1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Tình hình mắc bệnh viêm đường sinh dục và thử nghiệm một số phác đồ điều trị bệnh trên đàn lợn nái ngoại nuôi tại công ty CP Bình Minh, huyện Mỹ Đức, Hà Nội.

70 476 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 70
Dung lượng 754,99 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xuất phát từ những đòi hỏi trên, được sự đồng ý của khoa Chăn nuôi Thú y, được sự phân công của cô giáo hướng dẫn và sự tiếp nhận của Công ty CP Bình Minh, xã Phù Lưu Tế, huyện Mỹ Đức, H

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM -

HÀ QUỲNH NHƯ

Tên đề tài:

TÌNH HÌNH MẮC BỆNH VIÊM ĐƯỜNG SINH DỤC VÀ THỬ NGHIỆM MỘT SỐ PHÁC ĐỒ ĐIỀU TRỊ BỆNH TRÊN ĐÀN LỢN NÁI NGOẠI NUÔI TẠI CÔNG TY

CP BÌNH MINH, HUYỆN MỸ ĐỨC, HÀ NỘI

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM -

HÀ QUỲNH NHƯ

Tên đề tài:

TÌNH HÌNH MẮC BỆNH VIÊM ĐƯỜNG SINH DỤC VÀ THỬ NGHIỆM MỘT SỐ PHÁC ĐỒ ĐIỀU TRỊ BỆNH TRÊN ĐÀN LỢN NÁI NGOẠI NUÔI TẠI CÔNG TY

CP BÌNH MINH, HUYỆN MỸ ĐỨC, HÀ NỘI

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Giảng viên hướng dẫn : TS Phạm Thị Hiền Lương

Thái Nguyên, năm 2014

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong thời gian thực tập tốt nghiệp tại cơ sở, tôi được giám đốc Công

ty CP Bình Minh, cán bộ kỹ thuật và công nhân trong trang trại chăn nuôi tạo

điều kiện và giúp đỡ rất nhiều để tôi hoàn thành tốt khoá luận của mình Nhân

dịp này, tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới:

Ban giám hiệu trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Ban chủ nhiệm

khoa cùng toàn thể các thầy, cô giáo trong khoa Chăn nuôi - Thú y

Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo hướng dẫn đề tài TS

Phạm Thị Hiền Lương đã tận tình hướng dẫn để tôi hoàn thành tốt khoá luận này

Đồng thời, tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành tới Công ty Cổ phần

Chăn nuôi Charoen Pokphand Việt Nam, chủ trang trại cùng toàn thể anh, chị

em công nhân trong trang trại của gia đình ông Nguyễn Sĩ Bình về sự hợp tác giúp đỡ bố trí thí nghiệm, theo dõi các chỉ tiêu và thu thập số liệu làm cơ sở

cho khóa luận này

Một lần nữa tôi xin được gửi tới các thầy giáo, cô giáo và các bạn bè đồng nghiệp lời cảm ơn sâu sắc, lời chúc sức khoẻ cùng những điều tốt đẹp nhất

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, ngày 01 tháng 11 năm 2014

Sinh viên

Hà Quỳnh Như

Trang 4

có trình độ chuyên môn có năng lực công tác Vì vậy, thực tập tốt nghiệp rất cần thiết đối với mỗi sinh viên cuối khoá học trước khi ra trường

Xuất phát từ những đòi hỏi trên, được sự đồng ý của khoa Chăn nuôi Thú y, được sự phân công của cô giáo hướng dẫn và sự tiếp nhận của Công ty

CP Bình Minh, xã Phù Lưu Tế, huyện Mỹ Đức, Hà Nội, tôi đã tiến hành thực

hiện đề tài: “ Tình hình mắc bệnh viêm đường sinh dục và thử nghiệm một số

phác đồ điều trị bệnh trên đàn lợn nái ngoại nuôi tại công ty CP Bình Minh, huyện Mỹ Đức, Hà Nội ” Trong thời gian thực tập được sự giúp đỡ nhiệt tình

của chủ trại, cán bộ kỹ thuật và toàn bộ công nhân trong trại cùng với sự chỉ bảo tận tình của các thầy, cô giáo và sự nỗ lực của bản thân, tôi đã hoàn thành tốt nhiệm vụ và thu được một số kết quả nghiên cứu nhất định

Do bước đầu làm quen với công tác nghiên cứu khoa học, kiến thức chuyên môn chưa sâu, kinh nghiệm thực tế chưa nhiều và thời gian thực tập còn ngắn nên trong bản khóa luận này của tôi không tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót Tôi kính mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu của thầy, cô giáo cùng các bạn

đồng nghiệp để bản khóa luận của tôi được hoàn thiện hơn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Trang 5

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1 Diện tích và sản lượng một số cây trồng chính từ năm 2011 đến năm 2013 4

Bảng 1.2 Số lượng gia súc, gia cầm của xã năm 2011 - 2013 5

Bảng 1.3 Lịch sát trùng trại lợn nái 16

Bảng 1.4 Lịch phòng bệnh của trại lợn nái 17

Bảng 1.5 Kết quả công tác phục vụ sản xuất 22

Bảng 2.1 Một số tiêu chí phân biệt các thể viêm tử cung 35

Bảng 2.2 Sơ đồ bố trí thí nghiệm 45

Bảng 2.3 Cơ cấu đàn lợn sinh sản của Công ty CP Bình Minh (2012 - 2014) 47

Bảng 2.4 Tỷ lệ lợn nái mắc bệnh viêm đường sinh dục theo lứa đẻ 48

Bảng 2.5 Tỷ lệ lợn nái mắc bệnh viêm đường sinh dục theo tháng điều tra 50

Bảng 2.6 Mức độ viêm tử cung của lợn nái theo lứa đẻ 52

Bảng 2.7 Hiệu quả điều trị bệnh viêm tử cung ở lợn nái sinh sản 53

Bảng 2.8 Hiệu quả điều trị bệnh viêm vú ở lợn nái sinh sản 54

Trang 7

MỤC LỤC

PHẦN 1: CÔNG TÁC PHỤC VỤ SẢN XUẤT 1

1.1 Điều tra cơ bản về xã Phù Lưu Tế, huyện Mỹ Đức, Hà Nội 1

1.1.1 Điều kiện tự nhiên 1

1.1.2 Điều kiện kinh tế, xã hội 2

1.1.3 Tình hình sản xuất nông nghiệp 4

1.1.4 Quá trình thành lập và phát triển của Công ty CP Bình Minh 6

1.1.5 Đánh giá chung 11

1.2 Nội dung và phương pháp thực hiện công tác phục vụ sản xuất 11

1.2.1 Nội dung công tác phục vụ sản xuất 11

1.2.2 Biện pháp thực hiện 12

1.2.3 Kết quả công tác phục vụ sản xuất 13

1.3 Kết luận và đề nghị 22

1.3.1 Kết kuận 22

1.3.2 Đề nghị 23

PHẦN 2: CHUYÊN ĐỀ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC 24

2.1 Đặt vấn đề 24

2.1.1 Mục đích nghiên cứu của đề tài: 25

2.1.2 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 25

2.2 Tổng quan tài liệu 26

2.2.1 Cơ sở khoa học của đề tài 26

2.2.2 Tình hình nghiên cứu trên thế giới và trong nước 39

2.3 Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu 44

2.3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 44

2.3.2 Địa điểm, thời gian tiến hành 44

2.3.3 Nội dung nghiên cứu 44

2.3.4 Phương pháp nghiên cứu 44

2.4 Kết quả và thảo luận 47

2.4.1 Cơ cấu đàn lợn sinh sản của Công ty giai đoạn 2012 -2014 47

Trang 8

2.4.2 Tình hình mắc bệnh viêm đường sinh dục (VĐSD) ở đàn lợn nái ngoại

của công ty CP Bình Minh 48

2.4.3 Hiệu quả của một số phác đồ điều trị bệnh viêm đường sinh dục 53

2.5 Kết luận, tồn tại và đề nghị 55

2.5.1 Kết luận 55

2.5.2 Tồn tại 56

2.5.3 Đề nghị 56

TÀI LIỆU THAM KHẢO 57

Trang 9

PHẦN 1

CÔNG TÁC PHỤC VỤ SẢN XUẤT

1.1 Điều tra cơ bản về xã Phù Lưu Tế, huyện Mỹ Đức, Hà Nội

1.1.1 Điều kiện tự nhiên

1.1.1.2 Điều kiện địa hình, đất đai

Phù Lưu Tế có địa hình tương đối bằng phẳng Toàn xã có tổng diện tích

đất tự nhiên là 6,71km2

Trong đó, đất nông nghiệp là 318,366 ha, chiếm 47,45%, đất phi nông nghiệp là 333,82 ha (chiếm 49,75%), đất chưa sử dụng là 18,81 ha, chiếm 2,8%

Đất đai đa dạng, thích hợp với nhiều loại cây lương thực, thực phẩm và

cây công nghiệp

1.1.1.3 Điều kiện khí hậu, thủy văn

Xã Phù Lưu Tế nằm trong khu vực đồng bằng Bắc Bộ nên khí hậu mang tính chất chung của khí hậu miền Bắc Việt Nam, khí hậu nhiệt đới gió mùa

- Lượng mưa hàng năm cao nhất là 2.157 mm, thấp nhất là 1.060 mm, trung bình là 1.567 mm, lượng mưa tập trung chủ yếu từ tháng 6 đến tháng 7 trong năm

- Độ ẩm không khí trung bình hàng năm là 82%, độ ẩm cao nhất là 88%, thấp nhất là 67%

Trang 10

- Nhiệt độ trung bình trong năm là 21oC đến 23oC, mùa nóng tập trung vào tháng 6 đến tháng 7 Do ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc và gió mùa Đông Nam nên có sự chênh lệch về nhiệt độ trung bình giữa các mùa trong năm

- Về chế độ gió, gió mùa Đông Nam thổi từ tháng 3 đến tháng 10, gió mùa Đông Bắc thổi từ tháng 11 đến tháng 2 năm sau

1.1.2 Điều kiện kinh tế, xã hội

1.1.2.1 Tình hình dân cư

Tính đến đầu năm 2013, dân số của xã là gần 8986 người ở 8 thôn, tỷ lệ tăng dân số qua các năm 2012 là 1,47% và năm 2011 là 1,5%, mật độ dân số

lao động nông nghiệp Lao động chưa có chuyên môn kỹ thuật chiếm 80,2% Dân cư trong xã phân bố chưa đồng đều Các khu vực lân cận thị trấn

và gần trục đường giao thông chính, mật độ dân cư đông, sống tập trung hơn Dân tộc ở đây chủ yếu là dân tộc Kinh (chiếm 96%), bên cạnh đó còn

có một số dân tộc ít người như: Mường, Thái, H’Mông (chiếm 4%) Người dân trong xã cần cù trong lao động, sáng tạo trong sản xuất, đoàn kết trong nếp sống

1.1.2.2 Cơ cấu kinh tế

Phù Lưu Tế chủ yếu sản xuất lương thực, chăn nuôi gia súc - gia cầm, nuôi trồng thủy sản Nhờ được đầu tư hệ thống mương máng tốt mà người dân có thể trồng hai vụ lúa và một vụ hoa màu trong một năm Trong những năm gần đây, xã đã chú trọng chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng sản xuất hàng hóa, nâng cấp hệ thống chợ nông thôn để phát triển thương mại Năm

2011, giá trị sản xuất công nghiệp, thủ công nghiệp, xây dựng trên địa bàn xã

đạt 46,80 triệu đồng Ngành tiểu thủ công nghiệp chậm phát triển, rải rác còn

một số hộ trồng dâu, nuôi tằm, dệt vải, đan cói…

Trang 11

1.1.2.3 Tình hình văn hóa, giáo dục, y tế, giao thông

- Giáo dục:

Trong những năm gần đây ngành giáo dục của xã Phù Lưu Tế có những bước phát triển mạnh cả về số lượng và chất lượng giáo dục Xã đã đầu tư một số trang thiết bị, đồ dùng phục vụ cho giáo viên và học sinh trong quá trình dạy và học Trong xã có:

+ 2 trường mẫu giáo

+ 1 trường tiểu học

+ 1 trường trung học cơ sở

+ Trung tâm hướng nghiệp, bồi dưỡng chính trị huyện cũng được đặt tại xã Phù Lưu Tế

Xã đã phổ cập giáo dục Tiểu học và Trung học cơ sở

Đa số người dân có trình độ dân trí cao

- Công tác y tế:

Xã có trạm y tế với quy mô 3 giường bệnh Các thôn đều có y tá chăm sóc sức khỏe cho người dân Ngoài ra còn có các phòng khám tư nhân.Chăm sóc sức khỏe ban đầu của người dân ngày càng được quan tâm, nhất là phụ

nữ, trẻ em Thường xuyên quan tâm, tuyên truyền với nhiều hình thức, kết hợp với nhiều biện pháp nghiệp vụ chuyên môn kỹ thuật đã làm giảm tỷ lệ phát triển dân số tự nhiên hàng năm

- Giao thông vận tải:

Giao thông ở đây khá phát triển, thuận tiện cho việc giao lưu, đi lại của người dân địa phương Hầu hết các tuyến đường đã được trải nhựa hoặc rải cấp phối Ở các thôn còn tự xây dựng các đoạn đường tự quản Hiện nay, xã đang nâng cấp tuyến đường 430, đoạn chạy ra trục đường 21B

đi Hà Nam

Trang 12

1.1.3 Tình hình sản xuất nông nghiệp

Cây

trồng

Diện tích (ha)

Sản lượng (tấn)

Diện tích (ha)

Sản lượng (tấn)

Diện tích (ha)

Sản lượng (tấn)

(Nguồn UBND xã Phù Lưu Tế)

Qua bảng 1.1 cho thấy: Mấy năm trở lại đây, diện tích và sản lượng một

số loại cây trồng chính có những biến động nhất định Lúa vẫn là cây trồng chủ

đạo trên địa bàn xã, với tổng diện tích năm 2011 là 380 ha, sản lượng đạt 2.538

tấn, đến năm 2013, thì diện tích giảm xuống còn 186,7 ha nhưng sản lượng đạt 1.650 tấn, tuy diện tích có giảm nhưng năng suất vẫn đạt 7,2 tấn/ha, là do

người dân đã ứng dụng những tiến bộ khoa học kĩ thuật vào sản xuất, đưa năng suất lên cao Diện tích và sản lượng ngô giảm mạnh, thay vào đó là các cây công nghiệp và hoa màu ngắn ngày, nhưng đem lại năng suất cao như khoai tây, lạc, bắp cải, su hào,… vào sản xuất đã đem lại hiệu quả kinh tế cao cho

người dân Nguyên nhân của sự thay đổi đó là do người dân thay đổi cơ cấu cây trồng, tăng vốn đầu tư cho những loại cây trồng đạt hiệu quả kinh tế Việc

Trang 13

đưa các loại cây có giá trị vào sản xuất được chú trọng, cho nên năng suất và

sản lượng cây trồng không ngừng được nâng lên

1.1.3.2 Tình hình sản xuất ngành chăn nuôi

Số lượng gia súc, gia cầm của xã có sự biến động trong những năm gần

đây Kết quả điều tra số lượng gia súc, gia cầm được trình bày ở bảng 1.2:

Bảng 1.2: Số lượng gia súc, gia cầm của xã năm 2011 - 2013

Qua bảng 1.2 cho thấy:

- Chăn nuôi trâu, bò: Số lượng trâu giảm nhẹ qua các năm Năm 2011 toàn

xã có 138 con trâu, đến đầu năm 2013, số lượng đàn trâu giảm xuống còn 115 con Số lượng bò giảm từ 258 con trong năm 2011, xuống 235 con vào năm 2013

- Chăn nuôi lợn: Những năm gần đây trên địa bàn xã xuất hiện một số gia đình chăn nuôi từ 10 - 20 lợn nái sinh sản và vài trăm lợn thịt, cùng với sự thành lập và phát triển của trang trại chăn nuôi gia công trên địa bàn huyện,

do đó số lượng đàn lợn của xã không ngừng tăng lên qua các năm Năm 2011,

số lượng là 9.898 con, đến năm 2013 số lượng tăng lên 12.000 con Nguyên nhân là một số công ty liên doanh như CP, Dabaco… tập trung đầu tư vốn và

kỹ thuật, người dân thuê đất đai và nhân lực để hợp tác phát triển chăn nuôi

- Chăn nuôi gia cầm: Số lượng đàn gia cầm tăng lên rõ rệt Năm 2011,

số lượng đàn gia cầm là 46.658 con nhưng đến năm 2013 số lượng đàn đã tăng lên 54.000 con Có sự tăng lên không ngừng về số lượng đàn như vậy là

do mấy năm trở lại đây người chăn nuôi đã chú trọng hơn trong công tác

Trang 14

chăm sóc, nuôi dưỡng, phòng trừ dịch bệnh, công tác tiêm phòng được thực hiện triệt để Giá bán sản phẩm chưa cao nhưng đã đem lại hiệu quả kinh tế cho người chăn nuôi

* Công tác thú y: Huyện Mỹ Đức hàng năm đã tổ chức tốt kế hoạch tiêm phòng cho đàn gia súc, gia cầm Công tác kiểm tra xuất nhập con giống

và kiểm soát giết mổ được thực hiện nghiêm ngặt

Hiện nay, người dân đã nhận thức được lợi ích của việc tiêm phòng cho

đàn gia súc, gia cầm nên công tác tiêm phòng đạt hiệu quả cao, góp phần làm

giảm thiểu thiệt hại đối với sản xuất Hàng năm vào tháng 3 - 4 và tháng 9 - 10, Trạm Thú y huyện Mỹ Đức kết hợp với thú y cơ sở ở xã tiến hành tiêm phòng tất cả đàn trâu, bò, lợn, gia cầm và chó

- Với trâu, bò: Tiêm vaccine Tụ huyết trùng, Lở mồm long móng

- Với lợn: Tiêm vaccine Tụ dấu, Dịch tả, Tai xanh

Vì vậy, công tác thú y ở xã đã đảm bảo an toàn dịch bệnh cho đàn gia súc - gia cầm, thực hiện nghiêm Pháp lệnh thú y

1.1.4 Quá trình thành lập và phát triển của Công ty CP Bình Minh

1.1.4.1 Quá trình thành lập

Công ty CP Bình Minh nằm trên địa phận xã Phù Lưu Tế, huyện Mỹ

Đức, Hà Nội Trang trại được thành lập năm 2008, là trại lợn gia công của

Công ty Chăn nuôi CP Việt Nam (Công ty TNHH Charoen Pokphand Việt Nam) Hoạt động theo phương thức chủ trại xây dựng cơ sở vật chất, thuê công nhân, công ty đưa tới giống lợn, thức ăn, thuốc thú y, cán bộ kỹ thuật Hiện nay, trang trại do ông Nguyễn Sĩ Bình làm chủ trại, cán bộ kỹ thuật của Công ty Chăn nuôi CP Việt Nam chịu trách nhiệm giám sát mọi hoạt động của trang trại

Trang 15

1.1.4.2 Cơ cấu tổ chức của trang trại

Cơ cấu của trại được tổ chức như sau:

1.1.4.3 Cơ sở vật chất của trang trại

Công ty CP Bình Minh nằm ở khu vực cánh đồng rộng lớn thuộc thôn Trung, có địa hình tương đối bằng phẳng với diện tích là 10,2 ha Trong đó:

- Đất trồng cây ăn quả: 2,3 ha

- Đất xây dựng: 2,5 ha

- Đất trồng lúa: 2,4 ha

- Ao, hồ chứa nước và nuôi cá: 3 ha

Trang trại đã dành khoảng 0,5 ha đất để xây dựng nhà điều hành, nhà ở cho công nhân, bếp ăn, các công trình phục vụ cho công nhân và các hoạt

động khác của trại

Khu chăn nuôi được quy hoạch bố trí xây dựng hệ thống chuồng trại cho 1200 nái cơ bản bao gồm: 6 chuồng nái đẻ (mỗi chuồng có 56 ô kích thước 2,4m x 1,6m/ô), 2 chuồng nái chửa (mỗi chuồng có 560 ô kích thước 2,4m x 0,65m/ô), 3 chuồng cách ly, 1 chuồng đực giống, 9 chuồng lợn thịt

Trang 16

(mỗi chuồng nuôi 550 con) cùng một số công trình phụ phục vụ cho chăn nuôi như: Kho thức ăn, phòng sát trùng, phòng pha tinh, kho thuốc

Hệ thống chuồng xây dựng khép kín hoàn toàn Phía đầu chuồng là hệ thống giàn mát, cuối chuồng có 3 quạt thông gió đối với các chuồng đẻ, 8 quạt thông gió đối với chuồng nái chửa và 2 quạt đối với chuồng cách ly, 2 quạt đối với chuồng đực Hai bên tường có dãy cửa sổ lắp kính Mỗi cửa sổ có

lắp hệ thống chống nóng bằng tôn lạnh

Phòng pha tinh của trại được trang bị các dụng cụ hiện đại như: Máy

đếm mật độ tinh trùng, kính hiển vi, thiết bị cảm ứng nhiệt, các dụng cụ đóng

liều tinh, nồi hấp cách thủy dụng cụ và một số thiết bị khác

Trong khu chăn nuôi, đường đi lại giữa các ô chuồng, các khu khác đều

được đổ bê tông và có các hố sát trùng

Hệ thống nước trong khu chăn nuôi đều là nước giếng khoan Nước uống cho lợn được cấp từ một bể lớn, xây dựng ở đầu chuồng nái đẻ 6 và chuồng nái chửa 2 Nước tắm và nước xả gầm, phục vụ cho công tác khác, được bố trí từ tháp bể lọc và được bơm qua hệ thống ống dẫn tới bể chứa ở giữa các chuồng

Hệ thống điện: Nguồn cấp điện có điện lưới và máy phát dự phòng Đối với chuồng đẻ, hệ thống điện được cung cấp đầy đủ đảm bảo độ sáng phục vụ cho công tác đỡ đẻ, chăm sóc nuôi dưỡng lợn mẹ và lợn con; mỗi chuồng đẻ

được lắp đặt cố định 10 bóng thắp sáng so le nhau, cùng với hệ thống bóng sưởi

cho mỗi ô chuồng có lợn con được sinh ra

Hệ thống sát trùng: nhà sát trùng cho người gồm 3 phòng: phòng sát trùng nam, phòng sát trùng nữ và phòng sát trùng khách Mỗi phòng sát trùng được chia làm 3 khoang gồm 1 khoang thay đồ, 1 khoang sát trùng và 1 khoang tắm tráng với đầy đủ các trang thiết bị như: bình nóng lạnh, sen tắm, chậu rửa, gương soi, móc quần áo, khăn, xà bông, dầu gội Hệ thống sát trùng khu vực ngoài

Trang 17

chuồng nuôi gồm: nhà sát trùng xe, hố sát trùng, máy nén phun sát trùng di động trong khu vực chuồng nuôi

Kho chứa thức ăn: trần đóng kín không dột, có sạp kê cám

Hệ thống xử lý môi trường: Chất thải được xử lý bằng hệ thống biogas trước khi thải ra môi trường, có điểm tiêu chất thải, có giàn khử mùi phía sau quạt hút gió, có hố hủy lợn xa khu vực chăn nuôi

Các công trình phụ trợ khác: Khu sinh hoạt tách biệt với khu chăn nuôi gồm phòng kỹ sư, nhà ở công nhân, nhà bếp, nhà tắm, nhà vệ sinh Cổng trại, tường rào đảm bảo an ninh Có nhà kho phục vụ chăn nuôi như nhà để vôi bột,

bể tôi vôi nước

Một số dụng cụ và trang thiết bị khác: Tủ lạnh bảo quản vaccine, tủ thuốc

để bảo quản và dự trữ thuốc cho trại, xe chở cám từ nhà kho xuống chuồng, máy

nén khí phun sát trùng di động khu vực ngoài chuồng nuôi

1.1.4.4 Tình hình sản xuất của trang trại

* Công tác chăn nuôi:

Nhiệm vụ chính của trang trại là sản xuất con giống và chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật

Hiện nay, trung bình lợn nái của trại sản xuất được 2,45 - 2,47 lứa/năm

Số con sơ sinh là 11,23 con/đàn, số con cai sữa: 10,7 con/đàn Trại hoạt động vào mức khá theo đánh giá của Công ty Chăn nuôi CP Việt Nam

Tại trại, lợn con theo mẹ được nuôi đến 21 ngày tuổi, chậm nhất là

26 ngày thì tiến hành cai sữa và chuyển sang các trại chăn nuôi lợn giống của công ty

Trong trại có 23 con lợn đực giống được chuyển về cùng một đợt, các lợn đực giống này được nuôi nhằm mục đích kích thích động dục cho lợn nái

và khai thác tinh để thụ tinh nhân tạo Tinh lợn được khai thác từ 2 giống lợn

Trang 18

Pietrain và Duroc Lợn nái được phối 3 lần và được luân chuyển giống cũng như con đực

Thức ăn cho lợn nái là thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh có chất lượng cao,

được Công ty Chăn nuôi CP Việt Nam cấp cho từng đối tượng lợn của trại

* Công tác vệ sinh:

Hệ thống chuồng trại luôn đảm bảo thoáng mát về mùa hè, ấm áp về mùa

đông Hàng ngày luôn có công nhân quét dọn vệ sinh chuồng trại, thu gom phân,

nước tiểu, khơi thông cống rãnh, đường đi trong trại được quét dọn, phun thuốc sát trùng, hành lang đi lại được quét dọn và rắc vôi theo quy định

Công nhân, kỹ sư, khách tham quan khi vào khu chăn nuôi đều phải sát trùng tại nhà sát trùng, tắm bằng nước sạch trước khi thay quần áo bảo hộ lao động

* Công tác phòng bệnh:

Trong khu vực chăn nuôi hạn chế đi lại giữa các chuồng, hành lang giữa các chuồng và bên ngoài chuồng đều được rắc vôi bột, các phương tiện vào trại được sát trùng một cách nghiêm ngặt ngay tại cổng vào Với phương

châm “phòng bệnh là chính” nên tất cả lợn ở đây đều được cho uống thuốc, tiêm phòng vaccine đầy đủ

Quy trình phòng bệnh bằng vaccine luôn được trang trại thực hiện

nghiêm túc, đầy đủ và đúng kỹ thuật Đối với từng loại lợn có quy trình tiêm

riêng, từ lợn nái, lợn hậu bị, lợn đực, lợn con Lợn được tiêm vaccine ở trạng

thái khỏe mạnh, được chăm sóc nuôi dưỡng tốt, không mắc các bệnh truyền nhiễm và các bệnh mãn tính khác để tạo được trạng thái miễn dịch tốt nhất

cho đàn lợn Tỷ lệ tiêm phòng vaccine cho đàn lợn luôn đạt 100%

* Công tác trị bệnh:

Cán bộ kỹ thuật của trang trại có nhiệm vụ theo dõi, kiểm tra đàn lợn thường xuyên, các bệnh xảy ra ở lợn nuôi tại trang trại luôn được kỹ thuật viên phát hiện sớm, cách ly, điều trị ở ngay giai đoạn đầu, nên điều trị đạt

Trang 19

hiệu quả từ 80 - 90% trong một thời gian ngắn Vì vậy, không gây thiệt hại

lớn về số lượng đàn gia súc

1.1.5 Đánh giá chung

1.1.5.1 Thuận lợi

Được sự quan tâm của Ủy ban nhân dân xã tạo điều kiện cho sự phát

triển của trang trại

Trang trại được xây dựng ở vị trí thuận lợi: Xa khu dân cư, thuận tiện

đường giao thông

Chủ trại có năng lực, năng động, nắm bắt được tình hình xã hội, luôn quan tâm đến đời sống vật chất và tinh thần của cán bộ kỹ thuật và công nhân

Cán bộ kỹ thuật có trình độ chuyên môn vững vàng, công nhân nhiệt tình và có tinh thần trách nhiệm cao trong sản xuất

Con giống tốt, thức ăn, thuốc chất lượng cao, quy trình chăn nuôi khép kín và khoa học đã mang lại hiệu quả chăn nuôi cao cho trang trại

1.1.5.2 Khó khăn

Dịch bệnh diễn biến phức tạp nên chi phí dành cho phòng và chữa bệnh lớn, làm ảnh hưởng đến giá thành và khả năng sinh sản của lợn

Trang thiết bị vật tư, hệ thống chăn nuôi đã cũ, có phần bị hư hỏng

Số lượng lợn nhiều, lượng nước thải lớn, việc đầu tư cho công tác xử lý nước thải của trại còn nhiều khó khăn

1.2 Nội dung và phương pháp thực hiện công tác phục vụ sản xuất

1.2.1 Nội dung công tác phục vụ sản xuất

1.2.1.1 Công tác chăn nuôi

Tìm hiểu về quy trình chăn nuôi các loại lợn: Lợn nái chửa, nái nuôi con, lợn con theo mẹ, lợn đực

Nắm vững đặc điểm của các giống lợn có ở trại

Tham gia công tác vệ sinh, chăm sóc nuôi dưỡng đàn lợn

Trang 20

Tham gia đỡ đẻ cho lợn nái, bấm số tai, bấm nanh, cắt đuôi cho lợn con, làm ổ úm cho lợn con

Tham gia công tác phát hiện lợn động dục và phối giống cho lợn nái

Chẩn đoán và điều trị một số bệnh mà đàn lợn mắc phải trong quá trình thực tập

Tham gia vào các công tác khác

1.2.2 Biện pháp thực hiện

Để thu được kết quả tốt nhất trong thời gian thực tập và thực hiện tốt

những nội dung trên tôi đã đưa ra một số biện pháp để thực hiện như sau:

Tuân thủ nội quy của trường, khoa, trại và yêu cầu của cô giáo hướng dẫn Tích cực học hỏi kiến thức, kinh nghiệm của cán bộ kỹ thuật trong trại và những người chăn nuôi để nâng cao tay nghề và củng cố kiến thức chuyên môn

Vận dụng những kiến thức lý thuyết ở trường, lớp vào công việc chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho đàn lợn

Thực hiện bám sát cơ sở sản xuất và đi sâu kiểm tra, tìm hiểu quy trình chăn nuôi của trại

Khiêm tốn, hòa nhã với mọi người, không ngại khó, ngại khổ tham gia vào các công việc của trại

Trang 21

Thường xuyên xin ý kiến chỉ đạo của giáo viên hướng dẫn để có những bước đi đúng đắn

Trực tiếp tham gia chăm sóc, nuôi dưỡng đàn lợn thí nghiệm

Tham khảo sổ sách theo dõi của trại và trao đổi các vấn đề chuyên môn với cán bộ kỹ thuật trại và chủ trang trại

1.2.3 Kết quả công tác phục vụ sản xuất

Trong thời gian thực tập tại trang trại được sự giúp đỡ của ban lãnh đạo

và đội ngũ cán bộ công nhân viên trong trang trại cùng với sự cố gắng của bản

thân tôi đã thu được các kết quả sau:

1.2.3.1 Công tác chăn nuôi

Công tác vệ sinh trong chăn nuôi là một trong những khâu rất quan trọng Nếu công tác vệ sinh được thực hiện tốt thì gia súc ít mắc bệnh, sinh trưởng và phát triển tốt, chi phí thuốc thú y thấp, làm cho hiệu quả chăn nuôi cao hơn Do nhận thức rõ được điều này nên trong suốt thời gian thực tập, tôi

đã thực hiện tốt các công việc như:

* Công tác chăm sóc nuôi dưỡng

Trong quá trình thực tập tại trang trại, tôi đã tham gia chăm sóc nái chửa, nái đẻ, tham gia đỡ đẻ, chăm sóc cho lợn con theo mẹ đến cai sữa Trực tiếp vệ sinh, chăm sóc, theo dõi đàn lợn thí nghiệm Thực hiện quy trình chăm sóc nái chửa, nái chờ đẻ, nái đẻ, đàn lợn con theo mẹ đến khi cai sữa như sau:

- Đối với nái chửa:

Lợn nái chửa được nuôi chủ yếu ở chuồng nái chửa 1 và 2 Hàng ngày vào kiểm tra lợn để phát hiện lợn phối không đạt, lợn nái bị sảy thai, lợn mang thai giả, vệ sinh, dọn phân không để cho lợn nằm đè lên phân, lấy thức

ăn cho lợn ăn, rửa máng, phun thuốc sát trùng hàng ngày, xịt gầm, cuối giờ

chiều phải chở phân ra khu xử lý phân Lợn nái chửa được ăn loại thức ăn 566SF, 567SF với khẩu phần ăn tùy theo tuần chửa, thể trạng, lứa đẻ như sau:

Trang 22

Đối với nái chửa từ tuần chửa 1 đến tuần chửa 12 ăn thức ăn 566SF với

tiêu chuẩn 1,5 - 2 kg/con/ngày, cho ăn 1 lần trong ngày

Đối với nái chửa từ tuần 13 đến tuần chửa 14 ăn thức ăn 566SF với tiêu

chuẩn 2,5 - 3 kg/con/ngày, cho ăn 1 lần trong ngày

Đối với nái chửa từ tuần 15 trở đi được ăn thức ăn 567SF với tiêu

chuẩn 3,5 - 4 kg/con/ngày, cho ăn 1 lần trong ngày

- Đối với nái đẻ:

Lợn nái chửa được chuyển lên chuồng đẻ trước ngày đẻ dự kiến 7 - 10 ngày Trước khi chuyển lợn lên chuồng đẻ, chuồng phải được dọn dẹp, sát trùng và cọ, rửa sạch sẽ Lợn chuyển lên phải được ghi đầy đủ thông tin lên bảng ở đầu mỗi ô chuồng Thức ăn của lợn chờ đẻ được cho ăn với tiêu chuẩn

ăn 3 kg/ngày, chia làm 2 bữa sáng, chiều

Lợn nái chửa trước ngày đẻ dự kiến 3 ngày, giảm tiêu chuẩn ăn xuống 0,5 kg/con/bữa

Khi lợn nái đẻ được 2 ngày tăng dần lượng thức ăn từ 0,5 - 5 kg/con/ngày chia làm hai bữa sáng, chiều Đối với nái nuôi con quá gầy hoặc nuôi nhiều con có thể cho ăn tăng lượng thức ăn lên 6 kg/con/ngày

- Đối với đàn lợn con theo mẹ đến khi cai sữa:

+ Ngay sau khi đẻ ra lợn được tiến hành cắt rốn, bấm nanh

+ Lợn con 2 - 3 ngày tuổi được cắt số tai, cắt đuôi và tiêm sắt, cho uống thuốc phòng phân trắng lợn con và tiêu chảy

+ Lợn con 3 - 4 ngày tuổi cho lợn con uống thuốc phòng cầu trùng + Lợn con 4 - 5 ngày tuổi tiến hành thiến lợn đực

+ Lợn con được từ 4 - 6 ngày tuổi tập cho ăn bằng thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh 550SF

+ Lợn con được 16 - 18 ngày tuổi tiêm phòng dịch tả

+ Lợn con được 21 - 26 ngày tuổi tiến hành cai sữa cho lợn

Trang 23

* Thụ tinh nhân tạo cho lợn nái

- Bước 1: Trước khi dẫn tinh cho lợn nái, quan sát triệu chứng động dục trước đó và đã xác định khoảng thời gian dẫn tinh thích hợp nhất

- Bước 2: Chuẩn bị dụng cụ

- Bước 3: Chuẩn bị tinh dịch đảm bảo về thể tích (80 - 100 ml) và

số lượng tinh trùng tiến thẳng trong một liều dẫn (1,5 - 2,0 tỷ tinh trùng tiến thẳng)

- Bước 4: Vệ sinh lợn nái

- Bước 5: Dẫn tinh

- Bước 6: Sau khi dẫn tinh xong, phải vệ sinh dụng cụ sạch sẽ Số lần lợn nái

được dẫn tinh trong 1 chu kỳ động dục là 3 lần và được ghi lại trên thẻ nái Sau khi

dẫn tinh được 21 - 25 ngày phải tiếp tục quan sát, kiểm tra kết quả thụ thai, phát hiện những lợn cái động dục lại để kịp thời dẫn tinh lại Kết quả thụ thai ở kỳ động dục nào được ghi vào kết quả thụ thai của chu kỳ động dục ấy

1.2.3.2 Công tác thú y

* Công tác vệ sinh

Chuồng nuôi luôn được vệ sinh sạch sẽ, chuồng được tiêu độc bằng

thuốc sát trùng Ommicide 2 lần hàng ngày, pha với tỷ lệ 320ml sát trùng/1000

lít nước

Trang 24

Ở các chuồng đẻ sau khi cai sữa, lợn mẹ được chuyển lên chuồng nái

chửa 1 (khu vực cai sữa) Sau khi xuất lợn con, các tấm đan chuồng này được tháo ra mang ngâm ở hố sát trùng bằng dung dịch NaOH 10%, ngâm trong 1 ngày sau đó được cọ sạch, phơi khô Khung chuồng cũng được cọ sạch, xịt bằng dung dịch NaOH pha với nồng độ loãng, sau đó xịt lại bằng dung dịch vôi xút Gầm chuồng cũng được vệ sinh sạch sẽ, tiêu độc khử trùng kỹ sau đó rắc vôi bột Để khô 1 ngày rồi tiến hành lắp đan vào, sau đó đuổi lợn chờ đẻ

từ chuồng nái chửa 2 xuống Lịch sát trùng được trình bày qua bảng 1.3

Bảng 1.3: Lịch sát trùng trại lợn nái

Thứ

Trong chuồng

Ngoài Chuồng

Ngoài khu vực chăn nuôi

Chuồng nái

Chuồng cách ly

trùng

Phun sát trùng

Phun sát trùng

Phun sát trùng toàn

bộ khu vực

Phun sát trùng toàn bộ khu vực

trùng

Phun sát trùng + quét vôi đường đi

Quét hoặc rắc vôi

Phun ghẻ

trùng

Phun sát trùng + rắc vôi

Phun sát trùng

Phun sát trùng

Phun sát trùng

tổng chuồng

Vệ sinh tổng chuồng

Vệ sinh tổng chuồng

Vệ sinh tổng khu

Trang 25

* Công tác phòng bệnh

Quy trình tiêm phòng, phòng bệnh cho đàn lợn của trang trại được thực hiện tích cực, thường xuyên và bắt buộc Tiêm phòng cho đàn lợn nhằm tạo ra trong cơ thể chúng miễn dịch chủ động, chống lại sự xâm nhập của vi khuẩn, tăng sức đề kháng cho cơ thể

Sau đây là quy trình phòng bệnh bằng thuốc và vaccine cho các loại lợn

Bảng 1.4: Lịch phòng bệnh của trại lợn nái

Liều lượng (ml/con)

Lợn con

Lợn hậu

bị

Lợn nái

sinh sản

Định kỳ hàng năm vào tháng 4, 8, 12 tiêm phòng bệnh tổng đàn

vaccine giả dại Begonia tiêm bắp 2 ml/con

Đối với lợn đực:

- Lợn đực hậu bị mới nhập về: 3 tuần tiêm phòng vaccine dịch tả

Coglapest, 4 tuần tiêm phòng vaccine lở mồng long móng Aftopor, vaccine

giả dại Begonia

- Lợn đực đang khai thác tiêm phòng vào tháng 5, tháng 11 vaccine

dịch tả Coglapest Tháng 4, 8, 12 tiêm phòng vaccine lở mồng long móng

Aftopor, vaccine giả dại Begonia

Trang 26

* Công tác chẩn đoán và điều trị bệnh

Để điều trị bệnh cho gia súc đạt hiệu quả cao, thì việc phát hiện bệnh

kịp thời và chính xác giúp ta đưa ra được phác đồ điều trị tốt nhất làm giảm tỷ

lệ chết, giảm thời gian sử dụng thuốc và giảm thiệt hại về kinh tế Vì vậy, hàng ngày tôi cùng cán bộ kỹ thuật tiến hành kiểm tra, theo dõi đàn lợn ở tất

cả các ô chuồng để phát hiện ra những con bị ốm Trong thời gian thực tập, chúng tôi đã gặp và điều trị một số bệnh sau:

- Bệnh viêm tử cung

+ Nguyên nhân: Là một quá trình bệnh lí phức tạp có thể do rất nhiều nguyên nhân: Công tác phối giống không đúng kỹ thuật, do lợn mẹ đẻ khó, bị sát nhau phải can thiệp bằng tay hoặc dụng cụ trợ sản làm tổn thương, xây xát niêm mạc cổ tử cung và âm đạo tạo điều kiện thuận lợi cho vi khuẩn bên ngoài xâm nhập vào gây viêm Do sàn chuồng không được vệ sinh sạch, lợn nái không được vệ sinh sạch sẽ trước và sau khi đẻ Mặt khác, do kế phát từ một số bệnh truyền nhiễm như: Bệnh sảy thai truyền nhiễm và phó thương hàn (Văn Lệ Hằng và cs, 2008) [9]

+ Triệu chứng: Khi bị bệnh, lợn biểu hiện một số triệu chứng chủ yếu: Thân nhiệt tăng cao, ăn uống giảm, lượng sữa giảm, con vật đau đớn, có khi cong lưng rặn, tỏ vẻ không yên tĩnh Âm hộ sưng đỏ Từ cơ quan sinh dục thải

ra ngoài dịch viêm màu trắng đục hoặc phớt hồng, có mùi tanh, thối khắm + Điều trị: Hạn chế quá trình viêm lan rộng, kích thích tử cung co bóp thải hết dịch viêm ra ngoài và đề phòng hiện tượng nhiễm trùng cho cơ thể, chúng tôi tiến hành điều trị như sau:

Tiêm một liều Oxytocin: 3 - 5 ml/con

Điều trị liên tục trong 3 - 6 ngày

Trang 27

+ Kết quả: Điều trị 135 con, khỏi 135 con

- Bệnh viêm vú

+ Nguyên nhân: Do các loài vi khuẩn: Liên, tụ cầu trùng, E.coli xâm

nhập vào tuyến vú qua da, do xây xát núm vú do răng nanh lợn con mới sinh,

do lợn mẹ nhiều sữa ứ đọng tạo nên môi trường cho vi khuẩn phát triển, hoặc

do quá nhiều sữa làm căng nhức, gây viêm

Do vệ sinh chuồng trại kém, phân, nước tiểu không thoát hết, nhiệt độ chuồng trại quá lạnh, quá nóng

Do việc dùng thuốc sát trùng tẩy uế chưa hợp lý trong khu trang trại cũng như trong chuồng lợn nái trước và sau khi đẻ

Do kế phát từ các bệnh viêm âm đạo, tử cung

+ Triệu chứng: Lợn nái bỏ ăn, nằm một chỗ, sốt cao, không cho con bú Tất cả các bầu vú hay một vài bầu vú bị viêm, đỏ, đau, nóng, sưng; có con bị viêm nặng, bầu vú tím bầm lại, sờ nắn bầu vú thấy cứng

Điều trị liên tục trong 3 - 5 ngày

+ Kết quả: Điều trị 21 con, khỏi 100%

- Bệnh phân trắng lợn con

+ Nguyên nhân: Bệnh phân trắng ở lợn con là một hội chứng hoặc một

trạng thái lâm sàng rất đa dạng Do trực khuẩn E.coli thuộc họ

Enterobacteriaceae, nhiều loại Samonella (S.choleraesuis, S.typhysuis…) và

Trang 28

đóng vai trò phụ là: Proteus, Steptococcus Trong điều kiện bình thường vi

khuẩn E.coli khu trú tự nhiên trong đường tiêu hoá của lợn, chủ yếu ở cuối

ruột non và suốt ruột già Vi khuẩn này sẵn sàng tấn công vào cơ thể lợn khi

cơ thể lợn gặp những điều kiện bất lợi (Phạm Sĩ Lăng và cs, 2003) [15]

Do hệ thống phòng vệ của lợn con chưa hoàn chỉnh trong những ngày

đầu tiên như: Lượng axit trong dạ dày lợn con rất ít nên không đủ ngăn cản sự

tấn công, xâm nhập và tăng sinh của vi khuẩn vào ruột và gây bệnh

Do việc nuôi dưỡng chăm sóc lợn mẹ chưa hợp lý, chuồng trại ẩm ướt, nhiệt độ quá cao hoặc quá thấp, vệ sinh kém, sữa mẹ kém,

+ Triệu chứng: Bệnh thường gặp ở lợn con từ 5 - 21 ngày tuổi Lợn tiêu chảy phân màu vàng trắng, trắng xám, sau đó là vàng xanh, mùi phân hôi tanh Lợn mất nước và mất chất điện giải gầy sút nhanh, bú kém, đi lại không vững Bệnh kéo dài thì bụng tóp lại, lông xù, hậu môn và đuôi dính phân bê bết Nếu không điều trị kịp thời thì lợn con chết rất nhanh

+ Điều trị:

Bệnh phân trắng lợn con có thể điều trị bằng nhiều loại thuốc Tại trang trại điều trị bằng thuốc sau:

Nova - Ampicol: 2 g/lít nước cho uống

Điều trị liên tục trong 3 - 4 ngày

+ Kết quả: Điều trị 263 con, khỏi 245 con, đạt 93,16%

- Bệnh viêm phổi

+ Nguyên nhân: Do Mycoplasma hyopneumoniae gây ra Bệnh xảy ra

trên lợn con ngay từ khi mới sinh ra Bệnh xâm nhập chủ yếu qua đường hô hấp Do điều kiện chăn nuôi vệ sinh chuồng trại kém, thời tiết thay đổi, do sức

đề kháng của lợn giảm, Bệnh thường lây lan do nhốt chung giữa lợn khỏe

với lợn nhiễm bệnh và mắc bệnh do bú sữa của lợn mẹ bị bệnh

Trang 29

+ Triệu chứng: Lợn con còi cọc chậm lớn, lông xù, hở xương sống, khi thở hóp bụng lại Bình thường nghỉ ngơi lợn không ho, chỉ khi xua đuổi, quấy rầy lợn mới ho (ho vào lúc sáng sớm hay chiều tối), nhiệt độ cơ thể bình thường hay tăng nhẹ

+ Điều trị:

Tylogenta : 1,5ml/con Tiêm bắp ngày/lần

Vetrimoxin : 1,5ml/con Tiêm bắp 2 ngày/lần

Điều trị trong 3 - 6 ngày

+ Kết quả : Điều trị khỏi 316 con trên 327 con mắc bệnh, đạt 96,64%

1.2.3.3 Công tác khác

Ngoài việc chăm sóc nuôi dưỡng đàn lợn và tiến hành nghiên cứu chuyên đề khoa học, tôi còn tham gia một số công việc khác như:

Đỡ đẻ cho lợn nái: 317 con

Thụ tinh nhân tạo cho lợn nái: 16 con

Tiêm Dextran Fe cho lợn con: 430 con

Xuất lợn con: 2500 con

Tỷ lệ an toàn đạt 100%

Kết quả công tác phục vụ sản xuất trong thời gian thực tập được tổng hợp trong bảng 1.5

Trang 30

Bảng 1.5: Kết quả công tác phục vụ sản xuất

(con)

Kết quả (an toàn/khỏi)

Số lượng (con)

Tỷ lệ (%)

Trang 31

Về chuyên môn: Đã biết cách sử dụng một số loại vaccine, chẩn đoán

và điều trị một số bệnh thông thường xảy ra trên lợn, biết cách sử dụng thuốc, vận dụng một cách hợp lý giữa lý thuyết với thực tế

Học hỏi được cách quản lý và sử dụng nguồn nhân lực, biết cách phân công công việc một cách hợp lý, có hiệu quả cao

Qua đó, giúp tôi mạnh dạn hơn, tự tin hơn vào khả năng của mình, hoàn thành tốt công việc được giao Từ đó làm cho tôi cảm thấy yêu ngành, yêu nghề hơn, chịu khó học hỏi kinh nghiệm của thầy cô giáo, bạn bè, đồng nghiệp đi trước kết hợp với kiến thức đã học ở trường, lớp

Qua quá trình thực tập tại cơ sở, tôi thấy từ lý thuyết đến thực hành còn một khoảng cách nhất định, nếu chỉ học lý thuyết thì chưa đủ, mà cần có sự kết hợp giữa lý thuyết với thực hành, phải biết cách áp dụng những kiến thức

đã học vào thực tế một cách linh hoạt, sáng tạo Vì vậy, tôi thấy việc đi thực

tập tại các cơ sở sản xuất là rất cần thiết đối với bản thân tôi nói riêng, cũng như tất cả sinh viên nói chung trước khi tốt nghiệp ra trường

- Cần cung cấp nước uống đầy đủ cho lợn, hạn chế thấp nhất tình trạng thiếu nước uống cho lợn, nhất là trong những ngày nắng nóng

- Thay thế một số trang thiết bị, dụng cụ chăn nuôi bị cũ, hỏng để nâng cao năng suất lao động

- Công tác tiêm phòng và vệ sinh thú y cần thực hiện tốt hơn nữa

Trang 32

PHẦN 2 CHUYÊN ĐỀ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

Tên đề tài: “Tình hình mắc bệnh viêm đường sinh dục và thử

nghiệm một số phác đồ điều trị bệnh trên đàn lợn nái ngoại nuôi tại Công

ty CP Bình Minh, huyện Mỹ Đức, Hà Nội.”

2.1 Đặt vấn đề

Việt Nam là một nước đang phát triển có nền nông nghiệp đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân; trong đó, chăn nuôi lợn giữ một vị trí quan trọng trong ngành nông nghiệp Việt Nam

Con lợn được xếp hàng đầu trong số các vật nuôi, cung cấp phần lớn thực phẩm cho nhân dân và phân bón cho sản xuất nông nghiệp Ngày nay chăn nuôi lợn còn có tầm quan trọng đặc biệt nữa là tăng kim ngạch xuất khẩu, đây cũng là nguồn thu nhập ngoại tệ đáng kể cho nền kinh tế quốc dân

Để cung cấp lợn giống cho nhu cầu chăn nuôi của các trang trại và các nông

hộ thì việc phát triển đàn lợn nái sinh sản là việc làm cần thiết

Tuy vậy, một trong những trở ngại lớn nhất của chăn nuôi lợn nái sinh sản là dịch bệnh xảy ra còn phổ biến gây nhiều thiệt hại cho đàn lợn nái nuôi tập trung trong các trang trại cũng như nuôi tập trung ở các hộ chăn nuôi gia

đình Đối với lợn nái, nhất là lợn nái ngoại được chăn nuôi theo phương thức

công nghiệp thì các bệnh về sinh sản xuất hiện khá nhiều do khả năng thích nghi của đàn lợn nái ngoại với điều kiện khí hậu nước ta còn kém Mặt khác,

trong quá trình sinh đẻ, lợn nái dễ bị các loại vi khuẩn như Streptococcus,

Staphylococcus, E.coli,… xâm nhập và gây một số bệnh nhiễm trùng sau đẻ

như viêm âm đạo, viêm âm môn,… Đặc biệt hay gặp là bệnh viêm tử cung,

đây là bệnh gây ảnh hưởng trực tiếp tới khả năng sinh sản của lợn mẹ Nếu

không điều trị kịp thời, viêm tử cung có thể dẫn tới các bệnh kế phát như: Viêm vú, mất sữa, rối loạn sinh sản, chậm sinh, vô sinh, viêm phúc mạc dẫn

Trang 33

đến nhiễm trùng huyết và chết,… Vì vậy, các bệnh viêm đường sinh dục, đặc

biệt là bệnh viêm tử cung ở lợn nái ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng đàn lợn giống nói riêng, đồng thời ảnh hưởng tới năng suất, chất lượng và hiệu quả toàn ngành chăn nuôi lợn nói chung

Để hiểu rõ hơn về bệnh, đồng thời giúp người chăn nuôi tìm ra hướng giải

quyết phù hợp trong vấn đề phòng và trị bệnh hiệu quả, góp phần hạn chế những thiệt hại do bệnh viêm đường sinh dục gây ra ở lợn nái sinh sản Được sự đồng ý của ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi thú y, dưới sự hướng dẫn của cô giáo TS Phạm Thị Hiền Lương cùng sự giúp đỡ của Công ty CP Bình Minh, huyện Mỹ

Đức, Hà Nội tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Tình hình mắc bệnh viêm đường

sinh dục và thử nghiệm một số phác đồ điều trị bệnh trên đàn lợn nái ngoại nuôi tại Công ty CP Bình Minh, huyện Mỹ Đức, Hà Nội.”

2.1.1 Mục đích nghiên cứu của đề tài:

- Nắm được tình hình chăn nuôi và vệ sinh phòng bệnh cho lợn của

- Kết quả thu được là cơ sở khoa học để đưa ra các giải pháp kỹ thuật nhằm nâng cao khả năng sản xuất của đàn lợn nuôi tại Công ty CP Bình Minh, huyện Mỹ Đức, Hà Nội

Trang 34

2.2 Tổng quan tài liệu

2.2.1 Cơ sở khoa học của đề tài

2.2.1.1 Cấu tạo cơ quan sinh dục cái

Theo Đặng Quang Nam (2002) [19], cơ quan sinh dục cái có các bộ phận sau:

- Buồng trứng (Ovarium): Gồm một đôi (dài 1,5-2,5cm, khối lượng 3-5

gam) nằm trước cửa xoang chậu, ứng với vùng đốt sống hông 3-4 Bề mặt buồng trứng có nhiều u nổi lên

Buồng trứng được bọc ở ngoài bởi màng liên kết sợi chắc, bên trong chia làm 2 phần, cả 2 phần đều phát triển một thứ mô liên kết sợi xốp tạo nên một loạt chất đệm Dưới lớp màng liên kết của buồng trứng có nhiều tế bào trứng non phát triển dần thành nang trứng nguyên thủy, sau đó phát triển thành nang trứng sơ cấp và cuối cùng phát triển thành bao noãn chín Dưới tác dụng của kích tố đặc biệt là kích tố sinh dục tuyến yên, trứng chín sẽ rụng

Như vậy, buồng trứng có 2 chức năng là sản sinh ra tế bào trứng và tiết

ra hormone sinh dục có ảnh hưởng tới tính biệt, tới chức năng tử cung (đặc

tính thứ cấp của con cái)

- Ống dẫn trứng (Oviductus): Ống dẫn trứng dài 15-20cm, uốn khúc

nằm ở cạnh trước dây chằng rộng Ống dẫn trứng bắt đầu ở bên cạnh buồng trứng đến đầu tử cung và được chia làm 2 phần: Phần trước tự do có hình phễu loe ra gọi là loa vòi (loa kèn) có tác dụng hứng tế bào trứng chín rụng, phần sau thon nhỏ có đường kính dài 0,2-0,3cm nối với sừng tử cung

Trang 35

Cấu tạo ống dẫn trứng xếp từ ngoài vào trong gồm có: Màng tương mạc đến từ dây chằng rộng, lớp cơ (2 lớp: Cơ vòng ở trong, cơ dọc ở ngoài), lớp niêm mạc trong cùng có nhiều gấp nếp chạy dọc và không có tuyến

- Tử cung (Uterus): Tử cung là nơi cung cấp dinh dưỡng và phát triển

của thai Tử cung nằm trong xoang chậu, dưới trực tràng, trên bóng đái

Tử cung gồm 3 phần: Sừng, thân, cổ tử cung Sừng tử cung dài ngoằn ngoèo như ruột non, dài 30-50cm, có dây chằng rộng rất dài nên khi thiến có thể kéo sừng tử cung ra ngoài được Thân tử cung ngắn, niêm mạc thân và sừng tử cung là những gấp nếp nhăn nheo theo chiều dọc Thai làm tổ ở sừng

tử cung Cổ tử cung không có gấp nếp hoa nở mà là những cột thịt xen kẽ cài răng lược với nhau

Cấu tạo tử cung xếp từ ngoài vào trong có: Tương mạc được nối với dây chằng rộng, lớp cơ rất phát triển (dày, khỏe, có cấu tạo phức tạp phù hợp với chức năng chứa thai phát triển và đẩy thai khi đẻ Cơ dọc ở ngoài, cơ vòng

ở trong và phát triển mạnh ở cổ tử cung tạo thành cơ thắt), lớp niêm mạc

trong cùng màu hồng nhạt có nhiều gấp nếp với nhiều tuyến tiết chất nhờn

- Âm đạo (Vagina): Âm đạo là đoạn nối tiếp sau cổ tử cung, trước âm

hộ Đây là nơi tiếp nhận dương vật khi giao phối, phía trên là trực tràng, phía dưới là bóng đái, nó được ngăn cách với âm hộ bởi màng trinh

Cấu tạo: Lớp ngoài là tương mạc phủ phần trước âm đạo Lớp giữa là lớp cơ trơn xếp theo các chiều khác nhau dính lẫn lộn với tổ chức liên kết bọc ngoài Lớp niêm mạc có nhiều gấp nếp nhăn nheo theo chiều dọc, trong

đó có nhiều chất nhờn Âm đạo có khả năng co giãn rất lớn và là đường đi

ra của thai

- Âm hộ (Vulva): Đây là đoạn sau cùng của bộ máy sinh dục cái, sau

âm đạo và ngăn cách âm đạo bởi màng trinh Âm hộ nằm dưới hậu môn và

được thông ra ngoài bởi một khe thẳng đứng gọi là âm môn Trong âm hộ còn

Ngày đăng: 01/09/2020, 12:00

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1: Diện tích và sản lượng một số cây trồng chính - Tình hình mắc bệnh viêm đường sinh dục và thử nghiệm một số phác đồ điều trị bệnh trên đàn lợn nái ngoại nuôi tại công ty CP Bình Minh, huyện Mỹ Đức, Hà Nội.
Bảng 1.1 Diện tích và sản lượng một số cây trồng chính (Trang 12)
Bảng 1.2: Số lượng gia súc, gia cầm của xã năm 2011 - 2013 - Tình hình mắc bệnh viêm đường sinh dục và thử nghiệm một số phác đồ điều trị bệnh trên đàn lợn nái ngoại nuôi tại công ty CP Bình Minh, huyện Mỹ Đức, Hà Nội.
Bảng 1.2 Số lượng gia súc, gia cầm của xã năm 2011 - 2013 (Trang 13)
Bảng 1.4: Lịch phòng bệnh của trại lợn nái - Tình hình mắc bệnh viêm đường sinh dục và thử nghiệm một số phác đồ điều trị bệnh trên đàn lợn nái ngoại nuôi tại công ty CP Bình Minh, huyện Mỹ Đức, Hà Nội.
Bảng 1.4 Lịch phòng bệnh của trại lợn nái (Trang 25)
Bảng 1.5: Kết quả công tác phục vụ sản xuất - Tình hình mắc bệnh viêm đường sinh dục và thử nghiệm một số phác đồ điều trị bệnh trên đàn lợn nái ngoại nuôi tại công ty CP Bình Minh, huyện Mỹ Đức, Hà Nội.
Bảng 1.5 Kết quả công tác phục vụ sản xuất (Trang 30)
Bảng 2.1: Một số tiêu chí phân biệt các thể viêm tử cung - Tình hình mắc bệnh viêm đường sinh dục và thử nghiệm một số phác đồ điều trị bệnh trên đàn lợn nái ngoại nuôi tại công ty CP Bình Minh, huyện Mỹ Đức, Hà Nội.
Bảng 2.1 Một số tiêu chí phân biệt các thể viêm tử cung (Trang 43)
Sơ đồ thí nghiệm: Thí nghiệm được bố trí thành 2 lô với 2 phác đồ điều  trị khác nhau - Tình hình mắc bệnh viêm đường sinh dục và thử nghiệm một số phác đồ điều trị bệnh trên đàn lợn nái ngoại nuôi tại công ty CP Bình Minh, huyện Mỹ Đức, Hà Nội.
Sơ đồ th í nghiệm: Thí nghiệm được bố trí thành 2 lô với 2 phác đồ điều trị khác nhau (Trang 53)
Bảng 2.5: Tỷ lệ lợn nái mắc bệnh viêm đường sinh dục theo tháng điều tra - Tình hình mắc bệnh viêm đường sinh dục và thử nghiệm một số phác đồ điều trị bệnh trên đàn lợn nái ngoại nuôi tại công ty CP Bình Minh, huyện Mỹ Đức, Hà Nội.
Bảng 2.5 Tỷ lệ lợn nái mắc bệnh viêm đường sinh dục theo tháng điều tra (Trang 58)
Bảng 2.6: Mức độ viêm tử cung của lợn nái theo lứa đẻ - Tình hình mắc bệnh viêm đường sinh dục và thử nghiệm một số phác đồ điều trị bệnh trên đàn lợn nái ngoại nuôi tại công ty CP Bình Minh, huyện Mỹ Đức, Hà Nội.
Bảng 2.6 Mức độ viêm tử cung của lợn nái theo lứa đẻ (Trang 60)
Bảng 2.7: Hiệu quả điều trị bệnh viêm tử cung ở lợn nái sinh sản - Tình hình mắc bệnh viêm đường sinh dục và thử nghiệm một số phác đồ điều trị bệnh trên đàn lợn nái ngoại nuôi tại công ty CP Bình Minh, huyện Mỹ Đức, Hà Nội.
Bảng 2.7 Hiệu quả điều trị bệnh viêm tử cung ở lợn nái sinh sản (Trang 61)
Hình 3. Một số loại kháng sinh điều trị bệnh viêm đường sinh dục - Tình hình mắc bệnh viêm đường sinh dục và thử nghiệm một số phác đồ điều trị bệnh trên đàn lợn nái ngoại nuôi tại công ty CP Bình Minh, huyện Mỹ Đức, Hà Nội.
Hình 3. Một số loại kháng sinh điều trị bệnh viêm đường sinh dục (Trang 69)
Hình 1. Lợn nái sinh sản mắc bệnh viêm vú - Tình hình mắc bệnh viêm đường sinh dục và thử nghiệm một số phác đồ điều trị bệnh trên đàn lợn nái ngoại nuôi tại công ty CP Bình Minh, huyện Mỹ Đức, Hà Nội.
Hình 1. Lợn nái sinh sản mắc bệnh viêm vú (Trang 69)
Hình 2. Lợn nái sinh sản mắc bệnh viêm tử cung - Tình hình mắc bệnh viêm đường sinh dục và thử nghiệm một số phác đồ điều trị bệnh trên đàn lợn nái ngoại nuôi tại công ty CP Bình Minh, huyện Mỹ Đức, Hà Nội.
Hình 2. Lợn nái sinh sản mắc bệnh viêm tử cung (Trang 69)
Hình 5. Vắt sữa lợn bị viêm vú - Tình hình mắc bệnh viêm đường sinh dục và thử nghiệm một số phác đồ điều trị bệnh trên đàn lợn nái ngoại nuôi tại công ty CP Bình Minh, huyện Mỹ Đức, Hà Nội.
Hình 5. Vắt sữa lợn bị viêm vú (Trang 70)
Hình 4. Thụt rửa tử cung lợn nái bị viêm tử cung - Tình hình mắc bệnh viêm đường sinh dục và thử nghiệm một số phác đồ điều trị bệnh trên đàn lợn nái ngoại nuôi tại công ty CP Bình Minh, huyện Mỹ Đức, Hà Nội.
Hình 4. Thụt rửa tử cung lợn nái bị viêm tử cung (Trang 70)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w