Mục đích nghiên cứu: Nghiên cứu hoạt động xuất khẩu các sản phẩm thép mạ thép và thép mạ màu của Tổng công ty Lắp máy Việt Nam (LILAMA) trong giai đoạn từ năm 2003 – 2007.
Trang 1PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính tất yếu của việc lựa chọn đề tài
Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên của WTO, hội nhập vào nềnkinh tế toàn cầu mở ra nhiều cơ hội nhưng cũng nhiều thách thức đòi hỏi Việt Namphải thích nghi, trong đó có việc mở rộng các quan hệ hợp tác thương mại quốc tế,đáp ứng những đòi hỏi ngày càng khắt khe của thị trường thế giới Thương mạiquốc tế là một lĩnh vực quan trọng quyết định tới sự tăng trưởng và phát triển kinh
tế của mỗi nước Tại Đại hội Đảng VIII và nghị quyết 01NQ/TƯ của Bộ Chính trị
đã đề xuất mục tiêu chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Việt Nam theo hướng hướng vềxuất khẩu Cùng với tiến trình CNH-HĐH, chúng ta phải tăng cường xuất khẩu, đặcbiệt là những ngành hàng xuất khẩu có thế mạnh Góp phần vào lộ trình phát triểnkinh tế của đất nước Tổng công ty Lắp máy Việt Nam (LILAMA) đã tích cực đẩymạnh hoạt động xuất khẩu các sản phẩm thép mạ kẽm và thép mạ màu của mình.Thực tế cho thấy các sản phẩm thép mạ kẽm và thép mạ màu là mặt hàng xuất khẩuđem lại hiệu quả cao và hứa hẹn nhiều tiềm năng phát triển hơn nữa trong tương lainếu như được quan tâm đầu tư và có chiến lược cụ thể nhằm đẩy mạnh xuất khẩutrên thị trường thế giới
Qua thời gian thực tập tại Tổng công ty Lắp máy Việt Nam (LILAMA), em nhậnthấy các sản phẩm thép mạ kẽm và thép mạ màu của Tổng công ty rất có tiềm năng trênthị trường thế nhưng thực tế trong giai đoạn 2003-2007 xuất khẩu các sản phẩm thép mạkẽm và thép mạ màu chưa xứng với tiềm năng mà Tổng công ty đang có Do đó em
quyết định lựa chọn đề tài: ”Xuất khấu các sản phẩm thép mạ kẽm và thép mạ màu
của Tổng công ty Lắp máy Việt Nam (LILAMA) giai đoạn 2003 – 2007” làm đề tài
cho luận văn tốt nghiệp của em Hy vọng với các đề xuất đưa ra có thể giúp Tổng công
ty sẽ nâng cao được khả năng xuất khẩu các sản phẩm của mình trên thị trường thế giới
Trang 22 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu: Nghiên cứu hoạt động xuất khẩu các sản phẩm thép
mạ thép và thép mạ màu của Tổng công ty Lắp máy Việt Nam (LILAMA) tronggiai đoạn từ năm 2003 – 2007
Nhiệm vụ nghiên cứu gồm:
+ Thứ nhất: Nghiên cứu một số vấn đề lý luận chung về xuất khẩu các sản
phẩm thép mạ kẽm và thép mạ màu và tổng quan chung về Tổng công ty Lắp máyViệt Nam (LILAMA)
+ Thứ hai: Nghiên cứu tình hình xuất khẩu các sản phẩm thép mạ kẽm và
thép mạ màu từ đó đưa ra những đánh giá về ưu điểm, những mặt hạn chế vànguyên nhân của hoạt động xuất khẩu của Tổng công ty Lắp máy Việt Nam(LILAMA) giai đoạn 2003-2007
+ Thứ ba: Nghiên cứu các định hướng và các giải pháp thúc đẩy xuất khẩu
các sản phẩm thép mạ kẽm và thép mạ màu của Tổng công ty
3 Đối tượng và Phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: là xuất khẩu các sản phẩm thép
Phạm vi nghiên cứu:
+ Phạm vi về không gian: Xuất khẩu các sản phẩm thép mạ kẽm và
thép mạ màu của Tổng công ty Lắp máy Việt Nam (LILAMA)
+ Phạm vi về thời gian: Đề tài nghiên cứu từ năm 2003 đến năm 2007
4 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu theo các phương pháp như:
+ Phương pháp phân tích, bình luận
+ Sử dụng các số liệu thống kê
+ Sử dụng các đồ thị và bảng tính
Trang 35 Kết cấu đề tài
Ngoài lời mở đầu và kết luận đề tài được chia làm ba chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận chung về xuất khẩu các sản phẩm thép và
tổng quan về Tổng công ty Lắp máy Việt Nam (LILAMA)
Chương 2: Thực trạng xuất khẩu các sản phẩm thép mạ kẽm và thép mạ màu
của Tổng công ty Lắp máy Việt Nam (LILAMA) giai đoạn 2003-2007
Chương 3: Định hướng và các giải pháp thúc đẩy xuất khẩu các sản phẩm
thép mạ kẽm và thép mạ màu của Tổng công ty
Trang 4CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ XUẤT KHẨU CÁC SẢN PHẨM THÉP VÀ TỔNG QUAN VỀ TỔNG CÔNG TY LẮP
MÁY VIỆT NAM (LILAMA)
1 Lí luận chung về xuất khẩu
1.1.1 Khái niệm xuất khẩu
Xuất khẩu là sự trao đổi hàng hóa và dịch vụ giữa các chủ thể kinh tế có quốctịch khác nhau (trong đó đối tượng trao đổi thường là vượt ra phạm vi địa lý củamột quốc gia) thông qua hoạt động mua bán, lấy tiền tệ làm môi giới
1.1.2 Các hình thức xuất khẩu chủ yếu
- Xuất khẩu hàng hóa hữu hình (nguyên vật liệu, máy móc thiết bị, lương
thực thực phẩm…) Đây là bộ phận chủ yếu và giữ vai trò quan trọng trong sự pháttriển kinh tế của mỗi quốc gia
- Xuất khẩu hàng hóa vô hình (các bí quyết công nghệ, bằng phát minh
sáng chế, phần mềm máy tính, các bảng thiết kế kỹ thuật, các dịch vụ lắp ráp thiết
bị máy móc…) Đây là bộ phận có tỷ trọng ngày càng gia tăng phù hợp với sự bùng
nổ của cách mạng khoa học công nghệ và việc phát triển các ngành dịch vụ trongnền kinh tế quốc dân
- Gia công thuê cho nước ngoài và thuê nước ngoài gia công: gia công
quốc tế là một hình thức cần thiết trong điều kiện phát triển của phân công lao độngquốc tế và do sự phát khác biệt về điều kiện tái sản xuất giữa các quốc gia Nó đượcphân chia thành hai loại hình chủ yếu tùy theo vai trò của bên đặt hàng và bên nhậngia công Khi trình độ phát triển của một quốc gia còn thấp, thiếu vốn, thiếu côngnghệ, thiếu thị trường thì các doanh nghiệp thường ở vào vị trí nhận gia công chothuê cho nước ngoài Nhưng khi trình độ phát triển ngày càng cao thì nên chuyển
Trang 5qua hình thức thuê nước ngoài gia công cho mình Hoạt động gia công mang tínhchất công nghiệp nhưng chu kỳ gia công thường rất ngắn, đầu vào và đầu ra của nógắn liền với thị trường nước ngoài nên nó được coi là mộ bộ phận của hoạt độngngoại thương.
- Tái xuất khẩu và chuyển khẩu: trong họat động tái xuất khẩu ta tiến hành
nhập khẩu tạm thời hàng hóa từ bên ngoài vào, sau đó lại tiến hành xuất khẩu sangmột nước thứ ba Như vậy ở đây có cả hành động mua và hành động bán nên mứcrủi ro có thể lớn và lợi nhuận có thể cao Còn trong hoạt động chuyển khẩu không
có hành vi mua bán mà ở đây chỉ thực hiện các dịch vụ như vận tải quá cảnh, lưukho lưu bãi, bảo quản…
- Xuất khẩu tại chỗ: trong trường hợp này hàng hóa và dịch vụ có thể chưa
vượt ra ngoài biên giới quốc gia nhưng ý nghĩa kinh tế của nó tương tự như hoạtđộng xuất khẩu Đó là việc cung cấp hàng hóa và dịch vụ cho các ngoại giao đoàn,cho khách du lịch quốc tế… hoạt động xuất khẩu tại chỗ có thể đạt được hiệu quảcao do giảm bớt chi phí bao bì đóng gói, bảo quản, chi phí vận chuyển, thời gian thuhồi vốn nhanh, trong khi vẫn có thể thu được ngoại tệ
1.2 Vai trò của xuất khẩu các sản phẩm thép mạ kẽm, thép mạ màu của Tổng công ty Lắp máy Việt Nam (LILAMA)
1.2.1 Tạo ra được nguồn vốn lớn, đưa đất nước phát triển đồng thời thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước
Trong những năm gần đây, xuất khẩu các sản phẩm thép mạ kẽm, thép mạmàu của LILAMA ngày càng có những bước phát triển thần kì Sản lượng xuấtkhẩu không những đã đáp ứng đủ nhu cầu xây dựng trong nước mà còn xuất khẩusang nhiều thị trường Việc này đã góp phần tạo dựng tên tuổi và thương hiệu chosản phẩm thép Việt Nam trên thị trường thế giới
Trang 6Các sản phẩm thép mạ kẽm, thép mạ màu của Tổng công ty tăng đã kéo theo
sự phát triển của các ngành kinh tế liên quan như: ngành công nghiệp khai thác vàchế biến khoáng sản, các ngành giao thông vận tải, các ngành dịch vụ phân phốithép xuất khẩu và các ngành công nghiệp phụ trợ khác…
Xuất khẩu các sản phẩm thép mạ kẽm, thép mạ màu của Tổng công ty Lắpmáy Việt Nam (LILAMA) phát triển sẽ mở rộng quy mô của các nhà máy sản xuấtthép, các công ty khai thác và chế biến khoáng sản và nhiều ngành kinh tế liênquan Xuất khẩu các sản phẩm thép phát triển sẽ làm tăng lượng vốn cho việc táiđầu tư mở rộng quy mô sản xuất khi đó sẽ xuất hiện hiệu ứng kinh tế nhờ quy mô.Quy mô sản xuất được mở rộng sẽ làm xuất hiện nhiều ngành nghề mới phục vụcho ngành xuất khẩu thép và khai thác tiềm năng của đất nước như tài nguyên thiênnhiên và nguồn lao động Do đó, xuất khẩu thép phát triển đã giải quyết được công
ăn việc làm cho một lượng lớn nguồn lao đông đang dồi dào ở nước ta
Xuất khẩu các sản phẩm thép mạ kẽm, thép mạ màu của Tổng công ty Lắpmáy Việt Nam (LILAMA) tăng còn tạo ra được một lượng ngoại tệ lớn Mặt khác,
nó hạn chế được lượng ngoại tệ chảy ra nước ngoài do phải nhập khẩu thép nhưtrước kia Từ đó, nó làm tăng nguồn dự trữ của đất nước đưa đất nước phát triển.Hơn nữa, xuất khẩu các sản phẩm thép mạ kẽm, thép mạ màu của LILAMA còn làyếu tố quan trọng để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tăng GDP của đất nước xuấtkhẩu thép còn làm tăng hiệu quả sản xuất của đất nước Bởi vì, xuất khẩu là để phục
vụ nhu cầu thị hiếu của khách hàng, của xã hội mà nhu cầu về sản phẩm của conngười không ngừng được nâng cao Để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của xã hộithì LILAMA phải đẩy mạnh cải tiến khoa học công nghệ từ đó nâng cao được hiệuquả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Như vậy, xuất khẩu các sản phẩm thép
mạ kẽm, thép mạ màu của Tổng công ty đã góp phần quan trọng vào quá trình công
Trang 7nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Đồng thời góp phần thực hiện mục tiêu đưanước ta trở thành một nước công nghiệp vào năm 2020
1.2.2 Xuất khẩu các sản phẩm thép mạ kẽm, thép mạ màu của Tổng công ty Lắp máy Việt Nam (LILAMA) làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế của đất nước
Thứ nhất, xuất khẩu các sản phẩm thép mạ kẽm, thép mạ màu của Tổng công ty Lắp máy Việt Nam làm chuyển dịch kinh tế theo ngành: Như chúng ta đã
biết, xuất khẩu hàng hóa nói chung và xuất khẩu các sản phẩm thép mạ kẽm, thép
mạ màu của Tổng công ty nói riêng đã có tác động mạnh mẽ đến quá trình chuyểndịch kinh tế theo ngành Bất kì một doanh nghiệp nào trước khi xuất khẩu hàng hóacủa mình sang thị trường đều phải tìm hiểu thị trường, tìm hiểu nhu cầu của kháchhàng để từ đó có chiến lược cung cấp những sản phẩm thép có mẫu mã và kiểudáng phù hợp nhưng nhu cầu của thị trường luôn luôn thay đổi mạnh mẽ Để cóthể tồn tại và cạnh tranh được trên thị trường buộc LILAMA phải thay đổi chiếnlược kinh doanh, thay đổi cơ cấu sản phẩm xuất khẩu Sự thay đổi đó đã kéo theo
sự thay đổi của các ngành kinh tế liên quan Đó là các ngành trực tiếp liên quan đếnsản xuất sản phẩm thép xuất khẩu và các ngành kinh tế phụ trợ như các ngành khaithác tài nguyên khoáng sản, các ngành dịch vụ như giao thông vận tải, thông tin liênlạc và ngân hàng… Khi xuất khẩu các sản phẩm thép mạ kẽm, thép mạ màu củaTổng công ty tăng, nó sẽ làm tăng nguồn vốn tích lũy cho tái đầu tư để mở rộng sảnxuất khi đó nó sẽ thu hút lực lượng lao động từ các ngành kinh tế khác Như vậy,khi quy mô sản xuất thép tăng thì đồng nghĩa với nó là các ngành kinh tế làm ănkém hiệu quả hoặc thua lỗ sẽ thu hẹp quy mô sản xuất hoặc chuyển sang lĩnh vựckinh tế khác
Trang 8Thứ hai, xuất khẩu các sản phẩm thép mạ kẽm, thép mạ màu của LILAMA làm chuyển dịch kinh tế theo lãnh thổ: Như phân tích ở trên thì chúng ta thấy, khi
xuất khẩu các sản phẩm thép mạ kẽm, thép mạ màu của LILAMA tăng kéo theo sựphát triển của các ngành khai thác khoáng sản Từ đó kéo theo sự phát triển của cácvùng, các địa phương có nguồn tài nguyên thiên nhiên khoáng sản Do vậy, bộ mặtkinh tế của các vùng các địa phương đó ngày càng được đổi mới, phát triển Nhiềunhà máy, xí nghiệp mọc lên, các ngành công nghiệp bổ trợ phát triển thu hút nguồnlao động tại chỗ và nguồn lao động của các địa phương khác Mà đa số các vùnggiầu tài nguyên khoáng sản đều là các vùng núi sâu xa Do đó, khi xuất khẩu cácsản phẩm thép mạ kẽm, thép mạ màu của Tổng công ty tăng sẽ làm cho cơ cấu kinh
tế của đất nước được chuyển dịch từ đồng bằng qua miền núi Từ nơi phát triển đếnnơi kém phát triển
1.2.3 Nâng cao được trình độ lao động và khoa học công nghệ, giải quyết công
ăn việc làm cho người lao động
Xuất khẩu các sản phẩm thép mạ kẽm, thép mạ màu của Tổng công ty Lắpmáy Việt Nam bắt nguồn từ nhu cầu của thị trường nước ngoài Cùng với thời gian,nhu cầu tiêu dùng của thị trường ngày càng tăng cao Hơn nữa, trên thị trường luônxuất hiện các đối thủ cạnh tranh mới Muốn cạnh tranh đựợc các doanh nghiệp phải
có những chiến lược nhằm nâng cao chất lượng, giảm chi phí để hạ giá thành sảnphẩm Để làm được điều LILAMA đã tiến hành cải tiến máy móc, cải tiến côngnghệ thông qua nhiều hình thức như: Liên doanh, liên kết với nước ngoài hoặc nhậpkhẩu công nghệ từ nước ngoài Khi có công nghệ mới thì người lao động phải cótrình độ, có kiến thức để sử dụng công nghệ đó Do đó, thông qua các công nghệhiện đại sẽ nâng cao được tay nghề cho người lao động Ngược lại, Tổng công ty cócông nghệ hiện đại sẽ có khả năng xuất khẩu được nhiều sản phẩm hơn, thu được
Trang 9nhiều lợi nhuận hơn từ đó có nhiều điều kiện để đầu tư cho việc hiện đại hóa dâychuyền sản xuất
Xuất khẩu các sản phẩm thép mạ kẽm, thép mạ màu của Tổng công ty Lắpmáy Việt Nam LILAMA tăng còn giải quyết được công ăn việc làm cho người laođộng Xuất khẩu thép phát triển sẽ thúc đẩy Tổng công ty mở rộng quy mô sảnxuất Hơn nữa, nó còn kéo theo sự phát triển của nhiều ngành kinh tế liên quan Khi
đó, quy mô sản xuất của nhiều ngành kinh tế được mở rộng thu hút được nhiều laođộng, nâng cao được chất lượng đời sống nhân dân
1.2.4 Xuất khẩu các sản phẩm thép mạ kẽm, thép mạ màu của Tổng công ty Lắp máy Việt Nam LILAMA còn có vai trò tăng cường quan hệ ngoại giao
Các quan hệ kinh tế và quan hệ ngoại giao có tác động qua lại lẫn nhau Cácquốc gia muốn có quan hệ kinh tế thì trước hết phải có quan hệ ngoại giao Xuấtkhẩu các sản phẩm thép mạ kẽm, thép mạ màu của LILAMA là một trong nhữnglĩnh vực của quan hệ kinh tế Vì vậy, muốn tăng cường xuất khẩu các sản phẩmthép thì nước ta phải đẩy mạnh quan hệ ngoại giao với các nước khác Từ đó, tạođiều kiện thuận lợi cho Tổng công ty Lắp máy Việt Nam có cơ hội tìm hiểu thịtrường và các bạn hàng nước ngoài
1.3 Tổng quan về Tổng công ty Lắp máy Việt Nam (LILAMA)
1.3.1 Lịch sử hình thành và phát triển của Tổng công ty Lắp máy Việt Nam (Lilama)
Tổng công ty Lắp máy Việt Nam là một doanh nghiệp lớn của nhà nướcchuyên nhận thầu thiết kế, chế tạo thiết bị và xây lắp công nghiệp, dân dụng trong
và ngoài nước
Trang 10Ngày 01/12/1960, Bộ trưởng Bộ kiến trúc (nay thuộc Bộ Xây dựng) quyết địnhchuyển Cục cơ khí điện nước thành Công ty Lắp máy Hà Nội, đơn vị tiền thân củaTổng công ty Lắp máy Việt Nam (Lilama) Công ty ra đời từ ba công trường lắpmáy lớn nhất miền bắc: Công trường lắp máy Hải Phòng, Công trường lắp máyViệt Trì và Công trường lắp máy Hà Nội Toàn bộ công ty có 591 cán bộ công nhânviên, 02 kỹ sư cơ khí và 08 kỹ thuật viên lắp máy Công ty được thành lập vớinhiệm vụ chính là khôi phục nền công nghiệp của đất nước sau chiến tranh.
Trong những năm từ 1960 đến 1975, Lilama đã lắp đặt thành công nhiều nhàmáy như: Thuỷ điện Thác Bà, Nhiệt điện Uông Bí, Ninh Bình, các nhà máy thuộcKhu công nghiệp Việt Trì, Thượng đình góp phần quan trọng trong quá trình xâydựng CNXH ở miền bắc
Để khắc phục những yếu kém của nền kinh tế quan liêu bao cấp, 1986 đấtnước mở cửa nền kinh tế Đối mặt với sự cạnh tranh gay gắt của nền kinh tế thịtrường ngày 1/12/1995 Tổng công ty Lắp máy Việt Nam được thành lập theo quyếtđịnh số 999/BXD- TCLĐ của Bộ trưởng Bộ xây dựng trên cơ sở sáp nhập các đơn
vị thành viên của Liên hiệp xí nghiệp lắp máy theo mô hình Tổng công ty 90 Làmột đơn vị xây lắp chuyên ngành của Bộ xây dựng, tham gia vào các công trình xâydựng lớn của đất nước trong các lĩnh vực: điện, xi măng, dầu khí, cơ khí, khai thác
mỏ, hoá chất, phân bón, lương thực thực phẩm, công nghiệp nhẹ, nông nghiệp, bưuchính viễn thông, giao thông vận tải, vật liệu xây dựng Từ khi chuyển thành Tổngcông ty thì việc phối hợp giữa các đơn vị thành viên được tăng cường hơn đã cónhững bước chuyển đổi từ một đơn vị chỉ nhận thầu xây lắp đơn thuần đến nay đã
Trang 11tăng cường và mở rộng khả năng chế tạo thiết bị, kết cấu thép, thiết bị phi tiêuchuẩn, tư vấn thiết kế, và mở rộng hoạt động thương mại xuất nhập khẩu
Đánh dấu cho sự chuyển đổi sang mô hình Tổng công ty là cho đưa vào hoạtđộng nhà máy xi măng ChingPhong Hải Phòng với việc đảm nhận toàn bộ công táclắp đặt và chế tạo gần 35% khối lượng thiết bị Đặc biệt đây là các sản phẩm thiết bịyêu cầu chính xác và trình độ công nghệ cao như các giàn thép kết cấu dài 60m,bình bể áp lực cao, bình bồn chứa khí gas, dầu
Bằng sự lớn mạnh về mọi mặt đầu năm 2001 Lilama đã trở thành tổng thầuEPC- khảo sát , thiết kế chế tạo, cung cấp thiết bị và tổ chức thi công xây lắp Vớivai trò tổng thầu theo hình thức EPC Lilama từ vị trí một nhà thầu lắp máy trởthành nhà đầu tư trên các công trình công nghiệp và dân dụng của Việt Nam Ngày31/3/2001 Thủ tướng Chính phủ chỉ định Lilama làm tổng thầu EPC để thực hiện
dự án nhà máy Nhiệt điện Uông Bí mở rộng công suất 300MW Với dự án Nhàmáy Nhiệt điện Uông Bí mở rộng, đây là lần đầu tiên Lilama tổng thầu xây dựngmột công trình lớn có tổng vốn đầu tư gần 300 triệu USD, công việc trước đây docác nhà thầu nước ngoài đảm nhiệm còn các doanh nghiệp trong nước chỉ là thầuphụ với giá trị xây lắp khoảng 15% giá trị công trình
Tháng 6/2003 Lilama được Chính phủ giao làm trưởng nhóm chế tạo thiết bịđồng bộ cho các dự án thuỷ điện, nhiệt điện, xi măng
Ngày 11/11/2005 ký hợp đồng EPC nhà máy nhiệt điện chu trình hỗn hợp Cà Mau
750 KW, thuộc công trình cụm khí- điện- đạm, xã Khánh An, huyện U Minh doTổng công ty dầu khí Việt Nam (Petro Việt Nam ) là chủ đầu tư với tổng giá trị hợpđồng 360 triệu USD
Trang 12Đến nay, Tổng công ty đã tham gia lắp đặt và đưa vào sử dụng trên 4000 côngtrình lớn nhỏ trên toàn quốc trong các lĩnh vực công nghiệp, dân dụng, văn hoá,quốc phòng đưa vào sử dụng đạt yêu cầu kỹ thuật, chất lượng cao với tiến độnhanh, giá thành hợp lý Vai trò của Tổng công ty trong nền kinh tế Việt Nam ngàycàng được nâng cao, tên tuổi gắn liền với các công trình công nghiệp và dân dụng
có tầm cỡ quốc gia và thế giới Từ những bước ban đầu đã thực hiện lắp đặt thànhcông nhiều công trình công nghiệp, dân dụng và quốc phòng quan trọng như Nhàmáy Nhiệt điện Vinh, Nhà máy đường Vạn Điểm 2, Nhà máy điện Hàm Rồng(Thanh Hoá), Việt Trì (Phú Thọ), Nhà máy Nhiệt điện Lào Cai, Uông Bí, Nhà máyPhân đạm Hà Bắc, Khu công nghiệp điện, đường, giấy, hoá chất Việt Trì, Nhà máy
suppe phốt phát Lâm Thao (Phú Thọ), Nhà máy cơ khí Hà Nội, Dệt 8/3 ; Đến
những ngày hoà bình lập lại đất nước thống nhất như Nhà máy Thuỷ điện HoàBình, Thuỷ điện Vĩnh Sơn, Trị An, Yaly, nhiệt điện Phả Lại Nhà máy xi măngBỉm Sơn, Hoàng Thạch và nhiều nhà máy khác
Trước những khó khăn và thách thức, LILAMA ngày nay đã vươn lên và trởthành Nhà Tổng thầu EPC đầu tiên của Việt Nam Từ trúng thầu các gói thầu số 2
và 3 Nhà máy lọc dầu Dung Quất, chế tạo và lắp đặt phần lớn các thiết bị chính củaNhà máy Nhiệt điện Na Dương, Nhà máy nhiệt điện Phú Mỹ 3,4 đến trở thành nhàTổng thầu EPC Dự án Nhà máy Nhiệt điện Uông Bí mở rộng công suất 300 MWvới vốn đầu tư gần 300 triệu USD; Nhiệt điện Cà Mau 2 (công suất 750 MW) LILAMA có khả năng thực hiện các dự án lớn từ công tác Tư vấn thiết kế(Engineering) đến Cung cấp thiết bị vật tư (Procurement) và Tổ chức xây dựng dự
án (Construction), chạy thử bàn giao công trình Hiện nay LILAMA đang tập trung
Trang 13toàn lực với các công việc trọng đại như lắp đặt hệ thống điện, hệ thống điều hoàthông gió, thang máy, chế tạo, lắp đặt trên 10.000 tấn thép với giá trị trên 667 tỷđồng cho Dự án Trung tâm hội nghị quốc gia, lập Dự án đầu tư Nhà máy thiết bịcông nghiệp nặng số 2 tại Khu công nghiệp Đình Vũ Hải Phòng Dự án có quy môlớn, công nghệ sản xuất hiện đại với các nhóm sản phẩm chính gồm: Turbine thuỷđiện 64-120 MW, Turbine nhiệt điện trên 300 MW, dây chuyền thiết bị xi măngcông suất 5.000 T Clinker/ngày Khi dự án hoàn thành sẽ đáp ứng một phần nhucầu chế tạo thiết bị đồng bộ cho các nhà máy điện, xi măng cỡ lớn tại Việt Nam Những đóng góp của LILAMA đối với công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc đãđược Đảng và Nhà nước ghi nhận bằng những phần thưởng cao quý: 01 Huânchương Hồ Chí Minh, 10 Huân chương độc lập hạng Nhất, Nhì, Ba; 01 Huân chươngchiến công, 03 Huân chương kháng chiến; 330 Huân chương Lao động cho nhiều tậpthể, cá nhân trong Tổng công ty; 05 Tập thể và 07 cá nhân được Đảng và Nhà nướcphong tặng danh hiệu Anh hùng lao động Tháng 9/2005 Tổng công ty Lắp máy ViệtNam được phong tặng Anh hùng lao động trong thời kỳ đổi mới mà Tổng công ty đã
tổ chức đón nhận Mục tiêu của giai đoạn 2005 - 2010, Tổng công ty Lắp máy ViệtNam sẽ phát triển trở thành Tập đoàn công nghiệp xây dựng theo mô hình Công ty
Mẹ - Con trong lĩnh vực lắp máy và chế tạo thiết bị, phát triển toàn diện trên các lĩnhvực đầu tư đa dạng hoá sản xuất kinh doanh, phát triển thương hiệu LILAMA sánhngang các Tập đoàn lớn của các nước trong khu vực và quốc tế
Trang 14Các trường đào tạo
1.3.2 Bộ máy tổ chức và những thành tựu đạt được cuả Tổng công ty Lắp máy Việt
Các phòng ban chức năng
Ban Tổng giám đốc
Ban kiểm soát
Trang 15đồng quản trị cũng thực hiện chức năng hoạch định các chiến lược phát triển củaTổng công ty trong tương lai
Hội đồng quản trị của Lilama có 5 người với cơ cấu thể hiện qua sơ đồ sau:
Sơ đồ 1.2: Mô hình hội đồng quản trị
Nguồn: Lilama.com.vn Tổng giám đốc và bộ máy giúp việc: Tổng giám đốc do Bộ trưởng Bộ xây
dựng bỗ nhiệm, miễn nhiệm, khen thưởng, kỷ luật theo đề nghị của Hội đồng quảntrị.Tổng giám đốc là đại diện pháp nhân của Tổng công ty và chịu trách nhiệmtrước Hội đồng quản trị, Bộ trưởng Bộ xây dựng và pháp luật về điều hành hoạtđộng của Tổng công ty theo quy định của Nhà nước mà Tổng công ty đang kinhdoanh Tổng giám đốc là người có quyền hạn lớn nhất trong Tổng công ty
Trong ban tổng giám đốc ngoài Tổng giám đốc còn có 7 phó tổng giám đốc
Chủ tịch HĐQT Ông Nguyễn Thế Thành
Uỷ viên HĐQT Ông Trần Văn Thắng
Ủy viên HĐQT
TP Thẩm định Ông Nguyễn Văn Tiến
Trang 16Sơ đồ 1.3: Ban tổng giám đốc
Nguồn: Lilama.com.vn
Các phòng ban và các đơn vị trực thuộc Tổng công ty: Tổng công ty Lắp máy
Việt Nam có cơ quan đóng tại 124 Minh Khai – Hà Nội bao gồm :
Trung tâm công nghệ thông tin
Ban tài chính kế toán
Văn phòng cơ quan Tổng công ty
PTGĐ Phạm
Bà Nguyễn Kim Thoa
PTGĐ Ông Nguyễn Đình Hải
PTGĐ Ông Nguyễn Quang Tuấn
PTGĐ Ông Phạm Đình Hoàn
Trang 17Sơ đồ 1.4: Các phòng ban chức năng
Nguồn: Lilama.com.vn
Trang 18Tổng công ty còn có các đơn vị phụ thuộc
Sơ đồ 1.5: Các đơn vị phụ thuộc
Nguồn: Lilama.com.vn
Hiện tại Lilama có 2 trường đào tạo
Sơ đồ 1.6: các trường đào tạo
Nguồn: Lilama.com.vn
Các trường đào
tạo
Trường cao đẳng nghề Lilama-IIHiệu trưởng Lê Văn Hiến
Công ty tư vấn lắp máy
GĐ Bùi Đức Hải
Công ty cơ giới tập trung
GĐ Mai Ngọc Diên
Công ty đầu tư và phát triển khu CN Bắc Vinh
GĐ Trần Văn Noãn
Viện công nghệ Hàn
GĐ Nguyễn Đình Bái
Trang 19Trường cao đẳng nghề Lilama- I tại Lê Hồng Phong - Đông Thành - NinhBình -Ninh Bình
Trường cao đẳng nghề Lilama – II tại Km32 quốc lộ 51 Long Phước- LongThành - Đồng Nai
Với hai trường đào tạo hàng năm cho ra từ 1.500- 2000 thợ thuộc nhiềungành nghề: Lắp đặt thiết bị cơ khí, lắp điện, lắp ống, chế tạo thiết bị và kết cấuthép, hàn điện vận hành và sửa chữa máy nổ và cẩu chuẩn thiết bị đáp ứng cho nhucầu nguồn nhân lực của Lilama
Nội dung và phương pháp đào tạo luôn được bổ xung, cải tiến để đáp ứngyêu cầu ngày càng cao về công nghệ và chất lượng công trình Ngoài việc đào tạocông nhân mới tại 2 trường, LILAMA còn đầu tư hàng chục tỷ đồng để đào tạo thợhàn cho các công trình đặc biệt như: nhiệt điện Phả Lại, Phú Mỹ để được cấpchứng chỉ Quốc tế
Lilama hiện có 20 công ty cổ phần là các công ty con, các công ty con căn cứvào hợp đồng mà Tổng công ty đã ký kết với chủ đầu tư để lập phương án kinhdoanh, đồng thời mỗi công ty thành viên cũng có nhiệm vụ tự phát triển đơn vịmình để đóng góp vào sự phát triển chung của Tổng công ty Các công ty thànhviên cũng phải tự chịu trách nhiệm về chất lượng sản phẩm của dự án cũng như kếtquả kinh doanh Trong quá trình kinh doanh, Tổng công ty luôn xác định mục tiêukinh doanh là thu lợi nhuận không phụ thuộc vào nhà nước Từ lợi nhuận thu được,Tổng công ty sẽ bổ sung vào nguồn vốn kinh doanh, đồng thời góp phần nâng caomức sống cho cán bộ công nhân viên Tổng công ty
Trang 20Sơ đồ 1.7: Các công ty cổ phần
Nguồn: Lilama.com.vn
Với 20 công ty cổ phần hoạt động trên các lĩnh vực lắp máy, chế tạo, sản xuất ximăng … Và trên khắp mọi miền Tổ quốc Việt Nam hầu như chưa có nơi nào nhữngngười thợ Tổng công ty lắp máy Việt Nam (LILAMA) chưa đặt chân đến
Trong số 20 công ty thành viên đã có nhiều công ty hoạt động có hiệu quả và
chứng minh được năng lực của mình Tính đến thời điểm 11/2007 đã có 4 doanh
nghiệp thành viên của Lilama là Lilama 10, Lilama 69-1, Lilama 69-2, Lilama 45-3
ký hợp đồng với các công ty chứng khoán tư vấn và quản lý lưu ký sổ cổ đông
Công ty cổ phần xi măng Thăng Long Công ty cổ phần xi măng Đô Lương Công ty cổ phần thuỷ điện Sông Ông Công ty cổ phần đầu tư và phát triển đô thị Lilama
Công ty cổ phần tư vấn quốc tế Công ty cổ phần tôn mạ màu Việt – Pháp
Trang 21Và ngày 25/12/2007 Công ty cổ phần Lilama 10 chính thức niêm yết9.000.000 cổ phiếu mã giao dịch L10 tại Sở Giao dịch chứng khoán thành phố HồChí Minh Đây là một sự kiện quan trọng đánh dấu sự xuất hiện của Thương hiệuLILAMA trên sàn chứng khoán Việt Nam.
Công ty tư vấn quốc tế ra đời đánh dấu một bước phát triển mới của Lilamakhông chỉ đơn thuần hoạt động trong lĩnh vực chế tạo, sản xuất mà bắt đầu chuyểnsang lĩnh vực tư vấn
Sơ đồ 1.8: Các công ty liên kết
Nguồn:
Lilama.com.vn
Trang 22Các văn phòng đại diện: Để kịp thời nắm bắt thông tin về thị trường Tổng
công ty đó và đang xây dựng mạng lưới kinh doanh tại các thị trường tiềm năngthông qua việc thành lập các văn phòng đại diện của Lilama tại một số nước trong
đó có CHLB Nga, hoặc các đại diện thương vụ đại sứ quán Việt Nam tại các nước
Đồng thời Lilama còn có Các Ban quản lý dự án, các Ban dự án , Các Banđiều hành, Văn phòng đại diện Lilama tại các công trường dự án Thực hiện chứcnăng quản lý và điều hành hàng nghìn công trình mà Lilama chịu trách nhiệm làmtổng thầu, chủ đầu tư tại khắp mọi miền tổ quốc
1.3.3 Giới thiệu về các sản phẩm thép mạ kẽm và thép mạ màu của Tổng công ty Lắp máy Việt Nam (LILAMA)
Hình 1: Nhà máy thép mạ kẽm, mạ màu Lilama
Được khởi công xây dựng từ năm 2002 tại khu công nghiệp Quang Minhtỉnh Vĩnh Phúc, nhà máy thép mạ kẽm mạ màu LILAMA đã chính thức đi vào hoạtđộng từ năm 2005 Nhà máy được trang bị với 2 dây truyền đồng bộ và tiên tiến từnhững tập đoàn công nghiệp nổi tiếng thế giới hiện nay Thiết bị của dây truyền mạkẽm được nhập khẩu khẩu từ Man - Ferrostaal (Đức), dây truyền mạ màu từ tậpđoàn Techint và Globus (Ý) Với công suất 130 000 tấn/năm, trong đó dây truyền
mạ kẽm đạt 80 000 tấn, mạ màu đạt 50 000 tấn, sản phẩm mạ kẽm, galfan, mạ màu
Trang 23của LILAMA Hà Nội có thể đáp ứng nhu cầu đang ngày một tăng lên của thị trườngthép Việt Nam hiện nay Bên cạnh việc bán sản phẩm ra thị trường, chúng tôi còn tiếptục sử dụng thép đã qua mạ kẽm, mạ màu để tiếp tục tạo ra những sản phẩm ứng dụngđáp sử dụng trực tiếp cho các công trình xây dựng Đó là thép tấm cán sóng, mái vòm,
xà gồ thép, và các phụ kiện mái
Các tiêu chuẩn áp dụng gồm có EN 10142, EN 10147 đối với sản phẩm mạkẽm, EN 10214, JIS G3302 đối với sản phẩm Galfan, và EN 10169, JISG 3312 đốivới sản phẩm mạ màu Với dây truyền thiết bị hiện đại, chất lượng cao
1.3.3.1.Sản phẩm thép mạ kẽm.
Bảng 1.1: Các loại thép mạ kẽm
Thành phần lớp mạ chính
(%) Công nghệ mạ nóng liên tục Độ dày lớp mạ
Mạ kẽm Zn 99,6; Pb < 0,08; Al < 0,2 Mạ hai mặt như nhau và hai mặt
Trang 24EN10142)
Hình 3: Một số hình ảnh về dây truyền mạ kẽm
Trang 251.3.3.2 Sản phẩm thép mạ màu.
Hình 4: Sản phẩm thép mạ màu
Độ dày: 0.18 - 1.6 mm
Chiều rộng: 600 – 1270 mm
Sản phẩm mạ màu đạt tiêu chuẩn JISG 3312 (tương đương với EN 10169)
Độ bền kéo tối đa: 700 x 106 pa
Giới hạn chảy 201N- 550N/ mm2
Bảng 1.2: Độ dày của lớp mạ màu của các công nghệ mạ màu
Sơn lót tiêu chuẩn mặt trên và mặt dưới
Nguồn: Lilama.com.vn
Trang 26Bảng 1.3: Kích thước độ dầy tôn trước và sau khi mạ kẽm, mạ màu.
Stt Độ dầy thép nền
(mm)
Độ dầy saukhi mạ thép(mm)
Độ dầy saukhi mạ màu(mm)
Trọng lượng saukhi mạ kẽm, majmàu (kg/m)
+ Chiều dày lớp mạ màu 25 m cho cả hai mặt
+ Chiều dày lớp mạ kẽm 120gr/m2 tương đương với 17 m cho cả hai mặt
+ Sản phẩm được đóng gói theo tiêu chuẩn Châu Âu.
Trang 27Hình 5: Một số hình ảnh về dây truyền mạ màu
Trang 28+ HYPERLINK "http://lilamahanoi.com.vn/sanpham_ungdung.asp" \l "2#2"
Xà gồ thép
+ HYPERLINK "http://lilamahanoi.com.vn/sanpham_ungdung.asp" \l "3#3"Uốn vòm
+ HYPERLINK "http://lilamahanoi.com.vn/sanpham_ungdung.asp" \l "4#4"Phụ kiện mái
Tôn cán sóng: Sản phẩm tôn cán sóng có nhiều loại phù hợp với mọi yêu
cầu của khách hàng được sản xuất từ thép mạ nhôm/kẽm hoặc phủ sơn epoxy vàpolyeste trên nền thép cường độ cao Được cán trên máy cán sóng 2 tầng CHJ-A-08
Trang 29theo tiêu chuẩn Châu Âu Dưới đây là những sản phẩm chính theo tiêu chuẩn.Ngoài ra, chúng tôi còn có thể cán các kích thước hiệu dụng khác theo đơn đặt
Hình 6: Sản phẩm tôn cán sóng
Xà gồ
mạ kẽm hoặc không mạ kẽm được cán trên máy xà gồ CHJ-AJ 02 tạo nên sản phẩm
C và Z theo tiêu chuẩn Châu Âu Vật liệu là thép tấm Ra = 2500 ~ 3.600 kg/cm2
Trang 30Hình 7: Sản phẩm xà gồ thép Kiểu chữ Z
Trang 31UỐN VÒM: Uốn vòm trên máy CHJ-L-37 theo tiêu chuẩn Châu Âu điều
chỉnh số lượng tấm và số lần ép thông qua màn hình PLC Kích thước uốn theo yêucầu của khách hàng
Trang 32Hình 8: Sản phẩm uốn vòm
INCLUDEPICTURE "http://lilamahanoi.com.vn/images/uonvom1.gif" \*
MERGEFORMATINET
PHỤ KIỆN MÁI: Phụ kiện được thực hiện trên máy dập thủy lực 20 feet
CHJ – 11 với lực ép 50 tấn Sản xuất theo tiêu chuẩn Châu Âu, hình dạng đa dạng
và phong phú theo kích thước quy chuẩn hoặc theo yêu cầu của khách hàng
Hình 9: Sản phẩm phụ kiện mái
Trang 33INCLUDEPICTURE "http://lilamahanoi.com.vn/images/uonvom2.gif" \*
MERGEFORMATINET
1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến xuất khẩu
1.4.1 Các nhân tố khách quan
Thứ nhất, do sự phát triển của nền kinh tế: Khi nền kinh tế của đất nước
phát triển thì nhà nước sẽ có ngân sách nhiều hơn để đầu tư nghiên cứu và phát triểnkhoa học công nghệ Nhà nước có điều kiện quan tâm nhiều hơn đến công tác đàotạo nguồn nhân lực từ đó nâng cao được trình độ của người lao động nhất là laođộng có đã qua đại học và cao đẳng để cung cấp cho các doanh nghiệp Nền kinh tếphát triển, chính phủ sẽ có nguồn ngân sách lớn để đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng,giao thông vận tải phục vụ cho các ngành kinh tế nói chung và hoạt động sản xuấtkinh doanh xuất khẩu nói riêng
Trang 34Thứ hai, các công cụ quản lý xuất khẩu của nhà nước: Bao gồm các công
cụ như thuế quan, tỷ giá hối đoái, các chính sách của nhà nước nhằm điều chỉnh cáncân thương mại
Thuế quan: Nếu căn cứ vào đối tượng tính thuế thì thuế quan gồm thuế quan
xuất khẩu và thuế quan nhập khẩu Nếu căn cứ vào phương pháp tính thuế gồmthuế quan tuyệt đối và thuế quan hạn ngạch Thuế quan nhập khẩu tuyệt đối là tỷ lệ
% tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu mà người nhập khẩu phải nộp Thuế quan nhậpkhẩu hạn ngạch là tỷ lệ % mà người nhập khẩu phải nộp khi nhập khẩu vượt quásản lượng cho phép Thông thường các quốc gia áp dụng hạn ngạch nhập khẩu caođối với các sản phẩm có tính cạnh tranh cao với sản phẩm cùng loại được sản xuấttrong nước và áp dụng hạn ngạch thấp với các sản phẩm là nguyên liệu thô hoặc chỉmới qua sơ chế Còn đối với các nước xuất khẩu sẽ áp dụng mức thuế xuất khẩu caođối với các sản phẩm xuất khẩu có nguồn gốc khai thác từ tài nguyên thiên nhiên vànguyên liệu quý hiếm trong nước
Tác động của tỷ giá hối đoái: Tỷ giá hối đoái có tác động trực tiếp đến giá
của sản phẩm xuất khẩu Khi tỷ giá hối đoái tăng tức là đồng tiền Việt Nam mất giá
so với đồng ngoại tệ từ đó sẽ thúc đẩy hoạt động xuất khẩu Khi tỷ giá giam thìngược lại Tỷ giá hối đoái thay đổi sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến sản lượng và kimngạch xuất khẩu của hàng hóa xuất khẩu
Do các chính sách nhằm điều chỉnh cán cân thương mại: Nhà nước sử dụngcác biện pháp khuyến khích hoặc hạn chế xuất nhập khẩu
Thứ ba, các yếu tố thuộc về tự nhiên: Do đặc điểm của các sản phẩm thép
xuất khẩu chủ yếu được vận chuyển bằng đường biển và đường thủy nên thườngxuyên gặp rủi ro khi thời tiết biến đổi Vì vậy các doanh nghiệp tham gia xuất khẩumuốn hạn chế được loại rủi ro này phải hiểu biết về lộ trình vận chuyển hàng hóa
Trang 35Phải quan sát và theo dõi những biến đổi của thời tiết, hiểu biết về khí hậu của cácthị trường mà mình xuất khẩu, của các nước trên lộ trình vận chuyển hàng hóa Đểhạn chế loại rủi ro này các doanh nghiệp cần mua bảo hiểm cho hàng hóa.
Thứ tư, các yếu tố đầu vào: Các yếu tố đầu vào bao gồm đất đai, nguyên
liệu, lao động và vốn Khi giá các yếu tố đầu vào thay đổi sẽ ảnh hưởng trực tiếpđến giá của các sản phẩm xuất khẩu Do đặc điểm của nước ta giầu tài nguyên thiênnhiên nên các doanh nghiệp Việt Nam có lợi thế xuất khẩu các sản phẩm có hàmlượng yếu tố đầu vào là lao động cao Nhưng do nhu cầu của người tiêu dùng ngàycàng tăng thì lợi thế này ngày càng mất dần Các sản phẩm có hàm lượng khoa họccông nghệ cao sẽ chiếm ưu thế hơn
1.4.2 Các nhân tố chủ quan
Thứ nhất, trình độ quản lý: Việt Nam là nước đang phát triển vẫn được
nhận xét là nước có trình độ quản lý yếu kém Nền giáo dục đào tạo không hiệu quả
và không có được một môi trường rèn luyện tốt Đào tạo không sát với nhu cầu thực
tế của các doanh nghiệp, lý thuyết được học nhiều còn thực hành và thực tế lại rất ítnên dễ dẫn đến tình trạng quản lý yếu kém do đó tác động trực tiếp đến hiệu quảlàm việc của cả bộ máy dẫn đến năng suất làm việc không cao
Thứ hai, cơ sở vật chất kỹ thuật của doanh nghiệp: Cơ sở vật chất của
doanh nghiệp là một nhân tố quan trọng quyết định đến chất lượng sản phẩm vàhiệu quả sản xuất Nó sẽ tạo ra được những sản phẩm tốt có năng suất cao Tuynhiên, muốn đầu tư cho cơ sở sản xuất có chất lượng tốt và đạt các tiêu chuẩn quốc
tế thì các doanh nghiệp phải có vốn đầu tư lớn nhưng Việt Nam là một nước nhỏcho nên chưa đủ vốn và lực để chú trọng đầu tư lắm
Thứ ba, tiềm lực tài chính: Công ty có nguồn lực tài chính vững mạnh vốn
thì bất cứ giai đoạn đầu tư nào của công ty cũng được thực hiện nhanh chóng Tiềm
Trang 36lực tài chính cũng là một một trong những nhân tố quan trọng không nhưng giúpcác doanh nghiệp mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh, nâng cao chất lượng sảnphẩm mà còn có thể thực hiện quả các hoạt động marketing khuếch trương, quảng
bá sản phẩm Để phát triển doanh số bán hàng đặc biệt là trong kinh doanh quốc tế
Thứ tư, năng lực của người lãnh đạo: Nhà lãnh đạo ảnh hưởng rất lớn đến
hiệu quả làm việc của công việc kinh doanh Họ sẽ làm cho bộ máy hoạt động cóhiệu quả và công việc kinh doanh cũng hoạt động tốt hơn Một nhà lãnh đạo hiệuquả sẽ vạch ra được đường lối và phương hướng phát triển lâu dài cho công ty, giúpcông ty không ngừng lớn mạnh Hơn nữa, một nhà lãnh đạo giỏi sẽ là người biếthuy động các nguồn lực khác từ bên ngoài, biết tạo không khí làm việc thân thiện
và khai thác tối đa năng lực của nhân viên
Trang 37CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU CÁC SẢN PHẨM THÉP MẠ KẼM, THÉP MẠ MÀU CỦA TỔNG CÔNG TY LẮP MÁY VIỆT NAM
(LILAMA) 2.1 Tình hình xuất khẩu các sản phẩm thép mạ kẽm, thép mạ màu của Tổng công ty Lắp máy Việt Nam (LILAMA)
2.1.1 Về giá trị sản lượng và kim ngạch xuất khẩu
Sau khi các sản phẩm thép mạ kẽm và thép mạ màu của Tổng công ty Lắpmáy Việt Nam (LILAMA) được giới thiệu trên thị trường thế giới từ năm 2002 thìsản lượng và kim ngạch xuất khẩu của các sản phẩm này liên tục tăng qua các năm.Các sản phẩm thép mạ kẽm và thép mạ màu của công ty ngày càng khảng địnhđược tên tuổi, thương hiệu và chỗ đứng của mình trên thị trường thế giới
Bảng 2.1: Giá trị sản lượng xuất khẩu các sản phẩm thép mạ kẽm và thép mạ
màu giai đoạn 2003 – 2007
Kim ngạch(tỷ đồng) 34.994 47.024 61.187 62.304 121.170
Nguồn: Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của Lilama
Từ bảng số liệu trên ta có biểu đồ về sự biến đổi sản lượng xuất khẩu các sảnphẩm thép mạ kẽm, thép mạ màu của Tổng công ty lắp máy Việt Nam LILAMAnhư sau:
Biểu đồ 2.1: Giá trị sản lượng xuất khẩu giai đoạn 2003 – 2007
Trang 38Sản lượng
2003 2004 2005 2006 2007
Năm
Nguồn: Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của Lilama
Từ bảng số liệu trên ta thấy sản lượng xuất khẩu các sản phẩm này có tốc độtăng trưởng không ngừng Năm 2003 sản lượng xuất khẩu đạt 2020.5 tấn Giá trịkim ngạch xuất khẩu đạt 34.994 tỷ đồng Đến năm 2004, sản lượng xuất khẩu đãtăng thêm 696.8 tấn, tức là tăng 34.5% Công ty đạt được kết quả này là do thựchiện tốt chiến lược quảng bá, giới thiệu sản phẩm ra thị trường quốc tế Điều nàychứng tỏ các sản phẩm thép mạ kẽm, thép mạ màu của công ty đã được khách hàngquốc tế tin dùng
Năm 2005, theo tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, Tổng công ty đã tiếnhành cổ phần hóa Do đó, nó đã ảnh hưởng phần nào đến sản lượng xuất khẩu cácsản phẩm của công ty Sản lượng xuất khẩu các sản phẩm thép mạ kẽm và thép mạmàu có tăng nhưng tốc độ tăng nhỏ hơn so với tốc độ tăng của năm 2004 Năm
Trang 392005 sản lượng xuất khẩu tăng 822.7 tấn nhưng tốc độ tăng chỉ tăng 30.3% so vớinăm 2004
Năm 2006, sản lượng xuất khẩu các sản phẩm này lại tăng mạnh Tốc độtăng sản lượng là 34.7%, tăng 1227.7 tấn so với năm 2005 Con số này đạt được dohai nguyên nhân Thứ nhất, nguyên nhân chủ quan đó là do năng lực của đội ngũnhân viên trong công ty đã nỗ lực trong việc nâng cao chất lượng sản phẩm, chútrọng nhiều đến công tác marketting và tích cục tham gia tim hiểu để mở rộng thịtrường Thứ hai, nguyên nhân khách quan đó là năm 2006 nước ta đã tiến sâu vàoquá trình hội nhập, hơn nữa công cuộc cổ phần hóa của công ty đã được hoàn tất
Năm 2007, sau khi Việt Nam gia nhập tổ chức thương mại thế giới WTO vàongày 7-11-2006 sản lượng và kim ngạch xuất khẩu của Tổng công ty đã có bướcđột phá lớn Năm 2007, sản lượng xuất khẩu đạt 7020 tấn tăng 2154.3 tấn Lượngtăng sản lượng xuất khẩu này còn cao hơn sản lượng xuất khẩu của năm 2003 Tốc
độ gia tăng sản lượng xuất khẩu đạt 47.3% Kim ngạch xuất khẩu đạt 121.170 tỷđồng Sở dĩ, kim ngạch xuất khẩu tăng nhanh như vậy là do giá thép tăng cao vì hainguyên nhân chính Thứ nhất, giá phôi thép trên thị trường thế giới tăng Vào tuầncuối tháng 11 và đầu tháng 12/2007 giá phôi có xu hướng nhích lên Ngay nguồnphôi mua của Malaysia đã vượt mức 600USD/tấn và có công ty đã phải ký hợpđồng mua phôi Malaysia 618- 620USD/tấn CFR cảng Việt Nam Phôi thép sản xuấttrong nước đã được các công ty thép lò điện sản xuất ở mức tối đa, có nhiều lò điệngần đạt mức công suất thiết kế, tuy nhiên do giá thép phế nhập khẩu cũng tăng theogiá phôi, nên giá phôi sản xuất trong nước cũng được các công ty chào bán tăng tới
Trang 40sự biến đổi sản lựơng thép mạ kẽm
xuất khẩu qua các năm
sản lượng xuất khẩu
gần 11 triệu VNĐ/tấn và cũng không dễ mua Thứ hai, giá xăng dầu tăng mạnh.Chính phủ điều chỉnh giá xăng tăng thêm 1.700VNĐ/l, giá dầu FO thêm2.500VNĐ/l đã ảnh hưởng trực tiếp đến giá thành sản xuất thép Với mức tăng nhưvậy, chỉ tính riêng tháng 11 và tháng 12/2007, ngành thép cả nước sẽ chi trên 40 tỷVNĐ vào giá thành thép và mỗi tấn thép sẽ tăng thêm khoảng 100.000VNĐ/tấn
Hơn nữa nhu cầu xây dựng trên thị trường là rất lớn do đó dẫn đến giá thép xuấtkhẩu tăng cao Đây là năm có sản lượng xuất khẩu cao nhất kể từ khi sản phẩm thép mạkẽm, thép mạ màu của công ty bắt đầu xuất khẩu Thành công này đã chứng tỏ sự nỗ lựccủa Tổng công ty trong tiến trình hội nhập kinh tế của đất nước
2.1.1.1 Giá trị sản lượng và kim ngạch xuất khẩu sản phẩm thép mạ kẽm
Bảng 2.2: Giá trị sản lượng và kim ngạch xuất khẩu sản phẩm thép mạ kẽm.
Kim ngạch ( tỷ đồng) 26.250 34.125 42.875 56.000 80.850
Nguồn: Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của Lilama
Biểu đồ 2.2: Sự biến đổi sản lượng thép mạ kẽm giai đoan 2003 - 2007