1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Sử dụng di sản văn hóa phi vật thể tại địa phương trong dạy học lịch sử việt nam từ thế kỉ x đến đầu thế kỉ XIX (lớp 10 THPT chương trình chuẩn) ở hà tĩnh

163 1,1K 10

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 163
Dung lượng 1,69 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cho nên, nếu sử dụng tốt di sản văn hoá phi vật thể vào dạy học lịch sử ở trường phổ thông sẽ giúp cho học sinh hiểu sâu sắc về lịch sử, những giá trịvăn hoá của dân tộc, góp phần giáo d

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

TRẦN THỊ GIANG

LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC

NGHỆ AN - 2014

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

TRẦN THỊ GIANG

CHUYÊN NGÀNH: LL&PP DẠY HỌC BỘ MÔN LỊCH SỬ

MÃ SỐ: 60.14.01.11

LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC

Người hướng dẫn khoa học:

GS TS NGUYỄN THỊ CÔI

NGHỆ AN - 2014

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin chân thành cảm ơn đến các thầy cô giáo Khoa lịch sử, Khoađào tạo sau đại học, Trường Đại học Vinh đã tạo điều kiện cho tôi trong suốtquá trình học tập và nghiên cứu

Xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong tổ bộ môn phương phápkhoa lịch sử trường Đại học Vinh, Đại học sư phạm Hà Nội, bạn bè, đồngnghiệp và gia đình… những người đã giúp đỡ, tạo điều kiện cho tôi trong quátrình nghiên cứu đề tài

Đặc biệt với tình cảm chân thành và lòng kính trọng, tôi xin bày tỏ lòng

cảm ơn sâu sắc tới GS TS Nguyễn Thị Côi - người đã trực tiếp, tận tình

giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này

Dù rất cố gắng, song luận văn không tránh khỏi những thiếu sót, kínhtrọng quý thầy cô, đồng nghiệp vui lòng góp ý, chỉ dẫn để đề tài được hoànthiện hơn

Xin chân thành cảm ơn!

Trang 4

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

CNXH: Chủ nghĩa xã hộiGV: Giáo viên

HS: Học sinhNXB: Nhà xuất bảnSGK: Sách giáo khoaTHCS: Trung học cơ sởTHPT: Trung học phổ thông

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 8

5 Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 9

6 Giả thuyết khoa học 10

7 Đóng góp của luận văn 10

8 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn 10

9 Cấu trúc luận văn 10

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC SỬ DỤNG DI SẢN VĂN HOÁ PHI VẬT THỂ TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG THPT 11

1.1 Cơ sở lý luận 11

1.1.1 Quan niệm 11

1.1.2 Xuất phát điểm của vấn đề 16

1.1.3 Vai trò và ý nghĩa của việc sử dụng di sản văn hóa phi vật thể ở địa phương trong dạy học lịch sử Việt Nam ở trường trung học phổ thông 27

1.2 Thực tiễn việc sử dụng di sản văn hóa phi vật thể tại địa phương trong dạy học lịch sử Việt Nam lớp 10 THPT (chương trình chuẩn) ở Hà Tĩnh 33

1.2.1 Đối với giáo viên 34

1.2.2 Đối với học sinh 36

1.2.3 Một số ý kiến nhận xét 39

Trang 6

1.3 Những yêu cầu khi sử dụng di sản văn hóa phi vật thể tại địa

phương trong dạy học lịch sử dân tộc 41

1.3.1 Đảm bảo mục tiêu dạy học bộ môn 41

1.3.2 Đảm bảo tính tư tưởng, khoa học 41

1.3.3 Đảm bảm tính sư phạm 43

CHƯƠNG 2 HÌNH THỨC VÀ BIỆN PHÁP SỬ DỤNG DI SẢN VĂN HOÁ PHI VẬT THỂ TẠI ĐỊA PHƯƠNG TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ VIỆT NAM TỪ THẾ KỈ X ĐẾN NỬA ĐẦU THẾ KỈ XIX LỚP 10 THPT TỈNH HÀ TĨNH (CHƯƠNG TRÌNH CHUẨN) 44

2.1 Ví trí, mục tiêu, nội dung cơ bản của lịch sử Việt Nam từ thế kỉ X đến nửa đầu thế kỉ XIX trong khoá trình lịch sử Việt Nam lớp 10 THPT .44

2.1.1 Vị trí 44

2.1.2 Mục tiêu 45

2.1.3 Nội dung kiến thức cơ bản của lịch sử Việt Nam từ thế kỉ X đến nửa đầu thế kỉ XIX lớp 10 THPT (chương trình chuẩn) 47

2.2 Các di sản văn hoá phi vật thể ở địa phương cần khai thác, sử dụng trong dạy học lịch sử Việt Nam từ thế kỉ X đến nửa đầu thế kỉ XIX lớp 10 THPT (chương trình chuẩn) tỉnh Hà Tĩnh 50

2.2.1 Khái quát các loại di sản văn hóa phi vật thể ở Hà Tĩnh 50

2.2.3 Nội dung các di sản văn hoá phi vật thể ở địa phương cần khai thác, sử dụng trong dạy học lịch sử Việt Nam từ thế kỉ X đến nửa đầu thế kỉ XIX lớp 10 THPT ở Hà Tĩnh (chương trình chuẩn) 58

2.3 Yêu cầu khi lựa chọn biện pháp sử dụng 58

Trang 7

2.3.1 Lựa chọn biện pháp sử dụng phải căn cứ vào mục tiêu

bài học 58

2.3.2 Biện pháp sử dụng phải giúp học sinh lĩnh hội được kiến thức cơ bản của bài học 59

2.3.3 Biện pháp sử dụng phải đảm bảo tính vừa sức 61

2.3 4 Lựa chọn biện pháp sử dụng phải kết hợp linh hoạt, sáng tạo với các phương pháp dạy học khác 62

2.3.5 Lựa chọn biện pháp phải phát huy tính tích cực, chủ động trong nhận thức của học sinh 63

2.4 Một số hình thức, biện pháp sử dụng di sản văn hoá phi vật thể tại địa phương trong dạy học lịch sử Việt Nam từ thế kỉ X đến nửa đầu thế kỉ XIX lớp 10 THPT (chương trình chuẩn) tỉnh Hà Tĩnh 64

2.4.1 Khai thác, sử dụng tài liệu về di sản văn hóa phi vật thể tại địa phương để dạy học bài lịch sử trên lớp 64

2.4.2 Tổ chức các hoạt động ngoại khóa 72

2.5 Thực nghiệm sư phạm 83

2.5.1 Mục đích thực nghiệm 83

2.5.2 Đối tượng, địa bàn thực nghiệm 84

2.5.3 Nội dung và phương pháp thực nghiệm 84

2.5.4 Kết quả thực nghiệm 85

2.5.5 Những kết luận được rút ra từ kết quả thực nghiệm sư phạm 88

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 89

TÀI LIỆU THAM KHẢO 92 PHỤ LỤC

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước hiện nay, con ngườiđược coi là yếu tố cơ bản Để phát triển nguồn lực đáp ứng yêu cầu côngnghiệp hoá, hiện đại hoá cần đặc biệt chú ý đến phát triển giáo dục Mục tiêucủa giáo dục nói chung là “Đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện,

có đạo đức, trí thức, sức khỏe, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lýtưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhâncách, phẩm chất năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xâydựng và bảo vệ tổ quốc [17; 13] Nhận thức được tầm quan trọng, Đảng vàNhà nước ta luôn quan tâm, coi trọng giáo dục “Giáo dục là quốc sách hàngđầu”

Lịch sử là một trong những môn học cơ bản trong chương trình giáo dụcphổ thông Trong điều kiện thế giới, khu vực và đất nước hiện nay, Lịch sửtrước hết là lịch sử dân tộc càng giữ vai trò quan trọng trong việc trang bị kiếnthức, bồi dưỡng lòng yêu quê hương xứ sở, chủ nghĩa yêu nước, góp phầnhoàn thiện nhân cách, bản lĩnh con người Việt Nam

Bộ môn lịch sử nói chung, kiến thức lịch sử nói riêng có vị trí quan trọngnhư vậy, nhưng thực trạng dạy học lịch sử ở trường phổ thông hiện nay, chưađáp ứng được yêu cầu đặt ra Đa số học sinh không thích học môn lịch sử,không am hiểu về văn hoá dân tộc.Có nhiều nguyên nhân, trong đó cóphương pháp dạy học của người thầy Vậy vấn đề đặt ra là tìm giải pháp khắcphục tình trạng trên Để nâng cao chất lượng dạy học lịch sử, thì việc đối mớinội dung và phương pháp dạy học bộ môn lịch sử mang tính cấp bách Trong

đó việc sử dụng di sản văn hoá trong dạy học có ý nghĩa quan trọng

Di sản văn hoá phi vật thể là tài sản quý giá của dân tộc Việt Nam, là một

bộ phận di sản văn hoá nhân loại có vai trò to lớn trong việc giáo dục thế hệtrẻ Trong lịch sử mấy ngàn năm của dân tộc ta cùng với quá trình đấu tranh

Trang 9

chống giặc ngoại xâm và bảo vệ Tổ quốc, người Việt Nam đã xây dựng nênmột nền văn hoá đậm đà bản sắc dân tộc với nhiều di sản văn hoá phi vật thể

có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học, bao gồm các tác phẩm văn học nổi tiếng(Nam quốc sơn hà, Hịch tướng sĩ, Bình Ngô đại cáo, Truyện Kiều v.v…),kho tàng ca dao, tục ngữ, hò, vè…, làn điệu dân ca phong phú (dân ca quan

họ Bắc Ninh, dân ca Nghệ Tĩnh v.v…), nghệ thuật sân khấu (tuồng, chèo, catrù v.v…), các lễ hội truyền thống (lễ hội giỗ tổ Hùng Vương v.v…) Những

di sản văn hoá phi vật thể đó được lưu giữ dưới nhiều hình thức khác nhau trởthành hạt nhân tinh thần cho sức mạnh trong công cuộc dựng nước và giữnước Cho nên, nếu sử dụng tốt di sản văn hoá phi vật thể vào dạy học lịch sử

ở trường phổ thông sẽ giúp cho học sinh hiểu sâu sắc về lịch sử, những giá trịvăn hoá của dân tộc, góp phần giáo dục toàn diện học sinh về đức, trí, thể,

mỹ, kích thích hứng thú, giúp học sinh phát triển kĩ năng học tập, tự chiếmlĩnh tri thức

Hà Tĩnh là mảnh đất không chỉ nổi tiếng về truyền thống đấu tranh kiêncường bất khuất, nơi sản sinh ra những người con ưu tú cho dân tộc Việt Namnhư Trần Phú, Hà Huy Tập, nhiều nhà thơ như Nguyễn Du, Nguyễn CôngTrứ, Xuân Diệu, Huy Cận … Mà chính trên mảnh đất này đã sản sinh ra nhiều

di sản văn hoá phi vật thể cho dân tộc như ca trù Cổ Đạm, hát ví, hát giặmNghệ Tĩnh, Truyện Kiều của Nguyễn Du, các làng nghề thủ công truyềnthống như nghề rèn ở làng Trung Lương, làng gốm Cẩm Trang, tri thức y,dược của Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác, các lễ hội truyền thống cùng vớikho tàng ca dao, hò vè, tục ngữ dân gian phong phú Việc sử dụng những disản văn hoá phi vật thể ở Hà Tĩnh trên vào dạy học lịch sử Việt Nam ở trườngTHPT có ý nghĩa vô cùng quan trọng sẽ góp phần thực hiện mục tiêu giáo dụccủa Đảng Bên cạnh đó góp phần quan trọng vào công tác giữ gìn, bảo tồn,tôn tạo những di sản của dân tộc và địa phương

Trang 10

Xuất phát từ những lí do trên, chúng tôi chọn vấn đề “Sử dụng di sản vănhoá phi vật thể tại địa phương trong dạy học lịch sử Việt Nam từ thế kỉ X đếnnửa đầu thế kỉ XIX (Lớp 10 - THPT - Chương trình chuẩn) ở tỉnh Hà Tĩnh.”Làm đề tài nghiên cứu

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Trong quá trình thu thập và tiếp cận các tài liệu nghiên cứu về sử dụng disản văn hoá phi vật thể trong dạy học lịch sử, chúng tôi chia làm hai loại: Tàiliệu nghiên cứu về di sản văn hoá phi thể ở Hà Tĩnh và tài liệu tâm lí giáo dụcgiáo dục lịch sử về sử dụng tài liệu học tập lịch sử nói chung, sử dụng di sảnvăn hoá phi vật thể trong dạy học lịch sử nói riêng

2.1 Tài liệu nghiên cứu về di sản văn hoá phi vật thể ở Hà Tĩnh

Từ trước tới nay có rất nhiều công trình nghiên cứu về các di sản văn hoá

ở Hà Tĩnh trong đó chúng ta cần phải tiếp cận các công trình sau:

“Kho tàng ca dao xứ Nghệ” (1996), Nguyễn Đổng Chi (chủ biên), (NXBNghệ An) [11] Trong tác phẩm này tác giả đã sưu tầm một cách toàn diện và

có hệ thống về kho tàng ca dao, hò, vè ở hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh

“Kho tàng truyện kể dân gian xứ Nghệ” (1993), Ninh Viết Giao (chủbiên) [21], là bộ sách sưu tầm có quy mô và hệ thống đầu tiên về truyện kểdân gian xứ Nghệ, (NXB Nghệ An)

Nghiên cứu về dân ca ví, giặm phải đề cập đến hai công trình đó là: “Hát

ví Nghệ Tĩnh” (1958), NguyễnVăn Chung, NXB Ban văn sử địa và “Hát giặmNghệ Tĩnh” (1962 - 1963) gồm 2 tập, Nguyễn Văn Chung - Ninh Viết Giao sưutầm biên soạn, tập 1, (NXB Khoa học, Hà Nội), tập 2, (NXB Sử học, Hà Nội)

Lễ hội là một trong những di sản văn hoá phi vật thể tiêu biểu ở Hà Tĩnh,nghiên cứu về lễ hội có nhiều công trình trong đó nghiên cứu một cách toàndiện nhất phải kể đến tác phẩm: “Lễ hội dân gian ở Hà Tĩnh” (2005) của TháiKim Định, (NXB Sở văn hoá thông tin Hà Tĩnh) [16], “Làng cổ Hà Tĩnh”,(1995 - 1996), Ninh Viết Giao (chủ biên), (NXB Sở văn hóa thông tin Hà

Trang 11

Tĩnh) [20] Ở đây các tác giả nghiên cứu về nguồn gốc và ý nghĩa của các lễhội ở Hà Tĩnh và ngoài ra còn có “Hội làng” (2006) của Nguyễn Tuyết Mâyđăng trên tạp chí văn hoá Hà Tĩnh

“Nguyễn Du về tác giả và tác phẩm” (2002) NXB Giáo dục và “249 bàithơ chữ hán Nguyễn Du” (2003) Dung Dịch biên soạn - dịch thơ, (NXB Vănhoá dân tộc)… Là các công trình nghiên cứu về tác phẩm Truyện Kiều và cácbài thơ chữ Hán của đại thi hào Nguyễn Du Ngoài ra, còn có các công trìnhnghiên cứu về thơ, văn chữ Hán, chữ Nôm như: “Thơ văn nhà nho xứ Nghệ”,(1995) của Ninh Viết Giao (chủ biên), NXB Sở văn hóa thông tin Hà Tĩnh[21] và “Tác giả Hán - Nôm” Nghệ Tĩnh (1996), Ninh Viết Giao (chủ biên),NXB Sở văn hóa thông tin Hà Tĩnh [22]

Tất cả các công trình nghiên cứu trên trở thành nguồn tài liệu tham khảoquan trọng và không thể thiếu để chúng tôi nghiên cứu đề tài này

2.2 Tài liệu tâm lí giáo dục, giáo dục lịch sử về sử dụng tài liệu học tập nói chung, sử dụng di sản văn hoá phi vật thể trong dạy học lịch sử nói riêng.

2.2.1 Tài liệu nước ngoài

Để nghiên cứu đề tài này chúng tôi đã tiếp cận các công ước quốc tế, cáccông trình nghiên cứu sau:

Trong “Công ước về bảo vệ di sản tự nhiên và di sản văn hóa” (1972),

“Công ước bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể”, Pari, 17/10/2003, di sản vănhóa “được chuyển giao từ thế hệ này sang thế hệ khác, di sản văn hóa phi vậtthể được các cộng đồng và các nhóm người không ngừng tái tạo để thích nghivới môi trường và mối quan hệ qua lại giữa cộng đồng với tự nhiên và lịch sử

xã hội, đồng thời hình thành trong họ một ý thức về bản sắc và sự kế tục, qua

đó khích lệ thêm sự tôn trọng đối với sự đa dạng văn hóa và tính sáng tạo củacon người”

Tại hội nghị Quốc tế các khoa học lịch sử lần thứ XVII ở Madrit (TâyBan Nha), từ ngày 26/8 đến ngày 2/9/1990 có báo cáo về vấn đề “Các nhà sử

Trang 12

học và việc gìn giữ các di sản văn hóa của nhân loại” Hội nghị đã khẳng định

“Di tích lịch sử - văn hóa là những di sản văn hóa quý hiếm của nhân loại, cầnđược bảo vệ và sử dụng đúng đắn Di tích lịch sử đã và đang trải qua nhữnghiểm họa đó là thời gian ngày càng lùi xa, thiên nhiên khắc nghiệt và cả sự vô

ý thức của con người” [24;5]

Trong cuốn “Phát triển tư duy HS” (1976), (NXB Giáo dục, Hà Nội) củaM.Aleexép, [1] và “Tư duy HS” (NXB Giáo dục, Hà Nội) của M.N.Sácđacốp(1970), [53] đã khẳng định: cơ sở tâm lí của nhận thức trực quan sinh độngtrong học tập lịch sử khi tạo biểu tượng trong sáng và muôn màu, muôn vẻ về

sự vật và hiện tượng đang học có thể thực hiện nhiệm vụ này bằng cách tổ chứccho học sinh tri giác các di tích lịch sử và các di sản văn hoá Chúng tôi coi đây

là tài liệu tham khảo bổ ích cho việc dạy học lịch sử nói chung và việc xác địnhnhững nguyên tắc, phương pháp, hình thức học tập tại nơi có di sản văn hoá.Bên cạnh đó còn có các công trình nghiên cứu của các nhà giáo dục và giáodục lịch sử đã nhấn mạnh đến vai trò của các tác phẩm văn học và các lễ hộitruyền thống NG Đairi (1973), Chuẩn bị giờ học như thế nào, (NXB Giáo dục,

Hà Nội) khẳng định rằng “ Tác phẩm văn học đóng vai trò to lớn trong việc phảnánh đời sống xã hội Không một quyển sách giao khoa nào, không một bài trìnhbày nào của giáo viên có khả năng cung cấp cho học sinh cái điều mà các em thunhận được khi đọc các cuốn tiểu thuyết về những biến cố lịch sử quan trọng [13;88] và I.I Lecne (1977), Dạy học nêu vấn đề (NXB Giáo dục) cho rằng lễ hội

“là hình thức sinh hoạt văn hóa dân gian độc đáo, đậm đà truyền thống lịch sử văn hóa và mang bản sắc văn hóa dân tộc” [29; 37]

-2.2.2 Tài liệu trong nước

Trong các di sản văn hoá phi vật thể sử dụng trong dạy học lịch sử thìthơ, văn, văn học dân gian và lễ hội được đề cập nhiều hơn cả:

Các nhà nghiên cứu lí luận dạy học lịch sử ở Việt Nam với các công

“Phương pháp dạy học lịch sử” (1992), (tái bản có sửa chữa bổ sung 1998,

1999, 2000, 2001), của Phan Ngọc Liên - Trần Văn Trị (chủ biên) [41] và

Trang 13

“Phương pháp dạy học lịch sử”, (2002), tập 2, (tái bản có sửa chữa, bổ sung

2009, 2010) của Phan Ngọc Liên (chủ biên) [ 36] đều nhấn mạnh đến vai trò, ýnghĩa của việc sử dụng tác phẩm văn học, ngữ văn truyền miệng (văn học dângian) trong dạy học lịch sử dân tộc, và đưa ra một số biện pháp và các cách sửdụng tài liệu văn học

Tác giả Nguyễn Thị Côi trong cuốn “Các con đường biện pháp nângcao hiệu quả dạy học lịch sử ở trường phổ thông”, NXB Đại học sư phạm,

2006 [9], đã hướng dẫn thực hiện một hoạt động tham quan học tập với cụm

di tích Chùa Dâu (Thuận Thành - Bắc Ninh) Qua đó tác giả đã đưa ra một sốhình thức, biện pháp tổ chức học tập cho học sinh tại di sản văn hóa tiêu biểu

là di sản văn hóa Chùa Dâu (Bắc Ninh)

Quyển “Bảo tàng, di tích, lễ hội”, (1992), (NXB Văn hóa thông tin HàNội) của Phan Khanh [32] tác giả có nhấn mạnh ý nghĩa giáo dục truyềnthống dân tộc cho học sinh, sinh viên về di tích lịch sử thông qua việc cho họcsinh tham dự các lễ hội truyền thống

Nguyễn Quang Lê, Trần Viết Thụ “ Về tổ chức dạ hội, tham quan và dự

lễ hội truyền thống trong dạy học lịch sử”, tạp chí Giáo dục tháng 6/1994[44] Các tác giả đã đưa ra các hình thức dạy học lịch sử như tổ chức dạ hội,tham quan và cả dự lễ hội truyền thống Đây cũng là tài liệu quan trọng đểgiúp chúng tôi xác định một số hình thức dạy học di sản văn hoá phi vật thểtrong dạy học lịch sử

Luận án Tiến sĩ giáo dục của Hoàng Thanh Hải viết về “Sử dụng di tíchtrong dạy học lịch sử dân tộc ở trường THCS” [24], tác giả Lê Thị Hài viết về

“Sử dụng di tích lịch sử địa phương trong dạy học lịch sử Việt Nam ở trườngtrung học phổ thông tỉnh Hưng Yên”, luận văn thạc sĩ, 2010, Đại học Sư phạm

Hà Nội [25], đã đề cập đến cơ sở lí luận và những hình thức, biện pháp trongviệc sử dụng di tích ở trường THCS và THPT ở Thanh Hóa và Hưng Yên Ngoài

ra còn có “ Tổ chức hưỡng dẫn HS phổ thông tham gia lễ hội xuân tại các di tíchlịch sử văn hóa” (Tạp chí Nghiên cứu giáo dục số 5 năm 1997), giáo dục ý thức

Trang 14

tôn trọng, bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa cho HS qua môn lịch sử”,(Tạp chí Nghiên cứu giáo dục số 308 năm 2012) Tuy nhiên các công trìnhnghiên cứu trên chỉ đề cập đến hình thức và biện pháp sử dụng di tích lịch sử -văn hóa Ngoài ra còn có “Hướng dẫn cách tổ chức thăm một làng nghề ở địaphương” của Nguyễn Văn Hằng trong giáo trình Lịch sử địa phương, NXB Đạihọc sư phạm Trong đó tác giả đã gợi ý một số cách thức tổ chức thăm quan tạimột làng nghề truyền thống ở địa phương

Đặc biệt, được sự hỗ trợ của UNESSCO, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã biênsoạn cuốn tài liệu “Sử dụng di sản trong dạy học ở trường phổ thông” [5] Tàiliệu đã đề cập đến khái niệm di sản văn hóa, đặc điểm, phân loại di sản, ýnghĩa của di sản với hoạt động dạy học, giáo dục phổ thông, một số nội dungpháp luật di sản, các hình thức tổ chức dạy học và phương pháp sử dụng disản trong dạy học, quản lí sử dụng di sản trong dạy học…và một số ví dụminh họa là thiết kế các bài học sử dụng di sản trong dạy học theo cấp THCS

và THPT của các môn học trong đó có môn lịch sử Đây là nguồn tài liệutham khảo quan trọng của giáo viên các trường phổ thông hiện nay khi sửdụng di sản trong dạy học

Như vậy nhìn chung cho tới nay chưa có một công trình nào mà nghiêncứu một cách chi tiết, toàn diện và có hệ thống về sử dụng di sản văn hoá phivật thể trong trong dạy học lich sử Kế thừa những thành quả của các côngtrình nghiên cứu trên, sử dụng những tài liệu thu thập được chúng tôi cố gắngkhai thác tìm hiểu những kết quả xác đáng, đảm bảo khoa học đưa ra hìnhthức, biện pháp phù hợp với tên đề tài để dạy học đạt kết quả cao nhất

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là quá trình dạy học lịch sử Việt Nam

từ thế kỉ X đến nửa đầu thế kỉ XIX và các biện pháp sử dụng di sản văn hoáphi vật thể ở địa phương trong dạy học giai đoạn lịch sử này

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Trang 15

Luận văn không đi sâu nghiên cứu tất cả các di sản văn hoá phi vật thể ở

Hà Tĩnh mà lựa chọn những di sản văn hoá phi vật thể tiêu biểu, phù hợptrong dạy học lịch sử Việt Nam từ thế kỉ X đến nửa đầu thế kỉ XIX lớp 10THPT - chương trình chuẩn và đưa ra những hình thức, biện pháp sử dụngchủ yếu trong giờ học nội khoá cũng như hoạt động ngoại khoá nhằm nângcao hiệu quả dạy học bộ môn

Việc điều tra kháo sát thực nghiệm sư phạm được tiến hành ở một sốtrường THPT thuộc địa bàn tỉnh Hà Tĩnh

4.Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

4.2 Nhiệm vụ

- Tìm hiểu các tài liệu tâm lí giáo dục và giáo dục lịch sử viết về sử dụng

di sản văn hóa phi vật thể trong dạy học lịch sử và các tài liệu lịch sử liênquan đến đề tài

- Khai thác nội dung chương trình, sách giáo khoa lịch sử lớp 10 phầnlịch sử Việt Nam từ thế kỉ X đến nửa đầu thế kỉ XIX để lựa chọn những sựkiện lịch sử có liên quan đến các di sản văn hoá phi vật thể trong phạm vi của

đề tài

- Tìm hiểu các di sản văn hoá phi vật thể ở Hà Tĩnh có thể sử dụng đểphục vụ dạy học phần lịch sử Việt Nam thế kỉ X đến nửa đầu thế kỉ XIX lớp

10 -THPT (chương trình chuẩn)

Trang 16

- Đề xuất hình thức, biện pháp sử dụng di sản văn hoá phi vật thể trongdạy học lịch sử Việt Nam lớp 10 từ thế kỉ X đến nửa đầu thế kỉ XIX (chươngtrình chuẩn)

- Thực nghiệm sư phạm để kiểm chứng các biện pháp sư phạm đã đề xuấttrên cơ sở đó rút ra kết luận về tính khả thi của các biện pháp được tiến hành

5 Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở phương pháp luận

Cơ sở phương pháp luận của đề tài: Là lý luận của chủ nghĩa Mác LêNin,

và tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối của Đảng Cộng Sản Việt Nam về giáodục và giáo dục lịch sử

5.2 Phương pháp nghiên cứu:

5.2.1 Nghiên cứu lý thuyết

- Nghiên cứu các tác phẩm của các tác giả kinh điển, của Chủ tịch Hồ ChíMinh, của Đảng về giáo dục

- Đọc, phân tích, tổng hợp các tài liệu giáo dục học, tâm lý học và các tàiliệu về lý luận dạy học bộ môn Lịch sử và các tài liệu khác liên quan đến đề tài

- Nghiên cứu nội dung sách giáo khoa lịch sử lớp 10 ở THPT từ thế kỉ Xđến nửa đầu thế kỉ XIX để xác định kiến thức liên quan đến nội dung các disản văn hoá phi vật thể ở Hà Tĩnh

5.2.2 Nghiên cứu thực tiễn

- Điều tra bằng phiếu đối với giáo viên lịch sử, các em học sinh để tìmhiểu thực trạng sử dụng các di sản văn hoá phi vật thể tại địa phương trongdạy học lịch sử ở trường THPT tỉnh Hà Tĩnh

- Thực nghiệm sư phạm: Soạn bài và tiến hành thực nghiệm sư phạm đểkiểm tra giả thuyết của luận văn và rút ra kết luận khái quát để khẳng địnhtính khả thi của đề tài

Trang 17

6 Giả thuyết khoa học

Hiệu quả dạy học lịch sử dân tộc ở trường THPT sẽ được nâng cao nếu sửdụng các hình thức, biện pháp sử dụng di sản văn hoá tại địa phương trongdạy học lịch dân tộc theo những yêu cầu mà luận văn đưa ra

7 Đóng góp của luận văn

- Khẳng định vai trò, ý nghĩa của việc sử dụng di sản văn hoá phi vật thểtrong dạy học lịch sử Việt Nam nói chung và giai đoạn từ thế kỉ X đến nửađầu thế kỉ XIX nói riêng

- Xác định được hệ thống các di sản văn hoá phi vật thể tại địa phương ở

Hà Tĩnh có thể sử dụng trong dạy học lich sử Việt Nam từ thế kỉ X đến nửađầu thế kỉ XIX (lớp 10 THPT - chương trình chuẩn)

- Đề xuất một số biện pháp sư phạm sử dụng di sản văn hóa phi vật thể ở

Hà Tĩnh trong dạy học lịch sử Việt Nam cho học sinh địa phương

8 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn

8.1 Ý nghĩa khoa học

Góp phần làm phong phú thêm lý luận phương pháp dạy học lịch sử vềviệc sử dụng di sản văn hoá phi vật thể tại địa phương trong dạy học lịch sửdân tộc ở trường phổ thông

8.2 Ý nghĩa thực tiễn

Giúp cho bản thân và đồng nghiệp có thể vận dụng vào thực tiễn dạyhọc lịch sử để nâng cao chất lượng dạy học bộ môn

9 Cấu trúc luận văn

Ngoài Mở đầu, Kết luận, Phụ lục và Tài liệu tham khảo, Luận văn gồm

Trang 18

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC SỬ DỤNG

DI SẢN VĂN HOÁ PHI VẬT THỂ TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ

Ở TRƯỜNG THPT 1.1 Cơ sở lý luận

“Di” có nghĩa là để lại, “Sản” là tài sản Vậy nên di sản là những tài sảncủa con người trong quá khứ để lại cho hậu thế Những tài sản đó gắn với đờisống của con người đương thời Thông qua đó, là phản ánh những hoạt động,đời sống kinh tế, xã hội, văn hóa của con người qua các thời kì lịch sử

Cho đến nay có rất nhiều định nghĩa về văn hóa Văn hóa hiểu theonghĩa chung nhất là bao gồm tất cả những gì không phải từ thiên nhiên màcon người sáng tạo ra Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Vì lẽ sinh tồn cũng nhưmục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ,chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, nhữngcông cụ cho sinh hoạt hằng ngày về ăn, ở và các phương thức sử dụng Toàn

bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa Văn hóa là sự tổng hợpcủa mọi phương thức sinh hoạt cùng với những biểu hiện của nó mà loàingười đã sản sinh nhằm thích ứng những nhu cầu của cuộc sống và đòi hỏicủa sự sinh tồn.” [62;21] Trong khái niệm của chủ tịch Hồ Chí Minh, nét đặctrưng của văn hóa là sự sáng tạo và phát minh, tức là tạo ra những giá trị vậtchất và tinh thần, có ý nghĩa lớn cho khoa học và cho loài người Cố thủ

Trang 19

tướng Phạm Văn Đồng viết: “Nói tới văn hóa là nói tới một lĩnh vực vô cùngphong phú và rộng lớn, bao gồm tất cả những gì không phải do thiên nhiên

mà có liên quan đến con người trong suốt quá trình tồn tại, phát triển, quátrình con người làm nên lịch sử… cốt lõi của sức sống dân tộc là văn hóa vớinghĩa bao quát và cao đẹp nhất của nó, bao gồm cả hệ thống chính trị: tưtưởng và tình cảm, đạo đức với phẩm chất, trí tuệ và tài năng, sự nhạy cảm và

sự tiếp thu cái mới từ bên ngoài, ý thức bảo vệ tài sản và bản lĩnh của cộngđồng dân tộc, sức đề kháng và sức chiến đấu để bảo vệ mình và không ngừnglớn mạnh.” [62; 21-22]

Còn định nghĩa văn hóa của UNESSCO “Văn hóa hôm nay có thể coi lànhững nét riêng biệt tinh thần và vật chất, trí tuệ và xúc cảm quyết định tínhcách của một xã hội hay của một nhóm người trong xã hội Văn hóa bao gồmnghệ thuật và văn chương, những lối sống, những quyền cơ bản của conngười, những hệ thống các giá trị, những tập tục và những tín ngưỡng: Vănhóa đem lại cho con người khả năng suy xét về bản thân Chính văn hóa làmcho chúng ta trở thành những sinh vật đặc biệt nhân bản, có lí tính, có óc phêphán và dấn thân một cách đạo lí Chính nhờ văn hóa mà con người tự thểhiện, tự ý thức được bản thân, tìm tòi không biết mệt những ý nghĩa mới mẻ

và sáng tạo nên những công trình vượt trội lên bản thân” [62; 23 -24] Nhưvậy văn hóa không phải là một lĩnh vực riêng biệt Văn hóa là tổng thể nóichung những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra Định nghĩanày được xem như là tiêu chí để phân biệt cộng đồng này với cộng đồng khácbiểu hiện thông qua những đặc trưng cơ bản của văn hóa

Còn khái niệm di sản văn hóa được nghị quyết Trung ương 5(khóaVIII), năm 1988, về Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắcdân tộc của Đảng ta, trong đó nêu: “Di sản văn hóa là tài sản vô giá, gắn kếtcộng đồng dân tộc, là cốt lõi của bản sắc dân tộc, cơ sở để sáng tạo những giátrị mới và giao lưu văn hóa Hết sức coi trọng bảo tồn, kế thừa, phát huy

Trang 20

những giá trị di sản văn hóa truyền thống (bác học và dân gian), văn hóa cáchmạng, bao gồm cả văn hóa vật thể và phi vật thể” [5; 18].

Luật về di sản văn hoá của Quốc hội nước cộng hoà xã hội chủ nghĩaViệt Nam năm 2001 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) quy định tại khoản 1 điều 1

“di sản văn hoá quy định tại luật này bao gồm di sản văn hoá vật thể và di sảnvăn hoá phi vật thể, là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hoá,khoa học, được lưu tuyền từ thế hệ này qua thế hệ khác ở nước cộng hoà xãhội chủ nghĩa Việt Nam.” [54; 6]

Như vậy, khái niệm về di sản văn hóa Việt Nam được quy định tạikhoản 1 điều 1 của Luật Di sản văn hóa Việt Nam năm 2001 (sửa đổi, bổsung 2009) là cơ sở pháp lí quan trọng cho các hoạt động bảo vệ và phát huy

di sản, tăng cường hiệu lực quản lí của nhà nước, nâng cao trách nhiệm củangười dân tham gia bảo vệ và phát huy di sản văn hóa, góp phần xây dựng và

phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc

- Di sản văn hoá vật thể

Theo Từ điển tiếng việt, vật là “tiếng chỉ chung các thứ Các loại hìnhthể” [58; 890] còn vật thể là “vật có những thuộc tính vật lí nhất định” [57;888] Di sản văn hoá vật thể được quy định tại điều 4 luật Quốc hội nước cộnghoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam 28/2001/QH10 “Di sản văn hoá vật thể là sảnphẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học, bao gồm di tích lịch sử-văn hoá, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia.”[54; 7]

+ Di tích lịch sử - văn hoá là công trình xây dựng, địa điểm và các divật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm đó có giá trị lịch sử,văn hoá, khoa học

+ Danh lam thắng cảnh là cảnh quan thiên nhiên hoặc địa điểm có sựkết hợp giữa cảnh quan thiên nhiên với công trình kiến trúc có giá trị lịch sử,thẩm mỹ khoa học

Trang 21

+ Di vật là hiện vật được lưu truyền lại, có giá trị tiêu biểu về lịch sử,văn hoá, khoa học, có từ một trăm năm tuổi trở lên.

+ Bảo vật quốc gia là hiện vật được lưu truyền lại, có giá trị đặc biệt quýhiếm tiêu biểu của đất nước về lịch sử, văn hoá, khoa học

+ Bản sao di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia là sản phẩm được làm giốngnhư bản gốc về hình dáng, kích thước, chất liệu, màu sắc, trang trí và nhữngđặc điểm khác

- Di sản văn hoá phi vật thể

Theo từ điển tiếng Việt thì “phi” có nghĩa là: “không, chẳng có” [46;142], còn “Vật thể” là “vật có những thuộc tính vật lí nhất định”[58; 888]Còn định nghĩa về Di sản văn hoá phi vật thể được Đại hội đồng tổ chứcGiáo dục, khoa học và văn hoá của liên hợp quốc (UNESCO) thông qua trongphiên thứ 32 tại Pari ngày 29/9 đến ngày 17 tháng 10 năm 2003, điều 2 chỉ rõ:

“Di sản văn hoá phi vật thể được hiểu là các tập quán, các hình thứcthể hiện, biểu đạt, tri thức, kỹ năng và kèm theo đó là những công cụ, đồvật, đồ tạo tác và các không gian văn hoá có liên quan mà các cộng đồng,các nhóm người và trong một số trường hợp là cá nhân, công nhận là mộtphần di sản văn hoá của họ Được chuyển giao từ thế hệ này sang thế hệkhác, di sản văn hoá phi vật thể được cộng đồng và các nhóm người khôngngừng tái tạo để thích nghi với môi trường và mối quan hệ qua lại giữacộng đồng với tự nhiên và lịch sử của họ, đồng thời hình thành trong họmột ý thức về bản sắc và sự kế tục, qua đó khích lệ thêm sự tôn trọng đốivới sự đa dạng văn hoá và tính sáng tạo của con người vì những mục đíchcủa công ước này, chỉ xét đến những di sản văn hoá phi vật thể phù hợp vớicác văn kiện quốc tế về quyền con người, cũng như những yêu cầu về sựtôn trọng lẫn nhau giữa các cộng đồng, các nhóm người và cá nhân, và vấn

đề phát triển bền vững”[5]

Trang 22

Còn ở Việt Nam, khái niệm di sản văn hoá phi vật thể được quy định tại

khoản 1 điều 4 luật của Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam28/2001/QH10 về di sản văn hoá và sau đó được sửa đổi và bổ sung tại kỳhọp thứ 5 của Quốc hội khoá XII như sau:

“Di sản văn hóa phi vật thể là sản phẩm tinh thần gắn với cộng đồnghoặc cá nhân, vật thể và không gian văn hóa liên quan, có giá trị lịch sử, vănhóa, khoa học, thể hiện bản sắc của cộng đồng, không ngừng được tái tạo vàđược lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng truyền miệng, truyềnnghề, trình diễn và các hình thức khác.” [45; 7]

Tóm lại, di sản văn hoá phi vật thể, vật thể là tài sản của đất nước, củadân tộc, là sản phẩm vật chất và tinh thần có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học

Vì vậy, đòi hỏi mỗi công dân Việt Nam phải tự ý thức trách nhiệm bảo vệ, giữgìn và phát huy di sản văn hoá Việt Nam

1.1.1.2 Các loại di sản văn hoá phi vật thể

Luật Di sản văn hoá đã quy định di sản văn hoá phi vật thể của ViệtNam bao gồm:

+ Tiếng nói, chữ viết;

+ Tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học có giá trị lịch sử văn hoákhoa học;

+ Ngữ văn truyền miệng bao gồm thần thoại, tục ngữ, ngạn ngữ, câu đố,ngụ ngôn, ca dao, truyện thơ dân gian, sử thi, trường ca văn tế, lời khấn vàcác hình thức ngữ văn truyền miệng khác;

+ Diễn xướng dân gian bao gồm âm nhạc, múa, sân khấu, trò nhại, giảtrang, diễn thời trang, diễn người đẹp, hát đối, trò chơi và các hình thức diễnxướng dân gian khác;

+ Lối sống, nếp sống thể hiện qua khuôn phép ứng xử- đối nhân- xử thế:luật tục, hương ước, chuẩn mực đạo đức, nghi lễ trong ứng xử với tổ tiên, vớiông bà, cha mẹ, với thiên nhiên, ma chay, cưới xin, lễ đặt tên, hành động vàlời chào- mời và các phong tục, tập quán khác

Trang 23

+ Lễ hội truyền thống bao gồm lễ hội có nội dung đề cao tinh thần yêunước, yêu thiên nhiên, lòng tự hào dân tộc, truyền thống chống ngoại xâm,tôn vinh các vị anh hùng dân tộc, danh nhân văn hoá, ca ngợi tinh thần cần cùlao động sáng tạo của nhân dân, đề cao lòng nhân ái, khát vọng tự do, tinhthần đoàn kết cộng động;

+ Nghề thủ công truyền thống;

+ Tri thức văn hoá dân gian bao gồm tri thức về y, dược cổ truyền, vềvăn hoá ẩm thực, về thiên nhiên và kinh nghiệm sản xuất, về binh pháp, vềkinh nghiệm sáng tác văn nghệ (học thuật), về trang phục truyền thống, vềđất, nước, thời tiết, khí hậu, tài nguyên, về sông, biển, núi, rừng và các trithức dân gian khác

Qua đó, thấy rằng di sản văn hoá phi vật thể rất phong phú, bên cạnhcác di sản văn hoá phi vật thể chung của cả dân tộc thì mỗi địa phương còn

có những di sản mang đặc trưng riêng của địa phương đó Vì vậy, trong dạyhọc lịch sử cho phép giáo viên ở các trường phổ thông khai thác nguồn tưliệu quý giá ở địa phương vào hoạt động dạy học lịch sử dân tộc nói chung,lịch sử địa phương nói riêng, giúp học sinh hiểu sâu sắc và toàn diện vềlịch sử từ đó giúp các em tự ý thức được trách nhiệm bảo vệ, giữ gìn vàphát huy giá trị của các di sản văn hoá của dân tộc và địa phương nơi các

em sinh sống

1.1.2 Xuất phát điểm của vấn đề

1.1.2.1 Mục tiêu giáo dục của bộ môn lịch sử ở trường phổ thông

Mục tiêu giáo dục là điều kiện quyết định phương hướng chọn lựa nộidung cơ bản và phương pháp dạy học thích hợp để đạt kết quả tối ưu

Luật Giáo dục được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa ViệtNam đã nêu “Mục tiêu của giáo dục là đào tạo con người Việt Nam phát triểntoàn diện, có đạo đức, trí tuệ, thể chất, và các kỹ năng cơ bản, phát triển nănglực cá nhân, tính năng động và sáng tạo, hình thành nhân cách và trách nhiệm

Trang 24

công dân, chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học đi lên hoặc đi vào cuộc sống laođộng, tham gia xây dựng và bảo vệ tổ quốc.” [45; 17]

Mục tiêu bộ môn Lịch sử ở trường THPT được xây dựng trên cơ sởmục tiêu giáo dục, mục tiêu cấp học, quan điểm, đường lối của Đảng về sửhọc và giáo dục Mục tiêu môn học cũng căn cứ vào nội dung, đặc trưng củahiện thực lịch sử và nhận thức lịch sử, yêu cầu của tình hình và nhiệm vụ cáchmạng hiện nay

Một cách cụ thể, mục tiêu của môn Lịch sử ở trường phổ thông nhằmgiúp cho học sinh có được những kiến thức cơ bản, cần thiết về lịch sử dântộc và lịch sử thế giới, góp phần hình thành ở học sinh thế giới quan khoa học, giáodục lòng yêu quê hương, đất nước, truyền thống dân tộc, cách mạng, bồi dưỡngnăng lực tư duy, hành động, thái độ ứng xử đúng đắn trong đời sống xã hội

Từ mục tiêu môn học, cần thực hiện những nhiệm vụ cơ bản chung chotrường phổ thông và ở mỗi cấp học Đối với cấp THPT, học sinh phải đạt được:

- Về bồi dưỡng nhận thức, giúp học sinh nắm vững những kiến thức cơbản về lịch sử dân tộc và lịch sử thế giới từ nguồn gốc đến nay, đó là những

sự kiện cơ bản, nhân vật tiêu biểu, niên đại quan trọng, các khái niệm, thuậtngữ, những hiểu biết về quan điểm lý luận sơ giản, những vấn đề phươngpháp nghiên cứu và học tập, phù hợp với yêu cầu và trình độ của học sinh

- Về kỹ năng, tiếp tục phát triển các kỹ năng cần thiết cho học sinhtrong học tập lịch sử đã rèn luyện ở tiểu học, THCS, như có quan điểm lịch

sử khi xem xét sự kiện và nhân vật, làm việc với SGK và các nguồn sử liệu,biết phân tích, so sánh, tổng hợp, khái quát, có năng lực tự học, phát hiện, đềxuất, giải quyết vấn đề, học sinh nâng cao hơn năng lực tư duy và thực hành

- Về thái độ, tình cảm, tư tưởng qua từng bài, các phần, và cả chươngtrình của cấp học, môn lịch sử có tác dụng giáo dục nhiều mặt cho học sinh

Có thể quy vào các mặt chủ yếu sau:

+ Xây dựng niềm tin vững chắc vào lí tưởng cách mạng trên cơ sở nhậnthức đúng sự phát triển khách quan, hợp quy luật của xã hội loài người

Trang 25

+ Giáo dục học sinh truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam trongquá trình dựng nước và giữ nước.

+ Bồi dưỡng những phẩm chất đạo đức của giai cấp công nhân và nhândân lao động

Tóm lại, mục tiêu bộ môn Lịch sử ở trường THPT là cung cấp kiếnthức cơ bản, có hệ thống về lịch sử phát triển hợp quy luật của dân tộc và xãhội loài người, qua đó rèn luyện kỹ năng tư duy và thực hành Trên cở sở đó,giáo dục thái độ, tình cảm đúng với sự kiện, nhân vật lịch sử

Các nhiệm vụ trên được hình thành và củng cố, tạo ra bốn năng lựcchủ yếu nhằm đáp ứng mục tiêu giáo dục và phát triển con người trong thời kìcông nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta Đó là năng lực hành động, năng lựcgiao tiếp ứng xử, năng lực tự khẳng định Đây cũng là những năng lực phùhợp với yêu cầu của sự phát triển kinh tế - xã hội của khu vực toàn cầu hoákhi bước vào thế kỉ XXI

Mục tiêu môn học được thể hiện trong từng bài học cụ thể.Vì vậykhi sử dụng di sản văn hóa nói chung di sản văn hóa phi vật thể nói riêngtrong dạy học giáo viên phải căn cứ vào mục tiêu bài học để lựa chọn cho phùhợp góp phần nâng cao hiệu quả dạy học bộ môn

1.1.2.2 Đặc trưng của kiến thức lịch sử ở trường phổ thông

Lịch sử là quá trình phát triển hợp quy luật của xã hội loại người từ lúccon người và xã hội hình thành đến nay Tất cả những sự kiện và hiện tượnglịch sử được chúng ta nhắc đến đều là những chuyện đã xảy ra, nó mang tínhquá khứ Đây cũng là một khó khăn trong quá trình giảng dạy lịch sử vì phảitrở lại quá khứ xã hội loài người mà nhận thức của học sinh luôn luôn ở thìhiện tại, nên dễ làm sai lịch sử, hiện đại hoá lịch sử Vì vậy, trong dạy học đòihỏi chúng ta phải khôi phục lại bức tranh của quá khứ đúng như nó tồn tại vớinhững nét chung nhất, điển hình nhất Góp phần vào bồi dưỡng và phát triểntrí tưởng tượng của học sinh

Trang 26

Kiến thức lịch sử nhìn chung mang tính không lặp lại về thời gian vàkhông gian, kiến thức lịch sử phản ánh lịch sử xã hội loài người, học sinh chỉđược học một lần duy nhất trong một cấp học, mọi kiến thức ấy lại gắn liềnmột thời gian, một nhân vật, một địa điểm nhất định, và cũng chỉ được họcmột lần, những bài sau không lặp lại nữa điều đó cũng là nguyên nhân họcsinh hay quên lịch sử, bởi vì kiến thức cứ chồng chất lên nhau theo thời gian

mà lại không được củng cố ôn tập, học sinh dễ quên kiến thức là vậy

Vì vậy nhắc nhở chúng ta trong quá trình dạy học phải chú ý đến việccủng cố kiến thức cho học sinh, giúp học sinh nhớ nhanh, nhớ bền vững kiếnthức đã học

Tính cụ thể cũng là đặc điểm nổi bật của kiến thức lịch sử, tính cụ thểnghĩa là nó luôn gắn liền với thời gian, địa điểm, nhân vật, diễn biến, kết quả

cụ thể Nếu tách kiến thức lịch sử ra khỏi các yếu tố ấy thì chúng ta không thểhiện được lịch sử nữa Chính điều này đòi hỏi việc trình bày các sự kiện, hiệntượng lịch sử càng cụ thể, càng sinh động, giàu hình ảnh bao nhiêu càng hấpdẫn bấy nhiêu Như vậy, khi dạy học lịch sử để giúp học sinh cụ thể hóa các

sự kiện lịch sử thì giáo viên sử dụng các phương tiện trực quan trong đó disản văn hóa phi vật thể là phương tiện sống động để cụ thể hóa các kiến thứclịch sử một cách chính xác, sinh động nhất

Kiến thức lịch sử mang tính hệ thống, nghĩa là các kiến thức có mốiquan hệ chặt chẽ với nhau, không tách rời nhau Không có một kiến thức nào

tự nhiên xuất hiện và tự nhiên mất đi nó luôn luôn gắn liền với những kiếnthức trước nó, sau nó và đồng thời với nó Do đó khi sử dụng di sản văn hóaphi vật thể tại địa phương vào dạy học lịch sử sẽ giúp học sinh có được cáinhìn toàn diện, hệ thống về các sự kiện lịch sử với tất cả những đặc trưng vềkinh tế, chínhn trị, văn hóa, xã hội của từng giai đoạn, từng thời kì lịch sử.Kiến thức lịch sử có sự thống nhất giữa “Sử” và “Luận” Hai phần này

có mối quan hệ chặt chẽ với nhau không tách rời nhau, lịch sử diễn ra như thế

Trang 27

nào thì được đánh giá, giải thích như thế đúng nhiệm vụ quan điểm của chủnghĩa Mác - Lênin và Đảng ta Vì vậy, khi sử dụng di sản văn hóa phi vật thểtại địa phương trong dạy học lịch sử thì việc trước tiên là phải cung cấp chohọc sinh các sự kiện lịch sử, lý giải cho các em tái hiện lại bức tranh của quákhứ đồng thời còn phần giải thích, đánh giá các sự kiện hiện tượng ấy phảiđảm bảo nguyên tắc không một sự kiện hiện tượng lịch sử nào mà khôngđược giải thích, đánh giá, ngược lại không được giải thích, đánh giá khikhông xuất phát từ sự kiện, hiện tượng mà các em biết được.

Tóm lại, khi sử dụng di sản văn hóa phi vật thể tại địa phương trong dạyhọc lịch sử, giáo viên cần phải xác căn cứ đặc điểm của kiến thức lịch sử đểtìm ra các phương pháp, con đường phù hợp cho việc dạy học lịch sử ởtrường phổ thông

1.1.2.3 Đặc điểm tâm lí và nhận thức lịch sử của học sinh THPT

1.1.2.3.1 Đặc điểm tâm lý của học sinh THPT

Học sinh THPT ở lứa tuổi từ 16 - 18 tuổi Đây là lứa tuổi mà không cònnhỏ như học sinh trung học cơ sở nhưng cũng chưa phải là người lớn do thời

kì này hệ thần kinh của các em đã có những thay đổi quan trọng về cấu trúcbên trong của não phức tạp, chức năng của não phát triển nên các em có trình

độ hiểu biết hơn hẳn lứa tuổi trung học cơ sở, có khả năng tư duy lý luận, tưduy trừu tượng một cách độc lập sáng tạo, chặt chẽ và nhất quán hơn.Vì vậytrong học tập các em không nên thụ động trong việc tiếp nhận kiến thức cósẵn từ giáo viên Cách học tốt nhất là các em tự tìm tòi, lĩnh hội kiến thứcdưới sự hướng dẫn của giáo viên Chính vì vậy, khi sử dụng di sản văn hóaphi vật thể tại địa phương trong dạy học lịch sử dân tộc là phải phát huy đượctính chủ động, tích cực, sáng tạo trong học tập để giúp các em lĩnh hội kiếnthức và phát triển các năng lực nhân thức một cách tốt nhất

Mặt khác lứa tuổi học sinh THPT có những chuyển biến rõ rệt, các emngày càng trưởng thành hơn, đã và đang hình thành thế giới quan riêng, đã có

Trang 28

được hệ thống tri thức văn hóa phong phú, năng lực trí tuệ phát triển Vì vậycác em đã hình thành hứng thú học tập gắn liền với khuynh hướng nghềnghiệp Bắt đầu từ lớp 10 các em đã có những lựa chọn khối học phù hợp vớinghề nghiệp mà các em thích, không quan tâm đến các môn học khác dẫn đếncác em không có kiến thức cơ bản của các môn học còn lại Để giúp học sinh

có kiến thức toàn diện về các môn học, thì đòi hỏi người giáo viên phải nắmđược đặc điểm này để có những biện pháp sư phạm điều chỉnh động cơ, thái

độ học tập của học sinh sao cho đúng đắn để các em vừa học tốt các môn họclựa chọn cho nghề nghiệp mà vẫn có hiểu biết cần thiết về tất cả các môn họckhác Đồng thời nhà trường phải có trách nhiệm định hướng trong lựa chọnnghề nghiệp phù hợp với năng lực của các em và nhu cầu việc làm của nước

ta hiện nay

Như vậy, khi sử dụng di sản văn hóa phi vật thể tại địa phương trong dạyhọc lịch sử dân tộc, người giáo viên ngoài việc có kiến thức chuyên môn,phương pháp giảng dạy thì còn phải có những hiểu biết về đặc điểm tâm lílứa tuổi của học sinh Từ đó có những biện pháp dạy học phù hợp, để thựchiện mục tiêu bài học, môn học về bồi dưỡng nhận thức, rèn luyện kỹ năng,định hướng thái độ cho học sinh

1.1.2.3.2 Đặc điểm nhận thức lịch sử của học sinh phổ thông

Quá trình nhận thức của học sinh cũng tuân theo quá trình nhận thứcchung của loại người từ “Trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng” và từ

“tư duy trừu tượng đến thực tiễn”

Song trong học tập lịch sử nhận thức lịch sử của học sinh có nét đặc thù

Đó là học sinh không thể trực tiếp quan sát các sự kiện, hiện tượng lịch sử màchủ yếu là nhận thức gián tiếp thông qua quan sát, tri giác các tài liệu, hiệnvật được lưu lại Vì vậy, trong “trực quan sinh động” thì tài liệu đóng vai tròquan trọng nhất đối với quan sát, tri giác của học sinh Thông thường ởtrường phổ thông, “tài liệu” giúp học sinh tri giác sự kiện, hiện tượng lịch sử

Trang 29

là lời giảng của thầy, đồ dùng trực quan và sách giáo khoa, tài liệu tham khảo.Đây là các “tài liệu” có tính chất nền tảng cho tri giác của học sinh Học sinhbuộc phải thực hiện các thao tác đơn giản như nghe, quan sát, tri giác tài liệu

sự kiện lịch sử, để từ đó hình dung lại, tưởng tượng, tái tạo các sự kiện đãdiễn ra trong quá khứ Tiếp đó, để hoàn thành quá trình nhận thức lịch sử, họcsinh phải chuyển sang giai đoạn nhận thức cao hơn, nhận thức lý tính, với cácthao tác của tư duy như so sánh, khái quát, trừu tượng hoá, phân tích, tổnghợp…Các em sẽ tìm ra được những dấu hiệu bản chất của sự vật hiện tượng.Cuối cùng, qua quá trình nhận thức, học sinh phải hiểu được các sự kiện lịch

sử, biết đánh giá, nhìn nhận chung một cách hợp lý

Nhận thức lịch sử không thể bắt đầu bằng cảm giác trực tiếp về sự kiện

mà từ những biểu tượng cụ thể tạo nên trên cơ sở tri giác tài liệu Do đó, trongdạy học lịch sử, biểu tượng lịch sử có vai trò hết sức quan trọng Đó là nhữnghình ảnh về sự kiện, nhân vật lịch sử, điều kiện địa lí được phản ánh trong óchọc sinh với những nét chung nhất, điển hình nhất Đó cũng chính là cơ sở đểhình thành khái niệm lịch sử Biểu tượng lịch sử cụ thể, chính xác, sinh độngbao nhiêu thì học sinh càng có khái niệm đúng, hiểu các sự kiện lịch sử mộtcách sâu sắc, chính xác bấy nhiêu Để học sinh có những biểu tượng cụ thể,sinh động thì cần thiết phải sử dụng đồ dùng trực quan kết hợp với cácphương tiện, phương pháp dạy khác nhau Sử dụng di sản văn hóa phi vật thểđược coi là nguồn tài liệu, phương tiện quan trọng có ý nghĩa lớn với quátrình nhận thức của học sinh, góp phần nâng cao hiệu quả bài học lịch sử

1.1.2.4 Yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học

Đổi mới phương pháp dạy học lịch sử là một yêu cầu cấp thiết, là yếu tốquyết định nâng cao chất lượng dạy học ở trường phổ thông hiện nay Đặcbiệt đối với nước ta, đối mới phương pháp dạy học theo hướng phát huy tínhcực học tập của học sinh là yêu cầu sống còn của công cuộc xây dựng đấtnước trong quá trình hội nhập quốc tế với xu hướng toàn cầu hoá, khu vựchoá đang diễn ra manh mẽ

Trang 30

Về nguyên tắc, có thể xem đổi mới phương pháp dạy học đã được bắtđầu từ Đại hội VI của Đảng Cộng Sản Việt Nam, khi yêu cầu đổi mới giáodục, trước hết là đổi mới tư duy giáo dục được đặt ra Tuy nhiên đổi mớiphương pháp dạy học thực sự trở thành một hoạt động rộng khắp trong toànnghành, trước hết là trong các trường phổ thông, từ sau việc ban hành nghịquyết IV của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng Sản Việt Nam khoá VII

“Tiếp tục đổi mới mục tiêu, nội dung, chương trình, phương pháp giáodục…” Đặc biệt là từ sau Hội nghị của Ban chấp hành Trung ương ĐảngCộng Sản Việt Nam khoá VIII lần thứ 2 với Nghị quyết về giáo dục và đàotạo Từ đó đến nay phương pháp giáo dục, phương pháp dạy học luôn luônđược đề cập tới trong các nhận định, kết luận khi đánh giá giáo dục trong vănkiện của Đảng và nhà nước Trong thời gian qua mặc dầu đã có những nỗ lựcđáng ghi nhận trong lĩnh vực này ở các nhà trường phổ thông, tuy nhiên báocáo chính trị của Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng Sản Việt Nam lầnthứ XI (2011): “… Chương trình, nội dung, phương pháp dạy và học lạc hậu,đổi mới chậm…” Nghị quyết Đại hội Đảng lần này đặt ra yêu cầu đổi mớicăn bản và toàn diện nền giáo dục nước nhà, trong đó lại nêu rõ là tiếp tục đẩymạnh đổi mới phương pháp dạy học Định hướng đã được quán triệt trong nộidung luật Giáo dục “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tíchcực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh, phù hợp với đặc điểm của từnglớp lớp học, môn học, bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kỹ năng vậndụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứngthú học tập cho học sinh” [39; 23]

Việc đổi mới phương pháp dạy học lịch sử đòi hỏi quán triệt trong nhậnthức, trong tiến hành các biện pháp sư phạm cụ thể theo quan điểm đường lốigiáo dục của Đảng, nhất là là các phương châm, nguyên lí giáo dục về gắnhọc với hành, lí thuyết với thực hành, nhà trường với xã hội, phù hợp với nộidung, đặc điểm bộ môn để phát huy tính tích cực của các em

Trang 31

Sử dụng di sản văn hóa nói chung, di sản văn hóa phi vật thể tại địaphương nói riêng trong dạy học lịch sử chính là thực hiện học với hành, gắnnhà trường với xã hội, tích cực góp phần vào đổi mới phương pháp dạy họclịch sử ở trường phổ thông

1.1.2.5 Ưu thế của di sản văn hóa phi vật thể trong việc giáo dục thế hệ trẻ

Di sản văn hóa phi vật thể là cái vật vô hình chỉ được lưu truyền và biểuhiện bằng hình thức trình diễn - truyền nghề như các làn điệu dân ca, nhã nhạccung đình, lễ hội truyền thống… nghe và thẩm thấu chứ không nhìn thấy được

Là sản phẩm tinh thần gắn liền với cộng đồng hoặc cá nhân, vật thể và khônggian văn hóa liên quan, nên di sản văn hóa phi vật thể thể hiện một bản sắcriêng của địa phương, dân tộc không hòa lẫn vào đâu được Vì vậy nó dễ đi vàolòng người, dễ cảm thụ, lắng đọng trong trái tim người nghe những nét đẹp từnhững câu ca dao, tục ngữ đậm chất dân gian, những làn điệu dân ca mộc mạcmang tính địa phương, những bài thơ, trang văn dễ thuộc, dễ nhớ, các lễ hộitruyền thống như đưa con người về với những sự kiện đã qua, lối sống, nếpsống và dạy cho chúng ta cách đối nhân, xử thế mang nét riêng của người ViệtNam qua các thế hệ Các di sản văn hóa phi vật thể đều ẩn chứa trong đó tìnhyêu quê hương đất nước, tự hào dân tộc, tình yêu thương đồng bào, tinh thầnđoàn kết dân tộc trong đấu tranh chống giặc ngoại xâm, trong công cuộc xâydựng đất nước… Nó là cốt lõi của bản sắc văn hóa dân tộc Vì vậy, đây đượccoi là ưu thế của di sản văn hóa phi vật thể trong việc giáo dục cho thế hệ trẻ.Đặc biệt trong bối cảnh đất nước ta đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa,

mở cửa và hội nhập quốc tế mạnh mẽ, vấn đề giữ gìn và phát huy bản sắc vănhóa dân tộc trên nền tảng kế thừa di sản văn hóa của cha ông, cần được đặc biệtchú trọng Phát huy ưu thế về những giá trị ẩn chứa trong di sản văn hóa phi vậtthể có ý nghĩa to lớn trong giáo dục cho thế hệ trẻ

Tóm lại, di sản văn hóa phi vật thể là tài sản vô giá của dân tộc, có ưuthế trong việc giáo dục truyền thống, giáo dục ý thức, nhân cách cho thế hệ

Trang 32

trẻ Việc bảo tồn, giữ gìn và phát huy di sản văn hóa phi vật thể là nhiệm vụ

vô cùng quan trọng và cấp thiết hơn bao giờ hết, và phải luôn xem nó là tàisản có giá trị không thể thiếu trong việc giáo dục cho giới trẻ hiện nay trên cơ

sở phát huy ưu thế của nó

1.1.2.6 Trách nhiệm của nhà trường trong việc bảo vệ giữ gìn phát huy giá trị văn hóa của di sản văn hóa phi vật thể

Di sản văn hóa phi vật thể là một bộ phận của di sản văn hóa, nókhông chỉ được coi là tài sản giá trị trong việc giáo dục truyền thống, giáo dụcnhân cách cho thế hệ trẻ mà còn là nguồn lực to lớn góp phần phát triển kinh

tế xã hội của đất nước Di sản văn hóa phi vật thể là một lĩnh vực được quantâm đặc biệt, huy động được nhiều sự đóng góp của nhân dân trong việc bảotồn, phát huy giá trị Nhà nước ta từ Trung ương đến địa phương đã ban hànhcác văn bản về quản lý di sản Nhiều loại hình văn hóa, văn nghệ, nghệ thuậttruyền thống được khôi phục, bảo tồn, khai thác và phát huy Hiện nay, côngtác bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể cũng còn nhiều bấtcập, nguy cơ thất truyền, mai một của nhiều loại hình di sản văn hóa phi vậtthể Việc phát huy giá trị các lễ hội truyền thống còn nhiều hạn chế, hiệntượng thương mại hóa trong lễ hội chưa được ngăn chặn một cách có hiệuquả, ngữ văn truyền miệng dần bị quên lãng…Trong khi cuộc sống xã hộingày càng sôi động thì không gian dành cho các loại hình văn hóa truyềnthống ngày càng thu hẹp hoặc bị thay đổi Giới trẻ hiện nay số đông khônghiểu hết giá trị của các di sản văn hóa, mà có xu hướng ưa chuộng những hìnhthức nghệ thuật mới, hiện đại, ít quan tâm tìm hiểu cái hay, cái đẹp của nghệthuật dân tộc Vì vậy, việc bảo tồn và phát huy các giá trị của di sản văn hóanói chung và di sản văn hóa phi vật thể nói riêng trở thành cấp thiết Vậy vấn

đề đặt ra làm thế nào để giữ gìn và phát huy di sản văn hóa phi vật thể, tráchnhiệm này là của toàn dân và toàn xã hội Trong đó nhà trường phổ thông vừa

có trách nhiệm giáo dục học sinh giữ gìn và phát huy di sản văn hóa phi vật

Trang 33

thể vừa có trách nhiệm sử dụng di sản văn hóa phi vật thể trong dạy học Vậy

để thực hiện hai nhiệm vụ trên nhà trường phải thực hiện những việc làm sau:

- Nhà trường phải thực hiện chủ trương của Bộ Giáo và đào tạo “Sửdụng di sản vào dạy học ở trường phổ thông”, thông qua một số môn học nhưlịch sử, văn học, âm nhạc, địa lý…, kiểm tra thường xuyên việc sử dụng disản trong dạy học trong nhà trường

- Nhà trường cần tổ chức nhiều loại hoạt động tạo cho học sinh cókhông gian lớn để tìm hiểu di sản văn hóa phi vật thể ngay trong khuôn viênnhà trường, như tổ chức sinh hoạt chuyên đề tìm hiểu di sản, tổ chức các câulạc bộ những người yêu thích văn nghệ dân gian, tổ chức triển lãm về di sản,

tổ chức các cuộc thi hát ca trù, hát chèo, dân ca tại trường học, tổ chức các tròchơi dân gian, tham dự lễ hội truyền thống Đây cũng là một biện pháp gópphần bảo tồn và phát huy di sản mà ông cha để lại

- Nhà trường tạo mọi điều kiện tốt nhất, đặc biệt là về vật chất cho giáoviên các bộ môn sưu tầm tài liệu về di sản văn hóa phi vật thể phục vụ choviệc giảng dạy

- Nhà trường và giáo viên nên huy động học sinh tham gia sưu tầm disản văn hóa phi vật thể để phục vụ cho học tập qua đó giúp các em ý thứcđược trách nhiệm của mình trong việc bảo vệ, giữ gìn và phát huy di sản vănhóa phi vật thể

- Thông qua việc sử dụng di sản văn hóa phi vật thể trong một số mônkhoa học xã hội và nhân văn Qua đó giáo dục cho các em ý thức bảo vệ giữgìn và hình thành cho các em lòng tự hào, thái độ, hành vi ứng xử thân thiệnvới di sản quê hương

- Tổ chức cho các em học tập nội khóa tại di sản, ngoại khóa tại di sản,

ví dụ trong học tập lịch sử giáo viên tổ chức học sinh tham dự lễ hội truyềnthống ở địa phương trong hoạt động ngoại khóa và ngoài ra tổ chức cho họcsinh tham quan, trải nghiệm di sản

Trang 34

Rõ ràng nhà trường có trách nhiệm lớn trong việc bảo vệ, gìn giữ vàphát huy di sản văn hóa phi vật thể thông qua môi trường giáo dục

1.1.3 Vai trò và ý nghĩa của việc sử dụng di sản văn hóa phi vật thể ở địa phương trong dạy học lịch sử Việt Nam ở trường trung học phổ thông

1.1.3.1 Vai trò

Di sản văn hóa phi vật thể có vai trò to lớn đối với việc dạy học lịch sử

ở trường trung học phổ thông

Trước hết, di sản văn hóa phi vật thể là nguồn kiến thức phong phú,

đa dạng, ẩn chứa trong nó là những giá trị lịch sử quan trọng, biểu hiện nhữngđặc trưng về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội…di sản văn hóa phi vật thểgồm rất nhiều nhiều loại (tác phẩm văn học, ngữ văn truyền miệng, lễ hộitruyền thống…) Vì vậy, đây là một nguồn kiến thức phong phú, đa dạng cầnkhai thác để cung cấp cho học sinh những sự kiện lịch sử cụ thể quan trọngtrong dạy học lịch sử, đồng thời giáo viên phải biết kết hợp các nguồn kiếnthức này để bài giảng sinh động, học sinh lĩnh hội bài tốt, song phải phù hợpvới nội dung lịch sử của bài và đối tượng học sinh

Thứ hai, di sản văn hóa phi vật thể còn là phương tiện trực quan quantrọng để tạo biểu tượng cho học sinh, cụ thể hóa các sự kiện lịch sử, khắcphục tình trạng “ hiện đại hóa” lịch sử Thông qua tranh ảnh về di sản văn hóavật thể, qua vật thể, học tập tại nơi có di sản văn hóa phi vật thể (tham gia lễhội truyền thống, tham quan làng nghề thủ công…) sẽ giúp các em hiểu sâusắc bản chất của sự kiện, hình thành khái niệm lịch sử, nắm vững các quy luậtphát triển của xã hội Đồng thời còn phát triển khả năng quan sát, trí tưởngtượng, tư duy và ngôn ngữ của học sinh Qua đó tác động mạnh mẽ đến tưtưởng, tình cảm, đạo đức của các em trong học tập lịch sử

Thứ ba, sử dụng di sản văn hóa phi vật thể trong dạy học lịch sử làbiện pháp thực hiện nguyên lí giáo dục của Đảng: “lí luận gắn liền với thựctiễn”, “học đi đôi với hành” Thông qua một số biện pháp như cho học sinh

Trang 35

sưu tầm, nghiên cứu về di sản văn hóa phi vật thể tại địa phương phục vụcho bài nội khóa trên lớp, hoặc các hoạt động ngoại khóa tìm hiểu về “ disản văn hóa phi vật thể tại địa phương” trong học tập lịch sử, không chỉ giúpcho việc tiếp cận kiến thức sâu sắc mà còn làm cho học sinh biết vận dụngvào thực tiễn góp phần thực hiện nguyên lí giáo dục của Đảng “lí luận gắnliền thực tiễn”.

Thứ tư, sử dụng di sản văn hóa phi vật thể trong dạy học lịch sử làmột biện pháp đổi mới phương pháp dạy học lịch sử, góp phần nâng caohiệu quả dạy học bộ môn Việc sử dụng di sản văn hóa phi vật thể gắn liềnvới đổi mới phương pháp dạy học, đa dạng hóa các hình thức dạy học, pháthuy tính tích cực, chủ động sáng tạo của học sinh, trong đó học sinh phải làchủ thể, chủ động tích cực tham gia vào quá trình sử dụng di sản trong giờhọc và các hoạt động giáo dục Vì vậy nó góp phần nâng cao hiệu quả dạyhọc bộ môn

1.1.3.2 Ý nghĩa

Việc sử dụng di sản văn hóa phi vật thể trong dạy học lịch sử dân tộc ởtrường THPT có ý nghĩa đối với học sinh trên cả ba mặt: bồi dưỡng nhậnthức, rèn luyện kĩ năng, và thái độ để góp phần phát triển toàn diện học sinh

sử quan trọng của một giai đoạn lịch sử nào đó Vì vậy, đây được xem lànguồn tài liệu vô cùng quan trọng để cụ thể hóa, khôi phục lại bức tranh quákhứ về một sự kiện, nhân vật lịch sử đã qua, giúp các em hiểu sâu sắc và toàndiện về lịch sử dân tộc

Trang 36

Ví dụ, khi dạy học bài 21: “Những biến đổi của nhà nước phong kiếntrong các thể kỉ XV - XVIII” Giáo viên sử dụng câu ca dao sau:

Giặc ra thuyền chúa lại vàoHầm hào lại phá, cửa nhà lại xây [11; 225]

Qua câu ca dao trên góp phần cụ thể hóa sự kiện lịch sử thời Trịnh Nguyễn phân tranh, giúp các em hiểu sâu sắc nổi khổ của nhân dân thời kì này.Các lễ hội lịch sử thường gắn liền với các sự kiện, nhân vật lịch sử vìvậy, nó không chỉ được xem là nguồn tư liệu quan trọng mà còn là phươngtiện quan trọng để học sinh khôi phục lại hình ảnh về sự kiện nhân vật Vì vậykhi sử dụng các tài liệu về lễ hội vào dạy học lịch sử đặc biệt là tổ chức chohọc sinh tham gia lễ hội truyền thống ở địa phương sẽ giúp học sinh hiểu sâusắc, toàn diện hơn lịch sử dân tộc, đồng thời các em sẽ có biểu tượng cụ thể

-về sự kiện, nhân vật lịch sử đã qua để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng các em

từ đó sẽ kích thích sự hứng thú trong học tập, giúp các em dễ nhớ và khắc sâukiến thức đã học

Từ chỗ có biểu tượng chân thực cụ thể về sự kiện hiện tượng lịch sử, disản văn hóa phi vật thể còn giúp học sinh hiểu được bản chất của các kháiniệm, thuật ngữ phức tạp những kết luận mang tính khái quát ở bài học lịch sửdân tộc

Tóm lại sử dụng di sản văn hóa phi vật thể trong dạy học lịch sử có ýnghĩa trong việc hình thành tri thức cho học sinh: Cụ thể hóa, khôi phục lạihình ảnh quá khứ bổ sung và khắc sâu kiến thức, góp phần làm phong phúkiến thức lịch sử cho học sinh, giúp học sinh hiểu sâu sắc và toàn diện lịch sửdân tộc

- Về mặt kỹ năng

Di sản văn hóa phi vật thể cũng là một phương tiện dạy học quan trọng.Khi học sinh tiếp cận với di sản đúng mục đích, với phương pháp dạy học phù

Trang 37

hợp và sự hướng dẫn chi tiết mang tính định hướng, kích thích tư duy, giúphọc sinh phát triển khả năng quan sát (qua các tranh ảnh về di sản văn hóa phivật thể, qua vật thể) khả năng xử lí thông tin, khả năng phân tích, tổng hợp và

so sánh

Trong quá trình học tập với di sản, HS được rèn luyện cách trình bàyquan điểm, mong muốn, cảm xúc của bản thân dưới hình thức nói, viết mộtcách phù hợp với đối tượng, hoàn cảnh và văn hóa giao tiếp Đồng thời các

em cũng biết lắng nghe và tôn trọng ý kiến người khác ngay cả khi bất đồngquan điểm Kỹ năng này giúp HS có mối quan hệ tích cực với nguời khác,đồng thời biết cách xây dựng mối quan hệ với bạn bè mới

Ví dụ, khi dạy học bài 24: “Tình hình văn hóa ở các thế kỉ XVI - XVIII”sau khi học bài 23, giáo viên giao nhiệm vụ cho từng nhóm sưu tầm tài liệu,tranh ảnh về lễ hội đền Chiêu Trưng, lễ hội đền Phù, sưu tầm về ca dao, tụcngữ, truyện cười dân gian ở Hà Tĩnh thời kì này, sưu tầm tài liệu, tranh ảnh

về nghệ thuật dân ca hát giặm Nghệ Tĩnh, sưu tầm về tranh ảnh chân dung,các mẫu chuyện dân gian nói về y đức của thầy thuốc Hải Thượng Lãn Ông

Lê Hữu Trác và trình bày lại những hiểu biết của bản thân hoặc của nhómtrước lớp, qua đó rèn luyện cho các em khả năng diễn đạt ý kiến của mìnhtrước đám đông

Sử dụng di sản văn hóa phi vật thể tại địa phương còn góp phần pháttriển năng lực của học sinh

Ví như, khi tổ chức cho học sinh tham dự lễ hội truyền thống ở địa

phương hoặc đọc sách… các hoạt động ngoại khóa này mở ra một khả năngrộng lớn để hình thành thói quen, kỹ năng về trí tuệ và thực hành cho học sinhtrong học tập lịch sử Các em có thể tự lựa chọn một số công việc phù hợp vớitrình độ và sở thích của bản thân Ví dụ, khi tham dự lễ hội truyền thống ở địaphương các em có thể tham dự vào các phần hội như đóng vai các nhân vật,

sự kiện lịch sử, tham gia các trò chơi dân gian, hát chèo, ví … Như vậy tính

Trang 38

chất tự nguyện trong việc tham gia sẽ phát huy năng lực nhận thức độc lập,làm nảy sinh và phát triển hứng thú của học sinh

Làm việc với di sản, học sinh có được môi trường giao tiếp cởi mở vớibạn bè không chỉ trong phạm vi lớp học mà cả với những đối tượng khác các

em gặp gỡ Trong quá trình tiếp cận với di sản, giáo viên lưu ý cách thức giaotiếp phù hợp cũng chính là góp phần phát triển ở các em một loại kỹ năngsống cần thiết

Trong quá trình dạy học thông qua việc tiếp cận di sản, giáo viênkhông chỉ thuyết trình về các hiện tượng, sự vật mà cần tìm hiểu, hướng dẫnhọc sinh tự quan sát, thu thập thông tin, trao đổi trong nhóm để xử lý cácthông tin Qua đó các em sẽ có những kiến thức về di sản và có thể trình bàylại những hiểu biết của cá nhân mình hoặc của nhóm mà mình đã thu lượmđược

Sử dụng di sản văn hóa phi vật thể trong dạy học lịch sử còn rèn luyệncho các em kỹ năng vận dụng kiến thức đã học để giải thích những sự kiện, hiệntượng trong cuộc sống, đồng thời phát triển một số kỹ năng sống ở học sinh

- Về giáo dục

Việc sử dụng di sản văn hóa phi vật thể trong dạy học lịch sử, không chỉ

có tác dụng trong việc bồi dưỡng nhận thức mà còn tác động đến tư tưởng,tình cảm của người học

Trước hết, việc sử dụng di sản văn hóa phi vật thể trong dạy học lịch sử

có ý nghĩa quan trọng góp phần giáo dục cho các em về truyền thống tốt đẹpcủa dân tộc, đặc biệt là truyền thống yêu nước, truyền thống biết ơn nhữngngười có công với quê hương, đất nước

Ví dụ, khi tổ chức cho các em tham dự lễ hội Đền Chiêu Trưng LêKhôi, các em không những hiểu biết về nhân vật lịch sử Lê Khôi, về công laocủa ông trong cuộc khởi nghĩa Lam Sơn mà qua đó còn giáo dục cho các em

về truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta đó là truyền thống yêu nước, truyền

Trang 39

thống biết ơn tổ tiên, biết ơn những người có công với Tổ quốc Bởi vậy khitham dự lễ hội sẽ gây cho các em nhiều cảm xúc, ấn tượng sâu sắc về một sựkiện lịch sử đã qua Từ đó các em biết tôn trọng, giữ gìn, phát huy truyềnthống yêu nước, truyền thống “uống nước, nhớ nguồn”, “ăn quả nhớ kẻ trồngcây” Đây chính là truyền thống, đạo lý tốt đẹp của dân tộc ta đã có từ xa xưa Thứ hai, sử dụng di sản văn hóa phi vật thể tại địa phương có ý nghĩatrong việc giáo dục ý thức, nhân cách cho học sinh

Bên cạnh những hình ảnh đẹp của tuổi trẻ trong thời đại mới, dưới tácđộng của mặt trái kinh tế thị trường và toàn cầu hóa ngày càng sâu rộng, đãxuất hiện một bộ phận không nhỏ tầng lớp thanh niên có lối sống lệch lạc,thiếu lí tưởng, giảm sút niềm tin, thiếu ý thức chấp hành pháp luật, có lối sốngthực dụng đua đòi, lãng phí, cá biệt một số sa vào các tệ nạn xã hội Như vậyhơn bao giờ hết chúng ta phải tăng cường giáo dục truyền thống tốt đẹp chodân tộc qua việc phát huy ưu thế của di sản văn hóa trong việc giáo dục chothế hệ trẻ.Việc sử dụng di sản văn hóa phi vật thể tại địa phương trong dạyhọc lịch sử như: tổ chức các trò chơi dân gian, tham gia các lễ hội truyềnthống, sưu tầm các ca dao, tục ngữ, hò vè dân gian, các bài thơ có nội dungyêu nước, tự hào dân tộc, ca ngợi lao động, sáng tạo, ở các địa phương phục

vụ cho học tập lịch sử ở trường phổ thông để các em thấy được những nétđẹp ẩn chứa qua di sản, trở thành hành trang giúp các em sống lành mạnh,sống có ích với quê hương đất nước Thông qua di sản văn hóa phi vật thểchúng ta thấy được một hệ giá trị cốt lõi của văn hóa dân tộc giáo dục nhâncách, cốt cách con người Việt Nam với tinh thần yêu nước, tự hào dân tộc ýchí độc lập tự cường, tinh thần đoàn kết, lòng nhân ái, sự khoan dung, trọngnghĩa tình đạo lý, cần cù, sáng tạo trong lao động nghệ thuật khiêm tốn, giản

dị trong lối sống,…

Sử dụng di sản văn hóa phi vật thể trong dạy học lịch sử còn góp phầngiáo dục cho học sinh tính chân - thiện - mỹ, thưởng thức và sáng tạo cái đẹp,

Trang 40

đứng về cái thiện đấu tranh loại bỏ cái ác, giáo dục cho học sinh những thuầnphong mỹ tục của con người Việt Nam được hình thành, đúc kết từ ngàn xưa.

Sử dụng di sản văn hóa phi vật thể trong dạy học lịch sử ở trường phổthông còn có ý nghĩa quan trọng nữa đó là giáo dục cho các em về ý thức vàtrách nhiệm của mình trong việc giữ gìn và phát huy di sản văn hóa

Ví dụ, khi dạy học bài 24: “Tình hình văn hóa ở các thể kỉ XVI

XVIII” Khi trình bày về sự phổ biến của các làn điệu dân ca thế kỉ XVI XVIII, giáo viên sử dụng tài liệu dân ca hát giặm Nghệ Tĩnh vào dạy học mụcIII “Nghệ thuật và khoa học - kĩ thuật” Học sinh không những hiểu được đờisống văn hóa của nhân dân ta, và sự phát triển phong phú của nghệ thuật nước

-ta giai đoạn này mà qua đó giáo dục học sinh trách nhiệm của mình trong việcbảo tồn, giữ gìn và phát huy làn điệu dân ca hát giặm Nghệ Tĩnh - một trongnhững di sản văn hóa phi vật thể của Việt Nam được tổ chức UNESSCO côngnhận là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại

Như vậy, di sản văn hóa phi vật thể là một trong những nguồn kiếnthức, phương tiện dạy học sinh động, ẩn chứa trong đó là những giá trị lịch

sử, văn hóa, khoa học nên nó có khả năng tác động mạnh mẽ đến tình cảm,đạo đức và việc hình thành nhân cách của học sinh

Trên cơ sở bồi dưỡng nhận thức, rèn luyện các kỹ năng, định hướngthái độ, sử dụng di sản văn hóa phi vật thể tại địa phương trong dạy học lịch

sử dân tộc có tác dụng thiết thực đối với việc phát triển toàn diện học sinh

1.2 Thực tiễn việc sử dụng di sản văn hóa phi vật thể tại địa phương trong dạy học lịch sử Việt Nam lớp 10 THPT (chương trình chuẩn) ở Hà Tĩnh

Để có những nhận xét khách quan, về thực tiễn việc sử dụng di sản vănhóa phi vật thể tại địa phương trong dạy học lịch sử Việt Nam từ thế kỉ X -đến nửa đầu thế kỉ XIX ở THPT tỉnh Hà Tĩnh, chúng tôi tiến hành điều tra,khảo sát việc dạy và học ở một số trường trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh (trườngTHPT Vũ Quang, trường THPT Nguyễn Văn Trỗi, trường THPT Mai Thúc

Ngày đăng: 20/07/2015, 12:07

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. M. Alecxeep (1976), Phát triển tư duy học sinh, NXB giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển tư duy học sinh
Tác giả: M. Alecxeep
Nhà XB: NXB giáo dục
Năm: 1976
2. Bộ Giáo dục và Đào Tạo (2009): Lịch sử 10, NXB Giáo dục, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử 10
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào Tạo
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2009
3. Bộ Giáo dục và Đào Tạo, Vụ giáo dục phổ thông (2010), Phân phối chương trình môn Lịch sử, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân phối chương trình môn Lịch sử
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào Tạo, Vụ giáo dục phổ thông
Năm: 2010
4. Bộ Giáo dục và Đào Tạo (2010), Sách giáo viên lịch sử lớp 10, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách giáo viên lịch sử lớp 10
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào Tạo
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2010
5. Bộ Giáo và Đào Tạo, Bộ Văn Hóa Thể Thao và Du Lịch, Tài liệu tập huấn: Sử dụng di sản trong dạy học ở trường phổ thông - Những vấn đề chung - lưu hành nội bộ, Hà Nội, tháng 10 - 2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ài liệu tập huấn: Sử dụng di sản trong dạy học ở trường phổ thông - Những vấn đề chung - lưu hành nội bộ
6. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2010), Sách lịch sử lớp 10, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách lịch sử lớp 10
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2010
7. Phan Đình Bưởi (2000), Lịch sử Hà Tĩnh dạy và học trong trường phổ thông , NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Hà Tĩnh dạy và học trong trường phổ thông
Tác giả: Phan Đình Bưởi
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2000
8. Nguyễn Thị Côi (chủ biên), Trần Vĩnh Tường, Đặng Văn Hồ, Kiều Thế Hưng, Phạm Kim Anh. (1996), Bài học lịch sử ở trường phổ thông trung học, NXB, Đại học Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài học lịch sử ở trường phổ thông trung học
Tác giả: Nguyễn Thị Côi (chủ biên), Trần Vĩnh Tường, Đặng Văn Hồ, Kiều Thế Hưng, Phạm Kim Anh
Năm: 1996
9. Nguyễn Thị Côi (2008), Các con đường, biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học lịch sử ở trường phổ thông, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Các con đường, biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học lịch sử ở trường phổ thông
Tác giả: Nguyễn Thị Côi
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2008
10. Nguyễn Thị Côi, Nâng cao hiệu quả việc dạy học lịch sử địa phương ở trường phổ thông, Tạp chí khoa học, trường ĐHSP Hà Nội, số 6/2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao hiệu quả việc dạy học lịch sử địa phương ở trường phổ thông
11. Nguyễn Đổng Chi (chủ biên) (1996), Kho tàng ca dao xứ Nghệ, NXB Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kho tàng ca dao xứ Nghệ
Tác giả: Nguyễn Đổng Chi (chủ biên)
Nhà XB: NXB Nghệ An
Năm: 1996
12. Nguyễn Đổng Chi (chủ biên) (2003), Tác phẩm được tặng giải thưởng Hồ Chí Minh, Quyển III Địa chí dân gian Nghệ Tĩnh, NXB Khoa học xã hội Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác phẩm được tặng giải thưởng Hồ Chí Minh, Quyển III Địa chí dân gian Nghệ Tĩnh
Tác giả: Nguyễn Đổng Chi (chủ biên)
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội Hà Nội
Năm: 2003
13. N.G. Đairi (1978), Chuẩn bị giờ học lịch sử như thế nào, NXB Giáo dục, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuẩn bị giờ học lịch sử như thế nào
Tác giả: N.G. Đairi
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1978
14. Đảng Cộng Sản Việt Nam (1977), Văn Kiện hội nghị lần thứ hai BCHTW khóa XVIII, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn Kiện hội nghị lần thứ hai BCHTW khóa XVIII
Tác giả: Đảng Cộng Sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 1977
15. Hồ Ngọc Đại (1991) Bài học là gì, NXB Giáo dục, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài học là gì
Nhà XB: NXB Giáo dục
16. Thái Kim Định (chủ biên ) (2005), Lễ hội dân gian ở Hà Tĩnh, NXB Sở Văn hoá thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Lễ hội dân gian ở Hà Tĩnh
Tác giả: Thái Kim Định (chủ biên )
Nhà XB: NXB Sở Văn hoá thông tin
Năm: 2005
17. Phạm Văn Đồng, Bài nói với giáo viên Hà Nội, ngày 20/11/1984 , Báo Nhân Dân ra ngày 26/11/1984 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài nói với giáo viên Hà Nội, ngày 20/11/1984
18. Phạm Văn Đồng, Về vấn đề giáo dục- đào tạo, NXB Chính trị Quốc gia, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về vấn đề giáo dục- đào tạo
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
19. Ninh Viết Giao (1998), Danh nhân Hà Tĩnh, tập 1, NXB Sở văn hóa thông tin Hà Tĩnh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Danh nhân Hà Tĩnh
Tác giả: Ninh Viết Giao
Nhà XB: NXB Sở văn hóa thông tin Hà Tĩnh
Năm: 1998
20. Ninh Viết Giao (1995 -1996), Làng Cổ Hà Tĩnh, NXB Sở văn hóa thông tin Hà Tĩnh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Làng Cổ Hà Tĩnh
Nhà XB: NXB Sở văn hóa thông tin Hà Tĩnh

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

BẢNG ĐIỀU TRA (DÀNH CHO HỌC SINH THPT) - Sử dụng di sản văn hóa phi vật thể tại địa phương trong dạy học lịch sử việt nam từ thế kỉ x đến đầu thế kỉ XIX (lớp 10   THPT   chương trình chuẩn) ở hà tĩnh
BẢNG ĐIỀU TRA (DÀNH CHO HỌC SINH THPT) (Trang 111)
Bảng 1. Bảng kết quả điều tra giáo viên - Sử dụng di sản văn hóa phi vật thể tại địa phương trong dạy học lịch sử việt nam từ thế kỉ x đến đầu thế kỉ XIX (lớp 10   THPT   chương trình chuẩn) ở hà tĩnh
Bảng 1. Bảng kết quả điều tra giáo viên (Trang 114)
Hình   thức   nào - Sử dụng di sản văn hóa phi vật thể tại địa phương trong dạy học lịch sử việt nam từ thế kỉ x đến đầu thế kỉ XIX (lớp 10   THPT   chương trình chuẩn) ở hà tĩnh
nh thức nào (Trang 121)
Hình ảnh về hát ca trù - Sử dụng di sản văn hóa phi vật thể tại địa phương trong dạy học lịch sử việt nam từ thế kỉ x đến đầu thế kỉ XIX (lớp 10   THPT   chương trình chuẩn) ở hà tĩnh
nh ảnh về hát ca trù (Trang 163)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w