các công trình trên không trực tiếp đề cập đến thực trạng pháp luật, các giải pháp hoàn thiện và nâng cao hiệu qủa thực hiện pháp luật bảo hộ NHHH, nhưng tác giả của các công trình trên đều đưa ra các giải pháp hoàn thiện và nâng cao hiệu qủa thực thi pháp luật SHTT nói chung tại Việt Nam, trong đó có NHHH
1.4 Nhận xét, đánh giá và những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu của luận án 14.1 Nhận xét, đánh giá
Nghiên cứu các vấn đề cơ bản về bảo hộ NHHH và tác động của nó đến
sự phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia đã được các nhà khoa học ở nước ngoài quan tâm nghiên cứu từ rất sớm Bảo hộ quyền SHTT, trong đó có NHHH tại Việt Nam mặc dù mới tiếp cận từ khoảng cuối những năm 1980 trở lại đây nhưng cũng thu hút được sự quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà khoa học Việt Nam dưới nhiều góc độ khác nhau Còn đối với Lào vấn đề bảo hộ quyền SHTT vẫn còn tương đối mới mẻ, do đó, vấn đề này vẫn chưa thu hút
Trang 29Các công trình nghiên cứu của các tác giả Lê Hồng Hạnh, Vũ Thị Hải Yến, Đàm Thị Diễm Hạnh, Lê Mai Thanh, RAVEEN Obhrai, Nguyễn Thị Quế Anh, chủ yếu nghiên cứu về những vấn đề lý luận về NHHH như, khái niệm, chức năng và vai trò của NHHH, phân biệt NHHH với một số đối tượng khác
có liên quan, phân loại NHHH để góp phần trong việc đổi mới, hoàn thiện quy định pháp luật về NHHH Ngoài ra, trong công trình của các tác giả Nguyễn Văn Luật và Lê Mai Thanh cũng phân tích rất rõ về lý luận NHHH
Trong công trình của tác giả Phan Ngọc Tâm, Vương Thanh Thúy, Nguyễn Như Quỳnh, chủ yếu nghiên cứu và phân tích sâu các khía cạnh khác nhau trong lĩnh vực bảo hộ NHHH dưới sự so sánh với pháp luật của các nước phát triển như, Hoa Kỳ, Châu Âu và các điều ước quốc tế liên quan
để góp phần đổi mới và đưa ra các giải pháp hoàn thiện pháp luật bảo hộ NHHH Việt Nam
Kết quả nghiên cứu trong công trình của các tác giả Nguyễn Đức Nga,
Lê Việt Long, đề cập đến hoạt động đấu tranh phòng, chống tội xâm phạm quyền SHCN và quyền SHTT dưới góc độ của khoa học luật hình sự và tố tụng hình sự nên luận án tập trung nghiên cứu xoay quanh vấn đề hoàn thiện chính sách, pháp luật SHCN và pháp luật SHTT Trong công trình của tác giả
Lê Hoài Nam, chủ yếu đề cập đến hoạt động phòng ngừa và đấu tranh chống
Trang 30hành vi xâm phạm quyền SHTT theo chức năng của lực lượng cảnh sát nên tác giả không đi sâu nghiên cứu về nội dung phòng ngừa tội phạm về SHTT Trong công trình của tác giả Định Thị Mai Phương, chủ yếu tập trung nghiên cứu chuyên sâu vào nguyên tắc bồi thường thiệt hại và căn cứ xác định bồi thường thiệt hại do hành vi trái pháp luật xâm phạm quyền SHCN để hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thị liên quan đến bồi thường thiệt hại do hành
vi trái pháp luật xâm phạm quyền SHTT ở Việt Nam
Trong công trình của các tác giả Nguyễn Văn Luật và Lê Mai Thanh, lần đầu tiên các vấn đề pháp lý về bảo hộ NHHH tại Việt Nam được đề cập tương đối toàn diện và có hệ thống Một số giải pháp và kiến nghị nêu trong luận án góp phần vào việc đổi mới và hoàn thiện các quy định pháp luật bảo hộ NHHH tại Việt Nam trong thời gian qua Tuy nhiên, do thời điểm nghiên cứu của các công trình này so với hiện nay các quy định pháp luật bảo hộ NHHH tại Việt Nam đã có sự thay đổi đáng kể để tương thích với các điều ước quốc
tế liên quan và điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
Trong công trình của tác giả Nguyễn Bá Diễn, Lê Xuân Thảo, Nguyễn Thanh Tâm, Nguyễn Chiến Thắng … đều nghiên cứu trong phạm vi rộng hơn,
đề cập đến vấn đề thực thi quyền SHTT nói chung và quyền SHCN nói riêng trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam, đặc biệt là hoạt động thực thi quyền SHTT sau khi Việt Nam trở thành thành viên của WTO
Có thể thấy rằng, trong thời gian qua có rất nhiều tác giả Việt Nam nghiên cứu dưới góc độ so sánh pháp luật bảo hộ NHHH với các nước phát triển trên thế giới và các điều ước quốc tế liên quan Một số công trình còn tập trung nghiên cứu pháp luật bảo hộ NHHH theo pháp luật nước ngoài và các điều ước quốc tế liên quan
Trang 31Trong luận văn thạc sĩ luật học của tác giả Đăng Thị Thu Huyền và Phạm Thị Nhị, nghiên cứu dưới góc độ so sánh giữa pháp luật bảo hộ NHHH của Việt Nam với các nước phát triển về hệ thống pháp luật bảo hộ NHHH như, Pháp và Hoa Kỳ, từ đó đưa ra các giải pháp hoàn thiện pháp luật bảo hộ NHHH tại Việt Nam
Trong công trình của các tác giả Phan Ngọc Tâm, Vương Thanh Thúy, Nguyễn Như Quỳnh, cũng nghiên cứu dưới góc độ so sánh giữa pháp luật bảo
hộ NHHH ở các khía cạnh khác nhau như, bảo hộ NHNT, dấu hiệu mang chức năng trong pháp luật về nhãn hiệu và hết quyền đối với nhãn hiệu theo pháp luật Việt Nam với pháp luật của một số nước phát triển như, Hoa Kỳ, Châu Âu và các điều ước quốc tế liên quan
Các công trình trên của tác giả Việt Nam chủ yếu phân tích, đánh giá mức
độ phù hợp, tương thích và khác biệt so với pháp luật quốc tế và pháp luật của một số nước như, Hoa Kỳ, Châu Âu, Pháp, Nhật, Trung Quốc và vv…
Nghiên cứu các công trình trên của các tác giả Việt Nam có thể thấy, các nhà khoa học Việt Nam có rất nhiều công trình nghiên cứu có hệ thống về bảo
hộ NHHH; các công trình đó góp phần xây dựng hệ thống pháp luật bảo hộ NHHH của Việt Nam Kết quả nghiên cứu nêu trên là cơ sở lý luận và kinh nghiệm quý báu để tác giả tham khảo, kế thừa, nối tiếp và học hỏi kết quả công trình khoa học và các bài viết trên đạt được trong quá trình hoàn thành luận án của mình
Mặc dù, Việt Nam và Lào có nhiều nét tương đồng về hệ thống chính trị, pháp luật và là hai nước láng giềng có mối quan hệ hợp tác toàn diện giữa hai nước, tuy nhiên cho đến nay chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu so sánh pháp luật của Lào và Việt Nam về bảo hộ NHHH một cách toàn diện Đây là một đề tài độc lập và không trùng lặp với các đề tài trên Chính vì vậy, việc nghiên cứu để xây dựng hệ thống pháp luật bảo hộ quyền SHTT nói chung và
Trang 32NHHH nói riêng dưới góc độ so sánh với pháp luật bảo hộ NHHH Việt Nam
là cần thiết cho việc hoàn thiện và nâng cao hoạt động thực thi bảo hộ NHHH trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế của Lào trong giai đoạn hiện nay
1.4.2 Những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu của luận án
- Kế thừa, nối tiếp kết quả của các công trình nghiên cứu được công bố ở nước ngoài, Việt Nam và Lào để thống nhất nhận thức lý luận về NHHH, lý luận về bảo hộ NHHH và lý luận về pháp luật bảo hộ NHHH;
- Nghiên cứu về thực trạng quy định của pháp luật bảo hộ NHHH theo pháp luật Lào trên cơ sở so sánh với pháp luật bảo hộ NHHH Việt Nam, từ đó chỉ ra những ưu điểm, nhược điểm trong công tác bảo hộ NHHH theo pháp luật Lào trong điều kiện hiện nay
- Đề xuất, kiến nghị các giải pháp hoàn thiện và nâng cao hiệu qủa áp dụng pháp luật bảo hộ NHHH của Lào dưới sự chú ý kinh nghiệm thực tiễn của Việt Nam đạt được trong điều kiện hiện nay
Do các công trình nghiên cứu về pháp luật bảo hộ NHHH tại Lào còn hạn chế, nên luận án chủ yếu tập trung khái quát một số công trình nghiên cứu của tác giả Việt Nam Trên cơ sở nhận xét, đánh giá khái quát kết quả nghiên
Trang 33cứu của một số công trình trên, có thể thấy rằng, NHHH là một vấn đề quan trọng trong kinh tế thị trường NHHH không đơn thuần chỉ là vấn đề nhận biết một hàng hóa nào đó mà nó còn là một tài sản thuộc quyền SHTT Nó cũng thể hiện uy tín của mỗi doanh nghiệp, chất lượng của mỗi sản phẩm… nhiều NHHH còn thể hiện uy tín của quốc gia đó Do đó, NHHH gây được sự chú ý trong giới khoa học và được tác giả Việt Nam nghiên cứu tương đối toàn diện Các công trình nghiên cứu về bảo hộ NHHH của tác giả Việt Nam trong thời gian qua đạt được nhiều kết quả mới, góp phần vào việc hoàn thiện và nâng cao pháp luật bảo hộ NHHH tại Việt Nam Tuy nhiên, cho đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu so sánh một cách toàn diện về pháp luật bảo hộ NHHH giữa Việt Nam và Lào
Qua đó luận án nhận xét, đánh giá và đề ra những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu ở các chương tiếp theo của luận án để đưa ra những đề xuất, giải pháp hoàn thiện và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật bảo hộ NHHH của Lào dưới sự chú ý kinh nghiệm thực tiễn của Việt Nam
Trang 34CHƯƠNG 2 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO HỘ NHÃN HIỆU HÀNG HÓA 2.1 Khái quát chung về nhãn hiệu hàng hóa
2.1.1 Quá trình hình thành nhãn hiệu hàng hóa
Nhãn hiệu hàng hóa là một trong những đối tượng SHTT phổ biến nhất trong cuộc sống và được sử dụng vô cùng rộng rãi trong nền kinh tế thị trường vì nó gắn liền với quá trình sản xuất, kinh doanh hàng hóa và dịch vụ Nguồn gốc của nhãn hiệu có thể được xem trở lại từ thời xa xưa, tức là bắt đầu từ khi có sự ra đời của việc lưu thông hàng hóa Lịch sử của nhãn hiệu cũng dường như xuất phát cùng với lịch sử của nguồn nhân loại và tôn giáo của chúng ta [83, tr.1] Khoảng 5000 năm trước công nguyên, loài người đã biết dùng một miếng kim loại nung đỏ để tạo ra dấu hiệu trên cổ những con
bò, từ đó giúp chủ sở hữu dễ dàng phân biệt chúng với những con bò khác Ngày nay, các nhà nghiên cứu đã tìm thấy trên vách hang động hình ảnh của những con bò rừng Bizon cùng với các ký hiệu của chúng có nguồn gốc bắt đầu từ thời kỳ đó Ngoại ra, nhiều dấu hiệu còn được tìm thấy trên các đồ gốm cùng thời [88]
Khoảng 4000 năm về trước thợ thủ công ở Trung Quốc, Ấn Độ và Ba Tư
đã sử dụng chữ ký của họ hoặc biểu tượng để phân biệt sản phẩm Thợ gốm La
Mã đã sử dụng hơn 100 dấu hiệu khác nhau để phân biệt các tác phẩm của mình, nổi tiếng nhất là nhãn hiệu FORTIS mà nhiều sản phẩm giả đã bắt chước Người ta tin rằng các thợ thủ công đó sử dụng nhãn hiệu cho nhiều mục đích bao gồm: quảng cáo người làm ra các sản phẩm đó hoặc làm bằng chứng khẳng định sản phẩm thuộc về một thương gia cụ thể nào đó khi có tranh chấp
về sở hữu cũng như sử dụng để đảm bảo về chất lượng [30, tr.149-150]
Bước vào thời kỳ Phục hưng, khi Đế chế Roman tan rã, những tài liệu miêu tả việc sử dụng các dấu hiệu trong thời kỳ này không được tìm thấy
Trang 35nhiều Tuy nhiên, có một thực tế không thể phủ định là các dấu hiệu vẫn không ngừng được sử dụng với mục đích khác nhau trong suốt thời gian này Thoạt đầu, các dấu hiệu được sử dụng để xác định nhà sản xuất, với mục tiêu bảo vệ người tiêu dùng Sau đó, các dấu hiệu lại được sử dụng để xác định sự gắn bó, mối liên kết giữa nhà sản xuất với một phường hội nhất định, đồng thời để bảo hộ sự độc quyền của các phường hội này Có thể thấy, các dấu hiệu trong giai đoạn sau thường được sử dụng với vai trò thể hiện lợi ích của nhà sản xuất hơn mục đích bảo vệ người tiêu dùng Đến giai đoạn quảng cáo được coi như là một hành vi không lành mạnh, dấu hiệu được các nhà sản xuất sử dụng để xác định thương hiệu của họ trên thị trường Sau cùng, các dấu hiệu đã chính thức được pháp luật công nhận giá trị tài sản của chúng, tương đương với những tài sản khác [67, tr.22] Sau đó, các dấu hiệu hay gọi theo thuật ngữ pháp lý là NHHH được chấp nhận và sử dụng với ý nghĩa đích thực của chúng cho tới ngày nay
Thời đại ngày nay, với sự phát triển như vũ bão của nền sản xuất hàng hóa thương mại toàn cầu, nhiều chủng loại hàng hóa, dịch vụ, kèm theo đó là chiến lược quảng cáo, tiếp thị của các nhà sản xuất, kinh doanh…, làm cho việc phân biệt các loại hàng hóa, dịch vụ của người tiêu dùng gặp khó khăn trong việc phân biệt hàng hóa và dịch vụ cùng loại đó NHHH không chỉ còn
là thông điệp về sự bảo đảm chất lượng của các nhà sản xuất, kinh doanh đối với người tiêu dùng mà trở thành giá trị kết cấu của nền kinh tế, vì thế sự bảo
hộ của nhà nước và rộng hơn là pháp luật quốc tế đối với hàng hóa và NHHH luôn là vấn đề thời sự quan trọng [36, tr.8]
2.1.2 Chức năng của nhãn hiệu hàng hóa
Nhãn hiệu hàng hóa là một dấu hiệu gắn với hàng hóa, dịch vụ dùng trong hoạt động thương mại của các nhà sản xuất, kinh doanh Việc bảo hộ NHHH không chỉ bảo hộ lợi ích chính đáng của chủ sở hữu, mà còn bảo hộ
Trang 36vụ Việc xâm phạm nhãn hiệu xảy ra khi một người thể hiện sai về nguồn gốc thương mại của hàng hóa Sự mập mờ về chức năng nguồn gốc của nhãn hiệu xuất hiện cùng với sự phát triển của tiếp thị toàn cầu thông qua việc chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu Ở nhiều nước, toà án được lập ra để thúc đẩy hoạt động chuyển quyền sử dụng, với điều kiện chủ sở hữu nhãn hiệu thực hiện quyền kiểm soát đối với chất lượng của hàng hóa được bán bởi bên được chuyển nhượng quyền (bên nhận li-xăng) Một tác động quan trọng đối với các nước đang phát triển, liên quan tới nguyên tắc kiểm soát chất lượng này,
là hợp đồng chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu sẽ bị ràng buộc bởi công nghệ
phù hợp nhằm đảm bảo việc duy trì chất lượng Nhờ có chức năng chỉ dẫn
nguồn gốc của NHHH, người tiêu dùng sẽ nhận biết ra doanh nghiệp nào sản xuất ra hàng hóa đó, ngoài ra chức năng này còn góp phần bảo vệ người tiêu dùng tránh khỏi sự nhầm lẫn không đáng có khi quyết định mua hàng hóa
Trang 37Như vậy nhãn hiệu cần thể hiện rõ nguồn gốc của hàng hóa, dịch vụ là một cách tốt để ngăn chặn các hành vi xâm phạm quyền sở hữu này
- Chức năng quảng cáo hoặc tiếp thị:
Một chức năng đặc biệt quan trọng của nhãn hiệu là việc sử dụng chúng
để quảng cáo và tiếp thị sản phẩm Cách thức mà nhãn hiệu thúc đẩy quá trình này là dựa vào khả năng phân biệt và nhận dạng hàng hóa và dịch vụ Điều này đặc biệt quan trọng ở các thị trường nơi mà sự gia tăng của các hàng hóa cùng loại cho phép người tiêu dùng nhận dạng hàng hóa của một thương gia
cụ thể Do vậy, ở thị trường nông sản, nơi các sản phẩm có xu hướng cùng loại đã đạt được một số thành công trong việc tiếp thị chuối "Chiquita" và cam "Jaffa" Cuba đã đạt được thành công với nhãn hiệu "Bacardi" cho rượu
rum và "Havana" cho xì-gà
Nhãn hiệu là một cách thức chỉ dẫn cô đọng về sản phẩm Mặt khác do chi phí quảng cáo và đặc biệt là qua phương tiện truyền thông điện tử khá cao
và được tính theo thời lượng chạy quảng cáo và lượng thông tin cần đưa đến người tiêu dùng và đặc biệt hơn là tâm lý người tiêu dùng khi nghe, xem quảng cáo họ thích những gì mới lạ và ngắn gọn chứ không thích việc dài dòng do đó việc sử dụng nhãn hiệu sẽ làm giảm lượng thông tin cần truyền đạt tới người tiêu dùng và từ đó tạo nên tâm lý thoải mái đón nhận và ghi nhớ nhãn hiệu một cách dễ dàng Một khi quảng cáo đạt được sự thành công, sẽ làm tăng sức mạnh thị trường của chủ sở hữu nhãn hiệu đối với hàng hóa mang nhãn hiệu Sức mạnh thị trường của chủ sở hữu nhãn hiệu càng lớn thì càng dễ dàng xâm nhập vào các thị trường nước ngoài Sự tăng trưởng thương mại quốc tế là một trong số các hệ quả của sự phát triển các hoạt động quảng cáo quốc tế Người ta cho rằng trong thị trường của các sản phẩm cùng loại, người tiêu dùng thường bị thuyết phục là các sản phẩm tương tự nhưng trên thực tế lại không giống nhau Sự lựa chọn của người tiêu dùng nhìn bề ngoài
Trang 38có vẻ được mở rộng trong khi sự lựa chọn thực tế thì vẫn giữ nguyên mà không mở rộng theo sự mở rộng các sản phẩm cùng loại Đây là một hệ quả của việc quảng cáo nhãn hiệu khi một nhãn hiệu được người tiêu dùng "định vị" thì việc người tiêu dùng thay đổi nó rất khó Mặt khác, sự phát triển của nhãn hiệu được quảng cáo lại là một động lực cho người quảng cáo nhằm đảm bảo việc mua bán lặp lại để thu hồi chi phí quảng cáo, thông qua việc chào bán hàng hóa có chất lượng cao
- Chức năng bảo đảm chất lượng:
Người tiêu dùng có thể sử dụng nhãn hiệu để nhận biết loại hàng hóa sẽ thỏa mãn nhu cầu của họ, nên tạo ra động lực cho các nhà sản xuất và phân phối nhằm đáp ứng nguyện vọng chính đáng của người tiêu dùng về chất lượng sản phẩm Do đó, việc sử dụng nhãn hiệu có khuynh hướng khuyến khích chủ sở hữu nhãn hiệu duy trì chất lượng ổn định cho hàng hóa và dịch
vụ được chào bán dưới nhãn hiệu của họ Điều này được nhấn mạnh bởi yêu cầu của pháp luật đối với việc kiểm soát chất lượng trong các hợp đồng chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu
Giá trị cố định trong việc giành được sự trung thành của người tiêu dùng đối với một nhãn hiệu cụ thể thông qua việc duy trì chất lượng ổn định của sản phẩm, được xem như là "danh tiếng" đi kèm với nhãn hiệu Người tiêu dùng sử dụng thông tin về nguồn gốc cũng như chất lượng có thể tin được của sản phẩm để củng cố quyết tâm mua hàng của mình Ở những nơi chỉ có một nhãn hiệu tồn tại, người tiêu dùng sử dụng thông tin này để quyết định có mua hàng hay không Lợi ích của điều này đối với người tiêu dùng, như đã dẫn, là họ có thể tránh được những sai lầm khi quyết định mua hàng
Như vậy, nhãn hiệu khi đã nổi tiếng đã được biết đến với đông đảo người tiêu dùng thì các chủ sở hữu của các nhãn hiệu này đều cố gắng duy trì chất lượng hàng hóa, đảm bảo cho nhãn hiệu của mình không bị mất thị phần
Trang 39trong người tiêu dùng
2.1.3 Khái niệm nhãn hiệu hàng hóa
Khái niệm NHHH được đề cập đến ở hầu hết trong pháp luật NHHH của các nước trên thế giới Nhưng trong thực tế, pháp luật của các nước cụ thể hóa khái niệm NHHH theo những dấu hiệu nhất định Sau đây, tác giả xin dẫn chứng khái niệm NHHH theo pháp luật của một số nước phát triển, các nước có quan hệ thương mại đặc biệt với Lào và khái niệm NHHH theo pháp luật quốc tế
2.1.3.1 Khái niệm nhãn hiệu hàng hóa theo pháp luật của một số nước
Hoa Kỳ: NHHH được quy định trong Chuẩn luật số 15 về Thương mại
và Mậu dịch, Bộ chuẩn luật quốc gia Hoa Kỳ Chương 22 quy định bảo hộ NHHH hay Đạo luật Lanham 1946, được sửa đổi rất nhiều lần trong quá trình
áp dụng, lần gần đây nhất là năm 2009 [62] Trong Đạo luật này có hai quy phạm liên quan đến khái niệm NHHH có phần nào đó khác nhau Phần khái niệm Luật Lanham quy định: NHHH bao gồm bất kỳ từ, tên gọi, biểu tượng hay hình vẽ hoặc sự kết hợp giữa chúng mà:1) được sử dụng bởi một người, hoặc 2) được một người có ý định chân thành sử dụng nó trong thương mại và đăng ký theo quy định của luật này để xác định và phân biệt hàng hóa của người đó, bao gồm cả các hàng hóa đặc chủng, với hàng hóa được sản xuất hoặc được bán bởi người khác và chỉ ra nguồn gốc của hàng hóa thậm chí cả
khi không xác định được nguồn gốc đó [85]
Theo quy định trên thì khái niệm NHHH được kết hợp với hai chức năng
cơ bản như: chức năng phân biệt và chức năng chỉ ra nguồn gốc của hàng hóa Pháp luật Hoa Kỳ chỉ quy định những dấu hiệu như: từ ngữ, tên gọi, biểu tượng, hình vẽ hoặc sự kết hợp các yếu tố đó có khả năng đăng ký làm NHHH, nhưng theo quy định tại mục 15 USC 1052 về nguyên tắc khả năng được đăng ký của nhãn hiệu thì quy định “Không có NHHH nào có khả năng
Trang 40phân biệt hàng hóa của người nộp đơn với những hàng hóa của người khác lại
bị từ chối vào sổ đăng ký trừ…” theo quy định tại điều này thì bất kỳ dấu hiệu nào kể cả không nhìn thấy được đều có thể được đăng ký như là NHHH miễn
là nó có khả năng phân biệt giữa hàng hóa hoặc dịch vụ cùng loại Cho nên, Hoa Kỳ là nước đầu tiên công nhận việc đăng ký nhãn hiệu âm thanh và nhãn hiệu mùi cho sản phẩm
Pháp: Pháp được biết đến là một trong nước có quy định về NHHH sớm
nhất Luật NHHH đầu tiên được Pháp ban hành vào năm 1809 [24] Pháp đưa
ra khái niệm NHHH sau: Nhãn hiệu sản xuất, nhãn hiệu thương mại hoặc nhãn hiệu dịch vụ là dấu hiệu có thể được thể hiện dưới dạng hình họa dùng
để phân biệt sản phẩm hoặc dịch vụ của thể nhân hoặc pháp nhân Những dấu hiệu có thể cấu thành nhãn hiệu là những dấu hiệu sau: a) Tên gọi dưới mọi hình thức như: từ, tổ hợp từ, tên họ, tên địa lí, biệt danh, chữ cái, chữ số, các chữ viết tắt; b) Những dấu hiệu âm thanh như: âm thanh, câu nhạc; c) Những
dấu hiệu hình như: hình vẽ, nhãn mác, con dấu…”[78, Article.L711-1]
Theo Luật NHHH của Pháp thì có ba loại dấu hiệu chính có thể cấu thành NHHH như: dấu hiệu tên gọi, dấu hiệu âm thanh và dấu hiệu hình ảnh
Đức: Đức đưa ra khái niệm NHHH sau: Bất kỳ dấu hiệu, cụ thể là những
từ ngữ, kể cả tên cá nhân, tranh ảnh, chữ cái, chữ số, dấu hiệu âm thanh, hình
ba chiều bao gồm cả hình dáng của một sản phẩm hoặc bao bì sản phẩm cũng như sự trình bày kể cả mầu sắc và sự kết hợp của mầu sắc đều có thể được bảo hộ với danh nghĩa là NHHH nếu có khả năng phân biệt được hàng hóa hoặc dịch vụ của doanh nghiệp này với hàng hóa hoặc dịch vụ cùng loại của
doanh nghiệp khác [79, Article.14 (2)]
Đức quy định khái niệm NHHH một cách khái quát nhưng cũng thể hiện được các điều kiện cơ bản của NHHH Các dấu hiệu quy định trong Luật NHHH của Đức không chỉ bao gồm các dấu hiệu truyền thống mà còn bao