2 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI VIỆN ĐẢM BẢO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC NGUYỄN VINH SAN ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC XÂY DỰNG VĂN HÓA CHẤT LƯỢNG TẠI TRƯỜNG... 4 LỜI CAM Đ
Trang 1NGUYỄN VINH SAN
ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA MỘT SỐ YẾU TỐ
ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC XÂY DỰNG VĂN HÓA CHẤT LƯỢNG TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM – ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Hà Nội – Năm 2013
Trang 22
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
VIỆN ĐẢM BẢO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC
NGUYỄN VINH SAN
ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC XÂY DỰNG VĂN HÓA CHẤT LƯỢNG TẠI TRƯỜNG
Trang 33
LỜI CẢM ƠN
Tác giả xin gửi lời cảm ơn đặc biệt đến:
TS Hoàng Thị Xuân Hoa đã hướng dẫn tận tình để tác giả hoàn thành luận văn này một cách khoa học, chính xác
Tác giả cũng xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc của mình đến quý thầy/cô
đã tham gia tổ chức, giảng dạy khoá học vì đã hướng dẫn tạo điều kiện và cung cấp cho tác giả những kiến thức về chuyên ngành như: PGS.TS Nguyễn Quý Thanh, TS Phạm Xuân Thanh, PGS.TS Ngô Doãn Đãi, GS.TS Lê Ngọc Hùng, PGS.TS Nguyễn Phương Nga, PGS.TS Nguyễn Văn Quyết cùng các thầy cô đang công tác tại Viện Đảm bảo chất lượng giáo dục – Đại học Quốc gia Hà Nội
Tác giả xin cảm ơn quý thầy/cô và các bạn sinh viên ở trường Đại học
Sư phạm – ĐHĐN đã giúp đỡ tác giả trong việc hoàn thành luận văn này Trân trọng cảm ơn!
Tác giả
Nguyễn Vinh San
Trang 44
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn với tiêu đề: “Đánh giá tác động của một số yếu tố ảnh hưởng đến việc xây dựng văn hóa chất lượng ở trường Đại học Sư phạm – ĐHĐN” hoàn toàn là kết quả nghiên cứu của chính bản thân tôi và chưa được công bố trong bất cứ một công trình nghiên cứu nào của người khác Trong quá trình thực hiện luận văn, tôi đã thực hiện nghiêm túc các quy tắc đạo đức nghiên cứu; các kết quả trình bày trong luận văn là sản phẩm nghiên cứu, khảo sát của riêng cá nhân tôi; tất cả các tài liệu tham khảo sử dụng trong luận văn đều được trích dẫn tường minh, theo đúng quy định Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về tính trung thực của số liệu và các nội dung khác trong luận văn của mình
Hà Nội, ngày 15 tháng 07 năm 2013
Tác giả luận văn
Nguyễn Vinh San
Trang 66
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1: Thống kê độ tin cậy Cronbach”s Alpha của cả bảng hỏi
Bảng 2.2: Mô tả thống kê tổng thể các câu hỏi trong bảng hỏi
Bảng 3.1 Thống kê ĐTB đánh giá của cán bộ theo từng tiêu chí
Bảng 3.2 thống kê theo từng nhóm vấn đề trong đánh giá của CBGV
Bảng 3.3 Đánh giá theo mức độ của CBGV
Bảng 3.4 Thống kê ĐTB đánh giá của SV theo từng tiêu chí
Bảng 3.5 Thống kê theo từng nhóm vấn đề của đánh giá sinh viên
Bảng 3.6 Đánh giá theo mức độ của sinh viên
Bảng 3.7 Thống kê điểm trung bình theo nhóm đối tượng đánh giá
Bảng 3.8 Kiểm định T-Test theo đối tượng đánh giá
Bảng 3.9 Bảng đánh giá tương quan giữa các yếu tố
Bảng 3.10 Kết quả hồi quy đa biến
Bảng 3.11 Tổng hợp kết quả kiểm định giả thuyết H1, H2 và H3
Trang 77
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 2.1: Quy trình nghiên cứu của luận văn
Hình 2.2: Mô hình lý thuyết của luận văn
Hình 3.1: Biểu đồ đánh giá theo mức độ của CBGV
Hình 3.2: Biểu đồ đánh giá theo mức độ của SV
Hình 3.3 Điểm đánh giá của SV về lãnh đạo theo tỉ lệ %
Hình 3.4 Điểm đánh giá của CBGV về lãnh đạo theo tỉ lệ %
Hình 3.5 Điểm đánh giá của SV về công tác quản lý theo tỉ lệ %
Hình 3.6 Điểm đánh giá của CBGV về công tác quản lý theo tỉ lệ %
Hình 3.7 Điểm đánh giá của SV về hệ thống văn bản theo tỉ lệ %
Hình 3.8 Điểm đánh giá của CBGV về hệ thống văn bản theo tỉ lệ %
Hình 3.9 Điểm đánh giá của SV về nhận thức, thái độ, hành vi theo tỉ lệ % Hình 3.10 Điểm đánh giá của CBGV về nhận thức, thái độ, hành vi theo tỉ lệ % Hình 3.11: Biểu đồ tần số của phần dư chuẩn hóa
Hình 3.12: Biểu đồ phân tán phần dư và giá trị dự đoán của mô hình hình quy
tuyến tính
Hình 3.13: Kết quả kiểm định mô hình lý thuyết
Trang 88
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 10
1 Lý do chọn đề tài 10
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 12
3 Giới hạn nghiên cứu của đề tài 12
4 Phương pháp tiếp cận nghiên cứu 13
5 Câu hỏi nghiên cứu/ giả thuyết nghiên cứu 14
6 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 14
7 Phạm vi khảo sát 15
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU VỀ VĂN HÓA CHẤT LƯỢNG 16 1.1 Lịch sử các vấn đề nghiên cứu 16
1.2 Một số vấn đề lý luận cơ bản 20
1.2.1 Chất lượng giáo dục 20
1.2.2 Đảm bảo chất lượng 22
1.2.3 Làm việc có chất lượng 25
1.2.4 Văn hóa chất lượng 27
1.2.5 Một số vấn đề về lãnh đạo và quản lý 42
CHƯƠNG 2 THIẾT KẾ VÀ TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU 46
2.1 Vài nét về trường Đại học Sư phạm - ĐHĐN 46
2.2 Xây dựng văn hóa chất lượng ở trường Đại học Sư phạm – ĐHĐN 2.2.1 Những hoạt động đã triển khai 47
2.2.2 Một số yếu tố ảnh hưởng tới việc xây dựng văn hóa chất lượng tại Trường Đại học Sư phạm – ĐHĐN 50
2.2.3 Những thuận lợi và khó khăn khi xây dựng văn hóa chất lượng tại trường Đại học Sư phạm – ĐHĐN 51
2.3 Các bước tiến hành nghiên cứu 54
Trang 99
2.3.1 Quy trình nghiên cứu 54
2.3.2 Mô hình lý thuyết 55
2.4 Xây dựng bộ công cụ khảo sát 55
2.4.1 Mẫu và phương pháp chọn mẫu 55
2.4.2 Xây dựng bộ công cụ khảo sát 56
2.4.3 Đánh giá bộ công cụ 56
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 60
3.1 Thực trạng công tác lãnh đạo, quản lý và hệ thống văn bản phục vụ xây dựng văn hóa chất lượng 60
3.1.1 Đánh giá chung 60
3.1.2 Lãnh đạo 66
3.1.3 Công tác quản lý 69
3.1.4 Hệ thống văn bản 72
3.2 Tác động của lãnh đạo, công tác quản lý và hệ thống văn bản tới việc xây dựng văn hóa chất lượng 74
3.2.1 Tác động của lãnh đạo, công tác quản lý và hệ thống văn bản tới nhận thức, thái độ và hành vi của CBGV và SV 74
3.2.2 Đánh giá mối tương quan lãnh đạo, công tác quản lý, hệ thống văn bản và sự thay đổi nhận thức, thái độ, hành vi 77
3.3 Xây dựng mô hình hồi quy 79
3.3.1 Phân tích hồi quy 79
3.3.2 Kết quả phân tích hồi quy đa biến 82
3.3.3 Mô hình hồi quy đa biến 82
3.3.4 Kiểm định các giả thuyết H1, H2, H3 82
KẾT LUẬN 86
TÀI LIỆU THAM KHẢO 89
PHỤ LỤC 91
Trang 10về đổi mới giáo dục Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI yêu cầu
“Đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục quốc dân” thể hiện chất lượng giáo dục đang được Đảng, Nhà nước và toàn xã hội quan tâm
Có rất nhiều các nghiên cứu nhằm nâng cao chất lượng giáo dục nói chung và GDĐH nói riêng Một trong những giải pháp nâng cao chất lượng được các nhà quản lý giáo dục thừa nhận và các cơ sở giáo dục áp dụng trong đơn vị mình đó là xây dựng hệ thống đảm bảo chất lượng giáo dục Đó là sự
ra đời của Cục Khảo thí và kiểm định chất lượng giáo dục vào năm 2003, tiếp
đó là các Ban, Trung tâm, Phòng, Tổ phụ trách về đảm bảo chất lượng được thành lập ở rất nhiều các trường ĐH trong cả nước Các bộ phận phụ trách đảm bảo chất lượng này sẽ là đầu mối giúp cho lãnh đạo của các trường thực hiện các chủ trương, chính sách của Bộ Giáo dục và Đào tạo về đảm bảo quản
lý chất lượng giáo dục; xây dựng và phát triển hệ thống quản lý chất lượng đào tạo; xây dựng lộ trình cho công tác đảm bảo chất lượng
Hiện nay, các cơ sở đào tạo ĐH đã và đang tiến hành công tác kiểm định chất lượng theo 10 tiêu chuẩn và 61 tiêu chí (Bộ Tiêu chuẩn kiểm định
Trang 1111
chất lượng do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành) Tuy nhiên, trên thực tế, nếu như chỉ hoàn thành báo cáo tự đánh giá và khâu đánh giá ngoài theo các tiêu chí cụ thể, mà thiếu đi giá trị cốt lõi đó là - xây dựng văn hoá chất lượng theo
Bộ tiêu chuẩn này thì hiệu quả sẽ rất hạn chế Vì khi từng thành viên của trường chưa thấu hiểu ý nghĩa, sự cần thiết của quy trình kiểm định, hay nói cách khác mỗi cá nhân chưa xác định rõ ràng, cụ thể trách nhiệm của mình đối với công việc, mức độ yêu cầu về “chất lượng” đối với công việc của mình, thì thực sự họ không thể xây dựng được kế hoạch làm việc hoặc làm như thế nào để đạt được chất lượng đạt chuẩn
Các báo cáo tự đánh giá và đánh giá ngoài đều không phản ánh được thực chất “đạt được các mục tiêu đề ra” ở mức độ nào, không phản ánh được đầy đủ các nguyên nhân dẫn đến việc không đạt được chất lượng như mong muốn Khi tiến hành nghiên cứu để triển khai xây dựng hệ thống đảm bảo chất lượng chất lượng ở các trường ĐH, để hệ thống đảm bảo chất lượng này
có thể vận hành tốt, đem lại chất lượng như mong muốn, ngay từ khi bắt đầu triển khai, lãnh đạo trường cần phải có kế hoạch xây dựng thành công “Văn hoá chất lượng” trong toàn Trường Và Trường Đại học Sư phạm – ĐHĐN cũng không nằm ngoài xu thế đó
Từ năm 2009 Trường bắt đầu tiến hành lấy ý kiến SV về GV, lấy ý kiến
SV tốt nghiệp về chất lượng đào tạo của nhà trường Năm 2011 trường đã xây dựng thành công bộ tiêu chuẩn ISO 9001:2008, tiếp tục lấy ý kiến SV về GV
và chất lượng đào tạo của nhà trường Xúc tiến lấy ý kiến của các nhà tuyển dụng về chất lượng SV do nhà trường đào tạo Và Trường quyết định một bước tiến mới trong công tác đảm bảo chất lượng đó là quyết tâm xây dựng thành công văn hóa chất lượng tại trường
Văn hoá chất lượng là một khái niệm quan trọng trong kiểm định chất lượng nhưng còn khá mới mẻ và đang bị bỏ ngỏ Thực tế này khiến công tác
Trang 1212
đảm bảo chất lượng đào tạo trở thành trách nhiệm riêng của một bộ phận nào
đó trong nhà trường, đồng thời tác động thực sự của công tác này còn chưa được như mong đợi Để xây dựng thành công văn hóa chất lượng thì cần phải hiểu rõ văn hoá chất lượng là gì? Những yếu tố nào ảnh hưởng tới việc hình thành và phát triển văn hoá chất lượng bên trong các trường ĐH, mức độ tác động của các yếu tố này ra sao, đang là những câu hỏi nghiêm túc được đặt ra
để giải bài toán “chất lượng” Với mong muốn kết quả của đề tài sẽ mang lại một cái nhìn chính xác và sâu sắc về xây dựng văn hóa chất lượng ở Việt Nam, là tiền đề để các cơ sở giáo dục vận dụng xây dựng văn hóa chất lượng
ở đơn vị mình, tôi lựa chọn đề tài nghiên cứu “Đánh giá tác động của một số yếu tố ảnh hưởng đến việc xây dựng văn hóa chất lượng ở trường Đại học
- Đánh giá mức độ tác động của các yếu tố lãnh đạo, công tác quản lý
và hệ thống văn bản tới sự thay đổi nhận thức và hành vi của cán bộ và sinh viên trong việc xây dựng văn hóa chất lượng ở trường Đại học Sư phạm – ĐHĐN
Từ kết quả nghiên cứu của đề tài, đề xuất một số biện pháp nhằm cải tiến và nâng cao chất lượng giáo dục thông qua việc xây dựng văn hóa chất lượng tại Trường Đại học Sư phạm – ĐHĐN nói riêng và các cơ sở GDĐH nói chung
Trang 1313
3 Giới hạn nghiên cứu của đề tài
Đề tài nghiên cứu đánh giá tác động của các yếu tố Lãnh đạo, công tác quản lý và hệ thống văn bản tới việc xây dựng văn hóa chất lượng trong khoảng thời gian từ năm 2009 tới năm 2013 tại trường Đại học Sư phạm – ĐHĐN
4 Phương pháp tiếp cận nghiên cứu
4.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết
Tiến hành thu thập tài liệu từ nhiều nguồn khác nhau: các bài báo, các
đề tài nghiên cứu của các nhà khoa học giáo dục trong và ngoài nước, cùng các tài liệu khác có liên quan đến đề tài nghiên cứu, từ đó xây dựng mô hình
lý thuyết và công cụ đo lường sử dụng cho bước nghiên cứu thực tiễn
4.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi (phương pháp Ankét) Điều tra bằng phiếu hỏi là phương pháp thu thập thông tin trên phổ rộng, với số lượng khách thể lớn, có thể cho phép người nghiên cứu rút ra kết luận có độ tin cậy cao Nhằm mục đích thu thập thông tin về: thực trạng công tác xây dựng văn hóa chất lượng, chúng tôi tiến hành điều tra bằng phiếu hỏi đối với các cán
bộ, GV là cán bộ lãnh đạo, quản lý các khoa phòng và sinh viên là cán bộ lớp, cán bộ đoàn
- Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động: phân tích, tổng hợp các văn bản quản lý; các kế hoạch hoạt động; các biên bản họp Hội đồng đảm bảo chất lượng; hồ sơ minh chứng; các báo cáo của các trường về công tác đảm bảo chất lượng và xây dựng văn hóa chất lượng
4.3 Nhóm phương pháp xử lý thông tin
Sử dụng các công thức toán học để tính toán, thống kê kết quả khảo sát
từ đó phân tích thực trạng công tác xây dựng văn hóa chất lượng ở trường Đại học Sư phạm - ĐHĐN
Trang 1414
5 Câu hỏi nghiên cứu/ giả thuyết nghiên cứu
5.1 Câu hỏi nghiên cứu
Câu 1: Lãnh đạo ảnh hưởng như thế nào đến sự thay đổi nhận thức và hành vi của CBGV, SV trong việc xây dựng văn hóa chất lượng ở Trường Đại học Sư phạm – ĐHĐN?
Câu 2: Công tác quản lý ảnh hưởng như thế nào đến sự thay đổi nhận thức và hành vi của CBGV, SV trong việc xây dựng văn hóa chất lượng ở Trường Đại học Sư phạm – ĐHĐN?
Câu 3: Hệ thống văn bản ảnh hưởng như thế nào đến sự thay đổi nhận thức và hành vi của CBGV, SV trong việc xây dựng văn hóa chất lượng ở Trường Đại học Sư phạm – ĐHĐN?
5.2 Giả thuyết nghiên cứu
H1: Nhân tố lãnh đạo có mối tương quan thuận với sự thay đổi nhận thức, thái độ, hành vi của CBGV và SV trong việc xây dựng văn hóa chất lượng
H2: Nhân tố công tác quản lý có mối tương quan thuận với sự thay đổi nhận thức, thái độ, hành vi của CBGV và SV trong việc xây dựng văn hóa chất lượng
H3: Nhân tố hệ thống văn bản có mối tương quan thuận với sự thay đổi nhận thức, thái độ, hành vi của CBGV và SV trong việc xây dựng văn hóa
chất lượng
6 Đối tƣợng và khách thể nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: các yếu tố ảnh hưởng tới việc xây dựng văn hóa chất lượng ở trường Đại học Sư phạm - ĐHĐN
- Khách thể nghiên cứu: Lãnh đạo, cán bộ quản lý, giảng viên, sinh viên và cán bộ, nhân viên Trường Đại học Sư phạm – ĐHĐN
Trang 1515
7 Phạm vi khảo sát
Nghiên cứu đối với Ban Giám hiệu, lãnh đạo các Phòng, Tổ trực thuộc, cán bộ quản lý, Ban chủ nhiệm các khoa và SV trường Đại học Sư phạm – ĐHĐN
Trang 1616
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU
VỀ VĂN HÓA CHẤT LƯỢNG
1.1 Lịch sử các vấn đề nghiên cứu về văn hóa chất lượng
1.1.1 Văn hóa chất lượng và xây dựng văn hóa chất lượng
Bản báo cáo (EUA 2006, tr 11) lưu ý rằng hầu hết các nhóm tư vấn sử dụng quan niệm “văn hóa chất lượng” để biểu dương các hoạt động có chất lượng cao và mang tính chất lâu dài, bền vững Trong bài nghiên cứu của EUA, chỉ có mạng lưới các dịch vụ hỗ trợ SV là phù hợp với định nghĩa văn hóa chất lượng chính thức, là môi trường tổ chức mà ở đó các nhóm làm việc với nhau để xác định những công việc cụ thể của họ
Một quan niệm khác cho rằng khái niệm văn hóa chất lượng nặng về các tham vọng chính trị nhằm thay đổi cách các cơ sở đào tạo hoạt động và cách họ thể hiện chức năng cơ bản của mình hơn Theo quan điểm này, văn hóa chất lượng là một công cụ nhằm chuẩn bị cho các cơ sở đào tạo có được sự tự chủ, cả cách họ nắm bắt các nhu cầu từ bên ngoài, và sự phát triển các giá trị bên trong trong quản trị Như thế, văn hóa chất lượng, thực tế, là mọi thứ đối với mọi người Và cũng như thế, khái niệm văn hóa chất lượng của EUA thì không thể áp dụng chung cho tất cả các cơ sở đào tạo vì mỗi cơ sở có rất nhiều đặc trưng và mục tiêu khác nhau
Theo một quan điểm khác, văn hóa chất lượng được xem chủ yếu như là phương tiện nhằm quản lý việc xem xét và đánh giá Trường Đại học Uludag (2002) cho rằng văn hóa chất lượng là một khái niệm đa chiều phụ thuộc vào bối cảnh mang tính ngữ cảnh nhằm hướng đến đạt được sự xuất sắc trong giáo dục gắn với tầm nhìn
và sứ mạng của từng chương trình cụ thể cũng như của từng trường đại học Trường Đại học Uludag tin rằng sự thành lập và quản lý quy trình chất lượng liên tục, kiểm soát, đánh giá và cải tiến chính nó là điều cốt lõi tạo và duy trì văn hóa chất lượng
Ở Việt Nam các nghiên cứu về văn hóa chất lượng chủ yếu mang tính chất nghiên cứu, tìm hiểu, định hướng xây dựng chứ chưa có nghiên cứu nào thực sự đi
Trang 1717
sâu vào việc tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng, đánh giá tác động của văn hóa chất lượng đến chất lượng giáo dục hay tác động của các yếu tố đến việc xây dựng văn hóa chất lượng Các nghiên cứu chỉ dừng lại ở các bài báo hoặc báo cáo tại các hội nghị hội thảo chuyên đề Số lượng trường ĐH tại Việt Nam triển khai xây dựng văn hóa chất lượng tại đơn vị mình cũng không nhiều Có thể liệt kê một số nghiên cứu của một số tác giả về vấn đề này:
Theo tác giả Huỳnh Văn Thông (2006) kiểm định chất lượng chỉ có giá trị khi
mà các cơ sở GDĐH thật sự mong muốn nắm bắt rõ ràng một cách thường xuyên hình ảnh chất lượng của đơn vị mình để thực hiện cải tiến liên tục Cơ quan quản lý nhà nước về GDĐH của mỗi quốc gia cũng phải quan niệm kiểm định chất lượng chỉ là một công cụ tác động để xây dựng văn hoá chất lượng cho các cơ sở GDĐH Đằng sau câu chuyện kiểm định chất lượng phải là văn hoá chất lượng Kết quả kiểm định chỉ nên hiểu là “ảnh chụp” tại một thời điểm cụ thể cuả văn hoá chất lượng ở từng cơ sở GDĐH Hướng đến phát triển nhận thức tự thân cuả các cơ sở GDĐH và xây dựng văn hoá chất lượng cho các cơ sở GDĐH mới là mục tiêu đích thực cuả câu chuyện kiểm định chất lượng
Trong nghiên cứu về quản lý chất lượng tổng thể tác giả Bùi Thị Thu Hương (2009) nhận định về việc xây dựng văn hóa chất lượng như sau: Khi xây dựng hệ thống quản lý chất lượng đào tạo trong trường ĐH theo cách tiếp cận quản lý chất lượng tổng thể (TQM) -Total quality managerment chúng ta nhận thấy “Văn hoá chất lượng” là một vấn đề quan trọng cần triển khai đồng thời Mục tiêu của “Văn hoá chất lượng” là giúp cho mọi người thấu hiểu ý nghĩa của những việc cần làm và
cố gắng làm mọi việc đúng ngay từ đầu và đúng vào mọi thời điểm, điều này phù hợp với bản chất của TQM Mặt khác, xây dựng được “Văn hoá chất lượng” đồng nghĩa với việc mọi thành viên, mọi tổ chức đều biết công việc của mình theo kế hoạch sẽ được cải tiến và nâng cao chất lượng như thế nào, đều tham gia thực hiện mục tiêu kế hoạch ấy một cách chủ động và tự giác; đồng thời tham gia một cách đầy đủ vào quá trình xây dựng hệ thống quản lý chất lượng, mà mục tiêu của TQM
Trang 18“hiệu chỉnh” sự phát triển “nét riêng” của nó Việc đánh giá “nét riêng” được dựa vào những gì người ta nói và làm Cả hai phương diện này rất quan trọng đối với sự
ăn sâu bám rễ của văn hoá chất lượng vào một trường ĐH
Theo nhận định của tác giả Đỗ Diên (2011) chất lượng giáo dục được đảm bảo khi có sự tham gia của tất cả các thành viên, các tổ chức ở tất cả mọi lĩnh vực hoạt động, mọi quá trình và được cải tiến liên tục, nghĩa là khi “văn hóa chất lượng” được xây dựng và phát triển trong nhà trường Các bước để triển khai văn hóa chất lượng là: Xác lập chuẩn chất lượng, Phổ biến tuyên truyền, triển khai thực hiện, KTĐG, công khai thông tin, điều chỉnh bổ sung Quy trình này mang tính tuần hoàn
1.1.2 Các yếu tố cấu thành và ảnh hưởng đến việc xây dựng văn hóa chất lượng
Hiệp hội các trường Đại học châu Âu (EUA) cho rằng văn hóa chất lượng được xem xét dựa trên 02 yếu tố khác nhau Yếu tố thứ nhất của văn hóa chất lượng là một tập hợp các giá trị, các niềm tin, những mong đợi hướng đến chất lượng Yếu tố thứ hai, yếu tố quản lý/cơ cấu có các quy trình đảm bảo chất lượng và các nỗ lực hợp tác được xác định từ trước (EUA 2006, tr 10)
Khi nghiên cứu về các yếu tố cấu thành văn hóa chất lượng của một tổ chức: Davison (2005) cho rằng văn hóa chất lượng của một tổ chức được thể hiện qua 8 yếu
tố sau: Cam kết và thể hiện thực tế của lãnh đạo đối với các hoạt động chất lượng;
Trang 1919
Cách thức làm việc nhóm; Sự tham gia và trao quyền cho các thành viên của tổ chức; Tập trung vào khách hàng; Giao tiếp cởi mở, thân thiện; Quan hệ đối tác hiệu quả; Tinh thần sáng tạo và học hỏi; Tập trung vào quá trình Văn hoá chất lượng là một tổng thể, bao gồm 8 yếu tố cấu thành nêu trên và quan hệ biện chứng với nhau để tạo nên nét văn hoá và khẳng định vị thế của một tổ chức
Nhóm tác giả Lê Đức Ngọc, Trịnh Thị Vũ Lê và Nguyễn Thị Ngọc Xuân (2011) lại nhìn nhận việc xây dựng văn hóa chất lượng là xây dựng các môi trường
mà các thành phần trong các môi trường hoạt động chính là các giá trị mang định hướng cho các hoạt động có chất lượng và phát triển chất lượng được cộng đồng của cở sở GDĐH đó đồng thuận xây dựng và thực hiện Có 5 loại môi trường của văn hóa chất lượng: môi trường học thuật, môi trường xã hội, môi trường nhân văn, môi trường văn hóa, môi trường tự nhiên
Theo Richard Lewis (2012) những rào cản có thể gặp phải khi phát triển văn hóa chất lượng là: Sự kiểm soát mạnh mẽ từ bên ngoài; sự quản trị mạnh mẽ từ bên trong; đội ngũ cán bộ, nhân viên không tham gia bởi họ không được phép tham gia,
họ không muốn tham gia hoặc họ không được khuyến khích tham gia; các SV ít tham gia vào hoạt động này, do có thể họ không coi họ là một phần của cộng đồng nhà trường
Một nghiên cứu khác của tác giả Phan Minh Nhật (2011) về môi trường hình thành văn hóa chất lượng, tác giả cho rằng: trong quá trình làm việc, nhận thức làm việc có chất lượng là rất quan trọng Mỗi khâu trong quá trình vận hành đều có tầm quan trọng Hay nói một cách khác, mỗi cá nhân đều phải tự ý thức làm việc có chất lượng trong sự vận hành chung của của toàn đơn vị Từ đó, qua sự chỉ đạo, kiểm tra, giám sát sẽ hình thành một thói quen, một môi trường làm việc có chất lượng, và trong môi trường đó, người ta đặt ra một mục tiêu chất lượng phù hợp với bối cảnh
và tầm vóc đơn vị Đây là một môi trường làm việc lý tưởng để hình thành văn hóa chất lượng Và môi trường làm việc này cần đảm bảo các yếu tố: Tính bền vững, tính phổ biến, tính kế thừa
Trang 2020
Theo nghiên cứu của tác giả Ngô Doãn Đãi (2012) những thách thức chủ yếu đối với các trường ĐH Việt Nam trong việc xây dựng và phát triển văn hóa chất lượng là nhận thức hạn chế của đội ngũ cán bộ quản lý các cấp về vấn đề quản lý chất lượng Cụ thể là hạn chế trong nhận thức hai vấn đề quan trọng trong công tác quản lý GDĐH đó là quyền tự chủ và trách nhiệm giải trình và hạn chế trong nhận thức của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các trường ĐH về vấn đề đảm bảo chất lượng và kiểm định chất lượng
Các công trình này chủ yếu dừng lại ở mức độ tìm hiểu một vài khía cạnh của văn hóa chất lượng, chưa có công trình nghiên cứu nào đi vào đánh giá vai trò các động của các yếu tố ảnh hưởng tới văn hóa chất lượng ở một cơ sở giáo dục đại học cụ thể
1.2 Một số vấn đề lý luận cơ bản
1.2.1 Chất lƣợng giáo dục
Từ trước tới nay cụm từ nhất lượng giáo dục đã được đề cập rất nhiều trên các phương tiện thông tin đại chúng, trong hoạt động chuyên môn của ngành giáo dục và cũng gây tranh cãi nhiều trong dư luận - xã hội Thế nhưng, hiện nay chúng ta vẫn chưa có một định nghĩa nào thật hoàn chỉnh
Từ cách nhìn khác nhau, mỗi nhóm người hay mỗi người cũng có thể có nhiều cách hiểu khác nhau về chất lượng giáo dục Chẳng hạn như: giáo viên đánh giá chất lượng học tập bằng mức độ mà học sinh nắm vững các kiến thức kỹ năng, phương pháp và thái độ học tập của cá nhân Học sinh có thể đánh giá chất lượng học tập bằng việc nắm vững kiến thức và vận dụng vào thực hành các bài tập, bài kiểm tra, bài thi Cha mẹ học sinh đánh giá chất lượng bằng điểm số kiểm tra - thi, xếp loại Người sử dụng sản phẩm đào tạo thì đánh giá chất lượng bằng khả năng hoàn thành nhiệm vụ được giao, khả năng thích ứng với môi trường
Theo cách tiếp cận của Ball (1985), Reynolds (1986), HMI (1989) và Crawford (1991) thì chất lượng được hiểu là phù hợp với mục tiêu Khái niệm
Trang 2121
này rất xa lạ với ý tưởng chất lượng là cái gì đó đặc biệt, nổi trội, dành cho những sinh viên ưu tú hay khó đạt được Nó là một định nghĩa mang tính chức năng hơn là mang tính loại trừ Một sản phẩm được coi là đạt chất lượng nếu nó thực hiện mục tiêu mà nó đề ra Thay vì mang tính loại trừ, quan niệm này mang tính bao hàm trong đó mỗi sản phẩm hay dịch vụ có khả năng đạt được mục tiêu đều được coi là chất lượng
Theo tác giả Nguyễn Văn Đản (2005) chất lượng giáo dục là những lợi ích, giá trị mà kết quả học tập đem lại cho cá nhân và xã hội, trước mắt và lâu dài Khái niệm trên được đúc kết từ nhiều góc độ khác nhau Dưới góc độ quản lý chất lượng, thì chất lượng giáo dục là học sinh vừa cần phải nắm được các kiến thức kỹ năng, phương pháp chuẩn mực thái độ sau một quá trình học; đáp ứng được các yêu cầu khi lên lớp, chuyển cấp, vào học nghề hay đi vào cuộc sống lao động
Còn với góc độ giáo dục học thì chất lượng giáo dục được giới hạn trong phạm vi đánh giá sự phát triển của cá nhân sau quá trình học tập và sự phát triển xã hội khi họ tham gia vào các lĩnh vực hoạt động kinh tế sản xuất, chính trị - xã hội, văn hóa - thể thao
Nhìn từ mục tiêu giáo dục thì chất lượng giáo dục được quy về chất lượng hoạt động của người học Chất lượng đó phải đáp ứng được các yêu cầu
về mục tiêu của cá nhân và yêu cầu xã hội đặt ra cho giáo dục
Tác giả Tô Bá Trượng (2005) cho rằng chất lượng giáo dục là chất lượng con người được đào tạo từ các hoạt động giáo dục Chất lượng ở đây phải được hiểu theo hai mặt của một vấn đề: Phẩm chất của con người gắn liền với người đó, còn giá trị của con người thì phải gắn liền với đòi hỏi của xã hội Theo quan niệm hiện đại, chất lượng giáo dục phải bảo đảm hai thuộc tính cơ bản: tính toàn diện và tính phát triển
Trang 2222
Tác giả Bùi Mạnh Nhị (2005) nhận định về cách hiểu phổ biến hiện nay
về chất lượng giáo dục là sự đáp ứng mục tiêu đề ra của giáo dục: Chẳng hạn mục tiêu GDĐH toàn diện gồm có: phẩm chất công dân, lý tưởng, kỹ năng sống; tri thức (chuyên môn, xã hội, ngoại ngữ, tin học ) và khả năng cập nhật thông tin; giao tiếp, hợp tác; năng lực thích ứng với những thay đổi và khả năng thực hành, tổ chức và thực hiện công việc, khả năng tìm việc làm và tự tạo việc làm có ích cho bản thân và người khác Hoặc mục tiêu giáo dục là nhằm đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khỏe, thẩm mỹ và nghề nghiệp; trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc
và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Như vậy theo chúng tôi, định nghĩa “chất lượng giáo dục là sự phù hợp với mục tiêu” là một định nghĩa có thể được xem là phù hợp và được sử dụng xuyên suốt trong quá trình nghiên cứu đề tài này
cố chất lượng trong các tổ chức
Trong GDĐH, đảm bảo chất lượng được xác định như các hệ thống, chính sách, thủ tục, qui trình, hành động và thái độ được xác định từ trước
Trang 23Theo Freeman (1994 : 16), đảm bảo chất lượng là “một cách tiếp cận
mà công nghiệp sản xuất sử dụng nhằm đạt được chất lượng tốt nhất … Đảm bảo chất lượng là một cách tiếp cận có hệ thống nhằm xác định nhu cầu thị trường và điều chỉnh các phương thức làm việc nhằm đáp ứng được các nhu cầu đó” Với cách hiểu đó, đảm bảo chất lượng là một cách tiếp cận việc tổ chức công việc, nhằm đảm bảo:
- Sứ mạng và mục tiêu của tổ chức được phổ biến cho tất cả mọi người trong tổ chức biết một cách rõ ràng;
- Hệ thống mà theo đó công việc được lên kế hoạch và thực hiện một cách cẩn thận, rõ ràng và được truyền đạt đến tất cả mọi người;
- Tất cả mọi người đều biết rõ trách nhiệm của mình;
- Cái mà tổ chức cho là chất lượng đều được định nghĩa rõ ràng và có lưu trữ lại trong tài liệu của tổ chức;
- Có các hệ thống kiểm tra xem tất cả một việc có được tiến hành theo đúng kế hoạch không ; và khi có sự cố – đây là điều không thể tránh – thì có những cách thức đã được đồng ý từ trước để giải quyết
Những điều kiện và nguyên tắc cơ bản này đã được các trường ĐH phương Tây áp dụng trong những thập kỉ gần đây
Trang 2424
Trong GDĐH, chất lượng dạy và học thường được phát huy khi vấn đề chất lượng được mọi người trong một trường ĐH quan tâm như một vấn đề quan trọng của trường ĐH đó Đối với trường ĐH phương Tây, các nguyên tắc của Freeman (1994) có vẻ thích hợp, tuy nhiên, vấn đề thiếu hụt cơ sở vật chất
và các nguồn lực nhằm đảm bảo chất lượng cũng là các khó khăn quan trọng cho các trường ĐH của các nước đang phát triển
ISO định nghĩa đảm bảo chất lượng là: “tất cả các hoạt động có hoạch định hay có hệ thống cần thiết nhằm cung cấp sự đủ tự tin rằng một sản phẩm hay một dịch vụ là đáp ứng được các yêu cầu về chất lượng” Trong GDĐH, đảm bảo chất lượng được xem là “tổng số các cơ chế và qui trình được áp dụng nhằm đảm bảo chất lượng đã được định trước hoặc việc cải tiến chất lượng liên tục – bao gồm việc hoạch định, việc xác định, khuyến khích, đánh giá và kiểm soát chất lượng”
Không giống như kiểm soát chất lượng, đảm bảo chất lượng phải diễn ra trước và trong tiến trình sự kiện nhằm tránh lỗi và dựa rất nhiều vào việc trình bày công khai Mục đích đầu tiên của đảm bảo chất lượng là tránh các lỗi có thể có ngay từ đầu (Sallis, 1993) và trong quá trình tạo ra các sản phẩm
Một hệ thống đảm bảo chất lượng hiệu quả là là một hệ thống có thể học cách tránh, tìm ra và sửa các lỗi có thể xảy ra trong quá trình Nó được thiết kế nhằm hỗ trợ một tổ chức đạt được các mục tiêu đã được đề ra Freeman (1994 : 17) gọi đảm bảo chất lượng là một hệ thống học tập và tự sửa lỗi: “nó thay đổi
để thể hiện các nhu cầu đang thay đổi” Đảm bảo chất lượng vượt khỏi việc chỉ chấp nhận hay loại bỏ sản phẩm Người ta mong muốn rằng hệ thống này được thiết kế một cách mềm dẻo và dễ thay đổi theo môi trường đang không ngừng thay đổi Theo Freeman, để làm cho việc thay đổi được diễn ra thuận lợi hơn, cần thiết phải có việc sửa các lỗi trong một hệ thống đảm bảo chất lượng Có hai dạng lỗi: một dạng do con người gây ra và một dạng là do hệ thống đã lỗi
Trang 25Nếu không ý thức được tầm quan trọng của việc tạo cho mình phong cách làm việc có chất lượng thì sẽ tạo nên một hệ quả đáng lo ngại đó là “sức ỳ” trong khả năng sáng tạo và phát triển bản thân
Có rất nhiều quan điểm khác nhau về tính làm việc có chất lượng, nhưng tựu trung lại đều thống nhất rằng “làm việc có chất lượng được khẳng định bằng hiệu quả”
Có chất lượng bao gồm sự đồng bộ nhất quán từ ý tưởng đến cách thức thực hiện sao cho đạt được mục tiêu đề ra Đặt mục tiêu là 1 và thực hiện trọn vẹn được 1
Có chất lượng còn thể hiện qua tác phong làm việc nhanh nhạy, khoa học kết hợp với việc nắm vững về kiến thức chuyên môn
Trang 26Nói tới làm việc có chất lượng, người ta dễ tưởng là cái gì đó to tát Nhưng ngược lại, có chất lượng có khi được đánh giá ở những cái nhỏ nhặt đến không ngờ Đó có thể là “điện thoại đổ chuông ba tiếng phải nhấc máy”,
“lên lớp đúng giờ, nếu trễ vì bất kỳ lý do gì phải điện thoại báo”, “đi làm đúng giờ”, “biết cười với khách và học sinh, SV”, “không được phép mang sandal, dép lê, guốc, không mặc áo thun, áo quần lòe loẹt”
Ở một cơ sở giáo dục, làm việc có chất lượng được “đo” trên từng cán
bộ, GV Ở các cơ sở giáo dục danh tiếng đều chủ động xây dựng cho mình một “chuẩn mực chất lượng” và đòi hỏi cán bộ, GV phải tuân thủ Ở các cơ sở giáo dục của Việt Nam hiện nay, chúng ta cũng đang xây dựng các nội quy, quy định cho từng bộ phận trong đơn vị và yêu cầu cán bộ chấp hành theo đúng nội quy, quy định đó Một số trường đã tiến hành xây dựng các quy trình theo tiêu chuẩn ISO, nhằm đảm bảo các hoạt động được diễn ra theo đúng trình tự, khách quan và chính xác Quy trình trên tạo cho khách hàng và
SV yên tâm, tin tưởng khi làm việc với Nhà trường
Xét trên khía cạnh ngôn ngữ thì làm việc có chất lượng là một cụm từ
có ý nghĩa rất rộng, để cụ thể hoá Làm việc có chất lượng ra thành những hành động cụ thể tương ứng với mỗi vị trí công việc là cả một công trình nghiên cứu và ứng dụng Đối với mỗi ngành nghề, mỗi vị trí công tác sẽ có những cách hiểu khác nhau, chẳng hạn sự làm việc có chất lượng đối với những công việc của người bảo vệ sẽ khác với công việc của những người kế
Trang 27Nói tóm lại, người làm việc có chất lượng là: người hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, ngoài ra người đó phải luôn có tinh thần tìm tòi, học hỏi nhằm có thể cái tiến nâng cao chất lượng công việc mà mình được giao
1.2.4 Văn hóa chất lƣợng
Trong xu thế hội nhập toàn cầu, vấn đề chất lượng sản phẩm của các thành phần kinh tế xã hội ngày càng trở nên thiết yếu Chất lượng là một trong những tiêu chí hàng đầu trong một thế giới đầy cạnh tranh “Chất lượng” các sản phẩm giáo dục cũng đang thu hút sự quan tâm của các nhà tuyển dụng, người học, phụ huynh, các nhà hoạch định chính sách Trong thời gian gần đây, hệ thống Giáo dục đại học đang cố gắng thực hiện cơ chế
tự đảm bảo chất lượng Các hoạt động kiểm định chất lượng và tự đánh giá đang diễn ra sôi nổi trên phạm vi cả nước, thể hiện sự quan tâm của các cơ sở giáo dục đối với vấn đề “chất lượng” Qua đó, hoạch định hướng phát triển cho các cơ sở giáo dục, nhằm tăng cường năng lực cạnh tranh sản phẩm của
họ ở trong và ngoài nước
Một vấn đề đặt ra: ngoài việc tuân thủ các công thức “chất lượng” có sẵn được thiết kế bởi các chuyên gia bên ngoài; các trường đại học, cao đẳng cần quan tâm xây dựng hệ thống quản lý chất lượng được vận hành thường xuyên và liên tục trong chính trường của mình Đây sẽ là cơ sở quan trọng để
“chất lượng” trở thành phổ biến trong từng đơn vị, từng cá nhân thành viên của các trường Lúc này, một khái niệm mới được nhắc đến đó là “văn hoá
Trang 28a Khái niệm Văn hoá chất lƣợng
Các nhà nghiên cứu trên thế giới đã đưa ra nhiều quan điểm khác nhau
về định nghĩa Văn hoá chất lượng:
Hiệp hội các trường Đại học Châu Âu (The European Universities Association - EUA) cho rằng: Văn hóa chất lượng được xem xét dựa trên 02 yếu tố khác nhau:
- Yếu tố thứ nhất của VHCL là một tập hợp các giá trị, các niềm tin, những mong đợi hướng đến chất lượng
- Yếu tố thứ hai, yếu tố quản lý/cơ cấu có các quy trình đảm bảo chất lượng và các nỗ lực hợp tác được xác định từ trước (EUA 2006, tr 10)
Cũng theo EUA (2006), hai thành phần chính của văn hóa chất lượng là quản lý chất lượng và cam kết chất lượng
Quản lý chất lượng là một phần kỹ thuật của văn hóa chất lượng, bao gồm các công cụ và thủ tục cần thiết để đo lường, đánh giá, kiểm soát và
nâng cao chất lượng Cam kết chất lượng là một phần văn hóa của nền văn
hóa chất lượng Cam kết ở cả hai cấp độ cá nhân và ở cấp độ tổ chức là điều cần thiết cho việc tạo ra một nền văn hóa chất lượng, nhấn mạnh vào những điểm sau đây:
Trang 2929
Chiến lược, chính sách và lập kế hoạch
Cam kết của lãnh đạo cấp cao
Quyền sở hữu chất lượng của các thành viên trong tổ chức
Quá trình đánh giá nội bộ và vòng lặp thông tin phản hồi
Hợp tác với các bên liên quan bên ngoài
Chất lượng và số lượng đo lường chất lượng
Harvey (2007) đã xác định một số các tính năng phân biệt của một nền văn hóa chất lượng: quyền sở hữu chất lượng học tập, lấy SV làm trung tâm giảng dạy/học tập, chia sẻ kinh nghiệm; các thành viên trong tổ chức tự giác trong thực thi công vụ và phát huy các sáng kiến trong công việc nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả của nhiệm vụ được giao; sự chia sẻ trách nhiệm của tất cả các bên liên quan trong tổ chức
Theo quan điểm của trường Đại học Uludag (Thổ Nhĩ Kỳ): Văn hoá chất lượng là một khái niệm đa chiều phụ thuộc vào bối cảnh cụ thể, nhằm hướng đến đạt được sự xuất sắc trong tầm nhìn và sứ mạng của từng chương trình cụ thể cũng như của từng trường đại học Họ tin tưởng sự thành lập và quản lý quy trình chất lượng liên tục, sự kiểm soát, đánh giá và cải tiến chính
nó là cốt lõi tạo dựng và duy trì văn hoá chất lượng (Uludag University,
Trang 3030
3 Văn hoá chất lượng chính là môi trường chất lượng; là những gì được chắt lọc và đã thăng hoa thành giá trị trong quá trình hoạt động của nhà trường
* Theo cách hiểu 1&2, VHCL được hình thành “ngầm định” trong quá trình triển khai các hoạt động có liên quan đến chất lượng Các định nghĩa này cho ta thấy xây dựng VHCL có tính động, khó xây dựng, khó thống nhất và là quá trình “tự nhiên”
* Theo cách hiểu 3, VHCL có thể lượng hóa thông qua các thành phần của “môi trường chất lượng” và từ đó có thể xác định được các yếu tố tạo ra VHCL Vậy, VHCL là có thể xây dựng một cách có chủ đích, có các mốc dừng để đánh giá, để thay đổi và tạo nên các giá trị mới trong xây dựng VHCL của nhà trường
Vậy, để hiểu và xây dựng VHCL, một mặt cần phải tác động đến hiểu biết, qui định/tổ chức và các biện pháp quản lý; mặt khác phải tác động đến quan điểm, niềm tin về các giá trị của những người cùng tham gia tổ chức
b Các yếu tố thể hiện Văn hoá chất lƣợng
Theo Davison (2005) VHCL của một tổ chức được thể hiện qua 8 yếu tố sau:
1/ Cam kết và thể hiện thực tế của lãnh đạo đối với các hoạt động chất lượng;
2/ Cách thức làm việc nhóm;
3/ Sự tham gia và trao quyền cho các thành viên của tổ chức;
4/ Tập trung vào khách hàng;
5/ Giao tiếp cởi mở, thân thiện;
6/ Quan hệ đối tác hiệu quả;
7/ Tinh thần sáng tạo và học hỏi;
8/ Tập trung vào quá trình
Trang 3131
Văn hoá chất lượng là một tổng thể, bao gồm 8 yếu tố cấu thành nêu trên và quan hệ biện chứng với nhau để tạo nên nét văn hoá và khẳng định vị thế của một tổ chức
Tuy nhiên đối với tổ chức giáo dục nói chung và ở trường đại học nói riêng, theo chúng tôi văn hóa chất lượng được thể hiện qua các yếu tố sau:
- Cam kết và thể hiện thực tế của lãnh đạo đối với các hoạt động chất lượng: không thể có chất lượng hay văn hóa chất lượng trong nhà trường nếu lãnh đạo không hướng mục tiêu tới chất lượng và cam kết thực hiện nó
- Sự tham gia và trao quyền cho các thành viên trong nhà trường, nói cách khác là: tất cả mọi thành viên trong nhà trường đều có quyền tham gia vào các hoạt động của nhà trường từ xây dựng chính sách, chiến lược cho đến lập kế hoạch, thực hiện và giám sát quá trình hoạt động
- Tập trung vào khách hàng Để phân tích yếu tố này cần làm rõ khách hàng của trường đại học là ai và sản phẩm chúng ta tạo ra là gì? Quan niệm trước đây về giáo dục, sản phẩm đầu ra của một cơ sở giáo dục chính là người học, vậy khách hàng sẽ là người sử dụng lao động Tuy nhiên hiện nay chúng ta xác định lại rằng khách hàng của các trường đại học chính là SV và sản phẩm chúng ta tạo ra là cơ hội học tập, môi trường học tập, là kiến thức, kỹ năng SV được cung cấp, Vì vậy các chính sách, hoạt động của nhà trường cần xác định
rõ đối tượng thụ hưởng là người học và hướng tới sự hài lòng của người học
về các dịch vụ giáo dục tạo ra
- Giao tiếp cởi mở và thân thiện: Giao tiếp giữa lãnh đạo với nhân viên, giữa giảng viên với sinh viên, giữa cán bộ các phòng chức năng với giảng viên và sinh viên cần dân chủ, cởi mở và thân thiện
- Quan hệ đối tác hiệu quả: Đối tác của chúng ta chính là doanh nghiệp, là các
cơ sở sử dụng lao động do chúng ta đào tạo, là các cơ sở giáo dục trong và ngoài nước Trong xã hội toàn cầu hóa ngày nay, không đơn vị nào có thể
Trang 3232
hoạt động riêng lẻ, trường đại học có văn hóa chất lượng sẽ tạo được niềm tin
và cộng tác của các đối tác bên ngoài nhà trường, tạo điều kiện cho nhà trường phát triển
- Tinh thần sáng tạo và học hỏi: mọi thành viên trong nhà trường cần phải có
tư duy sáng tạo trong công việc và tinh thần học hỏi nhằm vận dụng tối đa các kiến thức bên ngoài hướng tới mục đích hoàn thành nhiệm vụ được giao một cách tốt nhất
c Xây dựng văn hoá chất lƣợng trong các cơ sở giáo dục ở Việt Nam Hiện nay, ở Việt Nam, khái niệm VHCL chỉ xuất hiện nhiều trong các
hội nghị, hội thảo và thảo luận của các nhà nghiên cứu, là cái mà các cơ sở đào tạo đang hướng đến Với quan điểm VHCL là sự hợp nhất/vận dụng chất lượng vào toàn bộ các hoạt động của hệ thống/ tổ chức nhằm tạo ra môi trường tích cực bên trong, dẫn đến sự hài lòng của những người hưởng lợi Qui trình xây dựng VHCL thường được bắt đầu chỉ khi các nhà quản lý hiểu được giá trị chất lượng trên quan điểm hệ thống và tin tưởng vào khả năng ứng dụng các giá trị đó vào hệ thống
Theo Trần Thu Thủy và Nguyễn Lương Lệ Chi (2009) hoạt động xây dựng văn hoá chất lượng đã được trường ĐHSP Kỹ thuật TP.HCM cụ thể hoá
và đề xuất 4 bước thực hiện như sau:
1/ Nâng cao nhận thức về chất lượng, đảm bảo chất lượng, quản lý chất lượng trong trường
2/ Xây dựng, thường xuyên xem xét đánh giá và điều chỉnh mục tiêu chất lượng, các chính sách (các qui trình, thủ tục, văn bản, biểu mẫu,….) cho phù hợp với thực tế và đặc biệt là phù hợp với nguồn lực của nhà trường 3/ Bồi dưỡng các kỹ năng, hoạt động chất lượng cho các thành viên trong nhà trường, đặc biệt chú trọng đến các thành viên mới (nhân viên, các cán bộ quản lý mới)
Trang 3333
4/ Xây dựng hệ thống đánh giá và công nhận các nỗ lực về chất lượng
Đại học Quốc gia Hà Nội là đơn vị đi tiên phong trong cả nước về triển khai xây dựng văn hóa chất lượng Đại học Quốc gia Hà Nội đã xác định rõ mục đích, các quan điểm tiếp cận, xây dựng lộ trình và giải pháp thực hiện bài bản, chi tiết
Theo hướng dẫn xây dựng và phát triển văn hóa chất lượng của Đại học Quốc gia Hà Nội (2011) việc xây dựng văn hóa chất lượng được cụ thể qua 7 bước như sau:
Bước 1 Tuyên truyền, phổ biến rộng rãi cho tất cả các bên liên quan hiểu đúng giá, ý nghĩa vài lợi ích do chất lượng giáo dục đem lại
Bước 2 Ban hành các quy chế, quy định về đảm bảo chất lượng giáo dục trong đơn vị (bao gồm cả việc thực hiện qui trình ISO trong đơn vị)
Bước 3 Hướng dẫn, tập huấn để triển khai các quy chế, quy định về đảm bảo chất lượng giáo dục trong đơn vị
Bước 4 Tổ chức việc ký cam kết và triển khai thực hiện các nội dung cam kết văn hóa chất lượng trong toàn đơn vị cho cán bộ lãnh đạo, cán bộ quản lý, giảng viên, nhân viên và người học
Bước 5 Triển khai kiểm tra, giám sát định kỳ, chú trọng các đánh giá
từ bên ngoài, để phát hiện những mặt tích cực và những điểm còn hạn chế, những điển hình tiêu biểu của đơn vị trong các hoạt động đảm bảo, đánh giá
và kiểm định chất lượng
Bước 6 Thực hiện báo cáo sơ kết mỗi học kỳ, báo cáo tổng kết cuối năm học trong báo cáo cần nêu rõ những điển hình tiêu biểu để phổ biến và nhân rộng đồng thời chỉ ra những hoạt động chưa hoặc không đảm bảo chất lượng để kịp thời có biện pháp cải tiến chất lượng
Trang 3434
Bước 7 Lặp lại chu trình này từ bước 1 đến bước 7 để củng cố và tăng hiệu quả của những thành tựu đã đạt được, tạo thành thới quen làm việc có chất lượng
Đến nay, có rất ít các trường xây dựng được cách tiếp cận riêng về chất lượng, vừa đáp ứng được yêu cầu chung về chất lượng của toàn hệ thống, vừa theo đuổi thực hiện những định hướng riêng về chất lượng
Để xây dựng văn hoá chất lượng, chúng ta cần thay đổi cách thức hoạt động Khi có được văn hoá chất lượng, cơ sở đào tạo sẽ đạt được những mục tiêu chất lượng mong muốn trên cơ sở phát huy nội lực của mình
d Các yếu tố ảnh hưởng đến việc xây dựng văn hóa chất lượng
Có rất nhiều nghiên cứu trên thế giới và ở Việt Nam về các yếu tố tạo nên văn hóa chất lượng ở một cơ sở giáo dục; Qua nghiên cứu và tổng hợp của tác giả Nguyễn Thị Ngọc Xuân (2012) thì nền văn hóa chất lượng được cấu thành bởi các yếu tố sau đây:
Văn hóa nổi
Thực hiện quy trình công khai, dân chủ
Fazal Wahab (2010) mô tả ngắn gọn về tất cả các bên liên quan và sự đóng góp của họ đối với việc thiết lập một nền văn hóa chất lượng như sau:
Trang 3535
* Các bên liên quan nội bộ
Giảng viên: cung cấp mối liên kết giữa quản lý và sinh viên của nhà
trường Giảng viên thực hiện chính sách chất lượng thông qua chất lượng giảng dạy và nghiên cứu, sự tương tác giữa giảng viên và sinh viên diễn ra hiệu quả sẽ giúp cho quá trình đánh giá kết quả học tập của sinh viên tốt hơn Giảng viên cũng đóng vai trò quan trọng trong việc thiết kế và sửa đổi chương trình giảng dạy Giảng viên cam kết và thực hiện chính sách chất lượng, sự hợp tác của giảng viên trong việc thực hiện các biện pháp nâng cao chất lượng đào tạo là điều kiện cần thiết để hình thành các các yếu tố chất lượng cơ bản
Để đạt được điều này nhà trường cần phải tạo điều kiện và môi trường thuận lợi nhất để giảng viên có thể hoàn thành các chức năng nhiệm vụ của mình
Sinh viên: Sự đóng góp của học sinh trong vấn đề nâng cao chất lượng
ở trường đại học thường bị bỏ quên Chúng ta phải các định rằng sinh viên đóng vai trò trung tâm trong sự phát triển của văn hóa chất lượng trong trường đại học Sinh viên có thể góp phần tạo ra chất lượng qua nhiều cách khác nhau Việc sinh viên tham gia đánh giá và phản hồi có thể giúp chúng ta tìm
ra các phương pháp cải thiện cơ sở hạ tầng, thể chế, giảng dạy, môi trường học tập và chương trình giảng dạy Hơn nữa, sinh viên có thể mang lại những
ý tưởng mới để nâng cao chất lượng giảng dạy và nghiên cứu Theo để Bruset
al (2007), "khái niệm đảm bảo chất lượng và văn hóa chất lượng đòi hỏi sinh viên phải được được chấp nhận là đối tác đầy đủ và bình đẳng "
Lãnh đạo: là nhân tố chịu trách nhiệm chính trong việc hỗ trợ để tạo ra
và duy trì chất lượng trong nhà trường Người lãnh đạo cần phải được đảm bảo đủ thời gian, nhân lực và các điều kiện cần thiết cho việc lập kế hoạch, điều hành và thực hiện văn hóa chất lượng Người lãnh đạo đóng vai trò hàng đầu trong việc truyền cảm hứng tới các đối tượng trong nhà trường thực hiện văn hoá chất lượng
Trang 3636
Lãnh đạo đóng một vai trò quan trọng trong hoạch định chính sách, xây dựng tầm nhìn, phê duyệt kế hoạch để tạo ra một môi trường học tập/giảng dạy hiệu quả trong trường đại học Lãnh đạo sẽ là người chịu trách nhiệm tổ chức và hướng dẫn việc thực hiện văn hóa chất lượng trong nhà trường Lãnh đạo chịu trách nhiệm trong việc vận hành sự hoạt động của cả hệ thống nàh trường Họ triển khai các giá trị và mục tiêu thông qua các hoàn thành thành công và đạt được hiệu quả Lãnh đạo được coi là một trong các bên liên quan quan trọng nhất để tạo điều kiện thuận lợi cho nhóm học tập để tạo ra một chất lượng học tập, và môi trường không quan liêu
Quản lý: quản lý đóng vai trò như một cầu nối giữa lãnh đạo và giảng
viên Họ có trách nhiệm đưa ra các khuyến nghị quản lý trên một loạt các quyết định nguồn nhân lực như nhóm phát triển, kỷ luật, nhiệm kỳ, lập kế hoạch, kiểm soát tài chính, quản lý ngân sách và dự toán Nhiệm vụ của họ là lập kế hoạch chiến lược cho giảng viên, bối cảnh của kế hoạch tổng thể của trường đại học và thực hiện chính sách của trường đại học Các hoạt động liên quan đến việc xác lập, theo dõi, bảo trì các hoạt động, sửa đổi các chương trình, giáo trình, các vấn đề xử lý liên quan đến sinh viên Mục đích chính của quản lý là đưa kế hoạch ra khỏi bàn và thực hiện nó
Vai trò của quản lý trong nền văn hóa chất lượng cần được thúc đẩy và
hỗ trợ Họ cần tham gia vào việc cải thiện môi trường làm việc cho giảng viên, sinh viên và nhân viên Họ cũng nên kết hợp và cân bằng từ trên xuống
và từ dưới lên hỗ trợ
Nhân viên hỗ trợ: là những người trực tiếp thực hiện các nhiệm vụ do
quản lý triển khai Họ rất hữu ích trong việc cung cấp các hoạt động hỗ trợ cho giảng viên, quản lý và sinh viên
Thông tin phản hồi của họ là vô cùng quan trọng để đánh giá kế hoạch,
lộ trình và quy trình Họ được coi là các bên liên quan quan trọng trong việc
Trang 3737
tạo ra văn hóa chất lượng trong trường đại học Họ đóng góp đáng kể trong bối cảnh cung cấp hỗ trợ và phản hồi mạnh mẽ tại thời điểm đánh giá Họ cũng có vai trò quan trọng trong giảng dạy và học tập, các hoạt động cụ thể triển khai trong thư viện và phòng thí nghiệm và các khu vực an ninh của trường Vai trò của nhân viên hỗ trợ phải được nhấn mạnh nhằm khẳng định rằng mức độ tôn trọng đối với nhân viên hỗ trợ phải được tăng lên để cải thiện quyền sở hữu và tinh thần đồng đội
* Các bên liên quan bên ngoài
Cộng đồng: Giáo dục đại học đóng một vai trò quan trọng trong phát
triển cộng đồng Trường đại học tạo ra kiến thức và tạo ra lực lượng lao động
có tay nghề cao cho cộng đồng Trường đại học cần tạo ra và phát triển mối quan hệ đối tác với cộng đồng thông qua giảng viên và sinh viên Cộng đồng nên được hưởng lợi bởi các dự án nghiên cứu của trường đại học Trên thực
tế, phục vụ cộng đồng nên là một phần quan trọng của văn hóa học tập của trường đại học Điều này sẽ ảnh hưởng tích cực đến giảng dạy, chương trình giảng dạy và các tiêu chuẩn nghiên cứu của trường đại học
Cựu sinh viên: Cựu sinh viên là một yếu tố quan trọng trong việc thu
thập thông tin phản hồi, họ đóng vai trò quan trọng trong hoạch định chính sách trong tương lai, tạo điều kiện việc làm tốt hơn cho sinh viên tốt nghiệp trong tương lai, nâng cao uy tín của trường đại học và cải thiện các quy trình, thủ tục Do đó, trường đại học phải cung cấp cho họ một cảm giác vinh dự như là một đại sứ thiện chí của trường đại học
Doanh nghiệp, đơn vị sử dụng lao động: quan hệ đối tác với doanh
nghiệp và các đơn vị sử dụng lao động mang lại nhiều lợi ích cho trường đại học Chất lượng sinh viên tốt nghiệp trực tiếp ảnh hưởng đến tỷ lệ việc làm sinh viên tốt nghiệp Tỷ lệ việc làm thấp của sinh viên tốt nghiệp là một chỉ số
về chất lượng kém của sinh viên và có thể được báo động cho trường đại học
Trang 3838
Người sử dụng lao động có thể cung cấp nguồn thông tin có giá trị từ góc nhìn bên ngoài, từ đó đưa ra yêu cầu về cập nhật chương trình giảng dạy học tập Do đó, giữ mối quan hệ đối tác chặt chẽ với doanh nghiệp và đơn vị sử dụng lao động cần được duy trì và hết sức quan tâm
Cha mẹ: Tất cả các phụ huynh hết sức quan tâm đến chất lượng giáo
dục dành cho con cái của họ Tại Việt Nam, hầu hết các sinh viên được tài trợ bởi cha mẹ của họ và họ muốn con cái họ được cung cấp các dịch vụ giáo dục
có chất lượng
Cha mẹ muốn con của họ hoàn thành chương trình, trở thành con người được kính trọng trong xã hội và là trụ cột của gia đình càng sớm càng càng tốt Cảm giác này của cha mẹ có giá trị cao trong các khuôn khổ này
Tổ chức quản lý bên ngoài nhà trường như Bộ chủ quản, các cơ quan
quản lý cấp trên, các cơ quan giám sát, đánh giá… cũng đóng vai trò quan trọng trong các hoạt động của trường đại học Tại Việt Nam, trường đại học xây dựng chính sách dựa trên hướng dẫn và khuyến nghị của các tổ chức này Ngoài ra, hoạt động của trường đại học cũng chịu tác động từ hoạt động của các trường đại học khác trong hệ thống
Theo tôi việc xây dựng văn hóa chất lượng tại một cơ sở giáo dục sẽ chịu ảnh hưởng của các yếu tố và nhóm yếu tố sau:
- Cơ chế, chính sách cấp vĩ mô của Nhà nước và của ngành giáo dục: Cơ chế chính sách của nhà nước đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc định hướng đi cho các cơ sở giáo dục thành viên Các chính sách này phải được cụ thể hóa bằng luật và có sự chỉ đạo thống nhất từ trên xuống dưới về việc thực hiện Hiện nay, Luật giáo dục đại học (2012) đac được ban hành Hoạt động đảm bảo chất lượng giáo dục và xây dựng văn hóa chất lượng đã được đưa vào luật, tuy nhiên mục tiêu, chiến lược và kế hoạch thực hiện lâu dài lại chưa được cụ thể hóa Đây chính là nguyên nhân vấn đề đảm bảo chất lượng và xây
Trang 39- Công tác quản lý: giúp cụ thể hóa các mục tiêu chiến lược mà lãnh đạo
đề ra; đưa các mục tiêu, chiến lược phát triển đến từng thành viên trong đơn
vị Công tác quản lý giám sát quá trình xây dựng văn hóa chất lượng và đảm bảo quá trình này diễn ra theo đúng mục tiêu, chiến lược đề ra
- Truyền thống, văn hóa của đơn vị: Đây là yếu tố tác động gián tiếp tới quá trình xây dựng văn hóa chất lượng Tuy nhiên nó lại đóng vai trò là nền tảng, là điểm tựa cho mọi thành viên trong đơn vị trong quyết tâm xây dựng văn hóa chất lượng
- Đội ngũ cán bộ, giảng viên và sinh viên: Là những con người trực tiếp tham gia vào quá trình xây dựng và phát triển văn hóa chất lượng tại đơn vị
Sự quyết tâm, đồng lòng, đoàn kết của các cá nhân trong đơn vị là chìa khóa trong sự thành công của mọi mục tiêu, chiến lược của đơn vị Có thể nói đây chính là yếu tố quan trọng nhất và có tác động lớn nhất tới sự phát triển của đơn vị Đội ngũ cán bộ, giảng viên có trình độ chuyên môn, ý thức chính trị cao; Sinh viên có kiến thức, kỹ năng, phẩm chất tốt sẽ góp phần lớn vào thành công chung của đơn vị Ngược lại, đội ngũ cán bộ, giảng viên, sinh viên không đáp ứng được các yêu cầu chuyên môn hay phẩm chất đạo đức chính trị kém thì chắc chắn đơn vị đó sẽ không thể nào phát triển được
- Các yếu tố ngoại cảnh bên ngoài như: thể chế chính trị, văn hóa dân tộc, nền kinh tế, sự ủng của các tổ chức và cá nhân bên ngoài nhà trường cũng
Trang 4040
ảnh hưởng không nhỏ tới việc xây dựng văn hóa chất lượng Đây không phải
là các yếu tố quyết định nhưng cũng đóng vai trò khá lớn trong việc xây dựng thành công văn hóa chất lượng
1.2.5 Một số vấn đề về lãnh đạo và quản lý
Theo nghiên cứu của Đỗ Quốc Sam (2007) về lãnh đạo và quản lý, có thể khái quát một số nét tương đồng cũng như khác biệt giữa hai khái niệm như sau:
a Phân biệt Lãnh đạo và quản lý
Một tổ chức muốn thành công phải có sự phân công vị trí, vai trò cụ thể
và rõ ràng Đa số những vai trò này đều dễ dàng xác định và phân biệt rõ nhưng có những vai trò rất khó để phân biệt như vị trí người lãnh đạo và nhà quản lý
Ở một số tổ chức, người lãnh đạo cũng chính là người quản lý, nhưng
có những tổ chức thì hai vị trí này được tách bạch Vì thế, đôi khi có những người có thể là một lãnh đạo tồi nhưng lại là một quản lý xuất sắc hay ngược lại
Lãnh đạo là chỉ đường, vạch lối, nhìn xa trông rộng, hướng tới mục tiêu cuối cùng, còn quản lý là tổ chức và điều khiển các hoạt động theo các yêu cầu đó Lãnh đạo là đề ra chủ trương, đường lối, nguyên lý, sách lược, còn quản lý là tổ chức thực hiện Lãnh đạo quan tâm đến những vấn đề chiến lược, những mục tiêu lâu dài, còn quản lý chú trọng những yêu cầu có tính chiến thuật, mục tiêu cụ thể và thường là ngắn hạn Lãnh đạo có thể gắn với các khía cạnh trừu tượng của cuộc sống, còn quản lý thường phải xử lý những vấn đề rất thực tế Lãnh đạo thuộc lĩnh vực chính trị, người lãnh đạo
là nhà chính trị, còn quản lý thuộc lĩnh vực hành chính, người làm quản lý
là những “nhà hành chính”
Lãnh đạo dùng biện pháp động viên, thuyết phục, gây ảnh hưởng dựa