Hiện nay ở trường Tiểu học, kỹ năng đọc của học sinh chưa đồng đều, một số học sinh đọc còn yếu, một số giáo viên chưa chú trọng đến việc dạy cho học sinh tiểu học, chưa tìm ra biện pháp
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu và kết quả nghiên cứu nêu trong khóa luận là trung thực, khách quan và chưa từng được công bố trong bất kỳ một công trình nào khác
Đồng Hới, ngày 20 tháng 5 năm 2015 Tác giả
Lê Thị Thanh Trang
Trang 2LỜ ỜỜ Ờ I C I C I CỜ ỜỜ Ờ M M M Ờ ỜỜ Ờ Ơ Ơ Ơ
Để hoàn thành đề tài Nghiên cứu khoa học này, tôi đã nhận được sự giúp
đỡ quý báu của: Ban giám hiệu và toàn thể quý thầy cô giáo, cán bộ khoa SP Tiểu học-Mầm non- Trường Đại học Quảng Bình
Tôi xin trân trọng bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất đối với TS.Mai Thị Liên Giang, người đã tận tình hướng dẫn và dìu dắt tôi trong suốt quá trình nghiên cứu đề tài Qua đây, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến quý thầy cô giáo và các em học sinh khối 3 Trường Tiểu học Đức Ninh Đông
Tôi xin cảm ơn quý thầy cô giáo đã có sự góp ý và trao đổi chân thành trong quá trình thực hiện đề tài
Và cuối cũng tôi xin cảm ơn gia đình, bạn bè đã cổ vũ, động viên và giúp
đỡ tôi hoàn thành đề tài này
Quảng Bình, tháng 5 năm 2015 Tác giả đề tài
Lê Thị Thanh Trang
Trang 3NHỮNG KÝ HIỆU DÙNG TRONG KHÓA LUẬN
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Mục đích nghiên cứu 4
4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 4
5 Giả thuyết khoa học 4
6 Nhiệm vụ nghiên cứu 5
7 Phạm vi nghiên cứu 5
8 Đóng góp của đề tài 5
9 Phương pháp nghiên cứu 5
10 Cấu trúc đề tài 6
Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VẤN ĐỀ DẠY TẬP ĐỌC THEO HƯỚNG ĐỔI MỚI HIỆN NAY 7
1 Cơ sở lý luận 7
1.1 Cơ sở tâm lý học và ngôn ngữ học 7
1.1.1 Cơ sở tâm lý học 7
1.1.2 Cơ sở ngôn ngữ học 9
1.2 Các khái niệm công cụ 10
1.3 Những vấn đề lý luận về dạy học Tiếng Việt cho học sinh lớp 3 11
1.3.1 Điều chỉnh chương trình dạy học Tiếng Việt phù hợp với năng lực và trình độ của học sinh 11
1.3.2 Thiết kế và tiến hành bài học có hiệu quả 13
1.4 Những vấn đề lí luận về dạy cho học sinh lớp 3 trong phân môn Tập đọc: 15 1.4.1 Vị trí, nhiệm vụ dạy học phân môn Tập đọc ở Tiểu học 15
1.4.2 Mục tiêu của phân môn Tập đọc ở Tiểu học: 17
1.5 Nguyên tắc dạy Tập đọc ở Tiểu học 18
1.5.1 Nguyên tắc phát triển tư duy 18
1.5.2 Nguyên tắc giao tiếp ( nguyên tắc phát triển lời nói) 18
Trang 51.5.3 Nguyên tắc hướng tới những phương pháp và dạy học tích cực 19
2 Cơ sở thực tiễn 20
2.1 Nội dung và chương trình dạy học trong phân môn Tập đọc lớp 3: 20
2.2 Một số phương pháp dạy Tập đọc ở lớp 3: 26
2.3 Những yêu cầu và trình tự lên lớp về kỹ năng đọc trong phân môn Tập đọc lớp 3 29
2.4 Các kiểu dạng bài tập dạy học Tập đọc 34
2.5 Thực trạng dạy học của Trường Tiểu học Đức Ninh Đông 35
Chương 2 ĐỀ XUẤT CÁC BIỆN PHÁP DẠY TẬP ĐỌC LỚP 3 Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC ĐỨC NINH ĐÔNG THEO HƯỚNG ĐỔI MỚI HIỆN NAY 37
2.1 Những lỗi thường gặp trong việc dạy và học Tập đọc của học sinh lớp 3 Trường Tiểu học Đức Ninh Đông 38
2.2 Những biện pháp dạy học Tập đọc lớp 3 cho học sinh ở Trường Tiểu học Đức Ninh Đông 38
2.2.1 Luyện đọc đúng và khắc phục lỗi phát âm từ địa phương của vùng Đức Ninh Đông 39
2.2.2 Luyện đọc nhanh và khắc phục lỗi đọc lướt, đọc tắt từ của học sinh vùng Đức Ninh Đông 40
2.2.3 Luyện đọc thầm, đọc hiểu 44
2.2.4 Luyện đọc diễn cảm và khắc phục các âm đọc trại vùng Đức Ninh Đông.47 2.2.5 Luyện đọc thuộc lòng 51
2.2.6 Tổ chức giờ học thân thiện - học sinh tích cực 54
2.2.7 Kết hợp với chuyên môn nhà trường và học hỏi ở đồng nghiệp 58
2.2.8 Kết hợp giữa gia đình và nhà trường 61
Chương 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 66
1 Mục đích, nhiệm vụ thực nghiệm 66
1.1 Mục đích 66
1.2 Nhiệm vụ 66
2 Kế hoạch thực nghiệm 66
3 Nội dung thực nghiệm 69
Trang 63.1 Chọn nội dung thực nghiệm 69
3.2.Thiết kế giáo án 69
4 Đánh giá kết quả 80
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 84
1 Kết luận 84
2 Kiến nghị 86
TÀI LIỆU THAM KHẢO 87
PHỤ LỤC 90
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Xã hội ngày càng phát triển, sự nghiệp giáo dục cũng ngày càng được đổi mới để phù hợp với xu thế toàn cầu hóa hiện nay Trong sự nghiệp giáo dục, cấp Tiểu học là một bậc học vô cùng quan trọng Nó được xem là nền tảng của hệ thống giáo dục quốc dân Trong môn Tiếng Việt ở bậc Tiểu học, Tập đọc là phân môn hết sức quan trọng Phân môn Tập đọc như một chiếc chìa khóa đầu tiên giúp các em học sinh bước vào kho tàng tri thức khoa học vô tận của nhân loại Tập đọc là một phân môn thực hành, là một trong những phân môn quan trọng góp phần hình thành kỹ năng cho học sinh Đây là một trong bốn kỹ năng cơ bản
mà học sinh Tiểu học cần đạt tới Nếu các phân môn tập viết, chính tả, tập làm văn góp phần cơ bản để rèn luyện kỹ năng viết cho học sinh thì phân môn Tập đọc có nhiệm vụ cơ bản là luyện kỹ năng đọc cho học sinh Năng lực đọc được tạo nên từ bốn kỹ năng cũng là bốn yêu cầu về chất lượng đọc là đọc đúng, đọc nhanh (đọc lưu loát, trôi chảy), đọc có ý thức (thông hiểu được nội dung những điều mình đọc hay còn gọi là đọc hiểu) và đọc diễn cảm Khi học sinh đọc tốt, viết tốt thì các em mới có thể tiếp thu được môn học khác một cách chắc chắn
Từ đó học sinh mới hoàn thiện được năng lực giao tiếp bằng ngôn ngữ của chính bản thân mình Vì vậy việc nghiên cứu tìm hiểu về tập đọc ở góc độ nào cũng có
ý nghĩa quan trọng và cấp bách Hiện nay ở trường Tiểu học, kỹ năng đọc của học sinh chưa đồng đều, một số học sinh đọc còn yếu, một số giáo viên chưa chú trọng đến việc dạy cho học sinh tiểu học, chưa tìm ra biện pháp dạy môn Tập đọc để nâng cao hiệu quả giờ dạy Nguyên nhân của đọc yếu và đọc chưa tốt của học sinh là do nhiều tác động như: phương pháp giảng dạy của giáo viên, ngôn ngữ địa phương, do tài liệu, sách giáo khoa, câu hỏi còn chung chung, chưa đi sâu vào nội dung bài, cách kết hợp các phương pháp dạy còn hạn chế Do vậy giờ dạy chưa đạt kết quả cao, dẫn đến việc học tốt phân môn Tập đọc còn hạn chế Ở lớp 3, nội dung hướng dẫn đọc ở một số bài mới chỉ dừng lại những lưu ý phát âm đúng các từ ngữ hoặc âm thanh của Tiếng Việt, chưa chú ý đầy đủ đến các phương diện (thao tác) khác nhằm tái hiện các tác phẩm hoặc khắc sâu kiến thức Trong khi đó đối với học sinh lớp 3, ngoài việc phát âm đúng học sinh phải đọc lưu loát từng đoạn và từng bài, biết ngắt nghỉ cho phù hợp theo thể thơ hay nội dung đọc Bước đầu đọc diễn cảm được bài có cảm xúc, biết nhấn giọng ở
Trang 8những từ biểu cảm, gợi tả, biết đọc rõ lời tác giả và nhân vật Chính vì vậy cần
có biện pháp dạy học tập đọc theo hướng đổi mới nhằm góp phần nâng cao chất lượng môn Tiếng Việt nói riêng cũng như chất lượng giáo dục nói chung Là một giáo viên tiểu học tương lai, tôi thấy mình phải tự tìm tòi, nghiên cứu để tìm ra những phương pháp và cách dạy tốt nhất với môn tập đọc giúp các em học tốt môn học này, đồng thời từ đó góp phần giúp các em học tốt các môn học khác
Để có phương pháp dạy tốt môn tập đọc ở lớp 3, đòi hỏi giáo viên phải làm thế nào để có thể giúp học sinh hiểu, yêu thích, hứng thú và học tốt trong giờ học tập
đọc Chính vì những lý do trên, chúng tôi đã chọn đề tài “Khảo sát việc ứng dụng biện pháp dạy Tập đọc lớp 3 theo hướng đổi mới hiện nay ở Trường Tiểu học Đức Ninh Đông”
2 Lịch sử vấn đề
Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp và tư duy quan trọng nhất của loài người, nó luôn gắn liền với sự phát triển của xã hội loài người, chịu tác động to lớn và mạnh mẽ của các tiến trình phát triển của xã hội
Tiếng Việt - ngôn ngữ của dân tộc Việt Nam - không nằm ngoài phạm vi các quy luật trên Đã có rất nhiều bài báo, các công trình nghiên cứu về tầm quan trọng, chức năng và sự phát triển của tiếng Việt trên các bình diện khác nhau, đặc biệt là trong văn học và nghệ thuật Chính vì vậy mà để có được vốn tiếng Việt vững chắc cần phải biết đọc
Trong cuốn "Sổ tay thuật ngữ phương pháp dạy học tiếng Nga" (1998) - Viện sỹ M.R.Lơvôp đã định nghĩa "Đọc là một dạng ngôn ngữ, là quá trình chuyển dạng thức chữ viết sang lời nói có âm thanh và thông hiểu nó (ứng với hình thức đọc thành tiếng) là quá trình chuyển trực tiếp từ hình thức chữ viết thành các đơn vị nghĩa không có âm thanh"
Theo giáo sư, tiến sĩ khoa học Ju.P Melentieva (2007) thì "Phải thừa nhận rằng, đọc (dù là đọc trên giấy, hay trên màn hình) vẫn là quy trình kỹ thuật duy nhất của hoạt động trí tuệ, nhằm khai thác những tri thức mà nhân loại đã tích lũy, theo nghĩa rộng nhất của khái niệm này Đọc là chiến lược quan trọng nhất trong cuộc sống của bất cứ người nào biết suy nghĩ Không đọc thì không có giáo dục, không có sự hình thành thế giới quan, không có sự trưởng thành nghề nghiệp, không có sự phát triển về cảm xúc và trí tuệ Sự đọc thâm nhập vào mọi
Trang 9lĩnh vực và mọi giai đoạn phát triển của cá nhân, từ lúc còn thơ ấu cho đến khi nhắm mắt xuôi tay, và nó quyết định phần lớn sự thành đạt trong cuộc sống Càng ngày càng có thêm nhiều người nhận thức rằng, đọc sách là một việc phải làm suốt đời"
Đọc cũng là một dạng lao động hàm chứa nhiều đặc điểm, đòi hỏi phải quan tâm nghiên cứu Với mỗi độc giả, nghiên cứu việc đọc là để tìm ra những cách đọc tốt nhất, giúp đọc nhanh, hiểu sâu, nhớ lâu, vận dụng có hiệu quả những điều đã đọc Trong lĩnh vực thư viện, nghiên cứu việc đọc trước hết là nhằm mục đích tìm hiểu hứng thú và nhu cầu của độc giả, để trên cơ sở đó mà tiến hành đổi mới, hoàn thiện phương pháp công tác, nâng cao chất lượng phục
vụ về sách cho bạn đọc, góp phần tạo dựng hình ảnh tốt của thư viện, đảm bảo
và nâng cao uy tín của thư viện Ngoài ra, nghiên cứu việc đọc được tiến hành còn nhằm vào nhiều mục đích khác Kết quả nghiên cứu việc đọc, trong nhiều trường hợp, đã góp phần không nhỏ vào việc cung cấp những dữ liệu phong phú, những đánh giá xác đáng về trình độ văn hóa, trình độ dân trí của một cộng đồng, một khu vực, có khi cả một quốc gia… Tìm hiểu tình hình nghiên cứu về
vấn đề dạy học tập đọc, đến nay chúng tôi được biết đến cuốn sách “Một số vấn
đề về dạy hội thoại cho học sinh tiểu học” của tác giả Nguyễn Trí Tác giả đã cố gắng chọn lọc những kiến thức cơ bản, tối thiểu về hội thoại dựa theo chương trình môn Tiếng Việt tiểu học ban hành năm 2001 và 2006 và lựa chọn cách trình bày các kiến thức dựa trên sự phân tích một số dẫn chứng cụ thể để người mới tiếp cận lí thuyết hội thoại dễ hiểu, dễ nhớ, dễ vận dụng Bên cạnh đó, cuốn sách còn giới thiệu các kiểu bài tập dạy học luyện nói trong bộ sách giáo khoa Tiếng Việt tiểu học.Trong đề tài Khoa học & Công nghệ “Một số biện pháp nâng
cao hiệu quả rèn kĩ năng nói cho học sinh tiểu học ở môn Tiếng Việt” của Viện
Khoa học Giáo dục Việt Nam, tác giả Trần Thị Hiền Lương đã xác định được các biện pháp dạy học rèn kĩ năng nói cho học sinh xuất phát từ đặc điểm lứa tuổi học sinh tiểu học, từ lý luận dạy học hiện đại, theo hướng tăng cường thực hành, luyện tập Trong đề tài này, tác giả đã đưa ra các biện pháp rèn luyện kĩ năng nói như rèn kĩ năng phát âm, rèn kĩ năng nói độc thoại, nói hội thoại cho học sinh tiểu học Qua công trình “Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học”, tác giả Lê Phương Nga đã đưa ra những vấn đề chung của phương pháp dạy học
Trang 10Tiếng Việt, nêu ra các phương pháp dạy học từng phân môn cụ thể trong dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học
Ngoài những tài liệu trên, chúng tôi còn tham khảo thêm một số công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài ở trên mạng internet như : Một số biện pháp nâng cao chất lượng đọc cho học sinh tại địa chỉ trang web: http://tailieu.vn/doc/skkn-mot-so-bien-phap-nang-cao-chat-luong-doc-cho-hoc-sinh-lop-3-1684415.html Phương pháp dạy Tập đọc cho học sinh lớp 3 tại địa chỉ web : http://123doc.org/document/267991-phuong-phap-day-tap-doc-cho-hoc-sinh-lop-3.htm Đề tài : Đổi mới phương pháp dạy học phân môn Tập đọc lớp 3 tại địa chỉ trang web:http://123doc.org/document/2441123-skkn-doi-moi-phuong-phap-day-hoc-phan-mon-tap-doc-lop-3.htm
Tuy nhiên, những đề tài, công trình nghiên cứu ở trên mới chỉ dừng lại ở lí luận chung, chưa nghiên cứu riêng tại một địa điểm nhất định Ở nước ta, tính đến tháng 01 năm 2014 đề tài “Khảo sát việc ứng dụng biện pháp dạy Tập đọc lớp 3 theo hướng đổi mới ở Trường Tiểu học Đức Ninh Đông” vẫn chưa có ai nghiên cứu Chúng tôi xem những công trình nghiên cứu trên là những cơ sở khoa học quý báu của đề tài
3 Mục đích nghiên cứu
Là một giáo viên Tiểu học tương lai thì việc nghiên cứu đề tài này của chúng tôi không tách rời với công việc dạy học Vì vậy nghiên cứu đề tài này nhằm đưa ra những biện pháp dạy tập đọc cho học sinh lớp 3 theo hướng đổi mới hiện nay Từ đó, định hướng các biện pháp dạy học phù hợp trong phân môn Tập đọc cho học sinh lớp 3 ở Trường Tiểu học Đức Ninh Đông
4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
4.1 Khách thể
Những bài tập đọc của học sinh lớp 3
4.2 Đối tượng nghiên cứu
Học sinh lớp 3 ở Trường Tiểu học Đức Ninh Đông
5 Giả thuyết khoa học
Nếu đưa những biện pháp dạy học tập đọc lớp 3 theo hướng đổi mới vào chương trình học của học sinh thì sẽ giúp các em nâng cao kỹ năng đọc của mình, từ đó học tốt phân môn Tập đọc
Trang 116 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu các vấn đề lí luận, kỹ năng đọc của học sinh Trường Tiểu học Đức Ninh Đông
- Đánh giá thực trạng dạy tập đọc cho học sinh lớp 3 ở Trường Tiểu học Đức Ninh Đông
- Đề xuất một số biện pháp dạy tập đọc lớp 3 theo hướng đổi mới hiện nay cho học sinh ở Trường Tiểu học Đức Ninh Đông
9 Phương pháp nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu tôi đã sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp nghiên cứu lý thuyết:
Sử dụng phương pháp này, chúng tôi thu thập các tài liệu như: sách tham khảo, các tập san báo giáo dục thời đại, sách giáo viên, sách hướng dẫn giảng dạy tiếng việt lớp 3, những bài viết có đề tài liên quan…
Phân tích tài liệu dạy học sách giáo khoa lớp 3 mới và sách hướng dẫn về nội dung và cấu trúc
- Phương pháp điều tra, khảo sát: Sử dụng phương pháp này, chúng tôi tiến hành khảo sát thực tiễn việc dạy và học tập đọc ở lớp 3 của giáo viên và học sinh
- Phương pháp thực nghiệm: Với phương pháp này chúng tôi đã tiến hành điều tra, khảo sát thực tế tại trường Trong thời gian thực tập tại trường, thông
Trang 12qua những tiết dạy thực nghiệm, tổ chức giờ học sôi nổi.Ngoài ra, chúng tôi còn trao đổi quan điểm, ý kiến của mình với học sinh, đồng nghiệp
Trang 13NỘI DUNG Chương 1
CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VẤN ĐỀ DẠY TẬP ĐỌC THEO HƯỚNG ĐỔI
MỚI HIỆN NAY
1 Cơ sở lý luận
1.1 Cơ sở tâm lý học và ngôn ngữ học
1.1.1 Cơ sở tâm lý học
Đọc được xem như là một hoạt động có hai mặt quan hệ mật thiết với nhau,
là việc sử dụng một bộ mã gồm hai phương diện Thứ nhất, đó là quá trình vận động của mắt, sử dụng bộ mã chữ-âm để phát ra một cách trung thành những dòng văn tự ghi lại lời nói âm thanh Quá trình này gọi là quá trình đọc thành tiếng Thứ hai, đó là sự vận động của tư tưởng, tình cảm, sử dụng bộ mã chữ-nghĩa, tức là mối liên hệ giữa các con chữ và ý tưởng, các khái niệm chứa đựng bên trong để nhớ và hiểu được nội dung những gì được đọc [10, trang 141] Quá trình này gọi là quá trình đọc hiểu Mục đích của đọc thành tiếng là chuyển đổi chính xác và ngày càng nhanh các kí hiệu văn tự thành kí hiệu âm thanh Khi đọc hiểu, mục đích của người đọc là làm rõ nghĩa các kí tự, làm rõ nội dung và đích thông báo của văn bản Lúc này quá trình đọc không chỉ là sự vận động của trí tuệ Nên đọc có ý thức là một yêu cầu quan trọng của đọc, trở thành một kỹ năng của đọc Đọc được xem như là một hoạt động có hai mặt quan hệ mật thiết với nhau, là việc sử dụng một bộ mã gồm hai phương diện Thứ nhất, đó là quá trình vận động của mắt, sử dụng bộ mã chữ-âm để phát ra một cách trung thành những dòng văn tự ghi lại lời nói âm thanh Quá trình này gọi là quá trình đọc thành tiếng Thứ hai, đó là sự vận động của tư tưởng, tình cảm, sử dụng bộ mã chữ-nghĩa, tức là mối liên hệ giữa các con chữ và ý tưởng, các khái niệm chứa đựng bên trong để nhớ và hiểu được nội dung những gì được đọc Quá trình này gọi là quá trình đọc hiểu Mục đích của đọc thành tiếng là chuyển đổi chính xác và ngày càng nhanh các kí hiệu văn tự thành kí hiệu âm thanh Khi đọc hiểu, mục đích của người đọc là làm rõ nghĩa các kí tự, làm rõ nội dung và đích thông báo của văn bản Lúc này quá trình đọc không chỉ là sự vận động của trí tuệ Nên đọc
có ý thức là một yêu cầu quan trọng của đọc, trở thành một kỹ năng của đọc Để
tổ chức dạy đọc cho học sinh, giáo viên cần hiểu rõ về quá trình đọc, nắm bản
Trang 14chất của kỹ năng đọc Đặc điểm tâm lý sinh lý của học sinh khi đọc hay cơ chế của đọc là cơ sở của việc dạy học Đọc là một hoạt động trí tuệ phức tạp mà cơ
sở là việc tiếp nhận thông tin bằng chữ viết dựa vào các hoạt động của cơ quan thị giác Ta đi phân tích đặc điểm của quá trình này Đọc được xem như là một hoạt động có hai mặt quan hệ mật thiết với nhau, là việc sử dụng bộ mã gồm hai phương diện Một mặt đó là quá trình vận động của mắt, sử dụng bộ mã chữ-âm
để phát ra một cách trung thành những dòng văn tự ghi lại lời nói âm thanh Thứ hai đó là sự vận động của tư tưởng, tình cảm, sử dụng bộ mã chữ- nghĩa tức là mối liên hệ giữ các con chữ và ý tưởng, các khái niệm chứa đựng bên trong để nhớ và hiểu cho được nội dung những gì được đọc Đọc bao gồm những yếu tố như tiếp nhận bằng mắt hoạt động của các cơ quan phát âm, các cơ quan thính giác và thông hiểu những gì được đọc Càng ngày những yếu tố này càng gần nhau hơn, tác động đến nhau nhiều hơn Nhiệm vụ cuối cùng của việc phát triển
kỹ năng đọc là đạt đến sự tổng hợp giữa những mặt riêng lẻ này của quá trình đọc, đó là điểm phân tích biết người mới biết đọc và người đọc thành thạo Càng
có khả năng tổng hợp các mặt trên bao nhiêu thì việc đọc càng hoàn thiện, càng chính xác, càng biểu cảm bấy nhiêu Dễ dàng nhận thấy rằng thuật ngữ “đọc” được sử dụng trong nhiều nghĩa: theo nghĩa hẹp việc hình thành kỹ năng đọc trùng với nắm kỹ thuật đọc (tức là dạng chuyển thức chữ viết của từ thành âm thanh) Theo nghĩa rộng đọc được hiểu là kỹ thuật đọc của những từ riêng lẻ của
cả câu, cả bài Ý nghĩa hai mặt của thuật ngữ đọc được ghi nhận trong các tài liệu của tâm lý học và phương pháp dạy học Từ đây chúng ta sẽ hiểu đọc với nghĩa thứ hai – đọc được xem như một hoạt động lời nói trong đó có các thành tố + Tiếp nhận dạng thức chữ của từ
+ Chuyển dạng thức chữ viết thành âm thanh, nghĩa là phát âm các từ theo từng chữ cái (đánh vần) hay là đọc thành từng tiếng tùy thuộc vào trình độ nắm
kỹ thuật đọc
+ Thông hiểu những gì được đọc (từ, cụm từ, câu, bài) kỹ năng đọc là một
kỹ năng phức tạp, đòi hỏi một quá trình rèn luyện lâu dài, chia việc hình thành
kỹ năng này ra làm 3 giai đoạn: phân tích tổng hợp (còn gọi là giai đoạn phát sinh, hình thành một cấu trúc chỉnh thể của hành động) và giai đoạn tự động hóa Giai đoạn dạy học vần là sự phân tích các chữ cái và đọc từng tiếng theo các âm Giai đoạn tổng hợp thì đoc thành cả từ trọn vẹn, trong đó có sự tiếp nhận từ bằng
Trang 15thị giác và phát âm hầu như trùng với nhận thức ý nghĩa Tiếp theo sự thông hiểu
ý nghĩa của “từ” trong cụm từ hoặc câu đi trước sự phát âm, tức là đọc được thực hiện trong sự đoán các nghĩa Bước sang lớp 2, lớp 3 học sinh bắt đầu đọc tổng hợp Trong những năm cuối cấp, đọc càng ngày càng tự động hóa, nghĩa là người đọc ngày càng ít quan tâm đến quá trình đọc mà chú ý nhiều đến việc chiếm lĩnh văn hóa, nội dung của sự kiện, cấu trúc chủ đề, các phương tiện biểu đạt của nó Thời gian gần đây, người ta đã chú trọng hơn đến những mối quan hệ quy định lẫn nhau của việc hình thành kỹ năng đọc và hình thành kỹ năng làm việc với văn bản Nghĩa là đòi hỏi giáo viên tổ chức giờ học đọc sao cho việc phân tích nội dung của bài đọc đồng thời hướng dẫn đọc có ý thức bài đọc Việc đọc như thế nhằm vào sự nhận thức Đọc là hiểu nghĩa chữ viết Nếu trẻ không hiểu được những từ ta đưa cho chúng đọc, chúng sẽ không có hứng thú học tập
và không có khả năng thành công Do đó hiểu những gì được đọc sẽ tạo động cơ, hứng thú cho việc đọc Để có giờ tập đọc đạt hiệu quả tốt, người giáo viên phải nắm được đặc điểm tâm sinh lý của học sinh, nắm được các đặc điểm, yêu cầu, bản chất, kỹ năng, cơ chế, mục đích cần đạt được của tiết dạy tập đọc.Trên cơ sở
đó sử dụng phương pháp cho phù hợp
1.1.2 Cơ sở ngôn ngữ học
Phương pháp dạy Tập đọc phải dựa trên những cơ sở của ngôn ngữ học
Nó liên quan mật thiết với một số vấn đề của ngôn ngữ học như vấn đề chính
âm, chính tả, chữ viết, ngữ điệu (thuộc âm ngữ học), vấn đề nghĩa của từ, của câu, đoạn, bài (thuộc từ vựng học, ngữ nghĩa học), vấn đề dấu câu, các kiểu câu
… Phương pháp dạy tập đọc phải dựa trên những kết quả nghiên cứu của ngôn ngữ học, Việt ngữ học về những vấn đề nói trên để xây dựng, xác lập nội dung
và phương pháp dạy học Bốn yêu cầu của đọc không thể tách rời những cơ sở của ngôn ngữ học Không coi trọng đúng mức những cơ sở này, việc dạy học sẽ mang tính tùy tiện và không đảm bảo hiệu quả dạy học
a) Vấn đề chính âm trong Tiếng Việt:
Chính âm là các chuẩn mực phát âm của ngôn ngữ có giá trị và hiệu quả về mặt xã hội Vấn đề chuẩn mực phát âm Tiếng Việt đang là vấn đề thời sự, có nhiều ý kiến khác nhau Nó liên quan đến nhiều vấn đề khác nhau như chuẩn hóa ngôn ngữ, giữ gìn sự trong sáng của Tiếng Việt, mục đích của việc xây dựng chính âm
Trang 16b) Vấn đề ngữ điệu của Tiếng Việt:
Theo nghĩa hẹp, ngữ điệu là sự thay đổi giọng nói, giọng đọc, là sự lên cao hay
hạ thấp giọng đọc, giọng nói Ngữ điệu là một trong những thành phần của ngôn điệu Ngữ điệu là yếu tố gắn chặt với lời nói, là yếu tố tham gia tạo thành lời nói Mỗi ngôn ngữ có một ngữ điệu riêng Ngữ điệu Tiếng Việt như các ngôn ngữ có thanh điệu khác, chủ yếu được biểu hiện ở sự lên giọng và xuống giọng (cao độ),
sự nhấn giọng (cường độ), sự ngừng giọng (trường độ) và sự chuyển giọng (phối hợp cả trường độ và cường độ) Ngữ điệu là một hiện tượng cơ bản có thể tách ra thành các yếu tố cơ bản có quan hệ với nhau: chỗ nghỉ (ngưng giọng hay ngắt giọng) trọng âm, âm điệu, âm nhịp và âm sắc Dạy đọc đúng ngữ điệu là dạy học sinh biết làm chủ những yếu tố này
1.2 Các khái niệm công cụ
1.2.1 Biện pháp dạy học
a Dạy học là một quá trình dưới sự lãnh đạo, tổ chức, điều khiển của người giáo viên, người học tự giác, tích cực, chủ động, biết tự tổ chức, tự điều khiển hoạt động nhận thức-học tập của mình nhằm thực hiện những nhiệm vụ dạy học
b Biện pháp dạy học là những cách thức làm việc giữa thầy, cô giáo và học sinh, nhờ đó mà học sinh nắm vững được kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo, hình thành được thế giới quan và năng lực [10,trang122]
1.2.2 Điều chỉnh
Điều chỉnh là sự thay đổi mục tiêu, nội dung, phương pháp, phương tiện, dạy hoc nhằm giúp học sinh phát triển tốt nhất phù hợp với những năng lực và trình độ của học sinh
Trang 17Ngữ điệu là sự hòa phối của chỗ ngừng, tốc độ, chỗ nhấn giọng, cao độ… tạo nên âm hưởng, giọng điệu của bài học Nội dung của bài văn, bài thơ sẽ quy định ngữ điệu đọc
1.2.5 Kỹ năng đọc
a) Kỹ năng:
Có nhiều cách định nghĩa khác nhau về kỹ năng Những định nghĩa này thường bắt nguồn từ góc nhìn chuyên môn và quan niệm cá nhân của người viết Tuy nhiên hầu hết chúng ta đều thừa nhận rằng kỹ năng được hình thành khi chúng ta áp dụng kiến thức vào thực tiễn Kỹ năng học được do quá trình lặp đi lặp lại một hoặc một nhóm hành động nhất định nào đó Kỹ năng luôn có chủ đích và định hướng rõ ràng
Vậy, Kỹ năng là năng lực hay khả năng của chủ thể thực hiện thuần thục một hay một chuỗi hành động trên cơ sở hiểu biết (kiến thức hoặc kinh nghiệm) nhằm tạo ra kết quả mong đợi
b) Khái niệm đọc:
“Đọc là một dạng hoạt động ngôn ngữ, là quá trình chuyển dạng thức thức chữ viết sang lời nói có âm thanh (ứng với hình thức đọc thành tiếng), là quá trình chuyển trực tiếp từ hình thức chữ viết thành các đơn vị nghĩa không có âm thanh (ứng với đọc thầm)” - M.R.Lơvôp
Đọc không chỉ là việc giải quyết bộ mã gồm hai phần: chữ viết và phát
âm Nghĩa là nó không chỉ là sự đánh vần lên thành tiếng theo đúng như các kí hiệu chữ viết mà còn đọc còn là quá trình nhận thức để có khả năng thông hiểu những gì được học
1.3 Những vấn đề lý luận về dạy học Tiếng Việt cho học sinh lớp 3
1.3.1 Điều chỉnh chương trình dạy học Tiếng Việt phù hợp với năng lực và trình độ của học sinh
* Cấu trúc chương trình
Nội dung chương trình Tiếng Việt ở Tiểu học gồm những bộ phận sau: Kĩ năng sử dụng tiếng Việt ( nghe, nói, đọc, viết) Tri thức tiếng Việt (một số hiểu biết tối thiểu về ngữ âm, chính tả, ngữ nghĩa, ngữ pháp…) Tri thức về văn học,
Trang 18xã hội và tự nhiên (một số hiểu biết tối thiểu về sáng tác văn học và cách tiếp cận chúng, về con người với đời sống tinh thần và vật chất của họ, về đất nước và dân tộc Việt Nam…)
Nội dung này được xếp theo hai giai đoạn phát triển:
Ở giai đoạn 1 (lớp 1, 2, 3) nội dung dạy học có nhiệm vụ hình thành những
cơ sở ban đầu cho việc học đọc, học viết, định hướng việc học nghe, học nói trên
cơ sở vốn Tiếng Việt mà các em đã có Học đọc, học viết có vị trí đặc biệt quan trọng ở giai đoạn này.Yêu cầu cơ bản ở giai đoạn này là đọc thông thạo và hiểu đúng một văn bản ngắn, rõ ràng, đúng chính tả, nghe chủ động, nói chủ động, rành mạch Những bài học ở giai đoạn này chủ yếu là những bài thực hành đọc, viết, nghe, nói Tri thức tiếng Việt không được dạy thành bài riêng mà được rút
ra từ những bài thực hành, được học sinh tiếp thu một cách tự nhiên qua hoạt động thực hành Những tri thức về âm, chữ cái, tiếng (âm tiết) - chữ, thanh điệu – dấu ghi thanh đều được học qua những bài dạy chữ Tri thức về câu trong hội thoại (câu hỏi – đáp và dấu câu) cũng không được dạy qua bài lí thuyết mà chúng được hình thành ở học sinh qua việc hình dung cụ thể thế nào là câu hỏi, câu đáp và dấu biểu thị chúng trong một văn bản có thực Ở giai đoạn này, việc nắm tri thức của học sinh chỉ yêu cầu dừng ở mức nhận diện và sử dụng được các đơn vị tiếng Việt, các quy tắc sử dụng tiếng Việt khi tiến hành hoạt động nghe, nói, đọc, viết Phần tri thức có trong nội dung chương trình các lớp 1, 2, 3
vì vậy chỉ có giá trị xác định những tri thức cần cho học sinh làm quen, giúp các tác giả sách giáo khoa có cơ sở để soạn thảo
Ở giai đoạn 2 (lớp 4, 5) nội dung chương trình nhằm phát triển các kĩ năng nghe, nói, đọc, viết ở một mức cao hơn, hoàn thiện hơn Trong đó yêu cầu đọc hiểu và viết một văn bản hoàn chỉnh được đặc biệt coi trọng Ở giai đoạn này, học sinh đã bước đầu được cung cấp những khái niệm cơ bản về một số đơn vị ngôn ngữ và quy tắc sử dụng tiếng Việt làm nền móng vững chắc cho các kĩ năng tiếng Việt Bên cạnh những bài học thực hành (như ở giai đoạn trước) các
em còn học những bài về tri thức tiếng Việt (từ vựng, ngữ pháo, văn bản, phong cách…) Những bài học này không được trình bày dưới dạng lí thuyết đơn thuần, không phải được tiếp nhận hoàn toàn bằng tư duy trừu tượng mà chủ yếu vẫn bằng cách nhận diện, phát hiện trên những ngữ liệu đã được đọc, viết, nghe, nói
từ đó khái quát lên những khái niệm sơ giản ban đầu
Trang 191.3.2 Thiết kế và tiến hành bài học có hiệu quả
Trong thực tiễn lập kế hoạch và tiến hành dạy học, người giáo viên thường xuyên đối diện với câu hỏi: Làm thế nào để lựa chọn phương pháp dạy học phù hợp và có hiệu quả? Các nhà lý luận dạy học, các nhà giáo học pháp bộ môn thường đưa ra lời khuyên: Mỗi phương pháp dạy học có một giá trị riêng, không
có phương pháp dạy nào là vạn năng, giữ vị trí độc tôn trong dạy học, cần phối hợp sử dụng các phương pháp dạy học… Lời khuyên này không sai nhưng gần như không có tác dụng thao tác hoá; giá trị giúp đỡ đối với giáo viên quá ít nếu như không chỉ ra được các yếu tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn phương pháp dạy học Như vậy, cần phải góp phần trả lời câu hỏi: Việc lựa chọn phương pháp dạy học được tiến hành một cách tuỳ tiện, bất kì, hay bị ràng buộc bởi những tiêu chuẩn khoa học nào? Câu trả lời cần được tìm kiếm ở các mối quan hệ của phương pháp dạy học (hiểu theo cả 3 tầng nghĩa của nó) với các yếu tố liên quan,
đó là: Với mục tiêu dạy học; với nội dung dạy học; với nhu cầu, hứng thú, thói quen học tập của học sinh; năng lực, sở trường, kinh nghiệm sư phạm của giáo viên; với điều kiện giảng dạy và học tập Dưới đây là mấy cơ sở căn bản cần quan tâm khi lựa chọn phương pháp dạy học:
Chọn những phương pháp dạy học có khả năng cao nhất đối với việc thực hiện mục tiêu dạy học Mỗi mô hình lí luận dạy học, phương pháp dạy học đều
có những điểm mạnh, điểm hạn chế nhất định Nhưng khi xem xét việc thực hiện một mục tiêu dạy học nhất định thì có một số phương pháp dạy học có khả năng cao hơn các phương pháp dạy học khác Chẳng hạn nếu đặt mục tiêu nhanh chóng truyền thụ cho xong nội dung quy định thì phương pháp thuyết trình có vị trí quan trọng Nhưng nếu đặt mục tiêu phát triển năng lực tìm tòi sáng tạo của học sinh thì vấn đề sẽ khác đi
Lựa chọn các phương pháp dạy học tương thích với nội dung học tập Giữa nội dung và phương pháp dạy học có mối quan hệ tác động lẫn nhau, trong nhiều trường hợp quy định lẫn nhau Ở bình diện kĩ thuật dạy học, phương pháp dạy học cần tương thích với nội dung dạy học Mỗi nội dung dạy học đều liên hệ mật thiết với những hoạt động nhất định
Lựa chọn phương pháp dạy học cần chú ý đến hứng thú, thói quen của học sinh, kinh nghiệm sư phạm của giáo viên Cần chuẩn đoán nhu cầu, hứng thú của học sinh khi lựa chọn các phương pháp dạy học Đối với việc trình bày thông tin
Trang 20cần ưu tiên lựa chọn các phương pháp sử dụng phương tiện nghe nhìn, sử dụng truyền thông đa phương tiện càng tốt Đối với các hoạt động chế biến thông tin cần tổ chức các hoạt động tự phát hiện, phối hợp với làm việc theo nhóm, phát huy càng tối đa tính tích cực, sáng tạo của học sinh càng tốt Chú ý thay đổi phương pháp dạy học và hình thức tổ chức dạy học tránh nhàm chán, gây hứng thú cho học sinh Cần thay đổi phương pháp dạy học sau 15, 20 phút Ưu tiên lựa chọn các phương pháp dạy học mà học sinh, giáo viên đã thành thạo Với các phương pháp dạy học có ưu điểm tương đương, cần ưu tiên lựa chọn phương pháp dạy học mà giáo viên và học sinh đã thành thạo, bởi thực hiện dễ dàng hơn Hiện nay, rất cần thiết phải cho giáo viên và học sinh trở nên quen thuộc với các
kĩ thuật dạy học mới có hiệu quả cao trong việc thực hiện các mục tiêu giáo dục
Để nâng cao tay nghề cần:
Nghiên cứu các vấn đề đổi mới phương pháp dạy học qua sách, vở, giáo trình, tạp chí chuyên môn, các lớp tập huấn
Rút kinh nghiệm các giờ dạy của bản thân kết hợp với tiến hành dự giờ, trao đổi chuyên môn với đồng nghiệp
Lựa chọn phương pháp dạy học phù hợp với điều kiện dạy học: Ở đây đề cập đến phương pháp dạy học diễn ra trong mối quan hệ với các điều kiện vật chất, đặc biệt là thiết bị dạy học Đương nhiên là cần phải lựa chọn phương pháp dạy học phù hợp với điều kiện của nhà trường, của phòng thí nghiệm, của tình trạng đang có Trong khuôn khổ điều kiện cho phép, cần chọn thứ tự ưu tiên khả năng tốt nhất Các thiết bị dạy học hiện đại không luôn đồng nghĩa với các thiết
bị dạy học đắt tiền Tính hiện đại của thiết bị dạy học thể hiện ở việc sử dụng các thiết bị sao cho đạt yêu cầu cao nhất trong việc thực hiện các mục tiêu dạy học, thể hiện rõ tư tưởng sư phạm hiện đại
Tóm lại, trên đây là bốn cơ sở quan trọng nhất, là căn cứ xuất phát khi tiến hành lựa chọn, lập kế hoạch các phương pháp dạy học Điều quan trọng nhất là cần xác định lựa chọn phương pháp và hình thức tổ chức dạy học có thể giúp học sinh: Học tập với niềm say mê, hứng thú, khát khao tìm tòi khám phá Lĩnh hội tri thức trong các hoạt động học tập tích cực, chủ động, sáng tạo, theo phương pháp khoa học Học trong tương tác, trong việc hình thành các quan hệ hợp tác, thân thiện, cùng nhau giải quyết các nhiệm vụ học tập
Trang 211.4 Những vấn đề lí luận về dạy cho học sinh lớp 3 trong phân môn Tập đọc:
1.4.1 Vị trí, nhiệm vụ dạy học phân môn Tập đọc ở Tiểu học
Những kinh nghiệm của đời sống, những thành tựu văn hóa, khoa học, tư tưởng, tình cảm của cả thế hệ trước và của cả những người đương thời phần lớn
đã được ghi lại bằng chữ viết Nếu không biết đọc thì không thể tiếp thu nền văn minh của loài người, không thể sống một cuộc sống bình thường, có hạnh phúc với đúng nghĩa của từ này trong xã hội hiện đại Biết đọc, con người đã nhân khả năng tiếp nhận lên nhiều lần, từ đây con người biết tìm hiểu đánh giá cuộc sống nhận thức các mối quan hệ tự nhiên, xã hội, tư duy Biết đọc, con người sẽ có khả năng chế ngự một phương tiện văn hóa cơ bản giúp họ giao tiếp được với thế giới bên trong của người khác, thông hiểu được tư tưởng tình cảm của người khác, đặc biệt khi đọc các tác phẩm văn chương, con người không chỉ thức tỉnh
về nhận thức mà còn rung động tình cảm, nảy nở những ước mơ tốt đẹp, được khơi dậy năng lực hành động sức mạnh sáng tạo cũng như được bồi dưỡng tâm hồn Không biết đọc, con người sẽ không có điều kiện hưởng thụ sự giáo dục mà
xã hội dành cho họ, không thể hình thành một nhân cách toàn diện Đặc biệt trong thời đại bùng nổ thông tin thì biết đọc ngày càng quan trọng vì nó sẽ giúp con người sử dụng các nguồn thông tin, đọc chính là học, học nữa, học mãi, đọc
để tự học, học cả đời Vì những lẽ trên, dạy đọc có vị trí rất quan trọng ở Tiểu học Đọc trở thành một đòi hỏi cơ bản đầu tiên đối với những người đi học Đầu tiên trẻ phải học đọc, sau đó trẻ phải đọc để học Đọc giúp các em chiếm lĩnh được một ngôn ngữ để dùng trong giao tiếp và học tập Nó là công cụ để học tập môn học khác Nó tạo ra hứng thú và động cơ học tập Nó tạo ra điều kiện để học sinh có khả năng tự học và tinh thần học tập cả đời Nó là một khả năng không thể thiếu được của một con người văn minh Đọc một cách có ý thức cũng sẽ có tác động tích cực tới trình độ ngôn ngữ cũng như tư duy của người đọc Việc dạy đọc sẽ giúp học sinh hiểu biết hơn, bồi dưỡng ở các em lòng yêu cái thiện và cái đẹp, dạy cho các em biết suy nghĩ một cách logic cũng như biết tư duy có hình ảnh Như vậy đọc có một ý nghĩa to lớn và vị trí hết sức quan trọng vì nó bao gồm các nhiệm vụ giáo dưỡng, giáo dục và phát triển [10,trang 146]
Tập đọc với tư cách là một phân môn Tiếng Việt, tiếp tục những thành tựu dạy học mà học vần đạt được, nhưng nâng lên một mức đầy đủ hơn, hoàn chỉnh
Trang 22hơn Tính đa nghĩa của “đọc” kéo theo tính đa nghĩa của “ biết đọc” “Biết đọc” được hiểu theo nhiều mức độ Một em bé mới đi học biết đánh vần “ cờ - o – co”, ngập ngừng đọc từng tiếng một, thế cũng gọi là biết đọc Đọc thâu tóm được
tư tưởng của một cuốn sách trong vài ba trang cũng gọi là biết đọc Chọn trong biển sách báo nhân loại những gì mình cần, trong một ngày nắm được tinh thần của hàng chục cuốn sách cũng gọi là biết đọc Những năng lực này không phải tự nhiên mà có Nhà trường phải từng bước hình thành cho học sinh năng lực này
và trường Tiểu học nhận nhiệm vụ đặt viên gạch đầu tiên Tập đọc là một phân môn thực hành Nhiệm vụ quan trong nhất của nó là hình thành năng lực đọc cho học sinh Năng lực đọc được tạo nên từ bốn kĩ năng cũng là bốn yêu cầu về chất lượng của “đọc”: đọc đúng, đọc nhanh (đọc lưu loát, trôi chảy), đọc có ý thức (thông hiểu nội dung những điều mình đọc hay còn gọi là đọc hiểu và đọc diễn cảm Bốn kĩ năng này được hình thành từ hai hình thức đọc: đọc thành tiếng và đọc thầm Chúng được rèn luyện đồng thời và hỗ trợ lẫn nhau Sự hoàn thiện một trong những kĩ năng này sẽ có tác động tích cực đến những kĩ năng khác Ví
dụ, đọc đúng là tiền đề của đọc nhanh cũng như cho phép thông hiểu nội dung văn bản Ngược lại nếu không hiểu điều mình đang đọc thì không thể đọc nhanh
và diễn cảm được Nhiều khi khó nói được rạch ròi kĩ năng nào làm cơ sở cho kĩ năng nào, nhờ đọc đúng mà hiểu đúng hay nhờ hiểu đúng mà đọc được đúng Vì vậy trong dạy học không thể xem nhẹ yếu tố nào
Nhiệm vụ thứ hai của dạy đọc là giáo dục lòng ham đọc sách, hình thành phương pháp và thói quen làm việc với văn bản, làm việc với sách cho học sinh Làm cho sách được tôn kính trong trường học, đó thực sự là một điều kiện để trường học thực sự trở thành trung tâm văn hóa Nói cách khác, thông qua việc dạy đọc, phải làm cho học sinh thích thú đọc và thấy được khả năng đọc là có lợi cho các em trong suốt cả cuộc đời, thấy được đó là một trong những con đường đặc biệt để tạo cho mình một cuộc sống trí tuệ đầy đủ và phát triển [10,trang 147]
Ngoài ra, phân môn Tập đọc còn có nhiệm vụ: Làm giàu kiến thức về ngôn ngữ, đời sống và kiến thức văn học cho học sinh Phát triển ngôn ngữ và tư duy cho học sinh Giáo dục tư tưởng đạo đức, tình cảm, thị hiếu thẩm mĩ cho học sinh Bồi dưỡng tri thức, nhận thức, hiểu biết Rèn luyện các kỹ năng cho học sinh
Trang 23Đối với phân môn Tập đọc, nhiệm vụ rèn luyện các kỹ năng cho học sinh được đưa lên hàng đầu Nhiệm vụ rèn luyện các kỹ năng trong giờ tập đọc có 2
kỹ năng chính: kỹ năng ngôn ngữ và kỹ năng nghe Xét đến kỹ năng ngôn ngữ
có 4 kỹ năng cơ bản là nghe, nói, đọc, viết Đối với phân môn Tập đọc chủ yếu
là 3 kỹ năng nghe, nói, đọc.Trong đó: Kỹ năng nghe bao gồm: nghe bạn đọc, nghe giáo viên đọc,nghe chính mình đọc để phân biệt, tiếp nhận, nghe để thu nhận thông tin Nghe rất nhạy cảm bởi vì văn bản mang giá trị nghệ thuật nên phải nghe để lựa chọn nhận biết những cái hay, cái đẹp trong văn bản Kỹ năng nói: Nói trước tập thể, nói lưu loát, rành mạch, tóm tắt được ý đoạn văn, ý câu chuyện, bày tỏ được thái độ của mình, không nói lí nhí, rời rạc Kỹ năng đọc : Nếu phân biệt theo số lượng thì có đọc đồng thanh và đọc cá nhân Đọc đồng thanh nhằm giúp học sinh yếu dựa vào để đọc và làm thay đổi không khí giờ học Đọc cá nhân: nếu dựa vào âm phát ra ta có đọc to, đọc nhỏ, đọc nhẩm, đọc thầm.Trong giờ tập đọc chủ yếu đọc to và đọc thầm Nếu căn cứ vào trình độ đọc thì chia làm 2 loại đó là đọc có nhẩm vần, đọc trơn, đọc nhanh, đọc lướt và đọc đúng, đọc hiểu, đọc diễn cảm, đọc nghệ thuật
1.4.2 Mục tiêu của phân môn Tập đọc ở Tiểu học:
Việc giảng dạy bộ môn Tập đọc trong nhả trường nhằm tạo cho các em năng lực sử dụng tiếng Việt, văn hóa để suy nghĩ, giao tiếp và học tập phát triển các kỹ năng đọc và nghe cho học sinh, trau dồi vốn tiếng việt, vốn văn học để phát triển tư duy, mở rộng sự hiểu biết của học học sinh về cuộc sống cụ thể Làm giàu và tích cực hóa vốn từ, vốn diễn đạt Bồi dưỡng vốn văn học ban đầu,
mở rộng hiểu biết về cuộc sống cung cấp mẫu để hình thành một số kĩ năng để phục vụ cho đời sống và việc học tập của bản thân như điền vào các tờ khai (đơn giản), làm đơn, viết thư, phát biểu trong cuộc họp, giới thiệu hoạt động của lớp Phát triển một số tư duy cơ bản như: phân tích, tổng hợp, phán đoán… Bồi dưỡng tư duy, tình cảm và tâm hồn lành mạnh, trong sáng, tình yêu cái đẹp, cái thiện thái độ ứng xử đúng mức trong cuộc sống, hứng thú đọc sách và yêu thích tiếng Việt, cụ thể: Bồi dưỡng trẻ yêu quý, kính trọng, biết ơn và trách nhiệm đối với ông bà cha mẹ, thầy cô, yêu trường yêu lớp, đoàn kết, giúp đỡ bạn bè,vị tha nhân hậu Xây dựng và năng lực thể hiện những phép xã giao tối thiểu Từ những mẩu chuyện, bài văn, bài thơ hấp dẫn trong sách giáo khoa, hình thành phát triển ham muốn đọc sách, khả năng cảm thụ văn bản, văn học, cảm thụ vẻ đẹp của Tiếng Việt
Trang 241.5 Nguyên tắc dạy Tập đọc ở Tiểu học
Qua quá trình tìm hiểu thực tế, nhìn chung mỗi giờ tập đọc đều có hai phần lớn là tìm hiểu nội dung bài và luyện đọc, hai nội dung này có thể tiến hành cùng một lúc, đan xen vào nhau, cũng có thể tách rời nhau tùy từng bài và từng giáo viên Song dù dạy theo cách nào thì hai phần này luôn có mối quan hệ tương hỗ, khăng khít Phần tìm hiểu bài, giúp học sinh tìm hiểu kỹ nội dung nghệ thuật của từng bài, từ đó học sinh đọc đúng, diễn cảm tốt Ngược lại, đọc diễn cảm thể hiện nội dung bài, thể hiện những hiểu biết của mình xung quanh bài học Như vậy phần luyện đọc có vai trò quan trọng, học sinh đọc tốt sẽ giúp các em hoàn thành được năng lực giao tiếp bằng ngôn ngữ của chính bản thân mình Đọc tốt giúp các em tiếp thu được văn minh của loài người, bồi dưỡng tâm hồn, tình cảm, phát triển tư duy Bên cạnh các yếu tố đó, giáo viên cần chú ý đến một số nguyên tắc giảng dạy trong phân môn Tập đọc, giáo viên cần phải chú ý đến một
số nguyên tắc sau:
1.5.1 Nguyên tắc phát triển tư duy
Ngôn ngữ và tư duy của con người là hai phạm trù có liên hệ mật thiết, có
sự hỗ trợ và tác động lẫn nhau Ngôn ngữ là công cụ để tư duy và tư duy là hiện thực trực tiếp của ngôn ngữ Ngôn ngữ vừa là tiền đề vừa là điều kiện để tư duy phát triển và ngược lại Mối quan hệ này có ảnh hưởng rất lớn đến quá trình dạy tập đọc cho học sinh tiểu học
Mục tiêu đầu tiên của phân môn Tập đọc trong nhả trường nhằm tạo cho các em năng lực sử dụng tiếng Việt, văn hóa để suy nghĩ, giao tiếp và học tập phát triển các kỹ năng đọc và nghe cho học sinh, trau dồi vốn tiếng việt, vốn văn học để phát triển tư duy, mở rộng sự hiểu biết của học học sinh về cuộc sống cụ thể Để giờ học đạt kết quả cao thì phải đảm bảo nguyên tắc phát triển tư duy, phát huy tính tích cực chủ đạo của học sinh Do vậy, phần luyện đọc giáo viên cần gợi mở, hướng dẫn học sinh những chỗ cần ngắt giọng, hạ giọng ở những câu thơ, những đoạn văn trong bài để từ đó tìm ra cách đọc hay hơn
1.5.2 Nguyên tắc giao tiếp ( nguyên tắc phát triển lời nói)
Để hình thành các kĩ năng, kĩ xảo ngôn ngữ, học sinh phải được hoạt động trong các môi trường giao tiếp cụ thể, đặc biệt là môi trường văn hóa ứng xử Chỉ có trong môi trường giao tiếp, môi trường văn hóa ứng xử, học sinh mới
Trang 25hiểu lời nói của người khác, đồng thời vận dụng ngôn ngữ sáng tạo, để người khác hiểu được tư tưởng tình cảm của các em Bởi lẽ ngôn ngữ có quan hệ chặt chẽ với văn hóa của một dân tộc, nhất là văn hóa ứng xử Chúng ta ai cũng biết, trẻ em không thể lĩnh hội được lời nói nếu chúng không nắm được lời miệng Do vậy khi giảng dạy, cần đảm bảo nguyên tắc này Điều này được thể hiện rõ hơn ở phần luyện đọc, ở phần này học sinh được rèn luyện về cách phát âm, cách ngỉ hơi đúng chỗ, cách đọc đúng ngữ điệu
1.5.3 Nguyên tắc hướng tới những phương pháp và dạy học tích cực
Nguyên tắc này thể hiện sự kế thừa và phát huy những phương pháp và hình thức tổ chức dạy học, phát huy tính tích cực của người học đã được vận dụng trong dạy tập đọc từ lâu nay Đưa vào những yếu tố mới ( những phương pháp, kỹ thuật dạy học mới) để giúp người học phát huy tính tích cực trong học tập Tiếp thu và vận dụng một số phương pháp và hình thức dạy học tích cực đã đạt được thành tựu ở nước ngoài phù hợp với thực tiễn Việt Nam Theo nguyên tắc này, việc dạy phân môn Tập đọc phải thể hiện tinh thần là hướng vào việc tổ chức các hoạt động học tập cho học sinh Hoạt động học phân môn tập đọc của học sinh được hiểu là hoạt động giao tiếp, hoạt động trí tuệ được thể hiện ra bên ngoài bằng các hành động cụ thể có thể quan sát được, lượng hóa được (ví dụ như hoạt động tìm tòi phát hiện kiến thức, thảo luận, tranh luận, trò chơi học tập…)
Đối với phân môn Tập đọc, hoạt động của giáo viên và học sinh phải được thực hiện theo phương pháp mới Giáo viên giao việc cho học sinh tự tìm hiểu, thảo luận và đưa ra ý kiến, quan điểm, kết quả đã thảo luận của mình Giáo viên phải kiểm tra xem học sinh có làm việc không, có hiểu công việc không, đồng thời trợ giúp, hướng dẫn cho học sinh trả lời những thắc mắc Tổ chức cho học sinh báo cáo kết quả làm việc của nhóm ( bằng miệng, giấy, phiếu học tập…)
Tổ chức cho học sinh tự đánh giá kết quả học tập của mình và của bạn ( cá nhân, trong nhóm, trước lớp) sau đó giáo viên nhận xét, đánh giá
Để luyện đọc đạt hiệu quả cao thì việc tổ chức luyện đọc phải có mục tiêu
rõ ràng, tường minh, trực quan và lượng hóa được; cường độ luyện tập phải cao, nghĩa là về nguyên tắc, luyện tập càng nhiều càng tốt và một nội dung luyện tập phải được nhắc đi nhắc lại nhiều lần trên những ngữ liệu khác nhau, được củng
cố nhiều lần để thành kĩ xảo; khi luyện tập phải lựa chọn ngữ liệu (từ ngữ, câu,
Trang 26đoạn) để luyện đọc sao cho tiết kiệm thời gian luyện tập; trong khi luyện tập cần phối hợp đồng bộ, tối đa các biện pháp luyện đọc
Vận dụng các thuyết đa năng lực của Howard Gardner, lý thuyết về lĩnh vực nhận thức, lĩnh vực tình cảm và tâm vận động, lý thuyết về làm cho trẻ thông minh và nhạy cảm hơn (MISC) vào dạy học Tập đọc cho học sinh lớp 3 nhằm giúp giáo viên trong việc thiết kế bài học tổng thể, tạo hứng thú học tập cho học sinh, xây dựng các mục tiêu về hành vi của học sinh
số hình ảnh nhân vật chi tiết trong bài tập đọc
b) Kết hợp rèn kỹ năng nghe, nói:
Qua việc hướng dẫn học sinh luyện đọc và tìm hiểu bài, giáo viên giúp các
em có cơ hội rèn luyện kỹ năng nghe-nói (nghe giáo viên và các bạn đọc, nghe giáo viên hướng dẫn đọc bài hoặc các bạn trả lời câu hỏi, nói trước lớp hoặc trao đổi với bạn bè về nội dung bài tập đọc…)
c) Cung cấp và mở rộng vốn sống:
Các bài tập trong sách giáo khoa Tiếng Việt 3 phản ánh nhiều lĩnh vực khác nhau: Từ chủ điểm : Măng non, mái ấm gia đình tới trường, cộng đồng, quê hương, Bắc - Trung - Nam, anh em một nhà, thành thị nông thôn,…
Thông qua hệ thống bài tập đọc theo chủ điểm và các lĩnh vực khác nhau, qua những câu hỏi, bài tập khai thác nội dung bài, phân môn tập đọc còn cung cấp cho học sinh những hiểu biết về thiên nhiên, xã hội và con người, cung cấp vốn từ, vốn diễn đạt, những hiểu biết về tác phẩm văn học (đề tài, cốt truyện, nhân vật, ), qua đó góp phần rèn luyện nhân cách cho học sinh
Trang 27Nội dung chương trình: Sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 3 gồm 2 tập, có 15 đơn vị học, mỗi đơn vị học trong 2 tuần gắn với một chủ điểm
* Chương trình được xây dựng theo từng chủ điểm
- Tập 1 gồm 8 chủ điểm sau:
+ Tuần 1, 2: Măng non (thiếu nhi)
+ Tuần 3, 4: Mái ấm (gia đình)
+ Tuần 5, 6: Tới trường (trường học)
+ Tuần 7, 8 : Cộng đồng (sống với những người xung quanh)
+ Tuần 9 : Ôn tập giữa kì I
+ Tuần 10, 11: Quê hương
+ Tuần 12, 13: Bắc – Trung – Nam (các vùng miền trên đất nước) + Tuần 14,15: Anh em một nhà (các dân tộc trên đất nước ta)
+ Tuần 16, 17: Thành thị - nông thôn
+ Tuần 18: Ôn tập cuối kì I
- Tập 2 gồm 7 chủ điểm sau :
+ Tuần 19, 20: Bảo vệ Tổ quốc
+ Tuần 21, 22 :Sáng tạo (hoạt động khoa học, tri thức)
Trang 28* Phân bố tiết:
Mỗi tuần có 2 bài tập đọc trong 3 tiết
a Tuần thứ nhất:
- Tập đọc + Kể chuyện 2 tiết : một chuyện kể
- Tập đọc 1 tiết : một văn bản thơ
b Tuần thứ 2:
- Tập đọc + Kể chuyện 2 tiết: một chuyện kể
- Tập đọc 1 tiết: một văn bản miêu tả
Tập đọc và kể chuyện: Mỗi tuần vẫn bắt đầu từ một truyện kể, truyện này chỉ được tập đọc trong thời gian 1,5 tiết, dành thời gian 0,5 tiết cho học sinh kể lại câu chuyện mới học
* Các bài tập đọc trong sách Tiếng Việt lớp 3:
- Sách Tiếng Việt lớp 3 tập 1:
• Tuần 1, 2: Măng non
+ Cậu bé thông minh (SGK/tr 4)
Trang 29+ Ông ngoại (SGK/tr 34)
• Tuần 5, 6: Tới trường
+ Người lính dũng cảm (SGK/tr 38)
+ Mùa thu của em (SGK/tr 42)
+ Cuộc họp của chữ viết (SGK/tr 44) + Bài tập làm văn ( SGK/tr 46)
+ Ngày khai trường (SGK/tr 49)
+ Nhớ lại buổi đầu đi học (SGK/tr 51)
• Tuần 7, 8: Cộng đồng
+ Trận bóng dưới lòng đường (SGK/tr 54) + Lừa và ngựa (SGK/tr 57)
+Bận (SGK/tr 59)
+ Các em nhỏ và cụ già (SGK/tr 62) + Tiếng ru (SGK/tr 64)
+ Những chiếc chuông reo (SGK/tr 67)
• Tuần 10,11: Quê hương
+ Giọng quê hương (SGK/tr 76)
Trang 30+ Người con của Tây Nguyên (SGK/tr 103)
+ Một trường tiểu học vùng cao (SGK/tr 118)
+ Hũ bạc của người cha (SGK/tr 121)
+ Nhà bố ở (SGK/tr 124)
+ Nhà rông ở Tây Nguyên (SGK/tr 127)
• Tuần 16, 17: Thành thị nông thôn
Trang 31• Tuần 21, 22: Sáng tạo
+ Ông tổ nghề thêu (SGK/tr 22)
+ Bàn tay cô giáo (SGK/tr 25)
+ Người trí thức yêu nước (SGK/tr 28) + Nhà bác học và bà cụ (SGK/tr 31)
+ Mặt trời mọc ở đằng … tây (SGK/tr 52) + Tiếng đàn (SGK/tr54)
+ Rước đèn ông sao (SGK/tr 71)
Trang 32+ Bé thành phi công (SGK/tr 91)
+ Lời kêu gọi toàn dân tập thể dục (SGK/tr 94)
• Tuần 30, 31, 32: Ngôi nhà chung
+ Mặt trời xanh của tôi (SGK/tr 125)
+ Quà của đồng nội (SGK/tr 127
+ Sự tích chú Cuội cung trăng (SGK/tr 131)
+ Mưa (SGK/tr 134)
+ Trên con tàu vũ trụ (SGK/tr 136)
2.2 Một số phương pháp dạy Tập đọc ở lớp 3:
a Đọc mẫu của giáo viên:
Đọc mẫu là một hoạt động mang tính đặc thù của giáo viên Khi dạy tập đọc người giáo viên phải đọc mẫu trước lớp để học sinh noi theo Từ đó dần dần hình thành kỹ năng đọc cho học sinh Giọng đọc mẫu của giáo viên có tác dụng làm mẫu cho học sinh luyện đọc Do đó người giáo viên phải biết đọc đúng Đọc toàn bài: nhằm giới thiệu, gây xúc cảm, tạo hứng thú và tâm thế đọc cho học sinh Giáo viên căn cứ vào trình độ của học sinh lớp mình có thể đọc 1
Trang 33hoặc 2 lần tuỳ mục đích đặt ra Đọc câu, đoạn nhằm minh hoạ, hướng dẫn, gợi ý hoặc “tạo tình huống” để học sinh nhận xét, giải thích tự tìm ra cách đọc… (có thể đọc một vài lần trong quá trình dạy học) Đọc từ, cụm từ nhằm sửa lỗi phát
âm và rèn cách đọc đúng cho học sinh
b Hướng dẫn học sinh tìm hiểu nghĩa của từ và nội dung bài:
Đối với tìm hiểu nghĩa của từ: Những từ ngữ cần tìm hiểu nghĩa là những
từ khó đối với học sinh được chú giải sau bài đọc, từ ngữ phổ thông mà học sinh địa phương vùng dân tộc chưa quen, từ ngữ đóng vai trò chìa khoá để hiểu nội dung bài đọc Những từ ngữ còn lại, nếu học sinh nào chưa hiểu, giáo viên giải thích riêng cho học sinh đó hoặc tạo điều kiện để học sinh khác giải thích giúp, không nhất thiết phải đưa ra giải thích chung cho cả lớp
* Cách hướng dẫn học sinh tìm hiểu nghĩa:
Đọc phần giải nghĩa trong sách giáo khoa (thông thường) Miêu tả sự vật, đặc điểm được biểu thị ở từ cần giải nghĩa (Có thể phối hợp động tác, cử chỉ Ví dụ: Vòng vèo: giáo viên có thể dùng tay uốn lượn) Sử dụng hiện vật, tranh vẽ,
mô hình …Tìm từ đồng nghĩa hoặc trái nghĩa với từ cần giải nghĩa Đặt câu với
từ cần giải nghĩa: cần lưu ý là phải giới hạn việc giải nghĩa từ trong phạm vi nghĩa cụ thể của bài học, không mở rộng những nghĩa khác, nhất là những nghĩa
xa lạ đối với học sinh, không nên bày ra những biện pháp giải nghĩa cồng kềnh gây quá tải, làm mất thời gian luyện đọc của học sinh
* Tìm hiểu nội dung bài:
Phạm vi nội dung cần tìm hiểu: Đối với văn bản văn chương, nhân vật (số lượng, tên, đặc điểm), tình tiết câu chuyện, nghĩa đen, nghĩa bóng dễ nhận ra của các câu văn, câu thơ Ý nghĩa của câu chuyện, bài văn, bài thơ Với các văn bản khác (khoa học, hành chính, báo chí …): Tìm hiểu các đoạn của văn bản, hình thức và bố cục, nội dung và ý nghĩa của văn bản, tác dụng …
Cách tìm hiểu nội dung bài đọc: Sách giáo khoa thường nêu những câu hỏi tái hiện, sau đó mới đặt ra những câu hỏi suy luận Dựa vào câu hỏi đó giáo viên
tổ chức cho học sinh hoạt động trao đổi, thảo luận, trả lời câu hỏi, báo cáo kết quả thảo luận … sao cho mỗi em đều được làm việc để tự nắm được bài Trong quá trình giảng dạy giáo viên có thể thêm những câu hỏi phụ, câu hỏi dẫn dắt, những yêu cầu, những lời giảng bổ sung (không lạm dụng việc thuyết giảng)
Trang 34Sau khi học sinh nêu ý kiến, giáo viên sơ kết, nhấn mạnh ý chính và ghi bảng Trong quá trình tìm hiểu bài, giáo viên phải chú ý rèn cho học sinh cách trả lời câu hỏi, diễn đạt ý băng câu văn gọn, rõ
c Hướng dẫn đọc và học thuộc lòng:
* Luyện đọc thành tiếng: Đọc thành tiếng là đọc phát ra âm thanh Luyện đọc thành tiếng là để củng cố kỹ năng đọc đúng chính âm và ngữ điệu, giúp học sinh có khả năng đọc tốt hơn Đọc thành tiếng còn để luyện đọc hay (trên cơ sở đọc đúng) giáo viên dựa trên căn cứ nội dung, phong cách văn bản để dẫn dắt, gợi mở cho học sinh tìm ra cách đọc, tập thể hiện bằng giọng đọc
Hình thức đọc thành tiếng gồm có đọc theo cá nhân, từng cặp, nhóm (đôi, lớn) đồng thanh, cả lớp đồng thanh, một nhóm học sinh đọc theo cách phân vai Giáo viên lắng nghe để phát hiện khả năng đọc của từng học sinh để có cách rèn đọc thích hợp
* Luyện đọc thầm: Đọc thầm là đọc không phát ra âm thanh, tốc độ đọc thầm nhanh hơn đọc thành tiếng 1,5 – 2 lần Đọc thầm có ưu thế trong việc tiếp nhận, thông hiểu nội dung văn bản một cách hiệu quả
Dựa vào sách giáo khoa, giáo viên giao nhiệm vụ cụ thể cho học sinh nhằm
định hướng việc trước khi các em đọc “ đọc - hiểu” (Đọc câu, đoạn hay khổ thơ
nào? Đọc để hiểu, biết nhớ điều gì?) Có đoạn văn, đoạn thơ cần cho học sinh đọc thầm 2-3 lượt với tốc độ nhanh dần và từng bước thực hiện các nhiệm vụ từ
dễ đến khó, nhằm rèn cho học sinh kĩ năng đọc hiểu Tránh đọc thầm chiếu lệ, hình thức (đọc lâm râm nhưng không nắm được nội dung, giáo viên giao việc không cụ thể rõ ràng)
* Luyện đọc thuộc lòng:
Với những bài thuộc lòng giáo viên cần cho học sinh luyện đọc kĩ hơn Cần
ghi bảng một số “từ chốt” để làm “điểm tựa”để học sinh dễ nhớ và thuộc sau đó
xoá dần từ chốt; hoặc tổ chức trò chơi luyện học thuộc lòng nhẹ nhàng tạo hứng thú cho học sinh
* Đọc lướt : Khi muốn cho học sinh tìm 1 từ, cụm từ, câu nào đó mà không phải phải tìm hiểu nội dung của câu đoạn đó, ta có thể cho học sinh đọc lướt cả
Trang 35đoạn hay bài để tìm Đọc lướt đòi hỏi học sinh lướt mắt nhanh tìm và nêu lên những yêu cầu của giáo viên
2.3 Những yêu cầu và trình tự lên lớp về kỹ năng đọc trong phân môn Tập đọc lớp 3
Môn Tập đọc là môn thực hành Tiếng Việt, do vậy khi dạy môn Tập đọc cần rèn cho học sinh 4 kỹ năng đọc sau: đọc đúng, đọc nhanh, đọc thầm – đọc hiểu, đọc diễn cảm
Đọc đúng là sự tái hiện mặt âm thanh của bài đọc một cách chính xác, không có lỗi Đọc đúng là đọc không thừa, không sót âm, vần, tiếng Đọc đúng phải thể hiện đúng ngữ âm chuẩn, tức là đọc đúng chính âm Nói cách khác là không đọc theo cách phát âm địa phương lệch chuẩn Đọc đúng bao gồm đọc đúng các âm thanh (đúng các âm vị) ngắt nghỉ hơi đúng chỗ (đọc đúng ngữ điệu)
Đọc nhanh (còn gọi là đọc lưu loát trôi chảy) là nói đến phẩm chất đọc về mặt tốc độ, là việc đọc không ê a ngắc ngứ, không vừa đọc vừa đánh vần [10,trang 168] Vấn đề tốc độc đọc chỉ đặt ra sau khi đọc đúng Mức độ thấp nhất của đọc nhanh là đọc trơn (nhiệm vụ này phần dạy học phân môn học vần phải đảm nhận), đọc không ê a ngắc ngứ, không vừa đọc vừa đánh vần Về sau, tốc độ đọc phải đi song song với việc tiếp nhận có ý thức bài đọc Khi đọc cho người khác nghe, thì người đọc phải xác định tốc độ đọc nhanh nhưng để cho người khác nghe hiểu kịp được Vì vậy, đọc nhanh không phải là đọc liến thoắng Tốc
độ chấp nhận được của đọc nhanh khi đọc thành tiếng trùng với tốc độ của lời nói
Đọc thầm, đọc hiểu: Đọc thầm là hình thức đọc không phát ra thành tiếng Đọc thâm có ưu thế là nhanh hơn đọc thành tiếng và là hình thức đọc tốt nhất để tiếp cận, thông hiểu nội dung văn bản do không còn phải chú ý đến việc phát âm
mà chỉ tập trung để hiểu điều mình đọc [10, trang 176] Khi đọc thầm, do không phải phát ra thành tiếng, thành lời, nên người đọc hao tổn sức lực, đỡ mệt mỏi hơn Đọc thầm không phải đọc tất cả các chữ mà có thể đọc lướt nên tốc độ đọc thầm nhanh hơn đọc thành tiếng Đọc thầm giữ nguyên được sự yên tĩnh, không làm ảnh ưởng tới suy nghĩ, tới công việc của người khác khi làm việc trong cùng một không gian hẹp Đọc thầm cho phép người đọc có điều kiện tập trung tư
Trang 36tưởng theo dõi văn bản khi đọc và có thể đọc đi đọc lại những câu chữ mà mình chưa hiểu giúp người đọc nắm chắc nội dung văn bản Luyện kĩ năng đọc thầm, đọc lướt để nắm thông tin: Đọc thầm (đọc lướt bằng mắt) để nhận biết nội dung thông tin có trong văn bản Đọc thầm vì không cần phát âm thành tiếng nên tốc
độ đọc thường nhanh hơn so với đọc thành tiếng Trong đời sống của người lớn,
từ 95% đến 99% là đọc thầm nên việc dạy học đọc thầm cho HS trong nhà trường không chỉ là việc rèn luyện cho các em một năng lực học tập mà quan trong hơn, còn rèn luyện cho các em một năng lực hoạt động trong cuộc sống Chất lượng của việc đọc thầm sẽ được đánh giá qua chất lượng của HS trả lời các câu hỏi/yêu cầu: đọc lướt để trả lời câu hỏi; đọc lướt để lấy thông tin chính trong mỗi đoạn; đọc lướt để tóm tắt nội dung của từng đoạn, của bài đọc… Thông qua việc đọc thầm, học sinh sẽ hiểu được nội dung của bài thơ, đoạn văn, bài văn Nhờ đọc thầm, học sinh mới có thể đọc hiểu được
Đọc diễn cảm: Đó là việc đọc thể hiện kĩ năng làm chủ ngữ điệu, chỗ ngừng giọng, cường điệu giọng để biểu đạt đúng ý nghĩ và tình cảm mà tác giả gửi gắm trong bài đọc, đồng thời biểu hiện sự thông hiểu, cảm thụ của người đọc đối với tác phẩm Đọc diễn cảm là biết làm chủ ngữ điệu để bộc lộ cảm xúc của bài đọc, đọc diễn cảm không những đạt được yêu cầu đọc đúng mà còn kèm theo
cử chỉ, lời nói để góp phần diễn tả nội dung bài Đọc diễn cảm thể hiện năng lực
ở trình độ cao và chỉ được thực hiện trên cơ sở đọc đúng và đọc lưu loát
Các bước lên lớp của giờ Tập đọc lớp 3: Để dạy một giờ Tập đọc cần tiến hành các bước sau:
a) Chuẩn bị cho giờ dạy
Giáo viên phải đọc bài nhiều lần để đọc tốt và hiểu thấu đáo nội dung bài đọc Phải trả lời các câu hỏi và các câu hỏi này sẽ giúp xác định mục đích, yêu cầu, nội dung và phương pháp của bài tập đọc
+ Trong bài tập đọc, học sinh dễ mắc những lỗi nào khi phát âm? (Đó thường là những tiếng khó, những chỗ ngắt nhịp khó, đặc biệt hoặc câu quá dài) + Giọng điệu chung của cả bài như thế nào? Đoạn nào cần nhấn mạnh, cần đọc diễn cảm, cần bộc lộ cảm xúc gì?
+ Bài cần được đọc trong thời gian bao lâu? (Xác định tốc độ)
Trang 37+ Những từ ngữ nào cần được dạy, những nội dung nào cần hướng dẫn học sinh tìm hiểu?
Những nội dung vừa xác định ở trên phải được kí hiệu lại trên bài đọc trong sách giáo khoa Giáo viên cố gắng sử dụng tối đa văn bản của sách giáo khoa, dùng kí hiệu để ghi lại những ngữ điệu của bài
Ví dụ: dấu “/” dùng ngắt hơi, tạo tiết tấu ; dấu “ //” để chỉ sự nghỉ hơi dài;
“↑” là đọc lên giọng; dấu “↓”: xuống giọng; “─” đọc chậm lại, kéo dài giọng; dấu gạch dưới; nhấn giọng Những nội dung cần tìm hiểu của bài như từ, cụm từ, câu cần khai thác, những tình tiết của bài cần tìm hiểu nên đánh dấu lại trên bài tập đọc
Những nội dung trên cần được xem là mục đích để xây dựng hệ thống câu hỏi, bài tập cho giờ Tập đọc Cần xem xét hệ thống câu hỏi của sách giáo khoa
để có sự điều chỉnh phù hợp với cách hiểu của mình về bài đọc cũng như phù hợp với đối tượng học sinh Cần lựa chọn, bổ sung lại hệ thống câu hỏi, bài tập
để làm rõ cách đọc, nội dung và nghệ thuật của bài Ví dụ bài tập tìm các từ cần nhấn giọng khi đọc, bài tập về cách ngắt nhịp, bài tập tìm các từ ngữ, chi tiết, hình ảnh…
Chuẩn bị đồ dùng dạy học phục vụ cho giờ dạy, ví dụ đồ dùng trực quan (tranh ảnh, vật thật…), bảng phụ có bài tập ghi sẵn…, yêu cầu học sinh phải làm trước một số bài tập
b) Tiến hành soạn giáo án
Giáo án là bản thiết kế vạch ra mục đích của giờ dạy, dự tính những công việc của thầy và trò sẽ làm trong giờ học Giáo án sẽ cho thấy yêu cầu của giờ học, các công việc cần chuẩn bị cho giờ học và các bước lên lớp Trong giáo án
có mục yêu cầu xác định mục đích của giờ dạy, những gì cần đạt tới của học sinh Mục này cần chỉ ra được học sinh phải đọc bài như thế nào và hiểu được những nội dung gì của bài Mục chuẩn bị ghi lại những việc làm chuẩn bị cho giờ dạy
Các bước lên lớp giờ Tập đọc:
Bước 1: Ổn định tổ chức
Trang 38-Mục đích, ý nghĩa : Nhằm chuẩn bị tâm thế cho học sinh bước vào giai đoạn nhận kiến thức mới
-Nội dung: Trưởng ban văn nghệ cho lớp hát tập thể một bài
Bước 2: Ôn bài :
và kỹ năng giảng dạy
- Nội dung: Trưởng ban học tập điều khiển việc ôn bài qua các nội dung: + Kiểm tra kỹ năng đọc bằng cách cho học sinh đọc bài tập đọc
+ Kiểm tra nội dung kiến thức bài tập đọc bằng cách nêu câu hỏi, yêu cầu học sinh trả lời hoặc đưa ra tình huống yêu cầu học sinh giải quyết dựa trên kiến thức đã học
Bước 3: Dạy bài mới ( Trọng tâm tiết dạy)
* Giới thiệu bài mới:
- Mục đích, ý nghĩa: Thu hút học sinh vào bài mới, gây hứng thú học tập, tạo tình huống giao tiếp
Trang 39+ Luyện đọc nối tiếp câu: Giáo viên cho học sinh đọc nối tiếp từng câu cho đến hết bài sau đó cùng học sinh phát hiện những tiếng, từ các em đọc còn sai và hướng dẫn đọc lại những tiếng, từ đó
+ Luyện đọc đoạn:
+/ Giáo viên phân đoạn, hướng dẫn cách đọc một số câu khó trong bài.Nhấn giọng một số từ ngữ cần thiết, hướng dẫn ngắt nghỉ đúng ở các dấu câu Cho học sinh hiểu một số từ ngữ khó
+/ Luyện đọc câu khó trên bảng phụ
+/ Học sinh đọc nối tiếp đoạn trong nhóm
+/ Thi đọc đoạn giữa các nhóm
+ Luyện đọc đồng thanh: đọc đồng thanh một đoạn hoặc cả bài
* Tìm hiểu bài:
-Mục đích, ý nghĩa: Giúp học sinh nắm bắt được nội dung của bài đọc, qua
đó giáo dục tư tưởng, tình cảm, lòng nhân ái, vị tha, nhằm hoàn thiện nhân cách của học sinh Giúp học sinh tìm hiểu nội dung dẫn đến đọc diễn cảm
- Nội dung, phương pháp:
+ Giáo viên giao phiếu học tập cho các nhóm thảo luận và trả lời câu hỏi +Giáo viên theo dõi các nhóm, hướng dẫn, gợi ý để đi đến quyết định chung
* Luyện đọc lại bài: ( đọc diễn cảm)
-Mục đích, ý nghĩa: Rèn kỹ năng đọc diễn cảm, phát triển năng khiếu cho học sinh
-Nội dung:
+ Cho học sinh tập đọc diễn cảm trong nhóm
+Tổ chức cho học sinh đọc phân vai, đọc diễn cảm một đoạn, đọc thuộc lòng
Trang 40- Hướng dẫn học sinh chuẩn bị bài hôm sau
2.4 Các kiểu dạng bài tập dạy học Tập đọc
a) Bài tập luyện đọc thành tiếng
* Bài tập luyện chính âm;
Bài tập luyện chính âm có các dạng sau:
Giáo viên đọc mẫu những từ ngữ, câu có chứa tiếng, trong đó có âm học sinh hay đọc lẫn, yêu cầu học sinh đọc theo Hoặc giáo viên không đọc mẫu, yêu cầu học sinh đọc từ ngữ, câu có chứa tiếng học sinh hay bị mắc lỗi
Bài tập yêu cầu học sinh tìm những từ ngữ, câu có chứa nhiều tiếng dễ bị phát âm sai và đọc lên Những từ ngữ này có thể ở trong bài tập đọc, cũng có thể
do học sinh tự nghĩ ra Đây là những bài tập đem lại cho học sinh hứng thú khi thực hiện Khi làm các bài tập này, học sinh còn được hình thành ý thức phòng ngừa lỗi, đồng thời các em có ý thức “tự cười mình” để phát âm chuẩn, có văn hóa
* Bài tập luyện đọc đúng ngữ điệu:
Đây cũng chính là những bài tập luyện đọc đúng, diễn cảm Đọc đúng được nói ở đây không chỉ là đúng chính âm mà còn phải ngắt giọng đúng, đúng ngữ điệu câu Luyện đọc đúng, diễn cảm là mắt xích cuối cùng của luyện đọc thành tiếng sau khi học sinh đã chiếm lĩnh được nội dung của câu, đoạn, bài tương ứng Dựa vào hình thức thực hiên có thể chia các bài luyện đọc đúng ngữ điệu thành hai mảng: những bài tập kí mã (hoặc xác lập) giọng đọc và những bài tập giải mã (hoặc thể hiện) giọng đọc
Bài tập kí mã giọng đọc là bài tập yêu cầu học sinh xác định, chỉ dẫn, mô tả giọng đọc bằng cách ghi các kí hiệu hoặc mô tả bằng lời Cụ thể những bài tập này yêu cầu học sinh xác định những từ khó phát âm (những từ các em đọc hay lẫn), những chỗ cần ngắt, những chỗ cần nhấn giọng, lên giọng, hạ giọng Những bài tập này cũng yêu cầu học sinh xác định giọng đọc chung của câu, đoạn, bài hoặc gọi tên các thông số âm thanh để thể hiện giọng đọc
Bài tập giải mã giọng đọc (bài tập thể hiện giọng đọc) là những bài tập yêu cầu học sinh thể hiện ra bằng giọng đọc theo các yêu cầu đã được chỉ dẫn như ngắt, nghỉ,ngừng giọng, nhấn giọng, hạ giọng, kéo dài giọng Đó cũng là những