1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động của hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp trên địa bàn huyện văn lâm, tỉnh hưng yên

142 1,4K 13

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 142
Dung lượng 1,06 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kinh tế HTX không đối lập với kinh tế tư nhân mà là sự liên kết các hình thức sở hữu, các quyền sử dụng đất đai, tài sản, vốn, sức lao động với hình thức tổ chức thích hợp, sản xuất tập

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

ĐỖ THỊ HỒNG

GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG CỦA HỢP TÁC XÃ DỊCH VỤ NÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN VĂN LÂM, TỈNH HƯNG YÊN

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ

HÀ NỘI, NĂM 2015

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

ĐỖ THỊ HỒNG

GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG CỦA HỢP TÁC XÃ DỊCH VỤ NÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN VĂN LÂM, TỈNH HƯNG YÊN

CHUYÊN NGÀNH : QUẢN LÝ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS.TS NGUYỄN HỮU NGOAN

HÀ NỘI, NĂM 2015

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực, khách quan và chưa được dùng bảo vệ để lấy bất kỳ học vị nào

Mọi thông tin trích dẫn trong luận văn đều được ghi rõ nguồn gốc

Hưng Yên, ngày 24 tháng 4 năm 2015

Tác giả

Đỗ Thị Hồng

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong thời gian học tập tại trường, nghiên cứu viết luận văn bản thân tôi đã nhận được rất nhiều sự quan tâm, giúp đỡ của các cơ quan, tổ chức và các cá nhân

Trước hết tôi xin trân trọng cảm ơn các Thầy Cô giáo trong khoa Kinh tế

& phát triển nông thôn, Bộ môn Kế hoạch & ĐT của Học Viện Nông nghiệp Việt Nam đã trang bị kiến thức cho tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành đề tài của mình

Với lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất, tôi xin trân trọng cảm ơn sự hướng dẫn tận tình của PGS.TS Nguyễn Hữu Ngoan đã giúp tôi hoàn thành đề tài của mình

Tôi xin cảm ơn sự giúp đỡ, đóng góp ý kiến của các anh, chị, bạn thuộc Liên minh hợp tác xã tỉnh Hưng Yên, Sở Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn, các Phòng, Ban thuộc huyện Văn Lâm, các Hợp tác xã nông nghiệp, người dân thuộc huyện Văn Lâm tỉnh Hưng Yên đã giúp tôi thu thập thông tin, số liệu trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Cảm ơn sự giúp đỡ của bạn bè, đồng nghiệp và gia đình đã tạo điều kiện, động viên giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này

Tôi xin trân trọng cảm ơn!

Trang 5

MỤC LỤC

2.2.1 Quá trình hình thành và phát triển của HTX DVNN 22 2.2.2 Kinh nghiệm phát triển HTX ở một số nước trên thế giới 31 2.2.3 Kinh nghiệm của một số HTX DVNN ở các địa phương trong nước 35 2.2.4 Chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về HTX DVNN 39 2.3 Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài đã công bố 40

3.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện Văn Lâm 43

Trang 6

3.2 Phương pháp nghiên cứu 53

4.1 Khái quát tình hình các HTX DVNN huyện Văn Lâm 59

4.1.2 Tình hình chuyển đổi HTX nông nghiệp sau khi có luật HTX 60 4.1.3 Tình hình thực hiện quản lý vốn quỹ ở HTX nông nghiệp 61 4.1.4 Năng lực hoạt động của các HTX DV NN huyện Văn Lâm 63 4.1.5 Thực trạng tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh dịch vụ 68 4.1.6 Thực trạng chất lượng dịch vụ tại các HTX điều tra 83 4.2 Đánh giá chung về chất lượng hoạt động của HTX DV NN trên địa bàn

4.2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động của HTX dịch vụ

4.2.4 Phân tích Ma trận SWOT về hoạt động của HTX DVNN huyện Văn Lâm 98 4.3 Định hướng và giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động của HTX DV

NN trên địa bàn huyện Văn Lâm giai đoạn 2015 - 2020 101

4.3.2 Giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động của HTX DV NN trên địa

Trang 7

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

CBQL : Cán bộ quản lý CHLB : Cộng hoà liên bang CNH-HĐH : Công nghiệp hoá hiện đại hoá CNXH : Chủ nghĩa xã hôi

DV : Dịch vụ ĐVT : Đơn vị tính

HQ : Hiệu quả HTX : Hợp tác xã

NN : Nông nghiệp

TSCĐ : Tài sản cố định TSLĐ : Tài sản lưu động TTSP : Tiêu thụ sản phẩm UBND : Uỷ ban nhân dân XHCN : Xã hội chủ nghĩa

XV : Xã viên

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Số bảng Tên bảng Trang 3.1 Hiện trạng sử dụng đất đai huyện Văn Lâm 2012-2014 46 3.2 Tình hình dân số và các chỉ số liên quan huyện Văn Lâm 2012 - 2014 47 3.3 Cơ cấu kinh tế của huyện Văn Lâm 2012 – 2014 50 4.1 Tình hình chuyển đổi HTX nông nghiệp theo luật 60 4.2 Tình hình tài sản vốn quỹ các HTX DVNN huyện Văn Lâm 2012-

4.3 Trình độ lý luận chính trị của cán bộ quản lý HTX DVNN của

4.4 Trình độ chuyên môn đào tạo của cán bộ quản lý HTX DVNN 65

4.7 Tình hình vốn kinh doanh của các HTX DVNN của huyện Văn Lâm 69

4.9 Kết quả hoạt động dịch vụ Thủy nông, Bảo vệ sản xuất, BVTV và

4.10 Kết quả hoạt động dịch vụ khâu làm đất của HTX 76 4.11 Kết quả hoạt động dịch vụ cung ứng vật tư nông nghiệp của các HTX 77

4.13 Kết quả hoạt động của các HTX DVNN huyện Văn Lâm năm 2014

4.14 Ý kiến đánh giá của xã viên về chất lượng dịch vụ của HTX DVNN 83 4.15 Kết quả khảo sát về đáp ứng nhu cầu dịch vụ của xã viên 89 4.16 Kết quả Phân tích Ma trận SWOT về hoạt động của HTX DVNN

Trang 9

DANH MỤC ĐỒ THỊ

3.1 Cơ cấu kinh tế huyện Văn Lâm qua các năm 2012-2014 51

Trang 10

PHẦN I

MỞ ĐẦU

1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Kinh tế tập thể là một thành phần kinh tế được Đảng và Nhà nước ta xác định cùng với kinh tế nhà nước trở thành nền tảng của nền kinh tế quốc dân, có vai trò rất quan trọng trong phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN) ở nước ta hiện nay Kinh tế tập thể phát triển với nhiều hình thức

đa dạng, từ thấp đến cao, trong đó Hợp tác xã (HTX) là nòng cốt Việc mở rộng

và nâng cao chất lượng hoạt động của kinh tế Hợp tác xã trong các ngành kinh tế

là một đòi hỏi bức thiết đối với cả nước cũng như các tỉnh, thành phố

Hợp tác xã (HTX) là một đơn vị kinh tế độc lập, tự chủ, hướng theo lợi nhuận khi tham gia thị trường, là tổ chức phi lợi nhuận khi hỗ trợ phát triển kinh

tế hộ xã viên vì lợi ích của xã viên, do vậy HTX hội tụ đủ giá trị kinh tế - xã hội

và nhân văn phù hợp với tiến trình phát triển của nhân loại Kinh tế HTX không đối lập với kinh tế tư nhân mà là sự liên kết các hình thức sở hữu, các quyền sử dụng đất đai, tài sản, vốn, sức lao động với hình thức tổ chức thích hợp, sản xuất tập trung; làm dịch vụ đầu vào, đầu ra, gia công, chế biến và dịch vụ tập trung một số công đoạn trong quy trình sản xuất và canh tác, trợ giúp hộ xã viên giảm chi phí sản xuất, nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực, tạo việc làm…

HTX có vai trò bà đỡ đối với người lao động, giúp họ trong quá trình tổ chức sản xuất sao cho có lợi nhất; cung cấp dịch vụ đầu vào cho những hộ chưa sản xuất hàng hóa và giúp đỡ thêm về các dịch vụ đầu ra cho các hộ sản xuất hàng hóa; làm điểm tựa để xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn, xây dựng nông thôn mới xã hội chủ nghĩa, đồng thời mở mang ngành nghề, phân công lại lao động, góp phần đảm bảo công bằng xã hội, thực hiện dân chủ ở nông thôn và tiến tới từng bước xóa đói giảm nghèo (Chu Thị Hảo, 2003)

Trong điều kiện nước ta đi lên chủ nghĩa xã hội (CNXH) từ một nền kinh

tế yếu kém, chủ yếu là nông nghiệp, mang nặng tính tự cung, tự cấp, đặc biệt trong nông nghiệp phần lớn là các hộ nông dân cá thể thì mô hình hợp tác giữa

Trang 11

những người sản xuất kinh doanh dịch vụ riêng lẻ dưới nhiều hình thức đa dạng

là xu thế tất yếu khách quan Phát triển HTX nông nghiệp (HTX NN) không chỉ nhằm mục tiêu kinh tế mà còn có ý nghĩa xã hội to lớn Nhà nước thông qua HTX NN để thực hiện chính sách giúp đỡ, hỗ trợ xã viên xóa đói, giảm nghèo, thực hiện bình đẳng, công bằng và tiến bộ xã hội Do đó có thể khẳng định HTX

NN có vị trí, vai trò hết sức quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế và xã hội của đất nước

Từ khi luật HTX ra đời, với hệ thống hành lang pháp lý rõ ràng hơn trước,

đã làm cho bản chất HTX thay đổi theo hướng tích cực, nhờ đó đã tạo điều kiện cho các loại hình HTX ngày càng phát triển Cũng như cả nước, thời gian qua các HTX nói chung, HTX NN nói riêng đã có những chuyển biến tích cực, đổi mới

cơ bản về tổ chức bộ máy, quy mô và phương thức hoạt động theo luật HTX năm

2003, đáp ứng được phần lớn các dịch vụ cơ bản trong sản xuất nông nghiệp cho kinh tế hộ, giúp đỡ hộ xã viên tăng năng lực sản xuất, sản phẩm đạt chất lượng cao, mở rộng thị trường…Tuy nhiên, trong quá trình phát triển các HTX ở nông thôn của tỉnh Hưng Yên thời gian qua vẫn còn bộc lộ những hạn chế như: đa phần các HTX còn mang tính đơn lẻ, thiếu sự liên kết theo hệ thống, phạm vi hoạt động nhỏ hẹp; phần lớn các HTX có quy mô nhỏ, thiếu vốn để tổ chức các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ; đại bộ phận nhân dân chưa có sự nhận thức đúng về HTX, coi HTX như một tổ chức hỗ trợ, cho không vật tư sản xuất,

đa số cơ sở vật chất của các HTX còn nghèo nàn, lạc hậu, các công trình và điều kiện đảm bảo dùng để ứng dụng, thực nghiệm và chuyển giao các tiến bộ khoa học kỹ thuật cho xã viên không có; đất đai do HTX sử dụng và quản lý không còn; trình độ quản lý của đội ngũ cán bộ HTX còn nhiều hạn chế; các chính sách

hỗ trợ phát triển HTX của Nhà nước chưa được triển khai đồng bộ, HTX vẫn khó tiếp cận; Sự đa dạng hóa ngành nghề sản xuất, kinh doanh, dịch vụ của hệ thống HTX còn thụ động…(Nguyễn Văn Bình và cs., 2001)

Các Hợp tác xã nông nghiệp (HTX NN) vẫn còn bộc lộ những hạn chế như: HTX quy mô còn nhỏ, cơ sở vật chất thiếu thốn, trình độ kỹ thuật, máy móc thiết bị lạc hậu, sản phẩm hàng hóa dịch vụ chưa đa dạng, chất lượng chưa cao,

Trang 12

lợi ích kinh tế xã hội của xã viên và người lao động còn thấp Các HTX chưa thật

sự đổi mới về nội dung hoạt động, khả năng xây dựng và tổ chức thực hiện phương án sản xuất kinh doanh của ban quản trị HTX còn yếu và thiếu tính tham gia lập kế hoạch của các thành viên nhóm mục tiêu và xã viên Những hạn chế, yếu kém trên đã kìm hãm quá trình phát triển và nâng cao chất lượng hoạt động của các HTX NN

Xuất phát từ lý luận và thực tiễn đó, tôi triển khai nghiên cứu đề tài “Giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động của Hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp trên địa bàn huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên.” Để thấy rõ thực trạng, những

mâu thuẫn, những tồn tại và khám phá ra những thuộc tính bản chất, phát hiện ra quy luật vận động của HTX NN, trên cơ sở đó đề xuất những giải pháp để thúc đẩy các HTX trên địa bàn huyện Văn Lâm nói riêng và của tỉnh Hưng Yên nói chung được tốt và đồng bộ hơn

1.2.Mục tiêu nghiên cứu

1.2.1.Mục tiêu chung

Trên cơ sở đánh giá thực trạng, khó khăn, thuận lợi, các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động của Hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp (HTX DVNN), đề xuất những giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động của Hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp tại huyện Văn Lâm tỉnh Hưng Yên

Trang 13

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu lý luận và thực tiễn về chất lượng hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ của HTX dịch vụ nông nghiệp

Đối tượng khảo sát: các HTX dịch vụ nông nghiệp đang hoạt động kinh doanh dịch vụ cho xã viên tham gia sản xuất nông nghiệp gồm: hội đồng quản trị, ban kiểm soát, bộ phận giúp việc cho HTX, các xã viên, người dân không tham gia HTX và các tổ chức kinh tế- xã hội có liên quan với HTX DVNN

Trang 14

PHẦN II

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

2.1 Cơ sở lý luận

2.1.1 Các khái niệm và phân loại HTX trong nông nghiệp

Trong lịch sử phát triển của xã hội loài người, con người trải qua các hình thái kinh tế xã hội khác nhau và ở mỗi hình thái kinh tế xã hội đó sự phát triển của lực lượng sản xuất luôn đi cùng là mối quan hệ sản xuất phù hợp Chính vì vậy, sự hợp tác giữa con người với con người trong quá trình sản xuất là một tất yếu khách quan xuất phát từ nhu cầu của sản xuất, nhu cầu của cuộc sống để nương tượng lẫn nhau, hỗ trợ nhau trong cuộc sống cũng như trong sản xuất

Bởi lẽ, thông qua hợp tác sức lực của các cá nhân sẽ được kết hợp lại lớn mạnh hơn để nhằm thực hiện các công việc mà mỗi cá nhân, đơn vị hoạt động riêng rẽ rất khó khăn mà thậm trí còn không thể thực hiện được Chính vì vậy, cùng tiến trình phát triển của xã hội loài người, quá trình phân công lao động và chuyên môn hóa trong sản xuất

cả về chiều sâu lẫn bề rộng đã thúc đẩy quá trình hợp tác ngày càng tăng Sự hợp tác không chỉ được giới hạn ở phạm vị vùng, quốc gia mà còn được mở rộng ra phạm vi toàn cầu Quá trình hợp tác tất yếu đã diễn ra trên phạm vi thế giới như quá trình hội nhập ngày càng sâu rộng của các quốc gia trên tất cả các lĩnh vực: kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội,… đã làm cho sức ép cạnh tranh ngày càng gay gắt khiến cho các doanh nghiệp đều phải thay đổi chiến lược sản xuất kinh doanh của mình cho phù hợp với xu thế mới

Kinh tế hợp tác là một hình thức quan hệ kinh tế hợp tác tự nguyện, phối hợp, hỗ trợ, giúp đỡ lẫn nhau giữa các chủ thể kinh tế nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động và lợi ích của mỗi thành viên (Bộ nông nghiệp và PTNT, 2000)

Trong nền kinh tế nước ta hiện đang tồn tại nhiều loại hình kinh tế hợp tác Mỗi loại hình lại phản ánh đặc điểm, trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và phân công lao động tương ứng Cụ thể:

Kinh tế hợp tác giản đơn là các tổ, hội, nhóm hợp tác được hình thành trên

cơ sở tự nguyện của các chủ thể kinh tế độc lập và có mục đích, hoạt động kinh

Trang 15

doanh giống nhau, nhằm cộng tác, trao đổi những kinh nghiệm, giúp đỡ lẫn nhau trong hoạt động sản xuất kinh doanh (Kinh tế hợp tác trong nông nghiệp, 2010) Hợp tác xã là một loại hình kinh tế hợp tác phát triển ở trình độ cao hơn loại hình kinh tế hợp tác giản đơn Theo Liên minh HTX quốc tế (1895) tại Luân Đôn, Vương Quốc Anh đã định nghĩa “HTX là một tổ chức chính trị của những người tự nguyện liên hiệp lại để đáp ứng nhu cầu và nguyện vọng chung của họ về kinh tế, xã hội và văn hóa thông qua một xí nghiệp cùng sở hữu và quản lý dân chủ” Đến năm

1995, định nghĩa này được hoàn thiện: “HTX dựa trên ý nghĩa tự cứu mình, tự chịu trách nhiệm, bình đẳng, công bằng và đoàn kết Các xã viên HTX tin tưởng vào ý nghĩa đạo đức, về tính trung thực, trách nhiệm xã hội và quan tâm chăm sóc người khác”

Trên cơ sở tạo hành lang pháp lý cho hệ thống HTX định hướng và phát triển, ngày 20/03/1996 Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam khóa IX kỳ họp thứ

IX đã thông qua Luật HTX Theo Luật này, HTX được định nghĩa:

“Hợp tác xã là tổ chức kinh tế tự chủ do những người lao động có nhu cầu, lợi ích chung, tự nguyện cùng góp vốn, góp sức lập ra theo quy định của pháp luật

để phát huy sức mạnh của tập thể và của từng xã viên nhằm giúp nhau thực hiện

có hiệu quả hơn các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và cải thiện đời sống, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của đất nước”

Sự ra đời của Luật HTX đánh dấu một bước phát triển quan trọng trong tiến trình đổi mới HTX, mở ra một môi trường thể chế thuận lợi để HTX tiếp tục phát triển

Tổng kết 5 năm thực hiện chuyển đổi, thành lập HTX theo Luật HTX (1996), hội nghị Trung ương 5 khoá IX (3/2002) đã ra Nghị quyết về "tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể" để lãnh đạo sự phát triển kinh tế tập thể mà nòng cốt là HTX Trên cơ sở nghị quyết của Đảng và thực tiễn hoạt động của HTX kiểu mới, ngày 26-11-2003, tại kỳ họp thứ 4, Quốc hội khoá

XI đã thông qua Luật HTX sửa đổi, bổ sung Luật HTX năm 2003 Theo điều 1 của Luật HTX (2003), HTX được định nghĩa: “Hợp tác xã là tổ chức kinh tế tập thể do các cá nhân, hộ gia đình, pháp nhân (sau đây gọi chung là xã viên) có nhu cầu, lợi ích chung, tự nguyện góp vốn, góp sức lập ra theo quy định của Luật này

Trang 16

để phát huy sức mạnh tập thể của từng xã viên tham gia hợp tác xã, cùng giúp nhau thực hiện có hiệu quả các hoạt động sản xuất, kinh doanh và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của đất nước”

Để các tổ chức Hợp tác xã tổ chức và quản lý tốt hoạt động của hợp tác

xã, liên hiệp hợp tác xã trong các ngành, lĩnh vực của nền kinh tế Ngày 19/11/2012, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam vừa ban hành Luật Hợp tác xã số 23/2012/QH12 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/07/2013) Tại khoản 1, Điều 3, Chương 1, Luật này HTX được định nghĩa: “Hợp tác xã là tổ chức kinh tế tập thể, đồng sở hữu, có tư cách pháp nhân, do ít nhất 07 thành viên

tự nguyện góp vốn thành lập và hợp tác tương trợ lẫn nhau trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm nhằm đáp ứng nhu cầu chung của các thành viên, trên cơ sở tự chủ, tự chịu trách nhiệm, bình đẳng và dân chủ trong quản lý hợp tác xã” Luật Hợp tác xã 2012 hướng đến tiếp cận dần với bản chất đích thực của hợp tác xã, làm rõ hơn tính ưu việt của hợp tác xã nhằm khuyến khích và phát triển mạnh mẽ mô hình hợp tác xã kiểu mới Đây là khuôn khổ pháp lý thuận lợi góp phần phát triển hợp tác xã lành mạnh, bền vững góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của kinh tế hộ thành viên trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, thực hiện công bằng xã hội, ổn định kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước

Như vậy, HTX là sự phát triển ở trình độ cao hơn của kinh tế hợp tác mà được hình thành và nuôi dưỡng chính từ quá trình hợp tác trong sản xuất, kinh doanh, ở đó mức độ gắn kết giữa các thành viên trong tổ chức có mối liên hệ chặt chẽ hơn, các quan hệ sở hữu, quan hệ phân phối được thiết lập hiệu quả hơn Tuy nhiên,

để các hộ xã viên tham gia một cách hoàn toàn tự nguyện vào HTX thì trên thực tế phải thể hiện trên kết quả sản xuất kinh doanh của HTX đó, phải thực sự thuyết phục được các hộ xã viên khi HTX đó làm ăn có hiệu quả, có lãi trong hoạt động sản xuất kinh doanh và đặc biệt là thiết lập các mối quan hệ cung- cầu, phân phối- lưu thông… thực sự có hiệu quả

2.1.2 Vai trò và hình thức hoạt động của Hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp

Kinh tế hợp tác trong lịch sử được phát triển nhiều hình thức từ thấp đến cao: từ tổ vần công, đổi công đến tổ đoàn kết sản xuất, chuyển sang các hình thức

Trang 17

HTX dịch vụ, các HTX sản xuất hoặc các HTX vừa sản xuất vừa làm dịch vụ Kinh tế hợp tác, HTX nói chung và HTX nông nghiệp nói riêng có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế- xã hội

Hợp tác xã nông nghiệp là tổ chức kinh tế tự chủ do nông dân và những người lao động có nhu cầu, lợi ích chung tự nguyện cùng góp vốn, góp sức lập ra theo quy định của pháp luật để phát huy sức mạnh tập thể và của từng xã viên nhằm giúp nhau thực hiện có hiệu quả các hoạt động dịch vụ hỗ trợ cho kinh tế hộ gia đình các xã viên và kinh doanh trong lĩnh vực sản xuất, chế biến, tiêu thụ sản phẩm nông, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản và các ngành-nghề khác; cải thiện đời sống xã viên, góp phần phát triển kinh tế-xã hội của đất nước

Hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp là tổ chức kinh tế nông nghiệp được tách hẳn

để làm chức năng dịch vụ nông nghiệp, nó hoạt động theo Luật HTX, là một hoại hình HTX kiểu mới Hoạt động của HTXDVNN bao gồm: Dịch vụ các yếu tố đầu vào, đầu ra, dịch vụ các khâu cho sản xuất nông nghiệp, các HTXDVNN được tổ chức với mục đích phục vụ cho sản xuất nông nghiệp của các hộ nông dân, nó không hoạt động nhằm mục đích lợi nhuận Mô hình HTXDVNN ở nước ta chủ yếu được phân thành ba hình thức: Dịch vụ chuyên khâu, dịch vụ chuyên ngành và dịch vụ tổng hợp

Ngoài những đặc điểm chung, HTX nông nghiệp còn có những đặc điểm:

Là một tổ chức kinh tế tập hợp đông đảo nông dân, những người thường thiếu vốn, cơ sở vật chất kỹ thuật và trình độ dân trí thấp Mặt khác, đối tượng sản xuất của nông nghiệp là cây trồng, vật nuôi cho nên quá trình hoạt động không những HTX nông nghiệp bị chi phối bởi các quy luật kinh tế mà lại còn bị ảnh hưởng bởi điều kiện tự nhiên (Luật Hợp tác xã, 2003)

Đây là những đặc điểm có ảnh hưởng nhất định đến kết quả hoạt động của HTX nông nghiệp mà cán bộ lãnh đạo, quản lý phải quan tâm để có biện pháp giúp đỡ, hỗ trợ HTX nông nghiệp phát triển

HTX nông nghiệp thúc đẩy phát triển kinh tế nông nghiệp HTX nông nghiệp làm được những việc mà từng người, từng hộ không làm được hoặc làm không có hiệu quả HTX nông nghiệp thúc đẩy phát triển kinh tế hộ phát triển, tạo điều kiện thuận lợi cho các chủ trang trại liên kết, hợp tác, thành lập HTX HTX nông nghiệp góp phần nâng cao năng suất lao động, tiết kiệm được nhiều

Trang 18

khoản chi phí trong đầu tư cho sản xuất, kinh doanh; huy động được nhiều vốn, nhiều nhân lực, chế ngự được thiên tai dịch hoạ, đáp ứng kịp thời yêu cầu sản xuất, kinh doanh; cung cấp sản phẩm cho xã hội, góp phần tăng trưởng kinh tế, góp phần vào ngân sách nhà nước HTX nông nghiệp khai thác được tiềm năng trong dân cư để mở mang ngành nghề, phát triển sản xuất, tăng nguồn hàng xuất khẩu, đóng góp vào sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế- xã hội

HTX nông nghiệp hỗ trợ người nghèo, giúp đỡ họ cùng phát triển Bởi lẽ HTX nông nghiệp không chỉ gắn bó các thành viên về kinh tế mà còn được hình thành và phát triển trên cơ sở tình làng nghiã xóm, góp phần thực hiện các chính sách xã hội trên địa bàn như cung ứng các mặt hàng chính sách cho vùng miền núi, dân tộc, vùng thiên tai bão lụt, tham gia xoá đói, giảm nghèo, khắc phục bần cùng hoá; phòng chống các tệ nạn xã hội Kinh tế hợp tác và HTX nông nghiệp còn tạo điều kiện cho những người lao động, những người sản xuất nhỏ phát triển marketing, nhờ đó những khả năng mở rộng được thị trường trong và ngoài nước đảm bảo sự cân bằng và chẳng những có thể trụ vững trong thị trường cạnh tranh,

mà còn không ngừng phát triển, không bị phá sản trở thành gánh nặng lao động thất nghiệp cho xã hội

HTX nông nghiệp là mô hình tổ chức sản xuất có tính xã hội chủ nghĩa Trước hết, đó là các đơn vị sản xuất kinh doanh, dịch vụ, vệ tinh của các doanh nghiệp nhà nước; là đơn vị liên doanh, liên kết với các thành phần kinh tế khác

và có thể là đơn vị xuất nhập khẩu Tính xã hội của hợp tác xã nông nghiệp được thể hiện ở chỗ là một tổ chức kinh tế của những người lao động, tập hợp được đông đảo mọi người tham gia nhằm giúp đỡ lẫn nhau, tăng thêm sức mạnh trong sản xuất kinh doanh, dịch vụ góp phần tạo công ăn việc làm và thu nhập chính đáng và ở việc HTX hỗ trợ người nghèo Trong mọi hoạt động của mình, HTX còn có nghĩa vụ giáo dục tinh thần hợp tác cho xã viên, khuyến khích sự hợp tác không chỉ trong nội bộ xã viên của HTX, mà còn giữa các HTX với nhau Ngoài chăm lo về mặt kinh tế, HTX còn chăm lo cả về mặt tinh thần cho xã viên thông qua các hoạt động chung của HTX Tuy nhiên tất cả những hoạt động xã hội phải được tiến hành trên cơ sở hoạt động kinh tế có hiệu quả Những hoạt động này sẽ góp phần nâng cao trình độ dân trí của cộng đồng, góp phần dân chủ hoá đời sống xã hội, ổn định chính trị, bảo đảm an ninh quốc phòng

Trang 19

Ngoài ra, HTX nông nghiệp còn có vai trò tạo điều kiện thuận lợi đưa tiến

bộ khoa học kỹ thuật, quản lý, công nghệ mới vào sản xuất Tiến hành chuyên môn hoá, tập trung hoá, phát triển hợp lý các ngành sản xuất, dịch vụ và thâm canh khoa học Khai thác tiềm năng về vốn, lao động và công nghệ, đảm bảo môi trường sinh thái, có khả năng đào tạo và bồi dưỡng để nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản trị kinh doanh phù hợp với yêu cầu của nền kinh tế thị trường (Luật Hợp tác xã, 2003)

Đối tượng sản xuất nông nghiệp là những sinh vật, cho nên cần phải theo dõi, chăm sóc tỉ mỉ, thường xuyên để đáp ứng đúng kỹ thuật, kịp thời các yêu cầu sinh học của cây trồng, vật nuôi Điều đó quyết định năng suất, chất lượng, hiệu quả của sản xuất nông nghiệp Chỉ có hình thái kinh tế gia đình với cơ chế “tự thuê mướn sức lao động của chính mình”, “tự bóc lột mình” và lấy công làm lãi, nhờ gắn trực tiếp lợi ích của mỗi người và cả cộng đồng gia đình vào kết quả cuối cùng của sản xuất nông nghiệp, đã tạo ra khả năng lớn hơn các loại hình doanh nghiệp khác trong việc vượt qua tình huống rủi ro do thiên nhiên hay do thị trường gây ra

Mặt khác, kinh tế nông hộ không thể tự thân trở thành một đơn vị kinh tế hàng hóa phát triển trong nền kinh tế thị trường trước sự cạnh tranh ngày càng khốc liệt của các doanh nghiệp lớn, trước hết trong dịch vụ “đầu vào”, “đầu ra” của kinh tế nông hộ Do vậy, tất yếu các nông hộ phải liên kết lại với nhau trong các tổ chức kinh tế hợp tác của mình, tạo ra sức mạnh mới cạnh tranh trong thị trường, tự bảo đảm hoạt động dịch vụ “đầu vào”,” đầu ra” cho kinh tế hộ đạt kết quả cao hơn Vì thế HTX nông nghiệp trở thành chỗ dựa vững chắc để kinh tế hộ trở thành đơn vị sản xuất hàng hóa tự chủ có khả năng cạnh tranh đạt hiệu quả cao trong nền kinh tế thị trường

Hình thức hoạt động của HTX DVNN

Từ những nội dung được quy định trong luật HTX năm 2003 và các quan điểm có tính nguyên tắc trong xây dựng kinh tế tập thể đã nêu trong nghị quyết số 13-NQ/TW Hội nghị lần thứ V Ban chấp hành Trung ương khoá IX về “tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể”, đã cho thấy dù các HTX hoạt

Trang 20

động trong lĩnh vực nào đi chăng nữa thì đều có chung những đặc trưng cơ bản

và ưu thế của mô hình HTX

Thứ nhất, về thành viên tham gia HTX

Khác với trước khi có Luật HTX 2003, thành viên HTX chỉ gồm các cá nhân; từ khi có Luật HTX 2003 HTX là một tổ chức kinh tế do các thành viên bao gồm cả cá nhân, hộ gia đình và pháp nhân (người lao động, cán bộ, công chức, các hộ sản xuất kinh doanh, trang trại, doanh nghiệp nhỏ và vừa thuộc các thành phần kinh tế…), cả người có ít vốn lẫn người có nhiều vốn có nhu cầu tự nguyện cùng nhau góp vốn hoặc có thể góp sức lập ra và tự chịu trách nhiệm về các hoạt động của mình theo quy định của pháp luật về HTX HTX không thủ tiêu tính tự chủ sản xuất, kinh doanh của các thành viên mà chỉ làm những gì mỗi thành viên riêng lẻ không làm được hoặc làm không có hiệu quả để hỗ trợ cho các thành viên phát triển Thành viên tham gia HTX vẫn là những “đơn vị kinh tế tự chủ”

Thứ hai, HTX tổ chức và hoạt động theo các nguyên tắc sau:

HTX phải thật sự dân chủ, tự nguyện, cùng mục đích và cùng có lợi Việc phát triển HTX phải phù hợp với thực tiễn cuộc sống, không rập khuôn cứng nhắc, phát triển một cách tuần tự, không nóng vội HTX là tổ chức kinh tế thiết thực, bình đẳng

và cùng có lợi của những người dân, xã viên hợp tác xã

- Nguyên tắc dân chủ, bình đẳng và công khai:

Xã viên có quyền tham gia quản lý, kiểm tra, giám sát HTX Những vấn

đề lớn trong sản xuất, kinh doanh của HTX đều phải được đại hội xã viên thảo luận dân chủ và thông qua Các xã viên đều có quyền ngang nhau trong biểu quyết theo hình thức mỗi người một phiếu bầu, giá trị mỗi phiếu như nhau, không phụ thuộc vào mức độ vốn góp Đồng thời, HTX phải thực hiện tốt việc

Trang 21

công khai cho xã viên biết theo định kỳ về phương thức, kế hoạch sản xuất kinh doanh, công khai tài chính, phân phối thu nhập của HTX Đây là nguyên tắc đặc biệt quan trọng, có tác động trực tiếp đến sự tồn tại và phương hướng phát triển lành mạnh của HTX

- Nguyên tắc tự chủ, tự chịu trách nhiệm và cùng có lợi:

HTX là tổ chức kinh tế hoạt động với mục đích lấy lợi ích kinh tế làm chính, bao gồm lợi ích các thành viên và lợi ích tập thể, đồng thời coi trọng lợi ích xã hội của các thành viên Trong thành lập và hoạt động, HTX có quyền được lựa chọn ngành nghề sản xuất- kinh doanh phù hợp mà pháp luật không cấm, theo ý chí và nguyện vọng của xã viên; hoàn toàn tự chủ trong hoạt động sản xuất- kinh doanh và tự chịu trách nhiệm trong cơ chế thị trường; liên doanh, liên kết với các đơn vị thuộc mọi thành phần kinh tế Trong phân phối lợi ích và giải quyết những vấn đề có liên quan đến nghĩa vụ và quyền lợi, phải tuân thủ nguyên tắc cùng có lợi, hài hoà giữa xã viên với xã viên, giữa xã viên với HTX, HTX với lợi ích cộng đồng Nguyên tắc này đã xác định rõ điều kiện tồn tại và phát triển của HTX chính là ở vai trò, trách nhiệm làm chủ của các xã viên đối với HTX; chủ động phát huy các nguồn lực, nhất là nguồn lực sẵn có của xã viên; HTX năng động tìm kiếm cơ hội kinh doanh và cạnh tranh để tồn tại và phát triển

Trang 22

Thứ ba, về quan hệ sở hữu, quản lý và phân phối trong HTX

- Về quan hệ sở hữu:

Trong mô hình HTX trước khi có Luật HTX, sở hữu cá nhân không được thừa nhận, sở hữu của các hộ gia đình bị xoá bỏ, chỉ thừa nhận chế độ sở hữu tập thể về tư liệu sản xuất Người lao động vào HTX phải đóng góp ruộng đất, trâu

bò, công cụ sản xuất chủ yếu Từ khi có Luật HTX, sở hữu tập thể và sở hữu cá nhân của thành viên được phân định rõ Sở hữu tập thể (sở hữu của hợp tác xã) bao gồm các nguồn vốn tích luỹ tái đầu tư, các tài sản do tập thể mua sắm để dùng cho hoạt động của HTX, tài sản trước đây được giao lại cho tập thể sử dụng

và tài sản do nhà nước hoặc các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước tài trợ làm tài sản không chia và các quỹ không chia Thành viên khi tham gia HTX không phải góp tư liệu sản xuất mà điều kiện tiên quyết là phải góp vốn theo quy định của điều lệ HTX, có thể góp sức khi HTX có nhu cầu; suất vốn góp không hạn chế, song được khống chế một tỷ lệ nhất định so với tổng số vốn góp của các thành viên (vốn điều lệ của HTX) nhằm bảo đảm tính chất của HTX (theo Luật HTX năm 2003 thì không quá 30%) Vốn góp của thành viên được chia lãi hàng năm và được rút khi thành viên ra HTX Thành viên có thể góp vốn bằng ngoại

tệ, tài sản, quyền sử dụng đất, quyền sở hữu trí tuệ và các loại giấy tờ có giá trị khác, được quy ra tiền Việt Nam theo giá thị trường tại thời điểm góp và giá trị

đó được ghi thành vốn góp của thành viên, còn bản thân hiện vật thuộc sở hữu tập thể HTX Sở hữu thuộc cá nhân thành viên được tôn trọng, thành viên có toàn quyền sử dụng vốn, các phương tiện sản xuất thuộc sở hữu riêng để sản xuất, kinh doanh Những thành viên của HTX vẫn là những chủ thể độc lập, có kinh tế riêng Vị trí, vai trò cũng như quyền tự chủ của kinh tế thành viên không

bị mất đi mà ngược lại được hỗ trợ thêm từ phía HTX để phát triển

- Về quan hệ quản lý trong hợp tác xã:

HTX hoạt động khi chưa có Luật HTX, quan hệ giữa xã viên với HTX là quan hệ phụ thuộc Xã viên bị tách khỏi tư liệu sản xuất trở thành người lao động làm công theo sự điều hành tập trung của HTX, tính chất hợp tác đích thực trong HTX không còn Từ khi có Luật, quan hệ giữa HTX và thành viên là quan hệ

Trang 23

bình đẳng, thỏa thuận, tự nguyện, cùng có lợi và cùng chịu rủi ro trong sản xuất, kinh doanh Đặc trưng chung của HTX hoạt động theo Luật là hoạt động sản xuất, kinh doanh của HTX không bao trùm toàn bộ hoạt động sản xuất, kinh doanh của thành viên như HTX trước đó, mà chỉ diễn ra ở từng khâu công việc, từng công đoạn, nhằm hỗ trợ phát huy thế mạnh của từng thành viên và do đó cũng tạo điều kiện phát huy quyền làm chủ của thành viên Thành viên tham gia quyết định những công việc quan trọng của HTX như sửa đổi điều lệ HTX, tổ chức lại HTX, quyết định cơ cấu tổ chức quản lý HTX, xác định phương án sản xuất, kinh doanh, phương án phân phối thu nhập trong HTX Nguyên tắc bầu cử

và biểu quyết được thực hiện bình đẳng, mỗi thành viên một phiếu bầu, không phân biệt vốn góp ít hay nhiều Bộ máy quản lý HTX tổ chức gọn, nhẹ, hiệu quả Chức năng, nhiệm vụ của ban quản trị, ban kiểm soát, trưởng ban quản trị, chủ nhiệm được xác định rõ ràng, cụ thể Chủ nhiệm được giao quyền chủ động điều hành công việc và tự chịu trách nhiệm về những quyết định của mình

- Về quan hệ phân phối

Trước khi có Luật HTX, chế độ phân phối mang nặng tính bình quân, bao cấp, chủ yếu phân phối theo công lao động, việc phân phối theo vốn góp gần như không được thực hiện (vì việc góp vốn chỉ mang tính hình thức) Vì vậy, không khuyến khích người lao động hăng hái, tích cực làm việc, xã viên thiếu gắn bó với HTX, dành công sức làm kinh tế gia đình Khi có Luật HTX, hình thức phân phối được thực hiện trên nguyên tắc công bằng, cùng có lợi, vừa theo lao động, vừa theo vốn góp và theo mức độ tham gia dịch vụ Người lao động là xã viên, ngoài tiền công được nhận theo số lượng và chất lượng lao động, còn được nhận lãi chia theo vốn góp và theo mức độ sử dụng dịch vụ của HTX; lợi nhuận và vốn góp càng lớn, mức độ sử dụng dịch vụ càng nhiều thì thu nhập càng cao Đây là động lực khuyến khích người lao động hăng say làm việc, gắn bó với HTX Trong quá trình phân phối, các HTX còn tạo ra được các quỹ không chia, một mặt để mở rộng sản xuất, kinh doanh, mặt khác tạo nên phúc lợi công cộng cho

Trang 24

mọi thành viên trong HTX được hưởng chung, kết hợp chặt chẽ giữa lợi ích cá nhân và lợi ích tập thể, giữa lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài

Thứ tư, về cơ chế quản lý đối với HTX

Từ khi có Luật, HTX đã được giải phóng khỏi sự ràng buộc cứng nhắc của

cơ chế kế hoạch hoá tập trung, bao cấp Khác với trước đây, HTX ngày nay đã thực sự là một tổ chức kinh tế độc lập, tự chủ, có đầy đủ tư cách pháp nhân trong

cơ chế thị trường, bình đẳng trước pháp luật như các doanh nghiệp, tự quyết định

và tự chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, liên doanh, liên kết với các tổ chức kinh tế khác cũng như phân chia lỗ lãi, bảo đảm hoàn thành nghĩa vụ đối với Nhà nước và trách nhiệm đối với thành viên Nhà nước tôn trọng quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ của HTX, không còn can thiệp trực tiếp vào các hoạt động của HTX Vai trò của Nhà nước trong việc quản lý đối với HTX được chuyển qua việc ban hành pháp luật và các chính sách khuyến khích phát triển HTX Các nghĩa vụ đóng góp vật chất quá nặng trước kia của HTX đối với chính quyền và cộng đồng, nhất là đối với các HTX ở nông thôn đã từng bước được xoá bỏ, HTX tập trung vào phục vụ và thực hiện các nghĩa vụ đối với các thành viên của chính mình là chủ yếu

Thứ năm, về mô hình HTX

Tổ chức và hoạt động của HTX không bị giới hạn về quy mô, lĩnh vực và địa bàn (trừ một số lĩnh vực có quy định riêng) với mô hình linh hoạt, đa dạng về hình thức, phù hợp với đặc điểm từng ngành, từng vùng với nhiều trình độ phát triển từ thấp đến cao, từ làm dịch vụ đầu vào, đầu ra phục vụ cho hoạt động sản xuất, kinh doanh đến mở mang ngành nghề, vươn lên kinh doanh tổng hợp và hình thành các doanh nghiệp trực thuộc dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên;

từ HTX phát triển thành các liên hiệp HTX

Thứ sáu, về hiệu quả hoạt động của HTX

HTX là một tổ chức kinh tế tập thể gồm nhiều chủ sở hữu, hoạt động lấy lợi ích kinh tế làm chính, bao gồm cả lợi ích thành viên và lợi ích tập thể HTX còn là vai trò quan trọng trong xóa đói, giảm nghèo, xây dựng xã hội công bằng, dân chủ, văn

Trang 25

minh, giáo dục ý thức phát triển cộng đồng… Do đó, mọi hoạt động của HTX phải được đánh giá bằng hiệu quả tổng hợp, cả về kinh tế, chính trị, xã hội, cả hiệu quả tập thể và của các thành viên

HTX có vai trò là Con đường đi lên của người dân để vượt qua khó khăn, nghèo đói, xây dựng cộng đồng văn minh, tương thân, tương ái, chống lại mọi sự bất công, áp bức về kinh tế- xã hội HTX cũng là một tổ chức dân chủ và cách mạng, nơi tập hợp, giáo dục, nâng cao trình độ sản xuất cho người dân, hướng người dân vào những mục đích xã hội tích cực, tiến bộ và cách mạng

Như vậy, với những đặc trưng trên, HTX hoạt động khi có Luật HTX được xây dựng trong thời kỳ cơ chế kế hoạch hóa tập trung; bao cấp trước đây có các đặc trưng là tập thể hóa toàn bộ tư liệu sản xuất, không thừa nhận vai trò của kinh tế hộ, tổ chức và hoạt động theo địa giới hành chính, tổ chức sản xuất tập thể, tập trung, phân phối theo ngày công lao động, thực hiện quá nhiều trách nhiệm xã hội; mô hình hợp tác xã được áp dụng nhất loạt trong cả nước, ít chú ý đến đặc điểm của từng vùng

- Các HTX dịch vụ chuyên khâu: là HTX chỉ thực hiện một chức năng dịch

vụ một khâu cho sản xuất nông nghiệp (HTX dịch vụ thuỷ nông, HTX dịch vụ điện nông thôn )

Trang 26

- HTX dịch vụ tổng hợp là các HTX thực hiện các chức năng dịch vụ nhiều khâu cho sản xuất nông nghiệp, đôi khi cả đời sống

- HTX sản xuất kết hợp với dịch vụ: Các HTX loại này thường dưới dạng các HTX chuyên môn hoá theo sản phẩm Đó là các HTX gắn sản xuất với chế biến tiêu thụ, trong đó trực tiếp sản xuất là hộ nông dân (HTX hợp đồng chế biến

2.1.3 Các yêu cầu và nội dung nâng cao chất lượng hoạt động của HTX DVNN

Theo quan điểm triết học, chất lượng là phần tồn tại cơ bản bên trong của

sự vật hiện tượng

Dịch vụ không phải là một khái niệm trừu tượng đến mức người ta không thể đi đến một cách diễn giải tương đối thống nhất Tổ chức quốc tế về tiêu chuẩn hoá ISO 9000:2000 trong tiêu chuẩn thuật ngữ đã đưa ra định nghĩa được các quốc gia chấp nhận và thông qua

“Chất lượng là mức độ của một tập hợp các đặc tính vốn có đáp ứng những yêu cầu” trong đó yêu cầu là nhu cầu hay mong đợi đã được công bố, ngầm hiểu chung hay bắt buộc

Trước đây, khi nói tới chất lượng đa số người ta chỉ nói tới chất lượng của chi phí và rất ít đề cập tới chất lượng dịch vụ Nhưng ngày nay cùng với hướng phát triển chung của xã hội, đòi hỏi chúng ta cần phải quan tâm hơn nữa về vấn

đề chất lượng dịch vụ Nó có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với sự sống còn và phát triển của ngành kinh doanh dịch vụ trong nền kinh tế thị trường Theo bộ tiêu chuẩn ISO 9000:2000 thì dịch vụ là một chủng loại sản phẩm, tức là sản phẩm bao gồm cả dịch vụ (Tổng cục tiêu chuẩn đo lường chất lượng, 2011) Như vậy, chất lượng dịch vụ là sự thỏa mãn nhu cầu của khách hàng khi

họ cảm thấy đồng tiền mà họ bỏ ra xứng đáng với những gì mà người cung cấp dịch vụ phục vụ họ

Trang 27

Dịch vụ nông nghiệp được hiểu là điều kiện, yếu tố cần thiết, cần có cho quá trình sản xuất kinh doanh một loại sản phẩm nào đó trong nông nghiệp mà người sản xuất không sẵn có, không làm được hoặc làm không có hiệu quả và họ phải tiếp nhận các điều kiện, yếu tố đó từ bên ngoài bằng các cách thức khác nhau như: mua, bán, trao đổi, thuê, nhờ

- Hoạt động dịch vụ nông nghiệp là hoạt động nhằm cung cấp, trao đổi, tiếp nhận và sử dụng các dịch vụ giữa người sản xuất nông nghiệp và người cung cấp dịch vụ theo một phương thức nhất định nào đó

- Dịch vụ hỗ trợ nông nghiệp là loại hoạt động có tính chất bao cấp đối với người sản xuất nông nghiệp ở một chừng mực nhất định Hoạt động dịch vụ nông nghiệp có những đặc điểm sau:

+ Tính thời vụ: do sản xuất nông nghiệp có tính thời vụ nên các hoạt động dịch vụ nông nghiệp cũng sẽ mang tính thời vụ;

+ Được cung ứng từ nhiều nguồn khác nhau và mang tính cạnh tranh cao; + Tính có thể tự dịch vụ: Bản thân ngành nông nghiệp đã mang đặc điểm của tính tự phục vụ, tức là sử dụng những gì mà ngành sẵn có để phục vụ cho các quá trình sản xuất tiếp theo;

+ Hoạt động nông nghiệp chỉ có hiệu quả cao khi được thực hiện đồng thời và trên phạm vi rộng lớn;

Thực trạng chung của các HTX DVNN hiện nay hầu hết là các HTX được chuyển đổi từ mô hình HTX nông nghiệp cũ theo Luật HTX năm 2003 HTX nông nghiệp trước đây hoạt động theo kế hoạch hóa tập trung, các HTX trông chờ vào sự bao cấp, trợ cấp của Nhà nước không còn phù hợp với nền kinh tế thị trường hội nhập định hướng xã hội chủ nghĩa Nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa ngày càng phát triển mạnh mẽ sôi động và hoàn thiện hơn, đặc biệt từ 8/11/2006 nước ta chính thức là thành viên thứ 150 của tổ chức thương mại thế giới WTO, vì vậy mà các thành phần kinh tế tồn tại trong nó đều cần phải nâng cao hiệu quả hoạt động để thích ứng với xu thế cạnh tranh, tự do thương mại hóa toàn cầu (Liên minh Hợp tác xã Việt Nam, 2007) Các mối quan hệ trọng yếu tồn tại trong HTX ( hoặc các thành phần kinh tế khác) cần phải giải quyết tốt để tồn tại, phát triển đó là:

Trang 28

- Quan hệ sở hữu: Mối quan hệ về sở hữu thể hiện tài sản, tư liệu sản xuất, tư liệu lao động, phát kiến, phát minh, bản quyền thuộc về ai hoặc tổ chức, cá nhân nào

đó và được xác định chính danh, ghi danh; trong HTX DVNN là tài sản chung thuộc

sở hữu tập thể và tài sản vốn góp của xã viên Quan hệ sở hữu trong HTX DVNN thể hiện được HTX là nhà, xã viên là chủ sở hữu

- Quan hệ quản lý: Mối quan hệ quản lý khẳng định nghĩa vụ, trách nhiệm, quyền hạn của chủ thể quản lý, quan hệ quản lý thể hiện ở phương thức, trình độ

và năng lực quản lý Đây là yếu tố quyết định mức độ hình thành công của hoạt động quản lý của chủ thể

- Quan hệ phân phối: Mối quan hệ phân phối quyết định lớn đến hoạt động của chủ thể, nó chi phối rất lớn đối với quan hệ sở hữu và quan hệ quản lý Quan

hệ phân phối có thể thúc đẩy hoặc kìm hãm quá trình phát triển tùy từng trường hợp cụ thể

Tuy đã chuyển đổi nhưng còn không ít HTX tồn tại hình thức lúng túng trong việc tổ chức hoạt động dịch vụ, bên cạnh đó đã có khá nhiều HTX hoạt động có hiệu quả, và hoạt động đúng Luật, đáp ứng được yêu cầu sản xuất nông nghiệp của nông hộ và xã viên Đổi mới ở đây là bước đi làm cho các mô hình HTX đi vào hoạt động hiệu quả, đúng nguyên tắc, Luật HTX và các hành lang pháp lý liên quan, tránh tình trạng chuyển đổi mang tính hình thức

Nâng cao chất lượng hoạt động là sự cần thiết của các hoạt động sản xuất kinh doanh dịch vụ thỏa mãn về hiệu quả kinh tế trong những điều kiện nhất định của chủ thể kinh tế nói riêng hay của nền kinh tế nói chung

Bất kỳ một quốc gia nào hay một đơn vị nào khi đi vào hoạt động sản xuất đều mong muốn với nguồn lực có hạn có thể tạo ra được lượng sản phẩm nhiều nhất, với giá trị và chất lượng cao nhất để từ đó thu được lợi nhuận lớn nhất Nâng cao hiệu quả kinh tế là cơ hội để tăng được lợi nhuận từ đó làm cơ sở để tích lũy vốn và tiếp tục đầu tư tái sản xuất mở rộng, cải thiện thu nhập của nhười lao động

Nâng cao chất lượng là quá trình tất yếu của sự phát triển xã hội, tuy nhiên ở các vị thế và chủ thể khác nhau thì có mục đích khác nhau Đối với người

Trang 29

sản xuất, tăng chất lượng, hiệu quả cao chính là tăng lợi nhuận; đối với người tiêu dùng thì hiệu quả cao chính là khi họ nâng cao được độ thỏa dụng khi sử dụng hàng hóa Như vậy nâng cao chất lượng, hiệu quả kinh tế cao là làm cho toàn xã hội có lợi, bởi lẽ lợi ích của cả người sản xuất và người tiêu dung đều được nâng lên

Nội dung nâng cao chất lượng trong hoạt động của HTX DVNN:

Theo Cẩm nang Hợp tác xã (2006), nội dung nâng cao chất lượng trong hoạt động của HTXDVNN bao gồm:

- Nâng cao chất lượng, trình độ bộ máy quản lý điều hành HTX: là công việc thường xuyên, trong bất cứ một HTX nào dù có cơ sở vật chất kỹ thuật phong phú và hiện đại đến mấy, nhưng đội ngũ lao động lại tỏ ra yếu kém thì cũng không thể đáp ứng được yêu cầu của khách hàng, cũng như không thể nâng cao chất lượng dịch vụ được Nhằm nâng cao năng lực của cán bộ HTXDVNN cần thực hiện những nhiệm vụ như: tổ chức quy hoạch phát triển cán bộ HTXDVNN, bố trí, sắp xếp các chức danh quản lý của HTXDVNN hợp lý; chú trọng đến công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ; nâng cao trách nhiệm của cán bộ HTXDVNN Ngoài ra, cán bộ phải hiểu biết, đồng cảm và chia sẻ với các

hộ nông dân

- Cải thiện các mối quan hệ trong và ngoài HTXDVNN: hàng năm HTX kết hợp với các cơ quan quản lý nhà nước cấp trên tổ chức đoàn thăm quan, học tập kinh nghiệm của các HTX điển hình trong và ngoài tỉnh; tổ chức các cuộc hội thảo, giao lưu kinh nghiệm hoạt động giữa các HTXDV và giữa cán bộ HTX với

xã viên để tạo điều kiện cho HTX có cơ hội tiếp xúc với những mô hình phát triển kinh tế mới Bên cạnh đó, quan tâm đến việc hỗ trợ tổ chức các hoạt động văn hóa thể thao nhằm tăng cường mối quan hệ giữa các HTX, tăng cường cơ hội hợp tác, liên kết với các HTX khác trong và ngoài huyện

- Nâng cao chất lượng, kế hoạch hoạt động các dịch vụ của các HTX DVNN như dịch vụ thủy nông, dịch vụ khuyến nông, dịch vụ thú y, dịch vụ bảo

vệ thực vật, dịch vụ làm đất, dịch vụ cung ứng vật tư

+ Dịch vụ thủy nông và bảo vệ sản xuất: là dịch vụ tưới tiêu và bảo vệ đồn

Trang 30

điền trong sản xuất nông nghiệp, hàng vụ hàng năm phải đảm bảo mức độ, thái độ phục vụ theo đúng thời gian sinh trưởng và phát triển của cây trồng

để đảm bảo sự hài lòng của mỗi người dân khi được sử dụng dịch vụ mà họ phải đóng phí

+ Dịch vụ bảo vệ thực vật: là dịch vụ dự thính, dự báo tình hình sâu bệnh trên đồng ruộng Dịch vụ này phải đảm bảo tính chính xác để có biện pháp phòng trừ kịp thời tránh tổn thất cho nhân dân

+ Dịch vụ khuyến nông: mục đích chính của dịch vụ này là hỗ trợ đào tạo, tập huấn chuyển giao những tiến bộ khoa học kỹ thuật cho bà con nông dân góp phần nâng cao năng suất cây trồng, vật nuôi mang lại hiệu quả trong sản xuất nông nghiệp

+ Dịch vụ thú y: mức độ thực hiện việc cung ứng thuốc thú y để cho công tác chữa trị và tiêm phòng gia súc, gia cầm cho hộ xã viên

+ Dịch vụ làm đất: khả năng phục vụ có đáp ứng yêu cầu thời vụ của sản xuất nông nghiệp để tạo lên sự yên tâm của nông dân trong quá trình sử dụng dich vụ

+ Dịch vụ cung ứng vật tư nông nghiệp: nhu cầu, khả năng đáp ứng vật tư nông nghiệp cho xã viên HTX

+ Dịch vụ cung ứng, sản xuất giống: nhu cầu, khả năng đáp ứng vật tư nông nghiệp cho xã viên HTX

+ Dịch vụ tiêu thụ nông sản: mức độ tiêu thụ sản phẩm đầu ra của bà con nông dân

Nội dung, phương hướng hoạt động các khâu dịch vụ phải phù hợp với thực tiễn của các hợp tác xã, chủ trương chính sách của Đảng và Pháp luật của Nhà nước Để làm được những việc đó thì các HTX cần nâng cao độ tin cậy đối với xã viên bằng cách cung cấp các dịch vụ cho nông hộ đảm bảo đúng số lượng, chủng loại và thời gian Ngoài ra, cung ứng các dịch vụ cho các nông

hộ phải có nguồn gốc rõ ràng chất lượng các loại vật tư sản phẩm, thuốc bảo vệ thực vật hoặc giống cây trồng khi đưa xuống cho xã viên phải có sự kiểm định chất lượng của cán bộ HTXDVNN hoặc của các cơ quan tổ chức đảm bảo tính

Trang 31

pháp lý và thông tin về chất lượng sản phẩm cho người dân khi sử dụng các sản phẩm đó

Tóm lại: nâng cao chất lượng hoạt động của HTX DVNN có ý nghĩa rất quan trọng Nó giúp xã hội sử dụng nguồn lực một cách tiết kiệm và hiệu quả, nâng cao thu nhập cho cộng đồng, mà ở nghiên cứu này chính là nâng cao chất lượng hoạt động của HTX DVNN từ đó thúc đẩy sự phát triển của kinh tế nông

hộ, cải thiện, nâng cao chất lượng đời sống cư dân nông thôn

2.2 Cơ sở thực tiễn

2.2.1 Quá trình hình thành và phát triển của HTX DVNN

Quá trình hình thành và phát triển HTX trên thế giới

HTX là hình thức tổ chức kinh tế có lịch sử lâu đời và phổ biến ở nhiều quốc gia trên thế giới Vương quốc Anh, quê hương của hợp tác xã Hợp tác xã đầu tiên được ra đời tại Anh Quốc vào năm 1844, đến nay với nhiều thăng trầm, nhiều khủng hoảng của nền kinh tế thị trường trên thế giới nhưng phong trào hợp tác xã vẫn tồn tại và phát triển mạnh ở 4 châu lục, 96 quốc gia và vùng lãnh thổ Đặc biệt, là sự ra đời của Liên hợp tác xã Quốc tế (International Cooperative Aliancen, viết tắt là ICA) vào ngày 18 tháng 8 năm 1895 tại London – thủ đô của Vương quốc Anh (Tư liệu HTX, 2010)

Hiện nay, mô hình HTX trên thế giới hoạt động ở những lĩnh vực sau:

- Mở rộng thị trường vốn, thu hút tiền nhàn rỗi và cho vay đến hộ xã viên

- Chế biến và tiêu thụ sản phẩm cho xã viên

- Cung ứng tư liệu sản xuất cho các thành viên

- Thực hiện các chức năng dịch vụ và hướng dẫn cho hoạt động kinh tế của xã viên

- Là chủ thể trung gian giải quyết mối quan hệ giữa các đơn vị kinh doanh nhỏ với nhà nước

Quá trình hình thành và phát triển HTX ở Việt Nam

Ở Việt Nam, kinh tế hợp tác, hợp tác xã chính thức được Đảng và Nhà nước quan tâm và phát triển từ rất sớm Bắt đầu phát triển từ khi đất nước được giành độc lập (1945), đưa nhân dân ta thoát khỏi cảnh áp bức, nô lệ của thực dân đế quốc Tuy nhiên,

Trang 32

tùy thuộc vào mỗi giai đoạn phát triển phong trào kinh tế hợp tác xã được hình thành và phát triển có khác nhau

Hợp tác hóa là một vấn đề lớn và phức tạp Phong trào hợp tác hóa ở nước ta đã trải qua hơn 50 năm xây dựng, củng cố và tồn tại như một thực thể lịch sử

Trong hơn 50 năm qua, phong trào hợp tác hóa đã diễn ra theo trình tự: từ

hộ nông dân cá thể, chuyển qua hình thức từ tổ đổi công lên hình thức HTX bậc thấp đi lên HTX bậc cao, từ qui mô nhỏ đến qui mô lớn Quá trình phát triển kinh

tế hợp tác và HTX ở nước ta có thể tóm lược như sau:

- Giai đoạn trước hòa bình lập lại ở miền Bắc (1954)

Giai đoạn này HTX phát triển chưa đáng kể, chủ yếu ở vùng căn cứ địa cách mạng Việt Bắc Ngày 8 tháng 03 năm 1948 từ một tổ sản xuất chai lọ và ống tiêm ở ngành y tế phục vụ cho yêu cầu kháng chiến vùng an toàn khu (Thái Nguyên), HTX Thủy Tinh Dân Chủ được thành lập Đây cũng là HTX tiểu thủ công nghiệp đầu tiên ở nước ta Mặc dù mới ra đời, năng lực sản xuất hạn chế, nhưng đó là những tập dượt quan trọng để phát triển các hình thức hợp tác và HTX sau này

+ Giai đoạn thí điểm xây dựng HTX ở miền Bắc(T8/1955-1958)

Nghị quyết Hội nghị Ban chấp hành Trung ương lần thứ 8(khóa II) tháng 8/1955 đã đề ra chủ trương xây dựng thí điểm HTX NN Trong 3 năm thực hiện thí điểm, chúng ta đã xây dựng được 45 HTX và trên 100.000 tổ đổi công (Cẩm nang HTX nông nghiệp, 2012) Tuy số lượng còn ít, trình độ phát triển thấp, nhưng thực tiễn cho thấy trong hoàn cảnh trình độ sản xuất thấp kém, việc phát

Trang 33

huy vai trò kinh tế hộ gia đình nông dân và hình thức hợp tác giản đơn giữa các

hộ nông dân là phù hợp và hiệu quả Tuy nhiên trong thời kì này có một số tồn tại như: một số HTX tan vỡ trong vụ chiêm xuân 1958, trong 26 HTX ở Phú Thọ, Thái Nguyên, Ninh Bình, Thanh Hóa có 101/300 hộ thu nhập kém hơn năm 1956 (Nguyễn Công Bình, 2007)

+ Giai đoạn tổ chức xây dựng HTX (1958- 1960)

Sau thời kì thí điểm ban đầu, khi chủ trương hợp tác hóa được đưa vào thực hiện, các địa phương đã triển khai với một khí thế cách mạng đăc biệt Phần đông nông dân tin theo Đảng, tự nguyện gia nhập HTX Vì vậy phong trào hợp tác hóa đã phát triển với tốc độ không ngờ Từ đó, Hội nghị Trung ương lần thứ 16( khóa II) đã quyết định chính thức đường lối, phương châm, chính sách hợp tác hóa nông nghiệp Đây là sự đánh dấu định hình về tư tưởng hợp tác hóa nông nghiệp theo mô hình hợp tác hóa vốn đã được áp dụng phổ biến ở nhiều nước xã hội chủ nghĩa lúc bấy giờ Chủ trương và quyết tâm của Đảng đã được quán triệt

và đi vào thực tiễn Đến cuối năm 1960, đại bộ phận nông dân ở miền Bắc đã tham gia vào HTX bậc thấp (trên 85% hộ nông dân) (Cẩm nang HTX nông nghiệp, 2012)

Trong thời kì này, HTX phát triển mạnh về số lượng, nhưng chủ yếu là HTX bậc thấp và chưa vững chắc Sở dĩ xảy ra tình trạng đó là do chưa thực sự tôn trọng nguyên tắc tự nguyện, dân chủ, cùng có lợi, việc xây dựng HTX chưa xuất phát từ lợi ích của xã viên mà chạy theo phong trào, theo chỉ tiêu, nên làm lướt làm ẩu, thậm chí có tình trạng gò ép

+ Giai đoạn xây dựng HTX bậc cao từ 1960-1965

Năm 1960, chúng ta chủ trương xây dựng các HTX bậc cao, đưa người lao động đến gần với chủ nghĩa xã hội Khi phòng trào HTX phát triển mạnh và được đánh giá là cơ bản hoàn thành với số lượng 40.422 HTX thì thời kì này cũng bộc lộ nhiều bất cập (Cẩm nang HTX nông nghiệp, 2012): Hộ xã viên không phấn khởi làm việc cho HTX, thiếu cơ chế cụ thể về tổ chức quản lý, nhiều HTX hoạt động rất yếu, đời sống xã viên sau khi vào HTX không khá hơn, thậm chí còn kém hơn so với trước, một số nơi xã viên xin ra HTX Vào năm

Trang 34

1962, đã nảy sinh một hiện tượng đáng chú ý là một số HTX ở Hải Phòng bước đầu thực hiện hình thức khoán hộ, song xu hướng này lập tức bị chặn lại

Để khắc phục tình trạng này, giải pháp đưa ra là mở rộng qui mô cả về diện tích và số lượng xã viên, các HTX qui mô nhỏ được hợp nhất lại để trở thành HTX bậc cao với qui mô lớn hơn Nhà nước tăng cường đầu tư và giúp đỡ HTX đổi mới tổ chức, quản lý bằng cách tăng cường quản lý lao động, quản lý tài chính, cải tiến kỹ thuật

Các biện pháp trên đây đã có ý nghĩa giúp đỡ các HTX phát triển trong giai đoạn đầu, nhưng mục tiêu cao hơn là không để HTX suy giảm Tuy nhiên, kết quả là HTX vẫn trì trệ Sự cứng nhắc và hành chính hóa trong tổ chức, quản

lý và phân phối trong HTX đã làm tổn hại đến lợi ích kinh tế của xã viên dẫn đến

xã viên không thiết tha với HTX

Trong thời kì chống chiến tranh phá hoại bằng không quân của đế quốc

Mỹ ở miền Bắc đến khi giải phóng miền Nam (1966- 1975)

Thời kì này, cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân ta đã diễn ra quyết liệt trên cả hai miền Nam – Bắc Phong trào phát triển HTX ở miền Bắc tiếp tục được củng cố Cũng thời kì này, mục đích phát tiển HTX là phát huy vai trò tích cực trong sự nghiệp ổn định hậu phương, chi viện sức người, sức của tiền tuyến Qui mô HTX ngày càng mở rộng, bên cạnh đó chiến tranh phá hoại của đế quốc

Mỹ đã làm thiệt hại về tính mạng và tài sản, nhiều thanh niên trẻ, khỏe đã phải lên đường chiến đấu, lực lượng lao động còn lại trong HTX chủ yếu là phụ nữ, người già Do vậy, HTX trong thời kì này đã yếu hẳn nội lực cả về con người và vật chất, đời sống của xã viên gặp nhiều khó khăn

Năm 1966, Đảng ta chủ trương vận động cải tiến quản lý HTX vòng 2 thông qua thực hiện chế độ 3 khoán thống nhất trong HTX NN, nhưng tình hình HTX vẫn tiếp tục khó khăn trì trệ Trong bối cảnh chế độ 3 khoán đang được mở rộng ở nhiều địa phương, thì tháng 9/1966 ở Vĩnh Phú lại xuất hiện hình thức khoán hộ Trên thực tế, hình thức khoán hộ đã làm cho nông dân phấn khởi, sản xuất phát triển, một số mặt yếu kém và hiện tượng tiêu cực trong HTX có chiều

Trang 35

hướng giảm bớt Dựa vào kết quả ấy, Tỉnh ủy Vĩnh Phú đã ra Nghị quyết 68 chủ trương mở rộng khoán hộ trong phạm vi toàn tỉnh

Khoán hộ ở Vĩnh Phú, cũng như Hải Phòng trước đây là tín hiệu dự báo một hướng đi mới của nông nghiệp, nông thôn nước ta Nhưng ở thời điểm bấy giờ, điều kiện khách quan và chủ quan chưa chín muồi để khoán hộ khẳng định

vị trí của nó trong thực tiễn

Sau năm 1972, khi đế quốc Mỹ ngừng ném bom phá hoại miền Bắc, sản xuất

có phục hồi, nhưng chúng ta vẫn phải chi viện cho chiến trường miền Nam, tình hình HTX nhìn chung vẫn còn khó khăn, việc mở rộng qui mô HTX được tiến hành liên tục với quan niệm để lên sản xuất lớn, trong khi cơ sở vật chất và công tác quản lý HTX lại chưa được tăng cường, việc quản lý vốn, tài sản lỏng lẻo, tình trạng tổ chức, quản lý sử dụng lao động không khoa học theo kiểu chung và phân phối theo ngày công đã làm giảm động lực của xã viên

- Giai đoạn từ năm 1976 đến trước khi có luật HTX năm 1996

+ Giai đoạn 1976-1986: Tiếp tục tổ chức lại sản xuất và củng cố các Hợp

tác xã

Ở miền Bắc, tiến hành cuộc vận động tổ chức lại sản xuất, cải tiến quản lý theo hướng tiến lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa theo tinh thần Nghị quyết 61/CP ngày 05/04/1976 của Chính Phủ Sau 2 năm thực hiện, có 3.927 HTX đã tiến hành tổ chức lại sản xuất, trong đó có 3573 HTX qui mô toàn xã (Cẩm nang HTX nông nghiệp (2012)

Ở miền Nam, sau giải phóng, Đảng chủ trương giải quyết vấn đề ruộng đất công bằng cho người dân, sau đó ban chấp hành Trung ương có chỉ thị số 15 ngày 4/8/1977 về việc thí điểm tiến hành cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với nông nghiệp miền Nam, hầu hết nông dân được đưa vào HTX và tập đoàn sản xuất theo đúng cách làm, cách quản lý giống hệt các HTX ở miền Bắc Kết quả là phong trào hợp tác xã ở miền Nam không được như mong muốn, những nguyên tắc cơ bản trong xây dựng HTX đã không được tôn trọng, cộng với tình hình thiên tai liên tục trong thời kỳ này đã Làm cho các HTX và tập đoàn sản xuất vốn

Trang 36

đã yếu ớt ngày càng khó khăn gấp bội, dẫn tới nhiều HTX và đặc biệt là tập đoàn sản xuất bị tan rã hàng loạt

Đến giai đoạn này, mô hình HTX được xây dựng bằng con đường tập thể hóa đã được đẩy mạnh đến trình độ cao nhất và cũng đã được bộc lộ rõ nét, đầy

đủ nhất những khuyết điểm của nó Tình trạng thất thoát tiền vốn, tài sản trở thành phổ biến, hiệu quả kinh tế của các HTX giảm sút Diện tích ruộng đất bị bỏ hoang ngày càng nhiều, chi phí sản xuất tăng vọt, các ngành nghề làm ăn thua lỗ Thực trạng ấy đã làm cho xã viên chậm lại công việc tập thể, dồn sức đầu tư vào mảnh đất phần trăm Kinh tế phụ gia đình tuy bị thu hẹp đến mức tối đa nhưng lại trở thành nguồn thu nhập chủ yếu, quan trọng nhất của nông dân

Trước tình hình đó Hội nghị Trung ương 6 khóa IV tháng 9/1979 đã ra nghị quyết những vấn đề cấp bách về kinh tế - xã hội nhằm tạo điều kiện cho sản xuất mở ra, một số HTX thực hiện việc khoán sản phẩm đến hộ, cho phép xã viên

bỏ vốn, sức lao động đầu tư thâm canh để được hưởng phần sản phẩm vượt khoán và hiện tượng “ khoán chui” ngày càng mở rộng Để chấn chỉnh tình hình, Ban bí thư Trung ương Đảng đã ra thông báo số 22 cho tổ chức tổng kết thực tiễn đến ngày 13/01/1981 chính thức ra chỉ thị 100- CT/TW khẳng định chủ trương hình thức khoán sản phẩm cuối cùng đến nhóm và người lao động

Trong thực tiễn hoạt động của HTX trong suốt những năm 70 của thế kỉ

XX đã bộc lộ một số khó khăn, yếu kém như quá chú trọng tập thể hóa mà không coi trọng đúng các quan hệ lợi ích giữa tập thể và hộ gia đình cũng như bản thân

xã viên, phương thức quản lý kém hiệu quả, xã viên không còn gắn bó với HTX, ruộng đất, tài sản không còn sử dụng một cách có hiệu quả, qui mô HTX càng được mở rộng thì tình trạng lãng phí và vô chủ ngày càng trầm trọng, các chính sách của Nhà nước chậm được sửa đổi cho phù hợp, công tác tổ chức và quản lý của HTX mang nặng tính chất hành chính cứng nhắc, làm sai lệch bản chất kinh tế đích thực của nó, thậm chí HTX bị coi như là một tổ chức xã hội Nguyên nhân cơ bản của những hạn chế, yếu kém về cơ chế, chính sách là do chúng ta nhận thức chưa đầy đủ về chủ nghĩa xã hội, nôn nóng đi lên chủ nghĩa xã hội mà không nhận thức và không coi trọng đầy đủ yêu cầu và tác động của các qui luật kinh tế khách quan mà đặc biệt là qui luật

Trang 37

quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, coi nhẹ, thậm chí phủ nhận vai trò và sự tồn tại của các thành phần kinh tế khác trong thời

kì quá độ Trong xây dựng và phát triển HTX, các nguyên tắc xây dựng HTX đã bị vi phạm Đã vô tình đồng hóa cả 3 khái niệm là: hợp tác hóa, tập thể hóa và HTX; về thực chất 3 khái niệm này hoàn toàn khác nhau về bản chất Hơn nữa, thực tiễn đã chứng minh không phải bất kì công việc nào mà tổ chức quản lý theo mô hình tập thể cũng hiệu quả

+ Giai đoạn từ 1986-1996 (Luật HTX năm 1996 ra đời)

Những động lực được tạo ra từ chỉ thị 100-CT/TW ngày 13/10/1981 của Ban bí thư bị giảm dần do cơ chế quản lý HTX vẫn bị chi phối bởi các cơ chế tập trung quan liêu bao cấp của Nhà nước Đến đại hội 6, Đảng ta đã xác định đường lối đổi mới nền kinh tế, thừa nhận sự tồn tại của các thành phần kinh tế trong thời

kì quá độ, từ đó kinh tế tập thể mà nòng cốt là HTX đã được xem xét dưới tư duy mới Kinh tế hộ được thừa nhận là đơn vị kinh tế tự chủ và HTX bắt đầu được nhìn nhận dưới cấu trúc mới, bao gồm cả kinh tế tập thể và kinh tế hộ gia đình xã viên Như vậy, thời kì 1986-1996 có thể coi là thời kì khó khăn nhất trong quá trình phát triển HTX ở nước ta, số lượng bị giảm mạnh, từ 73.490 HTX năm

1987 đến năm 1996 giảm xuống còn 18.607 HTX (Nguyễn Công Bình, 2007) Sự thay đổi cơ chế kinh tế đã tác động đến loại hình kinh tế tập thể vốn được xây dựng theo tư duy cũ, không chuyển biến kịp thời với cơ chế kinh tế trị trường Mặt khác, sự trợ giúp của Nhà nước cho HTX cũng thiếu kịp thời nên tình hình phát triển của tất cả các loại hình HTX trong thời kì này hết sức khó khăn

- Giai đoạn từ sau khi có luật HTX năm 1996 đến trước khi có nghị quyết hội nghị Trung ương 5 khóa IX

Năm 1996, Quốc hội đã thông qua luật HTX và có hiệu lực năm 1997 Việc ban hành luật HTX thực sự đã tạo thành hành lang pháp lý cho các HTX hoạt động trong điều kiện mới Để chỉ đạo quá trình thực thi luật HTX, Ban bí thư Trung ương Đảng đã ra chỉ thị 68 – CT/TW, Chính phủ đã ban hành một số nghị định hướng dẫn thi hành luật HTX; Nghị định số 02 qui định về chức năng quản lý Nhà nước đối với HTX, Nghị định qui định về các chính sách ưu tiên đối với HTX, Nghị định 16 quy định về chuyển đổi HTX cũ theo luật Đây là lần đầu

Trang 38

tiên chúng ta có một hệ thống luật pháp khá hoàn chỉnh về HTX, tạo cơ sở pháp

lý cho việc tổ chức và hoạt động của HTX

Tính đến năm 2000 có nhiều HTX đã chuyển đổi và thành lập mới, đã thể hiện được các nguyên tắc cơ bản trong xây dựng và phát triển HTX, tinh giảm bộ máy quản lý, xác định vị trí chính đáng quyền và nghĩa vụ của xã viên, đã xuất hiện một số mô hình mới hoạt động có hiệu quả HTX đã từng bước giải phóng khỏi sự ràng buộc, cứng nhắc của cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, từng bước thích ứng với cơ chế thị trường

Tuy nhiên quá trình chuyển đổi và phát triển HTX thời gian này còn chậm, nhìn tổng thể còn nhỏ bé chưa đáp ứng kịp sự phát triển kinh tế hàng hóa của kinh tế hộ, chưa thu hút được nhiều thành phần kinh tế khác tham gia hoặc liên kết cùng làm ăn Một số HTX đã chuyển đổi và thành lập mới còn mang tính hình thức, chưa có sự chuyển biến về nội dung, phương thức và hiệu quả hoạt động dịch vụ để hỗ trợ giúp đỡ xã viên phát triển kinh tế

- Từ sau khi có nghị quyết số 13- NQ/TW năm 2002 đến nay

Việc triển khai thực hiện Nghị quyết số 13-NQ/TW về kinh tế tập thể đã tạo điều kiện cho kinh tế hợp tác mà nòng cốt là HTX phát triển thuận lợi Nhiều chính sách qui định, luật pháp về kinh tế hợp tác mà nòng cốt là HTX tiếp tục được ban hành và sửa đổi Luật HTX sửa đổi đã được Quốc hội thông qua vào kì họp cuối năm 2003 và chính thức có hiệu lực từ 01/7/2004, các cơ quan Nhà nước đang khẩn trương soạn thảo các văn bản dưới luật để ban hành chính sách theo hướng khuyến khích HTX hoạt động như một loại hình doanh nghiệp, đảm bảo luật HTX mới được thi hành một cách đồng bộ

Nhờ vậy, theo đánh giá của Ban Kinh tế Trung ương, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Liên minh HTX Việt Nam, Báo nhân dân phối hợp sơ kết

3 năm thực hiện nghị quyết số 13 – NQ/TW về kinh tế tập thể trong nông nghiệp ngày 05/9/2005 tại Hà Nội là: các HTX đã cơ bản chuyển đổi xong, giải thể phần HTX tồn tại hình thức, HTX mới thành lập ngày một tăng, dần dần đáp ứng được yêu cầu sản xuất và tiêu thụ nông sản của xã viên Xã viên HTX không chỉ bao gồm hộ nông dân mà còn có chủ trang trại, tư thương, đặc biệt là thành phần kinh

Trang 39

tế khác tham gia vào HTX Gần đây, số HTX dịch vụ tổng hợp được thành lập mới theo chuyên ngành và đã xây dựng được thương hiệu như HTX trồng hoa, cây cảnh, cây ăn quả, sản xuất rau an toàn, nuôi bò sữa, … tập trung ở vùng ven

đô thị rất có hiệu quả

Các HTX đã khắc phục được hiện tượng thua lỗ kéo dài, một số HTX đạt mức lãi cao, có tích lũy để đầu tư phát triển Đẩy mạnh liên kết kinh tế, đặc biệt

là liên kết với các doanh nghiệp, công nhân với nông dân mà còn nâng cao được hiệu quả hoạt động của mình HTX bước đầu thể hiện hiện vai trò trong việc tiếp thu, hướng dẫn chuyển giao kỹ thuật vào sản xuất, thúc đẩy chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, ngành nghề nông thôn, góp phần xóa đói giảm nghèo

Bên cạnh đó, kinh tế tập thể cũng còn bộc lộ một số tồn tại, yếu kém đó là: các tổ hợp tác phát triển vẫn mang tính tự phát, đa số chưa đăng kí hoạt động với chính quyền nên gặp nhiều khó khăn trong giao dịch kinh tế và giải quyết các vấn đề tranh chấp trong nội bộ tổ, giữa tổ hợp tác với thành phần kinh tế khác Tổ hợp tác chưa được hưởng các chính sách hỗ trợ của Nhà nước và không có nghĩa

vụ nộp thuế, do đó nhiều tổ hợp tác không muốn chuyển lên HTX

Đội ngũ cán bộ HTX còn hạn chế về trình độ, năng lực và chưa ổn định Một bộ phận HTX chuyển đổi còn mang hình thức nhưng chưa được khắc phục Công nợ của nhiều HTX chưa được xử lý dứt điểm, tài chính không lành mạnh,

đã hạn chế đến kết quả hoạt động của HTX

Phát triển hợp tác xã là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước Luật Hợp tác xã số 23/2012/QH13 đã được Quốc hội thông qua ngày 20 tháng 11 năm

2012 tại kỳ họp thứ 4 Khóa XIII, được Chủ tịch nước ký Lệnh về việc Công bố Luật Hợp tác xã, Liên hiệp hợp tác xã ngày 03 tháng 12 năm 2012 và bắt đầu có hiệu lực kể từ ngày 01/07/2013 Xét cả khía cạnh lý luận lẫn khía cạnh thực tiễn, kinh tế tập thể nói chung và hợp tác xã nói riêng là sản phẩm tất yếu của nền sản xuất hàng hóa Sản xuất hàng hóa càng phát triển, sự cạnh tranh trong kinh tế thị trường càng gay gắt buộc những người lao động riêng lẻ, hộ cá thể, càng phải hợp tác với nhau để tồn tại và phát triển Xã hội càng phát triển thì nhu cầu hợp

Trang 40

tác càng cấp thiết hơn, hình thức hợp tác càng đa dạng hơn, nội dung hợp tác trở nên phong phú hơn

Giống như mỗi cá nhân có diện mạo và tính cách riêng cho phép người ta nhận diện được cá nhân đó, hợp tác xã cũng có bản sắc riêng để phân định nó với những loại hình tổ chức khác Ngay từ khi tạo dựng hình hài hợp tác xã đầu tiên trên thế giới, những nhà sáng lập đã chọn lọc những tinh hoa từ nguyên tắc hoạt động của hiệp hội tự nguyện và doanh nghiệp, hòa quyện những đặc trưng này vào nhau để tạo ra mô hình “hợp tác xã” với những đặc trưng riêng biệt

Một số thành công trong và ngoài nước gợi mở một niềm tin rằng với vai trò kép: vừa là hiệp hội mang tính kinh tế vừa là doanh nghiệp mang tính xã hội, hợp tác xã có thể hoạt động tốt như bất kỳ doanh nghiệp nào Thậm chí hợp tác

xã có thể hoạt động tốt hơn mô hình công ty, nếu những thành viên am hiểu tường tận, tôn trọng bản sắc của hợp tác xã, biết cách sử dụng và khai thác công

cụ tập thể độc đáo này

2.2.2 Kinh nghiệm phát triển HTX ở một số nước trên thế giới

Hợp tác xã là một loại hình kinh tế tập thể khá phổ biến, hoạt động trên nhiều lĩnh vực đời sống xã hội và hiện diện ở các nền kinh tế có trình độ phát triển khác nhau Kinh nghiệm thế giới cho thấy, đến nay hợp tác xã vẫn tỏ ra là

mô hình hoạt động hiệu quả, phù hợp với điều kiện cạnh tranh ngày càng gay gắt

Và quan trọng hơn nữa, thông qua hợp tác xã, các hộ nông dân, các doanh nghiệp nhỏ hợp tác với nhau, tăng sức mạnh để đối phó với khó khăn và tránh các nguy

cơ thua lỗ cao

- Kinh nghiệm phát triển hợp tác xã nông nghiệp của Nhật Bản

Nhật Bản có nền công nghiệp và dịch vụ phát triển, nhưng họ vẫn chú trọng vào phát triển nông nghiệp, phần lớn người nông dân Nhật Bản đều tham gia HTX nông nghiệp Hiện nay, nông nghiệp Nhật Bản chiểm khoảng 1% GDP của cả nước, tổng số hộ làm nông nghiệp khoảng 3 triệu, chiếm 6,4% trên tổng số 47 triệu hộ gia đình của Nhật Bản Dân số trong sản xuất nông nghiệp là 9,9 triệu người, chiếm 7,8% dân số của cả nước (Liên minh HTX Việt Nam, 2009)

Ngày đăng: 19/09/2015, 01:36

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
19. Liên minh HTX Việt Nam (2009), Mô hình kinh tế hợp tác xã một số nước trên thế giới, Truy cập ngày 14/02/2015 từ{http://www.vca.org.vn/Default.aspx?tabid=123&CategoryID=13&News=1619} Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mô hình kinh tế hợp tác xã một số nước trên thế giới
Tác giả: Liên minh HTX Việt Nam
Năm: 2009
1. Tên Hợp tác xã (HTX): (viết hoa, không viết tắt) ……………………………………………………………………….……………………………………………………………………………….… Sách, tạp chí
Tiêu đề: viết hoa, không viết tắt
2. Tên giao dịch (nếu có):…………………………………………………………… Sách, tạp chí
Tiêu đề: nếu có
6. Năm chuyển đổi theo Luật HTX (Nếu là HTX chuyển đổi):…………………… Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nếu là HTX chuyển đổi
4. Trụ sở riêng của HTX: Có: Không Khác
5. Năm thành lập:…………………………………………………………………… Khác
7. Phân loại HTX theo lĩnh vực hoạt động Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.1: Hiện trạng sử dụng đất đai huyện Văn Lâm 2012-2014 - giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động của hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp trên địa bàn huyện văn lâm, tỉnh hưng yên
Bảng 3.1 Hiện trạng sử dụng đất đai huyện Văn Lâm 2012-2014 (Trang 55)
Bảng 3.2: Tình hình dân số và các chỉ số liên quan huyện Văn Lâm - giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động của hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp trên địa bàn huyện văn lâm, tỉnh hưng yên
Bảng 3.2 Tình hình dân số và các chỉ số liên quan huyện Văn Lâm (Trang 56)
Bảng 3.3: Cơ cấu kinh tế của huyện Văn Lâm 2012 – 2014 - giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động của hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp trên địa bàn huyện văn lâm, tỉnh hưng yên
Bảng 3.3 Cơ cấu kinh tế của huyện Văn Lâm 2012 – 2014 (Trang 59)
Đồ thị 3.1: Cơ cấu kinh tế huyện Văn Lâm qua các năm 2012-2014 - giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động của hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp trên địa bàn huyện văn lâm, tỉnh hưng yên
th ị 3.1: Cơ cấu kinh tế huyện Văn Lâm qua các năm 2012-2014 (Trang 60)
Bảng 4.1: Tình hình chuyển đổi HTX nông nghiệp theo luật - giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động của hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp trên địa bàn huyện văn lâm, tỉnh hưng yên
Bảng 4.1 Tình hình chuyển đổi HTX nông nghiệp theo luật (Trang 69)
Bảng 4.2: Tình hình tài sản vốn quỹ các HTX DVNN huyện Văn Lâm 2012-2014 - giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động của hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp trên địa bàn huyện văn lâm, tỉnh hưng yên
Bảng 4.2 Tình hình tài sản vốn quỹ các HTX DVNN huyện Văn Lâm 2012-2014 (Trang 71)
Bảng 4.3: Trình độ lý luận chính trị của cán bộ quản lý HTX DVNN của - giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động của hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp trên địa bàn huyện văn lâm, tỉnh hưng yên
Bảng 4.3 Trình độ lý luận chính trị của cán bộ quản lý HTX DVNN của (Trang 73)
Bảng 4.4: Trình độ chuyên môn đào tạo của cán bộ quản lý HTX DVNN - giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động của hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp trên địa bàn huyện văn lâm, tỉnh hưng yên
Bảng 4.4 Trình độ chuyên môn đào tạo của cán bộ quản lý HTX DVNN (Trang 74)
Bảng 4.5: Các chức danh trong Ban quản lý HTX DVNN - giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động của hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp trên địa bàn huyện văn lâm, tỉnh hưng yên
Bảng 4.5 Các chức danh trong Ban quản lý HTX DVNN (Trang 75)
Bảng 4.7: Tình hình vốn kinh doanh của các HTX DVNN của huyện Văn Lâm - giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động của hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp trên địa bàn huyện văn lâm, tỉnh hưng yên
Bảng 4.7 Tình hình vốn kinh doanh của các HTX DVNN của huyện Văn Lâm (Trang 78)
Bảng 4.9: Kết quả hoạt động dịch vụ Thủy nông, Bảo vệ sản xuất, BVTV và Khuyến nông của HTX - giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động của hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp trên địa bàn huyện văn lâm, tỉnh hưng yên
Bảng 4.9 Kết quả hoạt động dịch vụ Thủy nông, Bảo vệ sản xuất, BVTV và Khuyến nông của HTX (Trang 81)
Bảng 4.11. Kết quả hoạt động dịch vụ cung ứng vật tư nông nghiệp của các HTX - giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động của hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp trên địa bàn huyện văn lâm, tỉnh hưng yên
Bảng 4.11. Kết quả hoạt động dịch vụ cung ứng vật tư nông nghiệp của các HTX (Trang 86)
Bảng 4.13: Kết quả hoạt động của các HTX DVNN huyện Văn Lâm - giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động của hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp trên địa bàn huyện văn lâm, tỉnh hưng yên
Bảng 4.13 Kết quả hoạt động của các HTX DVNN huyện Văn Lâm (Trang 90)
Bảng 4.14: Ý kiến đánh giá của xã viên về chất lượng dịch vụ của - giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động của hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp trên địa bàn huyện văn lâm, tỉnh hưng yên
Bảng 4.14 Ý kiến đánh giá của xã viên về chất lượng dịch vụ của (Trang 92)
Bảng 4.15: Kết quả khảo sát về đáp ứng nhu cầu dịch vụ của xã viên - giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động của hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp trên địa bàn huyện văn lâm, tỉnh hưng yên
Bảng 4.15 Kết quả khảo sát về đáp ứng nhu cầu dịch vụ của xã viên (Trang 98)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm