1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

đánh giá sự sinh trưởng, năng suất và chất lượng trái của quýt đường không hột ở giai đoạn cây bốn năm tuổi tại thành phố vĩnh long, tỉnh vĩnh long

82 332 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 82
Dung lượng 2,41 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận văn Kỹ sư Trồng Trọt với đề tài: “Đánh giá sự sinh trưởng, năng suất và chất lượng trái của quýt Đường không hột ở giai đoạn cây bốn năm tuổi tại thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Lo

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG

LÊ MINH TRIẾT

ĐÁNH GIÁ SỰ SINH TRƯỞNG, NĂNG SUẤT VÀ CHẤT LƯỢNG TRÁI CỦA QUÝT ĐƯỜNG KHÔNG HỘT Ở GIAI ĐOẠN CÂY BỐN NĂM TUỔI TẠI THÀNH PHỐ VĨNH LONG, TỈNH VĨNH LONG

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP KỸ SƯ TRỒNG TRỌT

Cần Thơ - 2013

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP NGÀNH TRỒNG TRỌT

ĐÁNH GIÁ SỰ SINH TRƯỞNG, NĂNG SUẤT VÀ CHẤT LƯỢNG TRÁI CỦA QUÝT ĐƯỜNG

KHÔNG HỘT Ở GIAI ĐOẠN CÂY BỐN NĂM TUỔI TẠI THÀNH PHỐ VĨNH LONG, TỈNH VĨNH LONG

Cần Thơ - 2013

Trang 3

Luận văn Kỹ sư Trồng Trọt với đề tài:

“Đánh giá sự sinh trưởng, năng suất và chất lượng trái của

quýt Đường không hột ở giai đoạn cây bốn năm tuổi

tại thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long”

Do sinh viên Lê Minh Triết thực hiện

Kính trình hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp xem xét

Cần Thơ, ngày….tháng….năm 2013 Giảng viên hướng dẫn

TS Nguyễn Bá Phú

Trang 4

ii

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG

BỘ MÔN KHOA HỌC CÂY TRỒNG

Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp đã chấp nhận luận văn tốt nghiệp Kỹ sư ngành Trồng Trọt với đề tài: “Đánh giá sự sinh trưởng, năng suất và chất lượng trái của quýt Đường không hột ở giai đoạn cây bốn năm tuổi tại thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long” Do sinh viên Lê Minh Triết thực hiện và bảo vệ trước Hội đồng Ngày.….tháng… năm 2013 Luận văn đã được Hội đồng đánh giá ở mức

Ý kiến Hội đồng:

Cần Thơ, ngày….tháng….năm 2013 Thành viên Hội đồng

DUYỆT KHOA Trưởng Khoa Nông nghiệp và Sinh học Ứng dụng

Trang 5

iii

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân Các số liệu, kết quả trình bày trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ luận văn nào trước đây

Tác giả luận văn

Lê Minh Triết

Trang 6

iv

TIỂU SỬ CÁ NHÂN

Họ và Tên: Lê Minh Triết Giới tính: Nam

Ngày sinh: 27/02/1992 Dân tộc: Kinh

Nơi sinh: Phường An Cư, Quận Ninh Kiều, Thành phố Cần Thơ

Họ và tên Cha: Lê Minh Đảnh Sinh năm: 1952

Họ và tên Mẹ: Ngô Kim Hằng Sinh năm: 1957

Chỗ ở hiện tại: 59 Trần Hưng Đạo, Phường An Cư, Quận Ninh Kiều, Thành phố Cần Thơ

Quá trình học tập của bản thân:

- 1998-2003: học tại trường Tiểu học An Hội, Quận Ninh Kiều, Thành phố Cần Thơ

- 2003-2007: học tại trường Trung học Cơ sở Đoàn Thị Đểm, Quận Ninh Kiều, Thành phố Cần Thơ

- 2007-2010: học tại trường Trung học Phổ thông Châu Văn Liêm, Quận Ninh Kiều, Thành phố Cần Thơ

- 2010-2014: học tại trường Đại học Cần Thơ, Quận Ninh Kiều, Thành phố Cần Thơ

Cần Thơ, ngày……tháng……năm 2013

Trang 7

Xin gửi lòng biết ơn sâu sắc đến

Thầy Nguyễn Bá Phú đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ và động viên tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài và hoàn thành bài luận văn

Cố vấn học tập Thầy Lê Vĩnh Thúc và Cô Võ Thị Bích Thủy đã quan tâm, động viên và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập

Toàn thể quý thầy cô trường Đại học Cần Thơ đã tận tình dìu dắt, truyền đạt kiến thức quý báu cho tôi trong suốt thời gian theo học tại trường

Thân gởi

Anh La Hoàng Châu và các bạn Đinh Thanh Tông, Đinh Văn Tàu, Tống Trung Trực, Tô Thị Bé, Hồ Văn Hạnh, Trần Minh Dững, Phạm Minh Toàn đã

hỗ trợ tôi thực hiện thí nghiệm

Phạm Thành Đạt, Nguyễn Vũ Trinh Nhân hai người bạn tâm giao trong

suốt khoảng thời gian Đại học, đã cùng sẻ chia những lúc buồn vui

Tất cả các bạn lớp Trồng Trọt khóa 36 lời chúc tốt đẹp nhất, chúc các bạn sức khỏe, hạnh phúc và thành đạt trong tương lai

Trang 8

vi

TÓM LƯỢC

Đề tài: ”Đánh giá sự sinh trưởng, năng suất và chất lượng trái của quýt Đường không hột ở giai đoạn cây bốn năm tuổi tại thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long” được thực hiện nhằm mục đích so sánh giữa hai dòng quýt Đường không hột và giống quýt Đường có hột về: (i) sự sinh trưởng, (ii) sự phát triển trái, (iii) năng suất và (iv) chất lượng trái

Thí nghiệm được bố trí theo thể thức khối hoàn toàn ngẫu nhiên, 10 lần lặp lại, 3 nghiệm thức bao gồm: quýt Đường không hột số 1, quýt Đường không hột số 2 và quýt Đường có hột làm đối chứng Các chỉ tiêu theo dõi: sự sinh trưởng ghi nhận 3 tháng/lần; sự phát triển trái, tỷ số chiều cao trái/đường kính trái, tỷ lệ đậu trái ghi nhận hàng tháng và các chỉ tiêu về năng suất, chất lượng trái được đánh giá qua các chỉ tiêu về đặc tính nông học của trái và chất lượng dịch trái

Kết quả cho thấy sự sinh trưởng của 2 dòng quýt Đường không hột tương đương với nhau và cùng không khác biệt với quýt Đường có hột Trong giai đoạn đầu của sự phát triển trái, kích thước trái của 2 dòng quýt Đường không hột và quýt Đường có hột phát triển tương đương nhau Vào giai đoạn giữa, kích thước trái của quýt Đường có hột phát triển nhanh hơn so với 2 dòng quýt Đường không hột Đến giai đoạn gần thu hoạch, kích thước trái của 2 dòng quýt Đường không hột tương đương với quýt Đường có hột cho thấy kích thước trái của 2 dòng quýt Đường không hột phát triển nhanh hơn quýt Đường có hột ở giai đoạn này Tỷ lệ đậu trái, tổng số trái/cây và năng suất của 2 dòng quýt Đường không hột tương đương nhau và không khác biệt với quýt Đường có hột Chất lượng trái của 2 dòng quýt Đường không hột tương đương với nhau và không khác với quýt Đường có hột

Từ khóa: quýt Đường, không hột, sinh trưởng, phát triển, năng suất, chất lượng,

Lê Minh Triết 2013 Đánh giá sự sinh trưởng, năng suất và chất lượng trái của quýt Đường không hột ở giai đoạn cây bốn năm tuổi tại Thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long Luận văn tốt nghiệp Đại Học, khoa Nông Nghiệp và Sinh Học Ứng Dụng, trường Đại Học Cần Thơ 44 trang

Trang 9

vii

MỤC LỤC

Lời cam đoan ii

Tiểu sử cá nhân iv

Lời cảm tạ v

Tóm lược vi

Mục lục vii

Danh sách bảng ix

Danh sách hình x

Mở đầu 1

Chương 1: Lược khảo tài liệu 2

1.1 Tổng quan về quýt đường 2

1.1.1 Nguồn gốc 2

1.1.2 Phân loại 2

1.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ 3

1.2.1 Tình hình sản xuất 3

1.2.2 Tình hình tiêu thụ 3

1.3 Đặc điểm hình thái thực vật cam quýt 3

1.3.1 Đặc tính rễ 3

1.3.2 Đặc tính thân cành 4

1.3.3 Đặc tính lá 4

1.3.4 Đặc tính hoa 4

1.3.5 Đặc tính trái 5

1.4 Đặc tính không hột ở cam quýt 5

1.4.1 Hiện tượng trinh quả sinh 5

1.4.2 Nguyên nhân không hột ở cam quýt 6

1.4.3 Nguyên nhân không hột của quýt đường không hột 8

1.5 Yếu tố ảnh hưởng sự phát triển trái cam quýt 8

1.5.1 Nhiệt độ 8

1.5.2 Nước 9

1.5.3 Ẩm độ 9

1.5.4 Ánh sáng 9

1.5.5 Dinh dưỡng 10

1.6 Yếu tố ảnh hưởng tỷ lệ đậu trái cam quýt 10

1.6.1 Nhiệt độ và sự khô hạn 10

1.6.2 Đất 11

1.6.3 Nước 11

1.6.4 Gió, ẩm độ đất và không khí 11

Trang 10

viii

1.6.5 Dinh dưỡng 11

1.6.6 Bộ tán lá trên cây, số lá trên phát hoa 11

1.7 Yếu tố ảnh hưởng chất lượng trái cam quýt 12

1.7.1 Ảnh hưởng của các yếu tố sản xuất đến chất lượng trái sau thu hoạch 12

1.7.2 Kỹ thuật trồng 14

Chương 2: Phương tiện và phương pháp 16

2.1 Phương tiện 16

2.1.1 Thời gian và địa điểm 16

2.1.2 Vật liệu thí nghiệm 16

2.2 Phương pháp 16

2.2.1 Bố trí thí nghiệm 16

2.2.2 Kỹ thuật canh tác 16

2.2.3 Các chỉ tiêu theo dõi 16

Chương 3: Kết quả và thảo luận 19

3.1 Sự sinh trưởng của 2 dòng quýt đường không hột tại Vĩnh Long 19

3.1.1 Đường kính gốc tháp 19

3.1.2 Đường kính thân tháp 20

3.1.3 Tỷ số đường kính thân tháp/đường kính gốc tháp 22

3.1.4 Chiều cao cây của quýt đường không hột 23

3.1.5 Chiều rộng tán của quýt đường không hột 24

3.2 Sự phát triển trái của 2 dòng quýt đường không hột tại Vĩnh Long 25

3.2.1 Chiều cao trái 25

3.2.2 Đường kính trái 28

3.2.3 Tỷ số chiều cao trái/đường kính trái 32

3.3 Năng suất ở 2 dòng quýt đường không hột tại Vĩnh Long 34

3.3.1 Tỷ lệ đậu trái quýt đường không hột 34

3.3.2 Năng suất của quýt đường không hột 35

3.4 Đặc tính hình thái thực vật của trái và chất lượng trái của 2 dòng quýt đường không hột tại Vĩnh Long 36

3.4.1 Đặc tính hình thái thực vật của trái quýt đường không hột 36

3.4.2 Các thành phần trọng lượng 39

3.4.3 Chất lượng dịch trái của thịt trái 42

Chương 4: Kết luận và đề nghị 44

4.1 Kết luận 44

4.2 Đề nghị 44

Tài liệu tham khảo 45

Phụ chương 52

Trang 11

ix

DANH SÁCH BẢNG

3.1 Tỷ số đường kính thân tháp/đường kính gốc tháp của quýt

Đường không hột và có hột tại thành phố Vĩnh Long, tỉnh

3.4 Kích thước trái chín của quýt Đường không hột và có hột

tại thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long, 2013

36

3.5 Đặc tính vỏ trái và đặc tính thịt trái của quýt Đường không

hột và có hột tại thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long,

2013

38

3.6 Số lượng hột, số mài và tổng số tiểu noãn của trái quýt

Đường không hột và có hột tại thành phố Vĩnh Long, tỉnh

Vĩnh Long, 2013

39

3.7 Trọng lượng các thành phần của trái quýt Đường không

hột và có hột tại thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long,

2013

40

3.8 Tỷ lệ (%) theo trọng lượng các thành phần của trái quýt

Đường không hột và có hột tại thành phố Vĩnh Long, tỉnh

Vĩnh Long, 2013

41

3.9 Chất lượng dịch trái của quýt Đường không hột và có hột

tại thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long, 2013

43

Trang 12

x

DANH SÁCH HÌNH

3.1 Đường kính gốc tháp (mm) của quýt Đường không hột và

có hột tại thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long, 2013

19

3.2 Đường kính thân tháp (mm) của quýt Đường không hột và

có hột tại thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long, 2013 21 3.3 Chiều cao cây (cm) của quýt Đường không hột và có hột

tại thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long, 2013

23

3.4 Chiều rộng tán (cm) của quýt Đường không hột và có hột

tại thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long, 2013 24 3.5 Chiều cao trái (mm) quýt Đường không hột và có hột tại

thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long, 2013

27

3.6 Đường kính trái (mm) quýt Đường không hột và có hột tại

thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long, 2013 30 3.7 Tỷ số chiều cao trái/đường kính trái quýt Đường không

hột và có hột tại thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long,

2013

32

3.8 Phẫu diện cắt ngang của quýt Đường không hột và có hột

tại thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long, 2013 37 3.9 Thể tích dịch trái của quýt Đường không hột và có hột tại

thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long, 2013

42

Trang 13

1

MỞ ĐẦU

Cam quýt là một trong các loại trái cao cấp được nhiều người ưa chuộng

và được sản xuất ở nhiều nước trên thế giới (Đường Hồng Dật, 2000) Diện tích trồng cây cam quýt ở Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) có hơn 40.000 hecta, chiếm hơn 60% tổng diện tích trồng cây cam quýt trong cả nước và là loại cây

ăn trái có diện tích lớn nhất ở ĐBSCL (Trần Văn Hâu, 2009) Có nhiều giống cam quýt được trồng nhiều ở ĐBSCL như: cam Sành, cam Mật, quýt Tiều, quýt Đường, bưởi Năm Roi Trong đó, quýt Đường được trồng phổ biến nhiều nơi

và có giá trị kinh tế cao (Trần Thượng Tuấn và ctv., 1994) Vì có cấu trúc trái

đặc biệt và thời gian lưu trữ lâu dài, trái của cây cam quýt được xuất khẩu phổ biến dưới dạng trái tươi, và nước ép trái cây từ cam quýt cũng trở nên ngày càng phổ biến trên thế giới (Pinhas và Goldschmid, 1996) Đặc điểm không hột là đặc điểm quan trọng chính yếu cho nền sản xuất nước ép (Kahn và Chao, 2004) nên những nghiên cứu và lựa chọn sản phẩm không hột đang trở thành một cải cách chính trong nền sản xuất cây ăn trái (Pinhas và Goldschmid, 1996)

Ở ĐBSCL, các nhà khoa học thuộc Đại học Cần Thơ đã phát hiện hai cá thể quýt Đường không hột tại xã Tân Phước, huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp

(Nguyễn Bảo Vệ và ctv., 2007) Nguyên nhân tạo trái hoàn toàn không hột của

hai cây quýt Đường không hột là do đặc điểm tiểu noãn phát triển muộn (Nguyễn Bá Phú, 2013) Qua thế hệ nhân giống vô tính thứ nhất được trồng tại thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh long cho thấy ngoại trừ đặc tính không hột có khác biệt rõ rệt, còn các đặc tính hình thái thực vật của hai dòng quýt Đường không hột không khác biệt với quýt Đường có hột (Đoàn Huy Lượng, 2011; Trần Thanh Sang, 2012) Tuy nhiên, các nghiên cứu khả năng cho năng suất và chất lượng trái vẫn chưa tiến hành nhiều trên hai cá thể quýt Đường không hột qua thế hệ nhân giống vô tính thứ nhất tại thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long

Do đó, để có cơ sở phát triển giống cây trồng không hột mới này trong sản xuất, việc đánh giá sự sinh trưởng, khả năng cho năng suất và chất lượng trái của hai dòng quýt Đường không hột ở thế hệ nhân giống vô tính thứ nhất cần được thực hiện

Vì thế, đề tài: ”Đánh giá sự sinh trưởng, năng suất và chất lượng trái của quýt Đường không hột ở giai đoạn cây bốn năm tuổi tại thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long” được thực hiện nhằm mục đích so sánh giữa hai dòng quýt Đường không hột và giống quýt Đường có hột về: (i) sự sinh trưởng, (ii) sự phát triển trái, (iii) năng suất và (iv) chất lượng trái

Trang 14

2

CHƯƠNG 1 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 1.1 TỔNG QUAN VỀ QUÝT ĐƯỜNG

1.1.1 Nguồn gốc

Nhiều kết quả nghiên cứu cho rằng cây cam quýt có nguồn gốc từ vùng

Đông Nam châu Á, vùng xuất xứ của giống thuộc chi Citrus bắt đầu từ Đông

Ấn Độ kéo dài sang miền Nam của Trung Quốc, qua Nhật Bản xuống đến châu

Úc (Trần Thế Tục và ctv., 1998) Các giống quýt hàng hóa có nguồn gốc từ

Trung Quốc, Nhật Bản hoặc Đông Nam châu Á, riêng quýt Satsuma có nguồn gốc hoàn toàn ở Nhật Bản (Nguyễn Bảo Vệ và Lê Thanh Phong, 2004)

Quýt có nguồn gốc từ Đông Nam Á và quần đảo Malaysia Vào năm 1805, Abraham Hume đã đem cây quýt đầu tiên đến trồng ở nước Anh và sau đó phổ biến ở vùng Maditerranean (Scora, 1975)

Theo Trần Thượng Tuấn và ctv (1999), cây quýt Đường không biết được

trồng ở ĐBSCL từ bao giờ và có phải nhập từ Thái Lan hay không, vì quýt Đường trước đây được gọi là quýt Xiêm do trái lúc còn non ít chua nên người dân Chợ Lách chở cây giống đem bán nên gọi là quýt Đường Ở Thái Lan, trái quýt giống như quýt Đường của ta được ép bán nước trái tươi ở chợ rất phổ biến

1.1.2 Phân loại

Theo Nguyễn Bảo Vệ và Lê Thanh Phong (2004), cây quýt Đường (còn

gọi là quýt Xiêm) Quýt Đường thuộc chi Citrus, nhóm nhỏ Eucitrus, họ Rutaceae và họ phụ Aurantioideae

Theo Mukhopadhyay (2004), cam quýt trong tự nhiên bình thường có bộ

nhiễm sắc thể lưỡng bội 2n = 18, và quýt Citrus reticulata Blanco thuộc họ Rutaceae, họ phụ Aurantioideae, chi Citrus có bộ nhiễm sắc thể 2n = 18 Qua

khảo sát số lượng nhiễm sắc thể của các loài cam, chanh của Việt Nam, Thiều Thị Tạo (1996) kết luận rằng nhóm cây cam quýt có 2n = 18 Đồng thời, trên cây quýt Đường có bộ nhiễm sắc thể là 2n = 18 (Phùng Thị Thanh Tâm, 2005)

Theo Nguyễn Bá Phú và ctv (2009), dựa trên phản ứng khuếch đại đặc

trưng với kỹ thuật Random Amplified Polymorphic DNA (RAPD), kết quả phân tích cho thấy giữa quýt Đường không hột với cây quýt Đường có hột có mối quan hệ di truyền gần nhau

Trang 15

3

1.2 TÌNH HÌNH SẢN XUẤT VÀ TIÊU THỤ

1.2.1 Tình hình sản xuất

Trong năm 2009 có hơn 5,4 triệu ha cây cam quýt (4,5 triệu ha cam) với

năng suất trung bình 16,3 tấn/ha (FAO, 2011 Trích dẫn của Goldhamer và ctv.,

2012) Thị trường thế giới có nhu cầu về cam quýt rất lớn Phát triển cam quýt

để thỏa mãn nhu cầu trong nước đang tăng lên nhanh chóng do đời sống của nhân dân ngày càng được cải thiện và góp phần từng bước tăng nguồn hàng xuất khẩu là yêu cầu cấp thiết và đang mở ra triển vọng to lớn cho nghề trồng cam quýt ở nước ta (Đường Hồng Dật, 2000)

Trong những năm gần đây, Việt Nam đã phát triển khá mạnh các loại cây

ăn trái với diện tích 750.500 ha (Tổng cục Thống kê, 2007) Theo Cục trồng trọt (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 2011 Trích dẫn của Phạm Văn Hiếu, 2012), diện tích cây ăn trái cả nước đạt khoảng hơn 900 nghìn ha, sản lượng khoảng 10 triệu tấn; trong đó diện tích cây ăn trái phục vụ xuất khẩu khoảng

255 nghìn ha, sản lượng trái xuất khẩu ước đạt hơn 400 nghìn tấn

1.2.2 Tình hình tiêu thụ

Sản lượng cam quýt của Việt Nam tương đương với các nước trong khu vực khoảng 7-10 tấn/ha đối với cam, 8-10 tấn đối với quýt, 10-12 tấn/ha đối với chanh nhưng thấp hơn nhiều so với các nước tiên tiến trên thế giới như: Úc, Mỹ, Brazil,… có năng suất 30-40 tấn/ha (Phạm Văn Hiếu, 2012)

1.3 ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI THỰC VẬT CAM QUÝT

Theo Nguyễn Bảo Vệ và Lê Thanh Phong (2004), quýt Đường được trồng bằng hột hay tháp, trồng bằng hột phải mất 4-5 năm mới cho trái, ngày nay người dân thích trồng cây tháp vì cho trái sớm sau 3-4 năm Năng suất trung bình mỗi cây có thể đạt 25 kg/năm Người dân thường xiết nước cho ra hoa tập trung vào khoảng tháng 1-3 đầu mùa khô

1.3.1 Đặc tính rễ

Rễ cây cam quýt phân bố nông, rễ bất định phân bố tương đối rộng và dày đặc ở tầng đất mặt, ở tầng sâu 10-30 cm, hoạt động mạnh thời kỳ 1-8 năm tuổi

sau khi trồng, sau đó suy giảm nhiều và tái sinh kém (Trần Thế Tục và ctv.,

1998) Theo Nguyễn Bảo Vệ và Lê Thanh Phong (2004) rễ cây cam quýt thường mọc cạn, đa số rễ hút dinh dưỡng phân bố gần lớp đất mặt, sự phát triển của rễ thường xen kẽ với sự phát triển của thân cành trên mặt đất

Trang 16

4

1.3.2 Đặc tính thân cành

Cam quýt thuộc dạng thân gỗ, hình bán trụ, cây trưởng thành có thể có từ 4-6 cành chính Tùy theo tuổi, điều kiện sống và phương pháp nhân giống mà cây có chiều cao và hình thái khác nhau Tán cây hình trụ hoặc hình cầu, phân cành nhiều (Hoàng Ngọc Thuận, 1995 Trích dẫn của Trần Thị Bích Vân, 2008) Quýt Đường là cây tiểu mộc, cao 2-4 m, có gai xanh (Phạm Hoàng Hộ, 2003) Khi cây quýt Đường được 5 năm tuổi có chiều cao trung bình là 4,1 m

(Trần Thượng Tuấn và ctv., 1999) và có những cây có chiều cao từ 5-5,5 m (Trần Thế Tục và ctv., 1998)

Cây quýt Đường có mật độ cành thưa, mọc thẳng đứng nên tán có dạng

elip (Trần Thượng Tuấn và ctv., 1999) Theo Trần Thế Tục và ctv (1998) quýt

Đường có tán thưa, hướng ngọn và phân cành nhiều, chiều rộng tán là 2,5 m

1.3.3 Đặc tính lá

Lá cây cam quýt gồm một phiến lá hình elip với cuống lá có một eo lá hay còn gọi là cánh lá Cánh lá có kích thước khác nhau: Rất to ở lá bưởi, nhỏ ở lá cam, khá nhỏ ở quýt và không có ở lá chanh Tây Hình dáng lá cam quýt rất khác nhau, có thể nhọn đuôi lá hoặc chẻ lõm (Phạm Văn Duệ, 2005)

Theo Trần Thượng Tuấn và ctv (1999) cho rằng lá quýt Đường thuộc lá

đơn, không rụng theo mùa, phiến lá có màu xanh, dạng lá hình mác Chiều dài

lá trưởng thành khoảng 8,4 cm và chiều rộng lá khoảng 4,2 cm Cuống lá ngắn với chiều dài trung bình 3,3 mm, cánh lá hẹp đôi khi không rõ Lá quýt Đường

có cuống không cánh, phiến lá có nhiều túi tinh dầu dễ thấy (Phạm Hoàng Hộ, 2003)

1.3.4 Đặc tính hoa

Hoa cây cam quýt thuộc loại hoa đơn hay chùm, mọc từ nách lá, thường

là hoa lưỡng tính Hầu hết các loại cây có múi đều tự thụ, tuy nhiên cũng có loài thụ phấn chéo như một số loài quýt Sự thụ phấn chéo sẽ làm tăng năng suất nhưng trái sẽ có nhiều hột (Trần Văn Hâu, 2009)

Theo Bustan và Goldschmidt (1998), ở thời kỳ hoa nở có sự phát triển các

bộ phận của hoa ngoại trừ bầu noãn Cánh hoa, bao phấn, vòi nhụy lớn hơn làm cho kích thước hoa tăng lên và các bộ phận này sẽ rụng sau thời kỳ hoa nở Hoa quýt Đường thuộc loại hoa đơn hay chùm, hoa mọc ở nách lá của đọt mới ra Hoa quýt Đường thường theo kiểu chùm ngắn nhiều hơn, đài hoa không

có lông Búp hoa có màu trắng, chiều dài trung bình 7,1 mm với cuống hoa dài 5,6 mm và hoa nở cũng có màu trắng Cánh hoa dài trung bình 14,1 mm và rộng 5,1 mm, trung bình có 24 nhị đực Bao phấn dài 1,5 mm Thời gian từ khi trổ hoa đến khi trái chín khoảng 9 tháng và có thể neo trái đến tháng thứ 10 (Trần

Thượng Tuấn và ctv., 1999)

Trang 17

5

1.3.5 Đặc tính trái

Trái được tăng trưởng và phát triển từ bầu noãn, bao gồm một số tâm bì, trái cam quýt có trên 8 tâm bì, chúng sắp xếp quanh lõi (Lima và Davies, 1984) IPGRI (1999) mô tả trái cam quýt có 7 dạng chủ yếu: hình thoi, hình chùy, hình niêm, hình trứng, hình phỏng cầu, hình bán phỏng cầu và hình bán tam giác Nguyễn Bá Phú (2013) khảo sát đặc tính trái hai dòng quýt Đường không hột đột biến tự nhiên ở ĐBSCL cho rằng trái có dạng tròn, to hơi dẹp, đáy có núm, đỉnh trái lõm Khi trái gần chín diệp lục tố dần dần biến mất và lục lạp chuyển thành sắc lạp giàu thể carotene và ngoại quả bì trở nên mỏng hơn và khi chín vỏ trái có màu xanh, láng Trái cao trung bình 5,5 cm và đường kính trái 6,2 cm,

trọng lượng trái khoảng 100-120 g (Trần Thế Tục và ctv., 1998)

Quýt Đường trung bình có 13,2 hột/trái, nặng 2,8 g và chiếm 2,5% trọng lượng trái, hột nhiều phần nào ảnh hưởng đến chất lượng trái Hột màu vàng nhạt, dạng cầu, dài 11,9 mm, rộng 8,2 mm, vỏ hột láng, tử diệp và phôi đều có

màu trắng xanh và mỗi hột trung bình có khoảng 2 phôi (Trần Thượng Tuấn và ctv., 1999)

Theo Trần Thượng Tuấn và ctv (1999), lượng nước trái nhiều, có màu

cam, thơm, ngon Nước trái có độ Brix là 9,0%, trị số pH là 3,6 và múi dai , thịt trái có màu cam, mềm, con tép lớn, lượng dịch trái nhiều, thơm ngon

1.4 ĐẶC TÍNH KHÔNG HỘT Ở CAM QUÝT

Trong thực tế sản xuất, chúng ta có thể thấy trái không hột ở những giống

có hột, có thể yếu tố ngoại cảnh đã tác động đến hiện tượng này Nguyễn Bá Phú và Nguyễn Bảo Vệ (2008) đã kết luận thời vụ có liên quan đến số hột trên trái cam Sành tại huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long, vào mùa thuận có số hột cao nhất (21,1-22,1 hột/trái) và thấp hơn vào mùa nghịch (13,9-17,5 hột/trái);

và cam Sành có khả năng trinh quả sinh, tạo và phát triển trái không cần thụ phấn

Theo Varoquaux và ctv (2000), trái cam quýt được xem là không hột khi

số hột nhỏ hơn 5 hột Ở Mỹ, trái cam được xem là không hột khi có từ 0-6 hột (Purdure University, 2005)

1.4.1 Hiện tượng trinh quả sinh

Theo Phạm Hoàng Hộ (1966), hột là điều kiện có của trái, nhưng có vài trường hợp trái phát triển mà không có hột Hiện tượng đó là trinh quả sinh, sự trinh quả sinh có thể xảy ra theo hai cách: không có thụ tinh (trinh quả sinh thật) hoặc có thụ tinh song hợp tử, hoại đi rất sớm và noãn cũng vậy (trinh quả sinh giả)

Theo Trần Văn Hâu (2009), trinh quả sinh là khả năng sản xuất trái mà không cần thụ phấn Có thể chia làm ba kiểu trinh quả sinh:

Trang 18

1.4.2 Nguyên nhân không hột ở cam quýt

Theo Chao (2004), trên cam quýt, trái không hột hoặc ít hột do giống trồng

có nhiễm sắc thể là tam bội Trái không hột có thể là do sự đực bất dục hoặc noãn bất dục hoặc do sự bất tương hợp trong đó có sự bất tương hợp do tự thụ

phấn (Jackson và Futch, 1997; Jackson và Gmitter, 1997) Theo Ollitrault và ctv (2007), sự bất dục có thể phân biệt 3 loại: Bất dục cái, bất dục đực và tự bất

tương hợp

1.4.2.1 Tam bội

Theo Zhu và ctv (2008), tam bội là tiêu chuẩn quan trọng để chọn lọc cây

trồng không hột Sự sinh sản của giống lai tam bội ở cam quýt bắt đầu tại Research Centre for Citriculture and Mediterranean Crops (CRA-ACM) năm

1978 (Starrantino và Reforgiato, 1981 Trích dẫn của Recupero và ctv., 2010)

Đối với giống có nhiễm sắc thể tam bội sẽ tạo ra trái hoàn toàn không hột, ngay

cả khi trồng chung với những loài cây có múi khác như giống quýt Tahoe Gold (Chao, 2004)

Theo Raza và ctv (2003), giống tam bội trên cam quýt có thể được tạo ra

bằng nhiều cách như: thụ phấn chéo giữa cây nhị bội và cây tứ bội, kỹ thuật cứu phôi, sự chiếu xạ, nuôi cấy phôi nhũ và công nghệ sinh học hiện đại Cây tam bội sẽ cho trái không hột ngay cả khi thụ phấn chéo với giống khác (Jackson và Gmitter, 1997)

1.4.2.2 Hiện tượng tự bất tương hợp

Theo Reed (2003), tự bất tương hợp là sự tạo thành giao tử đực và cái không có khả năng thụ phấn, từ đó không có khả năng tạo thành hột Sự tự bất tương hợp có thể do sự ngăn cản quá trình vươn dài của hạt phấn cùng loài trong vòi nhụy

Trên quýt Satsuma và Monica trong quá trình thụ phấn, ống phấn vươn tới bầu noãn chỉ trong 2 ngày, nhưng đối với hoa tự thụ phấn thì không tìm thấy ống phấn trong bầu noãn 8 ngày Quýt Satsuma không có ống phấn vươn tới

bầu noãn do có sự tự bất tương hợp khi tự thụ phấn (Alvarado và ctv., 2004)

Có 2 hệ thống tự bất tương hợp là tự bất tương hợp giao tử và tự bất tương hợp bào tử Đặc tính bất tương hợp bào tử là ức chế sự nảy mầm của hạt phấn, bất tương hợp giao tử thường làm chậm sự phát triển của ống phấn (Jackson và

Trang 19

7

Gmitter, 1997) Kết quả nghiên cứu của Lê Văn Bé và Nguyễn Văn Kha (2010)

đã khẳng định nguyên nhân không hột của bưởi Năm Roi là tự bất tương hợp

và sẽ có hột khi được thụ phấn chéo với hạt phấn của cây cam quýt khác (bưởi Lông, bưởi Da Xanh, cam Sành)

1.4.2.3 Hiện tượng bất dục giao tử

Trần Thượng Tuấn (1992) cho rằng tính bất dục giao tử là không có khả năng tạo ra hạt phấn Nhiều giống cây trồng thực tế là không hột bởi khả năng hạt phấn sống thấp hoặc bầu noãn bất dục (Frost và Soost, 1968)

Trần Thượng Tuấn (1992) cho rằng nguyên nhân của hiện tượng đực bất dục là do giao tử đực không có sức sống Hiện tượng đực bất dục có cả ở cây tự thụ phấn cũng như cây giao phấn là do các đột biến làm ngừng trệ sự phát triển của giao tử đực vào những giai đoạn khác nhau Đực bất dục thường thấy trong

tự nhiên có thể do nhiều nguyên nhân khác nhau gây ra như điều kiện bất lợi của môi trường, yếu tố di truyền như sai hình nhiễm sắc thể, hay do các gen trong nhân tế bào, do yếu tố di truyền trong tế bào chất hoặc do sự tác động tổng hợp của các yếu tố di truyền trong nhân và tế bào chất

Yamamoto và ctv (1995) cho rằng mức độ hữu dục hay bất dục cái có thể

được đánh giá trên cơ sở số hột trung bình của trái thông qua thụ phấn bằng tay

Có tương quan chặt (r = 0,93) giữa số hột trên trái khi được thụ phấn bằng tay

và thụ phấn tự do Kết quả này đã chỉ ra rằng bất dục cái có liên quan trực tiếp đến khả năng tạo hột

1.4.2.4 Hiện tượng biến dị và đột biến

Theo Spiegel-Roy và Goldschmidt (1996), đột biến liên quan đến thay đổi trong Deoxyribo Nucleic Acid (DNA) thường thấy ở cây cam quýt và tỷ lệ xuất hiện thay đổi theo từng giống Tần số xuất hiện của đột biến có thể ảnh hưởng bởi môi trường, trong quá trình trồng trọt như xén tỉa cành Đột biến làm xuất hiện những đặc tính có ích như không hột, chín sớm, chín muộn, trái ít chua, trái có màu sắc đẹp đã được tìm thấy, chọn lọc và sử dụng như cam Navel, Clementine, quýt Satsuma Tuy nhiên, cũng có những đột biến không có ích như làm năng suất thấp, trái dị thường, phẩm chất kém, cấu trúc và kích thước lá thay đổi Đột biến gây nên bất dục hạt phấn và noãn làm xuất hiện trinh quả sinh

Đột biến tự nhiên là hiện tượng rất phổ biến ở cây cam quýt, nguyên nhân

có thể do các yếu tố di truyền không ổn định gây ra (Cameron và Frost, 1968 Trích dẫn của Trần Thị Bích Vân, 2008) Đột biến tự nhiên và biến dị thường

được tìm thấy ở cây cam quýt (Nito và ctv., 1996; Raza, 2003)

Trang 20

8

1.4.3 Nguyên nhân không hột của quýt Đường không hột

Theo Nguyễn Bá Phú (2013), lúc hoa nở là thời điểm tốt nhất cho sự thụ phấn, thụ tinh và tạo hột Vào lúc này, trên cây quýt Đường có hột, qua hình thái giải phẫu bầu noãn cắt ngang, hầu hết tiểu noãn đã trưởng thành Trong khi

đó, ở cây quýt Đường không hột, tiểu noãn lại chưa phát triển Đến thời điểm hoa tàn (khoảng 2-3 ngày sau khi hoa nở) thì tiểu noãn trên quýt Đường không hột mới phát triển, nhưng kích thước còn nhỏ chưa đạt đến kích thước của tiểu noãn trưởng thành Vì vậy, dù có thụ phấn vào thời điểm này (rất khó xảy ra do hoa đã tàn, nướm nhụy đã khô, chuyển màu và không còn khả năng nhận phấn), thì việc thụ tinh cũng khó thực hiện được do tiểu noãn chưa trưởng thành Chính đặc điểm tiểu noãn “phát triển muộn”, không đồng bộ với các bộ phận khác của hoa là nguyên nhân làm cho trái không hột trên cây quýt Đường không hột Đặc điểm tiểu noãn trưởng thành muộn hơn vài ngày so với thời điểm hoa

nở cũng được ghi nhận trên giống cam Washington Navel và quýt Satsuma (Jackson và Gmitter, 1997), là những giống cam quýt không hột trên thế giới Mặc dù có thể xảy ra quá trình thụ phấn nhưng không thể thực hiện thụ tinh vì chưa có tiểu noãn trưởng thành, điều này dẫn đến sự không hột của trái (Nguyễn

Bá Phú, 2013)

1.5 YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG SỰ PHÁT TRIỂN TRÁI CAM QUÝT

Theo Vũ Văn Vụ (1998), sự sinh trưởng của bầu noãn thành trái và sự lớn lên của trái là kết quả của sự phân chia tế bào và sự giãn dài tế bào Ngoài ra, trong một vài trường hợp sự sinh trưởng của trái còn do sự tăng trưởng của các khoảng gian bào đặc biệt là giai đoạn sau Sự tăng về thể tích, khối lượng tươi, khô và đường kính của trái xảy ra nhanh sau khi thụ phấn Quá trình sinh trưởng của trái được điều chỉnh bằng hoocmon nội sinh Sự sinh trưởng của bầu noãn xảy ra mạnh mẽ nếu có số lượng hạt phấn rơi trên nướm nhụy càng nhiều, vì hạt phấn là nguồn giàu auxin

Nguyễn Kim Thành và Châu Ngọc Thuận (2005) đã nhận định rằng hàm lượng auxin trong bầu noãn của các loài có hột cao hơn nhiều so với các loài không hột, khi phân tích hàm lượng auxin trong bầu noãn của các loài có hột và không hột

1.5.1 Nhiệt độ

Theo Trần Văn Hâu (2009), một số đặc tính trái như kích thước, hình dạng, thời gian chín, bị ảnh hưởng rất mạnh bởi yếu tố khí hậu Trong đó, nhiệt độ

có ảnh hưởng quan trọng đến phẩm chất và sự phát triển trái (Nguyễn Bảo Vệ

và Lê Thanh Phong, 2004) Tỷ lệ sinh trưởng của trái tối hảo trong điều kiện nhiệt độ từ 20-25oC, nhiệt độ thấp hơn 30oC và thấp hơn 13oC ức chế sự sinh trưởng của trái Khí hậu ẩm lạnh, trái sẽ phát triển hơn khí hậu khô nóng (Trần

Trang 21

9

Văn Hâu, 2009) Nhiệt độ chênh lệch ngày và đêm lớn trái sẽ phát triển nhanh Nhiệt độ ban đêm không quá cao có lợi cho việc tích lũy và phát triển trái Tuy nhiên nhiệt độ ban đêm quá thấp làm cho các hoạt động này kém đi Ở giai đoạn cuối của trái, nhiệt độ có ảnh hưởng đến độ lớn của trái (Hoàng Ngọc Thuận,

1995 Trích dẫn của Trần Thị Mỹ Hương, 2012)

Theo Vũ Công Hậu (1999), ở miền Nam nước ta có trở ngại là đôi khi nhiệt độ quá cao Cam quýt có thể chịu đựng được những nhiệt độ cao tới 52oC trong thời gian ngắn nhưng ở nhiệt độ 36oC các hoạt động sinh lý hóa đã ngừng hẳn Các nước nhiệt đới, không có rét, không có thời gian cho cây nghỉ, hoa thường ra sau những đợt có trận mưa rào, vùng này một năm cây ra hoa nhiều

lần và quanh năm đều có trái chín (Nguyễn Hữu Đống và ctv., 2003) Theo

Spiegel-Roy và Goldschmidt (1996), giống cam Valencia nếu trồng ở California cần 9-14 tháng trái mới chín, còn ở Colombia chỉ cần 6,5 tháng trái đã chín Như vậy, điều kiện khí hậu ở Colombia có thể trồng cam quýt 2 vụ trong năm

so với California

1.5.2 Nước

Theo Lê Văn Hòa và Nguyễn Bảo Toàn (2004) nước ảnh hưởng đến sinh trưởng của thực vật rất lớn Trước hết là ảnh hưởng đến sự hấp thu và thoát hơi nước, ảnh hưởng đến sự vận chuyển các chất tan trong cây, ảnh hưởng đến các phản ứng sinh hóa xảy ra trong cây, ảnh hưởng đến sự giãn dài tế bào, đến các hoạt động hô hấp, chuyển hóa trong cơ quan Nước rất cần thiết cho cam quýt

trong thời kỳ ra hoa kết quả và phát triển trái mạnh (Trần Thế Tục và ctv., 1998)

Theo Phạm Văn Côn (2004), cam quýt cần nhiều nước ở các thời kỳ nảy mầm, phân hóa mầm hoa, thời kỳ kết trái và phát triển trái Yêu cầu nước của các giống loài có khác nhau: chanh cần nhiều nước hơn quýt, quýt cần nhiều nước hơn cam

1.5.3 Ẩm độ

Ở thời kỳ hoa nở cần ẩm độ không khí thấp 70-75% Thời kỳ phát triển

ẩm độ cao trái sẽ phát triển nhanh, phẩm chất tốt (Trần Thế Tục và ctv., 1998)

Trang 22

tấn công và ảnh hưởng xấu đến phẩm chất trái (Nguyễn Hữu Đống và ctv.,

2003) Ngoài ra N còn là nguyên liệu hợp thành sinh trưởng tố (Trần Thượng

Tuấn và ctv., 1994) Lân (P) giúp tán lá sinh trưởng tốt, cải thiện màu sắc lá

Ngoài ra, P giúp điều hòa lượng N trong cây Kali (K) có ảnh hưởng lớn (trái

to, ngọt hơn), làm chắc mô, giúp cây chịu được rét (Nguyễn Hữu Đống và ctv.,

2003) Nhu cầu K cao nhất vào lúc cây ra trái và trái lớn Cần bón K với số

lượng đủ, đảm bảo cho trái phát triển tối ưu (Trần Thượng Tuấn và ctv., 1994) Theo Nguyễn Hữu Đống và ctv (2003) Calcium cũng là chất cần thiết cho cam

quýt phát triển bình thường Calcium cần cho cam quýt tương đương với N

1.6 YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG TỶ LỆ ĐẬU TRÁI CAM QUÝT

Sự đậu trái là sự phát triển nhanh của noãn mà thường theo sau bằng sự thụ phấn và thụ tinh Sự xảy ra không qua thụ phấn, thụ tinh với trái không hột gọi là trinh quả sinh (Nguyễn Minh Chơn, 2005)

Theo Trần Thượng Tuấn và ctv (1994), cây thường cho nhiều hoa nhưng

chỉ có một tỷ lệ nhỏ trái phát triển Tỷ lệ đậu trái bị ảnh hưởng bởi các yếu tố như: chất dinh dưỡng, lượng nước cung cấp, khí hậu, sâu bệnh, Hoa và trái non có thể bị rụng, thời kỳ này có thể kéo dài đến 10-12 tuần sau khi hoa nở

1.6.1 Nhiệt độ và sự khô hạn

Theo Trần Văn Hâu (2009), sự đậu trái ảnh hưởng rất mạnh bởi nhiệt độ

và sự khô hạn Thông thường sự rụng trái non bắt đầu sau khi ra hoa cho đến

3-4 tuần sau khi hoa nở Sự rụng trái non xảy ra nghiêm trọng khi nhiệt độ trên mặt lá từ 35-40oC hoặc khi cây bị khô hạn Nhiệt độ cao và sự khô hạn nghiêm trọng làm cho khí khẩu bị đóng dẫn đến giảm đồng hóa khí CO2 và sự rụng trái non gây ra bởi sự mất cân bằng carbon

Sự ra hoa cây cam quýt kéo dài trong một tháng hoặc lâu hơn ở khí hậu cận nhiệt đới Tuy số lượng hoa ra nhiều nhưng tỷ lệ đậu trái thấp (2,5-5,4%), như giống cam Valencia Quýt “Nagpur” và nhiều loại cam quýt thương phẩm khác cũng phát triển tương tự Các yếu tố khí hậu ảnh hưởng đến đậu trái, đặc

Trang 23

làm cho lá và trái non rụng nhiều (Trần Thượng Tuấn và ctv., 1994)

1.6.3 Nước

Lúc ra lộc, chồi non, hoa đang nở và trái đang đậu mà thiếu nước thì trái

non rụng nhiều (Nguyễn Văn Luật, 2006) Theo Trần Thượng Tuấn và ctv

(1994), nhu cầu về nước trong các thời kỳ sinh trưởng và phát triển được tóm tắt như sau: ở giai đoạn hoa nở, đậu trái và phát triển các lộc mới, cần có nước đầy đủ Chỉ hơi thiếu nước thôi cũng làm cho lá nhỏ đi, lộc ngắn lại Thiếu nước trầm trọng làm cho lá, lộc kém phát triển, hoa không nở hết, đậu trái kém và bị rụng nhiều

1.6.4 Gió, ẩm độ đất và không khí

Tốc độ gió vừa phải ảnh hưởng tốt đến lưu thông khí, điều hòa độ ẩm, giảm sâu bệnh, cây sinh trưởng tốt Nhưng tốc độ gió lớn ảnh hưởng đến khả năng đồng hóa của cây cam quýt (Hoàng Ngọc Thuận, 2000) Ẩm độ đất và không khí cũng có ảnh hưởng đến tỷ lệ đậu trái cam quýt Độ ẩm không khí quá cao gây hiện tượng nức và rụng trái (Hoàng Ngọc Thuận, 1995 Trích dẫn của Trần Thị Mỹ Hương, 2008)

1.6.5 Dinh dưỡng

Tình trạng dinh dưỡng của cây cũng ảnh hưởng đến tỷ lệ đậu trái Việc cung cấp đủ dinh dưỡng cây thường cho ra những cành đơn có nhiều lá và một hoa có khả năng đậu trái cao (Đường Hồng Dật, 2003) Tỷ lệ C/N có liên quan đến sự hình thành và sự rụng trái (Hoàng Đức Phương, 2000) Theo Trần Thượng Tuấn (1994), khi thiếu N, lá vàng, trái non rụng và chồi sẽ chết Cây thiếu P lá nhỏ hơn bình thường và có thể rụng sớm, trái có thể rụng nhiều trước khi chín Việc cung cấp P cho những cây cam quýt bị thiếu giúp tán lá sinh trưởng tốt, cải thiện màu sắc lá, tăng số lượng cành mang trái và tăng tỷ lệ đậu trái tốt

1.6.6 Bộ tán lá trên cây, số lá trên phát hoa

Bộ tán lá cây cũng có ảnh hưởng đến tỷ lệ đậu trái, nếu mỗi trái được nuôi bởi một số lá thích hợp thì sẽ phát triển tốt hơn Cam quýt cần khoảng 50 lá/trái (trung bình là 20-25 lá/trái) Việc duy trì bộ tán lá khỏe, nhiều sẽ giúp trái đậu

và phát triển tốt (Nguyễn Bảo Vệ và Lê Thanh Phong, 2004)

Trang 24

12

Theo Lê văn Hòa và Nguyễn Bảo Toàn (2004), lá là cơ quan quang hợp quan trọng của cây Lá tổng hợp nên các chất hữu cơ, đường, tinh bột để nuôi cây và tạo năng suất trái Số lá nuôi một trái nhiều thì trái to hơn (Phạm Văn Duệ, 2005) Theo Trần Văn Hâu (2009), phát hoa có lá đậu trái cao hơn phát hoa không có lá; Chồi có tỷ lệ lá/hoa cao sẽ có tỷ lệ giữ trái đến khi thu hoạch cao

Theo Trần Văn Hâu (2009), có 5 loại chồi trên cây có múi sau khi kích thích ra hoa: chồi sinh sản chỉ mang hoa trên cành hình thành mùa trước, không

có mang lá; chồi hỗn hợp có mang một ít hoa và lá; chồi hỗn hợp có mang nhiều hoa và một ít lá lớn; chồi hỗn hợp có mang ít hoa và nhiều lá; chồi sinh trưởng chỉ mang lá Trong các loại chồi nói trên thì chồi hỗn hợp có mang ít hoa và nhiều lá có tỷ lệ giữ trái đến khi trưởng thành cao nhất Phát hoa mang lá có tỷ

lệ đậu trái cao hơn do gia tăng sự đồng hóa CO2 và mức độ cung cấp carbohydrate hoặc do sự nối các mạch nhựa được cải thiện để làm trung gian cho trái phát triển

1.7 YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG CHẤT LƯỢNG TRÁI CAM QUÝT 1.7.1 Ảnh hưởng của các yếu tố sản xuất đến chất lượng trái sau thu hoạch

Có sự tương quan giữa các điều kiện sản xuất và chất lượng sau thu hoạch nếu muốn đạt được chất lượng tốt nhất và ổn định đến tay người tiêu thụ Nhiều yếu tố sản xuất có thể ảnh hưởng đến chất lượng sau thu hoạch, sau khi chín và bảo quản Các yếu tố sơ cấp trước thu hoạch gồm khí hậu, dinh dưỡng và các chất điều hòa sinh trưởng thực vật Các yếu tố thứ cấp là chất lượng và quản lý đất bao gồm các tác động nơi trồng, chế độ tưới, loại đất, chất lượng gốc ghép, che mát, dinh dưỡng đến thị hiếu, chất lượng ăn nếm (Winsor, 1979; Ferguson,

1980; Shear, 1980; Sharples, 1984; Beverly và ctv., 1993; Hofman và ctv., 1997

Trích dẫn của Trần Ngọc Phương Anh, 2010)

Có thể xem chất lượng trái là một hàm số của các dòng năng lượng, nước

và dinh dưỡng chuyển dịch trong cây trồng (Beverly và ctv., 1993 Trích dẫn của

Trần Ngọc Phương Anh, 2010), nếu có sự mất cân đối của các dòng này thì chất lượng trái sẽ sẽ bị ảnh hưởng Có rất nhiều yếu tố, tuy nhiên có những yếu tố ảnh hưởng đến dinh dưỡng và sự hấp thu dinh dưỡng bao gồm:

1.7.1.1 Nơi trồng

Theo Hofman và ctv (1997) đã có nhiều báo cáo về ảnh hưởng của nơi

trồng đến chất lượng trái Các yếu tố gây nên sinh trưởng nhanh hoặc sinh trưởng khác nhau của trái có thể ảnh hưởng đến các khuyết tật của trái như nứt

vỏ và có màu nâu dịu hơi đỏ Các điều kiện tối ưu cho sinh trưởng của trái có thể làm rút ngắn thời gian chín vàng của trái hoặc làm tăng thời gian xanh của

Trang 25

độ cao, hàm lượng acid cao nhất ở vùng sa mạc hoặc vùng sa mạc Á nhiệt đới Tổng tích ôn có ảnh hưởng đến thời gian chín của trái Tổng tích ôn trung bình hằng năm cho cam là 2.600-3.400oC, bưởi là 6.000oC (tính từ 12oC trở lên làm khởi điểm và nhiệt độ trung bình hằng năm lớn hơn 15oC) Nhiệt độ còn ảnh hưởng quan trọng đến chất lượng và sự phát triển trái Thường ở nhiệt độ cao, trái chín sớm, ít xơ và ngọt, nhưng khả năng tồn trữ kém và màu sắc trái chín không đẹp trong khi nhiệt độ thấp các sắc tố hình thành nhiều hơn Ở miền Nam thường biên độ nhiệt giữa ngày và đêm không cao nên khi chín vỏ trái thường có màu xanh, tuy nhiên yếu tố tạo màu sắc khi chín còn ảnh hưởng đến

giống trồng (Lê Thanh Phong và ctv., 1994 Trích dẫn của Trần Ngọc Phương

Anh, 2010)

Nhìn chung nhiệt độ đất và không khí có ảnh hưởng đến toàn bộ hoạt động của cam quýt: phát lộc sinh cành mới, sự hoạt động của bộ rễ, nhiệt độ chênh lệch ngày và đêm lớn trái sẽ phát triển nhanh, ảnh hưởng đến khả năng tích lũy

và vận chuyển đường, acid trong cây và trái (Hoàng Ngọc Thuận, 2000)

- Ánh sáng

Các yếu tố làm giảm sự tiếp cận ánh sáng của trái hoặc các lá kề dưới dẫn đến giảm TSS, và thường có độ acid cao hơn Màu sắc vỏ trái, đặc biệt là màu

đỏ và xanh, thường bị giảm (Combrink và ctv., 1995) Cam quýt là loại cây

không ưa ánh sáng trực xạ Cường độ ánh sáng thích hợp từ 10.000-15.000 lux tương đương ánh sáng khoảng 8 giờ sáng và 4-5 giờ chiều trong ngày mùa hè Cường độ ánh sáng quá cao có thể làm nám trái, mất nước nhiều, sinh trưởng

kém dẫn đến tuổi thọ kém (Lê Thanh Phong và ctv., 1994) Ánh sáng thấp có

thể làm giảm độ chắc của trái lúc thu hoạch và sau khi bảo quản, và tăng mức

độ hao hụt khối lượng trái trong thời gian bảo quản, nhưng ở các mức độ khác nhau Điều này có thể một phần do sự tương tác ánh sáng với quá trình phát

Trang 26

14

triển và chín của trái (Combrink và ctv., 1995) Ánh sáng thấp có thể làm tăng

mức độ bệnh sau thu hoạch Ánh sáng thấp có liên quan đến giảm kích thước trái Ánh sáng cũng có ảnh hưởng đến đặc tính chín của trái, nhưng thông tin về

vấn đề này tương đối ít (Hofman và ctv., 1997)

Sansavini và Corelli-Grappadelli (1997) cho rằng tỉa tán là một phương pháp quan trọng kiểm soát chất lượng trái vì cắt tỉa cành sẽ tối ưu hóa hiệu quả quang hợp và giảm tác động xấu của che sáng lên sự phân chia carbon

1.7.2 Kỹ thuật trồng

1.7.2.1 Giống, vị trí trái trên cây và gốc tháp

Kiểu gene của chồi ghép có ảnh hưởng rõ rệt đến chất lượng trái, những kiểu gen của gốc ghép cũng có ảnh hưởng đến chất lượng Điều này có thể thấy được qua ảnh hưởng của gốc ghép đến quá trình hút chất khoáng và sức sống

dinh dưỡng (Hofman và ctv., 1997) Sử dụng các gốc ghép từ hột có thể dẫn đến

sự khác biệt về nồng độ chất khoáng trong trái và sự biến động về chất lượng trái

Vị trí trái trên cây ảnh hưởng lớn đến các đặc tính hóa lý trong trái (Datio

và Tominaga, 1981) Chất lượng trái được tìm thấy có ảnh hưởng bởi vị trí trái trên cây và có tương quan cao với mức độ truyền ánh sáng mà cây nhận được

(Tustin và ctv., 1988) Izumi và ctv (1990) cho rằng các trái ở vị trí ngoài tán

có hàm lượng các chất rắn và hàm lượng dịch trái cao hơn vị trí trong tán

Theo Ahmad và ctv (2009), kết quả nghiên cứu trên trái quýt Kinnow ở

các vị trí trái khác nhau trên cây có đặc tính hóa lý khác nhau, vị trí trái trên cây

có ảnh hưởng nhiều đến đặc tính của trái như khối lượng trái, khối lượng vỏ, khối lượng thịt trái và phẩm chất trái… Trái ở giữa có nồng độ TSS và Calcium (Ca) cao hơn và vị trí cành mang trái cũng ảnh hưởng đến hình dạng trái

(Hofman và ctv., 1997)

Theo Aubert và Vullin (2001), việc nhân giống các cây ăn trái bằng phương pháp tháp đã trở thành một phương tiện tối ưu dẫn đến việc tận dụng được các ưu điểm về di truyền trong một thời gian tương đối ngắn Theo Hà Thị

Lệ Ánh (2006), chất lượng trái được xác định bởi kiểu gene của cành tháp, không bị kiểu gene của gốc tháp làm giảm đi Việc lựa chọn gốc tháp thì quan trọng và có ảnh hưởng đến chất lượng trái (Rouse và Mongi Zekri, 2002) Aubert và Vullin (2001) cho rằng tùy theo loại gốc tháp đã sử dụng, chất lượng trái thu hoạch của giống thương phẩm của một loại gốc tháp nào đó như cam quýt, hay các giống lai sẽ có thể thay đổi một cách đáng kể về kích thước trái, độ dày và màu sắc vỏ trái hoặc hàm lượng nước, hàm lượng đường và acid trong trái

Trang 27

15

1.7.2.2 Dinh dưỡng

Giữa tỷ lệ lá/trái và kích cỡ trái thường có mối tương quan Sự tích lũy dinh dưỡng có ảnh hưởng đến kiểu chín thông qua mối tương tác với độ thành thục của trái và nồng độ chất khoáng đặc biệt là Ca Ở những cây có tỷ lệ lá/trái cao hơn, nồng độ đường và TSS có thể tăng do giảm sự cạnh tranh về carbohydrate có sẵn Độ chắc có thể bị giảm do sự biến động về kích thước trái

và Ca Sự rối loạn và bệnh trái thường nghiêm trọng hơn ở những trái có tỷ lệ

lá/trái cao hoặc sức sinh dưỡng mạnh (Hofman và ctv., 1997)

Theo Yara (2006) (Trích dẫn của Trần Ngọc Phương Anh, 2010), N gia tăng màu sắc vỏ, độ dày vỏ, và hàm lượng acid, giảm acid ascorbic, tỷ lệ TSS/Acid, không ảnh hưởng đến hàm lượng TSS và nước trong trái; P giữ vai trò rất quan trọng trong việc làm tăng hàm lượng nước trái, ảnh hưởng đến kích

cỡ và độ dày vỏ, không ảnh hưởng đến chất lượng bên trong (TSS, acid, TSS/Acid, acid Ascorbic) K gia tăng độ dày vỏ, thuận lợi cho vận chuyển thị trường xa, gia tăng hàm lượng acid ascorbic, giảm đốm hư vỏ trái sau thu hoạch,

K không ảnh hưởng nhiều đến màu sắc vỏ, TSS và hàm lượng nước trái ở vùng

Ôn đới Ca giảm hư hỏng (đóm vỏ) và giảm hàm lượng acid

tố sản xuất làm gia tăng sự mất nước trong thời gian bảo quản có thể làm giảm

chất lượng trái (Hofman và ctv., 1997)

Trang 28

16

CHƯƠNG 2 PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP 2.1 PHƯƠNG TIỆN

2.1.1 Thời gian và địa điểm

Thời gian: thí nghiệm được thực hiện từ tháng 09/2012 đến tháng 11/2013

Địa điểm: Trại Giống Cây ăn trái Vĩnh Long, thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long Phân tích mẫu tại phòng thí nghiệm bộ môn Khoa học cây trồng, khoa Nông nghiệp và Sinh học Ứng dụng, trường Đại học Cần Thơ

Nghiệm thức 1: dòng quýt Đường không hột số 1

Nghiệm thức 2: dòng quýt Đường không hột số 2

Nghiệm thức 3: giống quýt Đường có hột (đối chứng)

2.2.2 Kỹ thuật canh tác

Kỹ thuật canh tác chính theo qui trình trồng, chăm sóc và thu hoạch cây cam quýt ở các tỉnh phía Nam của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (2001), được nêu cụ thể trong tài liệu tiêu chuẩn ngành “Quy trình trồng, chăm sóc và thu hoạch cây có múi ở các tỉnh phía Nam” (10 TCN 481 – 2001)

2.2.3 Các chỉ tiêu theo dõi

2.2.3.1 Sự sinh trưởng của cây

Các chỉ tiêu sinh trưởng được ghi nhận 3 tháng/lần gồm:

- Đường kính gốc tháp (mm): đo ở vị trí cố định phía dưới mắt tháp 10 cm

- Đường kính thân tháp (mm): đo ở vị trí cố định phía trên mắt tháp 10 cm

- Tỷ số đường kính thân tháp/đường kính gốc tháp

- Chiều cao cây (cm): đo từ mặt đất đến đỉnh chồi cao nhất của cây

- Chiều rộng tán cây (cm): đo từ hai chóp lá rộng nhất của cây

Trang 29

17

2.2.3.2 Sự phát triển trái

Thực hiện 5 lần lặp lại ở 3 nghiệm thức Chọn ngẫu nhiên 10 trái/cây để

đo sự phát triển kích thước trái hằng tháng (4-36 tuần sau khi đậu trái) với các chỉ tiêu:

- Chiều cao trái (mm): đo chiều cao ở vị trí lớn nhất của trái

- Đường kính trái (mm): đo đường kính ở vị trí lớn nhất của trái

- Tỷ số chiều cao trái/đường kính trái

2.2.3.3 Năng suất và chất lượng trái

a Năng suất

Thực hiện 5 lần lặp lại ở 3 nghiệm thức với các chỉ tiêu:

- Tỷ lệ đậu trái (%): chọn mỗi cây 50 phát hoa/cây (loại phát hoa có lá và

chỉ có 1 hoa/phát) Định kỳ hằng tháng ghi nhận số trái đậu Quy ra % đậu trái

- Độ dày vỏ (mm): trung bình độ dày 3 vị trí đại diện ngẫu nhiên

- Số túi dầu/cm2 vỏ: trung bình số túi dầu 3 vị trí đại diện ngẫu nhiên

- Số múi: đếm tổng số múi có trong trái

- Đường kính lõi (mm): đo đường kính đại diện của lõi

- Số lượng hột/trái: đếm tất cả số hột chắc và lép trên trái

- Số lượng mài: dấu vết của tiểu noãn không phát triển (Nguyễn Bảo Vệ

và ctv., 2007)

- Tổng số tiểu noãn = số hột chắc + số hột lép + số mài

- Trọng lượng trái, vỏ, hột (Wtrái, Wvỏ, Whột) (g): đo bằng cân phân tích

(Tanita - Nhật)

- Trọng lượng vách múi và vỏ con tép Wvách múi và vỏ con tép (g): trọng lượng

phần còn lại của thịt trái khi lấy hết dịch trái

- Trọng lượng phần ăn được Wăn được(g) = Wtrái – (Wvỏ + Whột)

- Trọng lượng dịch trái Wdịch trái (g) =Wăn được – Wvách múi và vỏ con tép

- Tỷ lệ (%) trọng lượng vỏ/trái = (Wvỏ/Wtrái) x 100

- Tỷ lệ (%) trọng lượng vách múi và vỏ con tép/trái = (Wvách múi và vỏ con tép/Wtrái) x 100

- Tỷ lệ (%) trọng lượng hột/trái = (Whột/Wtrái) x 100

- Tỷ lệ (%) trọng lượng ăn được/trái = (Wăn được/Wtrái) x 100

Trang 30

18

- Tỷ lệ (%) trọng lượng dịch trái/trái = (Wdịch trái/Wtrái) x 100

- Thể tích dịch trái Vdịch trái (ml) =Wdịch trái/d (d: tỷ trọng (g/ml))

- Độ pH: dịch trái sau khi ép được đo bằng máy đo pH hiệu ORION

(USA)

- Độ Brix (%): dịch trái sau khi ép được đo bằng khúc xạ kế hiệu ATAGO

(Nhật sản xuất)

- Hàm lượng Vitamin C (acid ascorbic) trong dịch trái: định lượng vitamin

C chuẩn độ với 2,6 dichlorophenol indophenol (Muri, 1990 được trích dẫn bởi

Nguyễn Minh Chơn và ctv., 2005), cụ thể như sau:

+ Bước 1: cân 5 g dịch trái

+ Bước 2:

Chuẩn bị mẫu thật: cho 10 ml HCl 1% và 35 ml acid oxalic 1% vào

5 ml dịch trái Lọc lấy dịch trong

Chuẩn bị mẫu blank: thực hiện tương tự mẫu thật nhưng thay thế 5

ml dịch trái bằng 5 ml nước cất

+ Bước 3:

Mẫu thật: dùng Pipet lấy 10 ml dịch lọc cho vào beaker 50 ml Cho 2,6 dichlorophenol indophenol sodium salt dehydrate 0,001 N vào Buret để chuẩn độ dịch lọc Ngưng chuẩn độ khi thấy dịch lọc chuyển sang màu hồng nhạt bền sau 30 giây Ghi nhận thể tích 2,6 dichlorophenol indophenol sodium satl dehydrate 0,001N đã sử dụng ở Buret

Số mg vitamin C trong 100 g mẫu vật được tính như sau:

X (mg 100g⁄ ) = (a − b) x 0,088 V1

V2 x m x 100 Trong đó:

a: số ml trung bình khi chuẩn độ mẫu thật

b: số ml trung bình khi chuẩn độ mẫu blank

V1: thể tích dung dịch chiết ban đầu (50 ml)

V2: thể tích dung dịch chiết lấy để chuẩn độ (10 ml)

Trang 31

19

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 3.1 SỰ SINH TRƯỞNG CỦA 2 DÒNG QUÝT ĐƯỜNG KHÔNG HỘT TẠI VĨNH LONG

Quá trình sinh trưởng có thể được xem như là sự tăng lên về mặt kích thước, về mặt trọng lượng và số lượng (Lê Văn Hòa và Nguyễn Bảo Toàn, 2005) Do đó, sự sinh trưởng của hai dòng quýt Đường không hột được đánh giá qua sự tăng trưởng của đường kính gốc tháp, đường kính thân tháp, tỷ số đường kính thân tháp/đường kính gốc tháp, chiều cao cây và chiều rộng tán

3.1.1 Đường kính gốc tháp

Đường kính gốc tháp của quýt Đường không hột số 1, quýt Đường không hột số 2 và quýt Đường có hột (đối chứng) được biểu diễn ở Hình 3.1 Cụ thể như sau: đường kính gốc tháp của 2 dòng quýt Đường không hột và quýt Đường

có hột tại các thời điểm 33 tháng sau khi trồng dao động trong khoảng 41,6-44,7 mm; 42,8-45,9 mm (36 tháng sau khi trồng); 43,7-47,3 mm (39 tháng sau khi trồng) và thời điểm 42 tháng sau khi trồng trong khoảng 45,2-48,9 mm (Phụ bảng 1.1) Tuy nhiên, qua phân tích thống kê cho thấy đường kính gốc tháp của

2 dòng quýt Đường không hột khác biệt không ý nghĩa với nhau và với quýt Đường có hột tại các thời điểm khảo sát

Hình 3.1 Đường kính gốc tháp (mm) của quýt Đường không hột và có hột tại thành

Quýt Đường không hột số 2Quýt Đường có hột (Đối chứng)

|: Các giá trị trên cùng 1 đường

thẳng khác biệt không ý nghĩa

Trang 32

20

Kết quả thí nghiệm đường kính gốc tháp của Trần Thanh Sang (2012) tiến hành trên cùng nền thí nghiệm ở giai đoạn cây 3 năm tuổi tại thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long cho thấy sự sinh trưởng đường kính gốc tháp của quýt Đường không hột số 1 tương đương quýt Đường không hột số 2, đồng thời đường kính gốc tháp của 2 dòng quýt Đường không hột không khác biệt với quýt Đường có hột Bên cạnh đó, kết quả được trình bày ở Phụ bảng 1.1 cũng phù hợp với kết quả ở giai đoạn cây 4 năm tuổi được Dương Thị Xuân Mai (2012) nghiên cứu tại huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp

Tóm lại, đường kính gốc tháp của 2 dòng quýt Đường không hột tương đương nhau và tương đương quýt Đường có hột (đối chứng) Vì vậy sự sinh trưởng đường kính gốc tháp của 2 dòng quýt Đường không hột không khác biệt với nhau và với quýt Đường có hột

3.1.2 Đường kính thân tháp

Đường kính thân tháp của quýt Đường không hột số 1, quýt Đường không hột số 2 và quýt Đường có hột (đối chứng) được thể hiện ở Hình 3.2 Tại các thời điểm khảo sát đường kính thân tháp của 2 dòng quýt Đường không hột và quýt Đường có hột (đối chứng) biến động cụ thể như sau: thời điểm 33 tháng sau khi trồng trong khoảng 31,4-33,4 mm; 32,3-34,4 mm (36 tháng sau khi trồng); 39 tháng sau khi trồng dao động trong khoảng 33,2-35,6 mm và ở thời điểm 42 tháng sau khi trồng trong khoảng 34,7-37,2 mm (Phụ bảng 1.2) Qua phân tích thống kê đường kính thân tháp của 2 dòng quýt Đường không hột khác biệt không ý nghĩa với nhau và với quýt Đường có hột (đối chứng)

Trang 33

có hột (đối chứng) Bên cạnh đó, kết quả khảo sát đường kính thân tháp được trình bày (Phụ bảng 1.2) cũng phù hợp với kết quả ở giai đoạn cây 4 năm tuổi được Dương Thị Xuân Mai (2012) nghiên cứu tại huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp

Tóm lại, đường kính thân tháp giữa 2 dòng quýt Đường không hột không khác với nhau và không khác biệt với quýt Đường có hột Qua đó, sự sinh trưởng đường kính thân tháp của 2 dòng quýt Đường không hột tương đương nhau và tương đương với quýt Đường có hột

Quýt Đường không hột số 2Quýt Đường có hột (Đối chứng)

|: Các giá trị trên cùng 1 đường

thẳng khác biệt không ý nghĩa

Trang 34

22

3.1.3 Tỷ số đường kính thân tháp/đường kính gốc tháp

Ở những thời điểm khảo sát, tỷ số đường kính thân tháp/đường kính gốc tháp của quýt Đường không hột số 1, quýt Đường không hột số 2 và quýt Đường

có hột (đối chứng) được trình bày trong Bảng 3.1 Tỷ số đường kính thân tháp/đường kính gốc tháp của 2 dòng quýt Đường không hột và quýt Đường có hột (đối chứng) lần lượt dao động tại các thời điểm cụ thể như sau: thời điểm

33 tháng sau khi trồng tỷ số đường kính thân tháp/đường kính gốc tháp trong khoảng 0,74-0,75; 0,75-0,76 (36 tháng sau khi trồng); 0,76-0,77 (39 tháng sau khi trồng) và 0,76-0,78 ở thời điểm 42 tháng sau khi trồng

Bảng 3.1 Tỷ số đường kính thân tháp/đường kính gốc tháp của quýt Đường không

hột và có hột tại thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long, 2013

Tóm lại, tỷ số đường kính thân tháp/đường kính gốc tháp của quýt Đường không hột số 1, quýt Đường không hột số 2 và quýt Đường có hột tương đương nhau Vì vậy, khả năng tiếp hợp của mắt tháp với gốc tháp của 2 dòng quýt Đường không hột và quýt Đường có hột không khác nhau

Trang 35

23

3.1.4 Chiều cao cây của quýt Đường không hột

Chiều cao cây của quýt Đường không hột số 1, quýt Đường không hột số

2 và quýt Đường có hột (đối chứng) qua từng thời điểm khảo sát được biểu diễn

ở Hình 3.3 Lần lượt dao động cụ thể như sau: thời điểm 33 tháng sau khi trồng chiều cao cây 2 dòng quýt Đường không hột và quýt Đường có hột trong khoảng 212-226 cm; 214-229 cm (36 tháng sau khi trồng); 216-231 cm (39 tháng sau khi trồng) và ở thời điểm 42 tháng sau khi trồng trong khoảng 219-236 cm (Phụ bảng 1.3) Kết quả phân tích thống kê cho thấy chiều cao cây của 2 dòng quýt Đường không hột khác biệt không ý nghĩa với nhau và với quýt Đường có hột (đối chứng)

Hình 3.3 Chiều cao cây (cm) của quýt Đường không hột và có hột tại thành phố Vĩnh

Long, tỉnh Vĩnh Long, 2013

Kết quả nghiên cứu chiều cao cây trước đây được thực hiện bởi Trần Thanh Sang (2012) trên cùng nền thí nghiệm tại thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long ở giai đoạn cây 3 năm tuổi cho thấy sự phát triển chiều cao của 2 dòng quýt Đường không hột tương đương nhau và tương đương với quýt Đường có hột Đồng thời kết quả (Phụ bảng 1.3) cũng phù hợp với kết quả nghiên cứu thực hiện ở giai đoạn cây 4 năm tuổi của Dương Thị Xuân Mai (2012) tại huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp và Đinh Thanh Tông (2013) tại khu 2 Đại học Cần Thơ, thành phố Cần Thơ

Quýt Đường không hột số 2Quýt Đường có hột (Đối chứng)

|: Các giá trị trên cùng 1 đường

thẳng khác biệt không ý nghĩa

Trang 36

24

Như vậy, sự sinh trưởng về chiều cao cây giữa 2 dòng quýt Đường không hột tương đương nhau Ngoài ra, chiều cao cây của 2 dòng quýt Đường không hột cũng tương đương với quýt Đường có hột

3.1.5 Chiều rộng tán của quýt Đường không hột

Chiều rộng tán của quýt Đường không hột số 1, quýt Đường không hột số

2 và quýt Đường có hột được biểu diễn ở Hình 3.4 Tại các thời điểm khảo sát

33, 36, 39 và 42 tháng sau khi trồng chiều rộng tán của 2 dòng quýt Đường không hột và quýt Đường có hột (đối chứng) biến động lần lượt trong khoảng 230-239 cm; 238-246 cm; 243-251 cm và 248-258 cm (Phụ bảng 1.4) Qua phân tích thống kê chiều rộng tán của 2 dòng quýt Đường không hột khác biệt không

ý nghĩa với nhau và với quýt Đường có hột (đối chứng)

Hình 3.4 Chiều rộng tán (cm) của quýt Đường không hột và có hột tại thành phố

Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long, 2013

Kết quả khảo sát chiều rộng tán ở giai đoạn cây 3 năm tuổi được tiến hành trên cùng nền thí nghiệm tại thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long bởi Trần Thanh Sang (2012) cho thấy chiều rộng tán của 2 dòng quýt Đường không hột

là tương tự nhau và tương tự với quýt Đường có hột Bên cạnh đó, kết quả khảo sát đường kính thân tháp được trình bày (Phụ bảng 1.4) cũng phù hợp với kết quả ở giai đoạn cây 4 năm tuổi được Dương Thị Xuân Mai (2012) nghiên cứu tại huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp

Quýt Đường không hột số 2Quýt Đường có hột (Đối chứng)

|: Các giá trị trên cùng 1 đường

thẳng khác biệt không ý nghĩa

Trang 37

25

Từ đó cho thấy rằng chiều rộng tán của 2 dòng quýt Đường không hột là tương tự nhau Bên cạnh đó, chiều rộng tán của 2 dòng quýt Đường không hột cũng tương tự với quýt Đường có hột

Kết quả khảo sát về đường kính gốc tháp, đường kính thân tháp, tỷ số đường kính thân tháp/đường kính gốc tháp, cùng với chiều cao và chiều rộng tán cây cho thấy khả năng sinh trưởng của 2 dòng quýt Đường không hột không khác biệt với nhau và không khác với quýt Đường có hột (đối chứng) Sự sinh trưởng của 2 dòng quýt Đường không hột là tương đương nhau và tương đương với quýt Đường có hột (đối chứng)

3.2 SỰ PHÁT TRIỂN TRÁI CỦA 2 DÒNG QUÝT ĐƯỜNG KHÔNG HỘT TẠI VĨNH LONG

3.2.1 Chiều cao trái

Chiều cao trái của quýt Đường không hột số 1, quýt Đường không hột số

2 và quýt Đường có hột (đối chứng) tăng dần từ tuần thứ 4 đến tuần thứ 36 sau khi đậu trái (Hình 3.5) Qua kết quả khảo sát được trình bày (Phụ bảng 1.5) cho thấy chiều cao trái của 2 dòng quýt Đường không hột và quýt Đường có hột ở các thời điểm cụ thể như sau:

- Tuần thứ 4 sau khi đậu trái, chiều cao trái của 2 dòng quýt Đường không hột và quýt Đường có hột (đối chứng) dao động trong khoảng 4,29-4,48 mm Tuy nhiên, sự khác biệt này không có ý nghĩa qua phân tích thống kê

- Tuần thứ 8 sau khi đậu trái, qua phân tích thông kê cho thấy chiều cao trái của quýt Đường không hột số 1 (13,0 mm) khác biệt không ý nghĩa với quýt Đường không hột số 2 (13,0 mm) Đồng thời, chiều cao trái của 2 dòng quýt Đường không hột cùng thấp hơn quýt Đường có hột (đối chứng) (16,1 mm) Chiều cao trái vào thời điểm này bắt đầu phát triển nhanh ở 2 dòng quýt Đường không hột và quýt Đường có hột (đối chứng)

- Tuần thứ 12 sau khi đậu trái, chiều cao trái của quýt Đường không hột

số 1 (22,4 mm) và quýt Đường không hột số 2 (22,1 mm) khác biệt không ý nghĩa qua phân tích thống kê Tuy nhiên, chiều cao trái của 2 dòng quýt Đường không hột thấp hơn quýt Đường có hột (đối chứng) (27,7 mm) qua phân tích thống kê Thời điểm này chiều cao trái của 2 dòng quýt Đường không hột và quýt Đường có hột (đối chứng) tiếp tục phát triển mạnh

- Tuần thứ 16 sau khi đậu trái, qua phân tích thống kê cho thấy chiều cao trái của quýt Đường không hột số 1 (29,9 mm) thấp hơn quýt Đường không hột

số 2 (31,8 mm) Đồng thời, chiều cao trái của quýt Đường không hột số 2 thấp hơn quýt Đường có hột (đối chứng) (37,5 mm) qua phân tích thống kê

Trang 38

26

- Tuần thứ 20 sau khi đậu trái, chiều cao trái của quýt Đường không hột

số 1 (36,3 mm) thấp hơn quýt Đường không hột số 2 (37,9 mm) qua phân tích thống kê Bên cạnh đó, qua phân tích thống kê cho thấy chiều cao trái của quýt Đường có hột (đối chứng) (45,1 mm) cao hơn quýt Đường không hột số 2

- Tuần thứ 24 sau khi đậu trái, chiều cao trái của quýt Đường không hột

số 1 (40,0 mm) và số 2 (41,7 mm) khác biệt không ý nghĩa qua phân tích thống

kê nhưng cùng thấp hơn quýt Đường có hột (đối chứng) (46,8 mm) Thời điểm này chiều cao trái của 2 dòng quýt Đường không hột tiếp tục phát triển và mạnh hơn quýt Đường có hột (đối chứng)

- Tuần thứ 28 sau khi đậu trái, chiều cao trái của quýt Đường không hột

số 1 (47,3 mm) và số 2 (47,9 mm) khác biệt không ý nghĩa qua phân tích thống

kê nhưng cùng thấp hơn quýt Đường có hột (đối chứng) (49,2 mm) Thời điểm này chiều cao trái của 2 dòng quýt Đường không hột tiếp tục phát triển và mạnh hơn quýt Đường có hột (đối chứng)

- Tuần thứ 32 và 36 sau khi đậu trái cho thấy chiều cao trái của quýt Đường không hột số 1, quýt Đường không hột số 2 khác biệt không ý nghĩa với nhau

và với quýt Đường có hột qua phân tích thống kê Ở các thời điểm khảo sát cho thấy chiều cao trái của 2 dòng quýt Đường không hột và quýt Đường có hột (đối chứng) lần lượt dao động trong khoảng 51,1-51,7 mm (tuần thứ 32 sau khi đậu trái) và 52,6-53,2 mm ở tuần thứ 36 sau khi đậu trái

Trang 39

27

Hình 3.5 Chiều cao trái (mm) quýt Đường không hột và có hột tại thành phố Vĩnh

Long, tỉnh Vĩnh Long, 2013 Như vậy, kết quả phân tích thống kê cho thấy chiều cao trái của quýt

Đường không hột số 1, quýt Đường không hột số 2 khác biệt không ý nghĩa với

nhau và với quýt Đường có hột (đối chứng) ở các thời điểm tuần thứ 4, 32 và

36 sau khi đậu trái Thời điểm tuần thứ 8, 12, 24 và 28 sau khi đậu trái, chiều

cao trái của 2 dòng quýt Đường không hột khác biệt không ý nghĩa qua phân

tích thống kê và cùng thấp hơn quýt Đường có hột Bên cạnh đó, chiều cao trái

của quýt Đường không hột số 1 khác biệt có ý nghĩa với quýt Đường không hột

số 2 và cả 2 dòng quýt Đường không hột khác biệt có ý nghĩa với quýt Đường

có hột (đối chứng) ở thời điểm tuần thứ 16 và 20 sau khi đậu trái qua phân tích

|: Các giá trị trên cùng 1 đường

thẳng khác biệt không ý nghĩa

Trang 40

28

Kết quả khảo sát sự phát triển chiều cao trái của Trần Thị Mỹ Hương (2012) cho thấy chiều cao trái ở tuần thứ 4 sau khi đậu trái không có sự khác biệt giữa 2 dòng quýt Đường không hột và với quýt Đường có hột Tuần thứ 8 đến tuần thứ 20 sau khi đậu trái, chiều cao trái của 2 dòng quýt Đường không hột tương đương nhau và thấp hơn quýt Đường có hột Tuần thứ 24 đến tuần thứu 34 sau khi đậu trái, chiều cao trái của 2 dòng quýt Đường không hột không khác biệt với quýt Đường có hột Do đó, kết quả khảo sát sự phát triển chiều cao trái ở Hình 3.5 tương đối phù hợp với kết quả của Trần Thị Mỹ Hương (2012) đã thực hiện

Như vậy, sự phát triển chiều cao trái của 2 dòng quýt Đường không hột phát triển chậm hơn quýt Đường có hột từ tuần thứ 4 đến tuần thứ 20 sau khi đậu trái Tuy nhiên, sự phát triển chiều cao trái của quýt Đường có hột chậm hơn 2 dòng quýt Đường không hột từ tuần thứ 20 đến tuần thứ 28 sau khi đậu trái Bên cạnh đó, chiều cao trái của 2 dòng quýt Đường không hột và quýt Đường có hột tương đương nhau từ tuần thứ 32 đến tuần thứ 36 sau khi đậu trái

3.2.2 Đường kính trái

Sự phát triển đường kính trái quýt Đường không hột số 1, quýt Đường không hột số 2 và quýt Đường có hột (đối chứng) tăng dần qua các thời điểm khảo sát (tuần thứ 4 đến tuần thứ 36 sau khi đậu trái) (Hình 3.6) Qua kết quả được trình bày (Phụ bảng 1.6) cho thấy đường kính trái của 2 dòng quýt Đường không hột và quýt Đường có hột ở các thời điểm cụ thể như sau:

- Tuần thứ 4 sau khi đậu trái, đường kính trái của quýt Đường không hột

số 1, quýt Đường không hột số 2 khác biệt không ý nghĩa với nhau và với quýt Đường có hột (đối chứng) qua phân tích thống kê Bên cạnh đó, đường kính trái của 2 dòng quýt Đường không hột và quýt Đường có hột dao động trong khoảng 3,96-4,11 mm

- Tuần thứ 8 sau khi đậu trái, đường kính trái của quýt Đường không hột

số 1 (12,0 mm) và số 2 (12,3 mm) khác biệt không ý nghĩa qua phân tích thống

kê Tuy nhiên, đường kính trái của 2 dòng quýt Đường không hột thấp hơn quýt Đường có hột (đối chứng) (15,2 mm) qua phân tích thống kê Đường kính trái của 2 dòng quýt Đường không hột và quýt Đường có hột (đối chứng) bắt đầu phát triển mạnh

- Tuần thứ 12 sau khi đậu trái, qua phân tích thống kê cho thấy đường kính trái của quýt Đường không hột số 1 (21,5 mm) khác biệt không ý nghĩa với quýt Đường không hột số 2 (21,4 mm) nhưng đường kính trái của 2 dòng quýt Đường không hột thấp hơn quýt Đường có hột (đối chứng) (27,0 mm) Đường kính trái tiếp tục phát triển mạnh ở 2 dòng quýt Đường không hột và quýt Đường có hột

Ngày đăng: 22/09/2015, 16:45

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình  Tựa  Trang - đánh giá sự sinh trưởng, năng suất và chất lượng trái của quýt đường không hột ở giai đoạn cây bốn năm tuổi tại thành phố vĩnh long, tỉnh vĩnh long
nh Tựa Trang (Trang 12)
Hình 3.1 Đường kính gốc tháp (mm) của quýt Đường không hột và có hột tại thành - đánh giá sự sinh trưởng, năng suất và chất lượng trái của quýt đường không hột ở giai đoạn cây bốn năm tuổi tại thành phố vĩnh long, tỉnh vĩnh long
Hình 3.1 Đường kính gốc tháp (mm) của quýt Đường không hột và có hột tại thành (Trang 31)
Hình 3.2 Đường kính thân tháp (mm) của quýt Đường không hột và có hột tại thành - đánh giá sự sinh trưởng, năng suất và chất lượng trái của quýt đường không hột ở giai đoạn cây bốn năm tuổi tại thành phố vĩnh long, tỉnh vĩnh long
Hình 3.2 Đường kính thân tháp (mm) của quýt Đường không hột và có hột tại thành (Trang 33)
Hình 3.3 Chiều cao cây (cm) của quýt Đường không hột và có hột tại thành phố Vĩnh - đánh giá sự sinh trưởng, năng suất và chất lượng trái của quýt đường không hột ở giai đoạn cây bốn năm tuổi tại thành phố vĩnh long, tỉnh vĩnh long
Hình 3.3 Chiều cao cây (cm) của quýt Đường không hột và có hột tại thành phố Vĩnh (Trang 35)
Hình 3.4 Chiều rộng tán (cm) của quýt Đường không hột và có hột tại thành phố - đánh giá sự sinh trưởng, năng suất và chất lượng trái của quýt đường không hột ở giai đoạn cây bốn năm tuổi tại thành phố vĩnh long, tỉnh vĩnh long
Hình 3.4 Chiều rộng tán (cm) của quýt Đường không hột và có hột tại thành phố (Trang 36)
Hình 3.5 Chiều cao trái (mm) quýt Đường không hột và có hột tại thành phố Vĩnh - đánh giá sự sinh trưởng, năng suất và chất lượng trái của quýt đường không hột ở giai đoạn cây bốn năm tuổi tại thành phố vĩnh long, tỉnh vĩnh long
Hình 3.5 Chiều cao trái (mm) quýt Đường không hột và có hột tại thành phố Vĩnh (Trang 39)
Hình 3.6 Đường kính trái (mm) quýt Đường không hột và có hột tại thành phố Vĩnh - đánh giá sự sinh trưởng, năng suất và chất lượng trái của quýt đường không hột ở giai đoạn cây bốn năm tuổi tại thành phố vĩnh long, tỉnh vĩnh long
Hình 3.6 Đường kính trái (mm) quýt Đường không hột và có hột tại thành phố Vĩnh (Trang 42)
Hình 3.7 Tỷ số chiều cao trái/đường kính trái quýt Đường không hột và có hột tại - đánh giá sự sinh trưởng, năng suất và chất lượng trái của quýt đường không hột ở giai đoạn cây bốn năm tuổi tại thành phố vĩnh long, tỉnh vĩnh long
Hình 3.7 Tỷ số chiều cao trái/đường kính trái quýt Đường không hột và có hột tại (Trang 44)
Bảng 3.4 Kích thước trái chín của quýt Đường không hột và có hột tại thành phố  Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long, 2013 - đánh giá sự sinh trưởng, năng suất và chất lượng trái của quýt đường không hột ở giai đoạn cây bốn năm tuổi tại thành phố vĩnh long, tỉnh vĩnh long
Bảng 3.4 Kích thước trái chín của quýt Đường không hột và có hột tại thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long, 2013 (Trang 48)
Hình 3.8 Phẫu diện cắt ngang của quýt Đường không hột tại thành phố Vĩnh Long, - đánh giá sự sinh trưởng, năng suất và chất lượng trái của quýt đường không hột ở giai đoạn cây bốn năm tuổi tại thành phố vĩnh long, tỉnh vĩnh long
Hình 3.8 Phẫu diện cắt ngang của quýt Đường không hột tại thành phố Vĩnh Long, (Trang 49)
Bảng 3.5 Đặc tính vỏ trái và đặc tính thịt trái của quýt Đường không hột và có hột tại  thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long, 2013 - đánh giá sự sinh trưởng, năng suất và chất lượng trái của quýt đường không hột ở giai đoạn cây bốn năm tuổi tại thành phố vĩnh long, tỉnh vĩnh long
Bảng 3.5 Đặc tính vỏ trái và đặc tính thịt trái của quýt Đường không hột và có hột tại thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long, 2013 (Trang 50)
Bảng 3.7 Trọng lượng các thành phần của trái quýt Đường không hột và có hột tại  thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long, 2013 - đánh giá sự sinh trưởng, năng suất và chất lượng trái của quýt đường không hột ở giai đoạn cây bốn năm tuổi tại thành phố vĩnh long, tỉnh vĩnh long
Bảng 3.7 Trọng lượng các thành phần của trái quýt Đường không hột và có hột tại thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long, 2013 (Trang 52)
Bảng 3.8 Tỷ lệ (%) theo trọng lượng các thành phần của trái quýt Đường không hột và - đánh giá sự sinh trưởng, năng suất và chất lượng trái của quýt đường không hột ở giai đoạn cây bốn năm tuổi tại thành phố vĩnh long, tỉnh vĩnh long
Bảng 3.8 Tỷ lệ (%) theo trọng lượng các thành phần của trái quýt Đường không hột và (Trang 53)
Hình 3. 9 Thể tích dịch trái của quýt Đường không hột và có hột tại thành phố Vĩnh - đánh giá sự sinh trưởng, năng suất và chất lượng trái của quýt đường không hột ở giai đoạn cây bốn năm tuổi tại thành phố vĩnh long, tỉnh vĩnh long
Hình 3. 9 Thể tích dịch trái của quýt Đường không hột và có hột tại thành phố Vĩnh (Trang 54)
Bảng 3.9 Chất lượng dịch trái của quýt Đường không hột và có hột tại thành phố Vĩnh  Long, tỉnh Vĩnh Long, 2013 - đánh giá sự sinh trưởng, năng suất và chất lượng trái của quýt đường không hột ở giai đoạn cây bốn năm tuổi tại thành phố vĩnh long, tỉnh vĩnh long
Bảng 3.9 Chất lượng dịch trái của quýt Đường không hột và có hột tại thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long, 2013 (Trang 55)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm