1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu thể chất và hoàn cảnh gia đình của học sinh nội trú người mông các trường trung học phổ thông huyện si ma cai, tỉnh lào cai

95 369 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 95
Dung lượng 658,99 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhiệm vụ nghiên cứu Để thực hiện điều này, chúng tôi đã tiến hành thực hiện các nhiệm vụ sau: Xác định hoàn cảnh gia đình của học sinh người dân tộc Mông trường THPT Số 1, Số 2 huyện Si

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

PHẠM VĂN HOÀNG

NGHIÊN CỨU THỂ CHẤT VÀ HOÀN CẢNH GIA ĐÌNH CỦA HỌC SINH NỘI TRÚ NGƯỜI MÔNG CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG HUYỆN SI MA CAI, TỈNH LÀO CAI

LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC

HÀ NỘI, 2014

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

PHẠM VĂN HOÀNG

NGHIÊN CỨU THỂ CHẤT VÀ HOÀN CẢNH GIA ĐÌNH CỦA HỌC SINH NỘI TRÚ NGƯỜI MÔNG CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG HUYỆN SI MA CAI, TỈNH LÀO CAI

Chuyên ngành: Sinh học thực nghiệm

Mã số : 60 42 01 14

LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC

Người hướng dẫn khoa học

GS.TSKH Tạ Thúy Lan

HÀ NỘI, 2014

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới GS.TSKH Tạ Thuý Lan, người

đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ em trong quá trình thực hiện luận văn này

Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến các thầy cô giáo là Lãnh đạo quản lý, các thầy cô Phòng sau Đại học trường Đại học Sư phạm Hà Nội II đã tạo điều kiện giúp đỡ em trong quá trình học tập và thực hiện luận văn này

Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo là Lãnh đạo quản lý, các thầy cô giáo, các em học sinh và các bậc phụ huynh học sinh của các trường THPT huyện Si Ma Cai, tỉnh Lào Cai đã tạo điều kiện cho tôi trong quá trình thực hiện luận văn này

Tôi xin chân thành cảm ơn các Lãnh đạo quản lý, các bác sỹ, y tá bệnh viện Đa khoa huyện Si Ma Cai, tỉnh Lào Cai đã tạo điều kiện cho tôi trong quá trình thực hiện luận văn này

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đối với gia đình, bạn bè đồng nghiệp đã động viên, giúp đỡ tôi trong quá trình hoàn thành luận văn này

Hà Nội, tháng 12 năm 2014

Tác giả

Phạm Văn Hoàng

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Luận văn của tôi được hoàn thành dưới sự hướng dẫn của GS.TSKH

Tạ Thuý Lan

Tôi xin cam đoan đây là kết quả nghiên cứu của riêng tôi

Kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và không trùng lặp với bất kỳ nghiên cứu của các tác giả đã được công bố

Nếu lời cam đoan của tôi sai, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm

Hà Nội, tháng 12 năm 2014

Tác giả

Phạm Văn Hoàng

Trang 5

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

BGDĐT Bộ Giáo dục Đào tạo

BMI Body Mass Index (Chỉ số khối cơ thể)

CDC Centres for Disease Control and Prevention (Trung tâm

kiểm soát và phòng ngừa dịch bệnh)

Trang 6

MỤC LỤC

Trang

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 2

3 Nhiệm vụ nghiên cứu 2

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2

5 Phương pháp nghiên cứu 3

6 Đóng góp mới của đề tài 3

NỘI DUNG 4

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIÊU 4

1.1 Đăc điểm của người Mông ở tỉnh Lào Cai 4

1.2 Một số chỉ số về hoàn cảnh gia đình 5

1.2.1 Một số vấn đề chung về thu nhập bình quân đầu người 5

1.2.2 Một số vấn đề về tuổi kết hôn và sinh con của người Việt Nam 6

1.3 Một số chỉ số hình thái - thể lực 8

1.3.1 Một số vấn đề chung về hình thái - thể lực 8

1.3.2 Nghiên cứu về chỉ số hình thái - thể lực của trẻ em Việt Nam 10

1.4 Một số chỉ số chức năng của một số hệ cơ quan của học sinh 17

1.4.1 Một số vấn đề chung về lịch sử nghiên cứu tần số tim 17

1.4.2 Một số vấn đề chung về lịch sử nghiên cứu huyết áp động mạch 19

1.4.3 Nghiên cứu tần số tim và huyết áp động mạch của trẻ em Việt Nam 21

1.4.4 Nghiên cứu kiểu hình thần kinh của trẻ em Việt Nam 21

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23

2.1 Đối tượng nghiên cứu 23

2.2 Phương pháp nghiên cứu 23

2.2.1 Các chỉ số được nghiên cứu 23

2.2.2 Phương pháp nghiên cứu các chỉ số hoàn cảnh kinh tế 24

2.2.3 Phương pháp nghiên cứu các chỉ số hình thái, thể lực 24

Trang 7

2.2.4 Phương pháp nghiên cứu các chỉ số chức năng của một số hệ cơ quan

của học sinh 25

2.3 Phương pháp xử lý số liệu 26

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN 28

3.1 Hoàn cảnh gia đình học sinh 28

3.1.1 Thu nhập bình quân đầu người của gia đình học sinh 28

3.1.2 Tuổi có con đầu lòng của bố mẹ học sinh 29

3.1.3 Số lượng con của bố mẹ học sinh 33

3.1.4 Học lực của học sinh 35

3.2 Các chỉ số hình thái, thể lực của học sinh 37

3.2.1 Chiều cao đứng của học sinh 37

3.2.2 Cân nặng của học sinh 41

3.2.3 Vòng ngực trung bình của học sinh 45

3.2.4 Chỉ số pignet của học sinh 49

3.2.5 Chỉ số khối cơ thể (BMI) của học sinh 53

3.2.5.1 Chỉ số khối cơ thể của học sinh 53

3.2.5.2 Phân bố học sinh theo mức dinh dưỡng 56

3.3 Các chỉ số chức năng của một số hệ cơ quan của học sinh 59

3.3.1 Tần số tim của học sinh 59

3.3.2 Huyết áp động mạch của học sinh 61

3.3.2.1 Huyết áp tâm thu của học sinh 61

3.3.2.2 Huyết áp tâm trương của học sinh 64

3.3.3 Kiểu hình thần kinh của học sinh 66

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 70

DANH MỤC CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO 73

PHỤ LỤC 81

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG TRONG LUẬN VĂN

Trang

Bảng 3.9 Chiều cao đứng của học sinh theo tuổi, giới tính và theo

hoàn cảnh kinh tế

40

Bảng 3.12 Cân nặng của học sinh theo tuổi, theo giới tính và theo hoàn

cảnh kinh tế

44

Bảng 3.14 Vòng ngực trung bình của học sinh theo tuổi và theo giới

tính

46

Bảng 3.15 Vòng ngực trung bình của học sinh theo tuổi, theo giới

tính và theo hoàn cảnh kinh tế

48

Trang 9

Bảng 3.19 BMI của học sinh theo tuổi và giới tính 53

Bảng 3.26 Huyết áp tâm trương của học sinh theo tuổi và theo giới

tính

64

Trang 11

1

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong công cuộc phát triển xã hội hiên nay, con người được coi là nhân

tố quan trọng Muốn xây dựng một nền kinh tế phát triển, đất nước phải có nguồn nhân lực dồi dào, đủ sức khỏe, có trình độ chuyên môn cao, có hiểu biết sâu Trong đó, thể chất được coi là một nhân tố hết sức quan trọng quyết định chất lượng con người

Trong điều kiện đất nước ta đã và đang đổi mới, đã có nhiều công trình nghiên cứu về hoàn cảnh gia đình và các chỉ số sinh học có liên quan đến thể chất của học sinh Việt Nam Các kết quả nghiên cứu được trình bày trong các tạp chí và tài liệu chuyên ngành [1, 3, 4, 5, 7, 9, 10, 11, 12, 14, 17, 20, 22, 26,

27, 28, 31, 33, 34, 63]

Các chỉ số về thể chất của học sinh được coi là một trong số các vấn đề quan trọng liên quan với quá trình đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho đất nước Thực tế cho thấy, muốn đưa ra một biện pháp đúng đắn và hiệu quả đối với sự nghiệp giáo dục và đào tạo một cách toàn diện, phải dựa vào hiện trạng thể chất của học sinh Do vậy, việc đảm bảo tăng trưởng, phát triển thể chất cho học sinh là việc cần được ưu tiên của gia đình và của toàn thể xã hội

Sự phát triển và tăng trưởng của học sinh ở mỗi giai đoạn phát triển có những đặc điểm khác nhau Các cuộc điều tra cho thấy, thông thường cứ sau 10 năm các chỉ số về hình thái, sinh lý của con người có những thay đổi liên quan với điều kiện sống, tình hình kinh tế xã hội Do đó, việc đánh giá đúng và thường xuyên các chỉ số sinh học về thể chất của học sinh ở các lứa tuổi cần được tiến hành thường xuyên, theo định kì để cung cấp dữ liệu mới làm cơ sở cho công tác chăm sóc sức khỏe, phát triển thể chất và công tác giáo dục học sinh

Ở Việt Nam số lượng các công trình nghiên cứu về tăng trưởng và phát triển cơ thể của học sinh đã có khá nhiều [2, 5, 6, 8, 15], Có nhiều công trình nghiên cứu về các chỉ số sinh học của học sinh và đồng bào dân tộc ít

Trang 12

2

người [6, 8, 16, 22, 23, 24, 25, 37], Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu về học sinh người dân tộc người Mông trường THPT Số 1, Số 2 huyện Si Ma Cai, tỉnh Lào Cai Xuất phát từ những lí do trên, chúng tôi chọn

đề tài: “Nghiên cứu thể chất và hoàn cảnh gia đình của học sinh nội trú

người Mông các trường Trung học phổ thông huyện Si Ma Cai, tỉnh Lào Cai ”

2 Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của chúng tôi là đánh giá được thực trạng về hoàn cảnh gia đình và thể chất của học sinh vùng sâu, vùng xa

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để thực hiện điều này, chúng tôi đã tiến hành thực hiện các nhiệm vụ sau:

Xác định hoàn cảnh gia đình của học sinh người dân tộc Mông trường THPT Số 1, Số 2 huyện Si Ma Cai, tỉnh Lào Cai (thu nhập bình quân đầu người, tuổi sinh con đầu lòng của bố mẹ, số anh chị em trong gia đình và học lực của học sinh)

Xác định một số chỉ số hình thái - thể lực của học sinh người dân tộc Mông trường THPT Số 1, Số 2 huyện Si Ma Cai, tỉnh Lào Cai (chiều cao đứng, cân nặng, vòng ngực trung bình, chỉ số pignet, chỉ số BMI); xác định được một số chỉ số chức năng của một số hệ cơ quan (tần số tim, huyết áp động mạch, kiểu hình thần kinh)

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu là 585 học sinh người dân tộc Mông có độ tuổi

từ 16 đến 18 của trường THPT số 1, số 2 huyện Si Ma Cai, tỉnh Lào Cai

- Đối tượng nghiên cứu có sức khỏe bình thường, trạng thái tâm sinh lý bình thường, không có các dị tật về hình thể và không có bệnh mạn tính

Trang 13

3

- Nghiên cứu được tiến hành tại trường THPT Số 1, Số 2 huyện Si Ma Cai, tỉnh Lào Cai

5 Phương pháp nghiên cứu

- Nghiên cứu tài liệu để xây dựng cơ sở lí luận cho đề tài

- Sử dụng phương pháp nghiên cứu cắt ngang

+ Hoàn cảnh kinh tế của gia đình học sinh được thực hiện bằng công tác điều tra qua địa phương và Phòng Lao động Thương binh xã hội của huyên Phát phiếu điều tra cho học sinh, thống kê qua hộ khẩu để nghiên cứu

về hoàn cảnh gia đình

+ Các chỉ số thể chất như chiều cao đứng, cân nặng, vòng ngực trung bình, chỉ số pignet và chỉ số BMI được xác định theo phương pháp đã được chuẩn hóa của WHO và Bộ Y tế Việt Nam

+ Huyết áp động mạch được xác định bằng phương pháp Korotkov + Tần số tim được xác định bằng ống nghe tim phổi

+ Kiểu hình thần kinh được nghiên cứu theo phương pháp Eysenck

- Số liệu được xử lý bằng phương pháp toán xác suất thống kê dùng cho y, sinh học trên máy vi tính bằng chương trình Microsoft Excel

6 Đóng góp mới của đề tài

- Là đề tài đầu tiên xác định được hoàn cảnh kinh tế gia đình của học sinh nghèo có liên quan đến phát triển thể chất tại các trường THPT huyện Si

Ma Cai, tỉnh Lào Cai

- Các số liệu nghiên cứu có thể góp phần vào việc bổ sung cho hướng nghiên cứu về thể chất của học sinh ở giai đoạn 16 đến 18 tuổi và có thể dùng làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu và giảng dạy ở trường Trung học phổ thông

Trang 14

4

NỘI DUNG

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Đăc điểm của người Mông ở Lào Cai

Lào Cai là một tỉnh biên giới miền núi nằm ở phía Tây Bắc của Việt Nam và là một tỉnh lớn có diện tích tự nhiên 6383,9 km2, dân số 656,9 nghìn người, mật độ dân số là 103 người/km2 (năm 2013) Tỉnh Lào Cai có 24 dân tộc cùng chung sống, trong đó dân tộc Mông chiếm 23,8% vào năm 2012 [1]

Tỷ lệ hộ nghèo trong toàn tỉnh năm 2014 là 17,94% [73] Huyện Si Ma Cai là một huyện biên giới phía Bắc thuộc tỉnh Lào Cai, có diện tích 234,94 km2, dân số 26.753 người, có 11 dân tộc cùng chung sống, trong đó dân tộc Mông chiếm đa số 82,1% [72], tỷ lệ hộ nghèo trong toàn huyện năm 2014 là 29% [73]

Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, người Mông ở Việt Nam có dân số 1.068.189 người, đứng hàng thứ 8 trong bảng danh sách các dân tộc ở Việt Nam, cư trú tại 62 trên tổng số 63 tỉnh, thành phố Người Mông cư trú tập trung tại các tỉnh Hà Giang, Điện Biên, Sơn La, Lào Cai, Lai Châu, Yên Bái, Cao Bằng, Nghệ An, Đắk Lắk, Đắk Nông, Bắc Kạn, Tuyên Quang, Thanh Hóa Trong đó, Lào Cai có 146.147 người chiếm 23,8% dân số toàn tỉnh và 13,7% tổng số người Mông tại Việt Nam [1]

Nguồn sống chính của đồng bào Mông là làm nương rẫy du canh, trồng ngô, trồng lúa ở một vài nơi có nương ruộng bậc thang Cây lương thực chính

là ngô và lúa nương, lúa mạch Ngoài ra, họ còn trồng lanh để lấy sợi dệt vải

và trồng cây dược liệu Chăn nuôi của gia đình người Mông có trâu, bò, ngựa, chó, gà Xưa kia, người Mông có quan niệm: “Chăn nuôi là việc của phụ nữ, kiếm thịt trong rừng là việc của đàn ông”

Trang 15

5

Cơ cấu kinh tế truyền thống của người Mông gồm ba bộ phận chính: trồng trọt, chăn nuôi và hái lượm, tiểu thủ công nghiệp và trao đổi Cơ cấu kinh tế này tạo ra thế chân kiềng trong phát triển Người Mông xác lập được thế cân bằng duy trì được sự bền vững tương đối ở môi trường thiên nhiên có nhiều bất lợi cho sản xuất lương thực Trong hoàn cảnh lịch sử đặc biệt, người Mông cũng xây dựng được các thiết chế xã hội linh hoạt, góp phần bảo tồn dân tộc Sự kết hợp trong dòng họ là đặc điểm nổi bật của người Mông Theo

họ, dòng họ có hai cấp độ khác nhau: cấp độ rộng và cấp độ hẹp

Đặc điểm kết hôn và sinh con của người Mông, mặc dù sống xen kẽ với các dân tộc khác, là ít khi kết hôn với các dân tộc khác và thường có tập quán lấy vợ, lấy chồng, sinh con sớm, sinh đẻ nhiều [19]

1.2 Một số chỉ số về hoàn cảnh gia đình

1.2.1 Một số vấn đề chung về thu nhập bình quân đầu người

Thu nhập bình quân đầu người là chỉ tiêu kinh tế - xã hội quan trọng phản ánh “mức thu nhập và cơ cấu thu nhập của các tầng lớp dân cư” Chỉ tiêu này dùng để đánh giá mức sống, phân hóa giàu nghèo, tính tỷ lệ nghèo làm cơ sở cho hoạch định chính sách nhằm nâng cao mức sống của nhân dân, xóa đói, giảm nghèo

Để xác định được chỉ tiêu này, trước hết phải tính được thu nhập của hộ dân cư Thu nhập của hộ là toàn bộ số tiền và giá trị hiện vật sau khi trừ chi phí sản xuất mà hộ và các thành viên của hộ nhận được trong 1 thời kỳ nhất định (thường là 1 năm) Thu nhập của hộ bao gồm: (1) Thu từ tiền công, tiền lương; (2) Thu từ sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản (sau khi đã trừ đi chi phí sản xuất và thuế sản xuất); (3) Thu từ sản xuất ngành nghề phi nông, lâm nghiệp và thủy sản (sau khi đã trừ đi chi phí sản xuất và thuế sản xuất); (4) Thu khác được tính vào thu nhập như do biếu, mừng, lãi tiết kiệm…

Các khoản thu không được tính vào thu nhập gồm rút tiền gửi tiết kiệm, thu nợ, thu bán tài sản, vay nợ, tạm ứng và các khoản chuyển nhượng vốn nhận được do liên doanh, liên kết trong sản xuất kinh doanh …

Trang 16

6

Thu nhập bình quân đầu người 1 tháng “Tổng cục Thống kê” công bố theo quy định, được tính bằng cách chia tổng số thu nhập của hộ dân cư cho

số nhân khẩu của hộ và chia cho 12 tháng [70]

Thu nhập bình quân đầu

Theo thống kê của Phòng Lao động thương binh xã hội huyện Si Ma Cai, thu nhập bình quân đầu người của huyện Si Ma Cai năm 2013 (938 nghìn đồng/người/tháng) Theo thống kê của chi cục thống kê tỉnh Lào Cai, thu nhập bình quân đầu người của tỉnh Lào Cai cuối năm 2013 (2075 nghìn đồng/người/tháng), thấp hơn so với thu nhập GDP bình quân đầu người của Việt Nam năm 2013 (3472 nghìn đồng/người/tháng) [71]

1.2.2 Một số vấn đề về tuổi kết hôn và sinh con của người Việt Nam

Vấn đề kết hôn, sinh con và sinh bao nhiêu con trong một gia đình hạt nhân, hiện nay vẫn đang là vấn đề rất khó làm sáng tỏ Trong những năm qua, công tác dân số - kế hoạch hoá gia đình đã có rất nhiều tác động tích cực tới việc sinh đẻ hiện nay của các tộc người Một thực tế là đa số các gia đình, nhất là các gia đình trẻ thuộc các dân tộc ít người hiện nay đều đã ý thức được lợi ích cũng như sự cần thiết của việc sinh ít con Tuy nhiên, tâm lý muốn sinh nhiều con, gia đình đông con, vẫn còn tương đối phổ biến ở một vài dân tộc ít người, nhất là các dân tộc sinh sống ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa

Trang 17

7

Trong đó, đáng kể nhất là các dân tộc Mông, Dao, Cơ Lao, Sán Dìu, Cơ Ho,

Rơ Măm, Brâu, Mảng, Kháng, Mạ Quan niệm về sinh đẻ, số con cần thiết phải có của họ chịu sự chi phối của văn hoá truyền thống, tâm lý tộc người, đời sống kinh tế - xã hội, trình độ dân trí, hoàn cảnh tự nhiên, tôn giáo tín ngưỡng Nhiều khi nó còn chịu sự tác động của các yếu tố chính trị, thời đại [19]

Năm 2013, Tổng cục thống kê [55], điều tra biến động dân số và kế hoạch hoá gia đình thời điểm 1/4/2013 cho thấy, nữ giới có xu thế kết hôn sớm hơn nam giới, mặc dù hôn nhân của nam giới phổ biến hơn nữ giới Trước tuổi 30, nữ giới kết hôn nhiều hơn nam giới Ở nhóm tuổi trẻ nhất, từ

15 - 19 tuổi, tỉ lệ nam giới đã từng kết hôn là 3,1%, còn nữ giới tỉ lệ này là 10% Như vậy, có thể nói tuổi sinh con đầu lòng từ 20 tuổi trở xuống ở nam là thấp hơn 3,1% và ở nữ thấp hơn 10% Ở tuổi 20 - 24, tỉ lệ nữ từng kết hôn là 50,0% còn của nam là 23,8% Nam và nữ ở thành thị có xu hướng kết hôn muộn hơn so với ở nông thôn Tuổi kết hôn trung bình lần đầu ở thành thị là 27,7 đối với nam và 24,1 đối với nữ Còn ở nông thôn tỉ lệ này là 25,8 đối với nam và 21,8 đối với nữ Tuổi kết hôn trung bình lần đầu của cả nước là 26,4 đối với nam và 22,5 đối với nữ Như vậy, tuổi có con lần đầu của những cặp

vợ chồng kết hôn lần đầu ở nam lớn hơn 27 tuổi và của nữ là lớn hơn 23 tuổi

Mức sinh là một chỉ tiêu phản ánh tăng trưởng dân số, đồng thời là thông tin quan trọng cho việc thực hiện kế hoạch hoá gia đình và xoá đói giảm nghèo Ngoài ra, nó còn phản ánh thu nhập bình quân đầu người và chất lượng cuộc sống của gia đình hạt nhân

Năm 2004, Bùi Thị Yết và cs [65], đánh giá kết quả thực hiện chính sách dân số ở vùng đồng bào dân tộc ít người tại Cao Bằng cho kết quả, tuổi kết hôn trung bình lần đầu của nữ là 19 và tuổi sinh con lần đầu của các dân

Trang 18

8

tộc ít người là 21, tỉ lệ người Mông muốn có con thứ 3 trở lên chiếm 59,2%

và tỉ lệ muốn có 3 con chiếm 52%

Ở Việt Nam, số con trung bình của một phụ nữ là 2,10 con/phụ nữ, tỉ lệ này ở thành thị là 1,86 con/phụ nữ còn ở nông thôn là 2,21 con/phụ nữ [55]

Tỉ lệ phụ nữ sinh con thứ 3 trở lên, ở thành thị là 9,9%, ở nông thôn là 16,4%

và toàn quốc là 14,3% Vùng có tỉ lệ sinh con thứ 3 trở lên cao nhất toàn quốc

là Tây Nguyên (23,4%) và thấp nhất là vùng Đông Nam Bộ (9,7%), tỉ lệ này ở khu vực Trung du miền núi phía Bắc là 14,3% [55]

1.3 Một số chỉ số hình thái - thể lực

1.3.1 Một số vấn đề chung về hình thái - thể lực

Thể chất của con người phản ánh mức độ phát triển tổng hợp của các

cơ quan trong cơ thể Để đánh giá được thể chất của học sinh phải dựa vào mối tương quan về các chỉ số hình thái giải phẫu sinh lí khác nhau Đây là phương pháp đánh giá thể chất bằng các chỉ số sinh học Trên thế giới đã có nhiều công trình tiêu biểu nghiên cứu về các chỉ số đánh giá thể chất [66, 67,

68, 69] Trong số các chỉ số sinh học phản ánh thể chất của học sinh thì các chỉ số chiều cao đứng, cân nặng, vòng ngực trung bình, chỉ số pignet, chỉ số BMI được coi là các chỉ số cơ bản và quan trọng nhất Do đó đã có nhiều công trình nghiên cứu về các chỉ số sinh học của người Việt Nam [10, 15, 20,

25, 31, 34, 41, 56, 60, 61, 62],

Chiều cao và cân nặng là hai chỉ số quan trọng để đánh giá thể chất con người và được xem là chỉ tiêu xét tuyển của nhiều ngành nghề Chiều cao phụ thuộc nhiều vào yếu tố di truyền hơn so với cân nặng còn cân nặng thì phụ thuộc nhiều vào yếu tố dinh dưỡng Do có tầm quan trọng đối với đánh giá phát triển thể chất của cơ thể nên chiều cao và cân nặng đã được nhiều người nghiên cứu [6, 7, 10, 15, 34, 41],

Trang 19

9

Nghiên cứu đầu tiên về sự tăng trưởng của cơ thể người được được trình bày trong luận án tiến sĩ của Christian Friedrich Jumpert ở Halle (Đức) năm 1954 Trong tác phẩm này, ông đã trình bày về các số liệu đo đạc, về cân nặng, chiều cao và các đại lượng khác của một loạt trẻ em trai, gái và thanh niên từ 1 - 25 tuổi tại các trại mồ côi Hoàng gia ở Berlin và một số nơi khác trên nước Đức Công trình này được xem là công trình nghiên cứu cắt ngang đầu tiên về tăng trưởng ở trẻ em

Một nghiên cứu dọc về chiều cao đầu tiên được thực hiện bởi Philibert Guesnneau de Monbeilard trên con trai của mình từ năm 1759 đến năm 1777 Trong 18 năm liên tục, mỗi năm được đo 2 lần, cách nhau 6 tháng Đây là một nghiên cứu tốt nhất đã được tiến hành cho đến nay và được trích dẫn trong các nghiên cứu về tăng trưởng trong suốt thế kỷ XIX (theo [56]) Ngoài ra, còn có một công trình nghiên cứu dọc khá lớn khác của Bowditch H.P (1840 - 1911) Ông là hiệu trưởng đầu tiên của Khoa Y trường Đại học Harvard (Mỹ) và là giáo sư sinh lý học đã đưa ra chuẩn tăng trưởng của trẻ em Mỹ và lần đầu tiên

sử dụng hệ thống bách phân vị trong nghiên cứu tăng trưởng mà 15 năm sau Galton F (Anh) mới sử dụng (theo [56])

Cân nặng cơ thể tính bằng kg đã được nhắc đến trong công trình nghiên cứu của Tenon từ thế kỷ XIII, sang đầu thế kỷ XIX cân nặng được coi là một chỉ số quan trọng để đánh giá thể lực (theo [20])

Vòng ngực là chỉ số được nghiên cứu ở những năm 20 của thế kỷ XIX đến cuối thế kỷ này, vòng ngực trở thành một chỉ tiêu đánh giá thể chất con người sau chiều cao và cân nặng Các tác giả nghiên cứu đều đánh giá kích thước vòng ngực trung bình phát triển cao nhất ở lớp tuổi 16 - 25 đối với nữ

và 26 - 40 đối với nam Ở các lớp tuổi sau đó kích thước vòng ngực giảm dần [10, 31, 34, 41, 42],

Từ chỉ số chiều cao đứng, cân nặng và vòng ngực có thể tính được chỉ

số pignet và BMI của cơ thể để đánh giá thể chất của con người theo thang

Trang 20

10

phân loại của Nguyễn Quang Quyền [50] Chỉ số pignet càng nhỏ thì sự phát triển thể chất của con người càng tốt Việc đánh giá chỉ số pignet có lợi cho người béo và thiệt cho người cao vì ở người cao chỉ số này thường lớn Trong đánh giá thể chất chỉ số pignet vẫn là chỉ số có nhiều ưu tiên hơn cả [50] Để việc đánh giá thể chất con người chình xác hơn cần đánh giá thêm các chỉ số khác như BMI (Body Mass Index) Đây chính là chỉ số khối cơ thể được các bác sỹ và các chuyên gia sức khỏe sử dụng để xác định tình trạng cơ thể của một người nào đó có bị béo phì, thừa cân hay gầy quá BMI được đánh giá tương tự nhau giữa trẻ em và người lớn, ở trẻ em và thanh thiếu niên thì việc đánh giá chỉ số này được đặt trong mối tương quan với tuổi và giới tính

Để nghiên cứu hình thái thể lực của con người một cách chính xác cần dựa vào nhiều chỉ số nghiên cứu, đặc biệt là các chỉ số có nhiều thông số hợp lại như chỉ số pignet, chỉ số Vervaek, chỉ số pimo Tuy nhiên, những chỉ số

có nhiều thông số hợp lại thì việc đo đạc, tính toán cồng kềnh và phức tạp Do

đó, tùy mục đích nghiên cứu mà các tác giả đã chọn các chỉ số thích hợp đối với công việc nghiên cứu của mình [50, 66, 68, 69]

Khi nghiên cứu về các chỉ số hình thái thể lực, các nhà nghiên cứu cũng thấy có sự khác nhau trong cùng một chỉ số nghiên cứu đối với trẻ em sống ở các vùng, miền khác nhau, các dân tộc khác nhau, cũng như có sự khác biệt

về tốc độ phát triển các chỉ số hình thái, thể lực của trẻ em nam và trẻ em nữ

1.3.2 Nghiên cứu về chỉ số hình thái - thể lực của trẻ em Việt Nam

Các nghiên cứu về chỉ số hình thái thể lực của trẻ em Việt Nam cũng đã được nhiều nhà khoa học nghiên cứu thể hiện trong các công trình: “Hằng số sinh học người Việt Nam” do GS Nguyễn Tấn Gi Trọng chủ biên [58], công trình của Thẩm Thị Hoàng Điệp từ năm 1980 đến 1990 [10], của Đào Huy Khuê năm 1991 [24], của Trần Thị Loan năm 2002 [34], của Nguyễn Thị Bích Ngọc năm 2013 [49], của Đỗ Hồng Cường năm 2009 [5], của Hoàng

Trang 21

11

Quý Tỉnh năm 2010 [54], của Nguyễn Yên năm 1997 [64] Các công trình nghiên cứu trên đều cho thấy, các chỉ số hình thái thể lực của trẻ em Việt Nam biến đổi theo độ tuổi, mang điểm đặc trưng cho giới, đặc trưng cho từng dân tộc và hoàn cảnh của từng vùng địa lí

Công trình nghiên cứu đầu tiên được biết đến là của Đỗ Xuân Hợp, Nguyễn Quang Quyền [17] Công trình này nghiên cứu một số kích thước cơ bản như chiều cao đứng và cân nặng trên học sinh Hà Nội lứa tuổi 7 đến 17 Kết quả cho thấy, học sinh ở lứu tuổi 11 không có sự khác biệt về tầm vóc, thể lực giữa nam và nữ Sau giai đoạn này, các chỉ số của nữ tăng nhanh về kích thước so với nam Điều này được tác giả giải thích là có liên quan với dậy thì sớm của nữ so với nam

Năm 1975, công trình “Hằng số sinh học người Việt Nam” do GS Nguyễn Tấn Gi Trọng chủ biên [58] là công trình đầu tiên nêu khá đầy đủ các thông số về thể chất người Việt Nam ở mọi lớp tuổi trong đó có lớp tuổi từ 16 -

18 tuổi Đây là một công trình nghiên cứu công phu, hoàn chỉnh về các chỉ số sinh học, sinh lý, sinh hóa người Việt Nam và được coi là mốc đánh giá trong lịch sử nghiên cứu các chỉ số sinh học của người Việt Nam [59]

Năm 1975, Nguyễn Văn Lực [38] nghiên cứu trên 831 học sinh, sinh viên tuổi 16 - 25 bao gồm các đối tượng dân tộc khác nhau như Kinh, Tày, Thái, Mường, Nùng, Sán Dìu, Dao, Sán Chỉ, Sau đó vào năm 1985, các tác giả đánh giá lại bằng cách nghiên cứu trên 762 sinh viên Thái Nguyên [39] Đây có thể xem như một dạng nghiên cứu theo dõi dọc không hoàn chỉnh

Năm 1980, 1982, 1987, Đoàn Yên và cs đã nghiên cứu một số chỉ tiêu sinh học người Việt Nam [63] Kết quả nghiên cứu cho thấy, chiều cao đứng, khối lượng cơ thể người Việt Nam nhỏ hơn người Âu, Mỹ ở mọi lứa tuổi, thời điểm tăng trưởng phát triển, tuổi dậy thì cũng chậm hơn Kết qua nghiên cứu cho thấy, chiều cao của nữ phát triển nhanh ở gai đoạn 12 - 13 tuổi, ở nam 13 - 14

Trang 22

12

tuổi và đạt tối đa vào 23 tuổi Khối lượng cơ thể của nữ cũng tăng mạnh ở tuổi

13 và kết thúc lúc 19 tuổi, của nam tăng mạnh lúc 15 tuổi và kết thúc lúc 20 tuổi Thời kỳ ổn định phát triển thể chất của nữ thường đến sớm hơn so với của nam

Từ năm 1980 đến 1990, Thẩm Thị Hoàng Điệp [10] đã nghiên cứu dọc trên 101 học sinh Hà Nội từ 6 - 17 tuổi Với 13 chỉ tiêu nhân trắc học được nghiên cứu, tác giả đã đưa ra kết luận, chiều cao của trẻ em học sinh nam phát triển nhanh, mạnh nhất lúc 13 - 15 tuổi và của học sinh nữ lúc 12 - 13 tuổi Đối với cân nặng, ở học sinh nam phát triển nhanh, mạnh nhất ở tuổi 15 và ở học sinh nữ lúc 13 tuổi Tác giả còn cho thấy có sự gia tăng về chiều cao và cân nặng của học sinh, quy luật phát triển theo giai đoạn chỉ phù hợp với chiều cao, quy luật phát triển kích thức các vòng gần giống với quy luật phát triển cân nặng

Trong thời kỳ đổi mới, cùng với sự phát triển của kinh tế xã hội, trong những năm gần đây có một số công trình nghiên cứu về thể chất của con người Việt Nam ở các địa bàn khác nhau Các kết quả nghiên cứu đã được trình bày trong các tạp chí, tài liệu chuyên ngành và trong cuốn “Kết quả bước đầu nghiên cứu một số chỉ tiêu sinh học người Việt Nam” [6]

Năm 1991, Đào Huy Khuê [24] nghiên cứu gần 50 chỉ số nhân trắc của

1478 học sinh phổ thông đã rút ra một số kết luận về sự tăng trưởng kích thước thể lực theo tuổi ở hai giới Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng các thông số này không đồng đều theo tuổi và theo giới tính Đa số các kích thước tăng trưởng bình quân của nam hàng năm cao hơn của nữ Các chỉ số nhân trắc như pignet, QVC, Hirz,… của học sinh phổ thông đều phản ánh quy luật không đồng đều

về phát triển các kích thước theo thời gian Đa số các chỉ số đều cho thấy, nam giới phát triển tốt hơn so với nữ giới ở hầu hết các lứa tuổi Tác giả cũng nhận xét về sự ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp của các điều kiện sống và văn hóa xã hội lên sự tăng trưởng và phát triển cơ thể con người ở giai đoạn đang lớn

Trang 23

13

Trần Đình Long và cs [35], đã tiến hành nghiên cứu học sinh nhóm tuổi

6 - 16 tuổi ở thị xã Hòa Bình Các tác giả nhận thấy, từ 11 - 14 tuổi trẻ em nữ phát triển vượt trội hơn trẻ em nam, còn từ 15 - 16 tuổi trẻ em nam lại phát triển hơn trẻ em nữ Điều này phù hợp quy luật phát triển của trẻ em nam và

nữ do liên quan đến tuổi dậy thì Theo các tác giả, chỉ số pignet thời kỳ này cao là do trẻ có xu hướng phát triển phần xương, còn BMI thấp là do trẻ ở nhóm tuổi này khá gầy Các tác giả trên tiếp tục nghiên cứu trên học sinh từ 6

- 18 tuổi ở các trường nội, ngoại thành Hà Nội từ năm 1994 - 1996 và rút ra kết luận từ 11 đến 13 tuổi, trẻ em nữ phát triển vượt trội so với trẻ em nam, còn từ 14 - 16 tuổi trẻ em nam lại phát triển nhanh hơn trẻ em nữ Chỉ số cân nặng (nặng hơn 2 - 7 kg), chiều cao đứng (cao hơn 3 - 5 kg) ở các trẻ trong nghiên cứu này đã tăng hơn so với các trẻ nghiên cứu trước đây (năm 1975 và 1990) Điều này chứng tỏ, có sự thay đổi tích cực về các chỉ số tầm vóc - thể lực ở trẻ em Việt Nam

Năm 1995, Nguyễn Yên và cs [64] đã nghiên cứu nhóm tuổi 1 - 5 và 18

- 55 của ba nhóm người Việt, Mường, Dao ở tỉnh Hòa Bình và nhận thấy, nhóm người Việt có tầm vóc thể lực tốt nhất, sau đó đến người Mường, cuối cùng là người Giao

Năm 1996, Phan Thị Sang [51] nghiên cứu chiều cao đứng và cân nặng của nữ sinh Huế trong độ tuổi 9 - 17 Tác giả nhận thấy, chiều cao và cân nặng của nữ sinh Huế tăng dần theo lứa tuổi Chiều cao tăng nhanh từ lứa tuổi

10 - 12, tăng mạnh ở lứa tuổi 11 - 12, mức tăng trung bình hàng năm là 5,95

cm Cân nặng tăng dần từ 9 - 11 tuổi, tăng mạnh nhất ở lứa tuổi 12, mức tăng trung bình hàng năm là 3,79 kg

Năm 1998, Tạ Thúy Lan, Đàm Phượng Sào [31] nghiên cứu sự phát triển thể lực của học sinh từ 14 - 16 tuổi ở Vân Canh, tỉnh Hà Tây đã cho thấy, chiều cao của học sinh tăng dần theo tuổi

Trang 24

14

Năm 1998, Nguyễn Thị Lan [25] đã nghiên cứu một số chỉ số về thể lực của học sinh nam, nữ từ 9 đến 18 tuổi một số dân tộc ít người thuộc hai tỉnh Vĩnh Phúc và Phú Thọ Tác giả cho thấy, chiều cao đứng và cân nặng của học sinh nữ tăng dần từ 9 - 15 tuổi và tăng nhanh nhất từ 14 - 15 tuổi, còn ở học sinh nam tăng nhanh dần từ 12 - 15 tuổi

Năm 1999, Nguyễn Quang Mai, Nguyễn Thị Lan [40] nghiên cứu trên học sinh từ từ 9 đến 18 tuổi một số dân tộc ít người thuộc hai tỉnh Vĩnh Phúc

và Phú Thọ Tác giả nhận thấy, chiều cao và cân nặng của học sinh dân tộc ít người tăng dần theo tuổi Thời điểm tăng nhanh chiều cao và cân nặng của học sinh nữ đến sớm hơn so với dẫn liệu trong cuốn “Hằng số sinh học người Việt Nam”[58]

Năm 2000, Đào Mai Luyến [37] nghiên cứu thể lực của người Êđê và người Kinh định cư ở Đắc Lắc đã cho thấy, hình thái - thể lực của Êđê tốt hơn

so với người Kinh định cư Tác giả cho rằng, đây là điểm khác biệt mang tính dân tộc và do môi trường sống có ảnh hưởng nhất định đến khả năng tăng trưởng đối với các chỉ số hình thái

Trong luận án tiến sĩ, Trần Thị Loan [34] tiến hành nghiên cứu một số chỉ số thể lực của 3023 học sinh từ 6 - 17 tuổi của học sinh Hà Nội Theo tác giả, chiều cao của học sinh nam tăng nhanh ở giai đoạn 11 - 15 tuổi, của học sinh nữ ở giai đoạn 10 - 13 tuổi Cân nặng của học sinh nam tăng nhanh lúc

14 - 16 tuổi và ở học sinh nữ lúc 11 - 14 tuổi Vòng ngực trung bình của học sinh nam tăng nhảy vọt lúc 13 - 16 tuổi, ở học sinh nữ lúc 12 - 14 tuổi Khi so sánh kết quả nghiên cứu chiều cao đứng và cân nặng của một số tác giả ở thập niên trước và với học sinh Thái Bình, Hà Tây cùng thời điểm nghiên cứu thì kết quả về các chỉ số sinh học của học sinh Hà Nội tốt hơn Điều này chứng

tỏ, điều kiện sống đã ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và phát triển các chỉ số sinh học của học sinh Cũng trong luận án này, tác giả Trần Thị Loan đã cho

Trang 25

15

thấy, chỉ số pignet bắt đầu giảm mạnh từ 13 - 17 tuổi đối với nam, nữ và giảm mạnh nhất từ 13 - 16 tuổi BMI ở học sinh nam và nữ tăng dần theo độ tuôi do mức tăng cân nặng của học sinh lớn hơn so với mức tăng chiều cao

Năm 2003, Bộ Y Tế công bố cuốn sách “Các giá trị sinh học người Việt Nam bình thường thập kỷ 90 - thế kỷ 20” [4] Các nghiên cứu về tầm vóc, thể lực được quan tâm đặc biệt với các đề mục: “Các chỉ tiêu nhân trắc người trưởng thành miền Bắc Việt Nam” (chủ nhiệm là GS Trịnh Văn Minh); nghiên cứu sự phát triển cơ thể lứa tuổi đến trường phổ thông 6 - 18 tuổi” (chủ nhiệm là PGS.TS Trần Đình Long) [36]; “Một số chỉ tiêu nhân trắc được điều tra ở Hải Phòng” (chủ nhiệm là PGS.TS Nguyễn Hữu Chỉnh);

“Đánh giá một số chỉ tiêu nhân trắc của trẻ em và người cao tuổi ở nông thôn Thái Bình” (chủ nhiệm là TS Phạm Ngọc Khái) [21]

Năm 2006, Trung tâm Tâm lí học và sinh lí lứa tuổi thuộc viện chiến lược và Chương trình giáo dục [53] đã tiến hành nghiên cứu các chỉ số cơ bản

về sinh lý và tâm lý của 12.824 học sinh từ 8 - 20 tuổi Kết quả nghiên cứu cho thấy, chiều cao đứng của học sinh nam từ 11 - 15 và học sinh nữ mọi lứa tuổi (trừ 16 và 18 tuổi) đã thoát khỏi trạng thái còi cọc Cân nặng có sự phân hóa sâu sắc ngay trong cùng một lứa tuổi, bên cạnh trẻ nhẹ cân đã xuất hiên trẻ có dấu hiệu béo phì, đặc biệt là trẻ ở thành phố lớn Khi so sánh chỉ số pignet với các kết quả nghiên cứu trước đó, thể lực của học sinh đã tăng ở một

số bậc tuổi sớm hơn, như vậy là đã có sự chuyển biến tích cực về mặt thể lực của học sinh trong giai đoạn gần đây

Năm 2008, Nguyễn Thị Bích Ngọc [48] nghiên cứu trên học sinh dân tộc Sán Dìu từ 11 - 17 tuổi cho thấy, các chỉ số sinh học của học sinh dân tộc Sán Dìu tăng dần theo tuổi và tốc độ tăng không đồng đều Các chỉ số sinh học của học sinh dân tộc Sán Dìu thấp hơn của học sinh dân tộc Kinh ở thành thị và nông thôn

Trang 26

16

Năm 2009, Đỗ Hồng Cường [5] đã nghiên cứu trên học sinh cơ sở các dân tộc tỉnh Hòa Bình cho thấy, tốc độ tăng các chỉ số sinh học của học sinh diễn ra không đều Chiều cao, cân nặng, vòng ngực trung bình của các em học sinh nam tăng nhanh nhất lúc 13- 15 tuổi và của học sinh nữ lúc 11 - 13 tuổi

Năm 2010, Hoàng Quý Tỉnh [54] đã nghiên cứu một số đặc điểm hình thái cơ thể trẻ em người dân tộc Thái, Mông, Dao ở tỉnh Yên Bái và các yếu

tố liên quan Tác giả nhận thấy, các chỉ số sinh học của trẻ em các dân tộc nghiên cứu thể hiện tính quy luật phát triển cơ thể của người Việt Nam Tuy nhiên, chế độ dinh dưỡng có ảnh hưởng tới chiều cao, cân nặng của trẻ em Điều này thể hiện ở chỗ, tỉ lệ suy dinh dưỡng, thể còm, còi và nhẹ cân còn cao

ở các dân tộc nghiên cứu

Năm 2013, Trần Long Giang và Mai Văn Hưng [13] nghiên cứu một số chỉ số hình thái của học sinh từ 6 - 17 tuổi tại tỉnh Yên Bái Các tác giả nhận thấy, các chỉ số chiều cao đứng, cân nặng, vòng ngực trung bình, BMI của học sinh dân tộc Kinh đều lớn hơn so với học sinh dân tộc Dao, Mông và có giá trị tốt hơn so với các giá trị tương ứng nêu trong quyển “Các giá trị sinh học người Việt Nam bình thường thập kỷ 90 - thế kỷ XX” và trong các nghiên cứu của nhiều tác giả trước đây

Cũng năm 2013, Nguyễn Thị Bích Ngọc [49] đã nghiên cứu hình thái - thể lực của học sinh từ 11 - 17 tuổi các dân tộc ở Vĩnh Phúc và Phú Thọ đã cho rằng, ba chỉ số chiều cao đứng, cân nặng, vòng ngực trung bình của học sinh dân tộc Kinh đều lớn hơn so với học sinh Mường và Sán Dìu

Qua nghiên cứu của một số tác giả chúng ta có thể nhận thấy, các chỉ số sinh học biến đổi theo độ tuổi, mang đặc điểm của giới tính, đặc điểm dân tộc

và có tính vùng miền Các chỉ số chiều cao đứng, cân nặng và BMI có xu hướng phát triển tăng dần theo độ tuổi, còn chỉ số pignet có xu hướng giảm dần theo độ tuổi của trẻ em học ở các trường phổ thông

Trang 27

17

1.4 Một số chỉ số chức năng của một số hệ cơ quan của học sinh

1.4.1 Một số vấn đề chung về lịch sử nghiên cứu tần số tim

Tần số tim là một trong những chỉ số quan trọng đánh giá hoạt động của hệ tuần hoàn Tần số tim là số lần tim co bóp trong một phút Tần số tim

có thể thay đổi và phụ thuộc vào trạng thái tâm lý, độ tuổi, giới tính, dân tộc Điều này đã được nghiên cứu trong các công trình [4, 8, 12, 28, 44, 46, 47,

52, 53, 57]

Trong số các công trình nghiên cứu về tần số tim, công trình đáng chú ý

là “Hằng số sinh học người Việt Nam” năm 1975 của Nguyễn Tấn Gi Trọng [58] Tài liệu cho thấy, tần số tim của nam trưởng thành trung bình là từ 70 - 80 lần/phút, của nữ trưởng thành trung bình 75 - 85 lần/phút, của vận động viên nam 66 lần/phút và của vận động viên nữ là 68 lần/phút Điều này chứng tỏ, khi con người vận động TDTT nhiều, cơ thể khỏe mạnh thì tần số tim giảm thấp

Tần số tim giảm dần theo tuổi và phụ thuộc vào trạng thái tâm, sinh lý của con người Tần số tim của trẻ em cao hơn nhiều so với của người trưởng thành Tần số tim giảm dần theo độ tuổi và tốc độ giảm tần số tim của trẻ em không đều Ở cùng một độ tuổi tần số tim của nam và của nữ khác nhau Tần

số tim của trẻ em rất dễ thay đổi khi khóc, sợ hãi, gắng sức,… [28, 29]

Công trình nghiên cứu của Nghiêm Xuân Thăng [52] đã cho thấy, có mối liên qua giữa hoạt động của tim với khí hậu của cư dân vùng Nghệ An,

Hà Tĩnh ở hai nhóm tuổi 12 - 15 và 18 - 25 Tần số tim tăng theo sự tăng của nhiệt độ môi trường và còn biến đổi theo ngày Trong một ngày, tần số tim tăng dần từ sáng đến trưa, cao nhất lúc 12 - 14 giờ, sau đó lại giảm dần và thấp nhất lúc 22 - 24 giờ Ở cùng một thời điểm, về mùa hè tần số tim cao hơn

so với mùa đông Ngoài ra, tần số tim còn bị chi phối bởi các yếu tố xã hội như lao động và trạng thái tâm lý

Trang 28

18

Ở Việt Nam, trước 12 tuổi, tần số tim của nam và nữ gần như bằng nhau Sau 12 tuổi, tần số tim có biểu hiện phân biệt theo giới tính Tần số tim giảm dần cho đến 25 tuổi, sau đó ổn định đến 69 tuổi (Đoàn Yên, 1993) [63] Qua đây, có thể thấy 12 tuổi là “mốc” phân giới về tần số tim ở người Việt Nam Từ đó cho đến già, tần số tim của nữ luôn nhanh hơn của nam (theo [47])

Đa số các nhà nghiên cứu đều cho thấy, sau tuổi 65, tần số tim chậm lại chút ít Frolkis (1982) cho rằng, sự lão hóa dẫn đến nhịp tim chậm lại Trong khi đó, thực tế vẫn có sự khác biệt tương đối mang tính chất cá thể Sự chậm lại của nhịp tim ở tuổi già trong một mức độ xác định liên quan đến giảm tính tự động của hai xoang và cả do giảm ảnh hưởng giao cảm ngoài tim [63]

Năm 2002, Nguyễn Văn Mùi và cs [46] đã nghiên cứu tần số tim và huyết áp động mạch trên 182 vận động viên một số môn thể thao ở Hải Phòng Các kết quả cho thấy, tần số tim của các vận động viên đều thấp hơn

so với thanh niên cùng lứa tuổi, nhóm vận động viên bắn súng có tần số tim thấp nhất Điều này cho thấy, việc rèn luyện thể chất có ý nghĩa rất lớn đối với chức năng co bóp của tim

Nghiên cứu của Trần Thị Loan [34] cho thấy, ở lớp tuổi học sinh phổ thông tần số tim giảm dần theo lớp tuổi, mức độ giảm nhịp tim ở các độ tuổi không đều và sự biến đổi nhịp tim của nam và của nữ khác nhau

Như vậy, qua nghiên cứu của một số tác giả về chỉ số tần số tim của học sinh lớp tuổi phổ thông, chúng ta có thể kết luận, tần số tim giảm dần theo

độ tuổi, mức độ giảm nhịp tim là không đồng đều, khác nhau giữa nam và nữ Trong cùng một độ tuổi (cùng tuổi) tần số tim của nam và nữ cũng khác nhau

Sự biến đổi của tần số tim phục thuộc vào giới tính, lứa tuổi, hoàn cảnh sống, khả năng rèn luyện thể chất và biến đổi theo mùa

Trang 29

19

1.4.2 Một số vấn đề chung về lịch sử nghiên cứu huyết áp động mạch

Huyết áp là áp lực của máu tác động lên thành mạch Huyết áp khi tim

co là huyết áp tâm thu, huyết áp khi tim giãn gọi là huyết áp tâm trương Huyết áp đặc trưng cho độ tuổi, giới tính, hoạt động sinh lý, vùng miền đã được thể hiện trong các công trình [7, 8, 58]

Huyết áp tâm trương còn được gọi là huyết áp tối thiểu, là chỉ số huyết

áp thấp nhất trong chu kỳ tim, ứng với lúc tâm trương Huyết áp tâm trương bình thường là 70 mmHg, nếu dưới 50 mmHg là huyết áp thấp, trên 90 mmHg là tăng huyết áp [8]

Trong cuốn “Hằng số sinh học người Việt Nam” [58] đã chỉ ra huyết áp động mạch của trẻ em từ 13 - 15 tuổi tăng dần và huyết áp của nam cao hơn của nữ Các tác giả nhận thấy, huyết áp thay đổi tùy theo tư thế của trẻ khi đo,

cụ thể khi đo ở tư thế đứng cao hơn khi đo ở tư thế nằm và ngồi

Theo Tổ chức Y tế Thế giới, huyết áp tâm thu bình thường của người trưởng thành bằng 90 - 100 mmHg, nếu trên 140 mmHg được coi là tăng huyết áp và dưới 90 mmHg là hạ huyết áp Huyết áp tâm trương bình thường của người trưởng thành băng 60 đến dưới 90 mmHg, từ 90 mmHg trở lên được coi là tăng huyết áp và dưới 60 mmHg là hạ huyết áp [7]

Công trình nghiên cứu của Nghiêm Xuân Thăng [56] đã cho thấy, mối liên qua giữa hoạt động của huyết áp với khí hậu của cư dân vùng Nghệ An,

Hà Tĩnh ở hai nhóm tuổi 12 - 15 và 18 - 25 Kết quả nghiên cứu cho thấy, huyết áp của bất cứ nhóm tuổi nào cũng chịu ảnh hửng của khí hậu

Trần Đỗ Trinh và cs [57] đã tiến hành nghiên cứu huyết áp của người Việt Nam và công bố trong chương trình nghiên cứu một số chỉ số sinh học người Việt Nam thập kỷ 90 Công trình được tiến hành tại 20 tỉnh thuộc 7 vùng địa lý trong cả nước từ lứa tuổi 15 trở lên Kết quả cho thấy, huyết áp tăng dần theo tuổi ở cả nam và nữ, mức tăng chậm nhất ở nhóm 15 - 19 tuổi

Trang 30

Nguyễn Văn Mùi [43] nghiên cứu chỉ số huyết áp của trẻ em từ 7 - 15 tuổi ở ngoại thành Hải Phòng đã nhận thấy, huyết áp tâm thu và huyết áp tâm trương tăng dần theo tuổi Huyết áp tâm trương của các em nam từ 7 - 13 tuổi lớn hơn so với của các em nữ

Nghiên cứu của Trần Thị Loan [34] cho thấy, ở lớp tuổi học sinh phổ thông từ 6 - 17 tuổi, huyết áp động mạch tăng dần theo tuổi Huyết áp của học sinh nam ở các lứa tuổi đều thấp hơn so với của học sinh nữ

Năm 2002, Nguyễn Văn Mùi và cs [46] đã nghiên cứu huyết áp động mạch trên 182 vận động viên một số môn thể thao ở Hải Phòng Kết quả cho thấy, huyết áp tâm thu và huyết áp tâm trương ở cả nam và nữ đều thấp hơn so với người bình thường cùng lứu tuổi và nằm trong giới hạn bình thường Như vậy, có thể thấy việc rèn luyện thể chất đều đặn có ý nghĩa rất lớn cho huyết áp

Năm 2006, Trần Trọng Thủy và cs [53], tiến hành nghiên cứu huyết áp tối đa và huyết áp tối thiểu của học sinh phổ thông từ 8 - 20 tuổi Các tác giả nhận thấy, ở nhóm tuổi từ 11 - 15 huyết áp tối đa của học sinh nam tăng từ 102,10 lên 115,44 mmHg, của học sinh nữ tăng từ 103,30 lên 112,90 mmHg, huyết áp tối thiểu của học sinh nam tăng từ 65,71 lên 73,18 mmHg, của học sinh nữ tăng từ 66,69 lên 73,21 mmHg Kết quả cho thấy, cả hai chỉ số này ở học sinh nông thôn đều cao hơn ở học sinh thành phố và thấp hơn so với chuẩn về huyết áp theo độ tuổi của Tổ chức Y tế thế giới

Trang 31

21

Như vậy, các nghiên cứu về huyết áp động mạch ở trẻ em trong độ tuổi phổ thông đều cho thấy, huyết áp tăng theo độ tuổi ở cả học sinh nam và học sinh nữ Sự biến đổi huyết áp động mạch phụ thuộc vào giới, độ tuổi, mùa vụ

và chế độ tập luyện thể dục thể thao

1.4.3 Nghiên cứu tần số tim và huyết áp động mạch của trẻ em Việt Nam

Tần số tim và huyết áp động mạch của trẻ em Việt Nam đã được nhiều tác giả nghiên cứu [5, 20, 32, 33, 45, 52, 58, 59, 63] Các nghiên cứu trên cho thấy, tần số tim và huyết áp động mạch của trẻ em Việt Nam biến đổi có tính chu kỳ Tần số tim thay đổi theo trạng thái cơ thể, thời tiết khí hậu Huyết áp động mạch tăng dần theo tuổi, mức tăng giảm không đồng đều ở các độ tuổi

Có thời điểm tăng nhanh có thời điểm tăng chậm Tần số tim giảm dần theo

độ tuổi do hoạt động của nút xoang và ảnh hưởng của các dây thần kinh ngoài tim

Một số tác giả khi nghiên cứu về tần số tim và huyết áp động mạch còn cho thấy tần số tim và huyết áp động mạch khác nhau giữa nam và nữ Huyết

áp động mạch phụ thuộc vào yếu tố di truyền và chế độ dinh dưỡng [32, 33,

58, 63]

Trong nghiên cứu mối liên quan giữa hoạt động tim mạch và huyết áp với khí hậu của cư dân vùng Nghệ An, Hà Tĩnh, của Nghiêm Xuân Thăng [52] đã cho thấy, tần số tim và huyết áp động mạch ở bất cứ độ tuổi nào cũng chịu ảnh hưởng của khí hậu Tần số tim tăng theo nhiệt độ môi trường và biến đổi theo ngày, theo mùa và mức độ bức xạ

1.4.4 Nghiên cứu kiểu hình thần kinh của trẻ em Việt Nam

Kiểu hình thần kinh của con người có thể phân loại theo sự biểu hiện và đặc tính của hành vi (theo [18]) Thực tế cho thấy, kiểu hình thần kinh là sự kết hợp qua lại giữa các yếu tố di truyền và điều kiên sống Kiểu hình thần kinh là kết quả của quá trình luyên tập, chịu ảnh hưởng của kinh nghiệm lịch sử và kinh nghiệm xã hội Người thuộc kiểu hướng ngoại là người quan tâm chủ yếu

Trang 32

là người tập trung ý nghĩ và cảm xúc vào nội tâm, ít quan tâm đến xung quanh,

ít chú ý mọi người mà thiên về phân tích những tâm trạng, diễn biến đời sống tâm lý của bản thân, thường đa cảm, trầm tính Về hành vi người hướng nội thường chậm chạp, điềm tĩnh, không vội và hấp tấp, hành động có căn cứ lý luận, kiên trì, thích sự ngăn nắp, gọn gàng, dễ mệt mỏi

Theo tác giả Tạ Thuý Lan, Trần Thị Loan [30], việc xác định kiểu hình thần kinh của một cá thể nào đó rất khó Có những trường hợp không thể xác định được hệ thần kinh của cá thể đó thuộc kiểu hình thần kinh nào Thực tế cho thấy, đặc điểm hoạt động của hệ thần kinh luôn là sự kết hợp tác động qua lại giữa các yếu tố di truyền và điều kiện sống Kiểu hình thần kinh là kết quả của quá trình luyện tập, chịu ảnh hưởng của kinh nghiệm lịch sửu và kinh nghiệm xã hội

Những công trình nghiên cứu về kiểu hình thần kinh của con người Việt Nam nói chung và của học sinh nói riêng còn chưa nhiều Gần đây mới

có một số luận văn thạc sĩ nghiên cứu về kiểu hình thần kinh Để đánh giá thực trạng học sinh vùng sâu, vùng xa, chúng tôi xác định kiểu hình thần kinh của học sinh người Mông thuộc huyện Si Ma Cai, tỉnh Lào Cai

Trang 33

23

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng là 585 học sinh người dân tộc Mông có độ tuổi từ 16 đến 18 thuộc trường THPT Số 1, Số 2 Huyện Si Ma Cai, Tỉnh Lào Cai năm học 2013

- 2014

Học sinh được nghiên cứu có sức khỏe bình thường, trạng thái sinh lý bình thường, không có các dị tật hình thể và không có bệnh mạn tính

Phân bố đối tượng nghiên cứu được trình bày trong bảng 2.1

Bảng 2.1 Phân bố các đối tượng nghiên cứu

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Các chỉ số được nghiên cứu

- Chỉ số thu nhập bình quân đầu người của gia đình học sinh

- Chỉ số tổng số con của bố mẹ học sinh

- Tuổi sinh con đầu lòng của bố mẹ học sinh

- Chỉ số hình thái thể lực gồm chiều cao đứng, cân nặng, vòng ngực trung bình, chỉ số pignet, BMI

- Chỉ số về chức năng của một số hệ cơ quan gồm tần số tim, huyết áp động mạch, kiểu hình thần kinh

Trang 34

24

2.2.2 Phương pháp nghiên cứu các chỉ số hoàn cảnh kinh tế

Thu thập số liệu về thu nhập bình quân đầu người của từng gia đình học sinh thông qua các thông tin từ học sinh, chính quyền các xã trong huyện, nhà trường và Phòng Thương binh xã hội của huyện

Điều tra về tổng số con của bố mẹ học sinh thông qua sổ hộ khẩu và phiếu điều tra

Điều tra học lực của học sinh dựa vào điểm học lực học kỳ I năm học

2013 - 2014

2.2.3 Phương pháp nghiên cứu các chỉ số hình thái - thể lực

- Chiều cao đứng được xác định ở tư thế đứng thẳng Sử dụng thước dây không co giãn có độ chính xác 0,1 cm do Trung tâm Thiết bị trường học, BGDĐT sản xuất Khi đo đối tượng đứng thẳng trên nền phẳng, không mang giầy, dép, hai gót chân áp sát nhau, mắt nhìn thẳng sao cho 4 điểm (chẩm, lưng, mông, gót) chạm vào thước đo (độ chính xác đến 0,1 cm)

- Cân nặng được xác định bằng cân điện tử SECA của Nhật Bản có vạch chia đến 0,1 kg Cân được đặt trên nền nhà bằng phẳng, cân xa bữa ăn Khi đo đối tượng chỉ mặc quần áo mỏng, không mang dầy, dép và đặc biệt phải đứng yên, không cử động ở giữa bàn cân Cân vào buổi sáng khi chưa ăn (độ chính xác đến 0,1 kg)

- Vòng ngực trung bình được xác định bằng thước dây không co giãn của Trung Quốc, có vạch chia độ chính xác đến 0,1 cm Vòng ngực đo ở tư thế đứng thẳng, khi đo vòng thước quấn quanh ngực, phía sau vuông góc với cột sống sát dưới xương bả vai, phía trước qua mũi ức, sao cho mặt phẳng đo thước dây tạo ra song song với mặt đất Vòng ngực trung bình được tính bằng trung bình cộng của vòng ngực hít vào hết sức và vòng ngực thở ra hết sức

- Chỉ số pignet được tính bằng công thức:

Pignet = Chiều cao đứng (cm) - [Vòng ngực trung bình (cm) + Cân nặng (kg)]

Trang 35

2.2.4 Phương pháp nghiên cứu các chỉ số chức năng của một số cơ quan

- Tần số tim được xác định sau khi đối tượng nghỉ ngơi ít nhất 15 phút

và dùng ống nghe tim phổi để đo Người nghe đặt ống nghe vào ngực trái của đối tượng ở vị trí giữa xương sườn số 5 và số 6 đếm nhịp tim trong vòng 1 phút, đo 3 lần rồi lấy giá trị trung bình Nếu thấy kết quả 3 lần đo khác nhau nhiều thì cho đối tượng nghỉ ngơi 15 - 20 phút rồi đo lại

- Huyết áp động mạch được xác định bằng phương pháp Korotkov Dùng huyết áp kế đồng hồ, đo huyết áp động mạch của cánh tay trái, đối tượng nằm ở

tư thế thoải mái Người đo quấn bao cao su quanh cánh tay đối tượng, chặt vừa phải và đặt trống nghe ở động mạch cánh tay ngay sát bên dưới bao cao su để nghe mạch đập và đặt đồng hồ trước mặt Văn chặt ốc ở bóp cao su và từ từ bơm cho tới khi không nghe thấy tiếng mạch đập và kim đồng hồ của huyết áp kế chỉ vào số 140 - 150 mmHg Sau đó mở nhẹ ống cho hơi ra từ từ và lắng nghe Chỉ

Trang 36

26

số trên kim đồng hồ khi nghe thấy tiếng mạch đập đầu tiên là huyết áp tâm thu

và lúc bắt đầu không nghe thấy tiếng mạch đập nữa là huyết áp tâm trương Đo 2 lần rồi lấy giá trị trung bình của 2 lần đó

- Kiểu hình thần kinh được xác định bằng test Eysenck Test Eysenk gồm 57 câu hỏi được xây dựng dựa trên 2 yêu cầu là phản ánh hành vi và đời sống cảm xúc Trong test có 24 câu hỏi hướng ngoại (Câu 1, 3, 5, 8, 10, 13, 15,

17, 20, 22, 25, 27, 29, 32, 34, 37, 39, 41, 44, 46, 49, 51, 53, 56), 24 câu hỏi hướng nội (2, 4, 7, 9, 11, 14, 16, 19, 21, 23, 26, 28, 31, 33, 35, 38, 40, 43, 45,

47, 50, 52, 55, 57) và một số câu hỏi không phân biệt kiểu loại, nghĩa là vừa có tính hướng nội vừa có tính hướng ngoại (6, 12, 18, 24, 30, 36, 42, 48, 54)

Nghiệm viên phát cho mỗi học sinh một phiếu test, yêu cầu học sinh ghi đầy đủ thông tin vào phiếu Sau đó, nghiệm viên hướng dẫn học sinh cách thực hiện trắc nghiệm, yêu cầu học sinh đánh dấu (+) nếu đồng ý với nội dung

âu hỏi và đánh dấu (-) nếu không đồng ý với nội dung câu hỏi

Phiếu trắc nghiệm của học sinh được chấm điểm và phân loại theo tiêu chuẩn của HJ Eysenck Mỗi dấu (+) cho 1 điểm, mỗi dấu (-) được 0 điểm Điểm lý thuyết có thể xảy ra như sau:

Kiểu hướng ngoại có 24 câu, điểm tối đa là 24

Kiểu hướng nội có 24 câu, điểm tối đa là 24

Kiểu trung tính có 9 câu, điểm tối đa là 9

Nếu số điểm của kiểu hướng ngoại cao hơn kiểu hướng nội thì xếp vào kiểu hướng ngoại; nếu số điểm của kiểu hướng nội cao hơn kiểu hướng ngoại thì xếp vào kiểu hướng nội; nếu số điểm hướng nội và hướng ngoại không chênh lệc quá 2 thì xếp vào kiểu trung tính

2.3 Phương pháp xử lý số liệu

- Lập bảng thống kê số liệu cho các chỉ số nghiên cứu

Kết quả nghiên cứu được xử lý bằng chương trình Microsoft Excel trên máy vi tinh:

Trang 37

Trong đó: X - Giá trị trung bình;

Xi - Giá trị thứ i của đại lượng X;

N - Số cá thể ở mẫu nghiên cứu

- Tính độ lệch chuẩn (SD) của mẫu nghiên cứu theo công thức:

n - Số cá thể ở mẫu nghiên cứu

- Hệ số tương quan được tính bằng chương trình Tools Data Analysis - Regression

Trang 38

28

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN

3.1 Hoàn cảnh gia đình học sinh

3.1.1 Thu nhập bình quân đầu người của gia đình học sinh

Thu nhập bình quân đầu người của gia đình hạt nhân là một chỉ số quan trọng đánh giá mức sống và chế độ chăm sóc, chế độ dinh dưỡng của các thành viên trong gia đình, là chỉ số có ảnh hưởng đến thể chất của con người

Kết quả nghiên cứu về thu nhập bình quân đầu người của gia đình học sinh được trình bày trong bảng 3.1 (đơn vị tính là nghìn đồng/người/tháng) và hình 3.1

Bảng 3.1 Thu nhập bình quân đầu người của gia đình học sinh

Trang 39

29

hộ nghèo (354 nghìn đồng/người/tháng) thấp hơn so với chuẩn hộ nghèo (400 nghìn đồng/người/tháng) Thu nhập bình quân đầu người của gia đình học sinh không thuộc hộ nghèo (1024 nghìn đồng/người/tháng) cao hơn so với thu nhập bình quân đầu người của huyện Si Ma Cai năm 2013 (938 nghìn đồng/người/tháng) và thấp hơn nhiều so với thu nhập bình quân đầu người của tỉnh Lào Cai cuối năm 2013 (2075 nghìn đồng/người/tháng), thấp hơn so với thu nhập GDP bình quân đầu người của Việt Nam năm 2013 (3472 nghìn đồng/người/tháng)

0 200

Hình 3.1 Biểu đồ thể hiện thu nhập bình quân đầu người

của gia đình học sinh Qua thu nhập bình quân đầu người có thể thấy, tỉ lệ hộ nghèo ở địa phương chúng tôi nghiên cứu còn rất cao (29%) Thu nhập bình quân đầu người ở địa phương còn quá thấp

3.1.2 Tuổi có con đầu lòng của bố mẹ học sinh

Chúng tôi đã nghiên cứu tuổi có con đầu lòng của nam và nữ, của các

hộ nghèo và hộ không nghèo

Trang 40

bố học sinh nam sinh con đầu lòng ở độ tuổi  20 chiếm 49,23% và của bố học sinh nữ là 32,22% Nhìn chung, tỉ lệ bố học sinh có con đầu lòng ở độ tuổi  20 là 39,66%; từ 21 - 25 chiếm 48,38%; ở độ tuổi 26 - 30 chiếm 11,96% và độ tuổi trên 30 chiếm 0% Từ kết quả trên có thể thấy, tỉ lệ kết hôn của bố học sinh rất sớm và chiếm một tỉ lệ lớn hơn 39,66% Tỉ lệ này cao hơn rất nhiều so với thống kê của Tổng cục thống kê là 3,1% [55]

Kết quả nghiên cứu độ tuổi sinh con đầu lòng của mẹ học sinh được trình bày trong bảng 3.3

Ngày đăng: 04/09/2015, 12:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 3.1. Biểu đồ thể hiện thu nhập bình quân đầu người - Luận văn thạc sĩ nghiên cứu thể chất và hoàn cảnh gia đình của học sinh nội trú người mông các trường trung học phổ thông huyện si ma cai, tỉnh lào cai
Hình 3.1. Biểu đồ thể hiện thu nhập bình quân đầu người (Trang 39)
Bảng 3.2. Độ tuổi có con đầu lòng của bố học sinh - Luận văn thạc sĩ nghiên cứu thể chất và hoàn cảnh gia đình của học sinh nội trú người mông các trường trung học phổ thông huyện si ma cai, tỉnh lào cai
Bảng 3.2. Độ tuổi có con đầu lòng của bố học sinh (Trang 40)
Hình 3.3. Biểu đồ thể hiện số con trung bình của bố mẹ học sinh - Luận văn thạc sĩ nghiên cứu thể chất và hoàn cảnh gia đình của học sinh nội trú người mông các trường trung học phổ thông huyện si ma cai, tỉnh lào cai
Hình 3.3. Biểu đồ thể hiện số con trung bình của bố mẹ học sinh (Trang 45)
Bảng 3.8. Chiều cao đứng của học sinh theo tuổi và theo giới tính - Luận văn thạc sĩ nghiên cứu thể chất và hoàn cảnh gia đình của học sinh nội trú người mông các trường trung học phổ thông huyện si ma cai, tỉnh lào cai
Bảng 3.8. Chiều cao đứng của học sinh theo tuổi và theo giới tính (Trang 48)
Hình 3.5. Biểu đồ thể hiện chiều cao đứng của học sinh  Chiều cao đứng của học sinh theo tuổi, theo giới tính và theo hoàn cảnh   kinh tế được trình bày trong bảng 3.9 và hình 3.5 - Luận văn thạc sĩ nghiên cứu thể chất và hoàn cảnh gia đình của học sinh nội trú người mông các trường trung học phổ thông huyện si ma cai, tỉnh lào cai
Hình 3.5. Biểu đồ thể hiện chiều cao đứng của học sinh Chiều cao đứng của học sinh theo tuổi, theo giới tính và theo hoàn cảnh kinh tế được trình bày trong bảng 3.9 và hình 3.5 (Trang 49)
Bảng 3.9. Chiều cao đứng của học sinh theo tuổi, giới tính - Luận văn thạc sĩ nghiên cứu thể chất và hoàn cảnh gia đình của học sinh nội trú người mông các trường trung học phổ thông huyện si ma cai, tỉnh lào cai
Bảng 3.9. Chiều cao đứng của học sinh theo tuổi, giới tính (Trang 50)
Hình 3.6. Đồ thị thể hiện cân nặng của học sinh - Luận văn thạc sĩ nghiên cứu thể chất và hoàn cảnh gia đình của học sinh nội trú người mông các trường trung học phổ thông huyện si ma cai, tỉnh lào cai
Hình 3.6. Đồ thị thể hiện cân nặng của học sinh (Trang 52)
Hình 3.8. Biểu đồ thể hiện vòng ngực trung bình của học sinh  Kết  quả  nghiên  cứu  vòng  ngực  trung  bình  của  học  sinh  theo  tuổi,  theo giới  tính  và theo  hoàn  cảnh  kinh  tế được  trình bày  trong  bảng 3.15 và hình 3.8 - Luận văn thạc sĩ nghiên cứu thể chất và hoàn cảnh gia đình của học sinh nội trú người mông các trường trung học phổ thông huyện si ma cai, tỉnh lào cai
Hình 3.8. Biểu đồ thể hiện vòng ngực trung bình của học sinh Kết quả nghiên cứu vòng ngực trung bình của học sinh theo tuổi, theo giới tính và theo hoàn cảnh kinh tế được trình bày trong bảng 3.15 và hình 3.8 (Trang 57)
Bảng 3.15. Vòng ngực trung bình của học sinh theo tuổi, theo giới tính - Luận văn thạc sĩ nghiên cứu thể chất và hoàn cảnh gia đình của học sinh nội trú người mông các trường trung học phổ thông huyện si ma cai, tỉnh lào cai
Bảng 3.15. Vòng ngực trung bình của học sinh theo tuổi, theo giới tính (Trang 58)
Hình 3.9. Đồ thị biểu diễn chỉ số pignet của học sinh - Luận văn thạc sĩ nghiên cứu thể chất và hoàn cảnh gia đình của học sinh nội trú người mông các trường trung học phổ thông huyện si ma cai, tỉnh lào cai
Hình 3.9. Đồ thị biểu diễn chỉ số pignet của học sinh (Trang 61)
Hình 3.13. Biểu đồ thể hiện tần số tim của học sinh  Qua kết quả nghiên cứu trong bảng 3.23 còn cho thấy, từ 16 -18 tuổi,  tần số tim của học sinh thuộc hộ nghèo cao hơn tần số tim của học sinh thuộc - Luận văn thạc sĩ nghiên cứu thể chất và hoàn cảnh gia đình của học sinh nội trú người mông các trường trung học phổ thông huyện si ma cai, tỉnh lào cai
Hình 3.13. Biểu đồ thể hiện tần số tim của học sinh Qua kết quả nghiên cứu trong bảng 3.23 còn cho thấy, từ 16 -18 tuổi, tần số tim của học sinh thuộc hộ nghèo cao hơn tần số tim của học sinh thuộc (Trang 70)
Hình 3.14. Biểu đồ thể hiện huyết áp tâm thu của học sinh - Luận văn thạc sĩ nghiên cứu thể chất và hoàn cảnh gia đình của học sinh nội trú người mông các trường trung học phổ thông huyện si ma cai, tỉnh lào cai
Hình 3.14. Biểu đồ thể hiện huyết áp tâm thu của học sinh (Trang 73)
Hình 3.15. Biểu đồ thể hiện huyết áp tâm trương của học sinh  Các số liệu trong bảng 3.26 cho thấy, huyết áp tâm trương của học sinh  khác  nhau giữa các nhóm  tuổi và  khác  nhau giữa học sinh  nam  và  học  sinh - Luận văn thạc sĩ nghiên cứu thể chất và hoàn cảnh gia đình của học sinh nội trú người mông các trường trung học phổ thông huyện si ma cai, tỉnh lào cai
Hình 3.15. Biểu đồ thể hiện huyết áp tâm trương của học sinh Các số liệu trong bảng 3.26 cho thấy, huyết áp tâm trương của học sinh khác nhau giữa các nhóm tuổi và khác nhau giữa học sinh nam và học sinh (Trang 75)
Hình 3.16. Biểu đồ biểu diễn phân bố kiểu hình thần kinh của học sinh  Như vậy, qua phân tích kết quả nghiên cứu đa số học sinh trong nhóm  nghiên  cứu  có  kiểu  hình  thần  kinh  thuộc  nhóm  hướng  nội - Luận văn thạc sĩ nghiên cứu thể chất và hoàn cảnh gia đình của học sinh nội trú người mông các trường trung học phổ thông huyện si ma cai, tỉnh lào cai
Hình 3.16. Biểu đồ biểu diễn phân bố kiểu hình thần kinh của học sinh Như vậy, qua phân tích kết quả nghiên cứu đa số học sinh trong nhóm nghiên cứu có kiểu hình thần kinh thuộc nhóm hướng nội (Trang 78)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w