ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM MẠC ĐĂNG TRUNG “ NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM LÂM HỌC VÀ PHÂN BỐ CỦA LOÀI SA MỘC DẦUCUNNINGHAMIA KONISHII HAYATA TẠI KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊ
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
MẠC ĐĂNG TRUNG
“ NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM LÂM HỌC VÀ PHÂN
BỐ CỦA LOÀI SA MỘC DẦU(CUNNINGHAMIA KONISHII
HAYATA ) TẠI KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN XUÂN NHA,
HUYỆN MỘC CHÂU, TỈNH SƠN LA”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Quản lý tài nguyên rừng Khoa : Lâm nghiệp
Khoá học : 2010-2014
Thái Nguyên, 2014
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
MẠC ĐĂNG TRUNG
“ NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM LÂM HỌC VÀ PHÂN
BỐ CỦA LOÀI SA MỘC DẦU(CUNNINGHAMIA KONISHII
HAYATA ) TẠI KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN XUÂN NHA,
HUYỆN MỘC CHÂU, TỈNH SƠN LA”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Quản lý tài nguyên rừng Khoa : Lâm nghiệp
Khoá học : 2010-2014
Giáo viên hướng dẫn : Ths.NGUYỄN THỊ THU HOÀN
Thái Nguyên, 2014
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân tôi, các số liệu được điều tra thu thập khách quan và trung thực Kết quả nghiên cứu chưa được sử dụng công bố trên tài liệu nào khác Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm!
Thái Nguyên, ngày 16 tháng 5 năm 2014
XÁC NHẬN CỦA GVHD NGƯỜI VIẾT CAM ĐOAN
Ths Nguyễn Thị Thu Hoàn Mạc Đăng Trung
XÁC NHẬN CỦA GIÁO VIÊN CHẤM PHẢN BIỆN
Xác nhận sinh viên đã sửa theo yêu cầu của Hội đồng chấm Khóa luận tốt nghiệp!
Trang 4LỜI NÓI ĐẦU
Trong các trường Đại học, thời gian thực tập tốt nghiệp là khoảng thời gian rất quan trọng vì mỗi sinh viên đều có điều kiện, thời gian tiếp cận đi sâu vào thực tế, củng cố lại kiến thức đã học, học hỏi kinh nghiệm, phương pháp nghiên cứu, trau dồi thêm kiên thức, kỹ năng của thực tế vào trong công việc
Xuất phát từ nguyện vọng của bản thân, được sự nhất trí của nhà trường và Ban chủ nhiệm khoa Lâm nghiệp, tôi về thực tập tại Khu bảo tồn
thiên nhiên Xuân Nha, tỉnh Sơn La với tên đề tài: “Nghiên cứu một số đặc điểm lâm học và phân bố của loài Sa Mộc Dầu (Cunninghamia konishii Hayata ) tại Khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Nha,huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La
Sau một thời gian nghiên cứu,tôi đã hoàn thành khóa luận tốt nghiệp
Có được kết quả này trước hết tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến sự giúp
đỡ tận tình của Ths Nguyễn Thị Thu Hoàn và TS Hồ Ngọc Sơn trong suốt
quá trình thực hiện đề tài Nhân dịp này tôi cũng xin cảm ơn toàn thể thầy cô giáo trong khoa Lâm nghiệp, các cấp chính quyền và bà con nhân dân Huyện Mộc Châu, Ban giám đốc và lực lượng kiểm lâm Khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Nha, tỉnh Sơn La đã giúp đỡ tôi hoàn thành khóa luận này
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái nguyên,ngày 15 tháng 6 năm 2014
Sinh viên MẠC ĐĂNG TRUNG
Trang 5MỤC LỤC
Trang
Lời cam đoan
Lời nói đầu
Danh mục các bảng trong khóa luận
Danh mục các hình trong khóa luận
Danh mục các từ viết tắt trong khóa luận
Phần 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục đích nghiên cứu 2
1.3 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.3.1 Về lý luận 2
1.3.2 Về thực tiễn 2
1.4 Ý nghĩa của đề tài 3
1.4.1 Ý nghĩa trong học tập 3
1.4.2 Ý nghĩa ngoài thực tiễn 3
1.5 Giới hạn nghiên cứu 3
Phần 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 4
2.1 Cơ sở khoa học của nghiên cứu 4
2.2 Tình hình nghiên cứu trên Thế giới và Việt Nam 5
2.2.1 Thế giới 5
2.2.2 Việt Nam 7
2.3 Tổng quan khu vực nghiên cứu 9
2.3.1 Điều kiện của cơ sở, địa phương nơi triển khai thực hiện đề tài 9
2.3.2 Đa dạng sinh học và phân bố khu hệ động thực vật rừng quý hiếm, đặc hữu 13
2.3.3 Đánh giá tình hình xâm hại rừng của con người và các loài sinh vật ngoại lai 19
Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG, ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 22
3.2 Địa điểm và phạm vi nghiên cứu 22
Trang 63.3 Nội dung nghiên cứu 22
3.4 Phương pháp nghiên cứu 22
3.4.1 Phương pháp nghiên cứu chung 23
3.4.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể 24
Phần 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 28
4.1 Đặc điểm hình thái và vật hậu loài cầy Sa mộc dầu 28
4.1.1 Đặc điểm hình thái cây 28
4.1.2 Đặc điểm nón và hạt 30
4.2 Đặc điểm sinh thái nơi loài Sa mộc dầu phân bố 30
4.2.1 Đặc điểm địa hình nơi loài Sa mộc dầu phân bố 30
4.2.2 Đặc điểm sinh thái nơi loài Sa mộc dầu phân bố 30
4.3 Một số đặc điểm cấu trúc quần xã thực vật rừng nơi loài Sa mộc dầu phân bố 31
4.3.1 Cấu trúc tổ thành tâng cây cao 31
4.3.2 Cấu trúc mật độ tầng cây cao 34
4.3.3 Thành phần loài cây đi kèm với Sa mộc dầu 32
4.3.4 Cấu trúc tầng thứ 36
4.3.5 Tổ thành cây tái sinh 37
4.4 Đề xuất biện pháp kĩ thuật gây trồng loài cây Sa mộc dầu 38
Phần 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 40
5.1 Kết luận 40
5.2 Kiến nghị 41
TÀI LIỆU THAM KHẢO 42
MẪU BIỂU ĐIỀU TRA 44
PHỤ LỤC 52
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG TRONG KHÓA LUẬN
Bảng 2.1 Hiện trạng rừng đặc dụng Xuân Nha phân theo xã năm 2003
Bảng 2.2 Sự phân bố các taxon các ngành của hệ thực vật Xuân Nha
Bảng 2.3 Thành phần loài thực vật của Khu BTTN Xuân Nha với một số Vườn quốc gia và khu BTTN khu vực phía Bắc
Bảng 2.4 Những họ có số loài nhiều nhất của hệ thực vật Xuân Nha
Bảng 2.5 Đa dạng khu hệ động vật Khu BTTN Xuân Nha
Bảng 2.6 Những động vật quý hiếm Khu BTTN Xuân Nha
Bảng 2.7 Cấu trúc thành phần loài khu hệ thú Khu BTTN Xuân Nha
Bảng 3.1.Các tuyến điều tra đã khảo sát tại Khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Nha, tỉnh Sơn La
Bảng 4.1 Kích thước cây Sa mộc dầu tại KBT Xuân Nha, Tỉnh Sơn La
Bảng 4.2: Tổ thành cây gỗ nơi Sa mộc dầu phân bố tại đai độ cao 900-1100m Bảng 4.3: Tổ thành cây gỗ nơi Sa mộc dầu phân bố tại độ cao 1100 – 1300m Bảng 4.4: Tổ thành cây gỗ nơi sa mộc dầu phân bố tại độ cao 1300-1500m Bảng 4.5: Mật độ lâm phần của tầng cây cao và Sa mộc dầu
Bảng 4.6 Thành phần các loài cây gỗ đi kèm với Sa mộc dầu
Bảng 4.7.Thành phần các loài cây bụi thảm tươi nơi Sa mộc dầu phân bố Bảng 4.8: Công thức tổ thành của cây tái sinh rừng nơi có loài Sa mộc dầu phân bố
Trang 8DANH MỤC CÁC HÌNH TRONG KHÓA LUẬN
Hình 4.1 Hình ảnh thân Sa mộc dầu
Hình 4.2 Hình ảnh thân Sa mộc dầu
Hình 4.3 Hình thái lá cây Sa mộc dầu
Hình 4.4 Hình thái lá cây Sa mộc dầu
Trang 9DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
nhiên và tài nguyên thiên
Trang 10Phần 1
MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề
Bảo tồn đa dạng sinh học được coi là một trong những nhiệm vụ quan trọng và là trọng tâm đối với sự phát triển trên toàn thế giới Với sự phát triển nhanh chóng của kinh tế xã hội cùng với sự quản lý tài nguyên sinh học còn yếu kém đã làm cho đa dạng sinh học (ĐDSH) bị suy thoái ngày càng nghiêm trọng Sự mất mát về ĐDSH hiện nay là đáng lo ngại, nhiều loài động thực vật
bị đe dọa và bị tuyệt chủng mà nguyên nhân chủ yếu là do con người sử dụng tài nguyên không hợp lý Do đó, việc quản lý tài nguyên và bảo tồn ĐDSH là thực sự cần thiết và cấp bách
Loài Sa mộc dầu (Cunninghamia konishii Hayata) là một trong số 33 loài
cây lá kim bản địa ở Việt Nam, có phân bố tự nhiên hiện còn sót lại ở vùng núi cao thuộc các tỉnh phía bắc Việt Nam Đây là loại cây gỗ lớn, gỗ lá kim, thớ gỗ đẹp và đặc biệt là có chứa tinh dầu trong các thành phần của cây, thường mọc trên các đỉnh núi đá có độ cao từ 500 – 1500m so với mặt nước biển như Hà Giang, Sơn La, Nghệ An, Thanh Hóa Loài này mang nhiều ý nghĩa về sinh thái, giá trị thương mại, giá trị sử dụng, giá trị văn hóa cảnh quan
Hiện nay vùng phân bố tự nhiên bị thu hẹp nhanh chóng và một số cá thể trưởng thành của loài bị giảm sút nghiêm trọng do nhiều nguyên nhân, nhưng chủ yếu là do khai thác gỗ vì mục đích thương mại và xây dựng, làm hàng mỹ nghệ, điều kiện hoàn cảnh sống thay đổi, quần thể bị chia cắt, khả năng tái sinh kém Vì vậy, loài này đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng Cần phải có ngay biện pháp kịp thời để bảo tồn và hướng tới phát triển nhân rộng loài cây
gỗ quý, hiếm ở vùng núi đá vôi
Hiện trạng quốc gia đề xuất qua đánh giá đang bị tuyệt chủng A2c, B2ab (I - V) Ở trên thế giới Sa mộc dầu được đánh giá ở mức Sắp bị tuyệt chủng A1c, tuy nhiên hiện trạng quốc tế này được NCG đánh giá lại trong tài liệu này là Đang bị tuyệt chủng A1c Ở Việt Nam do kích thước các quần thể nhỏ, phân bố hạn chế ở một số địa điểm tại ba tỉnh và và các khu rừng này bị phá
do phát nương làm rẫy nên loài này đáp ứng tiêu chuẩn IUCN 2001 ở mức sắp bị tuyệt chủng [18]
Trang 11Những nghiên cứu về Sa mộc dầu ở nước ta còn nhiều hạn chế,chủ yếu tập trung ở các tỉnh Thanh Hóa và Nghệ An, nơi con nhiều cá thể Sa mộc dầu lớn tập trung Các nghiên cứu mới chỉ tập trung vào việc sơ bộ mô tả đặc điểm hình thái, sinh thái, những thông tin về khả năng tái sinh ngoài tự nhiên còn rất ít
Để bảo tồn loài quý hiếm này cần thiết phải có những nghiên cứu sâu về đặc điểm hình thái, sinh thái học và vật hậu Vì vậy việc nghiên cứu hiện trạng phân bố, đặc điểm lâm học và khả năng tái sinh tự nhiên là điều cần thiết, góp phần giải quyết các các vấn đề đang đặt ra cho công tác bảo tồn một loài quý hiếm, đặc hữu, có giá trị về nhiều mặt nhưng đang đứng trước nguy
cơ tuyệt chủng
Xuất phát từ những nguy cơ trên cần thiết phải tìm hiểu nhằm tìm ra các biện pháp có hiệu quả để bảo vì vậy tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Nghiên cứu một số đặc điểm lâm học và phân bố của loài Sa mộc
dầu (Cunninghamia konishii Hayata ) tại Khu bảo tồn thiên nhiên Xuân
Nha,huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La”
1.2.Mục đích nghiên cứu
Dựa trên cơ sở nghiên cứu đặc điểm lâm học loài Sa mộc dầu tại Khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Nha, tỉnh Sơn La nhằm cung cấp thêm thông tin, cơ
sở khoa học để phát triển và bảo tồn loài cây quý này
1.3 Mục tiêu nghiên cứu
1.3.1.Về lý luận
Xác định được một số đặc điểm lâm học như: sinh thái, phân bố, hình
thái, vật hậu, cấu trúc, tái sinh của Sa mộc dầu (Cunninghamia
konishii Hayata) tại khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Nha, tỉnh Sơn La
1.3.2 Về thực tiễn
- Nâng cao được nhận thức của các nhà quản lý có cái nhìn tổng thể hơn về công tác quản lý bảo vệ rừng tại khu vực nghiên cứu, từ đó có những điều chỉnh hợp lý nhằm đem lại hiệu quả cao trong quản lý bảo vệ tài nguyên rừng
Trang 12- Xây dựng cơ sở khoa học đưa ra giải pháp bảo tồn và phát triển loài
cây Sa mộc dầu (Cunninghamia konishii Hayata), nâng cao tính đa dạng
sinh học
- Cung cấp những thông tin nghiên cứu giúp mọi người hiểu biết thêm
về loài cây này
- Có được một tài liệu tham khảo cho một số công tác nghiên cứu về
cây Sa mộc dầu (Cunninghamia konishii Hayata)
1.4.Ý Nghĩa của đề tài
1.4.1 Ý nghĩa trong học tập
Giúp trau dồi, củng cố thêm kiến thức về các loài thực vật, đưa kiến thức đã học vào thực tiễn để tiến hành thu thập thông tin, phân tích xử lý số liệu ở ngoài thực tiễn
1.4.2 Ý nghĩa ngoài thực tiễn
Biết được đặc điểm phân bố, đặc điểm sinh thái, đặc điểm cấu trúc, tình trạng và vai trò của loài Sa mộc dầu; Từ nghiên cứu đưa ra các biện pháp bảo
tồn loài một cách tốt nhất
1.5 Giới hạn nghiên cứu
- Về đối tượng: Sa mộc dầu (Cunninghamia konishii Hayata) phân bố ở
Trang 13Phần 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
2.1 Cơ sở khoa học của nghiên cứu
Hiện nay, do nhiều nguyên nhân khác nhau làm cho nguồn tài nguyên ĐDSH của Việt Nam đã và đang bị suy giảm Nhiều hệ sinh thái và môi trường sống bị thu hẹp diện tích và nhiều Taxon loài và dưới loài đang đứng trước nguy cơ bị tuyệt chủng trong một tương lai gần
Dựa trên các tiêu chuẩn đánh giá tình trạng các loài của IUCN 1978[18], Việt Nam cũng công bố trong Sách đỏ Việt Nam năm 2007 [3] phần II Thực vật để hướng dẫn, thúc đẩy công tác bảo vệ tài nguyên sinh vật thiên nhiên phân chia ra các thứ hạng sau:
+ Bị tuyệt chủng (EX)
+ Tuyệt chủng trong tự nhiên(EW)
Nhóm các loài nguy cấp được chú trọng bảo vệ hàng đầu gồm các phân hạng chính sau:
- Ít quan tâm: Least Concern (LR/lc)
+ Thiếu dẫn liệu: Data Deficient (DD)
+ Không đánh giá: Not Evaluated (NE)
Để bảo vệ và phát triển các loài Động thực vật quý hiếm Chính phủ đã
ban hành Nghị định số 32/2006/NĐ-CP[6] Nghị định quy định các loài động,
thực vật quý, hiếm gồm hai nhóm chính:
+ IA,B Thực vật rừng, động vật rừng nghiêm cấm khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại (IA đối với thực vật rừng)
Trang 14+ IIA,B Thực vật rừng, động vật rừng hạn chế khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại (IIA đối với thực vật rừng)
Căn cứ vào phân cấp bảo tồn loài và ĐDSH tại Khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Nha, tỉnh Sơn La có rất nhiều loài động thực vật được xếp vào cấp bảo tồn CR, EN và VU cần được bảo tồn, nhằm gìn giữ nguồn gen quý giá cho thành phần đa dạng sinh học ở Việt Nam nói riêng và thế giới nói chung, một trong những loài thực vật cần được bảo tồn đó chính là Sa mộc dầu tại Khu bảo tồn, đây là cơ sở khoa học đầu tiên giúp tôi tiến đến nghiên cứu và thực hiện đề tài
2.2 Tình hình nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam
2.2.1.Thế giới
Sa mộc dầu ( Cunninghamia konishii Hayata) thuộc họ Hoàng Đàn –
Cupressaceae, thuộc Bộ Thông – Coniferales
Tên khác: Cunninghamia kawakami Hayata; Cunninghamia
lanceolata (Lamb.) Hook var konishii; Cunninghamia lanceolata auct non
(Lamb.) Hook: P.K Loc
Sa mộc dầu (danh pháp khoa học là Cunninghamia konishii Hayata), là
một loài thực vật Hạt trần, thuộc họ Hoàng Đàn, Bộ Thông
Họ Hoàng Đàn bao gồm các loài cây thân gỗ hay cây bụi, có cơ quan sinh dục hoặc là đơn tính cùng gốc, hoặc là đơn tính cận khác gốc, đôi khi là đơn tính khác gốc, cao từ 1–116 m Vỏ cây của các cây trưởng thành nói chung có màu từ nâu da cam tới nâu đỏ với kết cấu có thớ, thường bong ra hay dễ lột theo chiều dọc, nhưng lại trơn, xếp vảy hoặc cứng và dễ vỡ thành miếng hình vuông ở một số loài
Lá của chúng hoặc là mọc thành vòng xoắn ốc, theo các cặp chéo chữ thập (các cặp đối, mỗi cặp cách cặp trước 90°) hoặc thành vòng xoắn chữ thập gồm 3 hay 4 lá, phụ thuộc vào từng chi Trên các cây non các lá có hình kim, trở thành các lá giống như vảy nhỏ trên các cây trưởng thành của nhiều chi (nhưng không phải tất cả); một số chi và loài duy trì các lá hình kim trong suốt cuộc đời chúng Các lá già phần lớn không rụng riêng lẻ, mà thường rụng
dưới dạng các cành lá nhỏ (cladoptosis); các ngoại lệ là các lá trên các cành
non đã phát triển thành cành lớn, chúng cuối cùng rụng một cách riêng rẽ khi
Trang 15vỏ cây bắt đầu bong ra Phần lớn là cây thường xanh với các lá tồn tại từ 2-10
năm, nhưng có 3 chi (Glyptostrobus, Metasequoia, Taxodium) là các loài cây
sớm rụng lá hoặc bao gồm các loài có lá sớm rụng
Quả nón của chúng hoặc là dạng gỗ, dai như da, hoặc (chi Juniperus) là
dạng giống như quả mọng và nhiều thịt, với một hoặc nhiều noãn trên một vảy Các lá bắc (vảy bắc) và lá noãn (vảy noãn) hợp nhất cùng nhau, ngoại trừ
ở phần đỉnh, tại đó các lá bắc thường được nhìn thấy như là một gai ngắn
(mấu lồi) trên lá noãn Giống như cách sắp xếp của bộ lá, các vảy của nón
hoặc là sắp xếp thành vòng xoắn ốc chữ thập (đối) hoặc thành vòng xoắn, phụ thuộc vào từng chi Các hạt phần lớn là nhỏ và hơi dẹp, với hai cánh hẹp, mỗi
bên hạt có một cánh; ít khi (chẳng hạn chi Actinostrobus) có tiết diện tam giác với ba cánh; ở một số chi (như Glyptostrobus, Libocedrus) thì một cánh lớn hơn đáng kể so với cánh kia, và ở một số chi (như Juniperus,
Microbiota, Platycladus, Taxodium) thì hạt lớn hơn và không có cánh Các
cây giống non thường có 2 lá mầm, nhưng ở một vài loài có thể có tới 6 lá mầm Các nón chứa phấn là đồng nhất hơn về cáu trúc ở cả họ, chúng dài khoảng 1–20 mm, với các vảy cũng sắp xếp theo các kiểu tương tự như ở các nón cái và phụ thuọc theo từng chi; chúng hoặc là mọc đơn lẻ ở đỉnh cành
(phần lớn các chi) hay ở nách lá (chi Cryptomeria), hoặc mọc thành cụm (chi Cunninghamia và loài Juniperus drupacea), hoặc là trên trên các cành
non riêng biệt, dài giống như các chùy rủ xuống (các
chi Metasequoia, Taxodium)
Họ Cupressaceae là họ phân bố rộng khắp nhất trong các họ thực vật hạt trần thuộc ngành Thông, với sự phân bố gần như toàn cầu ở mọi lục địa, ngoại trừ châu Nam Cực, kéo dài từ vĩ độ 71° bắc ở khu vực cận Bắc cực của Na
Uy (cây bách xù thông thường Juniperus communis) tới vĩ độ 55° nam ở khu vực xa nhất về phía nam của Chile(Pilgerodendron uviferum), trong khi Juniperus indica có thể sinh trưởng tốt ở cao độ 5.200 m tại khu vực Tây
Tạng, là cao độ lớn nhất mà người ta thông báo là có bất kỳ loài cây có thân
gỗ nào có thể sinh sống Phần lớn các môi trường sinh sống trên mặt đất đều
có thể có chúng, ngoại trừ các lãnh nguyên và các rừng mưa nhiệt đới vùng đất thấp (mặc dù một vài loài là các thành phần quan trọng của các rừng mưa
Trang 16ôn đới và các rừng mây nhiệt đới vùng núi); chúng cũng rất hiếm xuất hiện trong các sa mạc, với chỉ một ít loài có thể chịu đựng được các điều kiện khô
hạn khắc nghiệt, đáng chú ý là Cupressus dupreziana ở trung tâm khu
vực Sahara Mặc dù có sự phân bố rộng khắp chung của toàn họ, nhưng nhiều chi hay loài chỉ có sự phân bố rất hạn chế, và nhiều loài hiện đang ở tình trạng nguy cấp
Trên thế giới, Sa mộc dầu phân bố chủ yếu ở Trung Quốc, Đài Loan và Lào Tại Đài Loan, Sa mộc dầu được coi là gỗ tốt nên bị khai thác trên quy
mô lớn, kết quả là các quần thể hiện tại bị chia cắt, nằm rải rác không tập trung [15]
Nguồn gen Sa mộc dầu tại Đài Loan đang được lưu giữ và bảo tồn trong Ngân hàng hạt giống (Tree Seed Bank) cùng với 152 loài thực vật khác (Huang et al., 2008) [17] Bên cạnh đó nguồn gen Sa mộc dầu còn được lưu tại một số vườn thực vật ở Châu Âu
Tại Đài Loan, sau nhiều thập kỉ bị khai thác cạn kiệt, từ những năm 1950 chương trình trồng rừng quy mô lớn được thực hiện đã góp phần bảo tồn nguồn gen loài này Tại đây Sa mộc dầu phân bố ở độ cao 1300-2800m, sinh trưởng tốt ở nhiệt độ trung bình năm 17-22 ºC và lượng mưa 2000-3500mm/ năm Trên các địa điểm phù hợp cây có thể tăng 1 mét chiều cao và 1cm đường kính 1 năm Nhằm nâng cao chất lượng gỗ và sinh trưởng thì nhiều chương trình nghiên cứu, khảo nghiệm đã được thực hiện từ những năm 1970
2.2.2 Ở Việt Nam
Ở Việt Nam Sa mộc dầu được tìm thấy ở Hà Giang (Tây Côn Lĩnh), Thanh Hoá (Xuân Liên) và Nghệ An (Pù Hoạt, Pù Huống, Pù Mát, Kỳ Sơn) Sơn La (Xuân Nha)
Việt Nam được xếp vào một trong 10 điểm nóng nhất thế giới về bảo tồn Thông, theo như kế hoạch bảo tồn Thông của IUCN [18] Dự án “Bảo tồn và phát triển nguồn gen quý hiếm, bảo vệ đa dạng sinh học ở xã Thài Phìn Tủng, huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang” do Quỹ Môi trường toàn cầu, Chương trình tài trợ các dự án nhỏ tại Việt Nam (UNDP- GEF/SGP) thực hiện mới chỉ bảo tồn được 4 loài thuộc nhóm Thông (Thông tre lá ngắn, Hoàng đàn rủ, Thông
đỏ và Dẻ tùng sọc nâu)
Trang 17Ngoài tập “Sách đỏ Việt Nam – phần thực vật ” thống kê số loài có nguy
cơ tuyệt chủng của cả nước [3], thì các công trình nghiên cứu về loài có nguy
cơ tuyệt chủng ở từng vùng và khu vực cụ thể còn rất ít Một số công trình đáng chú ý là:
Nguyễn Thị Yến khi nghiên cứu đặc điểm cấu trúc và tính đa dạng nguồn tài nguyên cây thuốc ở một số kiểu thảm thực vật tại xã Xuân Sơn, huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ, đã thống kê được 20 loài thực vật quý hiếm,trong đó có 15 loài ở mức sẽ nguy cấp (VU) và 5 loài ở mức nguy cấp dựa theo những thứ hạng và tiêu chuẩn của sách đỏ Việt Nam (2007) và IUCN [14]
Hoàng Thị Thanh Thúy khi nghiên cứu hiện trạng hệ thực vật ở khu Bảo tồn thiên nhiên Thần Sa - Phượng Hoàng đã thống kê và lập danh mục số loài thực vật quý hiếm ở khu Bảo tồn thiên nhiên Thần Sa - Phượng Hoàng gồm
có 44 loài có tên trong Sách đỏ Việt Nam và 22 loài có tên trong nghị định số 32/2006/ND-CP [11]
Tại Nghệ An nghiên cứu đã được tiến hành để xác định toàn bộ khu vực phân bố của loài Sa mộc dầu trong tỉnh và nghiên cứu các đặc điểm sinh học
và sinh thái của loài Nghiên cứu tại Vườn Quốc Gia Pù Mát, Nghệ An cho thấy tình hình tái sinh của Sa mộc dầu rất kém Cây tái sinh chủ yếu xuất hiện
ở giai đoạn cây mạ và khi chuyển sang giai đoạn cây con thì ít bắt gặp, tỷ lệ cây con có triển vọng thấp Đây là một vấn đề và là một thách thức lớn đang đạt ra trong công tác bảo tồn loài quý hiếm này Quả Sa mộc dầu sau khi chín thì hạt không được tách ra mà vẫn nằm nguyên ở trên nón Nón rụng xuống gặp điều kiện thuận lợi sẽ nảy mầm cây tái sinh ngay trên nón Hiện tượng này hoàn toàn khác so với các loài thuộc ngành Hạt trần mà chúng ta đã nghiên cứu và tìm hiểu Qua đây chúng ta có thể giải thích được tại sao trong
tự nhiên thường thấy Sa mộc dầu tái sinh theo cụm hoặc theo đám
Ở Việt Nam, cây Sa mộc dầu có kích thước quần thể nhỏ, phân bố hạn chế ở các tỉnh miền núi phía Bắc và việc phá rừng làm nương rẫy thời gian trước đây đã khiến cho loài này trở nên nguy cấp Do kích thước các quần thể nhỏ, phân bố hạn chế ở một số địa điểm tại ba tỉnh và và các khu rừng này bị phá do phát nương làm rẫy nên loài này đáp ứng tiêu chuẩn IUCN 2001 [18]
ở mức sắp bị tuyệt chủng
Trang 18Tóm lại, những nghiên cứu về các loài thực vật quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng ở nước ta còn rất ít Do nhiều nguyên nhân khác nhau mà số lượng các loài động thực vật có giá trị đang bị giảm sút, bị đe dọa và có nguy
cơ tuyệt chủng Tùy vào từng thời điểm, một loài có thể đang ở cấp này có thể chuyển sang cấp khác (do nhiều nguyên nhân) Vì vậy cần có nhiều nghiên cứu đầy đủ hơn để đánh giá số loài thực vật có nguy cơ tuyệt chủng ở từng vùng cụ thể và đánh giá thường xuyên nhằm có thể bảo tồn các loài thực vật quý hiếm có giá trị ở nước ta
Nhiệm vụ đặt ra trước mắt là giới thiệu, giáo dục, nâng cao ý thức cho người dân nhằm hạn chế đến mức thấp nhất việc khai thác Sa mộc dầu và các loài cây lá kim quý hiếm khác Tiếp đến, trên cơ sở nhân giống thành công loài Sa mộc dầu của dự án, triển khai mở rộng nhân giống tại địa điểm thích hợp Tuy nhiên, để làm được điều này rất cần sự quan tâm, hỗ trợ của các cấp chính quyền cũng như các tổ chức quốc tế và đặc biệt là của người dân
2.3 Tổng quan khu vực nghiên cứu
2.3.1 Điều kiện của cơ sở, địa phương nơi triển khai thực hiện đề tài
2.3.1.1 Vị trí địa lý và đặc điểm tự nhiên
a Vị trí địa lý và diện tích, ranh giới
Khu Bảo Tồn Thiên Nhiên Xuân Nha nằm trên địa bàn của các xã: Xuân Nha, Tân Xuân, thuộc Huyện Mộc Châu, Tỉnh Sơn La Khu bảo tồn thiên nhiên được thành lập dựa trên quyết định số 3440/QĐ-UBND ngày 11/11/2002 của UBND tỉnh Sơn La Tổng diện tích 16.316,8 ha (Rà soát 3 loại rừng), trong đó khu vực bảo vệ nghiêm ngặt có diện tích 10.476 ha, khu vực phục hồi sinh thái là 5.840,8 ha
*Toạ độ địa lý:
- 20084’45” đến 20054’54” Vĩ độ Bắc
- 104028’38” đến 104050’28” kinh độ Đông
*Ranh giới hành chính:
• Phía Bắc: giáp xã Mường Sang, Vân Hồ, Lóng Luông huyện Mộc Châu
• Phía Đông : giáp Khu bảo tồn Hang Kia Pà Cò, tỉnh Hoà Bình
• Phía Nam: giáp với xã Mường Lý, tỉnh Thanh Hóa
• Phá Tây: giáp nước CHDCND Lào
Trang 19b Địa hình, địa thế
Khu rừng đặc dụng Xuân Nha có địa thế hiểm trở, độ dốc cao, địa hình
bị chia cắt mạnh, đỉnh núi cao nhất trong Khu bảo tồn là đỉnh Pha Luông cao
1969 m Với đặc điểm địa hình đã tạo nên sự đa dạng về các loài động, thực vật và đây có thể được coi là khu vực điển hình đại diện cho những đặc thù của khu hệ động thực vật hoang dã thuộc khu vực Tây Bắc của Việt Nam
c Khí hậu thủy văn
- Nhiệt độ: Chia hai mùa rõ rệt: Mùa nóng từ tháng 5 đến tháng 9 có
nhiệt độ trung bình 20-250C Độ ẩm không khí trung bình 80-85% Từ tháng
10 đến tháng 04 năm sau nhiệt độ thường thấp hơn 200C Mùa đôngnhiệt độ xuống dưới 130C và cá biệt có khi xuống tới 3-50C
- Lượng mưa : Lượng mưa trung bình năm từ 1.700-2.000mm Mưa to
thường tập trung vào mùa nóng Mùa mưa thường gây ra ngập úng cục bộ trong thời gian ngắn ở các thung, khe hoặc quanh các lỗ hút xuống sông suối
ngầm
- Gió: Hướng gió thịnh hành của khu bảo tồn là Đông Bắc, Đông Nam
Hằng năm và các tháng 4-8 đôi khi có gió Tây nam khô nóng xuất hiện hiện
mỗi đợt 2-4 ngày với tốc độ gió 10-15 m/g
- Sương mù: Tháng 1 và 2, mùa lạnh thường có sương mù
- Thủy văn: Khu vực có 3 hệ thống suối lớn là: Suối Quanh, Suối Con
chảy ra Sông Mã và Suối Sập chảy về Yên Châu và đổ ra Sông Đà Ngoài ra có nhiều suối ngầm, suối cụt, các mó nước, hang nước Hệ thống suối có nước quanh năm
d Đất đai
Trong Khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Nha có 6 loại đất chính:
- Đất Feralit màu vàng sẫm phát triển trên đá sét hoặc biến chất, tầng đất dày, thành phần cơ giới trung bình (Phân bố ở độ cao 700 – 1.700m)
- Đất Feralit màu vàng nâu phát triển trên sản phẩm đá vôi hoặc đá vôi biến chất, tầng đất mỏng, thành phần cơ giới nhẹ đến trung bình (Phân bố ở
độ cao 700 – 1.700m)
- Đất Feralit màu vàng nhạt phát triển trên đá sét hoặc biến chất, tầng đất dày, thành phần cơ giới trung bình (Phân bố ở độ cao 700 – 1.700m)
Trang 20- Đất Feralit màu vàng nhạt hoặc vàng xám phát triển trên phiến thạch sét, phấn sa, đá cát, sa thạch, sỏi cuội kết, tầng đất dày, thành phần cơ giới trung bình hoặc nhẹ thường ở vùng đồi núi thấp (Phân bố ở độ cao 300 – 1.000m)
- Đất Feralit màu vàng xám biến đổi do trồng lúa, có thành phần cơ giới trung bình, phân bố quanh làng bản
- Đất dốc tụ phân bố ven chân núi, ven sông, suối
2.3.1.2 Hiện trạng rừng và sử dụng đất
a Hiện trạng tài nguyên rừng
Trên cơ sở bản đồ hiện trạng rừng đã xây dựng từ ảnh Spot 5 kết hợp điều tra ngoài thực địa cùng với kết quả rà soát 3 loại rừng, kết quả khu rừng đặc dụng Xuân Nha có những trạng thái rừng bảng 2.1 dưới đây
Qua bảng 2.1 cho thấy đặc điểm các trạng thái rừng như sau:
- Rừng giàu: Rừng giàu trong Khu đặc dụng có 7.821,4 ha, chiếm 40,5%
tổng diện tích đất có rừng, phần diện tích này tập trung chủ tại các tiểu khu trong phân khu bảo vệ nghiên ngặt (BVNN) Rừng có chiều cao cây gỗ đạt 18-25 m; đường kính bình quân từ 25-30 cm; M= 210-230 m3/ha, cấu trúc rừng ổn định Đây là loại rừng có trữ lượng lớn, còn nhiều nguồn gen đặc hữu, quý hiếm, cần được bảo vệ tốt để rừng phát huy vai trò phòng hộ môi trường, bảo tồn đa dạng sinh học và phục vụ nghiên cứu khoa học, du lịch sinh thái
- Rừng trung bình: Diện tích rừng trung bình là 977,6 ha, chiếm 5,1%
diện tích đất có rừng, phân bố rải rác trên tất cả các phân khu chức năng của Khu đặc dụng Độ tàn che của rừng từ 0,6-0,8; chiều cao trung bình của cây rừng đạt 16-18m; đường kính trung bình của cây rừng từ 20-25 cm; trữ lượng bình quân của rừng từ 110-130 m3/ha
- Rừng nghèo: Diện tích 1.378,9 ha, chiếm 7,1% diện tích đất có rừng của
Khu rừng đặc, phân bố chủ yếu tại phân khu phục hồi sinh thái (PHST) ở gần khu dân cư sinh sống như bản Khò Hồng và Chiềng Him Đây là hậu quả của quá trình khai thác quá mức trong một thời gian dài Độ tàn che từ 0,3-0,4; đường kính trung bình của cây rừng từ 20-24 cm; trữ lượng bình quân của rừng
< 100 m3/ha
Trang 21Bảng 2.1 Hiện trạng rừng đặc dụng Xuân Nha, phân theo xã năm 2013
Xuân Nha
Chiềng Sơn
(Nguồn: Số liệu TNR năm 2010 và kết quả phúc tra: tháng 05 năm 2013)
- Rừng phục hồi: Diện tích 2.388,5 ha, chiếm 12,4% diện tích đất có rừng,
tập trung chủ yếu gần khu canh tác nông ngiệp Đây là kết quả của quá trình tái sinh sau canh tác nương rẫy và khai thác kiệt, trữ lượng rừng thấp từ 50-70 m3/ha
- Rừng hỗn giao: Diện tích 483,2 ha, chiếm 2,5% diện tích đất có rừng
Rừng hỗn giao phân tập trung chủ yếu tại tiểu khu 1007A Rừng có độ tàn che
từ 0,7-0,8
Trang 22- Rừng tre nứa: Diện tích 2.936,7 ha, chiếm 15,2% tổng diện tích đất có
rừng, phân bố tập trung tại các tiểu khu 1007A, 1017B, 1015A, 1015B, trên tuyến đường đi Thanh Hóa và đường vào bản Sa Lai Loài cây chủ yếu là Vầu (Lùng), cây có đường kính 4-6 trong rừng có nhiều dây leo bụi rậm, mật độ dày < 8000 cây/ha
- Rừng trên núi đá: Diện tích 1.551,4 ha chiếm 8,0% diện tích có rừng
khu đặc dụng, phân bố tập trung tại tiểu khu 1006 loài cây chủ yếu là Kháo
đá, Mạy tèo, Thị rừng, Bời lời, Hồng bì…, trữ lượng từ 50-70 m3
Thực vật rừng đặc dụng Xuân Nha đã có 1.074 loài, 606 chi, 173 họ 173
họ Kết quả nghiên cứu về đa dạng hệ thực vật Xuân Nha được thể hiện tại bảng 2.2 dưới đây Từ kết qua bảng 2.2 cho ta thấy ngành Hạt kín
(Magnoliophyta) chiếm tỷ lệ cao nhất (82,23% tổng số họ, 92,24% tổng số chi, 92,08% tổng số loài); tiếp đến là ngành Dương xỉ (Polypodiophyta), ngành Hạt trần (Pinophyta); ngành Thông đất (Lycopodiophyta); thấp nhất là
ngành Thông chỉ gồm 1 họ, 1 chi và 1 loài Tuy nhiên, đây chỉ là con số thống
kê ban đầu, nếu được điều tra một cách tỷ mỷ hơn số lượng các taxon chắc chắn sẽ còn cao hơn nhiều
Bảng 2.2 Sự phân bố các taxon các ngành của hệ thực vật Xuân Nha
Trang 23So sánh các dẫn liệu về số lượng loài trong các ngành của hệ thực vật Khu BTTN Xuân Nha với các dẫn liệu về số lượng loài trong các ngành của
hệ thực vật một số VQG và KBTTN khu vực phía Bắc như sau:
Bảng 2.3 Thành phần loài thực vật của Khu BTTN Xuân Nha với một số Vườn quốc gia và khu BTTN khu vực phía Bắc
Diện tích (ha)
Số
họ
Số chi
Số loài
1 Khu BTTN Xuân Nha 19294,8 173 606 1074
2 Vườn QG Phong Nha- Kẻ Bàng 14945 140 427 751
(Nguồn số liệu VĐTQH rừng tháng 12 năm 2012)
Hệ thực vật ở Khu BTTN Xuân Nha có giá trị đa dạng sinh học rất cao, rất phong phú về số lượng họ, chi, loài so với các VQG và khu BTTN khác ở khu vực phía Bắc Trong tổng số 173 họ thực vật đã điều tra được có tới 10 họ
có trên 10 loài, cụ thể:
Trang 24Bảng 2.4 Những họ có số loài nhiều nhất của hệ thực vật Xuân Nha
TT Tên khoa học Tên Việt Nam Số lượng loài
(Nguồn số liệu: Kế hoạch QLBV giai đoạn 2011-2015 KBT Xuân Nha)
Qua danh sách trên ta thấy: Họ thực vật có số loài lớn nhất là Họ Thầu dầu (Euphorbiaceae) với 60 loài, chiếm 5,58% tổng số loài đã điều tra được; còn 9 họ thực vật có số loài lớn nhất (n≥19) có tổng số loài là 295 loài, chiếm
tỷ lệ 27,46% tổng số loài của Khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Nha Như vậy với tỷ lệ trên một lần nữa chứng tỏ khu hệ thực vật Xuân Nha rất đa dạng về thành phần loài cũng như thành phần họ
Thành phần thực vật ở Khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Nha có liên quan đến khu hệ thực vật Việt Nam Trước hết là khu hệ thực vật bản địa Bắc Việt Nam - Nam Trung Hoa gồm các đại diện tiêu biểu là các cây trong họ Dẻ
(Fagaceae), họ Long Não (Lauraceae), họ Dâu tằm (Moraceae), họ Đậu
(Fabaceae), họ Lan (Orchidaceae Đáng chú ý là nhóm thực vật được xếp
thành 9 nhóm cây như: nhóm cây cho gỗ, nhóm cây làm thuốc, nhóm cây có tinh dầu, nhóm cây có dầu béo, nhóm cây cho tanin và thuốc nhuộm, nhóm cây cho nguyên liệu và làm đồ thủ công mỹ nghệ, nhóm cây cảnh, nhóm cây cho nhựa mủ…
b) Thực vật quý hiếm
Trong tổng số 1074 loài thực vật đã biết của Khu bảo tồn có tới 65 loài quý hiếm, chiếm 6,05% số loài cây của khu vực đã được đề cập trong sách đỏ Việt Nam [3], Danh lục đỏ IUCN [18], trong Nghị định 32 của Chính phủ [6]
Mức độ quý hiếm của nhóm được xếp vào các cấp nguy hiểm sau: Cấp E (rất
nguy cấp) có 5 loài; Cấp V (nguy cấp) có 21 loài; Cấp T (bị đe dọa) có 13
Trang 25loài; Cấp R (hiếm) có 14 loài; Cấp K (chưa biết rõ) có 8 loài; nhóm IA có 3
loài; nhóm IIA có 21 loài
Các loài thực vật quý hiếm trong KBT có sự phân bố khá rõ theo các độ cao khác nhau Cụ thể như sau:
- Các loài Táu mặt quỷ, Táu mật, Giổi, Chò chỉ phân bố nhiều ở độ cao 500 – 700m thuộc địa phận phía đông xã Tân Xuân
- Các loài Nghiến, Đinh, Trai, Lát hoa, Thông Pà Cò, Bình vôi , Củ dòm, Hoàng đằng,… là những loài phân bố tập trung tại khu vực núi đá vôi thuộc ranh giới phía đông KBT
- Các loài Đăng , Trường sâng, Re hương, Giổi xanh, Giổi mỡ, Thông tre,
Du sam, Trầm hương, Lông cu ly, Bình Vôi, Táu mặt quỷ, Hoằng đằng… là những loài phổ biến và phân bố rộng gặp rải rác toàn khu vực
Các loài Pơ mu, Hoằng đàn giả, Thông nàng chỉ gặp phân bố ở độ cao trên 900m trong địa phận xã Chiềng Xuân và Tân Xuân
- Thông Pà Cò một loài thực vật lá kim hiếm ở Việt Nam có phân bố ở khu vực núi đá nhưng số lượng hiện tại còn rất ít, cây tái sinh không có nhiều, là loài cây có nguy cơ tuyệt chủng rất cao (Chi tiết các loài thực vật quý hiếm có trong
sách đỏ và thế giới tại mẫu biểu 01 phần phụ biểu)
2.3.2.2 Khu hệ động vật
a) Thành phần loài
Kết quả điều tra thực địa, kết hợp phỏng vấn và kế thừa số liệu báo cáo
về khu hệ động vật ở khu rừng đặc dụng Xuân Nha bước đầu đã thống kê được 278 loài động vật thuộc 4 lớp (Thú 66 loài, chim 145 loài, bò sát 43 loài, ếch nhái 24 loài) Cụ thể:
Bảng 2.5 Đa dạng khu hệ động vật Khu BTTN Xuân Nha
Trang 26này thuộc diện ưu tiên bảo tồn cao Trong số này có 21 loài được liệt kê trong danh sách các loài động vật có nguy cơ bị diệt vong (IUCN, 2007); mức độ quý hiếm có 1 loài; mức độ nguy cấp (EN) có 3 loài; 8 loài ở mức độ sẽ nguy cấp (VU); 7 loài ở mức độ nguy cơ thấp (LR); 1 loài ở mức độ gần bị đe dọa
(NT) là Rái cá thường (Lutra lutra) Các loài động vật quý hiếm điển hình như: Bò tót (Bos gaurus), Sơn dương (Naemorhedus sumatraensis), Gấu ngựa (Ursus thibetanus), Gấu chó (Ursus malayanus), Khỉ đuôi lợn (Macaca
nemestrina), Báo lửa (Catopuma temmincki)
Bảng 2.6 Những động vật quý hiếm Khu BTTN Xuân Nha
TT
Lớp Số loài
Bị đe doạ
Sách đỏ Việt Nam
IUCN (2007)
Nghị định 32
(Nguồn: Báo cáo kế hoạch quản lý rừng ĐD Xuân Nha 2011-2015)
Kết quả khảo sát cho thấy trong khu vực nghiên cứu có 66 loài thú thuộc 24
họ, 8 bộ Dưới đây là bảng cấu trúc thành phần loài khu hệ thú Khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Nha:
Bảng 2.7 Cấu trúc thành phần loài khu hệ thú Khu BTTN Xuân Nha
TT Tên Việt Nam Tên khoa
Tỷ lệ
%
3 Bộ nhiều răng Scandentia 1 4,17 1 1,52
(Nguồn: Báo cáo kế hoạch quản lý rừng ĐD Xuân Nha 2011-2015)
Từ kết quả trên cho thấy trong thành phần loài khu hệ thú Khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Nha thì các loài thuộc bộ Gặm nhấm (Rodentia) và bộ Ăn
Trang 27thịt (Carnivora) chiếm ưu thế với 20 loài (chiếm 30,30% tổng số loài), tiếp đến là bộ Dơi (Chiroptera) với 9 loài (chiếm 13,64% tổng số loài), bộ Linh trưởng (Primates) gồm 6 loài (chiếm 9,09% tổng số loài), bộ có ít loài nhất là
bộ Nhiều răng (Scandentia) và bộ Tê tê (Pholidota) chỉ có 1 loài (chiếm 1,52% tổng số loài) Đây là cấu trúc thường gặp của khu hệ thú ở nhiều khu vực khác nhau của miền núi phía bắc Việt Nam
c) Phân bố các loài động vật trong khu bảo tồn (KBT)
- Phân bố theo sinh cảnh: Trong KBT các loài động vật cũng phân bố rất đa dạng Song tùy từng đối tượng của từng lớp động vật hoang dã khác nhau mà quan sát chúng trong tự nhiên ở những mức độ khác nhau tùy từng sinh cảnh Kết quả khảo sat cho thấy, sinh cảnh sông, suối, đồng ruộng, ao, hồ, núi đá loài động vật rừng chiếm 95% Sinh cảnh rừng kín lá rộng thường xanh, rừng thứ sinh phục hồi sau khai thác phân bố chiếm 90% số loài động vật trong KBT Sinh cảnh làng bản số loài động vật chiếm 60% Sinh cảnh rừng kín lá rộng thường xanh nguyên sinh số động vật rừng phân bố 45% Sinh cảnh trảng cỏ cây bụi phân bố 40%
2.3.3 Đánh giá tình hình xâm hại rừng của con người và các loài sinh vật ngoại lai
2.3.3.1 Ảnh hưởng của con người
- Phá rừng làm nương rẫy: Khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Nha với phần
lớn là cộng đồng người Mông, Thái, Mường đang sinh sống rừng đặc dụng của KBT Hàng năm do nhu cầu cuộc sống, nhân phát, đốt rừng làm nương rẫy đồng thời đã gây cháy rừng lan rộng trên phâm vi lớn
- Tình trạng phá rừng, xâm lấn đất lâm nghiệp để sản xuất cây lương thực Phát rừng làm nương rẫy và phá rừng để sản xuất cây lương thực nhiều diện tích rừng bị mất, nguồn thức ăn cho một số loài động vật bị cạn kiệt, nguồn nước thiếu, một số loài thực vật bị thiêu hủy Do đó đã thu hẹp môi trường sống của một số loài động thực vật, gây ô nhiễm môi trường, ảnh
hưởng đến công tác bảo tồn đa dạng sinh học
Để giảm thiểu những tác hại của con người đối với bảo tồn đa dạng sinh học cần phải quy hoạch diện tích nương rẫy ổn định, tăng cường công tác
Trang 28kiểm tra và có những quy định xử phạt hành chính nghiêm minh của pháp luật đối với những hành vi làm sai quy định
2.3.3.2 Ảnh hưởng của sinh vật ngoại lai
Do môi trường sống thay đổi tạo điều kiện cho các loài động, thực vật ngoại lai xâm nhập, phát triển Cùng với các hoạt động buôn bán, sự xâm nhập của các loài động vật đang là mối đe dọa lớn lên tính ổn định và đa dạng của các hệ sinh thái,
Để giảm thiểu sự xâm nhập của các sinh vật ngoại lai cần áp dụng một số giảu pháp sau:
- Tăng cường năng lực và hiệu quả của việc thực thi các văn bản pháp qui về kiểm dịch động, thực vật
- Tiến hành nghiên cứu đặc tính sinh thái và sinh học của sinh vật ngoại lai trước khi xâm nhập vào khu Bảo tồn Áp dụng các biện pháp kiểm soát và phòng trừ thích hợp như đào cây, xới đất làm bật rễ, phát đốt, san
ủi và kéo lưới
2.3.3.3 Đánh giá nguy cơ cháy rừng đề xuất các biện pháp đối phó
Gần đây tất cả các vụ cháy rừng trong Khu bảo tồn thiên nhiên và vùng đệm đều do các hoạt động của con người như phát đốt nương rãy, đốt lửa để lấy mật ong, sử dụng lửa tự do trong rừng; Ban quản lý cần thực hiện các biện pháp hiệu quả như sau để giải quyết các vấn đề này
Tổ chức tốt công tác tuyên truyền phổ biến và hướng dẫn các biện pháp phòng cháy, chữa cháy rừng bằng nhiều hình thức, làm cho mọi người dân hiểu về tác hại của việc cháy rừng gây ra Từ đó nâng cao ý thức trách nhiệm
về quản lý, bảo vệ rừng và phòng cháy, chữa cháy rừng cho nhân dân
Thành lập Ban phòng cháy chữa cháy rừng có sự tham gia giữa các chủ rừng, những người quản lý rừng và các bên có liên quan
Xây dựng chương trình phối hợp phòng chống cháy rừng giữa Khu bảo tồn, các chủ rừng lân cận và các xã vùng đệm
Thành lập các tổ PCCCR tại các thôn bản và phối hợp với lãnh đạo UBND xã và duy trì hoạt động thường xuyên của các tổ nhóm này
Nâng cao năng lực hoạt động cho các Ban chỉ đạo phòng cháy chữa cháy rừng
ở cấp xã
Trang 29Tập huấn nghiệp vụ kỹ thuật và cung cấp trang thiết bị, dụng cụ phòng cháy chữa cháy rừng cho cộng đồng thôn bản trong Khu bảo tồn thiên nhiên
2.3.3.4 Đánh giá tính hợp lý của sự phân chia các phân khu chức năng điều chỉnh
- Hiện nay trong rừng đặc dụng có 9 bản dân cư đang sinh sống (5 bản sống tại phân khu BVNN và 4 bản sống tại phân khu PHST), chưa có quy hoạch đất sản xuất nông nghiệp ổn định, hàng năm người dân phát đốt, phát vén rừng làm nương rẫy Do vậy, ảnh hưởng đến công tác quản lý và bảo vệ rừng đối với các phân khu BVNN và PHST
Trang 30- Tại phân khu PHST có 897,5 ha đất có rừng tự nhiên (rừng giàu), kết quả điều tra cho thấy trên diện tích này xuất hiện 1 số loài thực vật quý hiếm vùng Tây Bắc (Thông 5 lá) chưa được quy hoạch bảo vệ nghiêm ngặt
Từ thực trạng trên, trong kỳ quy hoạch tới cần phải điều chỉnh quy mô diện tích và, phạm vi của các phân khu cho hợp lý
Tóm lại: Về tính đa dạng loài, căn cứ vào chỉ số đa dạng (Diversity index), khu hệ động vật KBTTN Xuân Nha ở mức độ đa dạng cao về tài nguyên Thực vật và động vật Đặc biệt là nguồn tài nguyên thực vật tại KBTTN Xuân Nha khá phong phú và đa dạng Căn cứ vào giá trị sử dụng, có thể tạm xếp chúng thành 8 nhóm cây tài nguyên như nhóm cây cho gỗ (356 loài), nhóm cây làm thuốc (400 loài), nhóm cây có tinh dầu (90 loài), nhóm cây cho dầu béo (20 loài), nhóm cây cho tanin và thuốc nhuộm (30 loài), nhóm cây cho sợi và đồ thủ công mĩ nghệ (30 loài), nhóm cây ăn được (100 loài) và nhóm cây cảnh (45 loài)
Trang 31Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG, ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Loài cây Sa mộc dầu, (Cunninghamia konishii Hayata) Thuộc họ
Hoàng Đàn – Cupressaceae phân bố ở rừng tự nhiên Các tên gọi khác là Sa mộc Quế phong, Ngọc am hay Sa mu dầu
- Về phạm vi và địa điểm nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu tại khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Nha, tỉnh Sơn La
3.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
- Địa điểm: đề tài tập trung triển khai tại khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Nha, tỉnh Sơn La
- Thời gian tiến hành: đề tài tiến hành thu thập số liệu nghiên cứu, phân tích và tổng hợp tài liệu hoàn thiện đề tài dự khiến vào khoảng từ ngày 20/02/2014 đến ngày 05/05/2014
3.3 Nội dung nghiên cứu
Đề tài đặt ra các nội dung nghiên cứu sau đây:
- Nghiên cứu đặc điểm hình thái và vật hậu loài Sa mộc dầu
- Nghiên cứu đặc điểm phân bố và sinh thái loài Sa mộc dầu
- Nghiên cứu một số đặc điểm cấu trúc lâm phần có loài Sa mộc dầu phân bố
- Nghiên cứu đặc điểm tái sinh tự nhiên loài Sa mộc dầu
- Đề xuất một số biện pháp bảo tồn và phát triển
3.4 Phương pháp nghiên cứu
Công tác chuẩn bị
- Giấy bút, bảng hỏi , địa bàn, GPS, phấn, dây nylon và liên hệ với chính quyền ở địa điểm thực tập
Kế thừa tài liệu có sẵn ở địa phương; Thu thập các số liệu có sẵn: Bản
đồ, các tài liệu nghiên cứu về thực vật, hệ sinh thái rừng, tại KBT và các nghiên cứu có liên quan từ trước đến nay
Trang 323.4.1 Phương pháp nghiên cứu chung
Cây rừng luôn sinh trưởng, phát triển theo thời gian và phụ thuộc vào điều kiện lập địa Vì vậy, nghiên cứu đặc điểm lâm học của loài cây là vấn đề rất phức tạp phải có thời gian lâu dài thì mới có thể xác định được đặc tính sinh vật học, sinh thái học của chúng Chính vì vậy, phương pháp tiếp cận của
đề tài dựa trên nguyên tắc “Lấy không gian thay thế thời gian” để làm cơ sở
nghiên cứu cho đối tượng Sa mộc dầu Sơ đồ các bước nghiên cứu như sau:
Hình 3.1 Sơ đồ nghiên cứu tổng quát
Đề tài áp dụng phương pháp kế thừa số liệu của các công trình đã công
bố kết hợp với điều tra khảo sát, bố trí thí nghiệm ngoài thực địa, phân tích
Tổng hợp, phân tích, đánh giá kết quả NC
Thu thập, kế thừa các tài liệu, số liệu đã có
Điều tra, thu thập số liệu tại
hiện trường nghiên cứu
Hình thái vật hậu;
Thời điểm
ra hoa, kết quả, quả chín
Đề xuất biện pháp kỹ thuật lâm sinh phù hợp
Mật độ, tổ thành, chất lượng, nguồn gốc tái sinh
Một số vấn đề khác