1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TÌM HIỂU TƯ TƯỞNG HỒCHÍ MINH VỀ QUỐC PHÒNG TOÀN DÂN VÀ THỰC TRẠNG XÂY DỰNG Ý THỨC BẢO VỆ TỔQUỐC XÃ HỘI CHỦ NGHĨA CHO THANH, THIẾU NIÊN TỈNH AN GIANG TỪNĂM 2006 ĐẾN NAY

91 1,3K 4
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh về quốc phòng toàn dân và thực trạng xây dựng ý thức bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa cho thanh, thiếu niên tỉnh An Giang từ năm 2006 đến nay
Tác giả Nguyễn Thanh Lam
Người hướng dẫn Th.S. Bùi Thu Hằng
Trường học Trường Đại Học An Giang
Chuyên ngành Sư phạm Giáo dục chính trị
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2010
Thành phố An Giang
Định dạng
Số trang 91
Dung lượng 0,93 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chủ tịch Hồ Chí Minh người sáng lập và rèn luyện Đảng cộng sản Việt Nam

Trang 1

KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

- -

NGUYỄN THANH LAM

TÌM HIỂU TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

VỀ QUỐC PHÒNG TOÀN DÂN VÀ THỰC TRẠNG

XÂY DỰNG Ý THỨC BẢO VỆ TỔ QUỐC XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

CHO THANH, THIẾU NIÊN TỈNH AN GIANG

TỪ NĂM 2006 ĐẾN NAY

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Khóa học: 2006 - 2010

An Giang, 2010

Trang 2

KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

- -

NGUYỄN THANH LAM

LỚP DH7CT

TÌM HIỂU TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

VỀ QUỐC PHÒNG TOÀN DÂN VÀ THỰC TRẠNG XÂY DỰNG Ý THỨC BẢO VỆ TỔ QUỐC XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

CHO THANH, THIẾU NIÊN TỈNH AN GIANG

TỪ NĂM 2006 ĐẾN NAY

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Khóa học: 2006 - 2010

Ngành học: Sư phạm Giáo dục chính trị GVHD: TH.S BÙI THU HẰNG

An Giang, 2010

Trang 3

Bốn năm Đại học không phải là thời gian ngắn ngủi để gia đình dõi theo

từng bước chân của con, cháu mới chập chững bước vào đời, nhưng đó cũng

không phải là thời gian dài cho chúng ta tiếp thu và học hỏi nhiều điều, vì thế

mà bên cạnh những giờ học chính khóa còn đòi hỏi người sinh viên phải

không ngừng tự học, tự nghiên cứu để tích lũy cho mình nhiều hơn những

kiến thức đã được học Điều đó tạo điều kiện thuận lợi hơn cho em khi làm

khóa luận tốt nghiệp cuối khóa, nó được xem như là “cuộc tổng diễn tập”, mà

cuộc tổng diễn tập này cũng cần có người chỉ huy, điều hành; mật trận này người điều hành không ai khác đó là cô hướng dẫn của em, Thạc sĩ Bùi Thu

Hằng

Để hoàn thành được khóa luận em đã nhận được sự quan tâm, chỉ dẫn

và giúp đỡ nhiệt tình của cô Hằng, em xin chân thành cảm ơn cô Ngoài ra,

em xin chân thành gửi lời cảm ơn tới Ban Giám Hiệu, Ban Chủ nhiệm khoa

đã tạo điều kiện cho chúng em được nghiên cứu, viết đề tài tốt nghiệp, cảm

ơn các cơ quan: Bộ chỉ huy quân sự tỉnh An Giang, Tỉnh Đoàn An Giang, Ban tuyên giáo tỉnh An Giang, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh An Giang,…

đã tạo điều kiện cho em thu thập tài liệu, cảm ơn các bạn bè và người thân đã

động viên em trong suốt thời gian em làm khóa luận tốt nghiệp

Trang 4

Trang

Phần mở đầu 01

1 Lí do chọn đề tài 01

2 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 02

3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 03

4 Phương pháp nghiên cứu 03

5 Đóng góp của khóa luận 03

6 Dàn ý của khóa luận 03

Phần nội dung 05

CHƯƠNG 1: TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ QUỐC PHÒNG TOÀN DÂN 1.1 Khái niệm quốc phòng toàn dân 05

1.2 Cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về quốc phòng toàn dân 06

1.2.1 Truyền thống đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc 07

1.2.2 Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về quốc phòng toàn dân 11

1.3 Tư tưởng Hồ Chí Minh về quốc phòng toàn dân 13

1.3.1 Phạm trù “dân” trong tư tưởng Hồ Chí Minh 13

1.3.2 Tư tưởng Hồ Chí Minh về quốc phòng toàn dân qua các thời kỳ 17

1.3.2.1 Tư tưởng Hồ Chí Minh về quốc phòng toàn dân thời kỳ 1945 - 1946 17

1.3.2.1.1 Mục đích, tính chất của nền quốc phòng toàn dân 18

1.3.2.1.2 Xây dựng tiềm lực và thế trận quốc phòng toàn dân chuẩn bị kháng chiến chống thực dân Pháp 20

1.3.2.2 Tư tưởng Hồ Chí Minh về quốc phòng toàn dân thời kỳ 1946 - 1954 28

1.3.2.2.1 Xây dựng tiềm lực quốc phòng trực tiếp phục vụ kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược 28

1.3.2.2.2 Xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân đáp ứng yêu cầu chiến tranh nhân dân chống thực dân Pháp 34

1.3.2.3 Tư tưởng Hồ Chí Minh về quốc phòng toàn dân thời kỳ 1954 - 1975 36

1.3.2.3.1 Nêu cao cảnh giác, ra sức xây dựng, củng cố nền quốc phòng toàn dân, toàn diện, hiện đại 36

1.3.2.3.2 Xây dựng tiềm lực và thế trận quốc phòng toàn dân

đáp ứng yêu cầu bảo vệ miền Bắc, giải phóng miền Nam,

Trang 5

nhân dân làm nồng cốt của nền quốc phòng toàn dân 44

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG XÂY DỰNG Ý THỨC

BẢO VỆ TỔ QUỐC XHCN CHO THANH, THIẾU NIÊN

TỈNH AN GIANG TỪ NĂM 2006 ĐẾN NAY 2.1 Vị trí chiến lược về quốc phòng - an ninh của tỉnh An Giang 48 2.2 Vị trí và vai trò của thanh, thiếu niên trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc XHCN 55 2.3 Thực trạng xây dựng ý thức bảo vệ Tổ quốc XHCN cho thanh,

thiếu niên tỉnh An Giang từ năm 2006 đến nay 58 2.3.1 Thành tựu 60 2.3.2 Hạn chế 71 2.4 Một số giải pháp cho quá trình xây dựng ý thức bảo vệ Tổ quốc XHCN cho thanh, thiếu niên tỉnh An Giang trong những năm tiếp theo 74

Phần kết luận 82

Danh sách tài liệu tham khảo 84

Trang 6

ANCT :An ninh chính trị

TTN :Thanh, thiếu niên

TTATXH :Trật tự an toàn xã hội

XHCN :Xã hội chủ nghĩa

Trang 7

PHẦN MỞ ĐẦU

TÌM HIỂU TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ QUỐC PHÒNG TOÀN DÂN VÀ THỰC TRẠNG

XÂY DỰNG Ý THỨC BẢO VỆ TỔ QUỐC XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

CHO THANH, THIẾU NIÊN TỈNH AN GIANG

TỪ NĂM 2006 ĐẾN NAY Chuyên ngành: Giáo dục chính trị

1 Lí do chọn đề tài

Chủ tịch Hồ Chí Minh người sáng lập và rèn luyện Đảng cộng sản Việt Nam Từ khi Đảng Cộng sản được thành lập đến nay, gắn liền với quá trình phát triển của cách mạng, tư tưởng Hồ Chí Minh đã trở thành tài sản tinh thần vô giá của Đảng và dân tộc ta Mỗi bước đi của cách mạng Việt Nam gắn bó chặt chẽ với sự nghiệp và sự phát triển của tư tưởng Hồ Chí Minh

Tư tưởng Hồ Chí Minh là hệ thống các quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, trong đó tư tưởng QPTD đã trở thành tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt để tập hợp toàn dân và các hình thức mặt trận, phát huy cao độ khả năng của nhân dân trong cuộc kháng chiến toàn dân toàn diện, trường kỳ, là nguồn gốc thắng lợi của cuộc kháng chiến cứu nước thần thánh của nhân dân ta chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược

Hiện nay, tình hình chính trị thế giới và trong nước đang có nhiều diễn biến phức tạp Trên thế giới, các cuộc đấu tranh giai cấp và đấu tranh dân tộc vẫn tiếp tục diễn ra gay gắt và quyết liệt, nguy cơ chiến tranh thế giới bị đẩy lùi nhưng những cuộc xung đột vũ trang và nội chiến vẫn xảy ra và kéo dài ở nhiều nơi, những mâu thuẫn gay gắt về dân tộc, tôn giáo, lãnh thổ đang tiếp diễn Trong bối cảnh đó, các nước XHCN còn lại tiếp tục phấn đấu xây dựng đất nước theo con đường XHCN phù hợp với đặc điểm từng nước Việt Nam đã và đang nằm trong tầm ngắm của các thế lực phản động

và đế quốc, chúng lợi dụng các vấn đề dân chủ, nhân quyền, tôn giáo, sắc tộc để can thiệp vào công việc nội bộ của ta nhằm thực hiện diễn biến hòa bình, bạo loạn lật đổ, gây bạo loạn chính trị, tình hình đó đã đặt ra những yêu cầu mới cho nhiệm vụ QP - an ninh trong thời kỳ mới, nhiệm vụ QP không chỉ của riêng Đảng và Nhà nước mà là của toàn thể nhân dân Vì thế, cần thiết phải học tập, vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về QPTD trong bối

Trang 8

cảnh hiện nay để phát huy tổng hợp sức mạnh toàn dân, của hệ thống chính trị, từng bước nâng cao tiềm lực QP- an ninh của đất nước để bảo vệ vững chắc độc lập, an ninh, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của đất nước, bảo vệ nhân dân, bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ XHCN làm thất bại mọi âm mưu chống phá nhà nước XHCN của các thế lực thù địch

Mặt khác, đứng trước sự nghiệp đổi mới, quá trình xây dựng và bảo vệ

Tổ quốc XHCN đã đặt ra nhiều vấn đề cấp bách, phức tạp không thể không giải quyết, đặt biệt trước sự biến đổi nhanh chóng, khó lường của cuộc khủng hoảng và suy thoái kinh tế thế giới, của hàng loạt vấn đề toàn cầu hóa, phát triển kinh tế tri thức và hội nhập kinh tế quốc tế Sự tiếp thu thiếu chọn lọc các nền văn hóa trên thế giới của bộ phận TTN đã làm mất đi bản sắc văn hóa dân tộc, một khi an ninh văn hóa bị khủng hoảng thì ý thức dân tộc cũng dần phai mờ đi từ đó ảnh hưởng đến ý thức bảo vệ Tổ quốc

Nếu không làm tốt công tác xây dựng ý thức bảo vệ Tổ quốc, không thực hiện tốt việc giáo dục tuyên truyền cho đồng bào Việt Nam đặt biệt đối với TTN - là người chủ tương lai của đất nước và là lớp người dễ chịu tác động bên ngoài, về những vấn đề liên quan đến sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, thì không những không phát huy được vai trò của họ đối với sự nghiệp bảo

vệ Tổ quốc, mà họ còn bị các thế lực thù địch lợi dụng, chia rẽ gây mất đoàn kết và có thể trở thành lực lượng đối lập, chống đối lại dân tộc và đất nước Âm mưu, thủ đoạn đó chỉ có thể thất bại trước sức mạnh tổng hợp của nước ta được nâng cao, khi chúng ta thực hiện tốt việc xây dựng ý thức bảo vệ Tổ quốc XHCN cho mọi người dân

An Giang là địa bàn có vị trí chiến lược quan trọng về phát triển kinh tế

và QP - an ninh, có đường biên giới tiếp giáp với nước bạn Campuchia nên việc ý thức bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia là vô cùng quan trọng, nhất là trong tình hình hiện nay Hơn nữa, việc học tập tư tưởng Hồ Chí Minh đã trở thành cuộc vận động lớn trong cả nước, vì vậy, để vận dụng tư tưởng của Hồ Chí Minh vào quá trình xây dựng ý thức bảo vệ Tổ quốc XHCN cho TTN trên địa bàn tỉnh An Giang là vô cùng cần thiết Chính vì những lý do trên nên tôi quyết định chọn đề tài: “Tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh về quốc phòng toàn dân và thực trạng xây dựng ý thức bảo vệ Tổ quốc XHCN cho thanh, thiếu niên tỉnh An Giang từ năm 2006 đến nay” làm khóa luận tốt nghiệp

2 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

- Tìm hiểu quá trình hình thành và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về

QPTD

Trang 9

- Tìm hiểu thực trạng xây dựng ý thức bảo vệ Tổ quốc XHCN cho TTN tỉnh An Giang từ năm 2006 đến nay

- Vận dụng những quan điểm, tư tưởng Hồ Chí Minh về QPTD vào quá trình xây dựng ý thức bảo vệ Tổ quốc XHCN cho TTN tỉnh An Giang hiện nay

- Đề suất những giải pháp nhằm góp phần phát huy hơn nữa hiệu quả công tác giáo dục, xây dựng ý thức bảo vệ Tổ quốc XHCN cho TTN trên địa bàn tỉnh An Giang

3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

- Tư tưởng Hồ Chí Minh về QPTD

- Quá trình xây dựng ý thức bảo vệ Tổ quốc XHCN cho TTN trên địa bàn tỉnh An Giang (Tân Châu, Châu Đốc, Tịnh Biên, Long Xuyên, Châu Thành), từ năm 2006 đến nay

4 Phương pháp nghiên cứu

- Đề tài có sử dụng các phương pháp chuyên ngành làm cơ sở cho quá trình nghiên cứu như: Phương pháp luận duy vật biện chứng, phương pháp lịch sử và logic, phương pháp phân tích, tổng hợp

- Ngoài ra khóa luận còn sử dụng một số phương pháp khác: phương pháp thống kê, phương pháp điều tra

5 Đóng góp của khóa luận

- Hệ thống hóa tư tưởng QPTD của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc XHCN

- Vạch ra những thành tựu, hạn chế và đề suất những giải pháp góp phần nâng cao ý thức bảo vệ Tổ quốc của mỗi người, đặt biệt là đối với TTN tỉnh

An Giang trong thời gian tới

6 Dàn ý của khóa luận

Phần mở đầu

Phần nội dung

CHƯƠNG 1: TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

VỀ QUỐC PHÒNG TOÀN DÂN 1.1 Khái niệm quốc phòng toàn dân

1.2 Cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về quốc phòng toàn dân

1.2.1 Truyền thống đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc

1.2.2 Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về quốc phòng toàn dân

1.3 Tư tưởng Hồ Chí Minh về quốc phòng toàn dân

1.3.1 Phạm trù “dân” trong tư tưởng Hồ Chí Minh

1.3.2 Tư tưởng Hồ Chí Minh về quốc phòng toàn dân qua các thời kỳ

Trang 10

1.3.2.1 Tư tưởng Hồ Chí Minh về quốc phòng toàn dân thời kỳ 1945

- 1946

1.3.2.1.1 Mục đích, tính chất của nền quốc phòng toàn dân

1.3.2.1.2 Xây dựng tiềm lực và thế trận quốc phòng toàn dân chuẩn bị kháng chiến chống thực dân Pháp

1.3.2.2 Tư tưởng Hồ Chí Minh về quốc phòng toàn dân thời kỳ 1946

1.3.2.3.3 Xây dựng lực lượng quốc phòng, lực lượng vũ trang nhân dân làm nồng cốt của nền quốc phòng toàn dân

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG XÂY DỰNG Ý THỨC

BẢO VỆ TỔ QUỐC XHCN CHO THANH, THIẾU NIÊN

TỈNH AN GIANG TỪ NĂM 2006 ĐẾN NAY 2.1 Vị trí chiến lược về quốc phòng - an ninh của tỉnh An Giang

2.2 Vị trí và vai trò của thanh, thiếu niên trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc XHCN

2.3 Thực trạng xây dựng ý thức bảo vệ Tổ quốc XHCN cho thanh, thiếu niên tỉnh An Giang từ năm 2006 đến nay

Trang 11

PHẦN NỘI DUNG

CHƯƠNG 1: TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

VỀ QUỐC PHÒNG TOÀN DÂN

1.1 Khái niệm quốc phòng toàn dân

Chủ tịch Hồ Chí Minh, người thầy vĩ đại, vị lãnh tụ thiên tài của cách mạng Việt Nam Người đã được cả thế giới tôn vinh “là một biểu tượng kiệt xuất về quyết tâm của cả một dân tộc đã cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc của Việt Nam, góp phần vào cuộc đấu tranh chung của các dân tộc vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội”[39, tr.21]

Sinh ra và lớn lên trong bối cảnh đất nước bị xâm lấn Người đã chứng kiến cuộc sống khổ cực của nhân dân, biết bao cuộc nổi dậy của nhân dân

bị dìm trong máu lửa Mang theo nỗi đau của dân tộc, Người đã ra đi tìm con đường cứu nước và phải phóng dân tộc Kiên trì với con đường đã chọn, Người đã cùng với Đảng cộng sản Việt Nam lãnh đạo thắng lợi hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, mở ra thời kỳ sụp

đổ hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa thực dân cũ và làm thất bại một bước chủ nghĩa thực dân mới, góp phần tác động sâu xa vào tiến trình lịch sử thế giới trong thế kỷ XX Chính vì vậy, mỗi bước đi của cách mạng Việt Nam đều gắn bó với tư tưởng của Người, với tầm quan trọng đó tại Đại hội Đảng lần thứ VII xác định tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho mọi hành động Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, từ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân đến cách mạng XHCN; là kết quả của

sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể nước ta, đồng thời là sự kết tinh tinh hoa dân tộc và trí tuệ thời đại nhằm giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người[12, tr.8]

Chủ tịch Hồ Chí Minh còn là nhà chiến lược thiên tài, là người cha thân yêu của các LLVT nhân dân Người nói quân đội ta “từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu”, từ đó đã bồi dưỡng cho họ tinh thần quyết chiến, quyết thắng, làm nên những chiến công vang dội, được cả loài người khâm phục và ca ngợi Những tư tưởng của Người về cách mạng Việt Nam vẫn còn có giá trị to lớn cho đến ngày nay, trong đó có tư tưởng về chiến tranh nhân dân và QPTD

Trang 12

QP là công cuộc giữ nước của một quốc gia gồm tổng thể các hoạt động đối nội, đối ngoại cả về quân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học - công nghệ, của Nhà nước và nhân dân để phòng thủ đất nước, tạo sức mạnh toàn diện, cân đối, trong đó sức mạnh quân sự là đặc trưng nhằm giữ vững hòa bình, đẩy lùi, ngăn chặn các hoạt động gây chiến của kẻ thù, sẵn sàng đánh thắng chiến tranh xâm lược dưới mọi hình thức, mọi quy mô QPTD là nền QP được xây dựng theo phương thức toàn dân, toàn diện

Như vậy, hiểu QP, xây dựng nền QPTD là hoạt động của cả nước, trên mọi lĩnh vực, lấy LLVT là lực lượng nòng cốt QP không đồng nghĩa với quân sự, với chiến tranh, nó được thực hiện trong thời bình nhằm mục đích

tự vệ, phòng thủ đất nước, nhưng không thụ động mà phải chủ động ngăn chặn, đẩy lùi, làm thất bại mọi âm mưu của kẻ thù và sẵn sàng đánh thắng khi chiến tranh xảy ra Chiến lược QP tối ưu là chiến lược giữ nước mà không phải tiến hành chiến tranh, là chiến lược giải quyết hợp lý các mối quan hệ giữa kinh tế với QP và các mặt hoạt động khác của xã hội

Theo Hồ Chí Minh, nền QPTD là nền QP mang tính chất của dân, do dân và vì dân Nền QPTD được xây dựng theo phương hướng toàn dân, toàn diện, độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường và ngày càng hiện đại nhằm bảo

vệ lợi ích của nhân dân, bảo vệ thành quả cách mạng, bảo vệ Tổ quốc và chế độ XHCN dưới sự lãnh đạo của Đảng

Nền QPTD có những đặc điểm sau:

Thứ nhất, đó là nền QP của dân, do dân, vì dân được xác lập sau khi nhân dân giành được quyền làm chủ đất nước, thiết lập chính quyền nhân dân, xây dựng chế độ mới chế độ XHCN

Thứ hai, đó là nền QP mang tính tự vệ tích cực, nền QPTD chủ động xây dựng để bảo vệ thành quả cách mạng của nhân dân, bảo vệ quyền lợi của mình, bảo vệ Tổ quốc XHCN

Thứ ba, đó là nền QP hoàn toàn chính nghĩa, phục vụ nhân dân, bảo vệ đất nước, không bành trướng, đe dọa và xâm lược, can thiệp vào bất cứ quốc gia dân, tộc nào

Thứ tư, là nền QP xây dựng và phát triển theo một kiểu phòng thủ tổng hợp bằng sức mạnh tổng hợp của toàn dân để bảo vệ Tổ quốc.[3, tr.63]

1.2 Cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về quốc phòng toàn dân

Tư tưởng Hồ Chí Minh về QPTD bắt nguồn từ truyền thống đấu tranh dựng và giữ nước của dân tộc Việt Nam qua hàng ngàn năm lịch sử và quan

Trang 13

điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về QPTD, từ thực tiễn hoạt động cách mạng của Người

1.2.1 Truyền thống đấu tranh dựng và giữ nước của dân tộc

Dân tộc Việt Nam ta có lịch sử mấy nghìn năm, có ngôn ngữ riêng, văn

tự riêng, phong tục, tập quán riêng, cốt cách làm ăn riêng và có nền văn hóa lâu đời của mình Tất cả những cái đó tạo nên truyền thống, tình cảm riêng của dân tộc ta Đó là truyền thống yêu nước nồng nàn, truyền thống đoàn kết đấu tranh dựng và giữ nước của dân tộc

Trong lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, ông cha ta đã tích lũy biết bao kinh nghiệm quý báu về tập hợp lực lượng xây dựng nền

QP để bảo vệ vững chắc đất nước được phản ánh trong các bộ sử lớn của dân tộc như “Đại Việt sử ký toàn thư”, “Lịch triều hiến chương loại chí”

Những tư tưởng sơ khai về QPTD bảo vệ đất nước được thể hiện cụ thể trong việc tổ chức nhà nước và tập hợp sức mạnh của toàn dân chống giặc ngoại xâm của các vua Hùng Sau khi đánh thắng quân Tần, Thục Phán đã thay thế Hùng Vương, tự xưng là An Dương Vương, lập ra nước Âu Lạc Các nhiệm vụ QP được đặt ra nhằm giữ vững thành quả đã đạt được Kinh

tế, chính trị, văn hoá, xã hội thời Âu Lạc đều tiếp tục phát triển trên cơ sở những thành tựu đã đạt được của nước Văn Lang trước đây Do yêu cầu bức thiết của cuộc chiến đấu chống ngoại xâm, trong thời Âu Lạc, kỹ thuật quân

sự có những tiến bộ vượt bậc Đó là việc sáng chế ra nỏ thần Liên Châu bắn một lần nhiều phát tên, được coi là loại vũ khí mới, lợi hại và việc xây dựng thành Cổ Loa, một kỳ công kỹ thuật QP của nhân dân Âu Lạc [30, tr.43, 65]

Sau hơn 1.000 năm bị phong kiến phương Bắc đô hộ, qua nhiều lần chia cắt, tách nhập, năm 905 quyền tự chủ của dân tộc được lập lại trên phạm vi hai quận Giao Chỉ, Cửu Chân Các triều đại Ngô, Đinh, tiền Lê và Lý kế tiếp nhau củng cố nền độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ

Thời Lý - Trần cũng như nhiều giai đoạn khác trong lịch sử dân tộc, vấn

đề củng cố QP, sẵn sàng chiến đấu bảo vệ độc lập tự chủ luôn luôn được nhà nước và nhân dân ta quan tâm đặc biệt Gần như thông lệ sau khi củng

cố được địa vị thống trị của mình, các triều đại phong kiến phương Bắc lại tìm cơ hội đưa quân sang xâm lược nước ta Kẻ thù dân tộc ta lúc đó là các thế lực bành trướng nhà Tống, nhà Nguyên - Mông rất lớn mạnh: nước lớn, đông dân, lương nhiều, quân đông, đã từng nổi tiếng thế giới đương thời về những đạo bộ binh, kỵ binh tinh nhuệ, các hạm thuyền lớn vượt biển Trong khi quân thù to lớn và tàn bạo thì trái lại, nước Đại Việt nhỏ bé chỉ

Trang 14

có chừng 5 đến 7 triệu dân, quân đội thường trực lúc hòa bình chỉ khoảng 5 đến 10 vạn Để đánh thắng giặc, bảo vệ vững chắc nền độc lập dân tộc thì nhiệm vụ xây dựng quân đội như thế nào là một phương lược lớn của tổ tiên ta thuở ấy

Bấy giờ hoàn cảnh đặt ra hai nhu cầu cấp thiết: vừa phải xây dựng nước nhà giàu mạnh, vừa phải tăng cường khả năng QP, sẵn sàng đối phó với nguy cơ xâm lược Trước yêu cầu lịch sử đó, triều Lý và triều Trần đã không ngừng củng cố nhà nước tập quyền, tăng cường khối đoàn kết thống nhất, thực hiện khoan thư sức dân, xây dựng quân đội chính quy Lúc bấy giờ, một hệ thống ngạch quân được tổ chức hoàn chỉnh với đủ các thành phần: Quân chủ lực của triều đình; quân của lộ, phủ, châu; quân của quý tộc, tông thất (quân vương hầu) và lực lượng dân binh (hương binh) trong làng xã, động bản Trong đó, quân đội thường trực quốc gia là lực lượng nòng cốt được xây dựng theo phương thức “cốt tinh nhuệ không cốt nhiều” [25, tr.61] Chiến tranh xâm lược từ phương Bắc có thể xảy ra bất cứ lúc nào Các đế chế phong kiến phương Bắc thường xuyên dòm ngó và mưu toan tìm cơ hội thôn tính đất Việt Tình hình đó đòi hỏi những người lãnh đạo quốc gia phải có phương lược thích hợp nhằm xây dựng thế nước, chú

ý QP, coi việc giữ nước luôn luôn là một trong những nhiệm vụ trọng yếu nhất Tuy nhiên, trong điều kiện so sánh lực lượng giữa ta và địch quá chênh lệch, cách đánh của tổ tiên ta ngay từ đầu là lấy yếu chống mạnh, lấy

ít địch nhiều Vì vậy, bên cạnh yêu cầu có một nghệ thuật quân sự giỏi, nghệ thuật quân sự của chiến tranh toàn dân, còn yêu cầu chất lượng cao trong tổ chức quân đội, trong từng đơn vị và ở mỗi một người lính Mặt khác, ở nước ta công cuộc dựng nước và giữ nước luôn luôn đi đôi với nhau Cùng với nhiệm vụ xây dựng kinh tế, còn có nhiệm vụ xây dựng quân đội sao cho đỡ phần chi phí tốn kém, ít ảnh hưởng đến sản xuất Chính vì vậy, bớt phần số lượng, nâng cao chất lượng quân đội là một yêu cầu quan trọng Nhưng cả hai yếu tố số lượng và chất lượng đều cần để tạo nên sức mạnh quân đội trong chiến tranh và QP để giữ nước Cho nên, ở hoàn cảnh nước ta, phải có phương thức xây dựng quân đội làm sao lúc hòa bình, quân thường trực có số lượng vừa đủ mà chất lượng cao, lại có quân dự bị hùng hậu, được huấn luyện tốt, để khi chiến tranh xảy ra, nhà nước có thể nhanh chóng huy động được số quân đông, đủ sức đánh thắng quân thù Đó là bài toán chiến lược, những lý do mà cha ông ta từ sớm đã thường xuyên quan tâm xây dựng quân đội có chất lượng tốt Sức mạnh quân đội trước hết biểu hiện trên lĩnh vực tổ chức

Trang 15

Thời Lý - Trần, tổ tiên ta không ngừng kiện toàn cơ cấu tổ chức quân đội, chú trọng xây dựng quân thường trực chính quy có biên chế tổ chức hợp lý, gọn nhẹ Chính sách “ngụ binh ư nông” đã trở thành quốc sách kết hợp kinh tế với QP, bảo đảm chất lượng và số lượng quân đội khi hòa bình vẫn đủ sức canh phòng, thời chiến huy động được đông đảo quân đội, thực hiện chiến tranh nhân dân, toàn dân là lính trong khi đó vẫn ổn định về kinh

tế Bình thường nhà Lý có 3 đến 5 vạn quân, một bộ phận được luân phiên

về sản xuất nhưng khi chiến tranh, nhà nước đã huy động được trên 10 vạn Thời nhà Trần lúc hòa bình “quân số chưa đầy 10 vạn”, nhưng trong kháng chiến chống Nguyên Mông đã có lúc triều đình đã huy động được 20 - 30 vạn quân đánh giặc “Đại để lúc vô sự thì phục binh ở nơi thuận tiện, khi có nạn thì đều hết sức chống cự Thế là đời Trần nhân dân ai cũng là binh, nên mới phá được giặc dữ, làm cho thế nước được mạnh”[5, tr.5] “Đó là chính sách tốt, chế độ hay của thời cận cổ” Lê Quý Đôn, Phan Huy Chú hoặc Ngô Thì Sỹ đều có nhận xét rằng: “binh thế Đại Việt rất thịnh”; “lúc nông nhàn thì luyện tập, lúc vô sự thì làm ruộng, khi có động thì chiêu sổ gọi ra”, cho nên “binh vẫn đủ mà không phải chi phí nhiều, càng thêm hăng hái chống giặc, “thế nước càng thêm vững mạnh là nhờ vậy”

Trong xã hội Lý - Trần, nền kinh tế nông nghiệp giữ vai trò chủ đạo và

là cơ sở của mọi hoạt động trong nước Chính quyền phong kiến coi trọng nghề nông và đề ra nhiều chính sách chăm lo phát triển nông nghiệp Sức lao động và sức kéo trong nông nghiệp được nhà nước bảo vệ Nông dân có ruộng cày, xóm làng ổn định Từ thời Trần nhà nước khuyến khích khai phá đất hoang lập thành các trang trại lớn

Sự phát triển của kinh tế điền trang thái ấp cùng với việc cho phép các vương hầu quý tộc xây dựng phủ đệ và LLVT riêng vừa có ý nghĩa kinh tế vừa có ý nghĩa quân sự, càng tăng thêm thế nước, chính quyền có thêm lực lượng vật chất để bảo vệ vương quyền và phòng giữ đất nước

Những thành tựu trên lĩnh vực kinh tế đã tạo ra những cơ sở vật chất vững vàng cho sự tồn tại quốc gia độc lập tự chủ và mở ra những điều kiện thuận lợi cho sự phát triển nền văn hóa dân tộc

Trong xã hội thời Lý - Trần, người nông dân công xã vẫn bảo lưu những phong tục tập quán cổ truyền, và duy trì quan hệ cộng đồng chặt chẽ, sớm kết hợp ý thức tình làng nghĩa xóm với ý thức quốc gia dân tộc, nước gắn liền với làng Yêu cầu của công cuộc giữ nước trong giai đoạn này đã thúc đẩy nền văn hóa phát triển mang đậm ý thức dân tộc Thơ Nam quốc sơn hà

và Lộ bố văn của Lý Thường Kiệt cùng với các sáng tác thời Trần như Hịch

Trang 16

tướng sỹ của Trần Quốc Tuấn, các áng văn thơ của Trần Nhân Tông, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão, Trương Hán Siêu.v.v… thể hiện sinh động chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa anh hùng và niềm kiêu hãnh với sự nghiệp dựng nước và giữ nước oai hùng của dân tộc

Nhà Trần còn nêu lên các quan điểm về đại đoàn kết và xem đó như là chính sách giữ nước, Trần Hưng Đạo nói rõ trong di chúc năm Canh tý (1300) “Khoan thư sức dân, làm kế sâu rễ bền gốc, đó là thượng sách để giữ nước”

Phương lược đó đã đáp ứng tốt mục tiêu của các triều đại Lý, Trần là xây dựng chính quyền quân chủ tập trung vững mạnh làm cho quốc gia thịnh vượng, “quốc phú binh cường”

Đến đời Hậu Lê, để tăng cường lực lượng quân sự và củng cố QP, nhà nước nắm độc quyền xây dựng LLVT cũng như sản xuất và sử dụng vũ khí Quyền xây dựng LLVT, quân lính được chia ruộng đất công của làng xã và luân phiên về tham gia sản xuất Chính sách “Ngụ binh ư nông” được tiếp tục thực hiện nhằm đảm bảo lực lượng cho nông nghiệp, giảm bớt số người thoát ly sản xuất và chi phí của nhà nước Người lính phải vừa làm nghĩa vụ quân sự, vừa sản xuất để tự túc

Chế độ tuyển lính cũng xây dựng thành quy chế chặt chẽ Cứ ba năm một lần, chính quyền kiểm kê dân số, lập sổ hộ tịch Hạn tráng gồm những thanh niên mạnh mẽ phải nhập ngũ, bổ sung vào quân thường trực, hạn quân là lực lượng dự bị chỉ đăng ký tên vào sổ để sẵn sàng chịu sự điều động của nhà nước Quân đội đời Lê là một quân đội mạnh, có tổ chức chặt chẽ và kỹ thuật chiến đấu cao Hàng năm, vào mùa xuân quân đội thường trực phải tập trung ở địa phương hoặc về kinh thành để tham dự các kỳ huấn luyện hoặc diễn tập Các điều lệnh của từng binh chủng được ban hành Trang bị quân đội có thêm những vũ khí mới như: các loại hỏa pháo

và hỏa động Quân đội hùng hậu của nhà Lê là một công cụ trọng yếu bảo

vệ nền chính trị của giai cấp phong kiến, đồng thời quân đội đó cũng giữ vai trò tích cực trong việc củng cố QP, giữ gìn lãnh thổ và chủ quyền quốc gia [28, tr.272]

Với lòng tự hào dân tộc, thời Hậu Lê đã không ngừng củng cố, phát triển quốc gia dân tộc thống nhất Lê Thánh Tông nói: “Quyết không để một tấc đất, một thước sông của Thái tổ lọt vào tay kẻ khác” Các vua Lê đã thi hành chính sách hòa hoãn nhưng kiên quyết với nhà Minh trong vấn đề biên giới, phát triển lãnh thổ về phía Tây và phía Nam

Trang 17

Tóm lại, những tư tưởng về xây dựng nền QPTD của dân tộc ta được hình thành từ rất sớm và được kế thừa, phát triển làm phong phú thêm qua từng thời kỳ, trong đó đặc sắc nhất là chính sách “Ngụ binh ư nông” và

“Khoan thư sức dân”, toàn dân là lính, nhiệm vụ bảo vệ đất nước là của toàn dân Trong thực tiễn xây dựng nền QPTD để bảo vệ thành quả cách mạng, bảo vệ nhân dân, bảo vệ Đảng, bảo vệ Nhà nước, chủ tịch Hồ Chí Minh đã tổng kết lịch sử dân tộc, qua đó Người đã kế thừa những truyền thống của dân tộc về xây dựng lực lượng QP và tiếp thu quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin để nâng lên thành tư tưởng về QPTD của mình trong thời đại mới, thời đại quá độ lên CNXH trên phạm vi toàn thế giới

1.2.2 Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về quốc phòng toàn dân

Sau nhiều năm bôn ba ở nước ngoài để tìm đường cứu nước giúp dân tộc thoát khỏi kiếp nô lệ, cơ duyên đã đến với Hồ Chí Minh, khi biết đến Cách mạng tháng Mười Nga cùng với V.I.Lênin - người lãnh đạo thắng lợi cuộc cách mạng đó Mặt khác, vào tháng 7 năm 1920 khi Người đọc được bản “Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa” của V.I.Lênin đã đưa Người đến bước ngoặc quyết định trong việc tìm đường cứu nước Từ chỗ chỉ biết đến Cách mạng tháng Mười Nga một cách cảm tính, Người đã nghiên cứu hiểu một cách thấu đáo con đường Cách mạng tháng Mười và những bài học kinh nghiệm quý báu mà cuộc cách mạng này đem lại cho phong trào cách mạng thế giới, đặc biệt là bài học về huy động và tập hợp quần chúng công - nông đông đảo để giành và giữ chính quyền cách mạng mà trong đó sâu sắc nhất là những quan điểm về QPTD, những kinh nghiệm đó được ghi trong các tác phẩm như: Bàn về chiến tranh, quân đội, khoa học quân sự và nghệ thuật quân sự; Cương lĩnh quân sự của cách mạng vô sản; Chiến lược, chiến thuật quân sự trong thời

kỳ Cách mạng tháng Mười; Những nhiệm vụ trước mắt của chính quyền Xô Viết; Về vai trò của Đảng, Nhà nước và các đoàn thể quần chúng trong hệ thống chuyên chính vô sản; Bàn về chiến tranh nhân dân.v.v… Chủ nghĩa Mác - Lênin đã trở thành cơ sở thế giới quan và phương pháp luận của tư tưởng Hồ Chí Minh về QPTD

C.Mác, Ph.Ăngghen từng nhận định rằng: “Cách mạng vô sản sẽ là một quá trình đấu tranh khóc liệt lâu dài; không những sẽ có tính chất dân tộc

mà sẽ đồng thời xảy ra ở trong tất cả các nước văn minh, tức là ít nhất ở Anh, Mỹ, Pháp, Đức…” [6, tr.458], do đó, C.Mác, Ph.Ăngghen không đề cập đến vấn đề bảo vệ một, hay một số nước XHCN tồn tại bên cạnh những

Trang 18

nước tư bản Mặt khác, ở thời kỳ của C.Mác và Ph.Ăngghen, giai cấp vô sản chưa giành được Tổ quốc nên nhiệm vụ QP chưa đặt ra một cách trực tiếp

Thời đại V.I.Lênin, chủ nghĩa tư bản đã phát triển đến giai đoạn tột cùng, là chủ nghĩa đế quốc Cuộc Cách mạng tháng Mười Nga thắng lợi, nhà nước XHCN đầu tiên ra đời đã mở ra kỷ nguyên mới - kỷ nguyên quá

độ từ chủ nghĩa tư bản lên CNXH trên phạm vi thế giới Trong điều kiện lịch sử mới, V.I.Lênin đã kế thừa, bảo vệ, bổ sung và phát triển nhiều luận điểm mới, hoàn chỉnh học thuyết Mác - Lênin về nhiệm vụ QP trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc XHCN

Từ quan điểm “Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng”, trong khi nghiên cứu và phát triển lý luận của C.Mác và Ph.Ăngghen, V.I.Lênin đã đồng thời xây dựng học thuyết “Bảo vệ Tổ quốc XHCN” trong điều kiện lịch sử mới đã nhận định: “chủ nghĩa tư bản phát triển cực kỳ không đều nhau trong các nước Dưới chế độ sản xuất hàng hóa thì không thể nào khác thế được Do đó phải đi đến kết luận tất yếu này: CNXH không thể đồng thời thắng lợi trong tất cả các nước, hoặc một số nước…”[32, tr.173] Do

đó cách mạng dành thắng lợi và đi đến bảo vệ Tổ quốc XHCN được đặt ra một cách trực tiếp, tất yếu, khách quan V.I.Lênin đã luận chứng khoa học

về sự cần thiết phải vũ trang bảo vệ nhà nước chuyên chính vô sản, chống lại sự tấn công vũ trang của các nhà nước tư bản chủ nghĩa

Sau Cách mạng XHCN tháng Mười Nga thắng lợi, nhiệm vụ QP để bảo

vệ Tổ quốc XHCN đã trở thành nhiệm vụ thực tiễn, trực tiếp V.I.Lênin đã viết: “Kể từ ngày 25 tháng Mười 1917, chúng ta là những người chủ trương bảo vệ Tổ quốc Chúng ta tán thành “bảo vệ Tổ quốc”, nhưng cuộc chiến tranh giữ nước mà chúng ta đang đi tới là một cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc XHCN, bảo vệ CNXH với tính cách là Tổ quốc, bảo vệ nước cộng hòa

Xô - viết, với tính cách là một đơn vị trong đạo quân thế giới của CNXH”[33, tr.102] Sự nghiệp xây dựng đất nước, tăng cường khả năng QP

và bảo vệ Tổ quốc XHCN phải được kết hợp chặt chẽ với nhau, và là yêu cầu tất yếu V.I.Lênin nhấn mạnh rằng: “Một cuộc cách mạng chỉ có giá trị khi nó biết tự vệ”[34, tr.29] Ông còn đề ra lý luận và trực tiếp lãnh đạo công cuộc phòng thủ đất nước, chống bọn can thiệp nước ngoài và nội chiến trong những năm đầu của chính quyền Xô - viết còn non trẻ

V.I.Lênin chỉ ra rằng sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc XHCN là của toàn dân tộc, một dân tộc đã dành được Tổ quốc chân chính, tiến hành cuộc chiến tranh chống bọn bóc lột, dân tộc đó là vô địch Người dạy: “Không bao giờ

Trang 19

người ta có thể chiến thắng một dân tộc mà đa số công nhân và nông dân đã biết, đã cảm và trông thấy rằng họ bảo vệ chính quyền của mình, chính quyền Xô - viết, chính quyền của những người lao động, rằng họ bảo vệ sự nghiệp mà một khi thắng lợi sẽ đảm bảo cho họ, cũng như cho con cái họ,

có khả năng hưởng thụ mọi thành quả văn hóa, thành quả lao động của con người”[35, tr.378]

Người nhắc nhở “phải có thái độ nghiêm túc đối với QP”[34, tr.480], tuyệt đối không có thái độ khinh suất Người còn căn dặn phải cảnh giác, đánh giá đúng lực lượng của địch ta, không được chủ quan đánh giá thấp kẻ thù Người viết: “Điều nguy hiểm nhất là đánh giá thấp kẻ thù và tự ru ngủ với tư tưởng cho rằng chúng ta là những kẻ mạnh hơn Đó là điều nguy hiểm nhất, đó là điều có thể dẫn tới thất bại”[37, tr.174]

Việc tăng cường QP thường gắn liền với phát triển kinh tế, chính trị - xã hội và tinh thần của xã hội Vì vậy, V.I.Lênin cho rằng việc nắm vững và vận dụng các quy luật khách quan tác động trong những lĩnh vực đó của đời sống xã hội, có ý nghĩa hết sức quan trọng để tăng cường sức mạnh QP Người viết: “Mối liên hệ giữa tổ chức quân sự của một nước với toàn bộ chế kinh tế và văn hóa của nước ấy chưa bao giờ lại hết sức chặt chẽ như ngày nay”[31, tr.192]

Luận chứng của Lênin về nhiệm vụ QP vào công cuộc xây dựng và bảo

vệ Tổ quốc XHCN là đóng góp vô cùng quý giá vào kho tàng lý luận của chủ nghĩa Mác, thực tiễn cách mạng ở Nga và thế giới Cùng với những lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và truyền thống dân tộc cũng như những tư tưởng Đông Tây kim cổ về sự cần thiết xây dựng nền QP, Hồ Chí Minh đã vận dụng những tư tưởng đó xây dựng nền QP ở nước Việt Nam, đó là nền

QP mang tính chất toàn dân, toàn diện, độc lập, tự lực, tự hào bảo vệ Tổ quốc

1.3 Tư tưởng Hồ Chí Minh về quốc phòng toàn dân

1.3.1 Phạm trù “dân” trong tư tưởng Hồ Chí Minh

Tư tưởng Hồ Chí Minh là kết quả của sự vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa của nhân loại, trong đó đặc biệt là giá trị văn hóa của dân tộc với những quan niệm về “dân”, xem dân là gốc, dân là đối tượng phục vụ vì

“chở thuyền là dân, lật thuyền cũng là dân” “Dân” là một phạm trù cơ bản trong tư tưởng Hồ Chí Minh, liên quan chặt chẽ với nhiều phạm trù khác thuộc lĩnh vực chính trị - xã hội, được hình thành và phát triển trong quá trình hoạt động thực tiễn phong phú và sáng tạo của Người

Trang 20

Hồ Chí Minh có khi diễn đạt phạm trù “dân” bằng các danh từ khác như

“đồng bào”, “quốc dân”, “nhân dân”.v.v… tùy theo bối cảnh sử dụng ngôn

từ, song tựu trung đều chỉ toàn bộ các giai cấp, tầng lớp trong xã hội có đóng góp vì sự tiến bộ trong cuộc đấu tranh giành độc lập cho dân tộc, dân chủ và hạnh phúc cho nhân dân, động lực cơ bản của cuộc cách mạng do Đảng lãnh đạo, không phân biệt “già, trẻ, gái, trai, giàu, nghèo, quý tiện”

Có thể tiếp cận phạm trù “dân” trong tư tưởng Hồ Chí Minh ở những khía cạnh sau:

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, quan niệm về vai trò và vị trí của quần chúng nhân dân trong lịch sử hoàn toàn thống nhất với chủ nghĩa Mác - Lênin, đối lập với những cách nhìn phiến diện, siêu hình, phản động của giai cấp bóc lột Đó là một cách nhìn mang tính khoa học và cách mạng về nhân dân, động lực của cuộc cách mạng dân tộc dân chủ và cách mạng XHCN Trong chế độ chiếm hữu nô lệ, giai cấp chủ nô phân chia xã hội thành ba hạng người: giới quý tộc cai trị đất nước và những người có học vấn; những vệ binh bảo vệ giai cấp thống trị; những công dân tự do gồm nông dân và thợ thủ công Còn giai cấp nô lệ chiếm số đông trong xã hội, những người sản xuất ra của cải vật chất nuôi sống xã hội, không được coi

là “dân”, mà chỉ là “công cụ biết nói” Dưới chế độ phong kiến, ở phương Đông, điển hình là tư tưởng Nho giáo, quần chúng chỉ được coi là đám tiểu nhân hèn kém, thiếu “đức nhân”, chỉ là hạng ngu dốt để những người quân

tử sai khiến Các lý luận gia của giai cấp tư sản thời cận đại coi “dân” chỉ là phương tiện, đối tượng phục vụ cho các mục đích của giai cấp thống trị Trong tác phẩm “Gia đình thần thánh”, C.Mác, Ph.Ăngghen phê phán gay gắt các quan điểm phản động đó

Chỉ có chủ nghĩa Mác - Lênin mới có quan niệm khoa học và cách mạng khi xem quần chúng là động lực của các cuộc cách mạng trong xã hội, là những người sáng tạo nên lịch sử Vì vậy, trong cuộc đấu tranh cải biến xã hội cũ, xây dựng chế độ mới, V.I.Lênin cho rằng nếu “Không có sự đồng tình và ủng hộ của đại đa số nhân dân lao động đối với đội tiên phong của mình, tức là đối với giai cấp vô sản thì không thể thực hiện được Nhưng sự đồng tình và ủng hộ đó không thể có ngay được và không phải do những cuộc bỏ phiếu quyết định, mà phải trải qua cuộc đấu tranh giai cấp lâu dài, khó khăn, gian khổ mới giành được”[36, tr.251] Người cũng lưu ý, giai cấp

vô sản phải giành được sự đồng tình, ủng hộ của đa số nhân dân lao động, điều đó không phải kết thúc ngay khi đã giành được chính quyền, mà còn tiếp diễn dưới các hình thức khác khi đã trở thành giai cấp cầm quyền Trên

Trang 21

cơ sở lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, Hồ Chí Minh khẳng định cách mạng

là sự nghiệp của quần chúng nhân dân, do quần chúng; Đảng cách mạng chỉ làm công việc giáo dục, tổ chức, tập hợp quần chúng thực hiện những công việc vì bản thân quần chúng Do đó, đối với Đảng cộng sản, việc đoàn kết, tập hợp rộng rãi quần chúng nhân dân là vấn đề có ý nghĩa chiến lược của mọi thời kỳ cách mạng Nó khác xa hoàn toàn với việc lôi kéo, tranh thủ quần chúng mang tính thủ đoạn chính trị nhất thời của giai cấp bóc lột trong các xã hội trước đây

Khi Đảng cách mạng thành công và lập ra nhà nước do quần chúng dân nhân làm chủ, cùng với đó quần chúng nhân dân phải đóng vai trò giám sát mọi hoạt động nhằm bảo vệ lợi ích chính đáng cho mình và cùng với Đảng

và Nhà nước xây dựng và bảo vệ thành quả đó trong xây dựng kinh tế, văn hóa - xã hội, QP - an ninh… Vì vậy, Đảng và Nhà nước phải biết dựa vào dân “Nhân dân ta có hàng chục triệu người, có hàng mấy chục triệu tai, mắt, tay, chân Nếu biết dựa vào dân thì việc gì cũng xong”[16, tr.75] hay “Gốc

có vững thì cây mới bền; xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân”[16, tr.79]

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, gắn với điều kiện lịch sử cụ thể của dân tộc Việt Nam và mục tiêu, nhiệm vụ cách mạng của Đảng trong từng giai đoạn, dân được xác định có phạm vi rộng, không chỉ có công nhân, nông dân, trí thức, mà gồm tất cả các giai cấp, tầng lớp có đóng góp thúc đẩy cho tiến bộ của lịch sử dân tộc vì sự nghiệp giải phóng dân tộc và xây dựng chế

độ mới Tất nhiên, phạm trù “dân” không phải bất biến mà có tính lịch sử Người viết: “Theo tính chất cách mạng của mỗi nước mà quyết định động lực cách mạng bao gồm những giai cấp nào” [18, tr.211] Một giai cấp, tầng lớp ở giai đoạn này là tiến bộ nhưng sang giai đoạn khác có khi trở thành lực cản đối với sự phát triển của lịch sử dân tộc Khi đó, họ chẳng những không được gọi là “dân” mà còn là đối tượng cách mạng của dân Một giai cấp, trong cùng một thời điểm lịch sử, ở một dân tộc này được xem là “dân” nếu nó còn đóng góp cho sự tiến bộ của lịch sử dân tộc, nhưng ở quốc gia khác chưa hẳn được xem là “dân” nếu nó không còn vai trò tích cực, thậm chí trở nên phản động Chính vì vậy, ngay sau khi chính quyền cách mạng thiết lập, Hồ Chí Minh chủ trương tập hợp, đoàn kết rộng rãi nhân dân, mời

cả những nhân sĩ, địa chủ tiến bộ tham gia bộ máy chính quyền Xét về bản chất, địa chủ là giai cấp bóc lột, phải đánh đổ trong tiến trình thực hiện hai nhiệm vụ cơ bản của cách mạng dân tộc dân chủ Xét trong điều kiện cụ thể của giai đoạn cách mạng cần tập trung cho nhiệm vụ “dân tộc trên hết, Tổ quốc trên hết” thì địa chủ yêu nước vẫn có đóng góp cho tiến bộ khi họ

Trang 22

tham gia đánh đổ chủ nghĩa đế quốc - kẻ đang kìm hãm sự phát triển của lịch sử dân tộc, đem lại độc lập, thống nhất cho Tổ quốc Sau này trong tác phẩm “Nhà nước dân chủ nhân dân Việt Nam”, đồng chí Phạm Văn Đồng

có viết: “Ở Việt Nam lúc này, nhân dân là các giai cấp công nhân, nông dân, tiểu tư sản thành thị, tư sản ái quốc và những người địa chủ yêu nước

và tiến bộ” Nhưng phải đảm bảo mục tiêu cách mạng, khi kết thúc cách mạng giải phóng dân tộc, cùng với thủ tiêu phương thức sản xuất phong kiến lạc hậu thì giai cấp địa chủ cũng phải xóa bỏ Đối với tư sản dân tộc,

Hồ Chí Minh nhận xét: “Trong một thời kỳ và một trình độ nhất định, giai cấp tư sản dân tộc cũng là động lực cách mạng”

Thừa nhận phạm vi rộng lớn của phạm trù “dân”, Hồ Chí Minh luôn chú

ý một mặt, đảm bảo sự bình đẳng của các giai cấp, tầng lớp, tránh rơi vào chủ nghĩa biệt phái; mặt khác, không xóa nhòa ranh giới giữa các giai cấp, tầng lớp, mà vẫn hết sức nhấn mạnh “cái lõi” của nhân dân là công nhân, nông dân và lao động trí óc, do Đảng của giai cấp công nhân lãnh đạo Thừa nhận phạm vi rộng lớn của phạm trù “dân”, khẳng định nhân dân là động lực của cách mạng, đòi hỏi Đảng và Nhà nước phải đảm bảo quyền bình đẳng để lôi kéo, thu hút được sức mạnh toàn dân đóng góp vào các mục tiêu, nhiệm vụ cách mạng Vì vậy, từ rất sớm, Hồ Chí Minh đã chú ý thể chế hóa quyền lực bình đẳng của công dân ngay trong Hiến pháp đầu tiên của nước ta: “Tất cả công dân Việt Nam đều ngang quyền về mọi phương diện: chính trị, kinh tế, văn hóa”, “Tất cả công dân Việt Nam đều bình đẳng trước pháp luật, đều được tham gia chính quyền và công cuộc kiến quốc tùy theo tài năng và đức hạnh của mình” Đây là một quan niệm rất dân chủ thực hiện sự bình đẳng ấy thể hiện Hồ Chí Minh nhận thức rõ Nhà nước không chỉ là công cụ thống trị của giai cấp, mà còn là tổ chức thực thi chức năng công quyền, mang tính nhân dân sâu sắc

Tính biện chứng trong tư tưởng Hồ Chí Minh thể hiện ở chỗ, trong khi thừa nhận tính nhân dân rộng rãi thì vẫn nhấn mạnh “… trong công việc sản xuất, địa vị mỗi giai cấp khác nhau, cho nên đặc tính của mỗi giai cấp cũng khác nhau Đặc tính khác nhau nên vai trò cách mạng cũng khác nhau” Vì vậy, Người luôn luôn nhắc nhở Đảng và Nhà nước phải hết sức chăm lo các giai cấp, tầng lớp quần chúng cơ bản là công nhân, nông dân và lao động trí

óc Liên minh công - nông - trí được củng cố càng có điều kiện để mở rộng Mặt trận dân tộc thống nhất, phát huy quyền dân chủ của quảng đại quần chúng trong xây dựng và bảo vệ đất nước Khối đại đoàn kết toàn dân, nòng cốt là liên minh công - nông - trí, phải đặt dưới sự lãnh đạo của giai cấp

Trang 23

công nhân thông qua đội tiên phong của nó là Đảng cộng sản Nhà nước cách mạng có nhiệm vụ là thực hành dân chủ với nhân dân và chuyên chính với bọn đế quốc, phong kiến cũng như mọi hành vi xâm phạm lợi ích của

Tổ quốc và nhân dân Xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, giữ vững bản chất giai cấp công nhân của Đảng, là điều kiện tiên quyết để huy động sức mạnh toàn dân tham gia các nhiệm vụ cách mạng

Từ việc nhận thức đầy đủ phạm trù “dân”, Hồ Chí Minh đã nêu lên những quan điểm lấy dân làm gốc, là đối tượng để phục vụ, từ đó đã tạo được niềm tin ở nơi dân, tạo nên sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, và nó đã trở thành phương hướng cơ bản chỉ đạo công cuộc xây dựng nền QPTD vững mạnh để giữ vững đất nước của dân, do dân và vì dân Điều quan trọng hơn hết trong quá trình vận động tập hợp quần chúng vào một khối thống nhất để bảo vệ đất nước, bảo vệ thành quả cách mạng của nhân dân là làm cho nhân dân thấy được sự cần thiết xây dựng nền QPTD

1.3.2 Tư tưởng Hồ Chí Minh về quốc phòng toàn dân qua các thời kỳ

Sự hình thành và đi đến hoàn thiện tư tưởng về QPTD của Hồ Chí Minh, đó là những bước phát triển cùng với những thăng trầm của lịch sử cách mạng Việt Nam từ Cách mạng tháng Tám đến khi kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước Vì thế, có thể chia tư tưởng Hồ Chí Minh về QPTD qua các thời kỳ 1945 - 1946, thời kỳ 1946 - 1954 và 1954 - 1975 (trong đó, tư tưởng về QPTD được tập hợp từ các bài nói, bài viết của Người trong những năm 1954 đến 1969, từ năm 1969 - 1975 là khoảng thời gian cách mạng Việt Nam vận dụng và phát triển tư tưởng của Người)

1.3.2.1 Tư tưởng Hồ Chí Minh về quốc phòng toàn dân thời

kỳ 1945 - 1946

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công đã mở ra một trang sử mới cho nền độc lập của nước nhà, thế nhưng ngay từ lúc này chính quyền cách mạng còn non trẻ phải đứng trước tình thế “ngàn cân treo sợi tóc” Vì vậy, yêu cầu đặt ra là phải nêu cao cảnh giác, xây dựng, củng cố QP để bảo

vệ chính quyền cách mạng của nhân dân; bảo vệ nền độc lập thống nhất của

Tổ quốc, chuẩn bị tiềm lực mọi mặt của đất nước cho cuộc kháng chiến trường kỳ mà theo Chủ tịch Hồ Chí Minh là không thể tránh khỏi

Nhiệm vụ xây dựng QP ở nước ta là nhiệm vụ hết sức mới mẻ và đầy thử thách đối với chính quyền cách mạng còn non trẻ, chúng ta chưa có nhiều kinh nghiệm về QP và nước ta trước Cách mạng Tháng Tám là là một nước phong kiến nửa thuộc địa, với nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu; sau

Trang 24

cách mạng tiềm lực kinh tế, quân sự có thể huy động được cho sự nghiệp

QP còn rất hạn chế Mặc dù vậy, những định hướng cơ bản về xây dựng nền

QP ở nước ta đã được thể hiện tương đối rõ trong tư tưởng Hồ Chí Minh, trước hết là về mục đích, tính chất của nền QP

1.3.2.1.1 Mục đích, tính chất của nền quốc phòng toàn dân

Mục đích

Theo Hồ Chí Minh, xây dựng nền QP ở nước ta là để bảo vệ độc lập, thống nhất của Tố quốc và tự do, hạnh phúc của nhân dân Điều đó thể hiện sâu sắc khi “ham muốn tột bậc” của Người là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm

ăn, áo mặc, ai cũng được học hành Độc lập dân tộc và thống nhất đất nước không thể tách rời, vì thế nhiệm vụ QP là phải bảo vệ nền độc lập dân tộc mới giành được và thống nhất đất nước

Khi thực dân Pháp đánh chiếm Nam bộ, âm mưu tách Nam bộ khỏi Việt Nam, thành lập chính phủ bù nhìn ở Nam bộ thuộc Liên hiệp Pháp, Người

đã khẳng định: “Đồng bào Nam bộ là dân nước Việt Nam Sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý đó không bao giờ thay đổi!”[15, tr.246] Người còn thể hiện tình cảm của mình, một ngày mà Tổ quốc chưa thống nhất, đồng bào còn chịu khổ là một ngày Người “ăn không ngon, ngủ không yên” Bảo vệ cho nền độc lập dân tộc và đấu tranh cho sự thống nhất toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc Việt nam trong tư tưởng Hồ Chí Minh, không chỉ là mục đích xây dựng nền QP ở nước ta những năm 1945 - 1946, mà còn là mục đích xuyên suốt trong xây dựng nền QP của mọi thời kỳ cách mạng sau này

Hồ Chí Minh chỉ rõ mục đích xây dựng nền QP ở nước ta là để tự vệ, chúng ta không xâm hại lợi ích của nước nào Trước nguy cơ Pháp phát động chiến tranh ra toàn miền Nam, trong “Lời kêu gọi Liên Hiệp quốc” Hồ Chí Minh khẳng định: “Là nạn nhân của một cuộc xâm lược có chủ định từ trước, chúng tôi buộc phải tự vệ chống lại một đối phương đang thực hiện phương pháp của một cuộc chiến tranh tổng lực như những cuộc bắn phá dã man làng mạc và dân thường” và “chúng tôi trịnh trọng tuyên bố rằng nhân dân chúng tôi thật sự mong muốn hòa bình Nhưng nhân dân chúng tôi cũng kiên quyết chiến đấu đến cùng để bảo vệ quyền thiêng liêng nhất: toàn vẹn lãnh thổ cho Tổ quốc và độc lập cho đất nước”[15, tr.469] Trong Lời tuyên

bố với phóng viên báo Pari - Sài Gòn Người nhấn mạnh: “Đồng bào tôi và tôi thực sự muốn hòa bình Chúng tôi không muốn chiến tranh…”; “Nước Việt Nam cần kiến thiết, nước Việt Nam không muốn là nơi chôn vùi hàng

Trang 25

bao nhiêu sinh mạng Nhưng cuộc chiến tranh ấy nếu người ta buộc chúng tôi phải làm thì chúng tôi sẽ làm”[15, tr.473], sau đó cả nước tổ chức “Ngày toàn quốc kháng chiến” để biểu thị sự ủng hộ của cả dân tộc với đồng bào Nam bộ

Tại cuộc mít tinh ngày 5 tháng 11 năm 1945, chủ tịch Hồ Chí Minh đã giải thích rõ: “Chúng ta không đi cướp nước ai Chúng ta chỉ giữ gìn nước

ta và chống lại bọn Pháp đi cướp nước…”, bọn thực dân Pháp phải biết rằng, dân Việt Nam không muốn đổ máu, dân Việt Nam yêu chuộng hòa bình, nhưng nếu cần phải hi sinh mấy triệu chiến sĩ, nếu cần phải kháng chiến bao nhiêu năm để giữ gìn quyền độc lập của Việt Nam, để cho con cháu Việt Nam khỏi kiếp nô lệ, thì chúng ta vẫn “kiên quyết hi sinh và kháng chiến”

Năm 1945 - 1946 sau Cách mạng Tháng Tám là một thời gian lịch sử ngắn nhưng đầy khó khăn và phức tạp và biến động mau lẹ Chúng ta vừa

lo củng cố chính quyền, khôi phục sản xuất, tổ chức cai quản xây dựng chế

độ mới; vừa phải lo đối phó với thù trong, giặc ngoài và chuẩn bị mọi mặt cho cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đã đến gần Lúc này, Chủ tịch

Hồ Chí Minh - người đứng đầu Đảng, Nhà nước ta, chèo lái con thuyền cách mạng Việt Nam với bồn bề công việc cấp bách Đặc biệt Người rất nỗ lực trong hoạt động ngoại giao, tìm kiếm các giải pháp chính trị, tận dụng triệt để mọi cơ hội để cứu vãn hòa bình cho đất nước Đồng thời với quá trình tìm giải pháp chính trị và nhất là khi mọi nỗ lực giữ gìn hòa bình, thống nhất bằng con đường ngoại giao chính trị đã trở nên vô vọng, Chủ tịch Hồ Chí Minh tập trung tâm trí chỉ đạo chuẩn bị cho đất nước bước vào kháng chiến chống Pháp Ngoài mục đích xây dựng nền QP thì tính chất toàn dân, toàn diện của nền QP được thể hiện rất rõ trong tư tưởng của Người

Tính chất

Tìm hiểu tính chất của nền QP trong tư tưởng QP của Hồ Chí Minh, ở thời điểm lịch sử này phải nghiên cứu tư tưởng của Người về chiến tranh nhân dân và chuẩn bị cho cuộc kháng chiến toàn diện chống thực dân Pháp xâm lược Tính chất của nền QP theo tư tưởng Hồ Chí Minh thì mang tính toàn dân, toàn diện sâu sắc “Vì cuộc kháng chiến của ta là cuộc kháng chiến của toàn dân cần phải động viên toàn dân, vũ trang toàn dân…”[14, tr.507] Người giải thích toàn dân kháng chiến nghĩa là toàn thể nhân dân, ai cũng đánh giặc, “Bất kỳ đàn ông, đàn bà, người già, con trẻ ai cũng tham gia kháng chiến”

Trang 26

Người phân tích: “Chiến tranh ngày nay phức tạp vô cùng Trước kia chỉ

có quân đội đánh nhau ở tiền tuyến và trên mặt đất hay mặt nước, nên người ta gọi là bình diện chiến tranh Ngày nay đánh nhau ở cả trên không

và ở cả tiền tuyến cũng như hậu phương, nên người ta gọi là tập thể chiến tranh Trước kia chỉ đánh nhau về mặt quân sự, nhưng ngày nay đánh nhau

về đủ mọi mặt quân sự, kinh tế, chính trị, tư tưởng nên người ta gọi là toàn diện chiến tranh”[15, tr.296]

Kẻ thù xâm lược nước ta là thực dân Pháp - tên thực dân giàu về kinh tế, mạnh về quân sự, lại được chủ nghĩa đế quốc tiếp tay, nên cuộc kháng chiến của nhân dân ta sẽ rất khó khăn gian khổ Do đó, không dùng toàn lực của nhân dân về đủ mọi mặt để ứng phó, không thể nào thắng được Muốn dùng toàn lực của nhân dân, “muốn thực hiện toàn dân kháng chiến, ngoài việc động viên quân sự, chính trị, ngoại giao, còn phải động viên cả tinh thần lẫn kinh tế”[15, tr.84-85]

Những quan điểm trên của Hồ Chí Minh được phổ biến, truyền bá và quán triệt rộng rãi trong Đảng, trong nhân dân trong quá trình chuẩn bị về

tư tưởng cho cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp Đồng thời trong hoạt động thực tiễn, ngay sau khi giành được chính quyền, Hồ Chí Minh đã chỉ đạo xây dựng, củng cố mọi mặt tiềm lực của đất nước để chuẩn bị kháng chiến chống thực dân Pháp theo hướng tiến hành cuộc chiến tranh nhân dân toàn dân, toàn diện

Sự truyền bá tư tưởng và chỉ đạo hoạt động thực tiễn xây dựng về mọi mặt để chuẩn bị tiến hành chiến tranh nhân dân bảo vệ chính quyền công nông non trẻ, bảo vệ Tổ quốc của Hồ Chí Minh chứng tỏ những tháng năm ngay sau khi lập nước Người rất chú trọng đến việc giáo dục động viên quân dân cả nước nêu cao tinh thần cảnh giác, nêu cao ý thức QP và ra sức xây dựng, củng cố nền QP của chế độ mới, mặc dù cụm từ “QPTD” lúc này chưa được diễn đạt thành văn

1.3.2.1.2 Xây dựng tiềm lực và thế trận quốc phòng toàn dân chuẩn bị kháng chiến chống thực dân Pháp

Tư tưởng của Hồ Chí Minh về xây dựng tiềm lực QP thể hiện rất sâu sắc trong tư tưởng “dùng toàn lực của nhân dân về đủ mọi mặt” cho cuộc kháng chiến của dân tộc Toàn lực của dân ở đây được thể hiện thông qua xây dựng các tiềm lực về chính trị - tinh thần, về kinh tế và về LLVT nhân dân

Xây dựng tiềm lực chính trị - tinh thần

Trong xây dựng tiềm lực của nền QP nước ta trong thời kỳ này, Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến xây dựng tiềm lực chính trị - tinh thần, trong

Trang 27

đó nhiệm vụ hàng đầu là củng cố, xây dựng hệ thống chính quyền cách mạng các cấp của nhân dân Ngày 6 tháng 1 năm 1946, Chính phủ Liên hiệp lâm thời đã tổ chức cuộc Tổng tuyển cử trong cả nước, bầu Quốc hội đầu tiên của nước ta Về ý nghĩa to lớn của cuộc Tổng tuyển cử, trong Lời kêu gọi quốc dân đi bỏ phiếu, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Về mặt chính trị, thì nhân dân dùng lá phiếu mà chống với quân địch Một lá phiếu cũng

có sức mạnh như một viên đạn… Những người trúng cử, sẽ phải ra sức giữ vững nền độc lập của Tổ quốc, ra sức mưu sự hạnh phúc cho đồng bào”[15, tr.145] Hưởng ứng lời kêu gọi của Người, cuộc bầu cử đã tiến hành sôi nổi trong cả nước, hơn 90% cử tri đã đi bỏ phiếu Nhân dân cả nước đã bầu được 333 đại biểu vào Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa Đây là thắng lợi to lớn, tạo tiền đề cho xây dựng chính quyền các cấp, tạo ra sức mạnh chính trị - tinh thần cho nền QP cho chế độ mới

Song song với việc chuẩn bị tổ chức cuộc Tổng tuyển cử Quốc hội, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh thành lập Ủy ban dự thảo Hiến pháp do Người chủ trì Tại cuộc họp thứ hai Quốc hội khóa một nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Ủy ban dự thảo Hiến pháp đã trình bày bản dự thảo, Quốc hội đã thảo luận và thông qua ngày 9 tháng 11 năm 1946 Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Hiến pháp đó tuyên bố với thế giới nước Việt Nam đã độc lập, Hiến pháp đó tuyên bố với thế giới biết dân tộc Việt Nam đã có đủ mọi quyền tự do Hiến pháp đó tuyên bố với thế giới: phụ nữ Việt Nam đã được đứng ngang hàng với đàn ông để được hưởng chung mọi quyền tự do của một công dân Hiến pháp đó đã nêu một tinh thần đoàn kết chặt chẽ giữa các dân tộc Việt Nam và một tinh thần liêm khiết, công trình của các giai cấp”[15, tr.440]

Cùng với ý nghĩa chung to lớn, bản Hiến pháp đầu tiên này còn là cơ sở pháp lý để chúng ta tiến hành các biện pháp xây dựng nền QPTD, xây dựng chế độ mới Đồng thời với tính chất dân chủ, tiến bộ, bản Hiến pháp còn là động lực tập hợp, phát huy tinh thần yêu nước, đoàn kết trong mọi tầng lớp nhân dân cũng như kiên quyết bảo vệ độc lập, tự do, thống nhất của Tổ quốc, tạo cơ sở chính trị vững chắc của chế độ mới, của nền QPTD

Trong tư tưởng cũng như trong quá trình chỉ đạo hoạt động thực tiễn,

Hồ Chí Minh rất quan tâm đến chăm lo xây dựng hệ thống chính quyền từ Trung ương đến làng xã

Để chính quyền nhân dân thật sự là một động lực mới của sức mạnh chính trị - tinh thần của dân tộc, Hồ Chí Minh thường xuyên nhắc cán bộ chính quyền các cấp phải cống hiến, tận tụy hết mình vì sự nghiệp cách

Trang 28

mạng của dân tộc, vì độc lập tự do, thống nhất của Tổ quốc, vì ấm no, hạnh phúc của nhân dân Đây là yếu tố quan trọng để không ngừng củng cố tiềm lực chính trị - tinh thần của nền QP đất nước

Việc xây dựng củng cố các tổ chức quần chúng cách mạng là một nội dung quan trọng trong xây dựng tiềm lực chính trị - tinh thần QPTD của chế độ mới Người thường xuyên quan tâm củng cố, xây dựng các tổ chức quần chúng cách mạng như: Hội Công nhân cứu quốc, Hội Nông dân cứu quốc, Hội Thanh niên cứu quốc, Hội Phụ nữ cứu quốc… Người đã nhiều lần trực tiếp nói chuyện hoặc viết thư thăm hỏi, động viên khích lệ và chỉ đạo các hoạt động yêu nước của các tổ chức trên, nhằm động viên mọi tầng lớp nhân dân nêu cao ý thức dân tộc, đoàn kết cùng nhau cống hiến sức mình để kiến thiết đất nước và chuẩn bị mọi mặt cho công cuộc củng cố

QP, bảo vệ Tổ quốc

Hồ Chí Minh cho rằng, kẻ thù thực hiện chiến tranh không chỉ bằng quân sự, mà chúng còn dùng cả chiến tranh bằng tinh thần, chiến tranh trên nhiều lĩnh vực khác Vì vậy, theo Người xây dựng nền QP ứng phó với cuộc chiến tranh đó chúng ta phải chuẩn bị tiềm lực mọi mặt thật tốt, đặc biệt là tiềm lực chính trị - tinh thần Một trong các biện pháp xây dựng tiềm lực chính trị - tinh thần là động viên tinh thần nhân dân Theo Hồ Chí Minh, động viên tinh thần là phải tập trung hết thảy lực lượng tinh thần, ý chí, tư tưởng của từng cá nhân và của toàn quốc dân không phân biệt dân tộc, tôn giáo, già trẻ, gái trai đều hướng về một chiều để cùng đi tới mục đích kháng chiến thắng lợi Muốn động viên tinh thần, vấn đề hết sức quan trọng cần phải làm cho quần chúng nhân dân có niềm tin vào thắng lợi của cuộc kháng chiến Trong bản chỉ thị quan trọng “Công việc khẩn cấp bây giờ” ngày 5 tháng 11 năm 1946, Hồ Chí Minh viết: Ta phải có và “phải làm cho dân có Tín tâm và Quyết tâm Dùng lời lẽ giản đơn, rõ rệt mà giải thích cho quần chúng Cố ráng sức qua mùa đông lạnh lẽo, thì ta sẽ gặp mùa xuân Qua khỏi trận khủng bố ráo riết của địch, thì ta sẽ thắng lợi” [15, tr.433-

434]

Thấm nhuần tư tưởng của Người, nhân dân ta ở miền xuôi cũng như miền ngược, già cũng như trẻ, trai cũng như gái trong hoàn cảnh khó khăn thời kỳ 1945 - 1946 đã đoàn kết một lòng, hăng hái thực hiện các nhiệm vụ cách mạng Đó là nhân tố quan trọng tạo thêm tiềm lực chính trị - tinh thần cho nền QPTD và cho cuộc chiến tranh nhân dân sau này của nước Việt Nam mới

Trang 29

Xây dựng tiềm lực kinh tế

Xây dựng tiềm lực kinh tế để động viên kinh tế trong kháng chiến đối với nước ta trong bối cảnh lúc bấy giờ, trước hết phải bằng mọi cách khôi phục kinh tế, đưa nền kinh tế thoát khỏi tình trạng tiêu điều và nạn đói đe dọa do hậu quả của chế độ thực dân, phong kiến để lại Đó là nhiệm vụ bức thiết của chính quyền công nông non trẻ

Hiểu sâu sắc nhiệm vụ bức thiết ấy, sau khi tuyên bố độc lập, trong phiên họp Chính phủ ngày 3 tháng 9 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã

đề nghị Chính phủ thực hiện một số biện pháp kinh tế cấp bách như: “Phát động một chiến dịch tăng gia sản xuất”; “mở một cuộc lạc quyên”; “mở một chiến dịch giáo dục lại tinh thần nhân dân bằng cách thực hiện: cần, kiệm, liêm, chính”; xóa bỏ thuế thân, thế chợ, thuế đò… Một trong những vấn đề đặt biệt quan tâm của Người sau Cách mạng Tháng Tám thành công là vận động nhân dân tăng gia, sản xuất đẩy lùi nạn đói và ổn định đời sống nhân dân Trong thư gửi nông gia Việt Nam, Hồ Chí Minh kêu gọi nông dân

“Tăng gia sản xuất! Tăng gia sản xuất ngay! Tăng gia sản xuất nữa! Đó là khẩu hiệu của ta ngày nay Đó là cách thực hiện của chúng ta để giữ vững quyền tự do, độc lập”[15, tr.115] Như vậy, tăng gia sản xuất không những

để đảm bảo đời sống nhân dân, thoát khỏi nạn đói đang hoành hành, mà còn nhằm giữ vững quyền tự do, độc lập của dân tộc mới giành được Đó là ý nghĩa to lớn của việc tăng gia sản xuất đối với vấn đề xây dựng tiềm lực kinh tế của nền QP của chế độ mới

Về tài chính, để có ngân sách chi tiêu xây dựng và củng cố QPTD, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề nghị Chính phủ lâm thời thành lập “Quỹ độc lập”

và sau đó tổ chức “Tuần lễ vàng” trong cả nước nhằm động viên nhân dân quyên góp vàng, tiền ủng hộ chính quyền cách mạng Người đã viết thư gửi đồng bào cả nước, nêu rõ ý nghĩa của việc tổ chức “Tuần lễ vàng” và kêu gọi nhân dân tích cực tham gia để bảo vệ nền độc lập của nước nhà: “Muốn củng cố nền tự do, độc lập ấy, chúng ta cần hi sinh phấn đấu của toàn quốc đồng bào; nhưng chúng ta cũng cần sức quyên giúp của nhân dân… tuần lễ vàng không những có ý nghĩa giúp vào nền tài chính QP, nó còn có một ý nghĩa chính trị quan trọng”[15, tr.17-18]

Theo Hồ Chí Minh, phải có nhiều sức, giàu mới có thể kháng chiến lâu dài; để có tiềm lực kinh tế phục vụ việc phòng thủ đất nước và tiến hành kháng chiến trường kỳ thì kháng chiến phải đi đôi với kiến quốc, kiến quốc

có thành công, QP mới mạnh, kháng chiến mới mau thắng lợi Vì vậy, Người đã ra “Chỉ thị kháng chiến kiến quốc”, trong đó nêu rõ kiến quốc là

Trang 30

một trong hai nhiệm vụ cơ bản của Đảng, Chính phủ và nhân dân ta sau Cách mạng Tháng Tám

Về ý nghĩa mục đích của động viên kinh tế đối với xây dựng nền QP, Người viết: “Chúng ta phải đương đầu với bọn thực dân phản động Pháp trong một cuộc kháng chiến lâu dài để giữ vững chủ quyền đất nước Vì thế, chúng ta không thể không chú ý đến vấn đề động viên kinh tế… chúng ta phải tập trung hết thảy nhân lực, vật lực, tài lực vào công cuộc kháng chiến thì thực lực kháng chiến của ta mới được đầy đủ, mạnh mẽ để đạt được thắng lợi cuối cùng”.[15, tr.477]

Để tiến hành xây dựng tiềm lực kinh tế cho nền QP và động viên kinh tế cho kháng chiến, Người chỉ ra các phương pháp động viên là “Động viên lao động”, “Động viên giao thông”, “Động viên công nghệ”, “Động viên tài chính” và “Tiết kiệm”

Theo Hồ Chí Minh, tiết kiệm là một nội dung quan trọng trong động viên kinh tế Người viết: “Ngoài việc tiết kiệm tiền bạc, lương thực, chúng

ta còn phải biết tiết kiệm những thứ cần về quân sự mà phải mua ở ngoài như ét xăng, các chất hóa học, v.v…Việc tiết kiệm cũng có tính chất quan trọng như tăng gia sản xuất”[15, tr.479] Sau những phương pháp động viên kinh tế cho nền QP và kháng chiến, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh:

“Cuộc kháng chiến lâu dài chủa chúng ta được thắng lợi là do nơi chúng ta động viên kinh tế được thành công, vì chúng ta có biết động viên kinh tế một cách khéo léo, thực lực của chúng ta mới được đầy đủ và bền bỉ”[15, tr.479] Thực lực kinh tế “đầy đủ và bền bỉ” là yêu cầu cơ bản của việc xây dựng tiềm lực kinh tế cho QP, chuẩn bị kháng chiến trường kỳ chống xâm lược

Thực chất tư tưởng Hồ Chí Minh về động viên kinh tế giai đoạn 1945 -

1946 ở nước ta là, bằng các biện pháp tổng hợp, khai thác tối đa tiềm năng nội lực của đất nước nhằm khôi phục kinh tế, khắc phục nạn đói, bồi dưỡng sức dân Đồng thời trên cơ sở đó, từng bước tạo ra tiềm lực kinh tế bảo đảm các nhu cầu trước mắt của nền QPTD và cho cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp Thấm nhuần tư tưởng và làm theo sự chỉ đạo của Người nên chúng ta đã vượt qua những khó khăn về kinh tế để củng cố chính quyền cách mạng, giữ vững nền độc lập và từng ngày tích lũy thêm tiềm lực kinh tế cho sự nghiệp QP

Xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân

Cùng với xây dựng tiềm lực chính trị - tinh thần, tiềm lực kinh tế, xây dựng LLVT nhân dân là một nội dung quan trọng của xây dựng tiềm lực

Trang 31

QP trong tư tưởng Hồ Chí Minh, đó là vấn đề xây dựng lực lượng nòng cốt trong thực hiện nhiệm vụ QP, an ninh, bảo vệ chế độ mới mà Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm

Để đối phó với thù trong, giặc ngoài, bảo vệ chính quyền cách mạng còn non trẻ, bảo vệ nhân dân và chuẩn bị cho cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gấp rút chỉ đạo tăng cường phát triển các LLVT làm nòng cốt cho nền QPTD và chiến tranh nhân dân Công việc quan trọng đầu tiên là phải thống nhất các LLVT để thành lập đội quân quốc gia, đặt dưới quyền lãnh đạo của Đảng ta Sau Cách mạng Tháng Tám, do bối cảnh lịch sử hết sức phức tạp, bọn phản động Việt quốc, Việt cách và một số tổ chức phản động khác còn nắm trong tay một số đơn vị vũ trang rải rác trong toàn quốc Dựa vào thế lực của quân đội Tưởng, bọn phản động đã sử dụng LLVT này gây rối nhiều nơi và uy hiếp chính quyền của ta… Vì vậy triệt tiêu các LLVT phản động này là cực kỳ cần thiết

Với sự khôn khéo mềm dẻo, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vô hiệu hóa các LLVT của các phái phản động, chuyển hóa chúng thành LLVT của cách mạng do Đảng ta lãnh đạo Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh “thống nhất các đội võ trang dưới quyền chỉ huy của Chính phủ Các đảng phái không

có quân đội riêng”[15, tr.141] Tiếp đó, dưới sự chỉ đạo của Người, trong bản Hiến pháp đầu tiên của nước ta quy định Chủ tịch nước “giữ quyền tổng chỉ huy quân đội toàn quốc, chỉ định hoặc cách chức các tướng soái trong lục quân, hải quân, không quân”

Muốn thực hiện QPTD và chiến tranh nhân dân, cần nhanh chống xây dựng bộ đội chủ lực đủ sức làm nòng cốt Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chủ trương động viên thanh niên chuẩn bị tòng quân Người nói “Bao nhiêu trai tráng phải chịu huấn luyện vũ trang để chờ đưa ra mặt trận”[15, tr.86] Trong Quốc lệnh ngày 26 tháng 1 năm 1946, Người quy định: “Nhà nào có

3 con tòng quân sẽ được thưởng”[15, tr.163] Đồng thời, Người chỉ đạo rất sát sao việc đào tạo cán bộ quân sự tại các trường quân chính Việt Nam, trường võ bị Trần Quốc Tuấn, trường quân y

Cùng với việc chăm lo xây dựng bộ đội chủ lực, Hồ Chí Minh rất quan tâm đến xây dựng lực lượng tự vệ, dân quân Vì đây là LLVT nằm trong nhân dân, vừa lao động sản xuất, vừa giữ gìn trật tự, an ninh thôn xóm, khi

có giặc thì làm nòng cốt cho nhân dân đánh giặc tại chỗ Hồ Chí Minh nói:

“Tự vệ là vệ lấy mình, lấy gia đình mình, rồi đến thành phố mình, nước mình Ta phải ngăn ngừa mọi sự uy hiếp”[15, tr.149] Để phát triển lực lượng tự vệ, dân quân, Người chủ trương phải làm cho tổ chức vững trãi và

Trang 32

phát triển, lôi kéo các phần tử thanh niên hăng hái và yêu nước vào đoàn thể; cần phải “quân sự hóa đoàn thể tự vệ”, nghĩa là tập dượt cho đều và có một “tinh thần kỷ luật” Việc phát triển của LLVT nhân dân trong thời kỳ này đã gia tăng đáng kể tiềm lực quân sự của nền QPTD, để có thể sẵn sàng đương đầu với cuộc chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp đang đến gần Trong quá trình xây dựng LLVT nhân dân, Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến xây dựng các lực lượng này về mặt chính trị Đó là việc giáo dục lòng yêu nước, căm thù giặc, có niềm tin vào thắng lợi; giáo dục đạo đức cách mạng, sẵn sàng chiến đấu hi sinh vì đất nước, vì dân; tăng cường đoàn kết,

kỷ luật và tinh thần học tập vươn lên hoàn thành nhiệm vụ Người dặn

“phải trung thành với mục đích cách mạng, giữ cho nước nhà được độc lập, nòi giống được tự do” và “phải học lý luận và đạo đức, tinh thần”

Tư tưởng đúng đắn của Hồ Chí Minh và sự chỉ đạo sát sao của Người về xây dựng LLVT nhân dân trong giai đoạn đầu tiên của chính quyền cách mạng, đã góp phần quan trọng làm tăng quân số, củng cố biên chế tổ chức; thống nhất các LLVT dưới sự lãnh đạo của Đảng và chỉ huy của Chính phủ; tăng cường ý chí, niềm vào tinh thần quyết tâm chiến đấu của cán bộ, chiến

sĩ Điều đó đã tạo thuận lợi căn bản cho sự phát triển của các LLVT nhân dân làm nòng cốt trong xây dựng, củng cố QP; tăng cường tiềm lực QP của đất nước, bảo vệ nền độc lập, thống nhất của Tổ quốc, chuẩn bị cho cuộc kháng chiến trường kì chống thực dân Pháp xâm lược của dân tộc sau đó

Xây dựng thế trận QPTD là nội dung quan trọng trong tư tưởng Hồ Chí Minh về QP cũng như trong tư tưởng quân sự của Người nói chung Các cụm từ “Thế trận QP”, “Thế trận QPTD” chưa được sử dụng trong giai đoạn 1945 - 1946 Song, qua các bài nói, bài viết và sự chỉ đạo trực tiếp của

Hồ Chí Minh, có thể thấy tư tưởng xuyên suốt của Người về xây dựng thế trận QP ở nước ta là xây dựng thế trận QPTD, toàn diện để bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ tự do hạnh phúc của nhân dân và chuẩn bị cho cuộc kháng chiến chống Pháp, theo phương thức chiến tranh nhân dân, toàn dân, toàn diện Người nói “Nếu quân Pháp tấn công chúng ta, chúng ta phải hăng hái phản công lại với tất cả khí giới mà chúng ta có Tất cả quốc dân Việt Nam phải đứng dậy bảo vệ Tổ quốc”[15, tr.484]

Thế trận QPTD khi xảy ra chiến tranh trở thành thế trận chiến tranh nhân dân Để tạo được thế trận QP Người đã chủ trương kêu gọi đồng bào phá hết cầu cống, lấp sông ngòi để cản đường cơ động của địch, ở những nơi chưa đủ đánh lui địch thì phải thực hiện kế “thanh dã” để địch không bắt được người đi lính, đi phu và không vơ vét, cướp bóc lương thảo

Trang 33

“Quân địch sắp tới đâu thì dân vùng đó triệt để thực hiện vườn không nhà trống khiến quân địch không có thức ăn, không có chỗ ở, không có đường

đi mà phải tiêu hao mòn mỏi”[15, tr.187] Theo Hồ Chí Minh, trong thành phố, ngoài những hầm hố, những chướng ngại vật, chúng ta cần phải biến mỗi nhà thành một ổ kháng chiến, phải đào đường hầm thông từ phố nọ sang phố kia Thế trận Người chủ trương xây dựng là lấy ít địch nhiều, lấy yếu chống mạnh Trong chiến lược này, theo Người: “Về phương pháp tác chiến, chúng ta áp dụng vận động chiến song song với du kích chiến Vận động chiến có mục đích trừ diệt một số quân địch lớn Còn du kích chiến là huy động dân quân ở địa phương vừa quấy rối vừa làm hao mòn lực lượng của chúng”[15, tr.475] Với thế trận QPTD, mặc dù lực lượng mọi mặt của chúng ta còn mỏng, nhưng vẫn có thể chủ động tấn công ở bất cứ đâu có quân địch, kết hợp đánh địch từ trong đánh ra, từ ngoài đánh vào làm cho

kẻ địch bị tiêu hao lực lượng

Việc xây dựng căn cứ địa trong xây dựng thế trận QPTD của cuộc kháng chiến nhằm hướng trực tiếp vào xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân, đáp ứng yêu cầu cuộc kháng chiến trường kỳ, tự lực cánh sinh, toàn dân, toàn diện của nhân dân ta chống thực dân Pháp xâm lược đang cận kề Người đặc biệt nhấn mạnh sự thống nhất về chính trị tư tưởng, đoàn kết nhất trí quyết tâm chống xâm lược của mọi tầng lớp nhân dân, đó là chất keo kết dính, làm tăng lên sức mạnh của “thành lũy kháng chiến” Nhờ có những “thành lũy” đó, trong kháng chiến, địch đi đến làng bản nào, từ rừng núi Tây Nguyên đến đồng bằng Bắc Bộ, cũng đều bị nhân dân ta chống trả quyết liệt và chịu tốn thất nặng nề; ở những nơi địch tạm chiếm đóng, nhân dân vẫn che chở, bảo vệ bộ đội và du kích hoạt động quấy rối, tiêu hao sinh lực và chia cắt, dàn mỏng lực lượng của chúng Như vậy, xây dựng, củng

cố QP theo tư tưởng Hồ Chí Minh đã tạo ra một thế trận và sức mạnh QPTD, chuyển thành thế trận chiến tranh nhân dân và từng bước phát triển trong kháng chiến chống xâm lược

Bên cạnh việc chỉ đạo xây dựng thế trận QP đối với từng địa phương và trong toàn quốc, Hồ Chí Minh rất quan tâm huấn luyện cách phòng thủ, đánh địch để phát huy tối đa sức mạnh của thế trận QPTD Hồ Chí Minh đã

“mượn” Binh pháp Tôn Tử, vận dụng vào điều kiện nước ta để hướng dẫn quân, dân ta biết cách phân tích tình hình lực lượng ta, cách chuẩn bị, giữ gìn quân lương, cách sử dụng binh khí, cách sử dụng địa hình, địa thế, cách dùng binh, điều cán Đồng thời, Người huấn luyện cách dò la tin tức, nắm

Trang 34

tình hình quân địch, cách tuyên truyền vận động, làm ly gián địch, cách nghi binh lừa địch

Trong khoảng thời gian ngắn ngủi của giai đoạn đầu sau ngày giành được độc lập, Hồ Chí Minh đã có những tư tưởng rất quan trọng về xây dựng nền QP, một nền QP của chính quyền công nông, nền QPTD, toàn diện, của dân, do dân và vì dân Có nghĩa là, những đặc điểm của nền QP của chế độ mới, xây dựng theo tư tưởng Hồ Chí Minh, đã được hình thành ngày càng rõ nét Những nội dung cấu thành tiềm lực, lực lượng, thế trận của nền QPTD ngày càng phát triển và phát huy sức mạnh trong kháng chiến chống xâm lược Xây dựng lực lượng và thế trận QP không chỉ là xây dựng tổ chức, phát triển quân số, gia tăng lực lượng, bảo đảm trang bị, vũ khí, bố trí thế trận, mỗi làng, mỗi địa phương trở thành những “pháo đài”, những “thành lũy”, mà còn phải xây dựng chính trị - tinh thần, phải xây dựng khối đại đoàn kết, sự đồng tâm, đồng lòng của cả nước, vì đó là “bức thành” chắc chắn nhất; đồng thời còn vũ trang những tri thức cần thiết và hướng dẫn những vấn đề về chiến thuật, cách đánh để phát huy sức mạnh

và ưu thế tối đa của thế trận QPTD, chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc Điều đó cho thấy, tư tưởng Hồ Chí Minh về QPTD trong giai đoạn này đã sâu sắc và tương đối toàn diện, có hệ thống, mặc dù Người chưa sử dụng các cụm từ “QPTD”, “thế trận QPTD” trong các bài viết, bài nói của mình

1.3.2.2 Tư tưởng Hồ Chí Minh về quốc phòng toàn dân thời

Tăng cường tiềm lực chính trị - tinh thần

Củng cố QP, bảo vệ chính quyền cách mạng, bảo vệ nền độc lập tự do của Tổ quốc mới vừa giành được lúc này đặt ra gay gắt đối với Đảng và nhân dân ta Để tạo nên sức mạnh ta lớn cho chiến tranh nhân dân, tiến hành cuộc kháng chiến toàn dân thắng lợi, Hồ Chí Minh cho rằng, việc khơi dậy và phát huy tinh thần yêu nước trong mỗi con người Việt Nam có ý

Trang 35

nghĩa cực kì quan trọng Người cho rằng, lòng yêu nước và sự đoàn kết của nhân dân là một lực lượng vô cùng to lớn, là chất kết dính toàn thể dân tộc Việt Nam, tạo nên một khối đoàn kết thống nhất chặt chẽ, làm nên sức mạnh vô địch mà “không quân đội, không khí giới nào có thể thắng nổi”

Nhân dân ta có truyền thống yêu nước từ ngàn xưa, nhờ truyền thống đó

mà dân tộc ta đã chiến thắng hết kẻ thù xâm lược này đến kẻ thù xâm lược khác Đánh giá về truyền thống đó, trong Báo Cáo chính trị tại Đại hội toàn quốc lần thứ II của Đảng, Hồ Chí Minh khẳng định: “Dân ta có một lòng nồng nàng yêu nước Đó là một truyền thống quý báu của ta Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sống vô cùng mạnh mẽ, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn,

nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước”[17, tr.171] Lòng yêu nước của mọi người dân Việt Nam là cơ sở tạo nên sự đoàn kết, làm nên sức mạnh vô địch, chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược

Hồ Chí Minh cho rằng, việc khơi dậy và phát huy tinh thần yêu nước của mọi tầng lớp nhân dân trong sự nghiệp xây dựng, củng cố QP, bảo vệ

Tổ quốc là vấn đề đặc biệt quan trọng Dựa vào nhân dân, biến công việc cứu nước, bảo vệ Tổ quốc là công việc tự giác của mỗi người dân, của cả dân tộc trên cơ sở ý thức tự tôn dân tộc, lòng tự hào dân tộc được khơi dậy

và phát huy là vấn đề đặc biệt quan trọng trong xây dựng tiềm lực chính trị

- tinh thần đất nước Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Nhân dân ta có hàng chục triệu người, có hàng mấy chục triệu tai mắt, tay, chân Nếu biết dựa vào nhân dân thì việc gì cũng xong”[16, tr.406] Đó là những bức thành, những

“Thiên la địa võng” của thế trận QP, thế trận chiến tranh nhân dân, đủ sức đánh bại mọi kẻ thù

Hồ Chí Minh rất quan tâm đến công tác giáo dục tuyên truyền nhằm xây dựng tiềm lực chính trị - tinh thần của nền QP; động viên phát huy sức mạnh chính trị - tinh thần trong quá trình chiến tranh Theo Người, công tác tuyên truyền phải làm cho dân tin tưởng vào sức mình, vào sự tất thắng của cuộc kháng chiến chống xâm lược của dân tộc, nếu không thì sẽ làm suy yếu lực lượng của kháng chiến, của QP Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Kháng chiến nhất định thắng lợi, nhưng phải trường kỳ và gian khổ Mỗi người tin

ở sức mạnh dân tộc, tin ở sức chịu đựng của mình, kiên quyết vượt qua mọi khó khăn, thì tương lai mới vẻ vang”[17, tr.417]

Cùng với việc tăng cường tiềm lực chính trị - tinh thần thì việc xây dựng tiềm lực kinh tế của nền QP đã tạo cơ sở vật chất cho cuộc kháng chiến

Trang 36

chống xâm lược đây là nội dung được Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm trong giai đoạn này

Xây dựng tiềm lực kinh tế

Theo Hồ Chí Minh, để kháng chiến lâu dài thì phải tự cánh sinh, dựa vào sức mình là chính Cho nên, phải đẩy mạnh sản xuất, tự cấp, tự túc, tiết kiệm để trường kì kháng chiến Có như vậy thì kẻ thù có bao vây, cấm vận, phong tỏa ta lâu dài cũng không sợ vì ta vẫn có kinh tế bảo đảm cho kháng chiến, cho sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc Để phát triển sản xuất, xây dựng tiềm lực kinh tế, Hồ Chí Minh kêu gọi mọi tầng lớp nhân dân hăng hái thi đua tăng gia sản xuất, Người viết: “Nước ta kinh tế lạc hậu, nhưng lòng yêu nước và chí quật cường chẳng kém ai Nay muốn tự cấp, tự túc, đi kịp người ta thì chúng ta phải đi mau Vì vậy sĩ, nông, công, thương, binh, gái trai, già trẻ, toàn thể quốc dân ta, vô luận ở địa vị nào, làm công việc gì,

phải ra sức tham gia cuộc thi đua yêu nước, tức là tăng gia sản xuất”[16,

tr.419] Như vậy đối với nước ta, vấn đề tăng gia sản xuất, xây dựng kinh tế cần phải làm mau và đó phải là sự cố gắng của toàn thể quốc dân đồng bào, không trừ một ai, ai cũng phải ra sức xây dựng kinh tế, đó là trọng trách của mọi người dân trước cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc

Tư tưởng vừa sản xuất, vừa chiến đấu, vừa kháng chiến vừa kiến quốc, kháng chiến đi đôi với kiến quốc của Hồ Chí Minh thể hiện rất sâu sắc trong quá trình xây dựng tiềm lực kinh tế của nền QP nhằm đáp ứng nhu cầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp

Ở đây cho thấy rõ thêm tư tưởng kinh tế kết hợp với QP của Hồ Chí Minh ngay trong quá trình chiến tranh và là một nội dung quan trọng trong xây dựng tiềm lực kinh tế, gia tăng sức mạnh vật chất của cuộc kháng chiến, nhằm hướng công việc gia tăng sản xuất, xây dựng kinh tế phục vụ trực tiếp cho nhu cầu chiến tranh; đồng thời tiến hành kháng chiến chống xâm lược còn là để bảo vệ công cuộc kiến quốc, xây dựng kinh tế

Đối với bộ đội thì việc sử dụng có hiệu quả chiến lợi phẩm, đẩy mạnh tăng gia sản xuất cũng mang ý nghĩa kết hợp kinh tế với QP Tiết kiệm trong tiêu dùng, đẩy mạnh tăng gia sản xuất để bảo đảm kinh tế cho QP trong các công việc hằng ngày của mình Tiết kiệm trong tiêu dùng, đẩy mạnh tăng gia sản xuất để bảo đảm kinh tế cho QP; mỗi quân dân đều có ý thức kết hợp kinh tế với QP trong các công việc hằng ngày của mình

Đẩy mạnh tăng gia sản xuất, để giảm bớt gánh nặng của nhân dân, phục

vụ đường lối kháng chiến trường kỳ, dựa vào sức mình là chính Khi nói về tăng gia sản xuất đối với các đơn vị quân đội, Hồ Chí Minh nhấn mạnh:

Trang 37

“Các cơ quan trong quân đội phải cố sức trồng trọt chăn nuôi để tự túc phần nào, để giảm bớt gánh nặng của nhân dân Tuy công việc chuyên môn vẫn

là chính, nhưng phải cố sức tăng gia Bộ đội cố gắng đánh thắng giặc thu được nhiều chiến lợi phẩm, đấy cũng là tăng gia Các chú đã hiểu rõ kháng chiến nhất định sẽ thắng lợi, muốn thắng lợi phải trường kỳ gian khổ, muốn trường kỳ phải tự lực cánh sinh Tăng gia là một bộ phận trong chính sách

tự lực cánh sinh”[17, tr.512] Thu nhiều chiến lợi phẩm của địch và sử dụng

có hiệu quả chiến lợi phẩm có ý nghĩa rất quan trọng Người căn dặn: “ Các chú thu một số xe của địch, thế là tốt, vì các chú đã lấy xe của địch diệt địch”, “Gậy ông đập lưng ông” Đấy là cái vốn, các chú phải giữ gìn lấy Vốn này sẽ phát triển nhiều thêm”[17, tr.193]

Bên cạnh việc đẩy mạnh tăng gia sản xuất của các cấp, các ngành, các lực lượng, theo Hồ Chí Minh, Chính phủ còn cần có dự trữ để bảo đảm cho

QP, cho đời sống của cán bộ, công nhân viên chức và bình ổn giá cả

Tư tưởng và sự chỉ đạo trên cho thấy rõ sự quan tâm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, của Đảng và Chính phủ về việc xây dựng, củng cố tiềm lực QP ngay trong quá trình chiến tranh, để đảm bảo cuộc kháng chiến chống xâm lược lâu dài, gian khổ của dân tộc thắng lợi

Phát triển lực lượng vũ trang

Lực lượng vũ trang đóng vai trò nòng cốt trong củng cố QP, và trong tiến hành chiến tranh nhân dân Vì vậy, trong khi xây dựng tiềm lực mọi mặt của nền QP, gia tăng sức mạnh toàn diện của đất nước để đảm bảo cho cuộc kháng chiến của dân tộc thắng lợi, Hồ Chí Minh đặc biệt chú ý đến xây dựng và phát triển các LLVT nhân dân

Trong xây dựng LLVT nhân dân, Hồ Chí Minh dành nhiều sự quan tâm của mình đến vấn đề xây dựng, giáo dục và rèn luyện quân đội nhân dân, phát triển quân đội nhân dân cả về số lượng và chất lượng, cả về cơ cấu tổ chức, phát triển các đại đoàn chủ lực để có thể đương đầu với quân chủ lực Pháp, và hình thành các đơn vị kỹ thuật, hậu cần… đáp ứng nhu cầu của cuộc kháng chiến

Trong lời kêu gọi đồng bào toàn quốc nhân dịp kỷ niệm lần thứ hai ngày Quốc khánh nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, ngày 2 tháng 9 năm 1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Chính phủ đã do sức mình mà tổ chức nên một quân đội quốc gia, huấn luyện nên hàng ức hàng triệu dân quân, tự vệ,

để giữ gìn Tổ quốc, để chống nạn ngoại xâm”[16, tr.201] “Hòa bình trở lại, quân đội ta giữ gìn trật tự, an ninh, bảo vệ tài sản của nhân dân, làm trụ cột giữ gìn hòa bình, bảo vệ Tổ quốc” Như vậy, quân đội phải là lực lượng chủ

Trang 38

yếu để chống giặc ngoại xâm, khi đã giành được độc lập dân tộc thì gìn giữ hòa bình, bảo vệ nhân dân, làm nòng cốt cho sự nghiệp xây dựng QP, bảo

vệ Tổ quốc”[18, tr.383] Như vậy, quân đội phải là lực lượng chủ yếu để chống giặc ngoại xâm, khi đã giành được độc lập dân tộc thì gìn giữ hòa bình, bảo vệ nhân dân, làm nòng cốt cho sự nghiệp xây dựng QP, bảo vệ Tổ quốc Để quân đội hoàn thành nhiệm vụ của mình, thì phải xây dựng quân đội trở thành lực lượng “quyết chiến, quyết thắng”, là lực lượng kế thừa truyền thống quật cường của dân tộc suốt chiều dài lịch sử

Theo Hồ Chí Minh “Quân đội ta là quân đội của nhân dân, do dân đẻ ra,

vì nhân dân mà chiến đấu, yêu nước, yêu dân, cho nên hy sinh kham khổ”[16, tr.722] Đây là nét đặc sắc của quân đội ta, làm cho quân đội ta khác biệt với quân đội của các nước đế quốc Sự giúp đỡ của nhân dân ta tạo nên hậu phương rộng lớn che chở và nuôi dưỡng quân đội lớn mạnh, làm nên chiến thắng Cán bộ và chiến sĩ quân đội xuất thân chủ yếu từ nhân dân lao động, và đa số là nông dân, hy sinh chiến đấu bảo vệ hòa bình, bảo

vệ công cuộc xây dựng đời sống ấm no, hạnh phúc của nhân dân Đây là cơ

sở khách quan tạo nên quan hệ “cá - nước”, “máu - thịt” giữa quân đội với nhân dân

Hồ Chí Minh thường xuyên căn dặn cán bộ, chiến sĩ quân đội, bất kỳ bao giờ, bất kỳ ở đâu, đều phải liên hệ mật thiết với nhân dân, phải làm cho dân mến, dân tin, do đó mới tạo nên sức mạnh Để “dân mến, dân tin, thì cán bộ, chiến sĩ phải làm tốt công tác dân vận, dân vận khéo thì việc gì cũng thành công” Làm công tác dân vận không phải chỉ bằng lời nói mà còn những hành động giúp đỡ nhân dân thực sự, cán bộ phải gương mẫu, làm trước để các chiến sĩ noi theo Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “… phải dạy cho

bộ đội biết cách dân vận Cái gì cũng phải nhờ dân Không có dân thì không

có bộ đội”

Người thường xuyên quan tâm đến việc huấn luyện kỹ chiến thuật, rèn luyện kỷ luật, tác phong công tác, tu dưỡng đạo đức của người quân nhân cách mạng, làm cho quân đội vừa có kỹ chiến thuật tốt, vừa có chính trị - tinh thần cao, phát triển toàn diện, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao

Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Một quân đội văn hay, võ giỏi là một quân đội vô địch”[16, tr.380] Muốn quân đội trở thành quân đội “văn hay, võ giỏi” thì phải xây dựng và phát triển toàn diện và đặc biệt chú ý: “Phải ra sức đẩy mạnh việc xây dựng và củng cố công tác chính trị và quân sự trong bộ đội

ta Phải nâng cao giác ngộ chính trị, nâng cao chiến thuật và kỹ thuật, nâng cao kỷ luật tự giác của bộ đội ta Phải làm cho quân đội ta thành một quân

Trang 39

đội chân chính của nhân dân”[17, tr.171] Chỉ có ra sức xây dựng quân đội

về mọi mặt, xây dựng một cách toàn diện, trong đó hết sức chú trọng xây dựng quân đội về chính trị thì quân đội mới làm tròn nhiệm vụ vinh quang

mà Đảng, Nhà nước và nhân dân đã tin cậy, giao phó cho quân đội, mới thực sự trở thành một quân đội “văn hay, võ giỏi”

Xây dựng quân đội về chính trị để quân đội tuyệt đối trung thành với Đảng, Tổ quốc và nhân dân là nội dung cơ bản, có tầm quan trọng hàng đầu trong quá trình xây dựng quân đội cách mạng Hồ Chí Minh rất chú ý đến công tác chính trị và công tác quân sự trong quân đội và thường xuyên nhấn mạnh đến việc học tập chính trị và quân sự của cán bộ, chiến sĩ quân đội, coi đó là yêu cầu cơ bản của mọi quân nhân Theo Người, học chính trị không phải chỉ có học thuộc chính cương, đường lối của Đảng để lòe người khác, mà nó phải thấm sâu vào mỗi người, phải được thể hiện bằng hành động cụ thể của mọi cán bộ, chiến sĩ, phải được “biểu hiện ra trong lúc đánh giặc” Công tác bảo đảm hậu cần, kỹ thuật, đủ, kịp thời thì cán bộ và chiến

sĩ có lương thực và thực phẩm để sinh sống, có đủ sức khỏe chiến đấu dài ngày, có đủ vũ khí trang bị để chiến đấu đảm bảo hoàn thành tốt các nhiệm

vụ được giao Đặc biệt trong điều kiện chiến tranh ác liệt, tàn khóc thì việc bảo đảm lương thực và vũ khí trang bị cho chiến sĩ là vấn đề rất quan trọng Trong bồi dưỡng, xây dựng LLVT làm nòng cốt cho toàn dân kháng chiến chống xâm lược, Hồ Chí Minh rất quan tâm đến phát triển dân quân,

tự vệ và du kích Đây là lực lượng không thoát ly sản xuất, cùng với quân đội làm nòng cốt cho nền QPTD ở địa phương, cơ sở; nòng cốt cho cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện Hồ Chí Minh cho rằng, dân quân, tự vệ và

du kích là lực lượng của toàn dân tộc, đó là “bức tường sắc của Tổ quốc”,

“là lực lượng vô địch”, dù quân địch có hung bạo thế nào, hễ đụng vào lực lượng đó, “bức tường” đó, thì cũng phải “tan rã”, thất bại

Theo Hồ Chí Minh, tổ chức dân quân, du kích không chỉ để giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, phối hợp tác chiến với bộ đội chủ lực,

mà còn là một nguồn có chất lượng cao bổ sung cho quân đội khi cần thiết:

“Ngoài việc tăng cường bộ đội chủ lực và xây dựng bộ đội địa phương, vùng tự do và những căn cứ du kích khá to cần phải xây dựng những tổ chức dân quân, du kích không thoát ly sản xuất Những tổ chức dân quân,

du kích ấy chẳng những có thể phụ trách việc đàn áp bọn phản cách mạng, giữ gìn trị an trong làng xã, bảo vệ lợi ích của quần chúng, đấu tranh với địch và phối hợp tác chiến với bộ đội chủ lực, mà lại có thể dùng để bổ sung cho bộ đội chủ lực”[18, tr.13]

Trang 40

Những nội dung trên phản ánh toàn diện tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng tìm lực QP, xây dựng và phát triển lực lượng của nền QP ngay trong quá trình chiến tranh và nhằm trực tiếp đáp ứng nhu cầu của cuộc kháng chiến chống xâm lược của dân tộc ta Mỗi bước phát triển của cuộc kháng chiến cũng là một bước phát triển sức mạnh QP đất nước; đồng thời mỗi bước gia tăng sức mạnh QP đều được thể hiện và chuyển thành sức mạnh của chiến tranh nhân dân giải phóng dân tộc

1.3.2.2.2 Xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân đáp ứng yêu cầu chiến tranh nhân dân chống thực dân Pháp

Xây dựng thế trận QPTD, tạo cơ sở cho thế trận toàn dân kháng chiến chống xâm lược là một nội dung rất quan trọng trong tư tưởng Hồ Chí Minh

về QPTD thời kỳ này Trong điều kiện chiến tranh thì thế trận QPTD là cơ

sở và được biểu hiện ở thế trận chiến tranh nhân dân chống kẻ thù xâm lược Theo Hồ Chí Minh, thế trận QP phải chặt chẽ, rộng khắp và vững chắc, phải được xây dựng ở khắp nơi, ở vùng tự do cũng như vùng tạm chiếm, trực tiếp tạo thành thế trận chiến tranh nhân dân chống xâm lược

Chỉ thị Toàn dân kháng chiến của Ban Thường vụ Trung ương Đảng, ngày 22 tháng 12 năm 1946, mục quân sự chỉ rõ:

“- Toàn dân kháng chiến, kháng chiến khắp nơi

- Đuổi giặc, tiêu phỉ, trừ gian

- Triệt để dùng chiến thuật du kích

- Mỗi phố là một mặt trận

- Mỗi làng là một pháo đài”[38, tr.47]

Trong xây dựng thế trận, việc tổ chức, xây dựng và hoạt động khắp nơi của lực lượng dân quân, du kích có ý nghĩa quan trọng Việc xây dựng và phát triển lực lượng du kích thành “một lực lượng rộng rãi, khắp cả nước,

xã nào, thôn nào cũng có dân quân du kích Nó như một tấm lưới rộng mênh mông, bao trùm cả nước Hễ giặc Pháp và Việt gian bước chân đến đâu, là mắc lưới ở đó ngay”[16, tr.687] là vấn đề vừa là yêu cầu phát triển lực lượng kháng chiến, vừa là yêu cầu của xây dựng thế trận QP, thế trận chiến tranh nhân dân

Theo Hồ Chí Minh, thế trận của từng nơi, của mọi địa phương phải là một bộ phận hữu cơ trong thế trận của cả nước, thế trận chung của cả nước

là chỉnh thể thống nhất, liên hoàn bao gồm thế trận của các địa phương hợp lại

Xây dựng căn cứ địa, hậu phương vững chắc là nội dung quan trọng của thế trận QP, thế trận chiến tranh nhân dân trong kháng chiến chống thực

Ngày đăng: 06/04/2013, 08:06

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban Tư tưởng - Văn hoá (2003), Tài liệu học tập Nghị quyết Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá IX, Nxb. Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu học tập Nghị quyết Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá IX
Tác giả: Ban Tư tưởng - Văn hoá
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2003
2. Bộ chỉ huy quân sự tỉnh An Giang, Báo cáo tổng kết 12 năm thực hiện Luật Nghĩa vụ quân sự, Pháp lệnh về lực lượng dự bị động viên (1996 - 2008) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết 12 năm thực hiện Luật Nghĩa vụ quân sự, Pháp lệnh về lực lượng dự bị động viên
3. Bộ giáo dục và đào tạo (2003), Giáo trình Quốc phòng toàn dân (Tập một), Nxb. Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Quốc phòng toàn dân
Tác giả: Bộ giáo dục và đào tạo
Nhà XB: Nxb. Giáo dục
Năm: 2003
4. Bộ tư lệnh bộ đội biên phòng, Bộ chỉ huy bộ đội biên phòng tỉnh An Giang (Sơ thảo 2004), Lịch sử bộ đội biên phòng An Giang (tập 2) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử bộ đội biên phòng An Giang
5. Phan Huy Chú, Lịch triều hiến chương loại chí (Tập bốn) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch triều hiến chương loại chí
6. C.Mác và Ph.Ăngghen (1980), Tuyển tập (tập 1), Nxb. Sự thật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập
Tác giả: C.Mác và Ph.Ăngghen
Nhà XB: Nxb. Sự thật
Năm: 1980

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w