1. Trang chủ
  2. » Y Tế - Sức Khỏe

Ô nhiễm đơn bào gây bệnh đường ruột và coliform chịu nhiệt trong rau thủy sinh ở vùng nước thải từ ruộng đến chợ tại hà nội

8 441 6

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 290,04 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu được tiến hành vào hai mùa mưa và khô năm 2005 ở khu vực trồng rau sử dụng nước thải và không dùng nước thải ở thành phố Hà Nội nhằm đánh giá mức độ ô nhiễm coliform chịu nhiệ

Trang 1

Nghiên cứu được tiến hành vào hai mùa mưa và khô năm 2005 ở khu vực trồng rau sử dụng nước thải và không dùng nước thải ở thành phố Hà Nội nhằm đánh giá mức độ ô nhiễm coliform chịu nhiệt (ThC) và các đơn bào đường ruột (Giardia spp., Cryptosporidium spp., và Cyclospora spp.) trong rau trồng từ ruộng đến chợ Chúng tôi thu thập 314 mẫu rau muống, rau ăn sống, 36 mẫu nước tưới rau và 46 mẫu nước vẩy rau, đồng thời quan sát và phỏng vấn nông dân, người vận chuyển, bán lẻ và bán buôn tại các chợ ở Hà nội

Mức độ ô nhiễm ThC ở rau trồng bằng nước thải cao hơn rau không trồng bằng nước thải Các đơn bào đường ruột có mặt ở cả rau trồng bằng nước thải và không nước thải Số lượng trung bình của Giardia spp và Cryptosporidium spp trong các mẫu rau ở vùng nước thải cao hơn vùng không nước thải Rau bị nhiễm Cyclospora spp ít hơn so với Giardia spp và Cryptosporidium spp với tỉ lệ 4-5% ở vùng nước thải và không nước thải ở cả hai mùa Mức độ ô nhiễm ThC trong rau muống tăng dần theo chuỗi từ ruộng đến chợ Nước (vòi hoặc bể dự trữ) dùng để vẩy rau tại chợ có mức độ ô nhiễm ThC ~ 102

- 103 /100ml ThC cũng có mặt ở tất cả các loại rau thu thập được tại chợ với mức độ 102

-103

CFU/g Tỷ lệ nhiễm các đơn bào đường ruột trong các mẫu rau tại chợ từ 7-33% với số lượng trung bình dưới 2 bào nang/g

Nghiên cứu cho thấy sự ô nhiễm của ThC và các đơn bào đường ruột vì chúng có mặt trong rau và nước thu thập từ ruộng, trong quá trình vận chuyển từ ruộng đến chợ và tại chợ

Từ khóa: ThC, đơn bào đường ruột, nước thải, rau, Hà Nội

Contamination of protozoan parasites and Thermotolerant Coliforms in wastewater-fed aquatic plants from "field to market" in Hanoi

Phung Dac Cam (****), Anders Dalsgaard (*****)

The study was conducted in 2 seasons of 2005 in a peri-urban area using wastewater and another using non-wastewater in Hanoi to assess contamination level of thermotolerant coliforms (ThC) and

Ô nhiễm đơn bào gây bệnh đường ruột và Coliform chịu nhiệt trong rau thủy sinh ở vùng

nước thải từ ruộng đến chợ tại Hà Nội

Nguyễn Thùy Trâm (*), Vương Tuấn Anh (**), Lise T∅nner Klank (***),

Phùng Đắc Cam (****), Anders Dalsgaard (*****)

Trang 2

1 Đặt vấn đề

Sử dụng nước thải trong nông nghiệp và nuôi

trồng thủy sản được áp dụng rộng rãi ở nhiều nơi

trên thế giới [1,2] vì đem lại giá trị dinh dưỡng cao

cho cây trồng và vật nuôi Tại các nước đang phát

triển như Cam-pu-chia, Việt nam, Pakistan và

Mexico, nước thải chưa xử lý thường được sử dụng

phổ biến để nuôi trồng thủy sản khu vực ven đô

[3,4,5,6] Tuy nhiên, nước thải cũng chứa nhiều

mầm bệnh [7], đặc biệt là coliform gây bệnh đường

ruột (ThC) Ở Cam-pu-chia, mức độ ô nhiễm ThC trong nước hồ từ 104

- 107 /100ml [8] Tại khu vực ven đô thuộc thành phố Hà nội, ThC tìm thấy trong các ao nuôi cá sử dụng nước thải thành phố với mức độ ô nhiễm cao tới 106CFU/100ml [4] Đã có nhiều bằng chứng cho thấy sử dụng nước thải có thể mang lại nguy cơ về mặt sức khỏe cho người lao động do phơi nhiễm với các tác nhân gây bệnh từ nước thải [9, 10] hoặc cho người tiêu dùng khi ăn các loại rau thủy sinh không nấu chín [11]

protozoan parasites (Giardia spp., Cryptosporidium spp., và Cyclospora spp.) in vegetables from field to market Vegetable samples including morning glory and other raw eaten vegetables, splashing water were collected, together with interviews were conducted with farmers, transportation men and traders in selected Hanoi markets

Contamination level of ThC in vegetables cultivated in wastewater was higher than those cultivated

in wastewater Protozoan parasites were found in vegetables from both wastewater and non-wastewater area Average numbers of Giardia spp and Cryptosporidium spp in vegetable samples from wastewater area were higher than those from non-wastewater Percentage of vegetable samples contaminated with Cyclospora spp was lower than that contaminated with Giardia spp và Cryptosporidium spp and was about 4-5% in wastewater and non-wastewater area in the 2 seasons Contamination level of ThC in morning glory samples increased gradually from field to market Splashing water from tap or storage containers at markets was contaminted with ThC (~ 102

- 103 CFU/100ml) ThC was also present in all kinds of vegetable samples collected at the selected Hanoi markets (102

-103 CFU/g) Percentage of vegetable samples at markets contamined with protozoan parasites was from 7-33% and average number of the parasites was found to be less than 2 cysts per gram In conclusion, the study shows that ThC and protozoan parasites were found in vegetables and splashing water from field, during transportation to market and at market

Keywords: thermotolerant coliforms, protozoan parasites, wastewater, vegetables, Hanoi

Tác giả:

(*) ThS Nguyễn Thùy Trâm, Phòng Nghiên cứu các nhiễm khuẩn đường ruột, Khoa Vi khuẩn,

Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương, 1 Yersin, Hà nội Tel: +84 38219074, email: huongtram07@yahoo.com (**) TS BS Vương Tuấn Anh, Phòng Nghiên cứu các Nhiễm khuẩn Đường ruột, Khoa Vi khuẩn,

Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương, 1 Yersin, Hà nội Tel: +84 943901375, email: vtanihe@yahoo.co.uk (***) GS TS Phùng Đắc Cam, Phòng Nghiên cứu các nhiễm khuẩn đường ruột, Khoa Vi Khuẩn,

Viện VSDT Trung Ương, Hà nội Tel: +84 38219074, email: cam@fpt.vn.

(*****) TS Lise T ∅ nner Klank, Khoa Miễn Dịch và Ký Sinh Trùng, Viện Thú Y Quốc Gia,

Trường Đại học Kỹ Thuật Đan Mạch Email: ltj@vet.dtu.dk.

Email: ad@life.ku.dk

Trang 3

Các đơn bào gây bệnh đường ruột

(Cryptosporidium spp., Cyclospora spp., and

Giardia spp.) là các mầm bệnh có nguồn gốc từ

phân Các loại đơn bào này phần lớn là nguyên

nhân gây các dịch bệnh đường ruột lây truyền qua

thực phẩm và nước trên thế giới [12,13,14] Những

loại đơn bào này có thể phát hiện ở trong nước tưới

[15,16], do đó việc tái sử dụng nước thải sẽ mang

đến những nguy cơ sức khỏe tiềm ẩn [10,17]

Ở các nước phát triển, những dịch bệnh đường

ruột do vi khuẩn và đơn bào gây bệnh đều liên quan

đến việc tiêu thụ các loại rau được nhập khẩu từ các

nước đang phát triển [18,19] Một số dịch bùng phát

đều có liên quan đến mức độ ô nhiễm coliform gây

bệnh rất cao từ 0.00-6.81 log10 CFU ml-1[20] hoặc

có nhiễm đơn bào trong rau [16]

Hiện nay, ở Việt nam có rất ít thông tin về chất

lượng rau và các nguy cơ tiềm ẩn đối với các sản

phẩm từ nơi nuôi trồng bằng nước thải đến nơi bán

(chợ bán lẻ, chợ đầu mối) Chúng tôi tiến hành

nghiên cứu này với mục tiêu nhằm xác định và đánh

giá mức độ ô nhiễm ở rau thủy sinh nuôi trồng bằng

nước thải tại khu vực ven đô, trong khi vận chuyển

phân phối đến chợ và trong khi bày bán tại chợ

2 Phương pháp nghiên cứu

2.1.Địa điểm nghiên cứu và phương pháp

điều tra

Nghiên cứu được tiến hành tại khu vực ven đô

thành phố Hà nội tại hai điểm trong mùa mưa từ

tháng 4-6, mùa khô từ tháng 11-12 năm 2005 Hoàng

Liệt là địa điểm lấy nước thải từ hai con sông chứa

nước thải lớn nhất của thành phố (Tô Lịch và Kim

Ngưu) thông qua trạm bơm và hệ thống kênh dẫn

Điểm nghiên cứu thứ hai là Long Biên, ở đó nguồn

nước tưới chủ yếu là ao chứa nước mưa và nước sông

Hồng hoặc nước giếng hộ gia đình Tại mỗi điểm

nghiên cứu, chúng tôi chọn ngẫu nhiên 6 hộ gia đình

tham gia trồng rau Loại rau nghiên cứu là rau

muống (tên khoa học: Ipomoea aquatica), loại rau

chính được trồng tại hai điểm nghiên cứu trên Mỗi

hộ gia đình lấy 6 mẫu Trong mùa khô năm 2005,

chúng tôi tiến hành lấy mẫu nước từ 6 ruộng rau tại

Hoàng Liệt và ao chứa nước mưa tại Long Biên Qui

trình lấy mẫu được mô tả trong Bảng 1

Phần phỏng vấn sử dụng bảng hỏi thiết kế sẵn

và quan sát Chúng tôi theo dõi từ "ruộng đến chợ"

để thu thập thêm thông tin về nguồn ô nhiễm có thể

xảy ra sau khi rau đã thu hoạch Cùng thời gian này, chúng tôi tiến hành một nghiên cứu độc lập tại chợ Hoàng Liệt gần với khu vực nuôi trồng rau bằng nước thải và do đó phần lớn rau từ khu vực đó được bày bán ở đây và chợ Hàng Bè ở trung tâm Hà nội Tại chợ Hàng Bè, rau bày bán có từ nhiều khu vực sản xuất khác nhau Các loại rau chính được lấy mẫu là rau húng-Ocimum basilicum, rau mùi-Coriandrum sativum, kinh giới-Origanum maiorana, rau muống và rau rút-Oenanthe fluviatilis) từ hai người bán rau tại chợ và bán rong được lựa chọn ngẫu nhiên Mẫu nước vẩy rau được chúng tôi lấy từ vòi nước và từ các đồ chứa mà người bán hàng thường sử dụng Thông tin về thói quen bảo quản của người bán hàng cũng được thu thập thông qua phỏng vấn và quan sát

2.2.Phương pháp lấy mẫu rau và nước Mỗi mẫu rau lấy 10 gram rau gồm cả lá và thân Đựng mẫu trong túi ni lon sạch và bảo quản lạnh trong khi vận chuyển về phòng thí nghiệm tại Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương Thời gian vận chuyển từ lúc lấy mẫu đến khi tới phòng thí nghiệm là khoảng 1h Tổng cộng có 96 mẫu rau được lấy tại Hoàng Liệt và 118 mẫu từ Long Biên Trong nghiên cứu độc lập tại hai chợ, chúng tôi tiến hành lấy được

100 mẫu rau Đối với mỗi mẫu nước, chúng tôi lấy một lít mẫu tổng hợp (lấy vào thời điểm 8, 10, 12h) tại ruộng ở Hoàng Liệt và ao tại Long Biên với tần suất 2 tuần/lần tại Hoàng Liệt và 1 tháng/lần tại

Bảng 1 Quy trình thu thập mẫu rau từ ruộng đến

chợ và tại chợ

Lưu ý: Các mẫu được lấy từ 6 hộ gia đình ở cả hai mùa mưa và mùa khô

Trang 4

Long Biên Tổng số có 33 mẫu nước được thu thập

từ 6 ruộng rau tại Hoàng Liệt từ tháng 10-12/2005

trong khi đó chúng tôi chỉ lấy 3 mẫu nước ao tại

Long Biên từ tháng 11-12/2005 Tại chợ, chúng tôi

thu thập tổng cộng 46 mẫu nước vẩy rau Trong khi

vận chuyển tới phòng thí nghiệm, mẫu nước luôn

được bảo quản lạnh ở nhiệt độ 4-80C

2.3.Phương pháp phân tích mẫu tìm ThC và

đơn bào

Áp dụng phương pháp MPN [20] để tìm ThC

(gọi tắt là coliform) trong mẫu nước và mẫu rau

Việc xử lý mẫu rau theo qui trình sau đây: 10 gram

rau được cho vào một cái túi đặc biệt; thêm vào đó

100 ml NaCl 0.9% vô trùng; thêm nước cất cho đến

khi ngập hết mẫu và cho túi mẫu vào máy lắc

Pulsifier; sau khi lắc 30 giây, lấy 1 ml dung dịch

chuyển sang ống nghiệm vô trùng chứa 9ml dung

dịch Ringer 1/4; pha loãng 10 lần và đưa ống

nghiệm vào tủ ấm 440

C (±0.250C) trong 24h Đọc kết quả dựa trên số ống dương tính (có sinh hơi) ở

mỗi nồng độ pha loãng và đối chiếu với bảng MPN

Phương pháp tìm ThC trong mẫu nước cũng được

tiến hành tương tự [20]

Phương pháp tìm đơn bào (Giardia spp.,

Cryptosporidium spp., và Cyclospora spp) chỉ áp

dụng trên mẫu rau và được tiến hành như sau: 10

gram rau được rửa bằng máy lắc Pulsifier và nước

rửa được quay ly tâm; 200μl khối lượng cuối cùng

được ủ ấm 370C trong 2-3h trên lam kính Teflon và

sau đó được nhuộm kháng thể đơn dòng bắt màu

Cryptosporidium spp; những bào nang của các loại

đơn bào này được soi và đếm dưới kính hiển vi sử

dụng ánh sáng huỳnh quang, phóng đại 400 lần; ước

tính số lượng trên mỗi gram rau Cyclospora spp

được tìm trong 22μl (0.11g) thể tích cuối cùng dựa

trên nguyên tắc tự bắt màu huỳnh quang dưới kính

hiển vi huỳnh quang[8]

2.4.Phân tích số liệu

Số liệu được tiến hành phân tích trên phần mềm

phân tích thống kê SPSS Số lượng coliform được

chuyển sang dạng logarithm để bảo đảm phân bố

chuẩn Sử dụng các phép kiểm định thống kê sau

đây cho nghiên cứu này: i) Student' T-test để so

sánh trung bình của ThC giữa các vị trí lấy mẫu; ii)

ANOVA test để so sánh trung bình của coliform và

tỉ lệ mẫu rau tìm đơn bào giữa các thời điểm lấy

mẫu tại từng địa điểm nghiên cứu; iii) Fisher's exact test để tìm mối liên quan giữa mùa với tỉ lệ mẫu rau có tìm thấy đơn bào đường ruột Mức ý nghĩa thống kê được chọn là p<0,05

3 Kết quả nghiên cứu 3.1.Chất lượng nước tưới rau và rau từ ruộng đến chợ ở Hà Nội

Giữa vùng nước thải và vùng không sử dụng nước thải, hàm lượng coliform trong nước có sự chênh lệch đáng kể Hàm lượng coliform trong nước thải dùng để tưới rau ở Hoàng Liệt ~104CFU/ 100ml Ở Long Biên, vùng không sử dụng nước thải, cũng có hàm lượng coliform trung bình khoảng 102

-103 CFU/100ml Hàm lượng coliform trong rau ở mỗi thời điểm lấy mẫu tại hai vùng được thể hiện ở Bảng 2 Trong khi hàm lượng coliform ở rau của vùng nước thải là (10-103

CFU/gram), ở vùng không nước thải là 10-102

CFU/gram Số lượng coliform trung bình trong các mẫu vào mùa mưa cao hơn mùa khô (p=0.002) Ở cả hai khu vực, hàm lượng coliform có xu hướng ngày càng cao ở những thời điểm lấy mẫu sau cùng Tuy nhiên, hàm lượng coliform trung bình có sự khác biệt đáng kể giữa hai vùng (p<0.05) khi rau được thu thập ở ruộng do nghiên cứu viên, người nông dân trước và sau khi rửa rau Hơn nữa sự khác biệt về hàm lượng coliform giữa các thời điểm lấy mẫu là có ý nghĩa thống kê (p<0.001)

Đơn bào gây bệnh có mặt trong rau muống theo chuỗi từ "ruộng đến chợ" Nhìn chung, tỉ lệ dương

Bảng 2 Số lượng Coliform ở rau muống được thu

thập từ ruộng đến chợ ở Hà Nội, Việt Nam

Lưu ý: Các chữ cái chỉ ra các loại mẫu khác nhau: A) rau được lấy ở ruộng do nghiên cứu viên; B) rau được lấy ở ruộng do người nông dân trước khi rửa; C) rau được lấy ở ruộng do người nông dân sau khi rửa; CD) rau được lấy ở ruộng do người nông dân và được bảo quản qua đêm tại hộ gia đình và D) rau được

lấy do nghiên cứu viên khi rau đến chợ ở Hà nội

Trang 5

tính với Giardia spp (37/96, 38.5%) và

Cryptosporidium spp (28/96, 29,2%) ở vùng nước

thải cao hơn so với vùng không sử dụng nước thải

(Giardia spp: 20/118; 16,9% và Cryptosporidium

spp.: 16/118, 13,6%) Tỷ lệ dương tính với

Cyclospora spp thấp hơn Giardia spp và

Cryptosporidium spp nhưng vẫn có mặt trong các

mẫu rau với tỷ lệ ở vùng nước thải và vùng không

nước thải là 4.2% (1/24) - 12.5% (3/24), xem bảng

3 Số lượng bào nang Giardia nhiều nhất trong rau

muống trồng ở vùng nước thải với hàm lượng trung

bình 1.6 bào nang/gam (95% CI 0.9-2.4), tiếp theo

là Cryptosporidium với hàm lượng 1.2 bào

nang/gam (95% CI 0.7-1.7) và ở vùng không dùng

nước thải hàm lượng trung bình của Giardia là 0.6

bào nang/gam (95% CI 0.2-1), Cryptosporidium là

0.3 bào nang/gam (95% CI 0.1-0.4) Giữa vùng

nước thải và vùng không dùng nước thải có sự khác

biệt đáng kể về tỷ lệ có mặt của Giardia spp đặc

biệt tại thời điểm rau được nông dân thu hoạch ở

ruộng sau khi đã rửa (p=0.046) và rau được chúng

tôi thu thập trước khi đến chợ (p=0.003) Tuy nhiên,

tỷ lệ dương tính với Giardia spp., Cryptosporidium

spp và Cyclospora spp ở cả hai vùng không có sự

khác biệt giữa các thời điểm lấy mẫu Hơn nữa, vào

mùa khô 2005, tỷ lệ dương tính với Giardia spp và

Cryptosporidium spp ở vùng nước thải cao hơn

nhiều so với vùng không dùng nước thải (p<0.001)

Các đơn bào (Cryptosporidium spp., Giardia spp., Cyclospora spp.) cũng được tìm thấy trong các mẫu rau thu thập tại chợ Giữa mùa khô và mùa mưa, tỷ lệ dương tính với Giardia trên mẫu rau có sự khác biệt khá lớn Giardia spp vẫn là bào nang được tìm thấy nhiều nhất ở cả hai chợ vào mùa mưa trong khi Cryptosporidium spp and Cyclospora spp lại phát hiện được nhiều hơn vào mùa khô (p<0.001) Bảng 4 thể hiện kết quả thu thập mẫu rau ăn sống (rau húng, kinh giới, rau mùi) và rau thủy sinh (rau muống, rau rút) ở hai chợ Hoàng Liệt và Hàng Bè Giardia đều có mặt ở các mẫu rau sống tại hai chợ với hàm lượng trung bình 0.5 bào nang/gam (95% CI 0.2-0.7) và trong mẫu rau thủy sinh là 1.1 bào nang/gam (95% CI 0.5-1.8) Đặc biệt, tỷ lệ dương tính với Giardia trong rau kinh giới và rau muống tại chợ Hoàng Liệt có sự khác biệt đáng kể (p=0.005) Hàm lượng trung bình của Cryptosporidium spp trong rau an sống là 0.1 bào nang/gam (95% CI 0-0.2) và trong rau thủy sinh là 1.1 bào nang/gam (95% CI 0.2-2.0) Bào nang Cyclospora spp được phát hiện với số lượng ít nhất

ở cả hai loại rau ăn sống và rau thủy sinh

Số lượng coliform ở 46 mẫu nước thu thập được tại chợ Hoàng Liệt là (101

-104 CFU/100ml), không cao hơn nhiều so với chợ Hàng Bè (10-103 CFU/100ml) vào cả hai mùa Bảng 5 cho thấy hàm lượng coliform khá cao trong mẫu nước đựng ở xô

so với mẫu nước thu thập trực tiếp từ vòi ở cả hai chợ (p<0.001) Hàm lượng coliform trong mẫu rau thu được ở cả hai chợ dao động từ 102-103CFU/gam và không có sự khác biệt đáng kể (p=0.09) Bên cạnh đó, hàm lượng coliform giữa hai mùa ở cả hai chợ cũng không có sự khác biệt (p=0.68)

Bảng 3 Hiện diện của các đơn bào ở rau muống

thu thập từ ruộng ở Hoàng Liệt (N=96) và

Long Biên (N=118) đến chợ

Lưu ý: Các chữ cái chỉ ra các loại mẫu khác nhau: A) rau

được lấy ở ruộng do nghiên cứu viên; B) rau được lấy ở

ruộng do người nông dân trước khi rửa; C) rau được lấy ở

ruộng do người nông dân sau khi rửa; CD) rau được lấy ở

ruộng do người nông dân và được bảo quản qua đêm tại

hộ gia đình và D) rau được lấy do nghiên cứu viên khi rau

đến chợ ở Hà nội Nhiễm bẩn coliform và ký sinh trùng

đơn bào trong rau và nước vẩy rau tại chợ

Bảng 4 Hiện diện của các đơn bào ở rau thu thập

tại chợ Hoàng Liệt (N=52) và Hàng Bè (N=48) ở Hà Nội, Việt Nam

Trang 6

4 Bàn luận

Nghiên cứu cho thấy hàm lượng coliform trong

nước tưới rau ở ruộng nước thải (104

/100ml) của vùng ven đô Hà nội cao hơn ở ruộng không dùng

nước thải (102

- 103 /100ml) và không khác biệt nhiều với nước vẩy rau được thu thập ở chợ (10

-104

/100ml) Hàm lượng coliform trung bình trong

các mẫu rau muống thu thập theo chuỗi từ ruộng

đến chợ ngày càng cao ở những giai đoạn lấy mẫu

sau cùng Các bào nang Giardia tìm thấy nhiều nhất

trong mẫu rau thu thập từ ruộng đến chợ và tại chợ

với hàm lượng trung bình 0.6-1.6 bào nang/gam ở

ruộng và 0.5-1.1 bào nang/gam ở chợ, tiếp theo là

Cryptosporidium với 0.3-1.2 bào nang/gam (ở

ruộng) và 0.1-1.1 bào nang/gam (ở chợ) Bào nang

Cyclospora có mặt trong một số mẫu rau

Số lượng coliform trong nước thải (104/100ml)

vượt quá giới hạn cho phép của TTYTTG 2006 đối

với nước tưới tiêu (102

- 103 /100ml) Mặc dù, các kết quả về chất lượng vi sinh trong nước dùng cho sản

suất nông nghiệp ở vùng ven đô Hà nội thấp hơn các

báo cáo trước đây [4], nguồn nước được dùng trong

nghiên cứu này thường không được bảo vệ khỏi sự

ô nhiễm từ bề mặt

Chúng tôi cũng tìm thấy rau muống trồng ở

vùng dùng nước thải bị nhiễm bẩn với coliform,

Giardia spp., và Cryptosporidium spp nhiều hơn ở

vùng không dùng nước thải và Cyclospora spp có

mặt ở cả hai vùng của Hà nội Các kết quả này phù

hợp với các nghiên cứu ở Mexico [6], Ghana [7] và

Cambodia [8] nơi mà rau bị nhiễm bẩn coliform và

đơn bào do tưới bằng nước thải Hàm lượng coliform

(101

- 103

/gram), ký sinh trùng đơn bào (0.3-1.6 bào

nang/gam) trong rau của nghiên cứu này thấp hơn

các nghiên cứu khác [8] Điều này cho thấy phương

pháp tưới tiêu đóng vai trò quan trọng trong việc lan

truyền các vi sinh vật gây bệnh Các kết quả của

chúng tôi phù hợp với nghiên cứu được Ensink và

CS thực hiện [21] với hàm lượng E.coli có mặt trong nước thải dùng trong sản xuất nông nghiệp khá thấp thông qua hệ thống kênh mương và phương pháp này có khả năng làm giảm sự tiếp xúc giữa nước tưới tiêu và rau

Nghiên cứu này cũng cho thấy nhiễm bẩn Coliform, Giardia spp., Cryptosporidium spp cũng như sự có mặt của Cyclospora spp ở rau muống sau thu hoạch và đưa ra chợ Từ các kết quả nghiên cứu, chúng tôi thấy rằng có thể do các vi sinh vật này tiếp xúc và bám vào bề mặt rau trong lúc thu hoạch, vận chuyển, chế biến, đóng gói hoặc bảo quản do các vi sinh vật này lan truyền từ nước bể chứa vẩy rau [22] hoặc nước vẩy rau [16] Điều này phù hợp với quan sát của chúng tôi vì từ 50-83.3% nông dân được phỏng vấn khi tiếp xúc với rau thường không đi găng Mặc dù 66.7-91.7% nông dân hoặc người vận chuyển không dùng nước để vẩy lên rau trong quá trình vận chuyển hoặc trước khi giao hàng tại chợ nhưng hầu hết người nông dân lại sử dụng nước từ

ao, hồ để vảy lên rau trong quá trình bảo quản tại nhà hoặc để rau trên mặt đất qua đêm khiến cho rau dễ bị nhiễm bẩn với các vi sinh vật này

Giardia spp và Cryptosporidium spp có tỷ lệ dương tính khá cao trong nước thải dùng để tưới cho rau vào mùa khô Sự xuất hiện của đơn bào trong rau tại ruộng trái ngược với kết quả được tìm thấy trong nước tưới tiêu, đặc biệt vào mùa mưa [23] Trong thực tế, người ta thấy rằng vi khuẩn và đơn bào ít có khả năng sống sót ngoài cơ thể vật chủ [24,25], do vậy chúng chết khá nhanh khi ở trên bề mặt rau vì bị ảnh hưởng bởi các yếu tố như tiếp xúc với ánh nắng mặt trời vào mùa hè hoặc giữa những lần tưới và thu hoạch rau Người ta cũng thấy rằng vào mùa khô, khi nồng độ ô nhiễm vi sinh vật trong nước tưới đậm đặc hơn, tần suất tưới khoảng 1 tuần

1 lần cũng làm cho việc nhiễm các đơn bào này trong rau ở ruộng sẽ cao hơn

Mặc dù, rau lấy mẫu ở chợ có số lượng coliform là 102

- 103 /gram và đơn bào khoảng 0.1-1.1 bào nang/gram, thấp hơn so với mẫu rau thu thập theo chuỗi từ "ruộng đến chợ" Tỷ lệ phát hiện Giardia spp., và Cryptosporidium spp (32% and 18%) trên mẫu rau ở chợ cũng thấp hơn ở những mẫu thu thập theo chuỗi từ "ruộng đến chợ" ngoại trừ Cyclospora spp (7%) Các kết quả này khẳng định sự có mặt của đơn bào trong rau thu thập được từ những người bán buôn và bán lẻ ở chợ Bên cạnh đó, các kết quả của chúng tôi cũng chỉ ra rằng sự xuất hiện của

Bảng 5 Số lượng (coliform)/100ml từ các nguồn

nước dùng làm tươi rau tại chợ (Hoàng

Liệt và Hàng Bè) ở Hà Nội, Việt Nam

Trang 7

Giardia spp trong rau là khá phổ biến vào mùa mưa

và ẩm ướt Các nghiên cứu gần đây ở Pakistan [21],

Ghana [7] hay ở Việt Nam [16] rau ở ruộng có sử

dụng nước thải và rau tại chợ địa phương (coliform,

giun sán và đơn bào) cũng được phân tích về chất

lượng trên rau ở ruộng có sử dụng nước thải và rau

tại chợ địa phương trong các nghiên cứu Mặc dù,

chúng tôi không tiến hành tìm đơn bào trong các

mẫu nước tưới và nước vẩy rau, hàm lượng coliform

ở các mẫu nước đựng trong xô cao hơn đáng kể so

với hàm lượng vi sinh vật này trong các mẫu nước

vòi tại chợ Nước do người nông dân sử dụng ít nguy

cơ bị nhiễm bẩn hơn so với nước do người bán hàng

dùng ở chợ Do vậy, việc vận chuyển rau sau thu

hoạch có thể tăng khả năng nhiễm bẩn rau Một

nghiên cứu do Beuchat tiến hành cho thấy rau dễ bị

nhiễm các vi sinh vật gây bệnh ở người hoặc động

vật từ nhiều nguồn khác nhau [24] Điều này cho

thấy những hành vi thực hành không hợp vệ sinh là

nguồn lây nhiễm chủ yếu, đặc biệt vào mùa mưa khi

các bào nang này có thể sống sót khá tốt trong điều

kiện ẩm ướt Những hành vi thực hành này bao gồm:

sử dụng nước bị nhiễm bẩn để làm tươi rau tại chợ,

môi trường xung quanh mất vệ sinh trong quá trình

đóng gói và bảo quản, thói quen không hợp vệ sinh

của người bán hàng (không có găng tay), dụng cụ

đựng rau và việc nhiễm chéo với các thực phẩm

khác hoặc đồ dùng đựng đồ ở chợ Vì việc rửa tay,

đặc biệt sau khi đi vệ sinh và trước khi chuẩn bị thức

ăn là nền tảng của vệ sinh thực phẩm Thói quen

không rửa tay hoặc thỉnh thoảng rửa tay với xà

phòng trong xô nước sau khi đi vệ sinh của người

bán hàng có thể tăng nguy cơ nhiễm coliform và các bệnh đường ruột khác Trong thực tế, việc cung cấp nước sạch cũng như việc xử lý nước thải là mục tiêu lâu dài nhằm làm giảm sự lan truyền các bệnh lây truyền qua đường nước và thực phẩm Tuy nhiên, cho đến khi những hạ tầng cần thiết được xây dựng

ở những nước phát triển, sự can thiệp vào quá trình khử khuẩn, bảo quản… kết hợp với giáo dục vệ sinh cho những người bán hàng có thể giúp cung cấp những phương pháp bền vững trong việc giảm thiểu nguy cơ lây truyền các bệnh đường ruột từ rau bán

ở chợ

5 Kết luận Rau trồng ở vùng ven nội đô Hà Nội bị nhiễm coliform và các đơn bào gây bệnh đường ruột theo chuỗi từ "ruộng đến chợ" và tại chợ Rau ăn sống hoặc rau không qua chế biến có thể là những nguồn

vi khuẩn và đơn bào gây bệnh Việc tưới tiêu hoặc làm tươi rau với nước bị nhiễm bẩn là con đường chính khiến rau bị nhiễm các vi sinh vật lây truyền qua thực phẩm Để giảm thiểu những nguy cơ sức khỏe do nhiễm coliform gây bệnh và đơn bào trong rau, những nguyên tắc vệ sinh liên quan đến chuỗi cung cấp thực phẩm cần được áp dụng từ nơi sản xuất đến lúc tiêu thụ Trong tương lai, cần những nghiên cứu về sự sống sót của vi sinh vật, định danh các loài sẵn có do vậy có thể phân biệt và xác định được nguồn lây từ đó đánh giá được những ảnh hưởng đối với sức khỏe con người qua tiêu thụ thực phẩm bị nhiễm bẩn dựa vào đánh giá nguy cơ theo chuỗi từ ruộng đến chợ

Tài liệu tham khảo

1.Shuval H, Adin A, Fattal B &Yekutiel P (1986)

Wastewater irrigation in Developing countries Health

Effects and Technical Solutions.Washington DC: The World

Bank Technical paper no, 51

2.Asano T & Levine DA (1995) Wastewater reclamation,

recycling and reuse: past, present and future Water Science

and Technology 33, 1-14

3 Kuong K, Daream S & Borin C (2005) Peri urban aquatic

food production systems in Phnom Penh Urban Aquaculture

Magazine 14, 13-15.

4 Lan NTP, Dalsgaards A, Cam PD & Mara D (2007) Microbiological quality of fish grown in wastewater-fed and non wastewater-fed fish ponds in Hanoi, Vietnam: influence

of hygiene practices in local retail markets Journal of Water and Health 5, 209-218.

5 Van der Hoek W, Hassan MU, Ensink JHJ et al (2002) Urban wastewater: a valuable resource for agriculture - a case study from Haroonabad, Pakistan Research Report 63 International Water Management Institute, Colombo, Srilanka.

6 Rosas I, Báez A & Coutino M (1984) Bacteriological quality of crops irrigated with wastewater in the Xochimilco

Trang 8

plots, Mexico City, Mexico Applied and Environmental

Microbiology 47, 1074-1079.

7 Amoah P, Drechsel P & Abaidoo RC (2005) Irrigation

urban vegetable production in Ghana: sources of pathogen

contamination and health risk elimination Irrigation and

Drainage 54 (Suppl.), 49-61.

8 Anh VT, Tram NT, Klank LT, Cam PD & Dalsgaard A

(2007b) Faecal and protozoan parasite contamination of

water spinach (Ipomoea aquatica) cultivated in urban

wastewater in Phnom Penh, Cambodia Tropical Medicine

and International Health 12 (Suppl.2), 73-81

9 Blumenthal UJ, Cifuentes E, Bennette S, Quiqley M &

Ruiz-Palacios G (2001) The risk of enteric infections

associated with wastewater reuse: the effect of season and

degree of storage of wastewater Transaction of the Royal

Society of Tropical Medicine and Hygiene 95, 131-137

10 Trang DT, Hien BTT, M ∅ lbak K, Cam PD & Dalsgaard

A (2007b) The epidemiology and eatiology of diarrhoeal

diseases in adults engaged in wastewater-fed agriculture

and aquaculture in Hanoi, Vietnam Tropical Medicine and

International Health 12 (Suppl.2), 22-32

11 Blumenthal UJ, Peasey A, Quiqley M & Ruiz-Palacios

G (2003) Risk of enteric infections through consumption of

vegetables with contaminated river water London School

of Hygiene and Tropical Medicine, London

12 Fayer R, Trout JM & Jenkins MC 1998 Infectivity of

Cryptosporidium oocysts stored in water at environmental

temperature Journal of Parasitology 84, 1165-9

13 Smith H, Caccio SM, Cook N, Nichols RAB & Tait A

(2007) Cryptosporidum and Giardia as foodborne zoonoses.

Veterinary Parasitology 149, 29-40

14 Ortega YR, Sterling CR, Gilman RH, Cama VA & Diaz

F (1993) Cyclospora species a new protozoan pathogen of

humans New England Journal of Medicine 328, 1308-12.

15 Chauret C, Springthorpe S & Sattar S (1999) Fate of

Cryptosporidium oocysts, Giardia cysts and microbial

indicators during waterwater treatment and anaerobic

sludge digestion Canadian Journal of Microbiology 45,

257-262

16 Tram TN, Hoang LM.N, Cam PD, Chung TP, Fyfe W,

Issac-Renton J & Ong C (2008) Cyclospora spp in herbs and water collected from markets and farms in Hanoi, Vietnam Tropical Medicine and International Health 13(11),

1415-1420

17 Anh VT, van der Hoek W, Ersboll A, Thuong NV, Tuan

ND, Cam PD & Dalsgaard A (2007a) Dermatitis among farmers enagaged in peri-urban aquatic food production in Hanoi, Vietnam Tropical Medicine and International Health 12 (Suppl.2), 59-65.

18 Hoang LM, Fyfe M, Ong C et al (2005) Outbreak of cyclosporiasis in British Columbia associated with imported Thai basil Epidemiology and Infection 133, 23-7.

19 Singh BR, Singh P, Verma A, Agrawal S, Babu N, Chandra M & Agrwal RK (2006) A study on prevalence of multi-drug resistant (MDR) Salmonella in water sprinkled

on fresh vegetables in Bareilly, Moradabad and Kanpur (northern India cities) Journal of Public Health 14, 125-131

20 Ayres RM & Mara DD (1996) Analysis of Wastewater for Use in Agriculture - A Laboratory Manual of Parasitological and Bacteriological Techniques World Health Organization, Geneva, Switzerland

21 Ensink, JHJ, Mahmood, T, Dalsgaard, A (2007) Wastewater-irrigated vegetables: market handling versus irrigation water quality Tropical Medicine and International Health, 12(Suppl 2), 2-7

22 Chaidez C, Soto M, Gortares P & Mena K (2005) Occurrence of Cryptosporidium and Giardia in irrigation water and its impact on the fresh produce industry International Journal of Environmental Health Research 15, 339-345

23 Keiraita B, Konradsen F, Drechsel P & Abaidoo RC (2007) Effect of low-cost irrigation methods on microbial contamination of lettuce irrigated with untreated wastewater Tropical Medicine and International Health 12 (Suppl.2), 15-22

24 Beuchat, LR (1999) Food Safety Issues: Surface decontamination of fruits and vegetables eaten raw: A Review of Food Safety Unit, WHO, Geneva

25 Fayer R (2004) Cryptosporidium: a water-borne zoonotic parasite Veterinary Parasatology 126, 37-56.

Ngày đăng: 10/08/2015, 20:39

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1. Quy trình thu thập mẫu rau từ ruộng đến - Ô nhiễm đơn bào gây bệnh đường ruột và coliform chịu nhiệt trong rau thủy sinh ở vùng nước thải từ ruộng đến chợ tại hà nội
Bảng 1. Quy trình thu thập mẫu rau từ ruộng đến (Trang 3)
Bảng 2. Số lượng Coliform ở rau muống được thu - Ô nhiễm đơn bào gây bệnh đường ruột và coliform chịu nhiệt trong rau thủy sinh ở vùng nước thải từ ruộng đến chợ tại hà nội
Bảng 2. Số lượng Coliform ở rau muống được thu (Trang 4)
Bảng 4. Hiện diện của các đơn bào ở rau thu thập - Ô nhiễm đơn bào gây bệnh đường ruột và coliform chịu nhiệt trong rau thủy sinh ở vùng nước thải từ ruộng đến chợ tại hà nội
Bảng 4. Hiện diện của các đơn bào ở rau thu thập (Trang 5)
Bảng 3. Hiện diện của các đơn bào ở rau muống - Ô nhiễm đơn bào gây bệnh đường ruột và coliform chịu nhiệt trong rau thủy sinh ở vùng nước thải từ ruộng đến chợ tại hà nội
Bảng 3. Hiện diện của các đơn bào ở rau muống (Trang 5)
Bảng 5. Số lượng (coliform)/100ml từ các nguồn - Ô nhiễm đơn bào gây bệnh đường ruột và coliform chịu nhiệt trong rau thủy sinh ở vùng nước thải từ ruộng đến chợ tại hà nội
Bảng 5. Số lượng (coliform)/100ml từ các nguồn (Trang 6)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w