Xuất phát từ mong muốn của bản thân, được sự đồng ý của Ban giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm Khoa Nông học tôi tiến hành đề tài: “Xây dựng bản mô tả đặc trưng hình thái giống chuối t
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Khoa học Cây trồng
Khóa học : 2010 - 2014
Thái Nguyên, 2014
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Khoa học Cây trồng
Khóa học : 2010 - 2014 Giảng viên hướng dẫn: TS Trần Minh Quân
Thái Nguyên, 2014
Trang 3xúc với thực tế, củng cố kiến thức đã học Xuất phát từ mong muốn của bản thân, được sự đồng ý của Ban giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm Khoa
Nông học tôi tiến hành đề tài: “Xây dựng bản mô tả đặc trưng hình thái
giống chuối tây Bắc Kạn và nghiên cứu khả năng sinh trưởng của cây chuối tây Bắc Kạn nuôi cấy mô tại Thái Nguyên”
Để hoàn thành luận văn tốt nghiệp của mình, tôi đã nhận được sự quan
tâm của nhiều tập thể và cá nhân Nhân dịp này, tôi xin chân thành cảm ơn ban Giám hiệu Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên và tập thể các thầy giáo, cô giáo Khoa Nông học đã tạo điều kiện thuận lợi và nhiệt tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và thực hiện đề tài tốt nghiệp
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo TS.Trần Minh Quân,
Khoa Nông học, Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn và giúp đỡ tôi vượt qua khó khăn để hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Tôi xin chân thành cảm ơn gia đình ông Hà Đức Thịnh thôn Khuổi Trang, xã Nông Thượng, thị xã Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn đã tận tình giúp đỡ, tạo
điều kiện cho tôi thực hiện luận văn tốt nghiệp
Tôi cũng chân thành cảm ơn bạn bè và gia đình đã luôn động viên giúp
đỡ tôi về tinh thần và vật chất trong quá trình học tập và thời gian thực hiện
luận văn tốt nghiệp cuối khóa học
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên,ngày 08 tháng 6 năm 2014
Sinh viên
Phùng Thị Thu Hà
Trang 4Bảng 2.1 Phân loại và sự phân bố của các chi thuộc Musa 6
Bảng 2.2 Giá trị dinh dưỡng trong quả chuối 11
Bảng 2.3 Hàm lượng vitamin trong một số loại quả 12
Bảng 2.4 Diện tích và sản lượng chuối của 12 nước có sản lượng lớn trên thế giới giai đoạn 2010 - 2010 13
Bảng 2.5 Tình hình xuất khẩu chuối trên thế giới năm 2011 15
Bảng 2.6 Tình hình nhập khẩu chuối trên thế giới năm 2011 16
Bảng 2.7 Diện tích chuối phân theo vùng (Đơn vị: 1000 ha) 17
Bảng 2.8 Liều lượng bón phân cho chuối (gam/cây/vụ) 19
Bảng 4.1 Diễn biến khí hậu 5 tháng đầu năm 2014 ở tỉnh Thái Nguyên 24
Bảng 4.2 Tỷ lệ sống của cây chuối tây Bắc Kạn nuôi cấy mô tại Thái Nguyên40 Bảng 4.3 Ảnh hưởng của phân bón đến động thái tăng trưởng chiều cao cây chuối tây Bắc Kạn nuôi cấy mô tại Thái Nguyên 40
Bảng 4.4 Ảnh hưởng của phân bón đến động thái ra lá của cây chuối tây Bắc Kạn nuôi cấy mô tại Thái Nguyên 42
Bảng 4.5 Ảnh hưởng của phân bón đến động thái tăng trưởng chu vi gốc của chuối tây Bắc Kạn nuôi cấy mô tại Thái Nguyên 43
Trang 5Hình 2.1 Biểu đồ sản lượng chuối trên thế giới năm 2012 14
Hình 4.1 Khu vực khởi nguồn của giống chuối tây Bắc Kạn 26
Hình 4.2 Dạng góc lá của của giống chuối tây Bắc Kạn 28
Hình 4.3 Bộ phận thân thật của chuối tây Bắc Kạn 29
Hình 4.4 Mặt cắt đường kính gốc chuối tây Bắc Kạn cách mặt đất 10cm 30
Hình 4.5 Màu của vỏ và lát cắt dọc thân giả 30
Hình 4.6 Vết đốm đặc trưng trên bẹ lá thứ 3 của giống chuối Bắc Kạn 31
Hình 4.7 Hình dạng ống cuống lá thứ 3 của giống chuối Bắc Kạn 32
Hình 4.8 Đặc trưng của rìa cuống lá thứ 3 giống chuối Bắc Kạn 32
Hình 4.9 Màu sắc mặt lá trên và dưới của giống chuối tây Bắc Kạn 33
Hình 4.10 Màu sắc và lớp phấn ở mặt dưới lá giống chuối tây Bắc Kạn 33
Hình 4.11 Sự cân xứng của hai bên phiến lá so với trục cuống lá 34
Hình 4.12 Đặc điểm màu sắc lá đọt (đọt xì gà) 34
Hình 4.13 Đặc điểm của hoa chuối khi nở 35
Hình 4.14 Đặc điểm của buồng chuối tây Bắc Kạn 35
Hình 4.15 Đánh giá các chỉ tiêu định tính và định lượng các bộ phận của buồng chuối 36
Hình 4.16 Đặc điểm buồng chuối và vết sẹo ở đuôi cuống buồng 37
Hình 4.17 Đặc điểm của bi chuối 37
Hình 4.18 Hình dạng bầu nhụy hoa và noãn trước khi phát triển thành quả 38 Hình 4.19 Đặc điểm của chuối tây Bắc Kạn khi chín 38
Hình 4.20 Góc mọc của cây con so với cây mẹ 39
Trang 6CV% : Sai số thí nghiệm
EU : Liên minh châu Âu
FAO : Tổ chức Nông lương Liên hiệp quốc
Trang 7PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục đích, yêu cầu của đề tài 2
1.2.1 Mục đích 2
1.2.2 Yêu cầu 2
1.3 Ý nghĩa của đề tài 2
1.3.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học 2
1.3.2 Ý nghĩa trong thực tiễn 2
PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 Cơ sở khoa học của đề tài 3
2.1.1 Cơ sở khoa học của đề tài 3
2.1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài 3
2.2 Nguồn gốc, sự phân bố và hệ thống phân loại chuối 4
2.2.1 Nguồn gốc 4
2.2.2 Phân loại và phân bố 4
2.3 Tình hình nghiên cứu về cây chuối trên thế giới và Việt Nam 7
2.3.1 Nghiên cứu biện pháp kỹ thuật thâm canh chuối 7
2.3.2 Nghiên cứu phân bón cho chuối 7
2.4 Ý nghĩa kinh tế và giá trị dinh dưỡng của cây chuối 9
2.4.1 Ý nghĩa kinh tế 9
2.4.2 Giá trị dinh dưỡng 10
2.5 Tình hình sản xuất và tiêu thụ chuối trên thế giới và trong nước 12
2.5.1 Tình hình sản xuất chuối trên thế giới 12
2.5.2 Tình hình sản xuất chuối ở Việt Nam 16
2.6 Kỹ thuật trồng mới cây chuối tây bằng nuôi cấy mô 18
2.6.1 Chuẩn bị giống 18
2.6.2 Chuẩn bị đất, đào hố, bón lót 18
2.6.3 Cách trồng 19
2.6.4 Quản lý và chăm sóc vườn chuối sau trồng 19
Trang 8PHẦN 3 VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN
CỨU 21
3.1 Vật liệu thí nghiệm 21
3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 21
3.3 Nội dung nghiên cứu 21
3.4 Các chỉ tiêu và phương pháp nghiên cứu 21
3.4.1 Nghiên cứu đặc điểm đặc trưng của giống chuối tây Bắc Kạn tại xã Nông Thượng, thị xã Bắc Kạn 21
3.4.2 Nghiên cứu ảnh hưởng của tổ hợp phân bón dùng bón lót đến sinh trưởng của cây chuối tây Bắc Kạn nuôi cấy mô 21
3.5 Phương pháp xử lý số liệu 23
PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 24
4.1 Đặc điểm thời tiết khí hậu Thái Nguyên 5 tháng đầu năm 2014 24
4.2 Nghiên cứu mô tả đặc trưng giống chuối tây Bắc Kạn 25
4.2.1 Thông tin chung về giống chuối 25
4.2.2 Nguồn gốc, phân bố giống chuối 25
4.2.3 Đặc điểm đặc trưng về hình thái 27
4.3 Nghiên cứu khả năng sinh trưởng của giống chuối tây Bắc Kạn được nuôi cấy mô tại xã Động Đạt, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên 39
4.3.1 Tỷ lệ sống 39
4.3.2 Động thái tăng trưởng chiều cao thân giả 40
4.3.3 Động thái ra lá 41
4.3.4 Động thái tăng trưởng chu vi gốc 43
PHẦN 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 45
5.1 Kết luận 45
5.2 Đề nghị 45
TÀI LIỆU THAM KHẢO 46
Trang 9PHẦN 1
MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề
Ở Việt Nam cây chuối đã được trồng phổ biến từ lâu đời rải rác trong
các vườn gia đình khắp cả nước từ đồng bằng, trung du, đến miền núi và có vai trò quan trọng trong đời sống nhân dân Quả chuối được sử dụng làm lương thực, ăn tươi, làm bánh, kẹo, nước giải khát, bột dinh dưỡng cho trẻ em…Ngoài sản phẩm quả các bộ phận khác của cây chuối đều có thể sử dụng vào mục đích khác như thân giả dùng để chăn nuôi, cây non và hoa dùng làm rau, các phần khác có thể làm phân bón…hoặc phơi khô làm chất đốt
Chuối là loại trái cây nhiệt đới được trồng phổ biến ở nhiều quốc gia và vùng miền trên thế giới, đồng thời cũng chiếm một tỷ trọng đáng kể trong thương mại rau quả của toàn cầu Nó là một trong năm loại cây ăn quả phổ biến nhất thế giới, đồng thời chuối còn là một trong số những mặt hàng chủ lực của nhiều nước đang phát triển
Song song với việc phát triển cây trồng theo hướng hàng hóa, đem lại hiệu quả kinh tế cao, việc bảo tồn nguồn gen là một trong những nhiệm vụ quan trọng Những năm trở lại đây, công tác bảo tồn nguồn gen trên địa bàn
đã được UBND tỉnh Bắc Kạn quan tâm chỉ đạo mà trọng tâm là lưu giữ, phát
triển những giống cây trồng đặc sản có thương hiệu, trong đó có cây chuối tây bản
địa Nhằm cụ thể hóa Chương trình hành động số 11- CTR/TU năm 2013 của
Tỉnh ủy, UBND tỉnh đã giao Sở Khoa học và Công nghệ chủ trì phối hợp với các
đơn vị liên quan xây dựng Đề án khung nhiệm vụ bảo tồn nguồn gen cấp tỉnh thực
hiện giai đoạn từ năm 2013 đến năm 2020 (Vũ Tuấn Sơn 2013) [9]
Để đảm bảo mục tiêu phát triển đi đôi với bảo tồn, góp phần triển khai
hiệu quả chương trình hành động của tỉnh, việc nghiên cứu đặc điểm đặc trưng của giống chuối tây bản địa Bắc Kạn là hêt sức cần thiết
Tại thị xã Bắc Kạn nhân dân có truyền thống trồng chuối từ lâu đời và cây chuối được trồng chủ yếu tại 2 xã là Xuất Hoá và Nông Thượng, từ chỗ chủ yếu lấy thân làm thức ăn cho chăn nuôi, hiện nay việc trồng cây chuối đã
đem lại một nguồn thu nhập đáng kể cho một số hộ dân Tuy nhiên, việc phát
Trang 10triển cây chuối còn mang tính tự phát, chưa chú trọng trong việc áp dụng tiến
bộ khoa học kỹ thuật trong việc thâm canh loại cây ăn quả này Do vậy, để góp phần vào việc khai thác các tiềm năng sẵn có của địa phương, tạo ra nguồn hàng hoá phục vụ nhu cầu trong tỉnh và cả nước, góp phần xoá đói giảm nghèo, từng bước ổn định và nâng cao đời sống của nhân dân các dân tộc trên địa bàn,
đồng thời mở rộng vùng sản xuất của giống chuối tây bản địa Bắc Kạn cho các
tỉnh miền núi phía Bắc Do vậy chúng tôi thực hiện đề tài: “Xây dựng bản mô
tả đặc trưng hình thái giống chuối tây Bắc Kạn và nghiên cứu khả năng sinh trưởng của cây chuối tây Bắc Kạn nuôi cấy mô tại Thái Nguyên”.
1.2 Mục đích, yêu cầu của đề tài
- Xây dựng bản mô tả đặc trưng giống chuối tây bản địa Bắc Kạn
- Nghiên cứu khả năng sinh trưởng của giống chuối tây nuôi cấy mô ở
xã Động Đạt, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên
1.3 Ý nghĩa của đề tài
1.3.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học
- Giúp sinh viên củng cố kiến thức đã học áp dụng kiến thức đó vào công tác nghiên cứu khoa học và thực tiễn
- Tạo điều kiện cho sinh viên có thêm kinh nghiệm sản xuất trồng trọt một cách có kết quả
- Giúp cho sinh viên nắm được quy trình trồng chuối tây, cụ thể là cây chuối tây nuôi cấy mô
1.3.2 Ý nghĩa trong thực tiễn
- Kết quả của đề tài giúp bổ sung tài liệu cho sản xuất và nghiên cứu
- Kết quả của đề tài là cơ sở để mở rộng, phổ triển ra sản xuất
Trang 11PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Cơ sở khoa học của đề tài
2.1.1 Cơ sở khoa học của đề tài
Trồng cây ăn quả nói chung muốn có năng xuất cao, phẩm chất quả tốt, kéo dài chu kỳ kinh tế của cây cần áp dụng đúng kỹ thuật của từng loại cây Không những thế, mỗi loại giống lại có những yêu cầu, đòi hỏi riêng, chỉ khi
đáp ứng được những yêu cầu đó thì giống cây mới phát huy đầy đủ những đặc
tính tốt của nó, mang lại lợi ích thiết thực cho người dân
Trong chuyển đổi cơ cấu giống cây trồng theo hướng sản xuất hàng hóa hiện nay thì chuối là cây có ưu điểm hơn cả vì trồng chuối nhanh cho thu hoạch nên quay vòng vốn nhanh, dễ chuyển đổi theo yêu cầu sản phẩm của thị trường hàng hoá Chuối là sản phẩm đặc trưng chỉ vùng nhiệt đới mới có nên
có thị trường tiêu thụ rộng lớn Quả chuối có thể ăn tươi hay chế biến thành nhiều loại sản phẩm như chuối khô, mứt chuối là sản phẩm rất dễ tiêu thụ hiện nay Cây chuối cũng như tất cả các loại cây ăn quả khác, có yêu cầu ngoại cảnh và kỹ thuật canh tác riêng Nghiên cứu về đặc trưng hình thái và yêu cầu ngoại cảnh đối với cây chuối có ý nghĩa vô cùng quan trọng để từ đó
có thể đưa ra các biện pháp kỹ thuật thâm canh, mở rộng vùng sản xuất của giống chuối bản địa Bắc Kạn cho khu vực miền núi phía Bắc nhằm mang lại hiệu quả là cao nhất
2.1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài
•Kết quả nghiên cứu góp phần tích cực vào công tác bảo tồn nguồn gen của giống chuối thí nghiệm;
•Kết quả nghiên cứu giúp xây dựng bản mô tả đặc trưng của giống chuối tây Bắc Kạn và xác định được biện pháp kỹ thuật phù hợp để đạt được hiệu quả sản xuất cao nhất;
•Đề tài được triển khai sẽ góp phần giải quyết các khó khăn đồng thời
nâng cao sản lượng chuối và thu nhập cho người dân
Trang 122.2 Nguồn gốc, sự phân bố và hệ thống phân loại chuối
2.2.1 Nguồn gốc
Khoảng 8000 năm trước Công Nguyên, nghề nông đã có sớm nhất ở châu Đại Dương Ở vùng này đă thấy xuất hiện chuối Austramusa và loài này
đã được coi là một trong những cây nông nghiệp đầu tiên Người ta tìm thấy
chúng đầu tiên ở New guinea (Simmonds 1960) và được di chuyển đến Thái Bình Dương từ thời tiền sử (Krich 1978)
Ở châu Á, chuối được xem là bắt nguồn từ Malaysia cách đây khoảng
4000 năm trước Công Nguyên (Yen 1990) Cây phát sinh chủng loài của họ Chuối, bộ Gừng
Theo phân loại của Võ Văn Chi (1978) các loài chuối thuộc ngành Ngọc Lan (Mangolophya), lớp Hành (Liliopsida), phân lớp Hành (Lilidae), bộ Gừng (Zingibereles), họ Chuối (Musacea) Họ chuối gồm 2 chi với 70 loài, trong đó: Chi Ensete gồm 10 loài, phân bố chủ yếu vùng Châu Phi; chi Musa gồm 60 loài phân bố ở các vùng nhiệt đới [2]
Cây chuối có nguồn gốc từ Đông Nam Á, sau đó được di thực sang Châu Úc rồi tới các nước Trung và Nam Mỹ Một số tác giả còn cho rằng từ
Đông Nam Á cây chuối được chuyển qua Madagasca vào lục địa Châu Phi,
sau đó tới các đảo Canari và Santodomigo (Champion J.,1976) [1]
2.2.2 Phân loại và phân bố
Theo Simmond N W, (1962) số lượng giống chuối hiện trồng trên thế giới là 100 - 300 giống và tất cả các giống chuối ăn được đều thuộc nhóm Eumusa, được hình thành do sự kết hợp di truyền giữa 2 loài chuối dại là M.acuminata (A) và M.balbisiana (B), trong đó, những kiểu gen đều có gen A
và gen B, bên cạnh một số ít ngoại lệ Đại bộ phận các giống chuối hiện nay
là tam bội thể (AAA, AAB, ABB), nhị bội thể (AA, AB, BB),còn tứ bội thể thì rất hiếm (chỉ một số giống ở Thái Lan) [15]
Theo hệ thống phân loại của Simmond N W, dựa trên cơ sở số lượng
nhiễm sắc thể và cho điểm các đặc điểm hình thái của 2 loài M acuminata (A) và M balbisiana (B) theo 15 đặc điểm thực vật học Theo hệ thống phân
loại này các giống chuối hiện nay được phân nhóm theo kiểu gen như sau (Nguyễn Thị Việt Nga, 1996) [7]
Trang 13Nhóm 1: Kiểu gen AA
Trong nhóm này có các giống: chuối Ngự, chuối Cau, chuối Pisang Mas (Malaixia), Ladies Finger (Hawai), các giống này thường có quả nhỏ, vỏ mỏng, chất lượng cao, năng suất thấp, kháng bệnh Panama nhưng mẫn cảm với bệnh Sigatoka
Nhóm 2: Kiểu gen AAA
Trong nhóm này có các giống: chuối Tiêu, Pingsa Embun (Malaixia), Chinese (Hawai)… Các giống thuộc nhóm này có năng suất, chất lượng tốt
được trồng phổ biến ở nhiều nước Ngoài ra, dễ tiêu thụ và xuất khẩu, thích
hợp với trồng ở vùng vĩ tuyến cao, mùa đông lạnh, có khả năng kháng bệnh Panama nhưng mẫn cảm với bệnh Sigatoka
Nhóm 3: Kiểu gen ABB
Nhóm này bao gồm rất nhiều chủng loại đa số là chuối ưa nóng như chuối Tây, chuối Sứ, chuối Sừng, chuối Bom… Những giống này có chứa nhiều tinh bột Tuy nhiên, ở Việt Nam chỉ trồng để ăn tươi đôi khi nấu chín, chiên Nhóm này có đặc điểm là cây cao, sinh trưởng khoẻ, không kén đất có thể trồng không tưới, không bón phân trên những đồi dốc mới khai phá (đặc biệt là chuối Bom) Ngoài ra, thân non, hoa chuối ít có vị chát, có thể dùng ăn sống như chuối Tây
Nhóm 4: Kiểu gen BB
Đại diện nhóm này là chuối Hột, cây sinh trưởng khoẻ, chịu bóng, chịu
hạn khá, chống chịu sâu bệnh rất tốt, quả có chứa nhiều hạt, nhiều tinh bột, thân dùng làm rau sống có chất lượng cao
Theo hệ thống phân loại của Simmond N W., chi Eumusa gồm 9 - 10 loài, số lượng nhiễm sắc thể cơ sở là 11, số lượng giống lên tới 131 và phân
bố như sau:
Trang 14Bảng 2.1 Phân loại và sự phân bố của các chi thuộc Musa
Chi Số nhiễm sắc
thể cơ sở Số loài Phân bố
Australimusa 10 5 - 6 Queensland đến Philippin
Theo Trần Thế Tục (1998) các giống chuối chính ở miền Bắc nước ta
được xếp thành 4 nhóm như sau [10]:
Bao gồm các giống: chuối Tây hồng, chuối Sứ và được trồng phổ biến
ở nhiều nơi Cây cao, sinh trưởng khoẻ, không kén đất, chịu hạn nóng, khả
năng chịu rét khá song dễ bị héo vàng (Banama), quả to mập, ngọt đậm nhưng kém thơm hơn so với các giống khác
Australimusa Callimusa Eumusa Rhodochiamys Ingentinus
Zingiberaceae Marantaceae
Trang 15ở vị trí thấp nên trồng thích hợp ở vùng đồi Quả tương đối lớn, vỏ dày, vỏ
nâu đen khi chín, thịt quả nhão, hơi chua
Nhóm chuối Ngự
Bao gồm các giống: Chuối Ngự, Ngự Tiến, Ngự Mắn … các giống trong nhóm này có chiều cao cây trung bình 2,5 - 3 m, thân mảnh, quả nhỏ, màu vỏ sáng đẹp, thịt quả chắc, vị thơm đặc biệt nhưng năng suất thấp
Ngoài các giống trên còn có một số giống: Mắn, Bột, Lá, chuối Hột… Trên
cả nước có trên 30 giống khác nhau về hình thái, năng suất và phẩm chất
2.3 Tình hình nghiên cứu về cây chuối trên thế giới và Việt Nam
2.3.1 Nghiên cứu biện pháp kỹ thuật thâm canh chuối
Thời vụ trồng chuối rất khác nhau tùy thuộc vào các vùng trồng nhưng
được xác định là thích hợp nhất từ cuối mùa khô đến đầu mùa mưa Ở
Puertorico và một số vùng trồng lý tưởng có thể trồng chuối quanh năm Trong khi đó, ở những vùng khác thời vụ trồng cần phải sắp xếp sao cho tránh
được nắng gắt đầu vụ và nhất là tránh rét khi trỗ buồng Nhiều kết quả nghiên
cứu đã khẳng định thời vụ trồng khác nhau ảnh hưởng rất nhiều đến thời gian
từ trồng đến thu hoạch, năng suất và chất lượng quả
Mật độ và khoảng cách trồng thay đổi giữa các giống, tùy thuộc độ màu
mỡ của đất trồng và nhiều yếu tố khác Trồng dày giúp vườn chuối tăng khả năng chống gió bão nhưng hạn chế ra chồi, khó phòng trừ sâu bệnh và chỉ đạt lợi nhuận cao ở vụ đầu Những vụ sau, quả nhỏ dần, hay bị chín ép và thịt quả nhão Mật độ trồng phổ biến ở các nước vùng Trung Mỹ là 1235 cây/ha Trồng dày đến 1976 cây/ha, năng suất tăng 4 tấn/ha Tuy nhiên, nếu tăng mật
độ đến 3212 cây/ha năng suất có chiều hướng giảm Mật độ trồng ở Surinam
biến động rất lớn trong khoảng từ 600-4400 cây/ha nhưng mật độ 2000-2500 cây/ha được xác định là thích hợp nhất
2.3.2 Nghiên cứu phân bón cho chuối
Nghiên cứu về dinh dưỡng khoáng cho cây chuối là công việc thường xuyên của những nước trồng chuối tiên tiến trên thế giới Vì sự thiếu hụt dinh dưỡng trong đất luôn diễn ra theo thời gian Trên cơ sở đó người ta đã xây dựng công thức phân bón phù hợp với điều kiện sinh thái và hoàn cảnh cụ thể
ở mỗi vùng chuối
Trang 16Theo kết quả nghiên cứu của Viện Nghiên cứu chuối Đài Loan với giống Pei chiao vòng đời 11 - 12 tháng trọng lượng buồng 25 - 30 kg, mật độ trồng 2.200 cây/ha thì bón với tỷ lệ N:P:K = 11 : 5,5 : 22 = 38,5 đơn vị; 1 đơn
vị bằng 52gam Lượng phân nguyên chất sẽ là 572g N + 286g P2O5 + 1.144g
K2O [68; 20] Có thể nói rằng tùy điều kiện đất đai ma người ta “điều chỉnh” chế độ phân bón cho phù hợp nhằm đưa lại hiệu quả kinh tế cao
Các kết quả nghiên cứu ở Ecuador đã xác định với lượng bón N – P2O5
– K2O tính cho 1 ha là 600 – 100 – 600 kg, năng suất quả vụ 1 chỉ đạt 30 tấn ở mật độ trồng 1500 cây/ha nhưng lại đạt tới 55 tấn nếu trồng dày đến 3000 cây/ha Năng suất quả vụ 2 cao hơn với các giá trị tương ứng là 47 tấn và 65 tấn Không có sự khác biệt đáng kể về các chỉ tiêu chất lượng quả giữa các mật độ trồng kể trên Để duy trì năng suất cao ở những vụ tiếp theo thì cần chú trọng đánh tỉa chồi và đối với mật độ trồng dày hơn thì lượng phân bón phải nhiều hơn Tuy nhiên, mật độ trồng quá dày thì lợi nhuận có xu hướng giảm Những năm gần đây, ở Philippine, Úc, Đài Loan và nhiều nước trồng chuối xuất khẩu bắt đầu chú trọng thiết kế vườn chuối theo kiểu trồng hàng kép gồm 2- 4 hàng đơn và để đường đi rộng nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho chăm sóc, thu hoạch và vận chuyển
Việc xác định liều lượng và phương pháp bón phân đã thu hút sự quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà khoa học Phần lớn các kết quả nghiên cứu đều chỉ ra rằng cây chuối rất phàm ăn và nhấn mạnh sự cần thiết phải bón phân cân đối Ở Puerto Rico, lượng bón phổ biến 1 ha là 250 – 325 kg đạm, 125 –
163 kg lân và 500 – 650 kg kali Tuy nhiên, lượng bón thích hợp đối với mỗi vùng phải qua nghiên cứu mới xác định được do tùy thuộc rất nhiều vào đặc
điểm giống, loại đất và mật độ trồng … Vì vậy, liều lượng và phương pháp
bón thích hợp ở vùng này đôi khi lại không đạt hiệu quả cao ở nhiều vùng khác Mặc dù vậy, tỷ lệ bón NPK được khuyến cáo ở nhiều nước là 8:10:8 Các loại phân vô cơ đạt hiệu quả cao nhất trong điều kiện bón cân đối kết hợp với bón phân hữu cơ và tưới nước
Nhiều biện pháp kỹ thuật thâm canh chuối khác đã được xác định có tác dụng làm tăng năng suất và chất lượng quả như bón phân vi sinh, phun
Trang 17chất điều tiết sinh trưởng Che phủ nilon đen kết hợp với tưới nước đã làm tăng nhiệt độ của đất trong mùa đông lên 2 – 30C và có tác dụng làm cho một
số giống chuối thuộc nhóm phụ Cavendish ra hoa sớm hơn 16 ngày
2.3.2.3 Tình hình nghiên cứu trong nước
Ở nước ta chuối đã được trồng và sử dụng ăn tươi, ăn luộc, chuối sấy,
làm cảnh… từ lâu đời và khắp mọi nơi, từ Đông sang Tây, từ Nam ra Bắc
Song việc nghiên cứu về cây chuối chưa nhiều và chưa cơ bản
- Theo Vũ Công Hậu (1996), lượng phân bón thích hợp tính cho 1 gốc chuối vụ 1 là 50-60 g đạm, 30-40 g lân và 70-80 g kali
- Theo các nghiên cứu của Trần Thế Tục, Cao Anh Long, Phạm Văn Côn, Hoàng Ngọc Thuận và Đoàn Văn Lư, lượng phân bón tính cho 1 gốc chuối trong 1 chu kỳ là 100-200 g đạm, 20-40 g lân và 250-300 g kali
- Nghiên cứu sâu đục thân chuối, tác giả Nguyễn Duy Trang và cộng sự xác định biện pháp phòng trừ đạt hiệu quả cao là sử dụng bẫy thân giả, vệ sinh đồng ruộng và luân canh
- Kết quả nghiên cứu bước đầu của Đoàn Thị Thanh xác định các giống chuối tiêu vừa, tiêu lùn, tiêu cao, tiêu Đài Loan và FHIA 03 có chứa gen
kháng bệnh héo rũ Fusarium (FOC)
2.4 Ý nghĩa kinh tế và giá trị dinh dưỡng của cây chuối
2.4.1 Ý nghĩa kinh tế
Chuối là cây ăn quả nhiệt đới, thời gian sinh trưởng ngắn, sớm cho thu hoạch, dễ trồng, cho sản lượng khá cao, mang lại hiệu quả kinh tế lớn (Trần Thế Tục và cs, 1998) [11]
Trong chiến lược xuất khẩu hàng nông sản đến năm 2020, Bộ Công Thương có đề cập đến việc xuất khẩu chuối và xem đây là một mặt hàng quan trọng mà Việt Nam có nhiều lợi thế
Chuối Việt Nam theo đề án quy hoạch phát triển rau quả và hoa, cây cảnh đến năm 2010, tầm nhìn 2020 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, chuối được nhiều địa phương chọn làm cây trồng chủ lực Chuối Việt Nam, theo ông Vũ Mạnh Hải, viện trưởng Viện nghiên cứu rau quả Trung
ương, chuối là loại cây trồng có giá trị kinh tế cao
Ở nước ta, chuối là cây ăn quả quen thuộc với mọi miền của đất nước
từ Nam chí Bắc, từ đồng bằng tới miền núi Vì chuối là cây có khả năng thích
Trang 18ứng tốt với nhiều loại đất, nhiều vùng khí hậu và yêu cầu kỹ thuật không phức
tạp như những cây ăn quả khác
Từ khi trồng đến khi thu hoạch quả chỉ trên dưới 1 năm Do đó hiệu quả quay vòng vốn nhanh Chuối là cây trồng có năng suất cao, bình quân 1ha trồng chuối có thể cho thu hoạch 20 - 30 tấn/ha Một số vung thâm canh cao có thể cho thu hoạch 50 tấn/ha cao như ở Braxin (Trần Như Ý và
cs, 2000) [12]
Chuối là cây ăn quả chỉ có vùng nhiệt đới mới có nên địa bàn xuất khẩu rộng lớn và luôn là mặt hàng có giá trị cao
2.4.2 Giá trị dinh dưỡng
Chuối là một trong 5 loại quả trao đổi chủ yếu trên thị trường thế giới, bên cạnh giá trị là loại quả cho khối lượng sản phẩm lớn, chuối còn có hàm lượng dinh dưỡng khá cao, tại một số nước Châu Á, Châu Phi, chuối là lương thực, thực phẩm chủ yếu, được sử dụng như khoai tây ở các nước có khí hậu ôn đới
Theo phân tích của Bộ Nông Nghiệp Mỹ (USDA) thành phần dinh dưỡng trong 100 gam phần ăn được của quả chuối nhóm Cavendish (chuối tiêu) được xuất khẩu chính trên thị trường thế giới như sau:
Trang 19Bảng 2.2 Giá trị dinh dưỡng trong quả chuối
Quả chuối chín
Giá trị dinh dưỡng trong 100 g phần ruột ăn được
(Nguồn: USDA Cơ sở dữ liệu dinh dưỡng)
Theo Anon (1963), thành phần dinh dưỡng trong quả tính theo trọng lượng tươi và khô đối với chuối ăn và chuối nấu như sau (dẫn theo Đặng Thị Mai (2001)) [5]
Trong quả chuối có một lượng vitamin khá lớn, đặc biệt là các Vitamin nhóm A và C Tuỳ thuộc vào giống, hàm lượng vitamin có thể thay đổi, các giống chuối ăn được thường giàu vitamin C và B6, còn các giống chuối trong nhóm chuối nấu lại giàu vitamin A Nói chung, hàm lượng vitamin trong chuối phong phú và cao hơn một số loại quả khác như cam, táo…(bảng 2.3)
Trang 20Bảng 2.3 Hàm lượng vitamin trong một số loại quả
Riboflavin (Vitamin B2)
Axit ascobic (Vitamin C)
(Theo Anon, 1963)
Tác giả Champion J cho rằng quả chuối có giá trị dinh dưỡng cao, thể
hiện khi ăn 100 g thịt quả cho mức năng lượng 110 - 120 calo Trong khi đó,
100g táo cho mức năng lượng 64 calo, 100 g cam cho 52 calo, 100g đào cho
45 calo… Măt khác, các thành phần dinh dưỡng trong quả chuối được cơ thể
hấp thụ nhanh Vì vậy, chuối được coi là loại quả lý tưởng cho người già, sức
khỏe yếu, suy dinh dưỡng, mệt mỏi… Ngoài ra, quả chuối cũng có vị trí đặc
biệt trong khẩu phần ăn giảm mỡ, Cholesteron và muối Natri…[1]
Một số phát hiện gần đây cho biết, chuối là sản phẩm có hiệu quả trong
việc chữa các bệnh về phủ tạng như đường ruột… Ngoài ra, quả chuối rất có
lợi cho những người nhiễm độc than chì, có tác dụng chống các vết loét gây ra
bởi những người bệnh dùng thuốc aspirin và có tác dụng làm lành các vết loét
này, đồng thời, trong thành phần chuối còn có đầy đủ các axit amin
Như vậy, chuối là cây trồng mang lại lợi ích rất lớn không chỉ có ý
nghĩa kinh tế mà còn có giá trị dinh dưỡng cao và là cây trồng quen thuộc của
nhiều người dân Việt Nam và người nông dân vùng nhiệt đới trên thế giới
2.5 Tình hình sản xuất và tiêu thụ chuối trên thế giới và trong nước
2.5.1 Tình hình sản xuất chuối trên thế giới
Chuối là loại cây nhiệt đới được trồng phổ biến ở nhiều quốc gia và vùng
miền trên thế giới, đồng thời cũng chiếm một tỷ trọng đáng kể trong thương mại
rau quả của toàn cầu Xuất khẩu chuối đứng đầu về khối lượng và đứng thứ hai về
kim ngạch sau cam trong cơ cấu xuất khẩu trái cây ở thế giới Thích hợp với khí
hậu nhiệt đới, chuối chủ yếu được trồng chủ yếu ở những nước đang phát triển
Khoảng 98% sản lượng chuối của thế giới được trồng ở những nước đang phát
triển và được xuất khẩu tới các nước phát triển Vào năm 2007, tổng cộng có 130
Trang 21nước sản xuất chuối Tuy nhiên, về việc sản xuất cũng như xuất nhập khẩu chuối thường là tập trung vào một số nước nhất định 10 nước sản xuất chính chiếm tới 76% sản lượng chuối thế giới vào năm 2012 Trong đó thì Ấn Độ, Trung Quốc, Philippin, Ecurado và Braxin chiếm 58% sản lượng chuối thế giới Điều này càng ngày càng tăng lên cho thấy sự tập trung hoá về phân phối chuối trên toàn thế giới
Trong năm 2012, Ấn Độ dẫn đầu thế giới trong sản xuất chuối,chiếm khoảng 24% tổng sản lượng chuối trên thế giới Nhưng sản xuất chuối ở Ấn Độ chủ yếu để phục vụ nhu cầu tiêu thụ trong nước Theo sau Ấn Độ là Trung Quốc, Philippin, Ecuado và Brazil như Bảng 2.4 và Hình 2.1 dưới đây:
Bảng 2.4 Diện tích và sản lượng chuối của 12 nước có sản lượng lớn trên
thế giới giai đoạn 2010 - 2010
Sản xuất chuối ở các nước này ngày càng tăng lên cho thấy sự tập trung hóa về phân phối chuối trên toàn thế giới Diện tích và sản lượng chuối của các nước đều có sự biến động qua các năm không theo quy luật nào cả Đa phần diện tích, sản lượng có sự tăng lên qua các năm cho thấy vai trò của chuối ngày càng được nhận thức và quan tâm nhiều hơn
Trang 22Hình 2.1 Biểu đồ sản lượng chuối trên thế giới năm 2012
(Theo FAO STAT,2014) [17]
Xuất khẩu chuối
Theo đánh giá của FAO tổng kim ngạch xuất khẩu chuối đạt trên 18 triệu tấn vào năm 2011, trung bình tăng sẽ là 1 - 2%/năm Chuối cũng là một trong số những mặt hàng chủ lực của nhiều nước đang phát triển Mỹ La Tinh, Caribê, cũng như là châu Á và châu Phi - Theo FAO, xuất khẩu chuối của cả thế giới đạt được trên 8,9 tỷ/1 năm đem lại nguồn thu nhập lớn cho nhiều nước (FAO STAT, 2014) [17]
Trang 23Bảng 2.5 Tình hình xuất khẩu chuối trên thế giới năm 2011
Ta thấy xuất khẩu chuối nhiều nhất trên thế giới tập trung chủ yếu vào
9 nước chiếm 84% tổng số lượng chuối xuất khẩu trên thế giới Riêng Philippin
là nước xuất khẩu chuối lớn thứ 2 trên thế giới sau Ecuador khoảng 3.731.427 tấn, đem lại kim ngạch 471 triệu USD (FAO Stat, 2011) [18] Năm 2011,xuất khẩu chuối của Honduras đạt 397 triệu USD, xuất khẩu chủ yếu sang Hoa Kỳ chiếm 90% Costa Rica cũng là nước xuất khẩu chuối lớn với trên 1 triệu tấn/năm, tăng trưởng xuất khẩu chuối của nước này trong năm 2010 đạt 20% so với năm 2009 và kim ngạch xuất khẩu đạt 719,4 triệu USD (Theo FAO STAT, 2014) [17]
Nhập khẩu chuối
Tổng nhập khẩu chuối trên thế giới năm 2011 đạt 18,9 triệu tấn Trong
đó, nước Mỹ chiếm 22% tổng số lượng chuối nhập khẩu là nước nhập khẩu
chuối lớn nhất trên thế giới Bên cạnh đó là các nước EU( Bỉ, Anh, Đức, Pháp ) có truyền thống nhập khẩu chuối
Chỉ riêng Mỹ, các nước EU và Nga đã chiếm 51% lượng chuối nhập khẩu trên toàn thế giới năm 2011
Trang 24Tổng giá trị nhập khẩu chuối trên thế giới lên tới 13,06 tỷ USD Mặc dù
sự tập trung về mặt địa lý vẫn khá cao nhưng xu hướng đa dạng hóa ngày càng tăng, đặc biệt là từ những năm 1990 khi có sự xuất hiện của một số nước nhập khẩu mới Điều này cho thấy nhuu cầu nhập khẩu chuối ngày càng lớn của một
số thị trường mới nổi như Liên bang Nga, Trung Quốc, Đông Âu… Trong khi
đó mức nhập khẩu của khu vực EU vẫn tương đối ổn định
Bảng 2.6 Tình hình nhập khẩu chuối trên thế giới năm 2011
(Nguồn: FAO STAT, 2014) [17]
2.5.2 Tình hình sản xuất chuối ở Việt Nam
Ở nước ta, khí hậu bốn mùa đều phù hợp cho chuối phát triển, từ Bắc đến Nam, đồng bằng cũng như miền núi, ở đâu và mùa nào cũng có chuối
Chuối đối với người Việt Nam là rau, là quả, là lương thực, thực phẩm Sản lượng chuối ở ta hàng năm cũng khá, ngoài việc tiêu thụ nội địa, chúng ta còn xuất khẩu một lượng khá lớn Việt Nam là nước nhiệt đới và là một trong những xứ sở của chuối với nhiều giống chuối rất quý như: Chuối tiêu, chuối tây, chuối bom, chuối ngự, có loại chuối nổi tiếng như chuối ngự Đại Hoàng (Nam Định), từng là đặc sản tiến vua
Chủng loại: các chủng loại chuối ở Việt Nam rất đa dạng như chuối tiêu, chuối lá, chuối xiêm và chuối ngự… được trồng rải rác khắp các tỉnh thành trong cả nước Các giống chuối của Việt Nam không chỉ phong phú về
Trang 25kích cỡ, hương vị mà còn có những giá trị sử dụng rất khác nhau Cao cấp nhất vẫn là chuối ngự, loại chuối tiến vua, quả thon nhỏ, vàng óng, thơm ngậy nhưng diện tích và sản lượng không cao Chuối tiêu, chuối gòn có sản lượng lớn hơn, hương vị tuy không ngon bằng nhưng chất lượng đang ngày càng được cải tiến
Với những đặc điểm trên, chuối là mặt hàng có triển vọng xuất khẩu của Việt Nam, nhất là đối với giống chuối già và chuối cau Viện Nghiên cứu Cây ăn quả Miền Nam đã có những công nghệ mới để hỗ trợ các tỉnh cây giống chuối nuôi cấy mô sạch bệnh và công nghệ chuyển màu chuối già sang màu vàng rất đẹp, có thể cạnh tranh xuất khẩu chuối với Philipin, Đài Loan vào thị trường châu Âu, Nhật Bản Thời gian gần đây các tỉnh Cà Mau, Đồng Nai, Quảng Ngãi… đã có những bước cải thiện trong việc trồng và phát triển cây chuối tiến tới xuất khẩu sản phẩm chuối (Nguyễn Văn Luật, 2010) [4]
Trong chiến lược xuất khẩu hàng nông sản đến năm 2020, Bộ Công thương có đề cập đến việc xuất khẩu chuối và xem đây là một mặt hàng quan trọng mà Việt Nam có nhiều lợi thế Mặt khác chuối Việt Nam theo đề
án quy hoạch phát triển rau quả và hoa, cây cảnh đến năm 2010, tầm nhìn
2020 của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, chuối được nhiều địa phương chọn làm cây trồng chủ lực Chuối Việt Nam theo ông Vũ Mạnh Hải, Viện trưởng Viện Nghiên cứu rau quả Trung ương, chuối là loại cây trồng có giá trị kinh tế cao
Bảng 2.7 Diện tích chuối phân theo vùng (Đơn vị: 1000 ha)
Đồng bằng sông Cửu Long 37,9 38,6 39,6
Nguồn: Cổng thông tin điện tử Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
năm 2014[18]
Trang 26Qua bảng 2.7 ta thấy:
Diện tích trồng chuối cả nước đã tăng dần từ năm 2009 đến năm 2011, vùng có diện tích trồng chuối lớn nhất là vùng Đồng bằng song Cửu Long với diện tích 37,9 nghìn ha (2009) đã tăng lên 39,6 nghìn ha (2011) và là vùng có diện tích trồng chuối tăng lên nhiều nhất lý do vì vùng này hằng năm được bồi
đắp một lượng phù xa rất lớn màu mỡ bởi các con sông lớn nên đất đai rất phù
hợp với sản xuất chuối, tiếp đến là vùng Bắc trung bộ và duyên hải miền Trung xếp thứ hai với 31,3 nghìn ha (2009) và tăng lên 33,1 nghìn ha (2011) tuy diện tích tăng không mạnh nhưng vẫn xếp thứ hai về diện tích trồng chuối, sau đó là vùng Đồng bằng sông Hồng có diện tích trồng chuối với biến động nhẹ Vùng có diện tích chuối tăng nhanh nhất là Trung du và miền núi phía Bắc với 14,6 nghìn
ha (2009) tăng lên 16,7 nghìn ha (2011) đã tăng 2,1 nghìn ha Vùng có diện tích chuối nhỏ nhất là Tây Nguyên với 4,3 nghìn ha (2009) và đã tăng lên 4,8 nghìn
ha (2011) vì Tây Nguyên là một vùng chủ yếu là đất đỏ bazan nên không thích hợp cho cây chuối sinh trưởng và phát triển nên cây chuối không phải là thế mạnh của vùng Đông Nam Bộ là vùng duy nhất có diện tích trồng chuối giảm từ
10,8 nghìn ha (2009) xuống 10,6 nghìn ha (2011) giảm 0,2 nghìn ha
2.6 Kỹ thuật trồng mới cây chuối tây bằng nuôi cấy mô
2.6.1 Chuẩn bị giống
Dùng cây giống chuối nuôi cấy mô:
- Ưu điểm của chuối nuôi cấy mô: có độ thuần giống cao, hoàn toàn sạch bệnh, cây con sinh trưởng đồng đều, thời gian sinh trưởng, năng suất và sản lượng rất đồng đều nên thuận lợi cho sản xuất hàng hóa có giá trị cao, sản phẩm có tính cạnh tranh cao trên thị trường
- Nhược điểm: cây giống nhỏ, sinh trưởng chậm giai đoạn đầu (sau trồng từ 1-2 tháng) nên người trồng phải chú ý chăm sóc
2.6.2 Chuẩn bị đất, đào hố, bón lót
a) Chuẩn bị đất: do đất trồng chuối là đất đồi núi nên trước khi trồng chuối, phải chuẩn bị dọn sạch cỏ dại và làm băng chống xói mòn trên đất dốc bằng cây cốt khí
b) Đào hố trồng: kích thước đào: 40 x 40 x 40cm, khoảng cánh 3m x 2,8m (1.200cây/ha); trồng theo đường đồng mức theo kiểu so le, hàng chuối thiết kế theo đường đồng mức
Trang 27c) Bón lót: lượng phân bón theo quy trình gồm:
(0,4kg phân hữu cơ vi sinh + 0,3kg lân supe + 0,4 kg kha li + 0,4 kg Vôi bột)/cây Trộn đều với đất và lấp đầy hố trước khi trồng chuối
2.6.4 Quản lý và chăm sóc vườn chuối sau trồng
a) Làm cỏ: sau trồng định kỳ 30 ngày quan sát thấy cỏ mọc làm cỏ xung quanh gốc đảm bảo sạch cỏ dại
b) Bón phân thúc theo hướng dẫn sau:
Bảng 2.8 Liều lượng bón phân cho chuối (gam/cây/vụ)
Số lần
bón
Ngày sau trồng (ngày)
Phân Ure (gam)
Phân Kali sulfat (gam)
Cách bón: Trộn đều hai loại phân, rắc đều xung quanh gốc, xăm nhẹ
bằng tay (dùng xén), sau đó tưới nước cho tan phân
2.6.5 Phòng trừ sâu bệnh
- Sâu đục thân: Điều tra nếu phát hiện có thì làm bẫy bắt
- Sâu gặm vỏ: Phát hiện trước khi trổ buồng thì phun Dipterex nồng độ
0.1% hoặc Trebon 10ND nồng độ 0.1% lên cổ lá non
- Sâu ăn lá (bọ nẹt), sâu cuốn lá thường xuyên kiểm tra và bắt
Trang 28- Bệnh đốm lá: vào cuối mùa Thu phun phòng bằng một trong các loại
thuốc trị nấm (phun luân phiên) như: Oxy clorua đồng, Kasuran
2.6.6 Cắt tỉa, định cây, bao buồng
- Thường xuyên cắt bỏ lá già, khô làm vệ sinh cây
- Sau trồng 4 - 6 tháng, cây non mọc nhiều thì tỉa bớt chỉ để 1 cây mẹ
và 1 cây con cho vụ sau, các chồi để lại phải tương đối đồng đều về kích thước, tuổi
- Khi buồng trổ hoàn chỉnh, cần cắt bi chuối và dùng túi polyetylen có
đục lỗ để bao buồng, mục đích giữ cho màu sắc vỏ trái được đẹp hơn, hạn chế
bù lạch chích hút trái non và sẽ làm tăng năng suất quả thêm 1kg
Trang 29PHẦN 3 VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Vật liệu thí nghiệm
-Giống chuối tây Bắc Kạn
-Giống chuối tây Bắc Kạn được nhân giông bằng nuôi cấy mô
3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành
-Địa điểm nghiên cứu: Xã Nông Thượng, thị xã Bắc Kạn, tỉnh Bắc
Kạn và các cơ quan liên quan
-Thời gian tiến hành: Từ tháng 5/2013- tháng 8/2013
-Địa điểm nghiên cứu: Xã Động Đạt, huyện Phú Lương, tỉnhThái
Nguyên
-Thời gian tiến hành: Từ 24/10/2013 đến 27/5/2014
3.3 Nội dung nghiên cứu
- Nghiên cứu các đặc điểm đặc trưng của giống chuối nghiên cứu tại xã Nông Thượng, thị xã Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn
- Nghiên cứu khả năng sinh trưởng của giống chuối tây Bắc Kạn được nuôi cấy mô tại xã Động Đạt, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên
3.4 Các chỉ tiêu và phương pháp nghiên cứu
3.4.1 Nghiên cứu đặc điểm đặc trưng của giống chuối tây Bắc Kạn tại xã Nông Thượng, thị xã Bắc Kạn
Theo dõi và đánh giá các chỉ tiêu trực tiếp trên vườn chuối: lựa chọn 30 cây điển hình tại vườn (xã Nông Thượng, là nơi khởi nguồn của giống chuối), với tiêu chí là cây con thứ nhất được mọc lên từ năm thứ 2 sau khi trồng cây
mẹ ban đầu để đảm bảo đánh giá đúng đặc trưng của giống (IPGRI 1996) [13] (Viện nguồn gen cây trồng quốc tế(IPGRI), nay là BIOVERSITY) (phụ lục 2)
3.4.2 Nghiên cứu ảnh hưởng của tổ hợp phân bón dùng bón lót đến sinh trưởng của cây chuối tây Bắc Kạn nuôi cấy mô
Công thức P1: Bón theo phương pháp bón của người dân địa phương - không bón (đối chứng)
Trang 30- Công thức P2: Bón lót (5 kg phân chuồng mục, trộn đều với 400g phân lân và 10g Furadan/1 hố)
-Công thức 3: Bón lót (1,7kg phân hữu cơ vi sinh Sông Gianh, trộn đều với 400g phân lân và 10g Furadan/1 hố)
Sơ đồ bố trí thí nghiệm
Nhắc lại I II III
P2 P1 P3
P1 P3 P2
P3 P2 P1
Quy trình kỹ thuật
- Dụng cụ thí nghiệm: thước dây, thước cuộn, máy ảnh
- Khoảng cách trồng cây: 2,5 x 2,5m
- Hố trồng có kích thước 40 x 40 x 40cm
- Bón lót theo 3 công thức khác nhau
Các chỉ tiêu theo dõi
- Chiều cao thân giả (cm): Đo sau trồng 30 ngày, 15 ngày đo một lần,
đo từ mặt đất đến điểm giao nhau của 2 lá trên cùng và đánh giá sự biến động
của chiều cao thân giả theo từng lần đo
- Chu vi gốc: Đo sau trồng 60 ngày, 15 ngày đo 1 lần, đo cách mặt đất 10cm và đánh giá sự biến động của chu vi gốc theo từng lần đo
- Số lá/cây: Đếm sau trồng 30 ngày, 15 ngày đếm 1 lần, đếm số lá đã thành thục trên cây và đánh giá sự biến động của số lá trên cây
Do tình hình thời tiết bất thuận nên thí nghiệm không cho phép nghiên cứu các đặc trưng của giống trong cả thời gian sinh trưởng từ cây con đến giai đoạn trưởng thành Do vậy, đặc trưng của giống được dựa vào theo dõi thực nghiệm từ giai đoạn trồng (tháng 2) đến nay (tháng 5) Các chỉ tiêu được mô tả chi tiết như sau:
Trang 31- Tỷ lệ cây sống, (%): Đếm tổng số cây sống, chết sau 10, 20, 30 ngày sau trồng, tính % số cây sống
- Động thái tăng trưởng chiều cao thân giả (cm): Đo sau trồng 30 ngày
15 ngày đo một lần, đo từ mặt đất đến điểm giao nhau của lá trên cùng
- Động thái ra lá (lá/cây): Đếm số lá thực trên từng cây theo dõi, đếm sau trồng 30 ngày, 15 ngày đếm 1 lần
- Động thái tăng trưởng chu vi gốc (cm): Đo chu vi gốc, cách mặt đất 10cm, đo sau trồng 30 ngày, 15 ngày đo một lần
3.5 Phương pháp xử lý số liệu
Số liệu được tổng hợp và xử lý bằng phần mềm Excel và phần mềm IRRISTAT 4.0
Trang 32PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 4.1 Đặc điểm thời tiết khí hậu Thái Nguyên 5 tháng đầu năm 2014
Khí hậu và thời tiết là những yếu tố rất quan trọng ảnh hưởng tới tất cả các quá trình sinh trưởng và phát triển của cây trồng Vì thế nắm vững được diễn biến của điều kiện khí hậu, thời tiết giúp ta có các biện pháp kỹ thuật thích hợp cho cây trồng sinh trưởng phát triển tốt từ đó góp phần đem lại năng suất, sản lượng và hiệu quả kinh tế cao trên đơn vị diện tích canh tác
Nước ta nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa nhưng nhìn chung khí hậu nước ta có nhiều thuận lợi cho cây trồng sinh trưởng phát triển tốt Xã
Động Đạt, huyện Phú Lương nằm ở phía bắc của tỉnh Thái Nguyên, là nơi có địa hình phức tạp, hầu hết diện tích đất tự nhiên là đồi núi dốc, chia cắt mạnh
Khí hậu thời tiết chịu ảnh hưởng chung của khí hậu vùng miền núi Đông - Bắc với đặc điểm mùa Đông lạnh giá, mưa phùn, gió bấc hoặc hanh khô, sương muối Mùa Hè nóng ẩm, mưa nhiều tập trung vào tháng 7, 8 có thể gây
lũ quét, điều kiện khí hậu rất khắc nghiệt Mà đặc thù của sản xuất nông nghiệp là phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện tự nhiên
Đặc điểm khí hậu thời tiết của Thái Nguyên 5 tháng đầu năm 2014 được thể hiện qua bảng sau :
Bảng 4.1 Diễn biến khí hậu 5 tháng đầu năm 2014 ở tỉnh Thái Nguyên Chỉ tiêu
Tháng
Nhiệt độ trung bình( o C)
Độ ẩm không khí (%)
Tổng lượng mưa (mm/tháng)
Số giờ nắng (giờ/tháng)
Trang 33Qua bảng 4.1 ta thấy diễn biến điều kiện khí hậu ở Thái Nguyên như sau:
Nhiệt độ
Vùng được coi là lý tưởng cho trồng chuối: nhiệt độ tối thấp không dưới 150C và tối đa không quá 350C Qua bảng trên thấy nhiệt độ thấp nhất vào tháng 1 và tháng 2 là 16,60C, nhiệt độ cao nhất vào tháng 5 là 28,40C Như vậy nhìn chung diễn biến nhiệt độ đầu năm 2014 tại Thái Nguyên không thuận lợi cho cây trồng sinh trưởng và phát triển đặc biệt là cây chuối Vào tháng 4 trở đi thì nhiệt độ rất thuận lợi cho cây chuối phát triển
Ẩm độ không khí
Mặc dù lượng mưa phân bố không đều ở các tháng nhưng nhờ vào điều kiện địa hình mà ẩm độ lại tương đối cao và ổn định, dao động từ 73-91%
Đây là điều kiện thuận lợi giúp cho cây trồng nói chung và cây chuối nói
riêng sinh trưởng phát triển tốt
Lượng mưa
Chuối cần rất nhiều nước vì nước là yếu tố quan trọng quyết định mọi quá trình trao đổi chất của cây, ngoài ra nước còn có tác dụng làm giảm nồng
độ các chất độc trong đất Xem xét các vùng trồng chuối trên thế giới thấy:
chuối trồng có kết quả tốt khi lượng mưa tối thiểu từng tháng đạt 50 mm, tốt nhất là 100 mm Thiếu nước cây sẽ bị nghẹn lá, nghẹn buồng, thừa nước ảnh hưởng đến bộ rễ, ra chồi kém, lá bị úa vàng, khô héo Qua bảng 4.1 cho thấy 5 tháng đầu năm 2014 lượng mưa phân bố không đều ở các tháng, đạt mức cao nhất vào ba tháng cuối nên rất thuận lợi cho cây chuối
4.2 Nghiên cứu mô tả đặc trưng giống chuối tây Bắc Kạn
4.2.1 Thông tin chung về giống chuối
Tên thường gọi: Chuối tây Bắc Kạn
Tên khoa học: Musa x paradisiaca, thuộc nhóm chuối tam bội (ABB)
(Valmayor 2000) [16]
Thuộc họ: Musaceae
4.2.2 Nguồn gốc, phân bố giống chuối
Theo kết quả nghiên cứu, cây chuối tây đã gắn bó với người dân ở đây
từ lâu đời, giống chuối tây Bắc Kạn được phát triển tại địa phương từ năm
Trang 341964, tại thôn Khuổi Trang thuộc xã Nông Thượng (vĩ độ 22°06'07''; kinh độ: 105° 49' 41'') Người dân trồng chuối ở đây chủ yếu là dân tộc Tày (13/15 hộ), còn lại 02 hộ là dân tộc Kinh và Dao Các hộ gia đình bắt đầu mở rộng diện tích và phát triển cây chuối từ năm 1985, và đến năm 1996 mở rộng ra các xã, huyện khác trong tỉnh như Xuất Hóa, Mỹ Thanh, Chợ Đồn, Hòa Mục, Chợ Mới và Ba Bể
Hình 4.1 Khu vực khởi nguồn của giống chuối tây Bắc Kạn
(Nguồn: Cổng thông tin điện tử tỉnh Bắc Kạn 2014)[19]
Theo số liệu thống kê của Cục thống kê tỉnh Bắc Kạn, đến cuối năm 2012, tổng diện tích trồng chuối trên toàn tỉnh là 1005 ha Trong đó, diện tích trồng mới
là 147 ha, và diện tích cho sản lượng là 802ha Trong đó, diện tích chủ yếu tập trung tại địa bàn thị xã Bắc Kạn (chiếm 27.56%) Tuy nhiên, số liệu thống kê không chia tách diện tích trồng chuối tây và diên tích trồng các loại chuối khác
Theo kết quả nghiên cứu về tình hình sản xuất giống chuối tây bản địa cho thấy, trong các địa bàn trồng chuối, giống chuối tây được phân bố chủ yếu ở hai
xã Nông Thượng và xã Xuất Hóa, với diện tích lần lượt là 150ha và 83ha Diện tích trồng giống chuối tây trung bình trên một hộ là 1,36 (± 0,12) ha (chiếm 37,43% so với tổng diện tích đất trồng trọt của một hộ) Chuối sinh trưởng, phát triển tốt ở trên đất đồi, với hình thức trồng quảng canh, không bón phân
và tưới nước
Trang 35Đất trồng giống chuối tây thuộc nhóm đất Feralit màu đỏ - vàng phát triển
trên đá biến chất Đất xốp, tầng dày 60 -120cm, độ mùn trong đất khá cao (3 -4%) thành phần cơ giới từ trung bình đến thịt nặng Tỷ lệ sét cao nhưng thoát nước nhanh, thích hợp cho sự phát triển của giống chuối (UBND xã Nông Thượng, 2014) Theo ông Hà Đức Thịnh (trưởng thôn Khuổi Trang), chuối trồng trên loại
đất mát, ẩm và trồng vào thời điểm từ tháng 2-7 dương lịch là tốt nhất
Tại xã Nông Thượng, cây chuối được trồng tập chung chủ yếu ở các thôn Tân Thành, thôn Khuổi Trang, Khuổi Cuồng, Nà Vịt và Nà Kẹn…
Tại xã Xuất Hóa, cây chuối được trồng nhiều tại 3 thôn: Bản Rạo, Tân Cư
và Lũng Hoàn Việc trồng chuối chủ yếu lấy thân làm thức ăn cho gia súc trong chăn nuôi, nhưng hiện nay việc trồng cây chuối đã đem lại một nguồn thu nhập
đáng kể cho một số hộ dân trong xã Tuy nhiên do các hộ trồng chuối theo tập
quán cũ với phương thức trồng quảng canh nên năng suất thấp, chất lượng sản phẩm chuối chưa cao (UBND xã Xuất Hoá, 2014)
4.2.3 Đặc điểm đặc trưng về hình thái
Việc nghiên cứu đặc điểm đặc trưng về hình thái giống được áp dụng theo
bộ tiêu chuẩn đánh giá của Viện nguồn gen cây trồng quốc tế (IPGRI) năm 1996 [13] (Phụ lục 2)
4.2.3.1 Đặc điểm chung về ngoại hình
Dạng góc lá: Giống chuối tây Bắc Kạn có dạng góc lá so với trục thân chính ở nhóm 2 (trung bình) trong 04 nhóm phân loại của IPGRI là nhóm cây có góc là đứng, trung bình, rủ và rất rủ (Hình 4.2)
Trang 36Hình 4.2 Dạng góc lá của của giống chuối tây Bắc Kạn
Dạng thân:Giống chuối tây Bắc Kạn nằm trong nhóm chuối có chiều cao phổ biến (nhằm phân biệt với giống chuối lùn) theo tiêu chuẩn phân loại của IPGRI
4.2.3.2 Mô tả chi tiết về hình thái
•Bộ rễ
Chuối có dạng rễ chùm Giống chuối tây Bắc Kạn có rễ phân bố chủ yếu ở tầng đất mặt 10-30cm Loại rễ này mọc xung quanh đốt dưới gốc chuối Rễ mọc dài, bò ngang trên lớp đất mặt, có nhiều rễ ăn xa trên 1,5m, ăn sâu đến 30-50cm Trên các đầu rễ có nhiều lông tơ màu trắng (lông hút), đây chính là bộ phận hút
nước và dinh dưỡng để nuôi sống cây
là mầm ngủ, các mầm ngủ có khả năng phát triển thành cây mới Thân ngầm
chính là củ chuối hay gốc chuối
Trang 37Hình 4.3 Bộ phận thân thật của chuối tây Bắc Kạn
-Thân giả
Thân giả là phần nằm trên mặt đất, được tạo thành bởi các bẹ lá ôm chặt lấy nhau (Hình 4.5c)
Chiều cao thân giả có ảnh hưởng đến quá trình quang hợp và đồng thời
ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng của cây chuối.Chiều cao thân giả được tính từ mặt đất đến điểm xuất hiện cuống buồng, chiều cao thân giả phản
ánh rõ về sự sinh trưởng của cây, về khả năng tích luỹ vật chất khô trong cây, chiều cao thân giả phụ thuộc vào giống, đất đai, điều kiện nhiệt độ, ẩm độ, ánh sáng, chế độ chăm sóc, bón phân Sự phát triển chiều cao thân giả còn phụ thuộc vào từng thời kỳ của cây, khi mới trồng là thời kỳ bắt đầu sinh
trưởng mạnh nhất và giảm dần đến khi phân hoá mạnh Chiều cao trung bình
của thân giả : 3,51 (± 0,18) m (Phụ lục 1) Kết quả cho thấy, giống chuối nghiên cứu nằm trong nhóm 3 (nhóm cây cao) theo bộ tiêu chuẩn đánh giá của IPGRI
Thân chuối có thân thật và thân giả, thường thân thật nằm ở dưới đất nên
ta không thể đo được đường kính của thân thật Vì vậy ta chỉ xác định được
đường kính gốc (đo cách mặt đất 10cm) (Hình 4.4), sự tăng trưởng của thân thể
Trang 38hiện khả năng thích nghi, mức độ sinh trưởng và đặc điểm của giống chuối
Đường kính gốc trung bình: 24,0 (± 0.15) cm (Phụ lục 1) Đường kính được
tính theo công thức toán học từ chu vi: C = π.d (trong đó, C là chu vi; d là
đường kính và π là hằng số, bằng 3.14)
Hình 4.4 Mặt cắt đường kính gốc chuối tây Bắc Kạn cách mặt đất 10cm
Màu sắc thân giả:
Hình 4.5 Màu của vỏ và lát cắt dọc thân giả
Lớp vỏ bẹ ngoài cùng của thân giả nằm trong nhóm 05, có màu pha tạp giữa màu xanh và đỏ tía và có dạng bóng láng (Hình 4.5a)
Trang 39Lớp vỏ bẹ thứ 2 (khi bóc lớp vỏ ngoài ra) thuộc nhóm 01 (màu xanh nhạt)
có dấu hiệu của sắc tố màu tía (Hình 4.5b)
Màu nhựa cây (sáp) có dạng nước loãng (nhóm 01) và rỉ sáp ở bẹ lá xuất hiện ít (nhóm 2)
•Bộ phận lá chuối
Đây là chỉ tiêu để đánh giá khả năng sinh trưởng của cây Trong một chừng mực nhất định, động thái ra lá và động thái tăng diện tích lá càng cao thì khả năng quang hợp càng lớn dẫn đến khả năng đồng hoá và tích luỹ vật chất khô vào trong cây càng nhiều nó cũng là cơ sở cho việc hình thành năng suất sau này Theo tiêu chuẩn IPGRI, lấy lá thứ 3 được đếm từ lá cuối cùng (lá 1) được phát sinh trước khi trổ buồng để mô tả đặc trưng của lá
Lá chuối được sinh ra từ thân ngầm (đỉnh sinh trưởng) đến giữa thân giả rồi mọc thẳng lên Chu kỳ sống của giống chuối có khoảng 33 - 38 lá Ở thời điểm cây đã trổ buồng, trung bình một cây có 10,3 (± 0,85) lá/cây (Phụ lục 1) Trong
đó, số lá bị rách do tác động của gió chiếm tỉ lệ khá lớn, trung bình 7,5 (± 0,35)
lá/cây (chiếm 72,8% số lá trên cây) (Phụ lục 1)
Cuống lá được tính từ thân giả đến phiến lá Cuống lá: Đặc điểm của lá thứ
3 (lá bang đã mở rộng, đếm từ điểm đỉnh của cây) có vết đốm màu nâu thưa thớt, trong đó ở đỉnh của bẹ có nhiều vết đốm lớn (Hình 4.6)
Hình 4.6 Vết đốm đặc trưng trên bẹ lá thứ 3 của giống chuối Bắc Kạn
Trang 40Ống cuống lá thứ 3 nằm trong nhóm phân loại 04, có gờ cuống uốn cong đều đối xứng (Hình 4.7)
Hình 4.7 Hình dạng ống cuống lá thứ 3 của giống chuối Bắc Kạn
Gờ cuống lá là dạng có cánh, bám sát vào thân giả (Hình 4.6), gờ cuống thuộc nhóm có gờ cuống còn tươi, rìa của gờ cuống có màu nâu đỏ chạy dọc theo cuống (Hình 4.8)
Hình 4.8 Đặc trưng của rìa cuống lá thứ 3 giống chuối Bắc Kạn
Độ mở của gờ cuống nằm trong nhóm 01 (≤ 1cm) (Hình 4.7, Hình 4.8)
Chiều dài cuống lá thứ 3 với giá trị trung bình là 56,17 (± 3,17) cm (Phụ lục 1), nằm trong nhóm thứ 2 (51-70cm)