Được sự đồng ý của Ban giám hiệu trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Ban chủ nhiệm khoa Kinh tế & PTNT và sự góp ý hướng dẫn của ThS Vũ Thị Hiền, tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên
Trang 1KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Phát triển nông thôn Khoa : Kinh tế & PTNT Khóa học : 2011 - 2015
Thái Nguyên - 2015
Trang 2KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành : Phát triển nông thôn
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Với phương châm “Học đi đôi với hành”, “Lý thuyết gắn với thực tiến,
nhà trường gắn liền với xã hội”, thực tập tốt nghiệp là quãng thời gian sinh
viên tiếp cận với thực tiễn sản xuất, là cơ hội thủ nghiệm, áp dụng những lý
thuyết đã học và thực tiễn sản xuất Đồng thời hệ thống hóa và củng cố lại
những kiến thức đã học trên giảng đường, nâng cao tay nghề chuyên môn
phục vụ cho công tác sau này
Được sự đồng ý của Ban giám hiệu trường Đại học Nông Lâm Thái
Nguyên, Ban chủ nhiệm khoa Kinh tế & PTNT và sự góp ý hướng dẫn của
ThS Vũ Thị Hiền, tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu tác động của
tảo hôn tới phát triển kinh tế hộ gia đình của cộng đồng dân tộc La Chí tại
xã Yên Thành huyện Quang Bình tỉnh Hà Giang”
Đề tài được thực hiện tại UBND xã Yên Thành – huyện Quang Bình – tỉnh
Hang Giang Trong quá trình thực hiện đề tài tôi luôn nhận được sự quan tâm giúp
đỡ của lãnh đạo cũng như cán bộ các ban ngành đoàn thể của xã Yên Thành
Tôi xin chân thành cảm ơn sự quan tâm, giúp đỡ của lãnh đạo, cán bộ
các ban ngành đoàn thể xã Yên Thành – Quang Bình – Hà Giang
Tôi xin chân thành cảm ơn sự đóng góp ý kiến của các thầy, cô giáo
trong khoa Kinh tế & PTNT
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo hướng dẫn ThS
Vũ Thị Hiền giảng viên khoa Kinh Tế & PTNT, người đã trực tiếp, tận tình
hướng dẫn tôi trong quá trình thực hiện và hoàn thiện khóa luận
Xin cảm ơn cha mẹ, anh chị, bạn bè và những người thân luôn động
viên chia sẻ với tôi trong suốt thời gian học tập tại trường cũng như thời gian
thực tập tại cơ sở để hoàn thành khóa luận này
Trong quá trình thực hiện đề tài, mặc dù bản thân tôi đã rất cố gắng
song do bước đầu làm quen với công tác nghiên cứu và kinh nghiệm còn hạn
chế nên khóa luận của tôi không tránh khỏi những thiếu sót Rất mong nhận
được sự đóng góp ý kiến của thầy cô và các bạn để bài khóa luận của tôi được
hoàn thiện hơn
Thái Nguyên,ngày 04 tháng 06 năm 2015
Sinh viên
Lù Đức Tự
Trang 4DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 2.1: Tỷ lệ hộ nghèo các tỉnh miền núi phía Bắc 7
Bảng 2.2: Tỷ lệ tảo hôn tại một số tỉnh cao nhất cả nước (năm 2009) 21
Bảng 4.1: Tình hình sử dụng đất của xã giai đoạn 2012 - 2014 31
Bảng 4.2: Hiện trạng trồng và khai thác tài nguyên rừng giai đoạn 2012 -2014 33
Bảng 4.3: Tình hình kinh tế với cơ cấu kinh tế xã từ năm 2012 - 2014 36
Bảng 4.4: Tình hình dân số của xã từ năm 2012 - 2014 38
Bảng 4.5: Tình hình lao động của xã giai đoạn 2012 - 2014 40
Bảng 4.6: Tình hình đi học trong độ tuổi 6 - 18 của con em trên địa bàn xã 41
Bảng 4.7: Hiện trạng đừơng giao thông xã năm 2014 43
Bảng 4.8: Hiện trạng về cơ sở vật chất trong giáo dục năm 2014 44
Bảng 4.9: Mức độ tảo hôn, số lao động và tỷ lệ người sống phụ thuộc của các hộ được điều tra 48
Bảng 4.10: Tình trạng việc làm của các hộ điều tra trên địa bàn nghiên cứu 50
Bảng 4.11: Ảnh hưởng của tảo hôn tới lao động và việc làm trên địa bàn nghiên cứu 51
Bảng 4.12: Ảnh hưởng của tảo hôn tới chất lượng lao động của các hộ 52
Bảng 4.13: Tỷ lệ hộ nghèo theo đối tượng kết hôn giai đoạn 2012 - 2014 53
Bảng 4.14: Thực trạng đói nghèo của cộng đồng dân tộc La Chí theo các thôn 54
Bảng 4.15: Tình hình kết hôn sớm của dân tộc La Chí và một số dân tộc ít người trên địa bàn xã trong năm 2014 54
Bảng 4.16: Thu nhập của các hộ điều tra phân theo đối tượng 56
Trang 5Bảng 4.17: Kết quả sản xuất kinh doanh của các hộ điều tra 57 Bảng 4.18: Các nhân tố ảnh hưởng tới kinh tế hộ gia đình của cộng đồng
La Chí 58 Bảng 4.19: Tổng tài sản và hướng sử dụng của các hộ tảo hôn trên địa bàn
nghiên cứu 61Bảng 4.20: Tình hình vay vốn của các hộ được điều tra 68
Trang 6DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang
Hình 4.1: Những yếu tố tác động tới kinh tế hộ và nghèo đói theo các hộ
được điều tra 59Hình 4.2: Vòng luẩn quẩn của tảo hôn và nghèo đói 60Hình 4.3: Kênh tiêu thụ sản phẩm nông sản của nhân dân xã Yên Thành 66
Trang 7DS – KHHGĐ
DS DTTS
DT
ĐH HTX KTNH LHQ UNICEF UNFPA
TH THCS
TC UBND
Nghĩa
: Đơn vị tính : Cao đẳng : Cơ cấu : Chủ nghĩa xã hội : Dân số - Kế hoạch hóa gia đình : Dân số
: Dân tộc thiểu số : Diện tích
: Đại học : Hợp tác xã : Kinh tế nông hộ : Liên Hợp Quốc : Qũy nhi đồng Liên Hợp Quốc : Quỹ Dân số Liên Hợp Quốc : Tiểu học
: Trung học cơ sở : Trung cấp
: Ủy ban nhân dân
Trang 8MỤC LỤC
Trang
PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục đích nghiên cứu của đề tài 2
1.3 Mục tiêu nghiên cứu 3
1.4 Ý nghĩa của đề tài 3
1.4.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học 3
1.4.2 Ý nghĩa đối với thực tiễn 3
PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
2.1 Cơ sở khoa học 4
2.1.1 Khái niệm về hôn nhân 4
2.1.2 Đặc điểm của hôn nhân 4
2.1.3 Hình thái của hôn nhân 5
2.1.4 Khái niệm về tảo hôn 6
2.1.5 Khái niệm về kinh tế hộ 6
2.1.6 Kinh tế nông hộ 8
2.1.7 Phát triển kinh tế nông hộ 8
2.1.8 Khái niệm về gia đình hộ gia đình 9
2.2 Sở lược về lịch sử hôn nhân ở Việt Nam và kinh tế hộ gia đình qua các giai đoạn 11
2.2.1 Giai đoạn trước cách mạng tháng tám năm 1945 11
2.2.2 Giai đoạn sau cách mạng tháng tám năm 1945 13
2.3 Tình hình nghiên cứu tảo hôn trong và ngoài nước 18
2.3.1 Tình hình tảo hôn của một số nước trên thế giới 18
2.3.2 Tình hình nghiên cứu tảo hôn và kinh tế hộ ở Việt Nam 20
2.3 Hậu quả của tảo hôn và kinh tế hộ gia đình 22
Trang 9PHẦN 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 26
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 26
3.1.2 Phạm vi nghiên cứu 26
3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 26
3.2.1 Địa điểm nghiên cứu 26
3.2.2 Thời gian nghiên cứu 26
3.3 Nội dung nghiên cứu 26
3.4 Phương pháp nghiên cứu 27
3.4.1 Phương pháp thu thập thông tin thứ cấp 27
3.4.2 Phương pháp thu thập thông tin sơ cấp 27
3.4.3 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu 28
PHẦN 4: DỰ KIẾN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 29
4.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của xã YênThành 29
4.1.1 Điều kiện tự nhiên 29
4.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 33
4.1.3 Đánh giá chung về đặc điểm địa bàn nghiên cứu 45
4.2.Tác động của tảo hôn tới kinh tế hộ 46
4.2.1 Tảo hôn và thực trạng việc làm ở cộng đồng La Chí trên địa bàn xã 46
4.2.2 Thực trạng nghèo đói của cộng đồng dân tộc La Chí trên địa bàn nghiên cứu 52
4.2.3 Thực trạng kinh tế nông hộ của cộng đồng dân tộc La chí và yếu tố tác động tới kinh tế nông hộ trên địa bàn nghiên cứu 55
4.2.4 Tảo hôn và khả năng huy động, quản lý các nguồn lực trong gia đình 61
4.3 Đề xuất một số giải pháp nhằm hạn chế tảo hôn và thúc đẩy phát triển kinh tế hộ gia đình 69
Trang 10PHẦN 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 71
5.1 Kết luận 71
5.2 Kiến nghị 72
5.2.1 Với chính quyền các cấp 72
5.2.2 Kiến nghị đối với chính quyền địa phương 73
5.2.3 Kiến nghị với người dân 73
TÀI LIỆU THAM KHẢO 74
Trang 11PHẦN 1
MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề
Trong những năm gần đây cùng với sự thay đổi và phát triển của kinh
tế - xã hội, quan hệ giữa con người với con người, trong đó quan hệ hôn nhân
và gia đình cũng có những thay đổi theo hướng tiến bộ Nhà nước ngày càng quan tâm tới hôn nhân và gia đình với việc xây dựng và ban hành các chính sách, chưng trình và thực hiện các chính sách đó như: Chương trình dân số kế hoạch hóa gia đình được triển khai trên phạm vi toàn quốc, hệ thống cán bộ dân số ngày càng được củng cố và nâng cao về trình độ Cùng với những tiến
bộ về hôn nhân thì kinh tế hộ gia đình ngày càng phát triển và đóng một vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, cuộc sống của người dân ngày càng được cải thiện Các hủ tục lạc hậu cũng dần được loại bỏ dần
Tuy nhiên trên thực tế cho thấy vấn đề hôn nhân ở vùng miền núi, đồng bào dân tộc thiểu số còn đó những nối lo về tình trạng tảo hôn
Nói tới huyện Quang Bình tỉnh Hà Giang người ta thường nghĩ tới những bản sắc văn hóa truyền thông với những lễ hội đặc sắc như: lễ hội nhảy lửa của dân tộc Pà Thẻn, lễ cắp sắc của dân tộc Dao hay lễ hội mừng cơm mới của đồng bào dân tộc La Chí, mà không hề hay biết rằng đằng sau đó là những hủ tục lạc hậu vẫn còn tồn tại, kinh tế chậm phát triển Điển hình là xã Yên Thành, là mộ
xã vùng III, có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn của huyện Quang Bình, cách trung tâm huyện 4km về phía Tây với phần lớn diện tích đất tự nhiên
là đồi núi hiểm trở, người dân nơi đây chủ yếu sản xuất thuần nông, độc canh cây lúa, cuộc sống còn gặp nhiều khó khăn Xã Yên Thành với 95% là dân tộc thiểu số sinh sống trong đó dân tộc La Chí chiếm 20%
Hiện nay, tình trạng kết hôn trái pháp luật diễn ra rất phổ biến ở cộng đồng dân tộc La Chí với việc học sinh cấp 1, cấp 2 đua nhau bỏ học để ở nhà
Trang 12phụ giúp bố mẹ rồi dẫn tới kết cục là kết hôn sớm sinh con ở tuổi 15 - 16 thậm chí trẻ em mới 2 tuổi bố mẹ đã có đính ước trước với nhà trai Khi độ tuổi này là tuổi ăn tuổi chơi bỗng nhiên những đứa trẻ này trở thành bố mẹ với những kiến thức về sinh sản, khả năng tự lập về kinh tế không có, thể chất chưa phát triển hoàn thiện Từ đó dẫn tới sinh con nhiều, tỷ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh lớn, các bệnh hiểm nghèo như : thiếu máu, thiếu máu huyết tán… làm cho kinh tế hộ gia đình đã khó khăn nay còn khó khăn hơn Khi con cái họ lớn lên không được học hành lại tiếp tục kết hôn sớm và tạo nên vòng luẩn quẩn không có cách nào thoát ra [17]
Vậy đâu là lý do dẫn đến hiện tượng kết hôn sớm ở cộng đồng dân tộc La Chí Do thiếu hiểu biết về pháp luật, do thiếu hiểu biết về sức khỏe sinh sản và giới tính, hủ tục lạc hậu này không thể thay đổi, chính sách của nhà nước chưa tới người dân, thiếu sự kiên quyết của chính quyền, kết hôn sớm ở cộng đồng dân tộc La Chí ảnh hưởng như thế nào tới phát triển kinh tế của hộ và sự phát triển chung của toàn
xã hội và làm thế nào, đâu là giải pháp hữu hiệu để ngăn chặn, từng bước tiến tới xóa bỏ tình trạng tảo hôn ở cộng đồng dân tộc La Chí, từ đó đẩy mạnh phát triển kinh tế hộ gia đình trên địa bàn xã
Xuất phát từ thực tế trên và được sự đồng ý của ban chủ nhiệm khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn, trường đại học Nông Lâm Thái Nguyên cùng với sự hướng dẫn, giúp đỡ tận tình của ThS Vũ Thị Hiền và các cơ quan
đoàn thể tại xã Yên Thành Tôi tiến hành thực hiện đề tài “Nghiên cứu tác
động của tảo hôn tới phát triển kinh tế hộ gia đình của cộng đồng dân tộc
La Chí tại xã Yên Thành, huyện Quang Bình, tỉnh Hà Giang”
1.2 Mục đích nghiên cứu của đề tài
Trên cơ sở nghiên cứu những tác động của tảo hôn đến phát triển kinh
tế hộ gia đình của đồng bào dân tộc La Chí, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm hạn chế tình trạng tảo hôn đồng thời góp phần phát triển kinh tế hộ của đồng bào dân tộc La Chí trên địa bàn
Trang 131.3 Mục tiêu nghiên cứu
- Đánh giá được đặc điểm về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của xã Yên Thành
- Đánh giá được những tác động của tảo hôn đến phát triển kinh tế hộ gia đình đối với cộng đồng dân tộc La Chí trên địa bàn xã Yên Thành
- Đề xuất ra một số giải pháp nhằm nâng cao nhận thức, hạn chế tình trạng tảo hôn ở dân tộc La Chí và giải pháp giúp phát triển kinh tế hộ gia đình
1.4 Ý nghĩa của đề tài
1.4.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học
- Giúp sinh viên củng cố kiến thức, rèn luyện các kỹ năng, phương pháp làm việc và nghiên cứu khoa học
- Có cái nhìn tổng thể về thực trạng tảo hôn của đồng bao dân tộc La Chí tại xã Yên Thành
- Đề tài cũng được coi là một tài liệu tham khảo cho trường, khoa, các
cơ quan trong ngành và sinh viên khóa tiếp theo
1.4.2 Ý nghĩa đối với thực tiễn
Kết quả của đề tài làm cơ sở cho các cơ quan quản lý, chính quyền địa phương tham khảo và đề ra các giải pháp nâng cao nhận thức cho người dân
và hạn chế tình trạng tảo hôn Bên cạnh đó đưa ra một số chính sách hỗ trợ phát triển kinh tế hộ gia đình cho đồng bào dân tộc La Chí
Trang 14PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Cơ sở khoa học
2.1.1 Khái niệm về hôn nhân
Hôn nhân là hiện tượng xã hội là sự liên kết giữa đàn ông và đàn bà Trong đó có các vấn đề như tảo hôn, hôn nhân cận huyết, hôn nhân đồng tính
Trong xã hội có giai cấp, hôn nhân mang tính giai cấp Dưới chế độ xã hội chủ nghĩa, hôn nhân là sự kết giữa người đàn ông và người đàn bà được pháp luật thừa nhận để xây dựng gia đình và chung sống với nhau suốt đời Sự liên kết đó phát sinh hình thành do việc kết hôn và được biểu hiện ở quan hệ xã hội gắn liền với nhân thân, đó là quan hệ vợ chồng Hôn nhân là một hiện tượng xã hội mang tính giai cấp, ở xã hội nào thì có hình thái hôn nhân đó
Hôn nhân theo luật hôn nhân và gia đình Việt Nam là sự liên kết giữa một người đàn ông và một người đàn bà trên nguyên tắc hoàn toàn bình đẳng
và tự nguyện theo quy định của pháp luật nhằm chung sống với nhau suốt đời
và xây dựng gia đình hạnh phúc, dân chủ, hòa thuận và bền vững Khoản 6 Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 giải thích: “ Hôn nhân là quan hệ giữa vợ và chồng sau khi kết hôn” (Nguyễn Văn Cừ, 2007) [6]
2.1.2 Đặc điểm của hôn nhân
- Hôn nhân là sự liên kết giữa một người đàn ông và một người đàn bà
- Hôn nhân là sự liên kết bình đẳng giữa một người đàn ông và một người đàn bà trên nguyên tắc hoàn toàn tự nguyện
- Hôn nhân là sự liên kết giữa một người đàn ông và một người đàn bà nhằm chung sống với nhau suốt đời và xây dựng gia đình hạnh phúc, dân chủ, hòa thuận và bền vững
Như vậy, hôn nhân là sự liên kết tự nguyện, bình đẳng, sự liên kết bền vững trên cơ sở tình yêu thương, quý trọng lẫn nhau Sự liên kết đó không
Trang 15phụ thuộc vào tính toán vật chất Hôn nhân không phải là hợp đồng mà là một
sự liên kết đặc biệt giữa người đàn ông và người đàn bà bởi mục đích xây dựng mối quan hệ vợ chồng bền vững đảm bảo thỏa mãn nhu cầu tinh thần, vật chất đôi bên, sinh đẻ và giáo dục con cái (Nguyễn Văn Cừ, 2007) [6]
2.1.3 Hình thái của hôn nhân
- Hôn nhân hợp pháp: Là hôn nhân dựa trên cơ sở tình yêu chân chính giữa nam và nữ Hiến pháp Việt Nam quy định : “ Nhà nước bảo hộ hôn nhân
và gia đình, hôn nhân theo nguyên tắc tự nguyện, tiến bộ một vợ một chồng,
vợ chồng bình đẳng” Theo quy định tại khoản 1 Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình thì tuổi kết hôn của nam là hai mươi tuổi trở lên, nữ từ mười tám tuổi trở lên Việc kết hôn phù hợp với các quy định của pháp luật, trước khi hai bên kết hôn thì phải có hồ sơ đăng ký kết hôn gửi cơ quan chức năng để tiến hành điều tra, xác minh về những vấn đề mà các bên đã khai nếu những đều hai bên nam nữ là đúng sự thật và phù hợp với các điều kiện kết hôn thì cơ quan tiến hành đăng ký kêt hôn theo đúng nghi thức do pháp luật quy định Thông qua đăng ký kết hôn nhà nước công nhận hôn nhân của đôi nam nữ Đó là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo hộ
Người kết hôn có đầy đủ năng lực hành vi dân sự kết hôn, không mắc các bệnh tâm thần hoặc các bệnh khác Người kết hôn không cùng dòng máu trực hệ, người có họ hàng ba đời
Người chưa kết hôn hoặc những người đã kết hôn nhưng vợ hoặc chồng đã ly hôn thì được kết hôn
- Hôn nhân không hợp pháp: Là việc nam, nữ xác lập quan hệ vợ chồng không có đăng ký kết hôn hoặc có đăng ký kết hôn nhưng vi phạm điều kiện kết hôn do pháp luật quy định: Nam, nữ chưa đủ tuổi kết hôn hay kết hôn cùng huyết thống (trong phạm vi ba đời), thiếu sự tự nguyện của một trong hai bên, người đang có vợ, có chồng, người mất năng lực hành vi dân sự, hoặc
Trang 16cùng giới với nhau Những trường hợp này trái với quy định của pháp luật, nếu hôn nhân thuộc một trong các trường hợp trên đều là hôn nhân không hợp pháp và tòa án xử hủy hôn nhân đó theo quy định của pháp luật Điều 16 Luật Hôn Nhân và gia đình quy định “Theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức quy định tại Điều 15 của luật này, tòa án xem xét và quyết định việc hủy kết hôn trái pháp luật”
2.1.4 Khái niệm về tảo hôn
Tảo hôn là hôn nhân của những người vị thành niên chưa đủ tuổi kết hôn mà pháp luật quy định, có thể cả vợ và chồng hoặc một trong hai người chưa đủ tuổi kết hôn Ở mỗi nước khác nhau, căn cứ vào trình độ phát triển xã hội, phong tục tập quán của nhân dân và mức độ phát triển tâm sinh lý của con người và điều kiện kinh tế của họ mà pháp luật quy định độ tuổi kết hôn khác nhau Tại khoản 1 Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam quy định thì tuổi kết hôn của nam là hai mươi tuổi trở lên, nữ từ mười tám tuổi trở lên Nếu nam giới và nữ giới kết hôn trước tuổi trên thì là tảo hôn, những trường hợp này tòa án sẽ xử lý theo quy định của pháp luật (Nguyễn Văn Cừ, 2007) [6]
2.1.5 Khái niệm về kinh tế hộ
Kinh tế hộ gia đình là những hành vi của hộ gia đình trong việc quản lý các nguồn lực nhằm đạt được mục đích Bao gồm việc sản xuất tiêu thụ lương thực và an ninh lương thực, việc thu nhập, sản xuất và tiêu thụ những nhu cầu thiết yếu khác cho hộ gia đình như thức ăn, nước uống và tiền mặt để đáp ứng nhu cầu cẩu gia đình, mà tiền mặt có thể kiếm được qua những hoạt động sản xuất nông nghiệp cũng như các hoạt động khác (Dự án lâm nghiệp xã hội, 2005) [7]
Kinh tế hộ gia đình được coi là hoạt động sản xuất nông nghiệp cơ bản Theo bộ Khoa học và Công nghệ, ngày nay kinh tế hộ gia đình đã có đóng góp lớn chop kinh tế nông nghiệp, sản xuất lúa gạo đạt tỷ suất hàng hóa cao
Trang 17trên 50%, cà phê 45%, cao su 85%, chè trên 60%, điều trên 90%, đem lại nguồn ngoại tệ lớn cho đất nước Tuy nhiên còn một bộ phận không nhỏ hộ gia đình ở miền núi, vùng đồng bào dân tộc có điều kiện kinh tế khó khăn do
đó sản xuất chủ yếu mang tính tự cung tự cấp Sản phẩm hàng hóa sản xuất ra không được đem ra thị trường vì vậy nhiều hộ có điều kiện kinh tế cực kỳ khó khăn vì vậy khu vực này luôn có tỷ lệ hộ nghèo cao nhất cả nước (Tông cục thống kê, 2008) [26]
Bảng 2.1: Tỷ lệ hộ nghèo các tỉnh miền núi phía Bắc
(Nguồn: Bộ Lao Đông thương binh và Xã hội) [4]
Để giảm tỷ lệ hộ nghèo ở các tỉnh miền núi chính phủ đã đưa ra nhiều chính sách như: Tăng cường đầu tư cơ sở hạ tầng ở nông thôn, hệ thống tưới tiêu, giao thông và hệ thống nước sạch ở nông thôn
Nhất là các chương trình 30A, chương trình 135 giai đoạn II, chương trình nông thôn mới đã tạo bước chuyển biến mạnh mẽ đối với kinh tế nông thôn Nhiều chương trình hỗ trợ đẩy mạnh áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật,
hỗ trợ, cấp giống cho ba con đồng bào dân tộc, vùng có điều kiện kinh tế khó khăn để người dân đẩy mạnh phát triển kinh tế hộ nâng cao chất lượng cuộc sống giảm tỷ lệ hộ nghèo
Trang 182.1.6 Kinh tế nông hộ
Kinh tế nông hộ (KTNH) là loại hình kinh tế cơ bản và tự chủ trong nông nghiệp, hình thành tồn tại một cách khách quan, sử dụng lao động gia đình là chính KTNH tồn tại và phát triển lâu đời trong quá trình phát triển nông nghiệp nông thôn ở nước ta
Các quyết định trong sản xuất kinh doanh và đời sống thì tùy thuộc vào của chủ hộ Hộ có thể thuê hay không thuê lao động với tỷ lệ thấp để đảm bảo thời vụ nên không được tính tiền lương và không được tính lợi nhuận
Vào những năm 20 của thế kỷ XX “Kinh tế nông dân” được hiểu là hình thức tổ chức kinh tế nôn nghiệp chủ yếu dựa vào sức lao động gia đình
và nhằm thỏa mãn nhu cầu cụ thể của hộ gia đình như một tổng thể mà không dựa trên chế độ trả công theo lao động đối với mỗi thành viên của họ (Nguyễn Đức Truyến, 2003) [10]
“Kinh tế hộ nông dân là kinh tế của các hộ gia đình có nền sinh sống trên các mảnh đất đai, sử dụng chủ yếu sức lao động gia đình Sản xuất của hộ thường nằm trong hệ thống sản xuất lớn và tham gia ở mức độ không hoàn hảo vào hoạt động thị trường” (Vũ Thị Ngọc Trân, 1997) [13]
Kinh tế nông hộ thực hiện các khâu từ sản xuất, phân phối, trao đổi, tiêu dùng Và là loại hình kinh tế có hiệu quả, phù hợp với các đặc điểm sản xuất nông nghiệp, thích ứng tồn tại và phát triển trong mọi chế độ xã hội Loại hình này cũng không giống với loại hình kinh tế khác
Theo chúng tôi nhận thấy, kinh tế là hình thức tổ chức kinh tế cơ sở của
xã hội, các nguồn lực chủ yếu của gia đình như đất đai, lao động, tiền vốn, tư liệu sản xuất Nó tồn tại, thích ứng và phát triển dưới mọi chế độ khác nhau
2.1.7 Phát triển kinh tế nông hộ
Phát triển theo quan niệm chung nhất là sự nâng cao hạnh phúc của người dân, bao hàm nâng cao chuẩn mực sống, cải thiện điều kiện giáo dục,
Trang 19sức khỏe, sự bình đẳng về các cơ hội… Ngoài ra việc bảo đảm các quyền về chính trị và công dân là những mục tiêu rộng hơn của phát triển [5] Phát triển của một xã hội hôm nay là sự kế thừa những di sản diễn ra trong quá khứ
Phát triển còn phải gắn tới sự bền vững, nên phát triển bền vững là:
“Phát triển nhằm thỏa mãn nhu cầu của thế hệ này mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu của các hệ thống tương lai” [5]
Trong kinh tế, phát triển là quá trình chuyển biến về mọi mặt của nền kinh tế trong thời kỳ nhất định, trong đó bao gồm cả sự tăng thêm về quy mô sản lượng sản phẩm, hoàn thiện cơ cấu kinh tế và việc nâng cao chất lượng mọi mặt của cuộc sống Nhưng chúng ta phải cân nhắc toàn bộ các nguồn vốn vật chất, vốn con người và vốn thiên nhiên mà thế hệ hiện tại để lại cho thế hệ tương lai
Như vậy, phát triển kinh tế nông hộ trước hết là sự gia tăng nhiều hơn
về số lượng và chất lượng sản phẩm, sự đa dạng về chủng loại sản phẩm của nông hộ, làm gia tăng thu nhập bình quân trên một đầu người của nông hộ Bên cạnh đó, phát triển kinh tế nông hộ theo chiều hướng tất cả các khía cạnh kinh tế - xã hội như cơ cấu kinh tế thay đổi, theo hướng tỷ trọng ngành nông nghiệp ngày càng giảm, tỷ trọng ngành công nghiệp và dịch vụ gia tăng, nhưng quy mô của ngành nông nghiệp không giảm Và nâng cao phúc lợi về kinh tế, văn hóa, trình độ dân trí giáo dục được nâng cao, sự tự do bình đẳng giới và các hoạt động xã hội khác, tăng tuổi thọ bình quân, tiếp cận các dịch
vụ y tế, nước sạch…
2.1.8 Khái niệm về gia đình hộ gia đình
Với tư cách là một hình thức cộng đồng tổ chức đời sống xã hội, gia đình được hình thành từ rất sớm và trải qua một một quá trình phát triển lâu dài Xuất phát từ nhu cầu bảo tồn và duy trì nòi giống từ sự cần thiết phải nương tựa vào nhau, các hình thức quần tụ giữa nam giới và nữ giới những
Trang 20hình thức cộng đồng tổ chức đời sống gia đình đã xuất hiện, trải qua quá trình lịch sử gia đình đã hình thành nhiều hình thức như gia đình đới ngẫu, gia đình một vợ một chồng
Trước những yêu cầu của sản xuất và sinh hoạt, những đòi hỏi của đời sống kinh tế các quan hệ đó làm cho các thành viên trong cộng đồng trở nên chặt chẽ hơn và xuất hiện những cơ chế ràng buộc lẫn nhau phù hợp và thích ứng với những điều kiện sản xuất, sinh hoạt của một nền sản xuất Gia đình trở thành một thiết chế, một hình ảnh xã hội thu nhỏ, nhưng không phải là sự thu nhỏ một cách đơn giản các quan hệ xã hội Như vậy, gia đình được coi là một thiết chế xã hội đặc thù nhỏ và cơ bản nhất
Gia đình không chỉ là một hình thức tổ chức cộng đồng, một thiết chế
xã hội mà gia đình còn là một giá trị văn hóa xã hội Tính chất bản sắc của gia đình lại được duy trì, bảo tồn, được sáng tạo và phát triển nhằm thỏa mãn những nhu cầu của mỗi thành viên trong gia đình trong sự tương tác gắn bó với văn hóa cộng đồng dân tộc Vậy gia đình là một trong những hình thức tổ chức cơ bản trong đời sống cộng đồng của con người, một thiết chế văn hóa –
xã hội đặc thù trong quan hệ huyết thống, quan hệ nuôi dưỡng và giáo dục giữa các thành viên
Theo giáo trình Xã hội học nông thôn của Dương Văn Sơn (2010), gia đình là một nhóm người mà các thành viên gắn bó với nhau bằng quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống, vừa nhằm đáp ứng nhu cầu riêng tư của các cá nhân, vừa thỏa mãn nhu cầu xã hội về tái sản xuất dân cư theo cả nghĩa thể xác lẫn tinh thần Gia đình là một hệ thống phức tạp các vị trí và vai trò xã hội
mà các thành viên trong gia đình có quan hệ mật thiết với nhau bởi trách nhiệm và quyền lợi, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ
Hộ gia đình là chỉ một hình thức tồn tại của một kiểu nhóm xã hội lấy gia đình làm nền tảng Hộ gia đình trước hết là một tổ chức kinh tế Có nhiều
Trang 21kiểu tổ chức hộ gia đình như hộ gia đình nông nghiệp, hộ gia đình nông – phi nông nghiệp, hộ gia đình phi nông nghiệp Nhóm phi nông nghiệp chiếm tỷ trọng nhỏ nhất, và tương quan giầu nghèo giữa các hộ gia đình có khác nhau Các hộ phi nông nghiệp thường giàu hơn và chủ yếu ở thành thị, còn hộ gia đình nông nghiệp, nông – phi nông nghiệp chủ yếu là tập trung ở vùng nông thôn miền núi (Dương Văn Sơn, 2010) [9]
2.2 Sở lƣợc về lịch sử hôn nhân ở Việt Nam và kinh tế hộ gia đình qua các giai đoạn
2.2.1 Giai đoạn trước cách mạng tháng tám năm 1945
a Hôn nhân và gia đình
Người Việt Nam xưa cho rằng cái gốc của gia đình gọi là hôn nhân, có hôn nhân mới có vợ chồng và con cái
Hôn có nghĩa là bố mẹ nàng dâu, nhân có nghĩa là bố mẹ chàng rể và tổng quát lại từ hôn nhân chỉ là cưới xin
Trước cách mạng tháng tám năm 1945 nổi bật với bộ luật Hồng Đức thể hiện rõ bản chất giai cấp của nó Bộ luật này chủ yếu tập trung vào để bảo
vệ vương quyền, địa vị và quyền lợi của giai cấp phong kiến, củng cố trật tự
xã hội và gia đình gia trưởng phong kiến dự theo tư tưởng chính trị và đạo đức Nho giáo nên chế độ hôn nhân không được tự do đa thể và xác lập chế độ gia trưởng Nó thể hiện lễ nghĩa Nho giáo, trật tự xã hội – gia đình phong kiến tuy nhiên cũng có sự tiến bộ trong quan hệ hôn nhân, luật quy định các điều kiện để có thể kết hôn là: có sự đồng ý của cha, mẹ, không được kết hôn giữa những người trong cùng họ hàng thân thích, cấm kết hôn khi đang có tang ông
bà, cha mẹ, chồng hoặc vợ hay khi ông bà, cha mẹ đang bị giam cầm tù tội, cấm anh (em) lấy vợ góa của em (anh), trò lấy vợ góa của thầy Tuy nhiên, luật Hồng Đức không quy định tuổi kết hôn mặc dù trong Thiên Nam dư hạ tập (phần lệ Hồng Đức hôn giá) có viết “Con trai 18 tuổi , con gái 16 tuổi mới
Trang 22có thể thành hôn” Luật Hông Đức cũng quy định về hình thức và thủ tục kết hôn như đính hôn và thành hôn, luật Hồng Đức cho thấy cuộc hôn nhân có giá trị pháp lý từ sau lễ đính hôn
Theo truyền thống cửa người dân Việt Nam trước cách mạng tháng tám năm 1945, hôn nhân thường do bố mẹ sắp đặt kể cả việc kén vợ, kén chồng cho con Chính vì thế trong xã hội đó người ta quan niệm rằng việc hỏi vợ và
gả chồng là bổn phận cửa cha mẹ Vì muốn gia đình xứng hợp nên có trường hợp con cái còn nhỏ, hai bên cha mẹ đã đính ước với nhau là sẽ là thông gia với nhau Vào thời đấy con trai 16 tuổi và con gái 13 tuổi người ta đã cho con gái con trai lấy vợ, lấy chồng và một người chồng có thể lấy nhiều vợ
Trước cách mạng tháng tám năm 1945 Việt Nam là một nước thuộc địa nửa phong kiến Nắm được chế độ hôn nhân của nước ta lúc bấy giờ nên bọn thực dân Pháp và phong kiến đã lợi dụng chế độ hôn nhân để thống trị xã hội Việt Nam bằng việc ban hành các bộ luật hôn nhân và gia đình khác nhau cho từng miền: Tập dân luật giản yêu 1883 ở Nam Kỳ, Bộ luật 1931 ở Bắc Kỳ, Bộ luật 1936 ở Trung Kỳ, chúng đưa ra các bộ luật như vậy nhằm ràng buộc con cái với cha mẹ để dễ bề cai trị, điều 77 Bộ Luật dân sự Bắc Kỳ 1931 quy định: “Phàm con cái đã thanh niên cũng như chưa thanh niên, không khi nào không có cha mẹ bằng lòng mà kết hôn được” (Ngô Văn Thâu, 2005) [11] chúng còn quy định chế độ hôn nhân bất bình đẳng nam nữ trong gia đình “Nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô” nhằm duy trì bảo vệ quyền lực gia trưởng, đồng thời thừa nhận chế độ nhiều vợ Tại điều 79 Bộ Luật dân sự Bắc Kỳ năm 1931 quy định “Có hai cách giá thú hợp phép: Giá thú về thấp và giá thú về nhất và chưa lấy vợ chính thì không được lấy vợ thứ” Ngoài ra các bộ luật của họ còn bảo vệ quyền gia trưởng, phân biệt con cái, bất bình đẳng nam nữ trong quan hệ
vợ chồng…
Trước cách mạng tháng tám chế độ hôn nhân ở nước ta là chế độ hôn nhân lạc hậu, đó chỉ là công cụ pháp lý của Nhà nước thực dân phong kiến
Trang 23nhằm củng cố và bảo vệ lợi ích cửa giai cấp địa chủ phong kiến
b Kinh tế hộ gia đình
Trước cách mạng tháng tám năm 1945 nông nghiệp trồng lúa là ngành chủ đạo của đất nước, nên kinh tế hộ gia đình chủ yếu là trồng lúa, phương thức sản xuất đơn giản, chưa áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, ngoài ra còn chăn nuôi một số loại vật nuôi với quy mô nhỏ mang tính phục vụ cho gia đình là chính Tuy nhiên thu nhập của hộ gia đình rất thấp, nạn đói nghèo ngày càng trầm trọng Chính sách bóc lột của thực dân Pháp và dân trí thấp là nguyên nhân chính của đói nghèo Bên cạnh đó các tập tục lạc hậu như lấy vợ, lấy chồng sớm, gia đình đông con cũng là một gánh nặng kinh tế cho hộ gia đình ở thời kỳ này
Các chính sách khai thác thuộc địa của thực dân pháp, đã thu hút lực lượng lao động từ nông thôn vào các nhà máy, đồn điền nhưng lương cho công nhân rất thấp nên điều kiện kinh tế hộ gia đình lúc này cũng rất khó khăn Theo niên biểu thống kê Đông Dương 1939 – 1940, năm 1908 chỉ riêng lực lượng nữ công nhân vào các nhà máy là 6.687 người, năm 1912 là 7.500 người (Đặng Phong, 2002) [8]
2.2.2 Giai đoạn sau cách mạng tháng tám năm 1945
2.2.2.1 Thời kỳ 1945 – 1954
a Hôn nhân và gia đình
Sau cách mạng tháng tám thành công nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời tiến hành phong trào “vận động đời sống mới”, nhất là bản hiến pháp đầu tiên cửa nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa năm 1946 ra đời, ghi nhận sự bình đẳng giữa nam và nữ về mọi mặt, xóa bỏ chế độ hôn nhân và gia đình phong kiến lạc hậu, xây dựng chế độ hôn nhân và gia đình mới dân chủ
và tiến bộ
Trang 24Năm 1950 nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ban hành Sắc Lệnh
số 97SL ngày 25-5-1950 và Sắc Lệnh ngày 17-11-1950: Sắc Lệnh 97 đã quy định về sự bình đẳng giữa vợ và chồng trong quan hệ gia đình, xóa bỏ độc quyền của người chồng trong gia đình (quyền gia trưởng) trong chế độ gia đình phong kiến, đang cản trở sự phát triển của xã hội Đồng thời quy định chế độ hôn nhân tiến bộ như: Tự do hôn nhân, quyền tự do giá thú và tự do ly hôn phù hợp với điều kiện thực tế Như vậy nội dung của Sắc Lệnh đã thể hiện tính dân chủ và tiến bộ mới trong hôn nhân và gia đình cử chế độ mới
b Kinh tế hộ giai đình
Cách mạng tháng tám thành công đã mở ra một thời kỳ mới cho nước
ta, chính sách cải cách ruộng đất mới đã làm cơ sở cho kinh tế nước ta thay đổi, từng bước xóa bỏ giặc đói một trong ba thứ giặc của đất nước trong thời
kỳ này, đồng thời đẩy lùi giặc dốt như mở các lớp “Bình dân học vụ” từ đó nhận thức của người dân được tăng lên Tuy kinh tế thời kỳ này còn lạc hậu nhưng đã tạo nền tảng cho nền kinh tế hình thành và phát triển Kinh tế có những bước phát triển nhất định do đó cuộc sống của người dân cũng được cải thiện hơn trước
2.2.2.2 Thời kỳ 1955 – 1975
a Hôn nhân và gia đình
Sau chiến thắng Điện Biên Phủ miền Bắc hoàn toàn được giải phóng và bắt đầu xây dựng mô hình Xã hội chủ nghĩa (CNXH), xây dựng miền Bắc thành căn cứ địa cách mạng, hậu phương vững chắc công cuộc giải phóng miền Nam thống nhất đất nước
Trong giai đoạn này nhiều chính sách quan trọng được đưa ra như: Bản Hiến pháp của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được sửa đổi và thông qua năm 1959 cùng với đó nhà nước ta ban hành luật hôn nhân và gia đình (Luật hôn nhân và già đình năm 1959) Luật hôn nhân và gia đình quy định các vấn
Trang 25đề kết hôn, nghĩa vụ và quyền lợi của vợ chồng, quan hệ giữa cha mẹ và con cái rồi vấn đề ly hôn Đây là cơ sở pháp lý để xóa bỏ những tàn dư còn sót lại của chế độ phong kiến lạc hậu
Lúc này kinh tế hộ chỉ chiếm 5% nhưng cũng góp phần không nhỏ trong nền kinh tế cửa đất nước
2.2.2.3 Thời kỳ1975 đến nay
a Hôn nhân và gia đình
Hôn nhân và gia đình có những tiến bộ rõ rệt, cơ bản đã xóa bỏ được chế độ hôn nhân phong kiến lạc hậu Tuy vậy hôn nhân và gia đình ở vùng nông thôn, vùng dân tộc thiểu số thì tàn dư của hôn nhân cũ vẫn tồn tại Như hôn nhân cận huyết, tảo hôn, thách cưới cao vẫn rất phổ biến
Kết quả điều tra mới đây cửa Tổng cục dân số tại các tỉnh Cao Bằng, Yên Bái, Sơn La và Lai Châu ở một số dân tộc như Lô Lô, Si La, Pu Péo cứ
100 cặp vợ chồng thì có tới 13 hộ là hôn nhân cận huyết thống [27]
Một số chính sách của nhà nước trong giai đoạn này như: Luật hôn nhân và gia đình ban hành trước năm 1975 đã góp phần xóa bỏ bàn tích của chế độ hôn nhân phong kiến lạc hậu Tuy vậy tình hình đất nước có nhiều thay đổi, một số điều kiện không còn phù hợp với điều kiện thực tiễn Vì vậy sau khi thống nhất đất nước 1975 nhà nước đã sửa đổi và ban hành một số
Trang 26điều trong luật hôn nhân và gia đình để phù hợp với điều kiện thực tiễn của xã hội và sự phát triển của đất nước
- Ngày 18/12/1980 kỳ họp thứ 7 Quốc Hội khóa VI đã thông qua bản hiến pháp thứ ba làm nền tảng cho sự phát triển sau này của luật hôn nhân và gia đình
- Ngày 29/12/1986 kỳ họp thứ 12 Quốc hộ khóa VII đã thông qua luật hôn nhân và gia đình 1986, luật quy định nguyên tắc hôn nhân tự nguyện và tiến bộ, một vợ, một chồng, vợ chồng bình đẳng, bảo vệ quyền lợi cho mẹ và con cái, bảo vệ bà mẹ và trẻ em
- Bộ luật dân sự Quốc hội khóa IX nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 28/10/1995, có hiệu lực từ ngày 01/07/1996 Bộ luật dân sự có một số quy định bổ sung cho luật hôn nhân và gia đình 1986: như vấn đề chấm dứt hôn nhân (Điều 91,92,88 bộ luật dân sự); chế định giám trong
Bộ luật dân sự (Điều 67 đến điều 83) quy định đầy đủ hôn và chi tiết hơn chế
độ đỡ đầu trong luật hôn nhân và gia đình về những trường hợp được giám hộ
- Trên cơ sở tổng kết thực tiễn 14 năm thi hành luật hôn nhân và gia đình năm 1986, kết hợp với việc thực hiện chính sách mở cửa và sự phát triển của nền kinh tế thị trường Tại kỳ họp thứ 7 Quốc hội khóa X đã sửa đổi bổ xung luật hôn nhân và gia đình năm 1986 thông qua ngày 09/06/2000 và gọi
là luật hôn nhân và gia đình năm 2000 Đây được coi là luật hôn nhân và gia đình hoàn thiện nhất từ trước tới nay
- Theo hướng dẫn của Nghị định 70/2001/NĐ-CP ngày 03/10/2001 của chính phủ quy định chi tiết thi hành luật hôn nhân và gia đình năm 2000 thì “Nam
ở tuổi hai mươi, nữ đang ở tuổi mười tám thì đủ điều kiện về tuổi kết hôn”
b Kinh tế hộ gia đình
Vai trò kinh tế hộ có nhiều thay đổi, cả phương thức quản lý lẫn lao động sản xuất Sau khi thống nhất đất nước cả nước đi lên xây dựng Chủ
Trang 27nghĩa Xã hội và đã đạt được những thành tựu đáng kể ở giai đoạn đầu Tuy nhiên về giai đoạn sau kinh tế nước ta lâm vào tình trạng khủng hoảng lạm phát tăng cao đời sống của nhân dân gặp nhiều khó khăn Trước tình hình đó Đảng và nhà nước đã có những chính sách thay đổi rất kịp thời và hợp lý, đầu tiên phải nói tới nghị quyết 10 của Bộ chính trị
Về đổi mới cơ chế quản lý nông nghiệp đã tạo cơ sở quan trọng để kinh
tế hộ gia đình trở thành đơn vị kinh tế tự chủ trong sản xuất nông nghiệp Vì vậy kinh tế hộ gia đình thời kỳ này đã thay đổi một cách cơ bản, sản lượng nông nghiệp ngày càng tăng cao, mở mang nhiều ngành nghề mới, tăng thu nhập cho hộ gia đình Theo số liệu điều tra, trên 74,5% số hộ đã có từ 2 – 4 loại hình hoạt động sản xuất, kinh doanh Xuất hiện ngày càng nhiều hộ thoát khỏi tình trạng sản xuất tự cung tự cấp vươn lên sản xuất hàng hóa, nhiều trang trại theo mô hình hộ gia đình phát triển mạnh mẽ
Lượng hàng hóa nông sản ngày càng tăng, nhiều sản phẩm hàng hóa xuất khẩu đứng thứ nhất hoặc thứ hai thế giới như: Lúa gạo, cà phê, cao su …
Chính vị vậy kinh tế hộ gia đình hiện nay không những đảm bảo cho cuộc sống gia đình mà còn đóng vai trò lớn trong việc tạo sản lượng hàng hóa phục vụ xuất khẩu
Theo Bộ lao động Thương bình và Xã hội (2015) báo cáo, kết quả thực hiện các chỉ tiêu về giảm nghèo giai đoạn 2005 – 2010 (áp dụng chuẩn nghèo cũ): Tỷ lệ hộ nghèo cả nước đã giảm từ 22% (năm 2005) xuống còn 18,1% (năm 2006); 14,75% (năm 2007); 12,1% (năm 2008); 11,3% (năm 2009) và 9,45% (năm 2010)
Tỷ lệ hộ nghèo trên địa bàn 62 huyện nghèo giảm xuống còn 37% Đối với giai đoạn 2010- 2013 (áp dụng chuẩn nghèo mới): Tỷ lệ hộ nghèo cả nước đã giảm từ 14,2% (năm 2010) xuống còn 11,76% (năm 2011)
và 9,6% (năm 2012), năm 2013 còn khoảng 7,6% - 7,8% [23]
Trang 28Tuy nhiên, hiện nay khu vực miền núi kinh tế hộ vẫn còn hết sức khó
khăn do phương thức canh tác và các hủ tục lạc hậu chưa được loại bỏ Mức
sống cửa hộ gia đình vấn có sự khác biệt xa giữa thành thị và nông thôn, giữa
các vùng, nhất là vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu vùng xa Một số
tỉnh có tỷ lệ hộ nghèo còn cao như: Điện Biên (35,22%), Lai Châu (27,22%), Sơn
La (27,01%), Hà Giang (26,95%), Yên Bái (25,38%), Cao Bằng (24,2%)…(Bộ
Lao đông thương binh và Xã hội) [23]
2.3 Tình hình nghiên cứu tảo hôn trong và ngoài nước
2.3.1 Tình hình tảo hôn của một số nước trên thế giới
Tình trạng tảo hôn không chỉ diễn ra trên một hai nước mà hiện tượng
này diễn ra ở hầu hết các khu vực, các nước trên thế giới Tập trung chủ yếu ở
các nước chậm phát triển và đang phát triển, các khu vực có nền kinh tế kém
phát triển hoặc chính trị không ổn định như Châu Phi, Trung Đông, Đông
Nam Á, Tây Á…
Theo số liệu điều tra của Liên Hợp Quốc (LHQ) về quyền của bé gái
nhân ngày Quốc tế bé gái (ngày 11/10/2012) cho thấy hiện nay tình trạng bé
gái bị lạm dụng tình dục và nạn tảo hôn đang diễn ra vô cùng nhức nhối ở
nhiều nước, đặc biệt là các nước Trung Đông và Nam Á Tại Afghanistan,
theo khảo sát của Liên Hợp Quốc có tới 57% nữ giới nước này kết hôn trước
16 tuổi - là tuổi pháp luật nước này cho phép
Còn theo UNICEF, nạn tảo hôn rất phổ biến ở các nước đang phát
triển, nơi có đến 1/3 phụ nữ lấy chồng trước tuổi 18 Thống kê của Quỹ Dân
số Liên Hợp Quốc (UNFPA) khẳng định ít nhất 1/3 số “em gái” ở Nigeria lấy
chồng khi chưa được 15 tuổi (phổ biến là tuổi 13, có trường hợp chỉ 9 hoặc 10
tuổi) và 75% lấy chồng trước 18 tuổi Theo điều tra của Liên Hợp Quốc về
hôn nhân vị thành niên thế giới 2011 cho thấy: tại châu Phi và Trung Á, đặc
biệt là ở các nước Nigiê, Chad và Mali, có tới hơn 70% các em gái kết hôn
Trang 29trước 18 tuổi; ở các nước như Afghanistan, Bangladesh, Guinea, Cộng hòa Trung Phi, Mozambique, Burkina Faso, Thổ Nhĩ Kỳ và Nepal có tỷ lệ tảo hôn tới trên 50%; còn ở Ethiopia, Malawi, Madagascar, Sierra Leone, Cameroon, Eritrea, Uganda, Ấn Độ, Nicaragua, Zambia và Tanzania đều có tỷ lệ tảo hôn trên 40%
số các cô đều kết hôn trong độ tuổi từ 14-16 và chưa từng được đến trường Yemen với những lời bộc bạch thơ ngây cô bé Tahani nhớ lại những ngày đầu
tiên khi mới kết hôn với ông Majed, khi đó cô mới tròn 6 tuổi: “Khi cháu nhìn thấy ông ấy, cháu trốn đi Cháu ghét phải nhìn thấy ông ấy” Đó cũng là
những gì đang diễn ra tại một số vùng ở Ethiopia
Tại Ấn Độ
Ở Ấn Độ, ngay từ xa xưa, nhiều cô bé đã bị cha mẹ bắt ép lấy chồng là những người đáng tuổi cha, tuổi ông của các em Hiện vẫn còn khoảng 40% đám cưới trẻ em trên thế giới đang diễn ra ở nước này Nhiều em bé gái 5 tuổi
ở làng quê nghèo Ấn Độ bị gọi dậy trong đêm và được người thân bồng tới lễ cưới là chuyện bình thường diễn ra Do tảo hôn tại Ấn Độ là bất hợp pháp
và có thể bị phạt lên tới 100.000 Rupee (2.000 USD) và ngồi tù 2 năm, áp dụng với người tổ chức thực hiện hoặc biết mà không ngăn cản đám cưới trẻ
em Nên trước đây, những nghi lễ cưới thường được tổ chức vào ban đêm và
nó sẽ trở thành một bí mật được cả làng giữ kín Nhưng hiện nay, điều này dường như không còn là sự bận tâm bất kỳ người khách nào đang vui vẻ nhảy múa hay vị thầy tế thực hiện nghi lễ
Trang 30Những em gái từ 14 - 16 tuổi kết hôn ở Ấn Độ cũng là những đứa trẻ có con cuộc sống của chúng bị chiếm đoạt và hủy hoại hoàn toàn Những bé gái trở thành mẹ trong khi cơ thể chưa hoàn thiện về tâm sinh lý, không có kiến thức về sức khỏe sinh sản Chính vì vậy, tình trạng tử vong cả mẹ lẫn con khi những “người vợ nhí” sinh con dường như không còn xa lạ ở các trạm y tế
của các quốc gia này
Tại Anh
Ở nước Anh, theo số liệu điều tra đăng tải trên Sun Times, trong số 8.000 trường hợp vi phạm luật hôn nhân mỗi năm, có khoảng trên 1.000 trường hợp vi phạm khi kết hôn với các bé gái dưới 15 tuổi Tình trạng này xảy ra trong nhiều năm qua song vẫn chưa được lên tiếng chấm dứt Còn theo
số liệu của Trung tâm Nghiên cứu Quốc tế về Phụ nữ ở Anh (ICRW), năm
2012 có hơn 50 triệu cô dâu trẻ con trên toàn thế giới, và dự kiến sẽ tăng lên đến 100 triệu trong thập kỷ tới Theo đà phát triển hiện nay, Liên Hợp Quốc ước tính trong thập kỷ tới có khoảng 1 triệu bé gái sẽ kết hôn trước tuổi 18 Đây thực sự là hồi chuông cảnh báo nghiêm trọng cho vấn nạn hôn nhân này trong các cộng đồng
2.3.2 Tình hình nghiên cứu tảo hôn và kinh tế hộ ở Việt Nam
Tảo hôn là một tập quán khá phổ biến trong các cộng đồng dân tộc thiểu số ở nước ta Tảo hôn đang diễn ra trên khắp các vùng nông thôn miền núi, nơi có người dân tộc thiểu số cư trú, đặc biệt là ở vùng núi phía Bắc, Tây Bắc và Tây Nguyên, trong đó, các tỉnh phía Tây Bắc có tỷ lệ tảo hôn cao hơn hẳn các vùng khác với trên 30%
Trang 31Bảng 2.2: Tỷ lệ tảo hôn tại một số tỉnh cao nhất cả nước (năm 2009) STT Tỉnh/thành phố Nam 15 - 19 Nữ 15 - 17 Nứ 15 – 19
(Nguồn: Cục chăm sóc và bảo vệ trẻ em, Bộ LĐ-TB-XH (2010) [20]
Một số tỉnh có tỷ lệ tảo hôn cao nhất trong cả nước là: Sơn La, Lai Châu, Hà Giang, Lào Cai, Quảng Trị, Kon Tum, Bạc Liêu Cả nước chỉ có 9 tỉnh có trên 5% dân số nam 15-19 tuổi và 14 tỉnh có trên 5% dân số nữ 15-17 tuổi đã từng kết hôn Đặc biệt, số liệu thống kê về tỷ lệ tảo hôn theo các tỉnh trong 3 năm gần đây (2009 - 2012) lại cảnh báo một thực tế đáng buồn, cụ thể như sau [26]
Tỉnh Sơn La: Theo ông Trần Đình Thuận, Chi cục phó DS-KHHGĐ
tỉnh Sơn La cho biết: tỷ lệ tảo hôn của tỉnh cao vào hàng nhất cả nước: xã (Lóng Luông huyện Mộc Châu) từ năm 2005 đến nay có khoảng 390 cặp kết hôn thì có đến 204 cặp vợ chồng tảo hôn ở lứa tuổi từ 12 - 17 tuổi, chiếm gần 52% cặp vợ chồng đã kết hôn; xã Vân Hồ tỷ lệ tảo hôn là 68% so với tổng số cặp kết hôn, xã Lóng Sập (huyện Mộc Châu) chiếm 49%, các xã Kim Bon, Tân Lang (huyện Phù Yên) có tỷ lệ tảo hôn từ 25,4 đến 39%, xã Tà Xùa
Trang 32(huyện Bắc Yên) là 35% và Muổi Nọi (huyện Thuận Châu) có tỷ lệ thấp nhất
là 27% [25]
Tỉnh Lai Châu: Theo số liệu Chi cục Dân số Kế hoạch hóa Gia đình
năm 2012, với khoảng gần 1/3 dân số nam và nữ 15 - 19 tuổi đã từng kết hôn, đưa con số toàn tỉnh có hơn 35% số cặp vợ chồng DTTS kết hôn theo hủ tục tảo hôn
Tỉnh Lào Cai: Trưởng ban Dân vận Lào Cai, bà Hoàng Thị Tráng
khẳng định: Tảo hôn xảy ra ở hầu hết các dân tộc trong tỉnh, nhưng người Mông, Dao, Tày, Nùng, Phù Lá có tỷ lệ cao nhất Theo số liệu thống kê chưa đầy đủ, từ năm 2006 - 2010 có 952 cặp tảo hôn Trong đó, huyện Sapa là 36,2% (453/1.251 cặp); Si Ma Cai: 6,2% (52/826 cặp) Còn tại xã Thải Giàng Phố, huyện Bắc Hà (Lào Cai) 1 năm (2011) có đến 21 cặp vợ chồng tảo hôn, độ tuổi phổ biến từ 14 đến 17 tuổi, thậm chí có em 13 tuổi đã lập gia đình Nạn tảo hôn xảy ra ở hầu hết các thôn, bản, nhiều nhất là ở cộng đồng người Mông, Dao, Phù Lá…Thậm chí có những em chỉ mới học lớp 5 đã phải nghỉ học ở nhà lấy chồng [24]
Tỉnh Kon Tum: Theo chị Y Pheng - nguyên Phó Chủ tịch Hội Phụ nữ
xã Rờ Cơi, huyện Sa Thầy, Kon Tum, thì nhiều em chỉ khoảng 13 tuổi là "bắt chồng”, 14 tuổi sinh con đầu lòng Tình trạng trẻ em bỏ học, tảo hôn chính quyền địa phương không hay biết và đến khi biết thì việc đã rồi Nhiều em năm nay mới 19 tuổi đã có hai đứa con, đứa đầu chỉ gần 4 tuổi Sinh con khi chưa đủ trưởng thành và hoàn thiện về thể chất, sức khỏe yếu, con cái nheo nhóc nên không thể lao động, cuộc sống khó khăn vô cùng [21]
2.3 Hậu quả của tảo hôn và kinh tế hộ gia đình
Tảo hôn là chỉ nam giới và nữ giới kết hôn khi chưa đủ tuổi Những trường hợp đó là kết hôn thiếu khoa học và không đúng với sự phát triển về tâm sinh lý cửa con người, cũng như đạo đức và phong tục của con người
Trang 33Việt Nam Tảo hôn có những tác động xấu trong việc phát triển kinh tế hộ gia đình và làm suy thoái giống nòi để lại hậu quả xấu cho xã hội Hiện nay nạn tảo hôn diễn ra phổ biến ở nước ta
Đặc biệt là ở vùng miền núi có điều kiện kinh tế khó khăn, trình độ dân trí của người dân còn thấp, các hủ tục lạc hậu chưa được loại bỏ
Theo nghiên cứu của Đại Học y khoa Boston Mỹ đã phát hiện những đứa trẻ sinh ra từ những ba mẹ tuổi vị thành niên dưới mười tám tuổi thường có tỷ lệ suy dinh dưỡng cao so với những bà mẹ có độ tuổi lớn hơn và hậu quả mắc phải nhiều chứng bệnh khi trưởng thành Ta thấy rằng “gia đình là tế bào của xã hội” gia đình tốt thì xã hội mới tốt, xã hội tốt là điều kiện thúc đẩy gia đình tiến bộ, vì vậy khi điều kiện kinh tế hộ gia đình, khó khăn, thiếu thốn, không phát huy được vai trò của mình thì xã hội cũng có nhiều vấn đề nảy sinh Kết hôn là mặt tích cực là quy luật tự nhiên của con người nhưng rất cần nhìn nhận đúng mặt tích cực của nó để hôn nhân thực sự mang lại hạnh phúc cho gia đình và tiến bộ xã hội Nhiều nghiên cứu đã khẳng định sinh đẻ trong lứa tuổi vị thành niên có ảnh hưởng đến sức khỏe của đứa trẻ sinh ra, vì cơ thể người mẹ chưa phát triển hoàn thiện, chưa đủ sức khỏe nuôi dưỡng bào thai, mang thai ở lứa tuổi vị thành niên
là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến tỷ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh cao, và các trường hợp này chủ yếu xảy ra ở miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số Theo kết quả điều tra nhân khẩu học và sức khỏe 2007 cửa Ủy ban Quốc gia DS
- KHHGĐ Nguyên nhân dẫn tới các trường hợp chết chu sinh, phần lớn là những phụ nữ mang thai ở độ tuổi dưới 19
Do vậy, tảo hôn làm gia tăng và giảm chất lượng dân số thêm gánh nặng cho xã hội và là nguyên nhân nghèo đói ở miền núi, vùng đồng bào dân tộc Vậy tuyên truyền giáo dục về vấn đề tảo hôn không chỉ là vấn đề riêng của gia đình, cơ quan chức năng và cộng đồng mà là vấn đề và trách nhiệm của toàn xã hội
Trang 34Theo kết quả khảo sát mức sống dân cư năm 2010 cửa Tổng cục Dân số
- Kế hoạc hóa gia đình
Trong năm 2010, thu nhập bình quân/ người/ tháng chung cả nước theo giá hiện hành đạt 1.387 nghìn đồng, tăng 39,4% so với năm 2008, tăng bình quân 18,1% một năm trong thời kỳ 2008-2010 Thu nhập thực tế (thu nhập sau khi loại trừ yếu tố tăng giá) của thời kỳ 2008 -2010 tăng 9,3% mỗi năm, cao hơn mức tăng thu nhập thực tế 8,4% mỗi năm của thời kỳ 2006-2008 và 6,2% mỗi năm của thời kỳ 2004-2006, thấp hơn mức tăng thu nhập thực tế 10,7% mỗi năm của thời kỳ 2002-2004 [27]
Thu nhập ở khu vực thành thị và nông thôn đều tăng so với năm 2008 Thu nhập bình quân 1 người 1 tháng ở khu vực thành thị đạt 2.130 nghìn đồng; khu vực nông thôn đạt 1.071 nghìn đồng, chênh lệch gần gấp 2 lần
Thu nhập bình quân 1 người 1 tháng của nhóm hộ nghèo nhất (nhóm thu nhập 1) đạt 369 nghìn đồng, tăng 34%, của nhóm hộ giàu nhất (nhóm thu nhập 5) đạt 3.411 nghìn đồng, tăng 38,7% so với năm 2008 [27]
Thu nhập bình quân 1 người 1 tháng năm 2010 theo giá hiện hành của các vùng đều tăng so với năm 2008 Tuy nhiên, thu nhập giữa các vùng có sự chênh lệch Vùng có thu nhập bình quân đầu người cao nhất là Đông Nam Bộ, cao gấp 2,6 lần vùng có thu nhập bình quân đầu người thấp nhất là vùng Trung du và miền núi phía Bắc
Tốc độ tăng thu nhập năm 2010 của hộ dân cư chủ yếu do tốc độ tăng
từ việc hưởng tiền lương, tiền công và công việc tự làm xây dựng; ở khu vực nông thôn có thêm công việc tự làm thương nghiệp
Như vậy, ta có thể dễ dàng nhận thấy rằng vì sao mức sống hộ gia đình
và tỷ lệ hộ nghèo ở miền núi lại cao Một trong những nguyên nhân dẫn đến đói nghèo chính là do nhận thức của người dân, không có kiến thức trong sản xuất, nạn tảo hôn, lấy vợ, lấy chồng và sinh con sớm do đó cuộc sống đã khó
Trang 35nay còn khó khăn hơn Tảo hôn càng làm sâu sắc hơn tình trạng nghèo đói trên tất cả các mặt Bỏi vì phụ nữ ở nông thôn có trình độ học vấn thấp, tuổi đời còn rất trẻ chưa đủ khả năng để lo cho gia đình thì nạn tảo hôn đã bắt họ gánh vác một trách nhiệm lớn là lo cho cuộc sống gia đình, nuôi dậy con cái trong khi kiến thức của họ không có
Mặt khác, tảo hôn cũng là yếu tố làm tăng tỷ lệ sinh đồng thời cũng làm tăng tỷ lệ tử Đây là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến đói nghèo các hộ nông dân
ở khu vực nông thôn Quan niệm sinh nhiều con của đồng bào dân tộc đã ăn sâu vào tiềm thức của mỗi người dân rất khó thay đổi, họ quan niệm rằng phải sinh nhiều con để có nhiều lao động phục vụ nhu cầu làm nương rẫy và phải
có con trai để nối dõi nên các cặp vợ chồng khi sinh con thứ hai chưa có con trai thì vẫn tiếp tục cố sinh con thứ ba, thứ tư cho tới khi có con trai mới thôi Quan niệm này đã dẫn tới sự chênh lệch về giới tính Khi gia đình đông con thì cha mẹ coi con cái là gánh nặng kinh tế nên ép con cái lấy chồng lấy vợ sớm rồi cho ra ở riêng Do vậy, nạn tảo hôn cứ tiếp tục truyền từ thế hệ trước sang thế hệ sau tạo nên một vòng luẩn quẩn không có lối thoát
Trang 36PHẦN 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu
- Các tổ chức đoàn thể có liên quan trong xã: Hội phụ nữ xã, đoàn thanh niên, ban tư pháp xã…
- Cộng đồng dân tộc La Chí tại xã Yên Thành, huyện Quang Bình, tỉnh
Hà Giang
3.1.2 Phạm vi nghiên cứu
- Đề tài nghiên cứu trên địa bàn xã Yên Thành, huyện Quang Bình, Tỉnh Hà Giang
3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành
3.2.1 Địa điểm nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu được tiến hành tại xã Yên Thành, huyên Quang Bình, tỉnh Hà Giang
3.2.2 Thời gian nghiên cứu
Từ ngày 15/01/2015 - 15/05/2015
3.3 Nội dung nghiên cứu
- Điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội của xã Yên Thành
- Tác động của tảo hôn tới kinh tế hộ gia đình trên địa bàn nghiên cứu+ Đánh giá tác động của tảo hôn tới lao động và việc làm
+ Đánh giá tác động của tảo hôn đến kinh tế nông hộ
+ Đánh giá tác động của tảo hôn đến khả năng huy động và quản lý các nguồn lực trong gia đình
- Giải pháp để hạn chế và tiến tới xóa bỏ nạn tảo hôn góp phần phát
triển kinh tế hộ của cộng đồng dân tộc La Chí
Trang 373.4 Phương pháp nghiên cứu
3.4.1 Phương pháp thu thập thông tin thứ cấp
Thu thập số liệu qua cán bộ Tư pháp, Dân số, Thống kê xã và qua 5 thôn có dân tộc La Chí sinh sống nhằm thống kê các hộ tảo hôn Thu thập thông tin số liệu qua báo cáo tổng kết kinh tế xã hội của xã từ năm 2012 -
2014 và báo cáo của các cán bộ chuyên trách về Khuyến Nông, Địa chính, Thống Kê để đánh giá điều kiện tự nhiên – kinh tế xã hội của xã và hộ gia đình Các công trình nghiên cữu đã công bố, các văn bản, báo cáo tạp chí, các nghị định chính sách liên quan tới hôn nhân gia đình và tình hình phát triển kinh tế hộ
3.4.2 Phương pháp thu thập thông tin sơ cấp
Chủ yếu sử dụng một số công cụ trong bộ công cụ PRA cụ thể là:
+ Phương pháp phỏng vấn bằng phiếu điều tra kết hợp phỏng vấn bán câu trúc đối với những hộ chọn làm mẫu điều tra
- Chọn mẫu điều tra: Xã YênThành có 8 thôn bản trong đó đồng bào dân tộc La Chí sinh sống tập trung ở 5 thôn, tỷ lệ tảo hôn và số hộ La Chí sinh sống ở các thôn khác nhau, chọn 3 thôn đại diện để tiến hành điều tra 50 hộ theo tỷ lệ dựa vào số hộ và số hộ tảo hôn của người La Chí trong thôn để lấy
số lượng hộ cần điều tra cụ thể như sau:
Tổng số hộ La Chí của 3 thôn là 109 hộ trong đó : Thôn Yên Thành có 56
hộ dân tộc La Chí chiếm 51,4% , tỷ lệ tảo hôn cao nhất (tính từ năm 2000 trở về trước thì có tới 87% kết hôn sớm) và thôn nằm ở phía Đông của xã có địa hình khá cao so với hai thôn Như vậy số hộ cần điều tra tương ứng là 26 hộ
Thôn Thượng Bình có 31 hộ La Chí chiếm 28,4%, tỷ lệ tảo hôn cao đứng sau thôn Yên Thành và nằm ở phía Nam của xã có địa hình cao và phức tạp nhất Như vậy số hộ cần điều tra tương ứng là 14 hộ
Trang 38Thôn Pà Vầy Sủ có 22 hộ La Chí chiếm 20,2%, tỷ lệ tảo hôn thấp nhất,
và nằm ở phía Đông của xã có địa hình thấp so với hai thôn trên Như vậy số
hộ cần điều tra tương ứng là 10 hộ
Vậy tổng số mẫu điều tra ở 3 thôn la 50 hộ dân tộc La Chí
+ Phương pháp thảo luận nhóm và các nhóm đối tượng xác định
+ Phương pháp quan sát: Qua thực tế quan sát nhà của, vườn, chuồng trại của đối tượng nghiên cứu
3.4.3 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu
- Phương pháp phân tích tài liệu
- Các số liệu thu thập sẽ được xử lý trên máy tính phần mềm Excel (nhập số liệu điều tra bằng bảng hỏi)
Trang 394.1.1.2 Điều kiện địa hình
Địa hình đồi núi chia cắt phức tạp bởi nhiều dẫy núi cao, độ cao trung bình
từ 1.000 - 1.200 m so với mực nước biển Địa hình xã Yên Thành có 2 dạng:
- Địa hình núi cao, đây là kiểu địa hình đặc trưng nhất của xã chiếm tới 80% tập trung ở các thôn như: Yên Thành, Đồng Tâm, Đồng Tiến, Tân Thượng, Thượng Bình, Pà Vầy Sủ Địa hình phức tạp hiểm trở khó khăn trong phát triển kinh tế - xã hội
- Địa hình thung lũng hẹp đây là diện tích nằm xen kẽ giữa các dãy núi cao và hệ thông suối có độ dốc nhỏ Tập trung chủ yếu ở hai thôn Yên Lập, Yên Thượng
Nhân dân các thôn bản sống phân tán, rải rác, hệ thống đường giao thông đã được đầu tư xây dựng có đường ô tô đến trung tâm thôn, bản nhưng chủ yếu là đường đất, đường liên xóm chủ yếu là đường mòn gặp rất nhiều
Trang 40khó khăn trong việc đi lại giao lưu buôn bán với các vùng ngoài nên có ảnh hưởng không nhỏ tới quá trình phát triển kinh tế - xã hội của địa phương
4.1.1.3 Điều kiện khí hậu- thủy văn
- Về khí hậu: Yên Thành nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, một năm chia làm 4 mùa rõ rệt đặc biệt mùa đông thường kéo dài và có hiện tượng rét đậm, rét hại
- Thủy văn: Trên địa bàn xã có một hệ thống suối chính chảy dọc theo quốc lộ 279 ngoài ra còn có hệ thống các suối nhỏ, các khe nước ở hầu hết cac thôn với lưu lượng nước khá lớn đáp ứng đủ nước sinh hoạt và phần nào phục vụ cho tưới tiêu
4.1.1.4 Hiện trạng sử dụng đất và tài nguyên rừng
a Tài nguyên đất
Tổng diện tích tự nhiên toàn xã là 4.696 ha, do địa hình bị chia cắt bởi các dẫy núi cao nên diện tích đất canh tác nông nghiệp chỉ chiếm 13,8% Trong khi đó diện tích đất đồi núi và đất chưa sử dụng còn tương đối lớn 5,3% năm 2012 và tới năm 2014 là 5,2% Trong thời gian gần đây được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước trồng khoán rừng cho các hộ dân, hỗ trợ giống cây lâm nghiệp (chủ yếu là cây keo) đã phần nào giảm được diện tích đất chưa sử dụng, bỏ hoang và tăng diện tích đất lâm nghiệp Diện tích đất lâm nghiệp chiếm 74,2% trong tổng diện tích đất tự nhiên năm 2014, diện tích này có xu hướng giảm xuống trong hai năm trở lại đây, 74,6% năm 2012 giảm xuống còn 74,2 do diện tích rừng trồng đã tới tuổi khai thác và người dân đang khai thác chưa kịp trồng lại Tuy nhiên biến động đó không đáng kể, diện tích rừng tự nhiên vẫn được bảo vệ rất tốt