1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quản lý hoạt động giáo dục giá trị sống, kỹ năng sống cho học sinh trường trung học phổ thông thanh oai a thành phố hà nội

123 1,3K 8

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 123
Dung lượng 905,06 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bác Hồ kính yêu của chúng đã nói “Hiền dữ phải đâu là tính sẵn phần nhiều do giáo dục mà nên” trong khi đó đội ngũ giáo viên nhà trường nhiều thầy cô còn thơ ơ với công tác giáo dục giá

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

NGUYỄN THỊ HẠNH

QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC GIÁ TRỊ SỐNG,

KỸ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ

THÔNG THANH OAI A THÀNH PHỐ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ GIÁO DỤC

HÀ NỘI - 2015

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

NGUYỄN THỊ HẠNH

QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC GIÁ TRỊ SỐNG,

KỸ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ

THÔNG THANH OAI A THÀNH PHỐ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ GIÁO DỤC Chuyên ngành: QUẢN LÝ GIÁO DỤC

Mã số: 60 14 01 14

Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS.TS Đinh Thị Kim Thoa

HÀ NỘI – 2015

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Với tình cảm chân thành và sâu sắc nhất em xin trân trọng cảm ơn các thầy cô trong Ban giám hiệu, các giáo sư, các giảng viên của Trường Đại học Giáo dục - Đại học Quốc gia Hà Nội đã trực tiếp hướng dẫn, tư vấn, tạo điều kiện giúp đỡ em trong quá trình học tập và nghiên cứu xây dựng đề tài "Quản

lý hoạt động giáo dục giá trị sống, kỹ năng sống cho học sinh trường THPT Thanh Oai A, TP Hà Nội"

Đặc biệt, em xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Đinh Thị Kim Thoa, người đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo cho em trong suốt quá trình lập đề cương, nghiên cứu viết và hoàn chỉnh luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, các bạn đồng nghiệp các em học sinh của trường THPT Thanh Oai A,Ban đại diện cha mẹ hoc sinh,chính quyền địa phương đã quan tâm tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập cũng như cung cấp thông tin, đóng góp các ý kiến quý báu để tôi hoàn thành luận văn này

Mặc dù đã có nhiều cố gắng trong việc nghiên cứu, thực nghiệm và hoàn chỉnh luận văn, song chắc rằng luận văn vẫn còn có những thiếu sót, em rất mong nhận được sự góp ý, chỉ bảo của quý thầy giáo, cô giáo, các bạn đồng nghiệp và bạn đọc để đề tài được hoàn thiện hơn, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho học sinh thân yêu của chúng ta

Xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, tháng 11 năm 2014

Tác giả

Nguyễn Thị Hạnh

Trang 4

GDNGLL Giáo dục ngoài giờ lên lớp

PGS.TS Phó giáo sư Tiến sĩ GD&ĐT Giáo dục và đào tạo

Trang 5

MỤC LỤC

Lời cảm ơn i

Danh mục chữ viết tắt ii

Mục lục iii

Danh mục bảng, biểu đồ

MỞ ĐẦU i

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC GIÁ TRỊ SỐNG VÀ KỸ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH 13 1.1 Tổng quan các công trình nghiên cứu về quản lý hoạt động giáo dục giá trị sống và kỹ năng sống 13

1.2 Một số khái niệm sử dụng để nghiên cứu đề tài 17

1.2.1 Khái niệm Quản lý 17

1.2.2 Khái niệm Quản lý giáo dục 19

1.2.3 Khái niệm Quản lý trường học 21

1.2.4 Khái niệm giá trị sống 22

1.2.5 Khái niệm Giáo dục giá trị sống 24

1.2.6 Khái niệm kỹ năng sống 25

1.2.7 Giáo dục kỹ năng sống 27

1.3 Nội dung quản lý hoạt động giáo dục giá trị sống, kỹ năng sống trong nhà trường phổ thông 29

1.3.1 Quản lý chương trình, nội dung giáo dục giá trị sống, kỹ năng sống 30

1.3.2 Quản lý việc xây dựng kế hoạch hoạt động giáo dục giá trị sống, kỹ năng sống 30

1.3.3 Quản lý công tác kiểm tra đánh giá việc thực hiện chương trình hoạt động giáo dục giá trị sống, kỹ năng sống 31

1.3.4 Quản lý các lực lượng tham gia hoạt động giáo dục giá trị sống, kỹ năng sống cho học sinh 33

1.3.5 Quản lý cơ sở vật chất và các điều kiện thực hiện hoạt động giáo dục 37

Trang 6

1.4 Các bước tiến hành quản lý hoạt động giáo dục giá trị sống và kỹ năng sống38

1.4.1 Lập kế hoạch 38

1.4.2 Tổ chức thực hiện 39

1.4.3 Chỉ đạo thực hiện hoạt động giáo dục GTS, KNS 40

1.4.4 Kiểm tra đánh giá kết quả hoạt động giáo dục GTS, KNS 41

Tiểu kết chương 1 42

Chương 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC GIÁ TRỊ SỐNG, KỸ NĂNG SỐNG Ở TRƯỜNG THPT THANH OAI A –THÀNH PHỐ HÀ NỘI 44

2.1 Lịch sử nhà trường 44

2.2 Đánh giá thực trạng hoạt động giáo dục giá trị sống, kỹ năng sống cho học sinh trường Trung học phổ thông Thanh Oai A 46

2.2.1 Nhận thức của phụ huynh học sinh và học sinh nhà trường về mối quan hệ giữa giá trị sống và kỹ năng sống 46

2.2.2 Nhận thức về tầm quan trọng của việc giáo dục giá trị sống, kỹ năng sống cho học sinh 48

2.2.3 Đánh giá thực trạng nhận thức của giáo viên nhà trường về giá trị sống49 2.2.4 Thực trạng của việc thực hiện giáo dục giá trị sống và kỹ năng sống ở trường THPT Thanh Oai A 52

2.3 Đánh giá thực trạng việc quản lý hoạt động giáo dục giá trị sống, kỹ năng sống ở trường THPT Thanh Oai A 61

2.3.1 Xây dựng kế hoạch hoạt động giáo dục giá trị sống, kỹ năng sống của BGH 61

2.3.2 Thực trạng việc quản lý chỉ đạo các lực lượng giáo dục tham gia tổ chức hoạt động giáo dục GTS, KNS 63

2.3.3 Quản lý cơ sở vật chất và tài chính cho hoạt động giáo dục giá trị sống, kỹ năng sống 70

2.3.4 Thực trạng công tác kiểm tra đánh giá hoạt động giáo dục GTS, KNS của BGH nhà trường 70

Trang 7

Chương 3: CÁC BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC GIÁ TRỊ SỐNG, KỸ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH TRƯỜNG

TRUNG HỌC PHỔ THÔNG THANH OAI A 74

3.1 Những cơ sở cho việc quản lý hoạt động giáo dục giá trị sống, kỹ năng sống cho học sinh ở trường THPT Thanh Oai A 74

3.1.1 Những yêu cầu đối với việc xây dựng các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục giá trị sống và kỹ năng sống 74

3.1.2 Năm nguyên tắc giáo dục giá trị sống, kỹ năng sống trong nhà trường phổ thông 76

3.2 Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục giá trị sống, kỹ năng sống cho học 78

sinh trường THPT Thanh Oai A 78

3.2.1 Tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của hoạt động giáo dục giá trị sống, kỹ năng sống cho các lực lượng tham gia 78

3.2.2 Xây dựng cơ chế tổ chức, điều hành và phối hợp thực hiện giữa các lực lượng tham gia hoạt động giáo dục GTS, KNS 81

3.2.3 Kế hoạch hóa hoạt động giáo dục GTS, KNS 85

3.2.4 Tập huấn năng lực sư phạm, kỹ năng tổ chức hoạt động giáo dục giá trị sống, kỹ năng sống cho đội ngũ GV 88

3.2.5 Chỉ đạo đổi mới, đa dạng hóa hình thức, phương pháp tổ chức các hoạt động giáo dục giá trị sống, kỹ năng sống 90

3.2.6 Quản lý tốt các điều kiện cơ sở vật chất và tài chính phục vụ cho hoạt động giáo dục giá trị sống, kỹ năng sống 93

3.2.7 Đẩy mạnh công tác kiểm tra, giám sát đánh giá việc thực hiện chương trình GD GTS, KNS gắn với công tác thi đua khen thưởng 95

3.3 Khảo sát tính khả thi và sự cấp thiết của các biện pháp đề xuất 98

3.3.1 Mục đích khảo sát 98

3.3.2 Đối tượng khảo sát 98

3.3.3 Nội dung khảo sát 98

3.3.4 Các biện pháp được khảo sát 99

Trang 8

3.3.5 Phương pháp khảo sát 99

3.3.6 Kết quả khảo sát 95

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 98

1 Kết luận 98

2 Khuyến nghị 99

TÀI LIỆU THAM KHẢO 101

PHỤ LỤC 103

Trang 9

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1 Nhận thức của cha mẹ học sinh và học sinh về mối

quan hệ giữa giá trị sống và kỹ năng sống……….… 42 Bảng 2.2 Nhận thức của CBQL, giáo viên, phụ huynh học sinh

và học sinh về tầm quan trọng của việc giáo dục GTS,

Bảng 2.3 Mức độ hiểu biết của GV về những giá trị sống…… 44 Bảng 2.4 Kết quả đánh giá mức độ tự tin của giáo viên về kỹ

Bảng 2.5 Kết quả đánh giá mức độ thực hiện giáo dục giá trị

sống và kỹ năng sống thông qua việc tích hợp vào các

bộ môn văn hóa của giáo viên bộ môn (n=92)……… 47 Bảng 2.6 Kết quả đánh giá mức độ thực hiện giáo dục GTS,

Bảng 2.7 Kết quả đánh giá mức độ thực hiện giáo dục giá trị

sống và kỹ năng sống của BCH Đoàn trường (n=15)…

52

Bảng 2.8 Kết quả đánh giá mức độ thực hiện giáo dục giá trị

sống và kỹ năng sống thông qua HĐGDNGLL (n=45)……… ………

55

Bảng 2.9 Kết quả đánh giá hiệu quả quản lý xây dựng kế hoạch

hoạt động giáo dục GTS, KNS của BGH nhà trường

Bảng 2.10 Kết quả đánh giá hiệu quả thực hiện công tác kiểm tra

đánh giá hoạt động giáo dục GTS, KNS của BGH, tổ trưởng, nhóm trưởng trong nhà trường (n=15)………

66

Biểu đồ 3.1 Mức độ cấp thiết và tính khả thi……… 96

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Thực hiện nghị quyết đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng đã ban hành chỉ thị số 06-CT/TW ngày 7 tháng 11 năm 2006 về tổ chức cuộc vận động học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, trong những năm qua với sự chỉ đạo thường xuyên và chặt chẽ cuả các cấp ủy Đảng, cuộc vận động đã đạt kết quả bước đầu và kết quả cuộc vận động đã khẳng định việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh là rất quan trọng và cần thiết, đối với thế hệ trẻ trong giai đoạn hiện nay Để tiếp tục đẩy mạnh hơn, cuộc vận động học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh bộ chính trị ban hành chỉ thị số 03- CT/TW ngày 14 tháng 5 năm 2011 trong đó

đã nêu rõ nhiệm vụ cần thực hiện “Coi trọng việc giáo dục đạo đức, lối sống cho thế hệ trẻ, Cấp ủy chính quyền mặt trận tổ quốc và đoàn thể các cấp có biện pháp cụ thể để tổ chức chỉ đạo thực hiện tốt việc giáo dục đạo đức, lối sống cho thế hệ trẻ theo tấm gương đạo đức Bác Hồ” [1,tr7]

Chỉ thị số 40/CT – BGDĐT ngày 22 tháng 7 năm 2008 của bộ trưởng bộ giáo

dục và đào tạo về việc triển khai phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện học sinh tích cực” trong các trường phổ thông giai đoạn 2008 -

2013 Sở giáo dục và đào tạo Hà Nội đã có kế hoạch số 463/KH- SGD&ĐT ngày 10/9/2008 để triển khai phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện học sinh tích cực” chính vì vậy trong những năm học gần đây các trường THPT luôn luôn triển khai các hoạt động để thực hiện nhiệm vụ của phong trào, trong đó chú trọng tổ chức các hoạt động nhăm giáo dục kỹ năng

sống cho học sinh THPT, một trong những nhiệm vụ trọng tâm đặt ra là “Chú trọng giáo dục đạo đức, nhân cách, giáo dục kỹ năng sống cho học sinh”

Trang 11

phải bảo đảm các nguyên tắc là góp phần củng cố, nâng cao kiến thức, kỹ năng, giáo dục nhân cách cho người học; có nội dung phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý người học, phù hợp với thuần phong mỹ tục Việt Nam; không vi phạm Quy định về dạy thêm, học thêm; người học tham gia trên tinh thần tự nguyện

Như vậy có thể nói công tác quản lý, giáo dục đạo đức cho học sinh là việc hết sức quan trọng và đã thật sự được Đảng, nhà nước và ngành giáo dục quan tâm Trong những năm gần đây sở giáo dục Thành phố Hà Nội cũng đã triển khai nhiều chương trình giáo dục, trong đó có các họat động như tập huấn cho giáo viên chủ chốt để tích hợp các hoạt động giáo dục kỹ năng vào các môn học như giáo dục công dân , giáo dục ngoài giờ lên lớp, địa lý, văn học Bên cạnh đó sở giáo dục Hà Nội đã cho ra bộ tài liệu chuyên đề về giáo dục nếp sông văn minh thanh lịch cho học sinh để định hướng và chỉ dẫn hành vi giao tiếp thanh lịch, văn minh giữa người với người trong các em học sinh

Với các hoạt động giáo dục đó có thể nói cán bộ giáo viên và các em cũng đã

có được những hiểu biết, những cách thức vận hành các kiến thức xã hội vào cuộc sống một cách tốt hơn Xong trong thực tế chúng ta lại vẫn thấy một điều: Học sinh ngày càng chịu nhiều tác động từ xã hội; Những tác động này ngày càng phức tạp của một xã hội ngày càng phát triển và hội nhập đó chính

là sự lệch chuẩn về đạo đức của một số thanh thiếu niên: Liên tục trong thời gian qua trên các mặt báo đăng những "Hung tin", kể về những đứa con nghịch tử, những học trò chưa ngoan, khiến tất cả mọi người không khỏi giật mình, đó là những điều ảnh hưởng rất xấu đến đạo đức của các em Trong nhà trường không ít các em học sinh cuả chúng ta vẫn vi phạm pháp luật, vẫn sống thiếu trách nhiệm và thiếu trách nhiệm với chính cả bản thân mình, vẫn khẳng định mình bằng những trò nghiện ngập, dối thầy cô, lừa bạn bè, gia đình Thậm trí có những em học sinh được coi là học giỏi, thông minh nhưng vẫn vi phạm pháp luật, vẫn có những hành vi côn đồ với chính bạn của mình,

Trang 12

rồi những hình ảnh học sinh xông lên tận bục giảng đánh lại thầy vv Như vậy

có thể thấy rằng các em không chỉ thiếu kiến thức, mà lại không có cả kỹ năng dẫn đến làm sai, làm liều hoặc không làm gì cả, thơ ơ với cuộc sống và cuộc sống của chính mình Điều quan trọng nhất mà các em còn thiếu đó

chính là giá trị sống là cái “ Đức tâm” là những giá trị sống cốt lõi mà mỗi

con người cần có, đó là tình yêu thương, lòng nhân ái, vị tha, trong khi đó lứa tuổi của các em là lứa tuổi đang có những biến đổi lớn về tâm sinh lý đang dần trở thành người lớn và đang hình thành nhân cách chính vì vậy việc giáo dục cho các em những giá trị sống, kỹ năng sống là vấn đề cốt lõi trong sự hình thành, phát triển nhân cách của các em để các em học tập và lao động hết mình, để các em sống đẹp, sống có ích là một nhu cầu của mỗi người thầy, người cô làm công tác giáo dục nói riêng và ngành giáo dục, nhu cầu xã hội nói chung

Bác Hồ kính yêu của chúng đã nói “Hiền dữ phải đâu là tính sẵn phần nhiều do giáo dục mà nên” trong khi đó đội ngũ giáo viên nhà trường nhiều thầy cô còn thơ ơ với công tác giáo dục giá trị, còn chưa hiểu rõ, chưa hiểu đúng về vai trò của việc giáo dục giá trị sống, kỹ năng sống đối với học sinh, chưa có các cách thức tổ chức việc giáo dục giá trị sống một cách phù hợp mang lại hiệu quả trong việc rèn luyện nhân cách, đạo đức cho các em, với tinh thần đó, xuất phát từ lý luận và thực tiễn trên, gắn với nhu cầu và đặc điểm của nhà trường, với vai trò là một cán bộ quản lý phụ trách công tác giáo dục đạo đức học sinh, tôi luôn tâm niệm làm thế nào để quản lý hoạt động giáo dục đạo đức nói chung và giáo dục giá trị sống, kỹ năng sống nói riêng một cách tốt nhất, để các em trở thành những con người: Vừa có tài lại có đức, để trở thành những con người có ích cho xã hội, xây dựng và duy trì nề

nếp của nhà trường, đó là lý do tác gỉa đến với đề tài “Quản lý hoạt động giáo dục giá trị sống và kỹ năng sống cho học sinh trường THPT Thanh Oai A thành phố Hà Nội”

Trang 13

2 Mục đích nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu quản lý hoạt động giáo dục giá trị sống, kỹ năng sống cho học sinh nhằm góp phần nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức cho các em học sinh trong nhà trường, từ đó thúc đẩy việc thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện đối với thế hệ trẻ Việt Nam

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Xác định cơ sở lý luận về GD giá trị sống, kỹ năng sống và quản lý hoạt động giáo dục giá trị sống, kỹ năng sống cho học sinh THPT;

- Đánh giá thực trạng hoạt động giáo dục giá trị sống, kỹ năng sống đối với giáo viên và học sinh trong trường THPT Thanh Oai A

- Đề xuất một số biện pháp quản lý hoạt động giáo dục giá trị sống, kỹ năng sống cho học sinh

4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

Khách thể nghiên cứu: Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức của học sinh trường THPT Thanh Oai A

Đối tượng nghiên cứu: Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục giá trị sống,

kỹ năng sống cho học sinh trường THPT Thanh oai A thành phố Hà Nội

Đối tượng khảo sát: Cán bộ quản, tổ trưởng tổ chuyên môn, Ban chấp hành

Công đoàn, BCH Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, giáo viên, học sinh, cha mẹ học sinh trường THPT Thanh Oai A

5 Vấn đề nghiên cứu

Đề tài tập trung vào các vấn đề chủ yếu là:

Nghiên cứu, phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa các tài liệu có liên quan đến vấn đề nghiên cứu nhằm xây dựng cơ sở lý luận của đề tài?

Thực trạng vấn đề quản lý hoạt động giáo dục giá trị sống, kỹ năng sống ở trường THPT Thanh Oai A

Nghiên cứu các giải pháp quản lý hoạt động giáo dục giá trị sống, kỹ năng sống cho học sinh nhà trường?

Trang 14

6 Giả thuyết khoa học

Hoạt động giáo dục giá trị sống và kỹ nằng sống ở trương THPT Thanh oai A đã có một số hiệu quả nhất định nhưng vẫn còn có nhiều bất cập, Nếu

có những biện pháp quản lý như: Nâng cao nhận thức cho cán bộ giáo viên về giá trị sống và kỹ năng sống, kế hoạch hóa hoạt động giáo dục giá trị sống, kĩ năng sống phù hợp với đặc điểm của nhà trường; tổ chức bồi dưỡng nâng cao kiến thức và kỹ năng tổ chức hoạt động giáo dục giá trị sống, kỹ năng sống cho đội ngũ giáo viên, chỉ đạo phối hợp các lực lượng đồng bộ tham gia thực hiện hoạt động, kiểm tra đánh giá sát sao và thi đua khen thưởng kịp thời, thì chất lượng và hiệu quả giáo dục giá trị sống, kĩ năng sống sẽ tốt hơn, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện trong nhà trường trong bối cảnh hiện nay

7 Giới hạn, phạm vi nghiên cứu đề tài

- Về nội dung: Xác định các biện pháp quản lý về hoạt động giáo dục giá trị sống, kỹ năng sống cho học sinh

- Về không gian: Đề tài được nghiên cứu ở trường THPT Thanh Oai A, thành phố Hà Nội

- Về đối tượng điều tra khảo sát: 150 HS của 3 lớp 10a0, 11a0, 12a4 và

36 chi hội trưởng phụ huynh học sinh các lớp, 2 đồng chí BGH, Chủ tịch công Đoàn, BCH đoàn thanh niên, Tổ trưởng tổ chuyên môn

8 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Ý nghĩa lý luận

Đề tài chỉ ra được vai trò của giá trị sống, kỹ năng sống đối với giáo viên và các em học sinh từ đó chỉ ra được các biện pháp để quản lý tổ chức hoạt động giáo dục đạo đức rèn luyện nhân cách cho các em qua hoạt động giáo dục giá trị sống và kỹ năng sống, trên cơ sỏ đó có được những đánh giá chính xác chất lượng giáo dục đạo đức của nhà trường

Ý nghĩa thực tiễn

Trang 15

Kết quả nghiên cứu có thể được áp dụng trong các trường THPT, nó là tài liệu tham khảo cho các đồng chí làm công tác quản lý giáo dục, cho giáo viên, học sinh và các đồng chí làm cán bộ đoàn

9 Phương pháp nghiên cứu

9.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết

Mục đích: Nhằm xây dựng cơ sở lý luận của đề tài

Nội dung: Đọc sách, tham khảo các công trình đã nghiên cứu, phân tích, tổng

hợp, hệ thống hóa các tài liệu có liên quan đến vấn đề nghiên cứu

9.2 Phương pháp điều tra

Mục đích điều tra: Thu thập các số liệu nhằm nhận định khách quan

thực trạng hoạt động giáo dục giá trị sống, kỹ năng sống và quản lý hoạt động giáo dục giá trị sống, kỹ năng sống ở trường THPT Thanh Oai A

Nội dung điều tra: Xây dựng hệ thống câu hỏi, điều tra, phỏng vấn để tìm

hiểu thực trạng nhận thức, tầm quan trọng của việc giáo dục giá trị sống, kỹ năng sống, của cán bộ quản lý, giáo viên, cha mẹ học sinh và học sinh nhà trường

Điều tra đánh giá thực trạng việc triển khai hoạt động giáo dục GTS, KNS và thực trạng quản lý hoạt động giáo dục GTS, KNS của trường THPT , Thanh Oai A

Tổ chức điều tra: Thông qua cuộc họp hội đồng giáo dục nhà trường, họp

liên tịch, họp giáo viên chủ nhiệm, họp giao ban công tác Đoàn, hội nghị ban thường trực phụ huynh, thông qua giờ sinh hoạt lớp, phát và thu phiếu điều tra,

xử lý số liệu điều tra được

9.3 Phương pháp phỏng vấn

Mục đích: Thu thập thông tin dựa trên cơ sở quá trình giao tiếp, hỏi- trả

lời về quản lý hoạt động giáo dục giá trị sống, kỹ năng sống trong nhà trường

Nội dung: Chuẩn bị hệ thống câu hỏi, phỏng vấn khéo léo, tế nhị theo những

nội dung chủ định của tác giả

Tổ chức: Chọn địa điểm, hẹn thời gian, gặp gỡ riêng các cá nhân để phỏng

Trang 16

vấn thu thập thông tin, nhờ người ghi chép nội dung phỏng vấn

9.4 Phương pháp xử lý thông tin

Mục đích: Xử lý các dữ liệu để có kết quả điều tra

Nội dung: chuẩn bị máy tính, các biểu bảng ,số liệu

Phương pháp:Phương pháp thống kê toán học để xử lý các kết quả điều tra được Xử lý phần mềm tin học , phân tích thống kê

10 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn được trình bày theo 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về việc quản lý hoạt động giáo dục giá trị sống, kỹ năng sống cho học sinh

Chương 2: Thực trạng công tác quản lý hoạt động giáo dục giá trị sống, kỹ năng sống ở trường THPT Thanh Oai A

Chương 3: Các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục giá trị sống, kỹ năng sống cho học sinh trường THPT Thanh Oai A

Trang 17

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC

GIÁ TRỊ SỐNG VÀ KỸ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH

1.1 Tổng quan các công trình nghiên cứu về quản lý hoạt động giáo dục giá trị sống và kỹ năng sống

Trong thời buổi hiện nay khi mà xã hội ngày một phát triển theo xu thế hội nhập và toàn cầu hóa, khi mà xã hội hiện đại lại đang tồn tại với hai mặt tốt và xấu; cái xấu len lỏi khắp mọi nơi, thậm trí còn được nguỵ trang bỏi những cám rỗ của nhiều cảm giác mới lạ, trò chơi nguy hiểm, bề ngoài hoà nhoáng, lối sống phóng khoáng buông thả, sự xuống cấp về đạo đức của một

bộ phận không nhỏ thanh thiếu niên vv thì việc tổ chức giáo dục giá trị sống, kỹ năng sống đã trở thành một trong những vấn đề hết sức quan trọng bởi giáo dục giá trị sống và kỹ năng sống là việc tổ chức giáo dục những giá trị cốt lõi cuả đạo đức con người, giáo dục các chuẩn mực về đạo đức, tạo ra những cơ sở bền vững cho việc phát triển nhân cách của con người Tiến hành giáo dục giá trị sống và kỹ năng sồng là tiếp cận giáo dục quốc tế là giáo dục con người vì cộng đồng vì ngôi nhà chung của thế giới, khi có giá trị sống và

kỹ năng sống thì con người sẽ rễ dàng hơn trong việc ứng phó, đối đầu với những khó khăn, thách thức và rủi ro trong cuộc sống, chính vì vậy chương trình giáo dục các giá trị sống được triển khai từ một dự án quốc tế bắt đầu từ năm 1995 do trường Đại học Brahmakumarit thực hiện để kỷ niệm 50 năm ngày thành lập Liên hợp quốc(LHQ), nhằm kêu gọi sự chia sẻ cho một thế giới tốt đẹp hơn, dự án này tập trung vào 12 giá trị sống mang tính phổ quát, chủ đề được lấy trong lời mở đầu của hiến chương LHQ, khẳng định lòng tin vào quyền

cơ bản của con người, về phẩm chất, nhân cách giá trị của mỗi người

Vào những năm đầu của thế kỷ XXI, với sự hợp tác của các nhà giáo dục trên thế giới, với sự hỗ trợ của UNESCO và tài trợ của Uỷ ban quốc tế và UNICEF, Tây Ban Nha đã cho ra đời cuốn sách "Những giá trị sống: Một

Trang 18

chương trình giáo dục" Chương trình này đưa ra những hoạt động giá trị khác nhau dựa trên kinh nghiệm và những phương pháp thực hành đối với các giáo viên và các huấn luyện viên, đối với những trẻ em và những thanh niên muốn tìm hiểu và phát triển 12 giá trị xã hội và cá nhân cơ bản, đó là: Hợp tác, Tự

do, Hạnh phúc, Trung thực, Khiêm tốn, Tình yêu, Hoà Bình, Tôn trọng, Trách nhiệm, Giản dị, Khoan dung và Đoàn kết, nó là cơ sở bền vững cho việc giải quyết khủng hoảng trong phát triển nhân cách của học sinh

Tại Diễn đàn Giáo dục Thế giới Dakar, tháng 5/2000 mô hình trường học thân thiện với người học được phản ánh trong quan điểm toàn diện về chất lượng được nêu trong Khuôn khổ Hành động Dakar UNESCO và UNICEF đã

nhận thấy mô hình "Trường học thân thiện" với các yếu tố của nó là một giải

pháp nâng cao chất lượng và đảm bảo công bằng giáo dục Vì vậy mô hình này

đã được phổ biến, áp dụng ở 40 quốc gia trên thế giới Trong mô hình trường học thân thiện, tiêu chí giáo dục KNS vừa như là một biểu hiện của chất lượng giáo dục, vừa để giúp HS sống an toàn Kế hoạch hành động Dakar về giáo dục cho mọi người mỗi quốc gia cũng nhấn mạnh; cần đảm bảo cho người học được tiếp cận chương trình giáo dục KNS phù hợp và kỹ năng sống của người học là một tiêu chí của chất lượng giáo dục Cho nên một trong những mục tiêu của chương trình, đã coi kỹ năng sống là một khía cạnh của chất lượng giáo dục Đánh giá chất lượng giáo dục cần tính đến những tiêu chí đánh giá kỹ năng sống của người học, như vậy tiến hành giáo dục KNS chính

là để nâng cao chất lượng giáo dục

Như chúng ta biết bước vào thế kỷ 21 với xu thế toàn cầu hoá thì vấn

đề giá trị là một vấn đề hết sức quan trọng, và trong thực tế nó bị khủng hoảng ở một số nước, chính vì vậy trên thế giới nhiều ngành khoa học trong đó

có Tâm lý học, Giáo dục học đã chú ý nghiên cứu việc giáo dục giá trị sống cho thế hệ trẻ Thực tiễn giáo dục cuối thế kỷ XX - đầu thế kỷ XXI cho thấy chỉ thông qua con đường giáo dục, giá trị mới có thể tạo nên cơ sở bền vững cho việc giải quyết khủng hoảng trong phát triển nhân cách của học sinh.Tại nhiều

Trang 19

nước phương tây, từ rất sớm thanh thiếu niên đã được học những kỹ năng sống về những tình huống sẽ xảy ra trong cuộc sống, cách đối đầu với những khó khăn, đối đầu với sự hà khắc của thiên nhiên, cách tránh những xung đột bạo lực giữ người với người

Ở Việt Nam vấn đề giáo dục giá trị sống, kỹ năng sống cho thế hệ trẻ đã thu hút nhiều ngành khoa học quan tâm nghiên cứu, trong đó khoa học giáo dục

có vai trò, trọng trách lớn cả về nghiên cứu lý luận lẫn triển khai thực tiễn giáo dục giá trị sống, kỹ năng sống cho học sinh, sinh viên phù hợp với thực tiễn giáo dục nước nhà

Với nhiều năm nghiên cứu về giáo dục, PGS.TS Hà Nhật Thăng đã cho xuất bản cuốn sách: "Giáo dục hệ thống giá trị đạo đức nhân văn" năm 1998 và

đã tái bản nhiều lần Trong đó, trang bị cho học sinh sinh viên nắm vững hệ thống giá trị cốt lõi, đó là cơ sở cơ bản của nhân cách, rèn luyện để thế hệ trẻ

có những hành vi tương ứng với hệ thống giá trị đạo đức nhân văn cốt lõi, phù hợp với yêu cầu của xã hội, của thời đại Những kết quả nghiên cứu trên đã được ứng dụng vào việc xây dựng chương trình và thể hiện trong sách giáo khoa ở Tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông của môn Giáo dục công dân, triển khai từ năm 2000 trên phạm vi cả nước

Tác giả Nguyễn Thanh Bình và cộng sự đã triển khai nghiên cứu tổng quan về quá trình nhận thức về kỹ năng sống và đề xuất yêu cầu tiếp cận kỹ năng sống trong giáo dục và GD KNS ở nhà trường phổ thông, đồng thời tìm hiểu thực trạng GD KNS cho người học từ trẻ mầm non đến người lớn thông qua giáo dục chính quy và giáo dục thường xuyên ở Việt Nam Trên cơ sở đó xác định thách thức và định hướng trong tương lai để đẩy mạnh GD KNS trên

cơ sở thực tiễn ở Việt Nam và đối chiếu với mục tiêu 3 và mục tiêu 6 của Chương trình hành động Dakar (Trong khuôn khổ hợp tác giữa Viện chiến lược và chương trình giáo dục với UNESCO tại Hà Nội)

Nội dung GD KNS cũng được các nhà trường thực sự quan tâm từ khi

có chỉ thị 40/2008 CT-BGD&ĐT phát động các nhà trường thực hiện phong

Trang 20

trào thi đua "Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực" trong đó nội dung thứ ba và thứ tư của phong trào chính là tổ chức giáo dục kỹ năng sống cho học sinh, sinh viên Mục đích rèn luyện cho học sinh, sinh viên, kỹ năng ứng xử thân thiện trong mọi tình huống; thói quen và kỹ năng làm việc theo nhóm, kỹ năng hoạt động xã hội; Giáo dục cho học sinh thói quen rèn luyện sức khỏe, ý thức tự bảo vệ bản thân, rèn luyện kỹ năng ứng xử văn hóa, ý thức chung sống thân thiện, giải quyết hợp lý các tình huống mâu thuẫn, xung đột; có thái độ lên án và kiên quyết bài trừ mọi hành vi bạo lực Như vậy vấn

đề giáo dục kỹ năng sống cho học sinh, sinh viên không còn là vấn đề mới mẻ trong các nhà trường mà là một nhiệm vụ quan trọng được các nhà trường xây dựng trong kế hoạch từng năm học, Nhưng chúng ta chưa quan tâm đúng mức đến giáo dục giá trị sống cho học sinh, chưa giáo dục đầy đủ phẩm chất nhân cách, mới chỉ chú ý đến giáo dục hành vi, rèn luyện biểu hiện bên ngoài, do đó học sinh chưa hiểu bản chất của các kỹ năng sống cần thực hiện, dẫn đến kết quả giáo dục chưa cao, số học sinh, sinh viên có hành vi lệch chuẩn trong các nhà trường ngày càng ra tăng trong thời gian gần đây, gây sự lo lắng bức xúc trong dư luận, sự trăn trở của ngành giáo dục, vì thế Khoa học giáo dục ngày nay đang hướng vào nghiên cứu giáo dục giá trị sống gắn liền với kỹ năng sống, nhằm đem lại hiệu quả thiết thực trong thực tiễn giáo dục học sinh

Tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc và Đinh Thị Kim Thoa, Trần văn Tính, Vũ Phương Liên trong cuốn sách “Giáo dục giá trị sống và kỹ năng sống cho học sinh trung học phổ thông” đã chỉ ra quan hệ liên thuộc giữa giáo dục GTS và KNS, trong đó giáo dục GTS luôn là nền tảng, KNS là công cụ và phương tiện để tiếp nhận và thể hiện giá trị sống Đây là những tiền đề đưa công tác giáo dục giá trị sống, kỹ năng sống cho học sinh vào các nhà trường mạnh mẽ, mang lại hiệu quả tích cực, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh Từ đó đối với các sở giáo dục và đào tạo đặc biệt là sở giáo

Trang 21

dục và đào tạo Hà Nội trong những năm gần đây cũng đã quan tâm đến việc chỉ đạo hoạt động giáo dục giá trị sống cho học sinh ở các cấp, hoạt động giáo dục GTS và KNS đã trở thành nhiệm vụ trọng tậm của mỗi nhà trường trong năm học, để hỗ trợ thực hiện tốt hơn công tác giáo dục giá trị sống và

kỹ năng sống, sở giáo dục đào tạo Hà Nội đã cho ra đời cuốn “Giáo dục nếp sống văn minh thanh lịch người Hà Nội”, “Văn hoá Thăng Long Hà Nội” Hiện nay đã có rất nhiều nhà nghiên cứu trong nước nghiên cứu đề tài giáo dục giá trị sống và kỹ năng sống, các đề tài chủ yếu phân tích làm rõ thực trạng trước tính cấp bách của vấn đề giáo dục giá trị sống, hoặc kỹ năng sống, hoặc một số đề tài đã nghiên cứu tương đối đầy đủ các nhiệm vụ nghiên cứu lý luận, đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp quản lý hoạt động giáo dục giá trị sống hoặc kỹ năng sống, nhưng ít có đề tài nghiên cứu quản lý hoạt động giáo dục giá trị sống kết hợp với giáo dục kỹ năng sống trong một nhà trường THPT ở vùng nông thôn, đặc biệt các đề tài nghiên cứu nhiều về quản lý hoạt động giáo dục giá trị sống và kỹ năng sống những ít đề cập tới vấn đề quản lý hoạt động giáo dục giá trị sống và kỹ năng sống sao cho phù hợp với một nhà trường cụ thể, đặc biệt là việc hướng dẫn cụ thể về việc giáo dục giá trị sống và

kỹ năng sống cho giáo viên, để giáo viên có thể làm tốt việc này đối với học sinh

trong nhà trường Chính vì vậy tác giả chọn đề tài: "Quản lý hoạt động giáo dục giá trị sống và kỹ năng sống cho học sinh trường Trung học Phổ Thông Thanh Oai A thành phố Hà Nội" với mong muốn đây là sự kế thừa cần thiết

các nghiên cứu đi trước, cùng góp phần thêm công sức và sự vận dụng hệ thống lý luận quản lý giáo dục nhằm xây dựng các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục GTS, KNS một cách phù hợp với tình hình của nhà trường, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho học sinh trường THPT Thanh Oai

A cũng như các trường THPT khác trên địa bàn huyện Thanh Oai hiện nay 1.2 Một số khái niệm sử dụng để nghiên cứu đề tài

1.2.1 Khái niệm Quản lý

Quản lý là gì? Đây là cầu hỏi mà bất kỳ người làm công tác quản lý nào

Trang 22

cũng muốn biết và mong muốn lý giải, vậy suy cho cùng quản lý là gì?

Khái niệm "quản lý" được hình thành từ rất lâu và cùng với sự phát

triển của tri thức nhân loại cũng như nhu cầu của thực tiễn nó được xây dựng

và phát triển ngày càng hoàn thiện hơn Mọi hoạt động của xã hội đều cần tới quản lý Quản lý vừa là khoa học, vừa là nghệ thuật trong việc điều khiển một hệ thống xã hội cả ở tầm vĩ mô và vi mô

Cùng với sự phát triển của phương thức xã hội hoá sản xuất và sự mở rộng trong nhận thức của con người thì sự khác biệt về nhận thức và lý giải về khái niệm quản lý càng trở nên rõ rệt Xuất phát từ những góc độ khác nhau, rất nhiều học giả trong và ngoài nước đã đưa ra giải thích không giống nhau về quản lý, các trường phái quản lý học đã đưa ra những định nghĩa về quản lý như sau: Theo F.W Taylor (1856-1915): Là một trong những người đầu tiên khai sinh ra khoa học quản lý và là “ông tổ” của trường phái “quản lý theo khoa học” tiếp cận một cách chínhận quản lý dưới góc độ kinh tế- kỹ thuật đã cho rằng: Quản lý là hoàn thành công việc của mình thông qua người khác và biết đươc một chính xác họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất

Theo Henrry Fayol (1841 -1925): là người đầu tiên tiếp cận quản lý theo quy trình và là người có tầm ảnh hưởng to lớn trong lịch sủ tư tưởng quản lý từ thời kỳ cận hiện đại tới nay, ông quan niệm rằng: Quản lý là một tiến trình bao gồm các khâu: Lập kế hoạch,tổ chức, phân công điều khiển và kiểm soát các nỗ lực của cá nhân, bộ phận và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực vật chất khác của

tổ chức để đạt được mục tiêu đề ra

Theo J.H Donnelly, James Gibson và J.M Ivancevich trong khi nhấn mạnh tới hiệu quả sự phối hợp hoạt động của nhiều người đã cho rằng: Quản lý là một quá trình do một người hay nhiều người thực hiện nhằm phối hợp các hoạt động của những người khác để đạt được kết quả mà một người hành động riêng rẽ không thể nào đạt được

Tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc cho rằng: Quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách

Trang 23

thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức

Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia thì: ”Quản lý trong kinh doanh hay quản lý trong các tổ chức nhân sự nói chung là hành động đưa các cá nhân trong tổ chức làm việc cùng nhau để thực hiện, hoàn thành mục tiêu chung”

Có thể kể ra nhiều ý kiến khác nhau về định nghĩa quản lý, trên đây chỉ

là một vài ý kiến mang tính đại diện trên cơ sở phân tích tổng hợp những quan điểm không giống nhau Tóm lại, những quan điểm đó tuy rất rõ ràng, đúng đắn nhưng mỗi quan điểm lại phản ánh một khía cạch khác nhau của quản lý Nhưng nhìn chung thì chúng ta đều thấy; Quản lý thực chất cũng là một hành

vi, đã là hành vi thì phải có người gây ra và người chịu tác động Tiếp theo cần

có mục đích của hành vi, đặt ra câu hỏi tại sao làm như vậy? Do đó, để hình thành nên hoạt động quản lý trước tiên cần có chủ thể quản lý: nói rõ ai là người quản lý? Sau đó cần xác định đối tượng quản lý: Quản lý cái gì? Cuối cùng cần xác định mục đích quản lý: quản lý vì cái gì? Có được những yếu tố

đó, là có được điều kiện cơ bản để hình thành nên hoạt động quản lý Đồng thời cần chú ý rằng, bất cứ hoạt động quản lý nào cũng không phải là hoạt động độc lập, nó cần được tiến hành trong môi trường, điều kiện nhất định nào

đó, bên cạch đó trong định nghĩa về quản lý còn đề cập đến bản chất của quản

lý là theo đuổi năng suất và hiệu quả Như vậy có thể thấy quản lý là một hoạt động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý lên đối tượng và khách thể quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực, các thời cơ của tổ chức

để đạt mục tiêu đặt ra trong điều kiện môi trường luôn biến động

1.2.2 Khái niệm Quản lý giáo dục

QLGD là một khoa học quản lý chuyên ngành được nghiên cứu trên nền tảng của khoa học nói chung nhưng đồng thời cũng là một bộ phận của khoa

học giáo dục Giống như khái niệm "Quản lý" đã trình bày ở trên, khái niệm

"Quản lý giáo dục" cũng có nhiều cách diễn đạt khác nhau, song trong mỗi cách định nghĩa đều đề cập tới các yếu tố cơ bản: chủ thể quản lý giáo dục, khách thể

Trang 24

quản lý giáo dục, mục tiêu quản lý giáo dục, ngoài ra còn phải kể tới cách thức (phương pháp quản lý giáo dục) và công cụ (hệ thống văn bản quy phạm pháp

luật) quản lý giáo dục

Khái niệm “QLGD” được hiểu theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp trên cơ sở nghiên cứu phạm vi hoạt động của từ “Giáo dục“ Quản lý giáo dục được hiểu theo nghĩa rộng nhất khi giáo dục được coi là hoạt động diễn ra ở ngoài xã hội Còn khi được diễn ra trong ngành giáo dục từ Bộ giáo dục và đào tạo đến các

cơ sở giáo dục thì QLGD được hiểu theo nghĩa hẹp là quản lý một hệ thống giáo dục hay quản lý nhà trường.[25,tr27] Để hiểu một cách chính xác hơn về QLGD ta xem xét những quan điểm giáo dục sau :

Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý giáo dục là hệ thống tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp với quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho hệ thống vận hành theo đường lối, nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện các tính chất của nhà trường XHCN Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học – giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ thống giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến đến trạng thái mới về chất

Theo tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc:

"Quản lý giáo dục là quá trình tác động có kế hoạch, có tổ chức của các cơ quan QLGD các cấp tới các thành tố của quá trình dạy học - Giáo dục nhằm làm cho hệ giáo dục vận hành có hiệu quả và đạt tới mục tiêu giáo dục nhà nước

đề ra." [20,tr16 ]

Theo tác giả Phạm Viết Vượng: “Mục đích cuối cùng của quản lý giáo dục là tổ chức giáo dục có hiệu quả để đào tạo ra lớp thanh niên thông minh, sáng tạo, năng động, tự chủ, biết sống và biết phấn đấu vì hạnh phúc của bản thân và xã hội”

Quản lý giáo dục được thực hiện ở hai cấp độ: Vĩ mô và Vi mô Đối với vĩ mô “Quản lý giáo dục được hiểu là những tác động tự giác (có ý thức, mục tiêu, kế hoạch, hệ thống hợp quy luật) của chủ thể quản lý đến toàn bộ hệ thống (từ Trung ương, địa phương đến các cơ sở giáo dục là nhà trường)

Trang 25

nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu phát triển giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ mà xã hội đặt ra cho ngành giáo dục”[25,tr10] Đối với cấp vi mô: “Quản lý giáo dục được hiểu là hệ thống những tác động tự giác (có ý thức, mục tiêu, kế hoạch, hệ thống và quy luật) của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên, công nhân viên, tập thể HS, CMHS và các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu giáo dục của nhà trường” [25, tr.11]

Quản lý giáo dục là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm đưa hoạt động sư phạm của hệ thống giáo dục đạt kết quả mong muốn một cách hiệu quả nhất QLGD theo nghĩa tổng quát là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển xã hội

Khái quát lại, dù QLGD được hiểu theo cách tiếp cận nào thì nội hàm của khái niệm QLGD cũng chứa đựng những nhân tố đặc trưng bản chất sau: Phải có chủ thể QLGD, ở tầm vĩ mô là quản lý của nhà nước mà cơ quan trực tiếp quản lý là Bộ giáo dục và đào tạo, sở giáo dục và đào tạo, Phòng giáo dục và đào tạo Ở tầm vi mô là quản lý của Hiệu trưởng nhà trường Nhà trường là đối tượng cuối cùng, cơ bản nhất của QLGD, trong đó đội ngũ giáo viên và học sinh là đối tượng quản lý quan trọng nhất, nhằm thực hiện mục tiêu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài

1.2.3 Khái niệm Quản lý trường học

Quản lý trường học là hoạt động của các cơ quan quản lý nhằm tập hợp và tổ chức các hoạt động của giáo viên, học sinh và các lực lượng giáo dục khác, cũng như huy động tối đa các nguồn lực giáo dục để nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo trong nhà trường[ 25, tr.205]

Quản lý trường học về bản chất là huy động các nguồn lực để tổ chức tốt các hoạt động giáo dục trong nhà trường theo mục tiêu giáo dục[25,tr.369]

Có nhiều cấp quản lý trường học: cấp cao nhất là Bộ GD - ĐT, cơ quan quản lý hệ thống giáo dục quốc dân bằng các biện pháp vĩ mô Có hai cấp trung

Trang 26

gian quản lý trường học là Sở GD - ĐT ở tỉnh, thành phố và các Phòng Giáo dục ở các quận, huyện, nơi chỉ đạo và giám sát nhà trường thực hiện các chương trình giáo dục Cơ quan quản lý trực tiếp các hoạt động giáo dục trong nhà trường là ban giám hiệu nhà trường

Mục đích của quản lý nhà trường là đưa nhà trường từ trạng thái đang

có, tiến lên một trạng thái phát triển mới, bằng phương thức xây dựng và phát triển mạnh mẽ các nguồn lực đó vào phục vụ cho việc tăng cường chất lượng giáo dục

Công tác quản lý trong nhà trường bao gồm quản lý các hoạt động diễn ra trong nhà trường và sự tác động qua lại giữa nhà trường với các hoạt động ngoài

xã hội, quản lý nhà trường bao gồm các nội dung sau: Quản lý chương trình dạy, quản lý chương trình học và quản lý khâu hỗ trợ chương trình dạy, chương trình học như: Quản lý cơ sở vật chất và thiết bị GD, quản lý việc bồi dưỡng GV, quản lý môi trường GD, quản lý việc kiểm tra đánh giá kết quả học tập - rèn luyện của học sinh

1.2.4 Khái niệm giá trị sống

Theo từ điển Tiếng Việt: Giá trị là cái dựa vào đó để xem xét một con người đáng quý đến mức nào về mặt đạo đức, trí tuệ, nghề nghiệp, tài năng Giá trị cũng là những quan niệm và thực tại về cái đẹp, sự thật, điều thiện của một xã hội

- Giá trị cuộc sống (hay giá trị sống) là những điều chúng ta cho là quý giá, là quan trọng, là có ý nghĩa đối với cuộc sống của mỗi người Giá trị sống trở thành động lực để người ta nỗ lực phấn đấu để có được nó

- Giá trị sống mang tính cá nhân, không phải giá trị sống của mọi người đều giống nhau Có người cho rằng "tiền bạc là trên hết" Có người cho rằng tình yêu thương mới là điều quý giá nhất trên đời Có người coi trọng lòng trung thực, sự bình yên Xong khi nói đến Giá trị sống là chủ yếu nói đến những giá trị tinh thần không đề cập đến giá trị vật chất, tiền bạc, giàu sang, sức khoẻ ) Hiện nay ở nước ta cũng như thế giới người ta đã tổng kết những giá

Trang 27

trị sống đích thực, trở thành những giá trị chung cho nhiều người và toàn xã

hội thành 12 giá trị sống đó là : Giản dị, hòa bình, hạnh phúc, hợp tác, khiêm tốn, khoan dung, tự do, yêu thương, trách nhiệm, trung thục, đoàn kết, tôn trọng 12 giá trị sống đó chủ yếu hướng vào các bình diện như: Những

giá trị phẩm chất nhân cách, đạo đức bản thân(khoan dung, khiêm tốn, giản dị, trung thực, yêu thương, hạnh phúc) Những giá trị quan hệ liên nhân cách, quan hệ với nhóm, với cộng đồng (tôn trọng, hợp tác, đoàn kết, trách nhiệm).Đồng thời cũng quan tâm đến một số giá trị chung( Hoà bình, tự do )

Vậy 12 giá trị sống được hiểu một cách cơ bản:

- Hòa bình: Hòa bình không chỉ là sự vắng bóng của chiến tranh mà còn

là cảm thấy bình yên trong lòng, bình tĩnh và thư thái của trí óc Tôn trọng: Trước hết là sự tự trọng – là biết giá trị của mình, sau đó là lắng nghe người khác, là biết người khác có giá trị như tôi

- Hợp tác: Là khi mọi người biết làm việc chung với nhau, cùng hướng

về một mục tiêu chung Hợp tác phải được sự chỉ đạo của nguyên tắc

về sự tôn trọng lẫn nhau, quan tâm và sẻ chia với nhau

- Trách nhiệm: Là tạo sự tin cậy và tín nhiệm với mọi người xung quang, góp phần mình vào công việc chung, thực hiện nhiệm vụ bởi lòng trung thực

- Trung thực: Là nói sự thật, không có mâu thuẫn hoặc thiếu nhất quán trong suy nghĩ, lời nói và hành động

- Giản dị: Là sống một cách tự nhiên, không giả tạo, là chấp nhận hiện tại và không làm mọi thứ trở lên phức tạp; là biết trân tọng những điều nhỏ bé, bình thường trong cuộc sống

- Khiêm tốn: Là nhận biết khả năng, ưu thế của mình nhưng không khoác lác, khoe khoang; là biết lắng nghe và chấp nhân quan điểm của người khác

- Khoan dung: Là tôn trọng qua sự hiểu biết lẫn nhau; là cởi mở và nhận

ra vẻ đẹp của sự khác biệt và sự đa dạng trong khi vẫn biết dàn xếp

Trang 28

mầm mống gây chia rẽ, bất hòa Khoan dung đối với những điều không thuận lợi trong cuộc sống là biết cho qua đi, trở nên nhẹ nhàng, thanh thản và tiếp tục tiến lên

- Đoàn kết: Là sự hòa thuận, hợp tác ở trong và ở giữa các cá nhân trong một nhóm, một tập thể

- Yêu thương: Là biết nhận ra giá trị của bản thân mình và giá trị của người khác, muốn làm điều tốt cho họ, biết lắng nghe và chia sẻ, quan tâm và thông hiểu

- Tự do: Quyền lợi được cân bằng với trách nhiệm, sự lựa chọn được cân bằng với lương tâm

- Hạnh phúc: Là trạng thái bình an của tâm hồn khiến con người không

có những thay đổi đột ngột hay bạo lực; tâm hồn tràn ngập niềm vui, hy vọng và ước mong điều tốt lành cho mọi người

Như vậy giá trị sống là những phẩm chất tốt đẹp của con người, làm cho con người trở nên có giá trị và có cuộc sống tốt đẹp hơn.Giá trị sống định hướng cho hành vi ứng xử cuả chúng ta, khi ta luôn trải nghiệm và cư xử với mọi người bằng những giá trị thì những giá trị sẽ trở thành phẩm chất của mỗi chúng ta và sẽ đi cùng chúng ta suốt cuộc đời Nó chính là thước đo nhân phẩm của mỗi con người

1.2.5 Khái niệm Giáo dục giá trị sống

Giáo dục GTS cho học sinh là quá trình giúp học sinh tiếp thu, lĩnh hội những giá trị truyền thống của dân tộc và những giá trị phổ quát của nhân loại, biến thành những giá trị đặc trưng của bản thân mỗi học sinh, giúp cho các em có suy nghĩ, thái độ và hành động tích cực, hiệu quả, phù hợp với bản thân và đáp ứng mong đợi của gia đình, nhà trường và xã hội

Nội dung của những giá trị sống đối với học sinh trung học phổ thông cần hướng các em đến hoàn thiện nhân cách một người thanh niên, một công dân, hướng đến một nhân cách nghề nghiệp, một thanh niên thời đại mang những giá trị tinh hoa bản sắc dân tộc như các truyền thông yêu nước, yêu thương con

Trang 29

người, lao động cần cù, tiết kiệm… và những giá trị phổ quát của nhân loại, hướng đến một lối sống hài hoà giữa đời sống cá nhân trong mối quan hệ với bạn

bè, người thân và cộng đồng trên nhiều lĩnh vực của cuộc sống; học tập, lao động và vui chơi

Giáo dục giá trị sống là làm cho các em sống với từng giá trị chứ không phải chỉ là nói về các giá trị đó Cũng như khi chúng ta dạy học, chúng ta phải quan tâm đến những việc chúng ta làm chứ không chỉ là những điều chúng ta nói, phải quan tâm đến tâm trạng của đối tượng chứ không chỉ kết quả của hoạt động Giá trị là gốc còn kỹ năng chỉ là phần ngọn Vì vậy, dạy về giá trị sống là dạy cái gốc rễ của cuộc sống, là dạy cho mọi người cách sống với nhau bằng tình yêu thương và sự tôn trọng là làm cho các em sống và cảm nhận được các giá trị ấy, để cho mọi người yêu thương và gần gũi nhau hơn, chung tay xây dựng một thế giới hoà bình và tốt đẹp

1.2.6 Khái niệm kỹ năng sống

Thuật ngữ kỹ năng sống bắt đầu xuất hiện trong các nhà trường phổ thông Việt Nam từ những năm 1995 -1996 , thông qua dự án giáo dục kỹ năng bảo vệ sức khoẻ và phòng chống HIV/AIDS cho thanh thiếu niên trong và ngoài nhà trường do quỹ nhi đồng liên hiệp quốc phối hợp với bộ giáo dục và đào tạo phối hợp với Hội chữ thập đỏ Việt Nam thực hiện, Từ đó cho đến nay khái niệm kỹ năng sống thường được gắn với các hoạt động giáo dục các vấn đề cụ thể như; Phòng trống tai nạn thương tích, bảo vệ môi trường, phòng trống tai nạn giao thông vv Có nhiều quan niệm khác nhau về kỹ năng sống:

Theo tổ chức y tế thế giới(WHO) Kỹ năng sống là khả năng để có hành vi thích ứng và tích cực giúp các cá nhân có thể ứng xử hiệu quả trước các nhu cầu và thách thức của cuộc sống hàng ngày

Theo UNICEF, kỹ năng sống là cách tiếp cận giúp thay đổi hoặc hình thành hành vi mới Cách tiếp cận này lưu ý đến sự cân bằng về tiếp thu kiến thức, hình thành thái độ

và kỹ năng

Theo tổ chức giáo dục, khoa học và Văn hoá Liên hiệp quốc (UNESCO), kỹ năng sống

Trang 30

gắn với 4 trụ cột của giáo dục đó là:

Học để biết; gồm các kỹ năng tư duy như tư duy phê phán, tư duy sáng tạo , ra quyết định, giải quyết vấn đề, nhận thức được hậu quả…

Học làm người gồm các kỹ năng cá nhân như ứng phó với căng thẳng kiểm soạt cảm xúc, tự nhận thức tự tin

Học để sống với người khác gồm các kỹ năng xã hội như, giao tiếp thương lượng , tự khẳng định hợp tác, làm việc theo nhóm, thể hiện sự cảm thông

Học để làm gồm kỹ năng thực hiện công việc và các nhiệm vụ như kỹ năng đặt mục tiêu, kỹ năng đảm nhận trách nhiệm

Có thể thấy, mỗi định nghĩa về KNS được thể hiện dưới những góc nhìn khác nhau, song đều thống nhất trên nội dung cơ bản; Đấy là những kỹ năng thực hành mà con người cần để có được sự an toàn, cuộc sống khỏe mạnh với chất lượng cao; Nói cách khác, kỹ năng sống là tập hợp các kỹ năng mà con người

có được thông qua học tập, đúc rút kinh nghiệm để xử lý những vấn đề nảy sinh trong cuộc sống

Như vậy ta thấy từ những khái niệm trên kỹ năng sống bao gồm một loạt các kỹ năng

cụ thể cần thiết cho cuộc sống hàng ngày của con người, bản chất của kỹ năng sống là

kỹ năng quản lý bản thân và kỹ năng xã hội cần thiết để cá nhân tự lức trong cuộc sống học tập và làm việc hiệu quả nói cách khác kỹ năng sống là khả năng làm chủ bản thân của mỗi người, khả năng ứng xử phù hợp với người khác và với xã hội , khả năng ứng phó tích cực trước các tình huống của cuộc sống kỹ năng sống vừa mang tính cá nhân vừa mang tính xã hội nó mang tính cá nhân vì đó là khả năng của cá nhân, kỹ năng sống mang tính xã hội vì kỹ năng sống phụ thuộc vào các gia đoạn phát triển lịch sủ xã hội chịu ảnh hưởng của truyền thống và văn hoá của gia đình, cộng đồng dân tộc chính vì vậy mà kỹ năng sống không tự nhiên mà có được mà phải hình thành dần trong quá trình học tập lĩnh hội và rèn luyện trong cuộc sống Trong thực tế giáo dục ở nước ta những năm vừa qua, kỹ năng sống thường được phân loại theo các mối quan hệ bao gồm:

- Nhóm kỹ năng nhận biết và sống với chính mình: bao gồm như tự nhận thức, ứng phó với

Trang 31

cang thẳng, xác định giá trị , tự trọng tự tin, tìm kiếm sự hỗ trợ

Nhóm kỹ năng nhận biết và sống với người khác: Như kỹ năng giao tiếp hiệu quả, kỹ năng giải quyết mâu thuẫn, thương lượng từ chối, hợp tác

- Nhóm kỹ năng ra quyết định một cách có hiệu quả: Bao gồm các kỹ năng cụ thể như kỹ năng tìm kiếm và xử lý thông tin, kỹ năng tư duy phê phán, tư duy sáng tạo , kỹ năng ra quyết định, kỹ năng giải quyết vấn đề

Trên chỉ là một số cách phân loại kỹ năng sống, tuy nhiên mọi cách phân loại chỉ là tương đối, trên thực tế các kỹ năng sống không hoàn toàn tách rời nhau mà có liên quan chặt chẽ với nhau; ví dụ như để giao tiếp hiệu quả thì cần phảo phối hợp các kỹ năng như kỹ năng nhận thức, kỹ năng tư duy phê phán, kỹ năng cảm thông chia sẽ vv…

1.2.7 Giáo dục kỹ năng sống

Giáo dục kỹ năng sống là trang bị cho học sinh những KNS cơ bản, giúp các em vượt qua khó khăn, thách thức, tận dụng được những cơ hội quý giá trong cuộc sống, sống có trách nhiệm với bản thân, gia đình, xã hội Giáo dục kỹ năng sống giúp học sinh có hiểu biết sâu sắc hơn về động cơ và trách nhiệm có liên quan tới những sự lựa chọn của cá nhân và xã hội một cách tích cực, trở nên mạnh dạn, cởi mở và tự tin hơn Học sinh biết kiềm chế, giải quyết vấn đề theo hướng tích cực, không bị lôi kéo, vững vàng trước những áp lực tiêu cực của cuộc sống đương đại.Thông qua hoạt động giáo dục kỹ năng sống, học sinh được rèn luyện năng lực tư duy, chất lượng các môn học cũng như chất lượng giáo dục toàn diện của nhà trường được nâng lên

Có rất nhiều KNS mà con người cần học trong suốt cuộc đời, nhưng đối

với học sinh THPT, nội dung giáo dục kỹ năng sống cần tập trung vào một số kỹ năng cơ bản cần thiết sau:

- Kỹ năng tự nhận thức: Tự nhận thức là khả năng con người hiểu về chính bản thân mình, như cơ thể, tư tưởng, các mối quan hệ của bản thân, biết nhìn nhận đánh giá đúng về tiềm năng, tình cảm, sở thích, thói quen, điểm mạnh điểm yếu…của bản thân mình; quan tâm và luôn ý thức được mình đang làm gì, kể cả nhận ra lúc bản thân đang cảm thấy căng thẳng Đây là kỹ

Trang 32

năng cơ bản của con người là nền tảng để con người giao tiếp ứng xử phù hợp với hiệu quả với người khác cũng như để có thể cảm thông được với người khác

- Kỹ năng xác định giá trị: Là những gì con người cho là quan trọng, là

có ý nghĩa đối với bản thân mình, có tác động định hướng cho suy nghĩ hành động và lối sống của bản thân trong cuộc sống, kỹ năng xác định giá trị là khả năng con người hiểu rõ được bản thân, biết tôn trọng bản thân và tôn trọng người khác, biết tôn trọng người khác có những giá trị và niềm tin khác

- Kỹ năng đồng cảm, chia sẻ: Đồng cảm và chia sẻ là sự cảm thông, thương xót, là sự cho đi hay giúp đỡ người khác cả về vật chất lẫn tinh thần bằng tất cả khả năng của mình giúp học vượt qua những khó khăn, hoạn nạn

mà không mong muốn được đền đáp, trả ơn

- Kỹ năng ứng phó với căng thẳng: Là khả năng con người bình tĩnh sẵn sàng đón nhận những tình huống căng thẳng như là một tất yếu của cuộc sống, là khả năng nhận biết sự căng thẳng, hiểu được nguyên nhân, hậu quả của căng thẳng, cũng như biết cách suy nghĩ và ứng phó một cách tích cực khi bị căng thẳng

- Kỹ năng giao tiếp: Là khả năng có thể bày tỏ ý kiến của bản thân, theo hình thức nói, viết hoặc sử dụng ngôn ngữ cơ thể một cách phù hợp với hoàn cảnh

và văn hoá, đồng thời biết lắng nghe và tôn trọng ý kiến của người khác ngay cả khi bất đồng quan điểm, bày tỏ ý kiến bao gồm cả bày tỏ về suy nghĩ và ý tưởng, nhu cầu mong muốn cảm xúc, đồng thời nhờ sự giúp đỡ và tư vấn khi cần thiết

- Kỹ năng giải quyết mâu thuẫn: Mâu thuẫn là xung đột, tranh cãi bất đồng, bất bình với một hay nhiều người về một vấn đề nào đó Kỹ năng giải quyết mâu thuẫn là khả năng con người biết kìm chế cảm xúc, tránh bị kích động nóng vội giữ bình tĩnh trước mọi sự việc để tìm ra nguyên nhân, nhận thức được nguyên nhân nảy sinh mâu thuẫn và giải quyết mâu thuẫn đó với thái độ tích cực, không dùng bạo lực thoả mãn nhu cầu và quyền lợi các bên và giải quyết cả mối quan hệ của các bên một cách hoà bình

- Kỹ năng hợp tác: Hợp tác là cùng chung sức làm việc, giúp đỡ hỗ trợ lẫn

Trang 33

nhau trong một công việc, một lĩnh vực nào đó vì mục đích chung Kỹ năng hợp tác là khả năng cá nhân biết chia sẻ trách nhiệm, biết cam kết và cùng làm việc có hiệu quả với những thành viên khác trong nhóm

-Kỹ năng tư duy sáng tạo:Tư duy sáng tạo là khả năng nhìn nhận và giải quyết vấn đề theo một cách mới, với ý tưởng mới, theo phương thức mới, cách sắp xếp và tổ chức mới, là khả năng khám phá và kết nối mối quan hệ giữa các khái niệm, ý tưởng, quan điểm, sự việc, độc lập trong suy nghĩ

- Kỹ năng đảm nhận trách nhiệm: Đảm nhận trách nhiệm là khả năng con người thể hiện sự tin tưởng chủ động và ý thức tự hcia sẻ công việc ới accs thành viên khác trong nhóm Khi đảm nhận trách nhiệm cần dựa trên những điểm mạnh, tiểm năng của bản thân, đông fthowif tìm kiếm thêm sự giúp đỡ cần thiết để hoàn thành nhiệm vụ

- Kỹ năng quản lý thời gian: Là khả năng con người biết sắp xếp công việc theo thứ tự ưu tiên Biết tập trung vào giải quyết công việc trọng tâm trong một thời gian nhất định

1.3 Nội dung quản lý hoạt động giáo dục giá trị sống, kỹ năng sống trong nhà trường phổ thông

Quản lý hoạt động giáo dục GTS, KNS là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý tới các đối tượng quản lý, nhằm đưa hoạt động giáo dục GTS, KNS đạt được kết quả mong muốn một cách hiệu quả nhất

Quản lý hoạt động giáo dục GTS, KNS cho học sinh phổ thông không thể tách khỏi các chức năng của quản lý, quản lý giáo dục và quản lý nhà trường,

nó bao gồm hàng loạt những hoạt động tiến hành lựa chọn, tổ chức và thực hiện các nguồn lực, các tác động của nhà quản lý, của tập thể sư phạm, của các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường theo kế hoạch chủ động và chương trình giáo dục nhằm thay đổi nhận thức hay tạo ra hiệu quả giáo dục cần thiết

Việc quản lý hoạt động giáo dục GTS, KNS cho học sinh phổ thông gồm những hoạt động quản lý sau:

Trang 34

1.3.1 Quản lý chương trình, nội dung giáo dục giá trị sống, kỹ năng sống

Đối với việc giáo dục GTS, KNS cho học sinh, lựa chọn chương trình

và nội dung phù hợp là yếu tố rất quan trọng Việc quản lý chương trình, nội dung giáo dục GTS, KNS bao gồm từ việc chỉ đạo đội ngũ xây dựng chương trình, nội dung cho đến việc tổ chức thực hiện những nội dung đó và đánh giá kết quả đạt được Hiện nay nội dung giáo dục GTS, KNS cho học sinh trung học chưa được đưa thành khung chương trình thống nhất mà mỗi trường tùy theo mục tiêu và điều kiện của trường mình mà xây dựng nội dung, chương trình cho riêng trường mình Ở trường trung học phổ thông hiện nay nội dung giáo dục GTS, KNS chủ yếu là dạy lồng ghép trong các môn học, bài học và thông qua các hoạt động ngoài giờ lên lớp, các hoạt động phong trào của tổ chức đoàn thanh niên

Để quản lý tôt nội dung giáo dục GTS,KNS thì người quản lý phải nắm vững các nhiệm vụ năm học, bám sát vào các văn bản hướng dẫn của sở giáo dục, của các cơ quan chức năng, bám sát vào các giá trị chuẩn mực của nhân loại, các kỹ năng quan trọng cần thiết đối với đối tượng học sinh THPT.Từ đó nhà quản lý phải

có định hướng về mục tiêu cần đạt về việc giáo dục GTS,KNS trong nhà trường của từng năm học

1.3.2 Quản lý việc xây dựng kế hoạch hoạt động giáo dục giá trị sống, kỹ năng sống

Quản lý việc xây dựng kế hoạch tổ chức hoạt động giáo dục giá trị sống

và kỹ năng sống, phải dựa trên cơ cấu khung phân phối chương trình của năm học, đồng thời phải dựa trên cơ sở khảo sát tình hình thực tế của trường về nguyện vọng, nhu cầu của học sinh mong muốn được hình thành và rèn luyện nhữngGTS, KNS mà các em còn thiếu, Từ đó mới xây dựng được kế hoạch

có tính khả thi và mang lại hiệu quả giáo dục GTS, KNS tốt nhất cho HS

Quản lý về kế hoạch hoạt động giáo dục GTS, KNS bao gồm: Quản lý việc xây dựng kế hoạch hoạt động thường xuyên, kế hoạch hoạt động theo

Trang 35

chủ điểm, kế hoạch bồi dưỡng đội ngũ GV, kế hoạch đầu tư cơ sở vật chất cũng như các điều kiện thực hiện, kế hoạch phối hợp với các lực lượng giáo dục, kế hoạch kiểm tra đánh giá kết quả hoạt động GTS, KNS

Có rất nhiều loại kế hoạch theo lộ trình thời gian; kế hoạch dài hạn, kế hoạch ngắn hạn, kế hoạch theo quý, tháng, và theo tuần, khi quản lý kế hoạch thì người quản lý phải nắm thật chắc mục tiêu và các nội dung của kế hoạch để tránh sự chồng chéo hoặc bỏ việc không kiểm soát được

Để quá trình giáo dục GTS, KNS cho học sinh đạt hiệu quả, nhà trường cần xây dựng phương hướng chỉ đạo theo một kế hoạch thống nhất, nhằm động viên và phát huy tối đa khả năng của các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường để tạo nên sức mạnh tổng thể trong quá trình GD GTS, KNS

1.3.3 Quản lý công tác kiểm tra đánh giá việc thực hiện chương trình hoạt động giáo dục giá trị sống, kỹ năng sống

Để đánh giá việc thực hiện chương trình hoạt động GD GTS, KNS nhà quản lý cần phải bám sát vào mục tiêu đề ra, sử dụng các hình thức đánh giá phù hợp và tuân theo một quy trình đánh giá khoa học Cụ thể là:

Tiếu chuẩn đánh giá: Nhà quản lý phải xây dựng các tiêu chuẩn để làm căn

cứ đánh giá các hoạt động, tiêu chuẩn được xây dựng trên cơ sở thực tế của nhà trường, có sự bàn bạc kỹ lưỡng của các tổ chức trong nhà trường, tiêu chuẩn phải phù hợp không nên quá khó hoặc quá rẽ sẽ làm ảnh hưởng đến việc thi đua hoặc điều chỉnh hoạt động ở những giai đoạn sau

Về loại hình đánh giá: Việc quản lý đánh giá thực hiện chương trình

hoạt động giáo dục GTS, KNS có những cách đánh giá theo chủ thể:

Tự đánh giá: Là hoạt động đánh giá của chủ thể đánh giá đối với chính bản

thân mình, tổ chức của mình trên cơ sở đối chiếu với các tiêu chuẩn được xác định từ trước Mỗi đối tượng GVCN, ĐTN, BGH thực hiện tự đánh giá đối với việc thực hiện chương trình hoạt động giáo dục GTS, KNS cho HS Hoạt động tự đánh giá giúp chủ thể nhận thức rõ về bản thân, về tổ chức của mình, giúp tự khắc phục những điểm yếu, điều chỉnh các hoạt động theo chuẩn Tự

Trang 36

đánh giá cũng giúp chủ thể có tinh thần trách nhiệm hơn đối với công việc của bản thân và nhờ vậy hoạt động của tổ chức có chất lượng và hiệu quả hơn

Đánh giá từ bên ngoài: Được tiến hành bởi các cơ quan cấp trên hoặc từ

một tổ chức đánh giá độc lập trên cơ sở các tiêu chuẩn đã được xác định từ trước Với việc đánh giá việc thực hiện chương trình hoạt động giáo dục GTS, KNS có thể sử dụng đánh giá của PHHS, các lực lượng cán bộ chính quyền địa phương, sở giáo dục,tổ chức đoàn các cấp Kết quả đánh giá được sử dụng

để điều chỉnh hoạt động của nhà trường về việc thực hiện chương trình hoạt động giáo dục GTS, KNS

Về đối tượng đánh giá: Tiến hành kiểm tra đánh giá việc thực hiện

chương trình hoạt động giáo dục GTS, KNS cho HS của các bộ phận và lực lượng trong nhà trường

Về nội dung đánh giá: Thực hiện đánh giá các nội dung từ việc lập kế

hoạch thực hiện chương trình GD GTS, KNS đến nội dung các hoạt động, sự chuẩn bị cơ sở vật chất, cách thức tiến hành hoạt động, đánh giá kết quả hoạt động GD GTS, KNS cho HS

Về phương pháp đánh giá: Đánh giá việc thực hiện chương trình hoạt

động giáo dục GTS, KNS cho HS thông qua phương pháp điều tra, phương pháp quan sát, phương pháp phỏng vấnkết quả đánh giá được lượng hóa qua các bảng thống kê tỷ lệ phần trăm, qua sự chuyển biến về nhận thức và hành vi của các

em trong hoạt động lao động và học tập, quan hệ hàng ngày

Việc kiểm tra, đánh giá hoạt động giáo dục GTS, KNS góp phần đánh giá chất lượng giáo dục chung trong nhà trường, qua kiểm tra đánh giá nhà quản lý đánh giá được mức độ thực hiện của đội ngũ giáo viên, mức độ hưởng ứng tham gia của học sinh, quá trình thực hiện trong nhà trường diễn

ra có đảm bảo kế hoạch hay không, đó là cơ sở để từ đó nhà trường có sự điều chỉnh về mục tiêu, nội dung, đội ngũ, phương pháp và hình thức tổ chức hoạt động giáo dục GTS,KNS

Trang 37

1.3.4 Quản lý các lực lượng tham gia hoạt động giáo dục giá trị sống, kỹ năng sống cho học sinh

Giáo dục GTS, KNS cho học sinh là nhiệm vụ của tất cả các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường Các em học sinh chịu sự giáo dục của toàn thể cán bộ giáo viên, nhân viên trong trường, song người có trách nhiệm lớn nhất, có ảnh hưởng trực tiếp tới các em học sinh là đội ngũ giáo viên chủ nhiệm lớp, các thầy cô trong ban chấp hành đoàn trường Họ chính

là người trực tiếp truyền đạt tri thức, kinh nghiệm của mình, tổ chức các hoạt động dạy học, giáo dục để giúp học sinh tiếp thu, lĩnh hội những giá trị truyền thống của dân tộc và nhân loại, giúp các em học tập hiệu quả hơn; giao tiếp, ứng xử với mọi người thân thiện, vui vẻ, hợp tác thành công hơn, biết tự điều chỉnh bản thân làm việc tốt, tránh việc xấu

-Quản lý giáo viên chủ nhiệm lớp trong hoạt động giáo dục GTS, KNS cho học sinh:

Giáo viên chủ nhiệm là một chức danh được đặt ra để phục vụ công tác đào tạo và quản lý học sinh, kiêm nhiệm vụ cố vấn học tập nâng cao hiệu quả chất lượng dạy

và học, là một trong những đội ngũ chủ chốt của trường làm công tác giáo dục hoc sinh Vì vậy người giáo viên chủ nhiệm giữ vai trò quan trọng trong việc giáo dục giá trị sống, kỹ năng sống cho học sinh, người giáo viên chủ nhiệm phải vừa là thầy vừa là bạn của các em học sinh Bác Hồ của chúng ta đã từng nói “ Vì lợi ích 10 năm trồng cây, vì lợi ích trăm năm trồng người” để có thể tổ chức được việc giáo dục giá trị sống và kỹ năng sống thì người giáo viên chủ nhiệm phải có tâm, có tình yêu thương con người biết quan tâm và hiểu các em, đối xử công bằng với các em,

là người bạn tâm tình của các em, qua đó nắm bắt được diễn biến tâm lý của các em

Bên cạnh đó, giáo viên chủ nhiệm là người gần gũi nhất với các em học sinh, giáo viên chủ nhiệm cũng chính là những người bạn tâm tình chia sẻ tâm tư tình cảm với các em học sinh, là người tổ chức cho các em các hoạt động tập thể, là cố vấn cho các hoạt động Đoàn Giáo viên chủ nhiệm chính là vị thủ lĩnh

Trang 38

tinh thần, làm điểm tựa để tạo ra một tập thể lớp năng động, sáng tạo, biết học hết mình và chơi hết mình Một tập thể lớp năng động, sẽ tạo ra rất nhiều thành viên năng động và sáng tạo Ngào ra người giáo viên chủ nhiệm cần sáng tạo để tích hợp giáo dục giá trị sống và rèn luyện kỹ năng sống trong các hoạt động tập thể, các giờ sinh hoạt lớp theo một kịch bản linh hoạt

Với vai trò đó giáo viên chủ nhiệm sẽ tạo ra được động lực thi đua, tạo môi trường thân thiện giữa thầy, cô và trò, giữa các thành viên trong tập thể, giữa tập thể lớp với tổ chức Đoàn thanh niên, với hội cha mẹ học sinh Như vậy việc giáo dục giá trị sống và kỹ năng sống thông qua hoạt động của giáo viên chủ nhiệm sẽ giúp hoàn thiện nhân cách cho các em học sinh, tạo cho các em tự tin hơn khi gặp các tình huống trong của cuộc sống, cùng với hành trang tri thức các em vững bước vào tương lai Chính vì vậy giáo viên chủ nhiệm đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc góp phần vào việc phát triển giáo dục nói chung

và giáo dục giá trị sống, kỹ năng sống nói riêng

Cổ nhân có câu: “ Người có chữ trị người bằng nghĩa, người không có chữ trị người bằng mưu” câu nói đó giúp cho nhà quản lý phần nào soi tỏ được bản chất công việc cách ứng xử đối với giáo viên chủ nhiệm, và cách ứng xử của giáo viên chủ nhiệm với các em học sinh; Tất cả không phải bằng mưu mẹo mà phải bằng tấm lòng nhân hậu của một con người, từ tấm lòng nhân hậu của người quản

lý sẽ chỉ cho giáo viên chủ nhiệm biết mình phải làm gì, phải làm như thế nào trong việc giáo dục giá trị sống cho học sinh, từ tấm lòng nhân hậu của người giáo viên chủ nhiệm sẽ giúp cho các em thấy được những giá trị của cuộc sống, những cách ứng xử văn minh thanh lịch trong các mối quan hệ thầy cô bạn bè và gia đình xã hội

Để đội ngũ giáo viên chủ nhiệm lớp thực thi tốt nhiệm vụ của mình, nhà quản lý cần lý phải chỉ đạo GVCN căn cứ kế hoạch tổng thể của nhà trường xây dựng kế hoạch giáo dục GTS, KNS phù hợp với đặc điểm tình hình của lớp chủ nhiệm, triển khai kế hoạch và tổ chức hoạt động cho học sinh, quản lý phát huy hiệu quả của giờ sinh hoạt lớp, đôn đốc, kiểm tra đánh giá thi đua

Trang 39

kết quả rèn luyện của học sinh; Quản lý tốt việc xây dựng kế hoạch và thực hiện các hoạt động thường xuyên của giáo viên như: Soạn bài, giảng bài có lồng ghép GD GTS, KNS, xây dựng nội dung cho các tiết sinh hoạt lớp, sinh hoạt Đoàn, phải có kế hoạch hoạt động cụ thể và kịch bản chi tiết cho mỗi nội dung giáo dục giá trị sống và kỹ năng sống cho các em

- Quản lý đội ngũ BCH Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh,

Tổ chức Đoàn thanh niên trong nhà trường là nơi đoàn kết, tập hợp thanh niên, tham gia các hoạt động tập thể, Đoàn có nhiệm vụ giáo dục chính trị

tư tưởng, giáo dục lý tưởng XHCN cho đoàn viên, giáo dục luật pháp, lối sống, nếp sống, giáo dục về khoa học kỹ thuật công nghệ, về dân số, sức khỏe, môi trường Giáo dục về phát huy, giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc Giáo dục truyền thống cách mạng, truyền thống lịch sử dân tộc, tự hào với các thế

hệ cha anh đi trước từ đó có trách nhiệm với bản thân, gia đình, nhà trường và

cả cộng đồng

Bên cạnh việc giáo dục chính trị tư tưởng Đoàn còn tổ chức nhiều phong trào hành động cách mạng cụ thể, thiết thực đáp ứng nhu cầu, nguyện vọng của tuổi trẻ Các phong trào hành động cách mạng của Đoàn là nơi để tuổi trẻ nhà trường xây dựng cho mình nền tảng giá trị sống vững chắc rèn luyện kỹ các kỹ năng cho đoàn vien thanh niên, khơi dậy trong đoàn viên thanh niên tinh thần tình nguyện của tuổi trẻ, dám nhận những nhiệm vụ khó khăn, dám đón nhận sự hy sinh gian khổ từ đó hình thành ý thức trách nhiệm của người thanh niên với cộng đồng xã hội Bằng các hoạt động tích cực và các phong trào hành động cách mạng Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh thực

sự là nơi để tuổi trẻ nhà trường rèn luyện, cống hiến và trưởng thành

Để nâng cao được hiệu quả hoạt động giáo dục GTS, KNS trong hoạt động của Đoàn thanh niên Nhà quản lý Phải nắm được các chương trình hành động của tổ chức Đoàn, cần nhận thức đầy đủ các yếu tố có ảnh hưởng tới việc giáo dục đạo đức, nhu cầu của Đoàn viên thanh niên nhà trường, từ đó

có những biện pháp quản lý chỉ đạo cụ thể đối với tổ chức Đoàn, như kế

Trang 40

hoạch hoạt động chi tiết về nội dung địa điểm, thời gian và kinh phí cho mỗi hoạt động giáo dục giá trị sống và kỹ năng sống, Đồng thời quản lý tốt các giờ sinh hoạt chi đoàn, các tiết chào cờ đầu tuần, các hoạt động chủ điểm, chủ đề nhân các ngày lễ lớn trong năm, các hoạt động phối hợp với CMHS, với GVCN,

GV bộ môn, với các tổ chức tập thể và cá nhân trong và ngoài nhà trường Chỉ đạo Đoàn thanh niên tổ chức các hoạt động tham quan, giã ngoại các tiêu chí xếp loại thi đua, theo dõi và niên yết thi đua hàng tuần hàng tháng và theo từng đợt

- Quản lý giáo viên bộ môn trong việc tích hợp giáo dục GTS, KNS vào môn học: Từ kiến thức lý thuyết của bài giảng đến thực tế cuộc sống là quãng

đường khá xa, một giờ học trên lớp chỉ có 45 phút, vì vậy để tích hợp được nội dung giáo dục kỹ năng sống vào bài giảng, đòi hỏi người giáo viên giảng dạy bộ môn phải linh hoạt khéo léo điều khiển giờ dạy, thầy trò cùng tích cực làm việc để có thể truyền tải và lĩnh hội đầy đủ nội dung kiến thức của bài học một cách nhẹ nhàng, vừa thông qua kiến thức của bài học để học sinh nhận thức được giá trị của cuộc sống, hình thành giá trị của bản thân, biết lắng nghe, chia sẻ với người khác, kỹ năng giao tiếp ứng xử, kỹ năng tư duy sáng tạo, kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng thích ứng xã hội Như vậy vai trò của giáo viên bộ môn là hết sức quan trọng trong công tác giáo dục KNS cho học sinh, nhưng việc tích hợp giáo dục KNS vào môn học còn là vấn đề mới

mẻ đối với nhiều giáo viên nhà trường, vì vậy nhà quản lý ngoài việc lập kế hoạch chi tiết, cụ thể cho hoạt động còn phải tổ chức tập huấn, hội thảo, tọa đàm để nâng cao nhận thức, ý thức trách nhiệm cho đội ngũ giáo viên, đồng thời phân cấp quản lý cho đội ngũ tổ trưởng, tổ phó, nhóm trưởng chuyên môn để thống kê việc tích hợp giáo dục KNS vào từng chương, từng bài cụ thể Tổ chức làm điểm, rút kinh nghiệm chung và triển khai đại trà Theo dõi sát sao việc thực hiện tích hợp vào bài dạy của đội ngũ giáo viên, đánh giá giờ dạy và kiểm tra đánh giá kết quả rèn luyện của học sinh

- Quản lý việc phối hợp các lực lượng giáo dục khác:

Ngày đăng: 29/08/2015, 09:41

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1.  Nhận thức của cha mẹ học sinh và học sinh về mối quan hệ - Quản lý hoạt động giáo dục giá trị sống, kỹ năng sống cho học sinh trường trung học phổ thông thanh oai a thành phố hà nội
Bảng 2.1. Nhận thức của cha mẹ học sinh và học sinh về mối quan hệ (Trang 51)
Bảng 2.5.  Kết quả đánh giá mức độ thực hiện giáo dục giá trị sống và - Quản lý hoạt động giáo dục giá trị sống, kỹ năng sống cho học sinh trường trung học phổ thông thanh oai a thành phố hà nội
Bảng 2.5. Kết quả đánh giá mức độ thực hiện giáo dục giá trị sống và (Trang 56)
Bảng 2.6.  Kết quả đánh giá mức độ thực hiện giáo dục GTS, KNS - Quản lý hoạt động giáo dục giá trị sống, kỹ năng sống cho học sinh trường trung học phổ thông thanh oai a thành phố hà nội
Bảng 2.6. Kết quả đánh giá mức độ thực hiện giáo dục GTS, KNS (Trang 58)
Bảng 2.7. Kết quả đánh giá mức độ thực hiện giáo dục giá trị sống và - Quản lý hoạt động giáo dục giá trị sống, kỹ năng sống cho học sinh trường trung học phổ thông thanh oai a thành phố hà nội
Bảng 2.7. Kết quả đánh giá mức độ thực hiện giáo dục giá trị sống và (Trang 61)
Bảng 2.8.  Kết quả đánh giá mức độ thực hiện giáo dục giá trị sống - Quản lý hoạt động giáo dục giá trị sống, kỹ năng sống cho học sinh trường trung học phổ thông thanh oai a thành phố hà nội
Bảng 2.8. Kết quả đánh giá mức độ thực hiện giáo dục giá trị sống (Trang 64)
Hình  thức  tổ  chức  hoạt  động  giáo - Quản lý hoạt động giáo dục giá trị sống, kỹ năng sống cho học sinh trường trung học phổ thông thanh oai a thành phố hà nội
nh thức tổ chức hoạt động giáo (Trang 120)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w