Trong những năm gần đây, năng suất KTHS ngày càng giảm, NLHS gần bờ bị cạn kiệt, khai thác xa bờ lại gặp nhiều nguy hiểm bởi thời tiết và nhiều yếu tố khác nhưng nghề biển vẫn là cái ngh
Trang 1CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI NĂNG SUẤT VÀ LỢI NHUẬN CỦA MỘT SỐ NGHỀ
KHAI THÁC HẢI SẢN XA BỜ CHỦ YẾU Ở KIÊN GIANG
Châu Thị Minh Quyên 1 * & Lê Xuân Sinh 2
1 GIỚI THIỆU
Việt Nam là một trong những nước có tiềm năng lớn cả về khai thác và nuôi trồng thủy sản ở khu vực Đông Nam Á Với chiều dài bờ biển 3.260 km, 12 đầm phá, eo biển và vịnh, 112 cửa sông và hàng ngàn đảo lớn nhỏ trải dài dọc theo bờ biển, cùng với hệ thống sông ngòi chằng chịt và các hồ chứa tạo nên một tiềm năng lớn về khai thác thủy sản (KTTS) và năm 2009 có khoảng 1.044.700 ha diện tích mặt nước nuôi trồng thủy sản Tổng sản lượng thủy sản thu được trong năm 2009 là 4.870.300 tấn sang năm 2010 tăng lên 257.300 tấn, đạt 5.127.600 tấn tăng 5,3% so với năm 2009 (trong đó sản lượng khai thác đạt 2.420.800 tấn chiếm 47,2%) (Tổng cục Thống kê, 2009) Đồng thời, giá trị mang lại của ngành thủy sản đối với nền kinh tế Việt Nam là rất lớn Năm 2010 kim ngạch xuất khẩu thủy sản Việt Nam đạt 4,94 tỷ USD (tăng 16,5% so với năm 2009), đưa nước ta nằm trong 10 nước xuất khẩu thủy sản lớn nhất thế giới (Tổng cục Thống kê, 2010)
Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) với bờ biển dài trên 750 km chiếm 23% chiều dài
bờ biển của cả nước, cùng với hệ thống sông ngòi chằng chịt, ĐBSCL đã có những đóng góp rất lớn đối với quốc gia với sản lượng thủy sản đứng đầu cả nước, năm 2009 sản lượng thủy sản thu được 2.804.169 tấn chiếm gần 57,85% tổng sản lượng của cả nước, đạt giá trị 34.991 tỷ đồng chiếm 66,3% tổng giá trị sản xuất thủy sản của cả nước, trong đó sản lượng khai thác là 934.686 tấn chiếm 41,04% tổng sản lượng khai thác của cả nước (Tổng cục Thống kê, 2009)
Kiên Giang là một tỉnh ven biển thuộc ĐBSCL, với đường bờ biển dài hơn 200 km đây là tiềm năng để phát triển kinh tế biển của Kiên Giang, là một lĩnh vực mà tỉnh có lợi thế hơn hẳn so với nhiều tỉnh khác trong khu vực ĐBSCL Trong bản dự thảo “Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Kiên Giang năm 2011 – 2015” đã chỉ ra mục tiêu và nhiệm vụ chủ yếu là: “Huy động mọi nguồn lực để khai thác có hiệu quả tiềm năng, thế mạnh của tỉnh để đạt tốc độ tăng trưởng kinh
tế cao và bền vững Tập trung phát triển kinh tế biển, ven biển, hải đảo theo chiến lược biển của Chính phủ” Trong những năm gần đây, năng suất KTHS ngày càng giảm, NLHS gần bờ bị cạn kiệt, khai thác xa bờ lại gặp nhiều nguy hiểm bởi thời tiết và nhiều yếu tố khác nhưng nghề biển vẫn là cái nghiệp, là sinh kế quan trọng với cộng đồng ven biển của tỉnh Để góp phần đề ra những giải pháp phù hợp nhằm phát triển ngành KTHS ở tỉnh Kiên Giang theo hướng lâu dài thì cần khắc phục vấn đề tồn tại trên cơ sở hiểu rõ thực trạng nghề
2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Phương pháp thu số liệu
1 Cao đẳng Cộng đồng tỉnh Kiên Giang; Email: minhquyen1402@yahoo.com
2 Khoa Thủy sản - Đại học Cần Thơ; Email: lxsinh@ctu.edu.vn
Trang 2Số liệu thứ cấp: Thu thập và tham khảo kết quả nghiên cứu, các báo cáo có liên quan đến khai
thác hải sản đã được công bố từ Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Chi cục khai thác và Bảo vệ nguồn lợi thủy sản, Hội nghề cá, Trung tâm Khuyến ngư, Tổng cục thống kê Việt Nam, Cục thống kê tỉnh Kiên Giang
Số liệu sơ cấp: Dữ liệu được thu thập thông qua sử dụng bảng câu hỏi soạn sẵn bằng hình thức
phỏng vấn trực tiếp điều tra các ngư dân tại tỉnh từ tháng 6 tới tháng 12 năm 2011 Dữ liệu cuộc phỏng vấn được khai thác là vụ cá Bắc 2010-2011 và vụ cá Nam 2011 Các nghề KTHS xa bờ chủ yếu của tỉnh được khảo sát gồm: lưới kéo đơn, lưới kéo đôi, lưới rê và lưới vây thông qua khảo sát ngẫu nhiên 120 tàu KTHS xa bờ (30 tàu/nghề)
2.2 Phương pháp phân tích số liệu
Các dữ liệu thu thập được nhập trên Excel và sử dụng phần mềm SPSS for Windows để kiểm tra, tính toán và phân tích Phương pháp thống kê mô tả bao gồm các giá trị trung bình, tỷ
lệ %, độ lệch chuẩn, khoảng tin cậy, tần suất,… để phân tích thực trạng đánh bắt hải sản xa bờ cũng như tình hình phát triển kinh tế của tỉnh Kiên Giang Các thông tin về thuyền trưởng, lao động, tàu, ngư cụ, ngư trường, thời vụ cùng với sản lượng và năng suất khai thác được phân tích cùng với chi phí, tiêu thụ, thu nhập và lợi nhuận Phương pháp hồi quy đa biến được sử dụng để phân tích và đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến năng suất và lợi nhuận khai thác của tàu khai thác hải sản xa bờ Đồng thời, phân tích bảng chéo và thống kê nhiều chọn lựa được kêt hợp sử dụng để phân tích nhận thức của ngư dân về ccá vấn đề có liên quan
3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1 Thực trạng nghề khai thác hải sản ở tỉnh Kiên Giang
Giai đoạn 2006 – 2010, sản lượng KTTS của tỉnh tăng từ 311.618 tấn lên 375.687 tấn, đạt tốc độ tăng bình quân 4,86%/năm Về KTHS, hầu hết các nhóm đối tượng khai thác chính đều tăng, trong đó tăng mạnh nhất là mực, đạt tốc đô tăng trưởng 10,42%/năm Khai thác nội địa phát triển mạnh, đạt tốc độ gia tăng bình quân là 26,45%/năm, trong đó mạnh nhất là nhóm thủy sản khác với tốc đô tăng trưởng bình quân là 63,9% Sản lượng thủy sản khai thác của tỉnh được thể hiện cụ thể qua Bảng 1 sau đây
Nhưng số lượng tàu thuyền KTHS của tỉnh trong giai đoạn 2006 – 2010 tăng nhanh qua các năm với tốc độ hàng năm là 14,79%, năm 2010 có số lượng là 11.904 chiếc Mặc dù tàu khai thác xa bờ đang có sự chuyển biến tốt, tuy nhiên tỷ trọng tàu có công suất nhỏ vẫn chiếm tỷ lệ lớn Năm 2006 tàu có công suất nhỏ hơn 90 CV có 4.330 chiếc chiếm 59,1% tổng số lượng tàu của tỉnh, trong khi đó tàu có công suất từ 90 CV trở lên chỉ có 3.001 chiếc Đến năm 2010 tàu có công suất nhỏ hơn 90 CV tăng lên rất nhiều 8.302 chiếc chiếm 69,7%, nhưng tàu có công suất từ
90 CV trở lên chỉ có 3.602 chiếc
Trang 3Bảng 1: Sản lượng KTTS tỉnh Kiên Giang từ năm 2006 đến 2010 (ĐVT: Tấn)
Bình quân (%/năm)
-1 Khai thác biển 308.003 311.502 314.602 349.407 368.118 4,64
-2 Khai thác nội địa 3.615 3.655 3.653 3.740 7.569 26,45
-Nguồn: Cục Thống kê tỉnh Kiên Giang, 2010
3.2 Nguồn nhân lực trên tàu khai thác hải sản
- Thông tin về thuyền trưởng: Hầu hết thuyền trưởng tàu KTHS có độ tuổi tương đối trẻ, trung
bình 37 tuổi ( ± 9) Tuổi nghề khai thác trung bình là 16 năm ( ± 5), và đa số thuyền trưởng đều có xuất thân từ gia đình làm nghề biển (chiếm 76,7%) Trình độ văn hóa của thuyền trưởng
đa phần là cấp II và cấp III, cấp I chỉ chiếm 9,2%, không có mù chữ và trình độ đại học Tất cả thuyền trưởng đều có bằng cấp vì hoạt động KTHS xa bờ
- Thông tin về máy trưởng: Tuổi đời trung bình của máy trưởng trẻ hơn thuyền trưởng 32,9 tuổi (
± 5,57) Máy trưởng có kinh nghiệm khai thác thấp hơn thuyền trưởng, trung bình thời gian tham gia đánh bắt hải sản của máy trưởng là 10,8 năm ( ± 4,87) Hầu hết máy trưởng đều có xuất thân từ nghề biển (chiếm 74,2%) Trình độ của máy trưởng ở cấp I chỉ chiếm 15%, còn lại đều có trình độ cấp II và cấp III, không có trình độ đại học
- Thông tin về lao động: Mỗi nghề có nhu cầu về lao động sẽ khác nhau, trung bình tổng số lao
động 17 người/tàu Trong đó lao động thuê là 15 người (với tỷ lệ lao động thuê trên tổng lao động là 91%) Lao động gia đình rất ít tham gia trực tiếp khai thác do đa số chủ tàu tuổi đã cao nên hạn chế ra khơi, họ chỉ thuê lao động có kinh nghiệm trong KTHS Lao động thuê có tuổi đời trung bình là 25,7 tuổi với kinh nghiệm KTHS trung bình từ gần 2 năm cho tới 4 năm Học vấn của lao động thuê chủ yếu đạt trình độ cấp 2 (76,7%), còn lại là cấp 1 (23,3%)
Trang 4- Thông tin về ngư trường: Vùng biển Tây của nước ta thuộc hai tỉnh Kiên Giang và Cà Mau.
Với ngư trường rộng lớn và trữ lượng thủy sản được xếp vào loại bậc nhất cả nước, thế nhưng vùng biển này đang đứng trước nguy cơ cạn kiệt NLTS do cách khai thác sử dụng công cụ hủy diệt Các loại nghề KTTS ở ĐBSCL nói chung, Kiên Giang nói riêng có thể hoạt động quanh năm theo hai mùa vụ trong năm (Viện nghiên cứu Hải sản, 2009):
+ Vụ Nam: từ tháng 4 đến tháng 9
+ Vụ Bắc: từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau
Qua khảo sát thực tế cho thấy có 52,5% tàu khai thác ở ngư trường Kiên Giang, 26,7% số lượng tàu khai thác ở ngư trường Cà Mau, còn lại khai thác ở cả hai ngư trường Trong đó toàn
bộ nghề lưới kéo đơn khai thác ở ngư trường Cà Mau và toàn bộ nghề lưới vây thì khai thác ở ngư trường Kiên Giang Nghề kéo đôi có số lượng tàu khai thác ở cả hai ngư trường chiếm tới 70%, còn lại khai thác ở ngư trường Kiên Giang Nghề lưới rê thì hầu như chỉ khai thác ở ngư trường Kiên Giang (80%), còn lại hoạt động ở cả hai ngư trường
3.3 Các chỉ tiêu hiệu quả khai thác hải sản xa bờ và tiêu thụ sản phẩm
Tùy theo loại nghề mà các tàu có số chuyến biển khác nhau, trung bình là 9 chuyến/năm, nhiều nhất là lưới kéo đôi với 11,8 chuyến/năm và ít nhất là kéo đơn với 7,97 chuyến/năm Sản lượng khai thác/chuyến biển phụ thuộc nhiều yếu tố, trung bình là 32,1 tấn/chuyến, tương ứng với năng suất 746,6 kg/CV/năm Tổng thu từ KTHS là 13,31 triệu đồng/CV/năm (tr.đ/CV/năm) (xem Bảng 2)
Phần lớn các chủ tàu đều bán sản phẩm khai thác được cho thương lái và cho nhà máy chế biến trong tỉnh Qua khảo sát thực tế cho thấy nghề lưới kéo đơn tiêu thụ toàn bộ sản phẩm khai thác được cho thương lái (100%) ở cả hai vụ Bắc và Nam Lưới kéo đôi đa phần bán cho thương lái (96,67% ở vụ Nam và 95,67% ở vụ Bắc) còn lại thì tiêu thụ ở các chợ và nhà máy chế biến trong tỉnh Sản phẩm hải sản khai thác được của nghề lưới rê được tiêu thụ hơn 83% qua thương lái ở cả hai vụ, còn lại bán cho nhà máy chế biến trong tỉnh
Bảng 2: Tổng hợp các chỉ tiêu chủ yếu trong khai thác hải sản xa bờ (cả năm)
đôi
Lưới kéo đơn Lưới vây Lưới rê Tổng Sản lượng khai thác
Năng suất/CV
Tổng chi phí/CV (TC/CV)
Trang 5Tổng thu nhập/CV (TR/CV)
Lợi nhuận/CV (LN/CV)
Hiệu quả chi phí (TR/TC)
Tỉ suất lợi nhuận (LN/TC)
Tổng chi phí trung bình/CV/năm của nghề lưới kéo đôi là 9,4 tr.đ/CV/năm ( ± 5,9), lưới vây là 8,45 tr.đ/CV/năm ( ± 4,9) Hai loại hình khai thác này cần đầu tư cho công suất tàu và vàng lưới rất lớn Đối với nghề lưới kéo đơn thì không cần tàu có tốc độ cao vì đặc trưng của nghề cho nên tổng chi phí trung bình/CV/năm trong năm chỉ là 8,0 tr.đồ/CV/năm ( ± 4,0) Với cả bốn nghề khai thác chủ yếu của tỉnh Kiên Giang thì chi phí cho nhiên liệu chiếm tỷ lệ cao nhất trong tổng chi phí (Lưới kéo đôi: 57,46%, lưới kéo đơn: 25,48%, lưới vây: 18,1% và lưới rê: 37,74%) Khoản chi phí này quyết định hiệu quả của nghề KTTS Với tình hình kinh tế hiện nay, việc giá cả nhiên liệu gia tăng cùng với các hàng hóa khác sẽ ảnh hưởng đến thu nhập của ngư dân, đồng thời ảnh hưởng đến sự phát triển của nghề KTTS Cắt giảm chi phí nhiên liệu một cách hợp lý là việc làm cần được quan tâm giải quyết
Bảng 2 cho thấy kết quả về lợi nhuận/CV/năm của lưới vây đạt cao nhất với 5,84 tr.đ/CV/năm ( ± 6,39), kế đó là lưới kéo đôi với 5,50 tr.đ/CV/năm ( ± 4,97) và lưới rê là 3,95 tr.đ/CV/năm ( ± 3,68), thấp nhất là lưới kéo đơn 3,81 tr.đ/CV/năm ( ± 4,12) Tất cả ngư dân theo các loại nghề khai thác đều thu được lợi nhuận/năm, mặc dù trong năm cũng có một vài chuyến bị lỗ nhưng bình quân thì có lời Tuy nhiên, tàu kéo đơn cho hiệu quả chi phí cao nhất (1,90), kế đó là lưới rê (1,50) trong khi hai loại lưới còn lại là tương đương (1,30-1,31) Điều này chứng tỏ hoạt động KTHS xa bờ của các cơ sở là có hiệu quả về mặt kinh tế
3.4 Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất khai thác
Từ dữ liệu điều tra với bốn nghề KTHS xa bờ ở tỉnh Kiên Giang, thực hiện việc ước lượng các tham số của hàm hồi quy phi tuyến tính đa biến cho kết quả: Hệ số xác định của mô hình là R = 0,871 (hay mô hình được giải thích 87,1% bởi các yếu tố đưa vào mô hình); R2 =
Trang 60,758 và Sig.F = 0,000 < α = 1%, tức là các biến độc lập trong mô hình có ảnh đến biến phụ thuộc Y một cách có ý nghĩa ở mức 1% Phương trình hồi quy tuyến tính về năng suất KTHS trong năm (kg/CV/năm) của các tàu khai thác xa bờ được nghiên cứu tại địa bàn tỉnh Kiên Giang (YNS) được viết như sau, trong đó các Xi được chi tiết ở Bảng 3:
Y NS = -219,987 + 453,782 X 1 + 62,379 X 2 – 8,918 X 3 – 2,883 X 4 + 0,633 X 5 + 524,954 X 6
– 462,463 X 7 + 7,601 X 8 + 15,46 X 9 - 22,032 X 10 - 279,978 X 11
Bảng 3: Mô hình hồi quy - các nhân tố ảnh hưởng đến năng suất KTHS xa bờ tại tỉnh Kiên
Giang Ký
Mức ý nghĩa (P)
X1
Tổng chi phí biến đổi
X11 Ngư trường Cà Mau (1: Cà mau; 0:
Các biến độc lập có ý nghĩa thống kê đối với năng suất được giải thích như sau:
- Tổng chi phí biến đổi (Triệu đồng/CV/năm): Kết quả khảo sát thực tế và phân tích cho biết β1 = 453,782, nghĩa là khi các yếu tố khác giả định không thay đổi nếu chi phí biến đổi cho một chuyến biển càng nhiều thì năng suất khai thác/CV/năm càng tăng Năng suất khai thác đạt mức cao nhất là 976,39 kg/CV/năm và lợi nhuận cao nhất là 10,72 tr.đ/CV/năm đều đạt được ở mức chi phí biến đổi 1,14 tr.đ/CV/năm
- Số chuyến biển trong năm: Tàu khai thác càng nhiều chuyến trong năm thì năng suất khai thác
càng tăng (các biến khác cố định) β 2 = 62,379 có ý nghĩa là tàu khai thác thêm một chuyến trong năm thì năng suất sẽ tăng lên 62,379 kg/CV/năm Nhưng trữ lượng hải sản có hạn, sản lượng khai thác không thể gia tăng mãi, nên số chuyến biển thích hợp nhất để có năng suất khai thác cao nhất (884,1 kg/CV/năm) là từ 8-10 chuyến trong năm Lợi nhuận đạt mức tối đa là 7,55 tr.đ/ CV/năm khi tàu khai thác 8 chuyến/năm
- Thời gian một chuyến biển: β3 = -8,918 kết quả phân tích cho biết khi các biến còn lại cố định nếu thời gian chuyến biển kéo dài thêm 1 ngày thì năng suất khai thác/CV/năm giảm xuống 8,918 kg/CV/năm Thực tế, thời gian của một chuyến biển kéo dài thêm không có nghĩa là sản
Trang 7lượng gia tăng cùng tỷ lệ Cho nên, thời gian của một chuyến biển tốt nhất để mang về năng suất cao nhất là khoảng 20 ngày/chuyến đến 30 ngày/chuyến với năng suất khai thác tối đa là 909,88 kg/CV/năm Nhưng lợi nhuận của tàu khai thác đạt mức tối đa (10,17 tr.đ/CV/năm) khi thời gian một chuyến biển khoảng 30-35 ngày/chuyến
- Độ sâu đánh bắt bình quân: β4 = -2,883 với ý nghĩa 1% cho biết yếu tố này có mối quan hệ tỷ
lệ nghịch với năng suất khai thác Khai thác càng sâu thì năng suất càng giảm, khi tàu thả lưới sâu thêm 1m thì năng suất sẽ giảm đi 2,883 kg/CV/năm Năng suất và lợi nhuận có thể đạt mức cao nhất là 914,71 kg/CV/năm và 11,22 tr.đ/CV/năm khi khai thác ở độ sâu 24-30 m
- Công suất máy (CV): Trong điều kiện các yếu tố khác không đổi, công suất sẽ tác động ngược
chiều với năng suất khai thác, công suất càng lớn cho năng suất khai thác/CV/năm càng giảm β5
= 0,633 cho thấy công suất máy tăng lên 1 CV thì năng suất khai thác sẽ tăng lên 0,633 kg/CV/năm Với công suất máy là 275 CV cho năng suất khai thác cao nhất là 933,85 kg/CV/năm và lợi nhuận cũng cao nhất 6,91 tr.đ/CV/năm
- Lưới rê: Trong điều kiện khảo sát thực tế và các yếu tố khác cố định, lưới rê có năng suất cao
hơn lưới kéo đơn, cứ một tàu lưới rê tham gia khai thác tăng lên thì năng suất khai thác/CV/năm
sẽ tăng lên 524,954 kg/CV/năm so với lưới kéo đơn Năng suất khai thác/CV/năm của lưới kéo
đôi thì thấp hơn lưới rê nhưng cao hơn lưới kéo đơn và lưới vây, β7=-462,463 cho biết ý nghĩa là
so với lưới kéo đơn nếu chiếc tàu lưới kéo đôi tăng lên thì năng suất khai thác sẽ giảm xuống 462,463 kg/CV/năm
- Tuổi thuyền trưởng: β8 = 7,601 cho biết tuổi của thuyền trưởng có mối quan hệ tỷ lệ thuận với năng suất khai thác với mức ý nghĩa 1% (khi các biến khác không thay đổi), tuổi thuyền trưởng càng lớn thì năng suất khai thác càng cao Năng suất khai thác đạt mức cao nhất là 899,39 kg/CV/năm khi thuyền trưởng ở độ tuổi trong khoảng 35 tuổi đến 40 tuổi và lợi nhuận mang lại cao nhất là 6,2 tr.đ/CV/năm khi thuyền trưởng ở độ tuổi này Qua độ tuổi này năng suất và lợi nhuận bắt đầu giảm xuống do sức khỏe yếu đi theo thời gian
- Tuổi nghề của thuyền trưởng (năm): Đây là yếu tố nói lên kinh nghiệm khai thác của thuyền
trưởng tương quan thuận với năng suất khai thác (β9 = 15,460) trong điều kiện các yếu tố khác không thay đổi Điều này có nghĩa là kinh nghiệm của thuyền trưởng tăng lên 1 năm thì năng suất khai thác tăng thêm 15,460 kg/CV/năm Tuổi nghề của thuyền trưởng từ 13 năm đến 15 năm thì cho năng suất và lợi nhuận cao nhất (859,73 kg/CV/năm và 5,85 tr.đ/CV/năm)
- Tổng số lao động (người/tàu): β10 = -22,032 cho biết số lao động trên tàu càng nhiều thì năng suất khai thác càng giảm với mức ý nghĩa 1% trong điều kiện các biến còn lại không thay đổi Lao động trên tàu khoảng 13 người đến 15 người thì sẽ cho năng suất khai thác cao nhất là 868,74 kg/CV/năm, nhưng lợi nhuận cao nhất là 6,28 triệu đồng/CV/năm khi lao động trên tàu ít hơn mức này Tuy nhiên cần chú ý tới cường độ lao động và sức khỏe của ngư phủ
Trang 8- Ngư trường Cà Mau: Giả sử các yếu tố khác cố định thì ngư trường có mối tương quan nghịch
với lợi nhuận với ý nghĩa 5% Khai thác ở ngư trường Kiên Giang cho năng suất khai thác tốt hơn, có thể tăng thêm 279,978 kg/CV/năm so với khai thác ở ngư trường Cà Mau
3.5 Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến lợi nhuận khai thác
Hệ số xác định của mô hình hồi quy về lợi nhuận là R = 0,924; R2 = 0,854 và Sig =0,000
< α = 1%, nghĩa là các biến độc lập trong mô hình có ảnh đến biến phụ thuộc Y có ý nghĩa thống
kê ở mức α = 1% Với Y là lợi nhuận khai thác (tr.đ/CV/năm) thì phương trình hồi quy tuyến
tính về lợi nhuận (tr.đ/CV/năm) của các tàu KTHS xa bờ được nghiên cứu tại địa bàn tỉnh Kiên Giang (YLN) được viết như sau, trong đó các Xi được chi tiết ở Bảng 4:
Y LN = 5,177 + 6,317 X 1 – 0,237 X 2 + 0,954 X 3 + 0,068 X 4 – 6,456 X 5
– 6,084 X 6 – 4,662 X 7 – 0,065 X 8
Bảng 4: Mô hình hồi quy - các nhân tố ảnh hưởng đến lợi nhuận KTHS xa bờ tại tỉnh Kiên
Giang Ký
Hệ số (b) Chỉ số (t)
Mức ý nghĩa (P)
X1
Tổng chi phí biến đổi
X3
Nhật ký khai thác (1: có, 0: không
X5
Lưới kéo đôi (1: Lưới kéo đôi ; 0:
X7
Ngư trường Cà Mau (1: Cà mau; 0:
Các biến độc lập có ý nghĩa thống kê đối với lợi nhuận khai thác được giải thích như sau:
- Tổng chi phí biến đổi: β1 = 6,317 có nghĩa là khi các yếu tố khác không thay đổi thì chi phí biến đổi bỏ ra cho một chuyến biển càng nhiều thì lợi nhuận trong khai thác/CV/năm càng tăng Chi phí biến đổi tăng 1 tr.đ/CV/chuyến thì cho lợi nhuận tăng lên 6,317 tr.đ/CV/năm
- Tuổi tàu: trong điều kiện các biến khác cố định, yếu tố này có mối tương quan nghịch với lợi
nhuận (β2 = – 0,237 và mức ý nghĩa 1%) có nghĩa là thời gian sử dụng của tàu càng lâu (tàu cũ đi) thì lợi nhuận càng giảm Nguyên nhân là do tàu quá cũ thì chi phí sửa chữa sẽ nhiều hơn Lợi nhuận mang lại cao nhất trong khai thác là 5,84 tr.đ/CV/năm khi tàu có độ tuổi từ 2 năm đến 4
Trang 9năm, qua thời gian này lợi nhuận khai thác bắt đầu giảm xuống Nhưng năng suất khai thác đạt mức cao nhất là 869,1 kg/CV/năm khi tàu có độ tuổi là 4 năm đến 7 năm
- Nhật ký khai thác: β3 = 0,954 cho biết nhật ký khai thác có mối tương quan thuận với lợi nhuận khai thác (các biến còn lại cố định) Việc có ghi nhật ký khai thác giúp cho việc khai thác được thuận lợi hơn trong việc xác định ngư trường cũng như sự di chuyển của các loài hải sản, từ đó
có thể giúp mang lợi nhuận thêm cho tàu KTHS là 0,954 triệu đồng/CV/năm
thuận giữa giá bán với lợi nhuận khai thác, khi giá bán tăng lên 1.000 đồng/kg thì lợi nhuận sẽ tăng lên 0,068 triệu đồng/CV/năm Nhưng không phải giá bán cao là mang lại lợi nhuận tốt, giá bán bình quân từ 10.000 đồng/kg đến 15.000 đồng/kg sẽ mang về lợi nhuận cao nhất là 6,07 tr.đ/ CV/năm, nhưng năng suất cao nhất lại đạt được khi giá bán bình quân từ 30.000 đồng/kg trở lên
là 819,25 kg/CV/năm Điều này có thể là do lúc giá của hải sản khai thác cao, các tàu đánh bắt hết công suất để có sản lượng cao nhất nhưng lợi nhuận thì còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác như chi phí, các sản phẩm thay thế cho hải sản,…
- Lưới vây: Nếu các yếu tố khác không thay đổi, một cặp tàu lưới vây có lợi nhuận có thể thấp
hơn 4,084 tr.đ/CV/năm so với lưới kéo đơn Trong khi đó, nếu sử dụng tàu lưới kéo đôi thì lợi nhuận khai thác có thể giảm xuống 6,456 tr.đ/CV/năm so với các nghề còn lại
- Ngư trường Cà Mau: Giả sử các biến khác không thay đổi, tàu khai thác ở ngư trường Cà Mau
cho lợi nhuận thấp hơn ngư trường Kiên Giang, cùng loại tàu nhưng nếu khai thác ở ngư trường
Cà Mau có thể thu lợi nhuận thấp hơn ở Kiên Giang khoảng 4,662 tr.đ/CV/năm
- Thời gian chuyến biển (ngày): β8 = -0,065 kết quả phân tích cho biết khi các biến còn lại cố định nếu thời gian chuyến biển dài thêm 1 ngày thì lợi nhuận khai thác có thể giảm 0,065 tr.đ/CV/năm Thực tế thì tàu khai thác dài ngày/chuyến thì chi phí/chuyến tăng thêm, nhưng như
đã đề cập ở phần trên, thời gian chuyến biển cho lợi nhuận tốt là 30-35 ngày
3.6 Rủi ro trong khai thác hải sản và giải pháp phòng ngừa của ngư dân
Trong KTHS xa bờ, ngư dân gặp không ít rủi ro khi ra khơi Nhiều ý kiến cho rằng những khó khăn mà ngư dân thường gặp nhiều nhất trong khai thác là thời tiết bất thường, ngư trường không ổn định, NLTS suy giảm, chiếm đến 61,6% Những rủi ro khác mà ngư dân cũng thường xuyên gặp là lưới bị rách, máy bị hư hỏng trong khi đánh bắt, vùng khai thác thì bị hạn chế vì biên giới đường biển không rõ ràng, nên tàu cá dễ bị tàu của các nước láng giềng bắt do vượt biên giới đường biển (chiếm 35,1%) Các khó khăn khác khi ra khơi còn là: thiếu vốn hoạt động, mùa vụ không còn ổn định như trước đây và thời tiết diễn biến phức tạp hơn
Bảng 5 Khó khăn trong khai thác hải sản xa bờ ở Kiên Giang (% số ngư dân)
Khó khăn
Kéo đôi
Kéo đơn
Lưới vây
Lưới
1 Thời tiết bất thường, ngư trường không
Trang 102 Rách lưới, hư máy trong khi khai thác,
3 Thiếu vốn ra khơi, thời tiết phức tap hơn,
Ngoài những biện pháp mà ngư dân có thể chủ động thực hiện được thì có một số biện pháp mà ngư dân mong muốn Nhà nước thực hiện để phòng ngừa rủi ro, mở rộng hoạt động khai thác đó là: cần Nhà nước mở rộng vùng đánh bắt để nâng cao sản lượng khai thác và thu nhập của ngư dân (chiếm 53,3%), mong muốn Nhà nước quản lý biên giới đường biển chặt chẽ hơn để tránh tàu cá Việt Nam bị tàu cá nước ngoài bắt giữ khi vượt đường biên giới (chiếm 26,7%) Giải pháp phòng ngừa rủi ro chủ yếu của ngư dân qua khảo sát thực tế bao gồm: thay lưới dự trữ và đem lưới
bị rách về vá lại tái sử dụng, máy hư nhẹ thì có thợ máy sửa chữa, hư nặng thì đem về bờ sửa (16,7%), thường xuyên theo dõi dự báo thời tiết để tránh bão (2,5%), cần sự hỗ trợ về vốn của Nhà nước để nâng cao chất lượng hải sản đánh bắt (0,8%),
Bảng 6 Giải pháp/đề xuất để khắc phục/hạn chế khó khăn trong khai thác hải sản (% số
ngư dân) Giải pháp/đề xuất
Kéo đôi
Kéo đơn
Lưới vây
Lưới
1 Mở rộng ngư trường khai thác, cần có
sự hỗ trợ của Nhà nước về việc mở rộng
vùng đánh bắt
2 Cần có sự tham gia quản lý chặt chẽ
3 Thay lưới dự trữ, lưới bị rách thì đem
về vá lại, máy hư đem vô bờ sửa nếu hư
nặng
4 Thường xuyên theo dõi bản tin dự báo
thời tiết để nắm thông tin phòng tránh
giông bão
5 Cần sư hỗ trợ về vốn của Nhà nước để