Trong những năm vừa qua, Việt Nam đã có những bước tiến vượt bậc về sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Trong những năm vừa qua, Việt Nam đã có những bước tiến vượt bậc về sựphát triển kinh tế - xã hội của đất nước Từ tình trạng nghèo nàn, lạc hậu, đến naynước ta đã trở thành một trong những quốc gia có tốc độ tăng trưởng vào loại nhanhnhất trong khu vực và trên thế giới, được đánh giá cao về thành tích xoá đói giảmnghèo và phát triển con người, sắp bước sang ngưỡng của nước có thu nhập trungbình Để đạt được những thành tựu to lớn đó, Việt Nam đã không ngừng đổi mớithể chế kinh tế, chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế
Việc nước ta gia nhập WTO đã tạo ra cơ hội mới, đồng thời cũng đứng trướcnhững thách thức không nhỏ Cơ hội mới khi gia nhập WTO do việc cải cách thểchế, tạo lập môi trường đầu tư và kinh doanh thuận lợi, nâng cao năng lực cạnhtranh tạo điều kiện mở rộng thị trường xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ, thu hút vốnđầu tư quốc tế…
Để có sự thay đổi bộ mặt của đất nước như ngày nay, không thể thiếu vai tròquan trọng của hoạt động đầu tư Hoạt động đầu tư có tác động tới toàn bộ nền kinh
tế, nó tạo đà cho kinh tế phát triển nhưng đầu tư như thế nào là hợp lí, như thế nào
là hiệu qủa lại là một điều khó
Trước sự tác động tiêu cực của kinh tế thế giới cùng với những khó khăn nộitại của nền kinh tế nước ta, cần phải hiểu rõ nguyên nhân gây ra những tác động tiêucực ấy Thực trạng nền kinh tế Việt Nam trong giai đoạn vừa qua gặp rất nhiều khókhăn Có ý kiến cho rằng một trong những nguyên nhân là do việc quản lí đầu tưchưa tốt đã gây ra tình trạng lạm phát cao gây nguy hại cho nền kinh tế Do đó
nhóm sinh viên chúng tôi quyết định chọn đề tài nghiên cứu : “Mối quan hệ qua lại giữa đầu tư và lạm phát”
Do thời gian nghiên cứu và kiến thức của các thành viên trong nhóm là cóhạn nên bài nghiên cứu của chúng tôi còn có những thiếu sót, chúng tôi rất mongnhận được sự góp ý của các bạn đọc và các thầy cô giáo hướng dẫn để bài viết đượchoàn thiện hơn
Trang 2Tập thể nhóm xin chân thành cảm ơn PGS-TS Từ Quang Phương và TS Phạm VănHùng đã giúp đỡ nhóm hoàn thành đề tài này
Các thành viên của nhóm 10: Lê Thị Thu Hằng
Phan Thị Thùy Linh
Trang 3Chương I: Cơ sở lý luận về mối quan hệ giữa đầu tư và lạm phát
A- Tổng quan về đầu tư và lạm phát
I- Đầu tư
1 Khái niệm
Tùy theo đối tượng, mục đích nghiên cứu,phạm vi nghiên cứu mà có nhiềukhái niệm khác nhau về đầu tư.Tuy nhiên có thể nói đầu tư nói chung là sự hi sinhcác nguồn lực ở hiện tại để tiến hành các hoạt động nào đó nhằm thu về các kết quảnhất định trong tương lai lớn hơn các nguồn lực đã bỏ ra để đạt các kết quả đó Nhưvậy mục tiêu của mọi công cuộc đầu tư là đạt được các kết quả lớn hơn so vớinhững hi sinh về nguồn lực mà người đầu tư phải gánh chịu khi tiến hành đầu tư
Theo Luật Đầu tư 2005 có hiệu lực thi hành ngày 01 tháng 7 năm 2006 thì:Đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình hoặc vô hình đểhình thành tài sản tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của Luật này và cácquy định khác của pháp luật có liên quan
Tóm lại Đầu tư là việc sử dụng phối hợp các nguồn lực vào các hoạt độngnào đó nhằm đem lại lợi ích hoặc mục tiêu, mục đích của chủ đầu tư
2.Phân loại đầu tư
Có nhiều cách để phân loại hoạt động đầu tư tùy theo các tiêu chí khác nhaunhư phân loại theo quan hệ quản lý của chủ đầu tư,theo nguồn vốn trên phạm viquốc gia hay phân loại theo lĩnh vực hoạt động của các kết quả đầu tư…
Theo mục đích của bài viết chúng ta chia hoạt động đầu tư thành 3 loại: Hoạtđộng đầu tư tài chính, hoạt động đầu tư thương mại và hoạt động đầu tư phát triển
2.1 Hoạt động đầu tư tài chính
Khái niệm
Đầu tư tài chính là loại hình đầu tư trong đó người có tiền bỏ tiền ra cho vayhoặc mua các chứng chỉ có giá để hưởng lãi suất định trước (gửi tiết kiệm, mua tráiphiếu chính phủ) hoặc hưởng lãi suất tùy vào kết quả sản xuất kinh doanh của công
ty phát hành (mua cổ phiếu, trái phiếu công ty)
Trang 4 Đặc điểm của đầu tư tài chính
-Là loại hình đầu tư không tạo ra tài sản mới cho nền kinh tế mà chỉ làm tănggiá trị tài sản tài chính của tổ chức,cá nhân đầu tư
-Vốn đầu tư bỏ ra được lưu chuyển dễ dàng,khi cần có thể rút ra một cáchnhanh chóng (rút tiết kiệm, chuyển nhượng trái phiếu,cổ phiếu cho người khác)
Chú ý
Trong quan hệ đầu tư tài chính có một đối tượng không tham gia vào đầu tưnhưng rất quan trọng.Đối tượng này đảm bảo cho quan hệ đầu tư được thực hiệnmột cách công bằng và buộc các bên tham gia đầu tư phải tuân thủ đúng quy định
Đặc điểm của đầu tư thương mại
- Không tạo ra tài sản mới cho nền kinh tế (nếu không xét đến vấn đề ngoạithương)
-Làm tăng tài sản của người đầu tư trong quá trình mua đi bán lại, chuyểngiao quyền sở hữu hàng hóa giữa người bán với người đầu tư và giữa người đầu tưvới người mua
2.3 Hoạt động đầu tư phát triển
Khái niệm
Đầu tư phát triển là hoạt động chi dùng vốn trong hiện tại để tiến hành cáchoạt động nhằm làm tăng thêm hoặc tạo ra những tài sản vật chất (nhà xưởng,thiếtbị…) và tài sản trí tuệ (tri thức,kĩ năng…) gia tăng năng lực sản xuất, tạo thêm việclàm và vì mục tiêu phát triển
Trang 5 Đặc điểm của đầu tư phát triển
-Quy mô tiền vốn, vật tư, lao động cần thiết cho hoạt động đầu tư pháttriển thường rất lớn Vốn đầu tư lớn nằm khê đọng lâu trong suốt quá trình thựchiện đầu tư
-Thời kì đầu tư kéo dài Thời kì đầu tư tính từ khi khởi công thực hiện dự ánđến khi dự án hoàn thành và đưa vào hoạt động
-Thời gian vận hành các kết quả đầu tư kéo dài Thời gian vận hành các kếtquả đầu tư tính từ khi đưa công trình vào hoạt động cho đến khi hết thời hạn sửdụng và đào thải công trình
-Các thành quả của hoạt động đầu tư phát triển mà chủ yếu là các công trìnhxây dựng thường phát huy tác dụng ngay tại nơi mà nó được tạo dựng nên,do đó,quá trình thực hiện đầu tư cũng như thời kì vận hành các kết quả đầu tư chịu ảnhhưởng lớn của các nhân tố về tự nhiên, kinh tế, xã hội vùng
-Đầu tư phát triển có độ rủi ro cao
Mối quan hệ giữa 3 loại hình đầu tư
Đầu tư tài chính là nguồn cung cấp vốn quan trọng cho đầu tư phát triển vàđầu tư thương mại Còn đầu tư thương mại có tác dụng thúc đẩy quá trình lưu thôngcủa cải vật chất do đầu tư phát triển tạo ra, thúc đẩy đầu tư phát triển, tăng thu chongân sách Nhà nước, tăng tích lũy vốn cho phát triển sản xuất, kinh doanh, dịch vụnói riêng và nền sản xuất xã hội nói chung
II Lạm phát
1 Khái niệm lạm phát
Như chúng ta đã biết, lạm phát là một vấn đề kinh tế vĩ mô và từ lâu đã cótác động vô cùng to lớn tới nền kinh tế Vì vậy, lạm phát đã trở thành một mối quantâm rất lớn của tất cả mọi người Làm sao để có thể kiểm soát chúng cũng là mộtvấn đề đã gây ra rất nhiều trăn trở Vậy lạm phát là gì?
Đã có rất nhiều quan điểm khác nhau về lạm phát được đề cập trong rấtnhiều công trình nghiên cứu khác nhau
Trang 6 Theo Các Mác trong bộ Tư Bản :” Lạm phát là việc tràn đầy những kênh,các luồng lưu thông những tờ giấy bạc thừa dẫn tới giá cả tăng vọt” Trên cơ sở đóông nhìn nhận nguyên nhân của lạm phát là do bóc lột của chủ nghĩa tư bản, bóc lộtbằng giá cả bởi họ là những người sản xuất ra hàng hoá Tiền lương thực tế củangười lao động giảm Một bộ phận giàu lên nhanh chóng nhờ lạm phát, một bộ phậnnghèo đi rõ rệt dẫn đến sự phân phối lại trong nền kinh tế Vì vậy, nhiệm vụ đặt ra
là triệt tiêu chủ nghĩa tư bản
Nhà kinh tế Samuelson thì cho rằng: Lạm phát biểu thị một sự tăng lêntrong mức giá chung Theo ông: “Lạm phát xảy ra khi mức chung của giá cả và chiphí tăng – giá bánh mỳ, dầu xăng, xe ôtô tăng, tiền lương, giá đất, tiền thue tư liệusản xuất tăng”
Theo M.Friedmen: “Lạm phát là giá tăng nhanh và kéo dài” Ông chorằng:” Lạm phát luôn và bao giờ cũng là một hiện tượng tiền tệ” Lạm phát là kếtquả tất yếu của nền kinh tế hiện đại
Tóm lại, như vậy về thực chất lạm phát là hiện tượng thừa tiền trong nềnkinh tế mà biểu hiện của nó là mặt bằng giá cả tăng lên
2 Phân loại lạm phát
Có nhiều cách khác nhau để phân loại lạm phát Mỗi cách phân loại dựa trênnhững tiêu thức nhất định
Xét về mặt định tính :
- Lạm phát cân bằng và lạm phát không cân bằng:
Lạm phát cân bằng: tăng tương ứng với thu nhập Chính vì vậy lạm phátkhông gây ảnh hưởng lớn đến đời sống của người lao động
Lạm phát không cân bằng: tỷ lệ lạm phát tăng không tương ứng với thu nhập.Trên thực tế, lạm phát không cân bằng thường rất hay xảy ra
- Lạm phát dự đoán được và lạm phát bất thường:
Lạm phát dự đoán được: Lạm phát xảy ra trong một khoảng thời gian tươngđối dài với tỷ lệ lạm phát hàng năm khá đều đặn, ổn định Chính vì vậy, người ta cóthể dự đoán được tỷ lệ lạm phát cho những năm tiếp theo Vế tâm lý, người dân đã
Trang 7quen với tình hình lạm phát đó và đã có những chuẩn bị để thích nghi với trạng lạmphát này Đây là loại lạm phát nên duy trì vì nó không ảnh hưởng đến đời sốngngười lao động và các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô.
Lạm phát không dự đoán được( Lạm phát bất thường) : Lạm phát xảy ra cótính đột biến, không dự doán được Do vậy, về mặt tâm lý, cuộc sống và thói quencủa mọi người đều chưa được thích nghi Lạm phát bất thường gây lên những cúsốc cho nền kinh tế, ảnh hưởng nghiêm trọng tới đời sống của người dân Vì vậy,loại lạm phát này cần phải được giải quyết ngay
Xét về mặt định lượng: Dựa trên độ lớn nhỏ của tỷ lệ % lạm phát tínhtheo năm, người ta chia lạm phát thành:
- Lạm phát một chữ số: Lạm phát này xảy ra khi giá tăng chậm và tỷ lệ lạmphát dưới 10% Nó còn được gọi là lạm phát vừa phải Đây là mức lạm phát mà nềnkinh tế có thể chấp nhận được, với mức lạm phát này, những tác động kém hiệu quảcủa nó là không đáng kể Nhà Nước thường muốn duy trì mức lạm phát lý tưởng là5% vì nó thúc đẩy sự phát triển của các thành phần kinh tế, khuyến khích doanhnghiệp mở rộng sản xuất kinh doanh (vì lợi nhuận tăng 5%)
Khi lạm phát tăng 7,8,9% thì nó gây tác động nhẹ tới nền kinh tế, chưa ảnhhưởng xấu và Nhà Nước có thể kiểm soát được
- Lạm phát hai con số (lạm phát phi mã): Ở mức lạm phát hai con sốthấp(11,12,13% năm), nói chung những tác động tiêu cực của nó là chưa đáng kể,nền kinh tế vẫn chấp nhận được Nhưng khi ở mức hai con số cao lạm phát sẽ trởthành kẻ thù của sản xuất và thu nhập vì tác động tiêu cực của nó là không nhỏ nếukhông muốn nói nó đã trở thành mối đe doạ đến sự ổn định của nền kinh tế
- Lạm phát ba con số (siêu lạm phát): Tỷ lệ lạm phát rất cao và tốc độ tăngrất nhanh Nền kinh tế rơi vào tình trạng khủng hoảng trầm trọng, thiếu thốn hànghoá, quản lý chao đảo Kinh tế suy sụp một cách nhanh chóng, thu nhập thực tế củangười lao động giảm mạnh
Như vậy, mỗi loại lạm phát có những tác động riêng tới nền kinh tế Tuy vậytrên thực tế, lạm phát thường xuyên gây ra những tác động xấu, ảnh hưởng nghiêm
Trang 8trọng tới toàn bộ nền kinh tế nói chung cũng như đời sống của người dân nói riêng.Vậy, nguyên nhân nào dẫn đến lạm phát? Chúng ta hãy cùng tìm hiểu phần tiếp theo.
3- Nguyên nhân của lạm phát.
Theo chủ nghĩa trọng thương: Lạm phát là ngăn sông cấm chợ Do đó, giáhàng hoá tăng lên
Theo chủ nghĩa trọng cầu: Lạm phát là do cầu quá nhiều trong nền kinh tếTheo chủ nghĩa trọng cung: Lạm phát là hiện tượng thừa tiền của nền kinh tếTheo quan điểm của kinh tế học vĩ mô, lạm phát có những nguyên nhân sau:
Do cung tiền tăng lên:
Như chúng ta đã biết, cung tiền tăng làm AD dịch chuyển sang phải Trongthời gian ngắn sản phẩm tăng lên trên mức thất nghiệp tự nhiên Điều đó làm giảm
tỷ lệ thất nghiệp xuống dưới mức tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên, tiền lương tăng lên vàlàm giảm tổng cung Tại đây nền kinh tế quay trở lại mức tỷ lệ tự nhiên của sảnphẩm trên đường tổng cung dài hạn và mức giá tăng lên
Lạm phát do chi phí đẩy: Bản chất là chi phí tăng làm cho giá thành sảnphẩm tăng.Nguyên nhân làm chi phí tăng có thể là do giá thành nguyên nhiên vậtliệu đầu vào tăng hoặc do tiền trả cho người lao động tăng
Lạm phát do cầu kéo: Do sự tăng lên liên tục của mức cầu mà sự gia tăngcủa mức cung không đáp ứng được
Lạm phát do bội chi Ngân sách Nhà Nước: Trong số các biện pháp khắcphục bội chi, có những biện pháp làm lạm phát tăng Mà cụ thể là việc phát hànhtiền ra công chúng làm cung tiền tăng dẫn đến hiện tượng lạm phát
Lạm phát theo tỷ giá hối đoái: (giữa đồng nội tệ với đồng ngoại tệ)
Khi tỷ giá tăng: đồng nội tệ mất giá tác động đến tâm lý của người dân làmgiá cả tăng Hơn nữa giá nguyên vật liệu nhập khẩu tăng làm chi phí tăng (lạm phátchi phí đẩy)
4- Tác động của lạm phát
Lạm phát tác động rất lớn tới nền kinh tế Lam phát cao có ảnh hưởng đếnmọi mặt của đời sống kinh tế, chính trị, xã hội…
Trang 9 Sau đây là một số tác động chủ yếu của lạm phát :
Tác động tới lãi suất: Như chúng ta đã biết, lãi suất thực= Lãi suất danhnghĩa - tỷ lệ lạm phát Do đó khi tỷ lệ lạm phát tăng cao, muốn cho lãi suất thực ổnđịnh thì lãi suất danh nghĩa phải tăng cùng tỷ lệ lạm phát Điều đó làm đầu tư giảmdẫn đấn suy thoái kinh tế và tỷ lệ thất nghiệp gia tăng
Tác động tới thu nhập: Trong trường hợp tiền lương danh nghĩa không đổi,lạm phát tăng sẽ làm tiền lương tiền lương thực tế giảm
Tạo ra sự phân phối thu nhập không bình đẳng: Khi lạm phát xảy ra ngườitiêu dùng có xu hướng mua nhiều hàng hoá để tích trữ Điều đó tạo cơ hội chonhững nhà đầu cơ ép giá làm giá tăng Một bộ phận trong nền kinh tế giàu lên, một
bộ phận nghèo đi Tình trạng lạm phát như vậy có thể gây ra những rối loạn trongnền kinh tế và tạo ra khoảng cách lớn về thu nhập, về mức sống giữa người giàu vàngười nghèo Vì vậy, chính phủ cần có biện pháp đánh thuế nặng vào những hànghoá đầu cơ Hay như trong quan hệ kinh tế giữa người cho vay và người đi vay, khilạm phát tăng cao, ngườiôch vay sẽ là người chịu thiệt và người vay sẽ là ngườiđược lợi Điều này cũng tạo nên sự phân phối bất bình đẳng giữa người đi vay vàngười cho vay
Một số tác động khác của lạm phát:
Gánh nặng nợ của quốc gia đang có lạm phát tăng vì lạm phát tăng làm tỷgiá tăng cao và đồng tiền trong nước trở nên mất giá nhanh hơn so với đồng tiềnnước ngoài tính trên các khoản nợ
Hoạt đông xuất nhập khẩu bán được ít ngoại tệ hơn, mua phải trả nhiềungoại tệ hơn
Làm giảm uy tín của quốc gia đó trên trường quốc tế, việc mở rộng quan hệngoại giao bị hạn chế
Tệ nạn trong xã hội gia tăng: buôn tiền, rửa tiền, trộm cắp, đầu cơ…
Tổng kết lại, lạm phát cao và kéo dài đã gây những hậu quả lớn trong đời sốngcủa người dân cũng như cản trở sự tăng trưởng kinh tế Chính phủ các quốc gia cần
có những biện pháp hữu hiệu mang tính chiến lược để phòng ngừa và khắc phục lạmphát Tuỳ vào hoàn cảnh cụ thể của mỗi quốc gia mà có những biện pháp cụ thể Cóthể là các biện pháp mang tính tình thế hoặc những biện pháp mang tính lâu dài
Trang 10B/ LÍ LUẬN VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA ĐẦU TƯ VÀ LẠM PHÁT
I/ Lạm phát tác động đến đầu tư
1 Gây sụt giảm nhu cầu đầu tư
a/ Lạm phát tác động đến đầu tư thông qua lãi suất
Lạm phát luôn là một vấn đề rất nhạy cảm và nó tác động rất lớn đến nềnkinh tế nói chung và hoạt động đầu tư nói riêng Lạm phát cao sẽ dẫn đến một cuộckhủng hoảng kinh tế kéo dài và nó sẽ gây ra một hậu quả rất khủng khiếp Trước hếtchúng ta sẽ đánh giá tác động của lạm phát đến đầu tư thông qua biến số lãi suất.Khi lạm phát được dự đoán là sẽ tăng lên trong thời kì nào đó thì nó sẽ làm cholãi suất sẽ xu hướng tăng Điều này có thể giải thích bằng cả hai hướng tiếp cậnsau đây:
Thứ nhất, xuất phát từ mối quan hệ giữa lãi suất thực và lãi suất danh nghĩacho thấy để duy trì lãi suất thực không đổi, tỷ lệ lạm phát tăng đòi hỏi lãi suất danhnghĩa phải tăng lên tương ứng
Lãi suất thực = lãi suất danh nghĩa - tỷ lệ lạm phát
Thứ hai, công chúng dự đoán tỷ lệ lạm phát tăng vì vậy họ sẽ dành phần tiếtkiệm của mình cho việc dự trữ hàng hoá hoặc chuyển sang các dạng thức tài sản phitài chính khác như vàng, ngoại tệ mạnh, hoặc đầu tư vốn ra nước ngoài (nếu có thể)
… để tránh mất giá của đồng nội tệ Điều này sẽ khiến cho lượng tiền gửi tiết kiệmtrong ngân hàng giảm mạnh do giảm cung quỹ cho vay Trong kinh tế thị trường,nguyên tắc chung là lãi suất tiết kiệm phải cao hơn lạm phát để bảo đảm cho lãi suấtthực dương Nếu lãi suất tiết kiệm thấp hơn lạm phát thì lãi suất thực sẽ mang dấu
âm, tức là không có lãi suất thực
Trong thời kỳ lạm phát phi mã, lạm phát cao gấp nhiều lần lãi suất tiết kiệm,đến nỗi đã được ví như hiện tượng: người gửi tiền có giá trị như một con bò, gửivào ngân hàng nhờ "quay vòng" hộ, nhưng đến khi rút ra chỉ còn giá trị như cái đuôi
bò Bởi vậy mà khi xảy ra lạm phát với tỷ lệ cao thì lãi suất có xu hướng tăng lêntương ứng để người có tiền gửi cảm thấy không quá thiệt
Trang 11Tất cả điều này làm giảm cung quỹ cho vay và gây áp lực tăng lãi suất củacác nhà băng cũng như trên thị trường.
Vậy lãi suất cho vay ảnh hưởng đến nền kinh tế nói chung và hoạt động đầu
tư nói riêng như thế nào?
Lãi suất thấp cũng khiến cho các nhà sản xuất, các chủ nông nghiệp và các
cơ sở kinh doanh khác dễ dàng mượn vốn và đầu tư vào thiết bị hoặc những phạmtrù cần các chi phí lớn khác Thêm vào đó, nguồn thu lại từ những khoản đầu tư nhưvậy thì có giá trị hơn tại thời điểm ấy (tức là thời điểm khi mà lãi suất thấp) hơn khilãi suất cao Điều này khiến cho các doanh nghiệp lời nhiều hơn khi đầu tư với mứclãi suất thấp, và cũng theo đà đó mà giúp kinh tế phát triển nhanh hơn vì năng suấtlao động tăng mạnh
Một sự tăng lãi suất làm giảm sức hấp dẫn trong việc chi tiêu hiện tại hơn làchi tiêu trong tương lai của cá nhân và công ty Tín dụng trong nước, tổng lượngtiền và cầu thực tế đều giảm (nếu lãi suất giảm sẽ có tác động ngược lại): Khi lãisuất thực tăng lên, đối với hộ gia đình sẽ giảm nhu cầu mua sắm nhà ở hoặc cáchàng tiêu dùng lâu bền do chi phí tín dụng để mua các hàng hoá này tăng lên Cùngvới lãi suất cho vay, lãi suất tiền gửi thực cũng tăng lên Sự gia tăng lãi suất này tácđộng tới quyết định tiêu dùng của khu vực hộ gia đình theo hướng giảm tiêu dùnghiện tại và tăng tiết kiệm để cho tiêu dùng trong tương lai Đối với khu vực doanhnghiệp, sự gia tăng lãi suất làm tăng chi phí vốn vay ngân hàng Điều hiển nhiên làlãi suất hay giá của vốn cao thì nhu cầu vay vốn giảm, nguồn vốn đầu tư vào các dự
án giảm, quy mô vốn thấp Khu vực nhà nước dễ dàng tiếp cận các nguồn vốn vayhơn khu vực tư nhân và thường được vay vốn với lãi suất ưu đãi Bởi vậy, tác độngcủa lãi suất đến khu vực tư nhân nhạy cảm hơn và mạnh hơn nhiều Trong quá trìnhđầu tư, các doanh nghiệp tư nhân rất quan tâm tới biến động lãi suất vay vốn bởi nó
là giá của vốn đầu tư, quyết định quy mô vốn đầu tư và ảnh hưởng trực tiếp tới lợinhuận thực tế mà họ thu về được Điều này đòi hỏi dự án đầu tư sử dụng vốn vayngân hàng phải có tỷ lệ lợi nhuận lớn hơn và kết quả là số dự án đầu tư có thể thựchiện với mức lãi suất cao hơn này có thể giảm hay nói cách khác, đầu tư cố định có
Trang 12thể giảm Ngoài ra, lãi suất cao cũng làm tăng chi phí lưu giữ vốn lưu động (ví dụnhư hàng trong kho) và do vậy, tạo sức ép các doanh nghiệp phải giảm đầu tư dướidạng vốn lưu động.
Vấn đề đặt ra là phải có chính sách điều tiết lãi suất hợp lý để nó vừa kíchthích đầu tư, tăng quy mô vốn vừa phản ánh đúng giá trị nguồn vốn cho vay trên thịtrường
b/ Lạm phát tác động đến đầu tư thông qua tăng trưởng kinh tế
Trong một thời kì dài các nhà kinh tế đã nghiên cứu cái giá phải trả cho lạmphát và tất cả đã đồng ý rằng lạm phát gây thiệt hại rất lớn cho xã hội Lạm phátcũng làm tăng tình trạng bất ổn làm ảnh hưởng đến khả năng quyết định tốt nhất củadân chúng Trong thời gian gần đây, các mô hình kinh tế và thực nghiệm cho thấylạm phát cũng có ảnh hưởng tới tỷ lệ tăng trưởng của nền kinh tế
Xét trong mối quan hệ giữa hai mục tiêu tăng trưởng và lạm phát, nếu ưu tiêntăng trưởng, thì đầu tư gia tăng, tỷ lệ vốn đầu tư so với GDP sẽ cao, trong khi hiệuquả đầu tư giảm; tốc độ tăng trưởng tín dụng và tổng phương tiện thanh toán caogấp 5-6 lần tốc độ tăng GDP (gấp hơn hai lần các nước trong khu vực ) thì lạmphát sẽ gia tăng Đó là chưa nói tới ở đầu ra, cả tiêu thụ trong nước và xuất khẩucũng tăng cao hơn tạo sức ép đối với lạm phát
Nếu ưu tiên kiềm chế lạm phát (thấp hơn tốc độ tăng GDP chẳng hạn), thìtăng trưởng kinh tế sẽ không cao hơn, bởi tăng trưởng kinh tế mới vừa thoát đáy,còn đang leo dốc (chưa thể nói hồi phục), trong khi tăng trưởng kinh tế phụ thuộcphần lớn vào đầu tư
Dung hoà các mối quan hệ trên, có thể đưa ra kịch bản cho năm 2010 so vớinăm 2009 đối với Việt Nam là tăng trưởng kinh tế cao hơn (khoảng 6-6.5%), đồngthời lạm phát cũng phải thấp hơn (dưới 7%); nếu việc kiềm chế lạm phát là khókhăn, thì có thể chấp nhận tốc độ tăng trưởng thấp hơn (khoảng 6%), vừa để cơ cấulại nền kinh tế, vừa kiềm chế lạm phát
Trang 13 Lý thuyết về lạm phát và tăng trưởng
Về lý thuyết, lạm phát có thể tác động tiêu cực lẫn tích cực lên tăng trưởngkinh tế: Theo Mundell (1965) và Tobin (1965), có mối tương quan tỉ lệ thuận giữalạm phát và tăng trưởng; hai trường phái Keynes và trường phái tiền tệ đều cho rằngtrong ngắn hạn, chính sách nới lỏng tiền tệ kích thích tăng trưởng, đồng thời làm giatăng lạm phát; đường cong Phillips nổi tiếng về sự đánh đổi giữa mục tiêu lạm phát
và thất nghiệp
- Stagflation nghĩa là suy thoái và lạm phát, tình trạng nền kinh tế vừa cónhững dấu hiệu của lạm phát, mà cơ bản nhất là giá cả leo thang, tiền mất giá nhưnglại vừa có những biểu hiện của suy thoái như sản xuất đình trệ, thất nghiệp gia tăng,lạm phát cao, tăng trưởng thấp
- Lạm phát có thể tác động tiêu cực lên tăng trưởng như: dấu hiệu bất ổn kinh
tế vĩ mô; tăng sự không chắc chắn của các hoạt động đầu tư; lạm phát làm thay đổigiá cả tương đối, làm méo mó quá trình phân bổ nguồn lực; lạm phát còn được xemnhư là một loại thuế đánh vào nền kinh tế
Các nghiên cứu kiểm nghiệm về mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng
- Nghiên cứu ban đầu (những năm 60) không tìm thấy mối quan hệ có ýnghĩa thống kê nào
- Giai đoạn sau khủng hoảng dầu hỏa 1973-1974, tìm thấy quan hệ âm giữalạm phát và tăng trưởng (Fischer, 1993; Bruno và Easterly, 1995; Barro, 1998)
Lạm phát và tăng trưởng trên thế giới
Mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng là phi tuyến tính Lạm phát chỉ tácđộng tiêu cực lên tăng trưởng khi đạt ngưỡng nhất định nào đó (threshold) Ở mứcdưới ngưỡng, lạm phát không nhất thiết tác động tiêu cực lên tăng trưởng, thậm chí
có thể tác động dương như lý thuyết Keynes đề cập
Kết quả kiểm nghiệm ảnh hưởng ngưỡng của lạm phát
- Nghiên cứu của Khan và Senhadji (2001): 140 nước, giai đoạn 1960-1998.Các nước đang phát triển, ngưỡng lạm phát từ 11-12%/năm
- Nghiên cứu của Li (2006): Số liệu cho 90 nước đang phát triển, giai đoạn1961-2004, ngưỡng là 14%/năm
Trang 14- Nghiên cứu của Christoffersen và Doyle (1998) tìm ra ngưỡng là 13% chocác nền kinh tế chuyển đổi.
Kết luận: ngưỡng tiêu cực của lạm phát là từ 11%-14% trở lên
Tương đồng với nghiên cứu trên, tác giả Tú Anh - Ngân hàng Nhà nước(NHNN) cũng cho rằng: giữa tăng trưởng kinh tế và lạm phát thường có mối quan
hệ nhất định Tuy nhiên, mức độ gắn kết như thế nào là vấn đề còn tranh cãi Một sốnghiên cứu và thực nghiệm cho thấy, lạm phát có thể tác động tiêu cực đến tăngtrưởng kinh tế khi nó vượt qua một ngưỡng nhất định Fischer (1993) là người đầutiên nghiên cứu vấn đề này đã kết luận, khi lạm phát tăng ở mức độ thấp, mối quan
hệ này có thể không tồn tại, hoặc mang tính đồng biến, và lạm phát ở mức cao mốiquan hệ này là nghịch biến Một số các nhà nghiên cứu sau này như Sarel (1996),Gosh và Phillips (1998), Shan và Senhadji (2001), và một số các nhà nghiên cứukhác đã cố gắng tìm ra đặc điểm đặc biệt về mối quan hệ giữa lạm phát và tăngtrưởng kinh tế Bằng các nghiên cứu khác nhau, họ đã tìm ra một ngưỡng lạm phát,
mà tại ngưỡng đó nếu lạm phát vượt ngưỡng sẽ có tác động tiêu cực (tác độngngược chiều) đến tăng trưởng Theo Sarel, ngưỡng lạm phát là 8%, theo Shan vàSenhadji, ngưỡng lạm phát cho các nước đang phát triển là 11-12%, các nước côngnghiệp khoảng 1-3% Gần đây nhất là nghiên cứu của tác giả Khan (2005) đã tậptrung nghiên cứu xác định mức lạm phát tối ưu Kết quả Khan đã tìm ra mức lạmphát tối ưu đối với các nước vùng Trung Đông và Trung Á là khoảng 3,2%
Trang 15Như vậy, lạm phát cao rất có hại cho tăng trưởng Do đó, chính phủ có vaitrò rất quan trọng trong việc kiềm chế lạm phát dưới mức tối ưu.
Vậy tăng trưởng tác động đến đầu tư như thế nào?
Tăng trưởng kinh tế là một chỉ tiêu vĩ mô quan trọng mà nhà đầu tư quantâm Động thái và xu thế tăng trưởng kinh tế của một quốc gia có thể ảnh hưởng đếntình hình đầu tư và phát triển của một ngành, một lĩnh vực và sau đó là kết quả vàhiệu quả đầu tư của một dự án cụ thể Chẳng hạn trong một nền kinh tế có tốc độtăng trưởng cao và duy trì ổn định trong thời gian dài thì cơ hội đầu tư của các lĩnhvực công nghệ mới, các dự án cung cấp hàng hoá và dịch vụ có chất lượng cao sẽ cónhiều khả năng thành công Tuy nhiên khi nền kinh tế đang trong giai đoạn suythoái, có tốc độ tăng trưởng chậm thì các dự án cung cấp hàng hoá được đánh giá là
xa xỉ, lâu bền sẽ khó thành công hơn nếu không có các giải pháp đột phá về côngnghệ và phương thức sản xuất
2.1 Phá vỡ hiệu quả tính toán tài chính của các dự án đầu tư
Tỷ lệ lạm phát có ảnh hưởng lớn đến sự ổn định môi trường kinh tế vĩ mô và
có thể có ảnh hưởng đến ý định và hành động của nhà đầu tư Lạm phát có thể là rủi
ro tiềm tàng làm suy giảm hiệu quả đầu tư
Như trên phân tích thì lạm phát tăng cao sẽ làm lãi suất có xu hướng tănglên Lãi suất vốn vay lại chính là chi phí sử dụng vốn do đó khi tăng lãi suất, hiệuquả đầu tư sẽ thay đổi theo chiều hướng xấu
Lạm phát đã tác động trực tiếp đến các khoản chi phí vốn đầu tư Nếu mứclạm phát càng cao thì khối lượng vốn đầu tư để thực hiện thi công xây lắp các côngtrình trong tương lai càng cao so với lượng tính theo thực tại Lạm phát càng tănglàm nhu cầu tiền mặt tăng và do đó hiệu quả dự án càng thấp Lạm phát còn ảnh
Trang 16hưởng đến các khoản thu phải trả của dự án Chẳng hạn như các khoản bán chịunhiều, mua chịu ít không có lợi cho dự án.
Ta có thể đánh giá hiệu quả tài chính của dự án thông qua hệ thống các chỉtiêu như: chỉ tiêu lợi nhuận thuần, thu nhập thuần, tỷ suất sinh lời cho vốn đầu tư, tỷsuất hoàn vốn nội bộ v.v…
Giả sử ta dùng chỉ tiêu thu nhập thuần của dự án để đánh giá hiệu quả tài chínhcủa dự án Chỉ tiêu này cho phép đánh giá đầy đủ quy mô lãi của cả đời dự án Thunhập thuần của dự án tại một thời điểm (đầu thời kỳ phân tích – PV hay cuối thời kỳphân tích – FV) là chênh lệch giữa tổng các khoản thu và tổng các khoản chi phí của cảđời dự án sau khi đã được đưa về cùng một thời điểm (PV hay FV)
Thu nhập thuần của dự án được tính chuyển về mặt bằng hiện tại đầu thời kỳphân tích, ký hiệu NPV (Net Present Value) được xác định theo công thức:
Trong đó:
Bi: Khoản thu của năm i
Ci: Khoản chi phí của năm i (không bao gồm khấu hao và lãi vay)
n: Số năm hoạt động của đời dự án
r: Tỷ suất chiết khấu được chọn
Giả sử, với tỷ suất chiết khấu r ta tính được NPV dương, tức là dự án có hiệuquả tài chính Nhưng do lạm phát tăng, lãi suất vốn vay cũng tăng lên, r tăng lênthành r1, lúcnày NPV có thể vẫn dương nhưng đã bị giảm hoặc trong trường hợp xấuthì NPV có thể âm Một khi dự án đang được thực hiện rồi thì chủ đầu tư bắt buộcphải chấp nhận điều này và tìm ra giải pháp khắc phục để giảm hậu quả gây rối loạncác dự án Nhiều dự án còn phải tạm ngừng triển khai… gây nguy hại đến nền kinh
tế Còn khi dự án mới chỉ trong giai đoạn chuẩn bị đầu tư thì bắt buộc chủ đầu tưphải tìm hướng phát triển khác
Trang 17Như vậy, lạm phát đã làm phá hoại hiệu quả đầu tư, giảm hiệu suất các dự ánđang hoạt động.
2.2 Tăng chi phí đầu vào không dự tính được
Sự thành công của các dự án đang hoạt động dựa trên kết quả lập kế hoạch
và tính toán các dự án trước khi đi vào hoạt động Đặc biệt đối với các dự án sảnxuất việc dự tính trước chi phí nguyên vật liệu đầu vào là điều kiện thiết yếu để tiếnhành tham gia đấu thầu hoặc sản xuất Bởi vì tất cả các sản phẩm sản xuất ra đều đãtheo đơn đặt hành từ trước nên lạm phát là nhân tố đáng sợ nhất dẫn tới làm cho các
kế hoạch đầu tư sản xuất chịu lỗ bất ngờ có thể do không đủ hoặc không có nguyênvật liệu đầu vào dự trữ Lúc này lạm phát đẩy các dự án vào tình thế phải đối mặt:Một là tiếp tục sản xuất và chịu lỗ nhưng giữ được uy tín và đảm bảo hoàn thànhhợp đồng với đối tác, hai là ngừng sản xuất hoặc tạm ngừng sản xuất, không hoànthành hợp đồng với khách hàng Trường hợp xấu dự án còn có thể phá sản vì cácnhân tố đầu vào này Rõ ràng cả hai sự lựa chọn đều không dễ chịu đối với các nhàđầu tư Các chi phí đầu vào bao gồm :
+ Chi phí nguyên liệu để sản xuất
+ Chi phí nhiên liệu để vận hành máy móc thiết bị
+ Chi phí vận tải sản phẩm, hoặc nguyên liệu
+ Chi phí năng lượng (điện, than, xăng )
Thêm một điểm nữa là mặc dù không thuộc phạm trù chi phí đầu vào nhưng
sự chênh lệch tỷ giá bất ngờ do lạm phát gây ra trong thời điểm thanh toán cũng làmột nhân tố gây ra sự thua lỗ của các doanh nghiệp
2.3 Áp lực gia tăng lương nhân công cao, trong khi đó giá thành sản phẩm đã
cố định hoặc tăng cao gây khó tiêu thụ
Lạm phát đẩy giá cả sản phẩm của không những các nguyên liệu cho đầu vào
mà còn tăng giá của tất cả các sản phẩm nói chung trong đó phần lớn là ảnh hưởngtới cuộc sống của công nhân viên Theo lý thuyết tiền lương cứng nhắc ta biết rằnglương của người lao động không thể theo kịp sự tăng giá của các sản phẩm do đókhi cuộc sống khó khăn đẩy áp lực tăng lương lên doanh nghiệp là chuyện khó có
Trang 18thể tránh khỏi Nhất là trong trường hợp các ngành sử dụng nhiều lao động thì đâythực sự là một vấn đề khó khăn Các doanh nghiệp trong thực tế hầu hết sẽ phải đốimặt với hai tình huống không mấy tốt đẹp: một là tăng lương cho các nhân công và
có thể dẫn tới tăng giá cả sản phầm gây khó tiêu thụ hoặc chịu lỗ, hai là các doanhnghiệp phải đối mặt với nạn đình công quy mô lớn hoặc là nghỉ việc của một nhómcông nhân Nếu sự đình công diễn ra lâu, tiến độ sản xuất sẽ bị phá hủy dẫn tới việckhông hoàn thành đúng hợp đồng với khách hàng, hẳn điều này về lâu dài sẽ ảnhhưởng tới uy tín của công ty và thậm chí gây khó khăn cho hoạt động sản xuất kinhdoanh của công ty trong nhiều năm sau
2.4 Đình đốn các dự án đang hoạt động, hoặc phá sản, rút vốn dẫn tới sụp đổ thị trường, rối loạn nguồn cung, cầu
Từ hai phần phân tích phía trên ta đều đã có thể hiểu phần nào các dự ánđang hoạt động vấp phải khó khăn thế nào khi lạm phát xảy ra Trên góc độ vi môcủa doanh nghiệp, doanh nghiệp phải đối phó với những khó khăn như thế và không
dễ dàng gì tìm được lối ra Trên góc độ vĩ mô, nếu hàng loạt doanh nghiệp cùngphải đối mặt với khó khăn sẽ dẫn tới sự sụp đổ của cả một ngành hoặc nhiều ngànhkhác nhau Việc lạm phát cao gây ra tâm lý e sợ lỗ dẫn tới việc các doanh nghiệp rútvốn khỏi thị trường khiến tình hình kinh tế thêm ảm đạm Tình hình sẽ càng trở nêncăng thẳng khi các ngành đổ vỡ gây thiếu cung đẩy giá lên cao, lạm phát đẻ ra lạmphát Thêm vào đó khi tình hình lạm phát tăng cao, chính phủ sẽ lại có các biệnpháp để kiềm chế lạm phát và điều này sẽ dẫn tới việc hạn chế đầu tư, hay khôngkhuyến khích tiêu dùng Xét trên khía cạnh quốc gia hay vĩ mô, những biện pháphành chính này là cần thiết, tuy nhiên những biện pháp kinh tế hành chính này kéodài bao lâu và có hiệu quả như thế nào sẽ tùy thuộc vào sự hiệu quả của nó và chínhphủ Nếu các biện pháp đó duy trì dài lâu và cứng nhắc, tất yếu sẽ dẫn tới hậu quảkhông tốt cho đầu tư
3 Gây mất cân đối cơ cấu đầu tư, tăng xu hướng đầu cơ trục lợi
3.1 Tăng đầu tư vào các ngành không ưu tiên, hoặc không có hiệu quả sau khi lạm phát.
Trang 19Thực tế đa dạng của lạm phát có thể đẩy nền kinh tế vào việc thiếu cung mộtvài dòng sản phẩm nào đó trên những khu vực nhất định Điều này sẽ dẫn tới việcđẩy dòng vốn vào những khu vực đó để kiếm lời Tuy nhiên tác động không mongmuốn của lạm phát được giải quyết bởi nhiều lực lượng khác nhau và lợi ích củanhững lực lượng này không phải bao giờ cũng song hành với lợi ích của những khuvực vốn nổi lên trong lạm phát Khi đó do giá thành sản phẩm đã hạ xuống nhữngkhu vực đầu tư nhất thời, ngắn hạn và nhằm trục lợi như thế này có thể sẽ dẫn tới sựkhông hiệu quả của dòng vốn và lãng phí tài nguyên.
3.2 Tăng tâm lý đầu cơ, sử dụng vốn theo hướng ngắn hạn.
Tâm lý đầu cơ trục lợi là điều khó có thể tránh khỏi khi có lạm phát Đầu cơgây ra những hậu quả tồi tệ cho nền kinh tế, khi nó trực tiếp gây ra và duy trì cholạm phát tăng cao Nguyên nhân là do lạm phát cao làm giảm giá trị đồng tiền trongnước Khi các mức giá cả trong tương lai khó dự đoán hơn thì các kế hoạch chi tiêu
và tiết kiệm hợp lý sẽ trở nên khó thực hiện hơn Người dân ngày càng lo ngại vềviệc sức mua trong tương lai của họ bị giảm xuống và mức sống của họ cũng vì vậy
mà kém đi Do đó lạm phát cao khuyến khích các hoạt động đầu tư mang tính đầu
cơ trục lợi và sử dụng vốn theo hướng ngắn hạn hơn là đầu tư vào các hoạt động sảnxuất (ví dụ: khi có lạm phát, nếu ngân hàng không tăng lãi suất tiền gửi thì dânchúng sẽ không gửi tiền ở ngân hàng mà tìm cách đầu cơ vào đất đai khiến giá cảđất đai tăng cao ) Tâm lý đầu cơ này gây ra các cơn sốt ảo trên thị trường Và đặcbiệt nếu đầu cơ xảy ra với các ngành hay các sản phẩm thiết yếu với nhu cầu củanhân dân thì hệ lụy của nó còn nghiêm trọng hơn rất nhiều Đời sống của đại bộphận dân cư đều gặp khó khăn, tình hình xã hội mất ổn định, chi phí sinh hoạt tăngcao đẩy các tầng lớp nhân dân nghèo đi Trong khi đó do tính trung tâm của các loạihình sản phẩm này nên rất nhanh hậu quả của nó lan rộng ra các ngành khác Hậuquả của phản ứng dây chuyền tăng giá của tất cả các ngành sản phẩm khác khôngthể lường trước được
Trang 204 Gây ra môi trường đầu tư mất ổn định (mất tính hấp dẫn của môi trường đầu tư)
4.1 Giảm đầu tư vào cơ sở hạ tầng, làm môi trường đầu tư mất hấp dẫn với các nhà đầu tư tư nhân và nước ngoài
Lạm phát đẩy giá cả của các nguyên vật liệu tăng lên cao, khiến cho chínhphủ phải áp dụng các biện pháp giảm cung tiền và thắt chặt chi tiêu cho các dự án.Trong ngắn hạn nhất thời khi các dự án này buộc phải ưu tiên trước sau Các dự ánthuộc khu vực đầu tư cơ sở hạ tầng là các dự án chịu ảnh hưởng lớn nhất vì các dự
án này đòi hỏi một lượng vốn khổng lồ, hơn nữa thời gian thực hiện còn rất lâu.Thứ 3 nữa là các dự án thuộc nhóm này sử dụng các nguồn vật liệu có giá nhạy cảmnhất với thị trường, chính vì vậy mà việc tăng giá nguyên vật liệu sẽ đẩy các dự ánvào tình trạng trì trệ, thậm chí là khó có thể thực hiện hoặc bị cắt giảm
Đối với các doanh nghiệp họ có thể làm ăn phát triển hay không phụ thuộcvào cơ sở hạ tầng có thuận lợi hay không Khi lạm phát xảy ra các cơ sở hạ tầng đều
bị ảnh hưởng nặng khiến cho hàng loạt các dự án đều gặp phải khó khăn
4.2 Giá thành các nguồn lực đầu vào làm giảm tính cạnh tranh của môi trường đầu tư
Khi lạm phát ở mức cao, tăng trưởng kinh tế sẽ giảm, nhà đầu tư không cònniềm tin trong việc đầu tư vào các dự án Họ sẽ tìm đến các kênh đầu tư khác nhưđầu tư vào thị trường vàng, thị trường bất động sản Hơn nữa, lạm phát ở mức caothì rủi ro tiềm tàng là rất lớn, việc an toàn đồng vốn là giải pháp tốt trong trườnghợp này Hiển nhiên tâm lý ảm đạm này khiến cho môi trường đầu tư không cònhấp dẫn nữa Đối với quy mô quốc gia, việc lạm phát cao được đánh giá là sẽ xảy rachắc chắn làm sụt giảm nguồn vốn đầu tư từ nước ngoài Bởi vì khi đó các nhà đầu
tư tốn mất nhiều chi phí hơn cho cùng một hoạt động kinh doanh Thêm vào đó khilạm phát tăng cao khiến chính phủ đưa vào áp dụng các biện pháp thắt chặt tiền tệ,chống lạm phát điều này làm môi trường đầu tư kém hấp dẫn hơn trong mắt nhà đầu
tư cả trong và ngoài nước
Trang 215 Suy giảm, phá vỡ thị trường vốn, ảnh hưởng lớn đến hoạt động của các ngân hàng thương mại, làm suy giảm lòng tin của nhà đầu tư
Đối với hoạt động huy động vốn: do lạm phát tăng cao, việc huy động vốncủa các ngân hàng gặp nhiều khó khăn Để huy động được vốn, hoặc không muốnvốn từ ngân hàng mình chạy sang các ngân hàng khác, thì phải nâng lãi suất huyđộng sát với diễn biến của thị trường vốn Nhưng nâng lên bao nhiêu là hợp lý, luôn
là bài toán khó đối với mỗi ngân hàng Một cuộc chạy đua lãi suất huy động ngoàimong đợi tại hầu hết các ngân hàng (17% - 18%/năm cho kỳ hạn tuần hoặc tháng),luôn tạo ra mặt bằng lãi suất huy động mới, rồi lại tiếp tục cạnh tranh đẩy lãi suấthuy động lên, có ngân hàng đưa lãi suất huy động gần sát lãi suất tín dụng, kinhdoanh ngân hàng lỗ lớn nhưng vẫn thực hiện, gây ảnh hưởng bất ổn cho cả hệ thốngNHTM Lạm phát tăng cao, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) phải thực hiện thắt chặttiền tệ để giảm khối lượng tiền trong lưu thông, nhưng nhu cầu vay vốn của cácdoanh nghiệp và cá nhân kinh doanh vẫn rất lớn, các ngân hàng chỉ có thể đáp ứngcho một số ít khách hàng với những hợp đồng đã ký hoặc những dự án thực sự cóhiệu quả, với mức độ rủi ro cho phép Mặt khác, do lãi suất huy động tăng cao, thìlãi suất cho vay cũng cao, điều này đã làm xấu đi về môi trường đầu tư của ngânhàng, rủi ro đạo đức sẽ xuất hiện Do sức mua của đồng Việt Nam giảm, giá vàng
và ngoại tệ tăng cao, việc huy động vốn có kỳ hạn từ 6 tháng trở lên thật sự khókhăn đối với mỗi ngân hàng, trong khi nhu cầu vay vốn trung và dài hạn đối với cáckhách hàng rất lớn, vì vậy việc dùng vốn ngắn hạn để cho vay trung và dài hạntrong thời gian qua tại mỗi ngân hàng là không nhỏ Điều này đã ảnh hưởng đếntính thanh khoản của các ngân hàng, nên rủi ro kỳ hạn và rủi ro tỷ giá xảy ra là điềukhó tránh khỏi
Do lạm phát cao, không ít doanh nghiệp cũng như người dân giao dịch hànghóa, thanh toán trực tiếp cho nhau bằng tiền mặt, đặc biệt trong điều kiện lạm phát,nhưng lại khan hiếm tiền mặt Theo điều tra của Ngân hàng thế giới (WB), ở ViệtNam có khoảng 35% lượng tiền lưu thông ngoài ngân hàng, trên 50% giao dịchkhông qua ngân hàng, trong đó trên 90% dân cư không thanh toán qua ngân hàng
Trang 22Khối lượng tiền lưu thông ngoài ngân hàng lớn, NHNN thực sự khó khăn trong việckiểm soát chu chuyển của luồng tiền này, các NHTM cũng khó khăn trong việc pháttriển các dịch vụ phi tín dụng, đặc biệt là dịch vụ thanh toán qua ngân hàng Vốntiền thiếu, nhiều doanh nghiệp thực hiện mua chịu, bán chịu, công nợ thanh toántăng, thoát ly ngoài hoạt động.
Như vậy lạm phát tăng cao đã làm suy yếu, thậm chí phá vỡ thị trường vốn,ảnh hưởng lớn đến hoạt động của các NHTM Sự không ổn định của giá cả, bao gồm
cả giá vốn, đã làm suy giảm lòng tin của các nhà đầu tư và dân chúng, gây khó khăncho sự lựa chọn các quyết định của khách hàng cũng như các thể chế tài chính - tíndụng Vì vậy xét ở góc độ các NHTM cần có những biện pháp kiềm chế lạm phát
II/ Đầu tư tác động đến lạm phát:
1 Ngắn hạn – đầu tư thúc đẩy gia tăng lạm phát:
1.1 Kích thích, gia tăng tổng cầu – Lạm phát do cầu kéo:
Theo mô hình tổng cầu và tổng cung, ta xác định được tổng cầu:
AD = C + I + G + X – M
Trong đó:
AD : tổng cầu
I : đầu tư
C : tiêu dùng của hộ gia đình
G : chi tiêu của chính phủ
X : xuất khẩu
M : nhập khẩu
Vì vậy, đầu tư là một bộ phận quan trọng của tổng cầu Khi quy mô đầu tưthay đổi cũng sẽ có tác động trực tiếp đến quy mô tổng cầu
Trang 23Ta xét đồ thị sau :
Ban đầu nền kinh tế đạt ở mức cân bằng E0 Trong ngắn hạn, khi các yếu tốkhác không đổi và tổng cung chưa kịp thay đổi, sự tăng lên của đầu tư sẽ làm chotổng cầu tăng lên Đường tổng cầu dịch chuyển sang phải, AD0 thành AD1 Kéo theo
đó là sản lượng thay đổi từ Q0 sang Q1, giá cả các yếu tố đầu vào của đầu tư tăng từ
P0 lến P1 Điểm cân bằng dịch chuyển từ E0 đến E1 Lúc này tổng lượng cầu của nềnkinh tế tăng lên mức sản lượng mà nền kinh tế phải sản xuất để đáp ứng nhu cầu là
Thứ hai, nguy cơ tiềm ẩn tăng giá là các chính sách tiền tệ nới lỏng vàchính sách tài khóa mở rộng mà Chính phủ đang thực hiện Các chính sách này một
Sản lượng
Q1
0
Trang 24mặt làm tăng cầu về tiêu dùng, một mặt kích thích đầu tư tăng cao, tạo nên sự giatăng mạnh của tổng cầu, đẩy giá cả lên cao.
Bên cạnh những yếu tố liên quan đến đầu tư còn rất nhiều những nguyênnhân khác như nhu cầu về tiêu dùng ngày càng tăng do đời sống tăng, nhu cầu vềxuất khẩu lương thực ra thế giới tăng trong khi nhu cầu trong nước chưa được đápứng đầy đủ và trong nước gặp nhiều thiên tai, hay do ảnh hưởng của suy thoáichung toàn thế giới… Và điều thiết yếu là sẽ gây ra việc giá cả trong nền kinh tế bịđẩy lên nhanh chóng, gây ra lạm phát cao
1.2 Tăng lượng cung tiền – Lạm phát do cung ứng tiền tệ :
Một trong những nguyên nhân gây ra việc tăng giá cả ( lạm phát ) chính làviệc tăng cung tiền Thật vậy, vốn đầu tư trực tiếp làm tăng cung tiền cho nền kinh
tế Hàng năm, lượng tiền được đặt vào nền kinh tế qua đầu tư rất lớn, dưới nhiềuhình thức khác nhau như đầu tư trong nước, đầu tư quốc tế trực tiếp, đầu tư quốc tếgián tiếp Tuy nhiên việc đầu tư quá nhanh và ồ ạt gây nên một số vấn đề bất cậpvào hệ thống tài chính, ngân hàng và cung tiền tệ của nền kinh tế
Việc thu hút các nhà đầu tư trong và ngoài nước khiến cơn lũ ngoại tệ đẩyvào trong nước, tạo áp lực rất lớn lên đồng nội tệ Nhằm duy trì tỷ giá hối đoái,một lượng lớn đồng nội tệ sẽ được bơm vào cùng với tiền của nhà đầu tư trongnước Việc tăng cung tiền tệ đột ngột khi có cơn sốt đầu tư, khiến nhà sản xuấtphải đối mặt với hiện tượng giá nguyên vật liệu tăng và giá sản phẩm đầu ra cao,qua đó tạo ra phản ứng dây chuyền khiến mặt bằng giá cả leo thang hay chính làgây ra lạm phát
1.3 Kích thích xuất nhập khẩu – Lạm phát do xuất nhập khẩu :
Các nhà kinh tế cho rằng xuất nhập khẩu được đẩy mạnh cũng là một trongnhững nguyên nhân gây ra lạm phát
Khi các dự án đầu tư tăng, đồng nghĩa với việc tăng tổng cầu, sản lượng hànghóa sản xuất được tăng nhanh Do thị trường nước ngoài thường thu hút hơn thịtrường trong nước nên tỉ lệ xuất khẩu sẽ cao hơn tỉ lệ cung cấp trong nước, khiếncung sản phẩm trong nước thấp hơn tổng cầu, tạo sự mất cân đối, gây lạm phát
Trang 25Ngoài ra, khi các dự án đầu tư gia tăng, đồng nghĩa với việc gia tăng xuất khẩu của cácdoanh nghiêp, đẩy đồng ngoại tệ tăng giá cao so với đồng nội địa Khi tỷ giá tăng,đồng nội tệ mất giá, trước hết nó tác động tới tâm lý của những người sản xuất trongnước, muốn kéo giá hàng lên theo mức tăng của tỷ giá hối đoái, dẫn đến lạm phát.
Đồng thời, việc tăng các dự án đầu tư cũng sẽ làm tăng nhập khẩu các yếu tốđầu vào như nguyên liệu, nhiên liệu, các trang thiết bị và máy móc công nghệ cao Khi đó, việc nước ngoài tăng giá các đầu vào hoặc tăng tỷ giá hối đoái sẽ làm chochi phí sản xuất tăng, tạo ra các cú sốc cung bất lợi Theo như trường hợp lạm phát
do chi phí đẩy, việc tăng giá cả của nguyên liệu và hàng hoá nhập khẩu thường gây
ra phản ứng dây chuyền làm tăng giá cả của rất nhiều hàng hoá khác đặc biệt làhàng hoá sử dụng nguyên liệu nhập khẩu và những ngành có mối liên hệ chặt chẽ,gây ra lạm phát nghiêm trọng
1.4 Đầu tư dàn trải – Lạm phát do cơ cấu :
Lạm phát cơ cấu nảy sinh do hiệu quả đầu tư thấp, đầu tư dàn trải, đặc biệtđối với khu vực doanh nghiệp nhà nước Đầu tư kém hiệu quả, cơ cấu đầu tư bấthợp lý gây ra chênh lệch cung - cầu tiền tệ, hàng hoá và làm tăng lạm phát cơ cấu
2 Ảnh hưởng dài hạn – Đầu tư giúp bình ổn thị trường, kiềm chế lạm phát : 2.1 Sự gia tăng nguồn cung trong dài hạn :
Tổng cung của nền kinh tế trong dài hạn phụ thuộc vào công nghệ, khốilượng tư bản và lực lượng lao động sẵn có
Q = F ( K, L, T, …) Trong đó:
K là vốn đầu tư
L là lao động
T là công nghệ
Trong điều kiện các yếu tố khác không đổi, khi tăng quy mô vốn đầu tư thì
sẽ là nguyên nhân trực tiếp làm tăng tổng cung của nền kinh tế Mặt khác, tác độngcủa vốn đầu tư còn nâng cao chất lượng nguồn lực và đổi mới công nghệ … Do đó,đầu tư gián tiếp làm tăng tổng cung của nền kinh tế
Trang 26Trong dài hạn, đầu tư đã phát huy được tác dụng Đầu tư tăng sẽ làm tăngtổng cung của nền kinh tế, cân bằng với tổng cầu Khi đó sản lượng tiềm năng sẽtăng trong khi giá cả của hàng hóa sẽ có xu hướng giảm xuống Sản lượng tăngtrong khi giá cả giảm sẽ kích thích tiêu dùng, đồng thời đẩy mạnh hoạt động sảnxuất cung ứng dịch vụ của nền kinh tế.
Giả sử nền kinh tế đang cân bằng ở E0, sản lượng Q0, giá P0.Tăng quy môđầu tư làm tăng tổng cầu, AD0 dịch chuyển sang phải, thành AD1 Điểm cân bằngmới là E1, sản lượng tiềm năng vẫn giữ ở Q0, nhưng giá thì lại tăng cao ở mức P1.Khi đó trong dài hạn, quy mô đầu tư tăng làm tăng tổng cung dài hạn Đường tổngcung dài hạn ASLR0 dịch chuyển sang phải thành ASLR1 Điểm cân bằng mới là
E1, sản lượng tiềm năng tăng từ Q0 đến Q1, giá giảm từ P1 xuống P0 Do đó, có thểkhẳng định : kết quả của tăng đầu tư là sản lượng tăng, làm giảm giá thành của sảnphẩm, hạ mức lạm phát xuống Khi đó, thị trường được bình ổn ở mức cân bằng.Trong dài hạn, quy mô lớn của sản xuất sẽ tiếp tục duy trì mức sản lượng này giữcho nền kinh tế luôn ổn định ở mức giá thấp, kiềm chế được lạm phát
2.2 Hoàn chỉnh cơ cấu kinh tế, hạn chế các cú sốc cung gây ra lạm phát :
Qua những chính sách điều chỉnh của chính phủ, việc tăng đầu tư, tức giatăng các nguồn tổng cung sẽ làm hoàn chỉnh cơ cấu các ngành kinh tế Khi đó, các
P
P1
P0P2
Trang 27ngành mũi nhọn được thúc đẩy phát triển mạnh, các ngành còn non trẻ được bảo hộ,
có nhiều sự ưu đãi khi gia nhập thị trường, các ngành công nghệ cao được chú trọng Việc hoàn chỉnh này về dài hạn sẽ tạo ra đầy đủ các các sản phẩm cho tiêu dùngtrong sinh hoạt và cả các yếu tố đầu vào cho sản xuất, dịch vụ Việc đảm bảo cácnguồn cung này sẽ giảm việc nhập khẩu các yếu tố đầu vào, hạn chế các cú sốccung bất lợi nên sẽ tránh được các cú sốc tăng giá do chi phí đẩy gây ra Vậy có thểnói, việc tăng đẩu tư trong dài hạn có thể kiềm chế được lạm phát
Trang 28Chương III : Thực trạng mối quan hệ đầu tư và lạm phát ở Việt Nam hiện nay
Lạm phát là một trong bốn yếu tố quan trọng nhất trong sự phát triển của một
quốc gia ( tăng trưởng cao, lạm phát thấp, thất nghiệp ít, cán cân thanh toán có số dư)
Tình trạng lạm phát của Việt Nam, trong năm 2007 - 2008 diễn biến hết sức
bất ngờ và phức tạp Chỉ số lạm phát và chỉ số CPI tăng cao đem lại những khó
khăn lớn trong nền kinh tế Năm 2007 chỉ số lạm phát là 12.63% Tệ hại hơn, năm
2008 với chỉ số lạm phát khoảng 23% đánh dấu một năm nền kinh tế đấu tranh
khốc liệt với lạm phát khi giá cả của hầu hết các mặt hàng đều tăng lên Điều này
phản ánh rõ nét qua chỉ số CPI năm 2007 và năm 2008
Chỉ số CPI các tháng năm 2007(năm 2007 CPI tăng 12,63%):
0,49
% 0,77% 0,85%
0,94
% 0,55% 0,51% 0,74% 1,23% 2,91%
Những dấu hiệu gia tăng của chỉ số CPI cuối năm 2007 đã dự đoán chính
xác cho mức tăng CPI khủng khiếp của Việt Nam trong năm 2008
Chỉ số CPI các tháng năm 2008(năm 2008 CPI tăng 22,97%):
CPI 2,38% 3,56% 2,9% 2,20% 3,92% 2,14% 1,13% 1,56% 0,18%
giảm 0,19%
giảm 0,76%
giảm 0,68%
Nhìn lại số liệu những năm qua, nhiều người giật mình khi thấy năm 2007 và
năm 2008 nhảy sang mức tăng hai con số từ quá trình tăng liên tục từ năm 2006
Trang 29đến nay.
( Chỉ số lạm phát từ năm 1995 - 2007 Nguồn tổng cục thống kê )
Một số đặc điểm của lạm phát ở Việt Nam trong vài thập niên vừa qua vànhững năm gần đây
Thứ nhất: Lạm phát ở nước ta trong vài thập kỷ qua thay đổi lên xuống rấtthất thường Một số năm lạm phát gia tăng rất cao, một số năm được cải thiệnnhưng không bền vững, có lúc lạm phát xuống đên mức âm
Tỷ lệ lạm phát của Việt Nam qua các năm
Trang 301986 1990 1995 2000 2005 2007
Thứ hai: Lạm phát ở nước ta trong những năm gần đây có xu hướng gia tăngkhông ngừng Mức độ lạm phát vượt ngưỡng cho phép 9% của một đất nước và đãkéo lên đến hai chữ số
Tỷ lệ lạm phát của Việt Nam qua các năm.
có thu nhập thấp
Lạm phát hiện nay có 4 đặc điểm chính là:
Lạm phát diễn ra trong thể trạng nền kinh tế thị trường đang trên đà pháttriển, nhưng vẫn còn non trẻ, chưa đủ độ trưởng thành, mà đã tăng trưởng nóng,giống như một đứa trẻ bị sốt nóng, sức chịu đựng yếu ớt, có thể nhanh chóng hồiphục, nhưng cũng không thể không chăm sóc cẩn thận
Lạm phát diễn ra trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế cao, có một nguồnngoại tệ lớn đổ vào nền kinh tế thông qua xuất khẩu, đầu tư, viện trợ, kiều hối, dulịch mà chưa kịp điều hòa
Lạm phát là do một lượng lớn vốn đầu tư kém hiệu quả, nhất là các xí nghiệp quốcdoanh và các dự án được bao cấp lớn nhưng kinh doanh thua lỗ hoặc hiệu quả thấp
Lạm phát diễn ra do tăng trưởng đầu tư mạnh, về mặt này, lạm phát là kếtquả của một sự phát triển bình thường, vì thế lạm phát là lành mạnh
Trang 31
Bảng tình hình lạm phát ở Việt Nam
7.8 4.2
6.6 4
-1.6
6.8
8.2 8.4 4.8
-5 0 5 10 15
Nguồn: ADB (2007) “Key Indicators 2007: Inequality in Asia”;
Từ những đặc điểm trên đây có thể thấy, lạm phát hiện nay ở Việt Nam mangtính chất nửa tốt, nửa xấu, cái chúng ta cần chống chính là cái nửa xấu của lạm phát,trong khi vẫn cần tiếp tục thúc đẩy các mặt tốt của nó, làm cho môi trường đầu tưnăng động hơn để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
b.Nguyên nhân của mức tăng lạm phát
Ở đây chúng ta sẽ đề cập tất cả các nhóm nguyên nhân giải thích cho lạmphát tăng lên ở Việt Nam qua hai năm trở lại đây
- Giá cả thế giới tăng cao, trong khi đó chúng ta lại nhập siêu khá lớn, điềunày trực tiếp đội giá thành sản phẩm trong nước tăng lên
- Nguồn vốn đầu tư vào Việt Nam tăng lên đột biến trong đó đóng góp lớn là
từ vốn đầu tư nước ngoài Thêm vào đó là lượng vốn hóa trong nước từ thị trườngchứng khoán , đẩy một lượng vốn khổng lồ vào việc mua sắm sản xuất
- Việc gia tăng cung tiền làm cho mức lạm phát tăng lên
- Sự không hiệu quả của các biện pháp chính sách tiền tệ, tài khóa,
"Lạm phát cao ở nước ta có nguyên nhân từ giá cả thế giới tăng cao, nhưngnguyên nhân chủ yếu là cơ cấu kinh tế, cơ cấu đầu tư, chính sách tiền tệ, tài khóachưa thật phù hợp Công tác chỉ đạo điều hành, nhất là kinh tế vĩ mô đã có bước tiến
Trang 32bộ, nhưng còn nhiều bất cập", Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng thẳng thắn ( tríchVnexpress.net )
Sau 6 tháng (tức là tháng 6/2009 so với tháng 12/2008) tăng 2,68% so với18,44%
Chính tình hình trên cùng với việc điều chỉnh chỉ tiêu tăng trưởng GDP (từ6,7% xuống còn 5%), Quốc hội đã điều chỉnh chỉ tiêu tốc độ tăng giá tiêu dùng (từdưới 15% xuống còn dưới 10%) Cũng từ diễn biến này, mà nhiều người đã chorằng lạm phát chưa có gì đáng lo và Nhà nước có thể yên tâm để tập trung cao hơncho mục tiêu tăng trưởng GDP cả năm nay đã được điều chỉnh và cao hơn năm sau
Trang 33Thứ hai, tốc độ tăng giá tiêu dùng đã có xu hướng cao lên qua các tháng Nếubình quân 1 tháng trong 5 tháng đầu năm tăng 0,42%, thì tháng 6 đã tăng 0,55%,cao hơn mức bình quân một tháng trong 5 tháng đầu năm, cao hơn trong 3 thángtrước đó Chính xu hướng này và các yếu tố tác động (sẽ được đề cập ở phần sau)
đã làm xuất hiện dư luận lo ngại về nguy cơ tái lạm phát Nói là nguy cơ, có nghĩa
là lạm phát chưa đến ngay trong vài ba tháng tới, mà có thể sẽ đến vào cuối nămnay và đầu năm sau Cũng chính từ đó mà mục tiêu tiếp ngay sau mục tiêu ưu tiêncủa năm nay mà Quốc hội đưa ra là kiềm chế lạm phát
Thứ ba, so sánh sau một năm (tức là so với cùng kỳ năm trước), tốc độ tănggiá tiêu dùng từng tháng và bình quân các tháng năm nay có xu hướng chậm dần
Tháng 1 tăng 17,48%;
Tháng 2 tăng 14,78%, bình quân hai tháng tăng 16,13%;
Tháng 3 tăng 11,25%, bình quân ba tháng tăng 14,47%;
Tháng 4 tăng 9,23%, bình quân bốn tháng tăng 13,14%;
Tháng 5 tăng 5,28%, bình quân năm tháng tăng 11,59%;
Tháng 6 tăng 3,94%, bình quân sáu tháng tăng 10,27%
Đó là xu hướng tốt Tuy nhiên, mặt bằng giá năm nay vẫn tăng so với mặtbằng giá của năm 2008, trong khi mặt bằng giá của năm 2008 đã tăng rất cao (gần23%) so với năm 2007 Chính điều này đã làm người tiêu dùng, đặc biệt là nhữngngười có thu nhập thấp, những người bị giảm thu nhập do mất hay thiếu việc làmvẫn cảm thấy giá cả đắt đỏ hơn mặc dù về con số tháng sau so với tháng trước tăngthấp, thậm chí tháng 3 còn giảm so với tháng 2
Thứ tư, theo nhóm hàng, trong khi giá lương thực giảm hoặc tăng thấp thì giácác nhóm hàng còn lại trong “rổ” tính giá tiêu dùng đã tăng cao hơn Cụ thể: tháng
6 giá lương thực chỉ tăng 0,59%, thì giá các hàng hoá, dịch vụ tiêu dùng còn lại tăng2,99% Đó là kết quả của sản xuất lương thực vụ đông xuân được mùa đã đóng góp,nhưng lại có yếu tố giảm giá xuất khẩu so với cùng kỳ năm trước (giảm 28,5%) mặc
dù lượng gạo xuất khẩu tăng mạnh (tăng 56,2%)
Trang 34Thứ năm, theo khu vực, giá tiêu dùng ở khu vực nông thôn tăng thấp hơn ởkhu vực thành thị (tháng 6 tăng 0,50% so với tăng 0,62%), 6 tháng tăng 2,47% sovới tăng 2,94%)
Đặc điểm thứ tư và thứ năm trên cho thấy rõ nông nghiệp, nông dân, nôngthôn đã góp phần “cứu” đất nước trước tác động tiêu cực của cuộc khủng hoảng tàichính và suy thoái kinh tế toàn cầu về nhiều mặt, từ tăng trưởng kinh tế (khi tăngtrưởng công nghiệp bị sụt giảm mạnh hơn), lạm phát, tiêu thụ trong nước, xuấtkhẩu, lao động việc làm, ; đồng thời cũng cho thấy kích cầu đầu tư, tiêu dùng cầnhướng mạnh hơn vào trọng điểm nông nghiệp, nông dân, nông thôn
Thời gian gần đây, trong một số cuộc hội thảo, trên diễn đàn Quốc hội vàtrên các phương tiện thông tin đại chúng đã xuất hiện sự lo ngại về tái lạm phát.Người viết cho rằng xu hướng diễn biến của lạm phát năm nay sẽ khác với nămtrước: nếu năm trước tăng rất cao vào những tháng đầu năm, nhưng đã chậm lại vàgiảm vào những tháng cuối năm, thì năm nay sẽ có xu hướng ngược lại - tăng thấpvào đầu năm, nhưng sẽ cao lên vào cuối năm và cả năm sẽ ở mức xấp xỉ 10% Vìvậy, lạm phát chưa đến ngay trong vài ba tháng tới, nhưng phải cẩn trọng, bởi lạmphát có thể quay trở lại
Trang 35Nhập siêu, năm trước cao vào đầu năm, ít hơn vào những tháng cuối năm,nhưng cả năm ở mức 18 tỷ USD Năm nay sẽ thấp hơn vào đầu năm (6 tháng đầunăm nay ở mức trên 2,1 tỷ USD, thấp hơn nhiều so với mức 14,2 tỷ USD của cùng
kỳ năm trước) cao hơn vào cuối năm nhưng khả năng cả năm có thể chỉ ở mức haiphần ba mức của năm trước
Nhóm thứ hai là tiền tệ - tài khoá Nếu năm trước, chính sách tiền tệ - tàikhoá chuyển từ nới lỏng sang thắt chặt, thì năm nay chuyển từ thắt chặt sang nớilỏng Tốc độ tăng tổng phương tiện thanh toán, dư nợ tín dụng và tiền mặt lưu thôngngoài hệ thống ngân hàng hiện đã ở mức trên dưới 15% so với cuối năm trước,nhưng chủ yếu từ tháng 4 đến nay (sau khi gói kích cầu thứ nhất được thực hiện đến
Trang 36nay đã kéo trên 350 nghìn tỷ đồng tín dụng của các ngân hàng thương mại ra lưuthông) Hiện có 4 Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về hỗ trợ lãi suất (131, 443,
497, 579) Theo dự kiến, tốc độ tăng dư nợ tín dụng cả năm sẽ ở mức 30% - cao gấp
6 lần tốc độ tăng GDP Đó là một hệ số khá cao so với năm trước và so với cácnước trong khu vực, nên việc cẩn trọng với lạm phát là không thừa
Nhóm thứ ba là tiêu thụ ở trong nước Nếu năm trước, tiêu thụ ở trong nướcchuyển từ tăng cao sang “co lại”, thì năm nay lại chuyển từ “co lại” sang tăng caolên qua các tháng Nếu loại trừ yếu tố tăng giá, tổng mức bán lẻ hàng hoá và dịch vụdịch vụ tiêu dùng tháng 1 tăng 4%, 2 tháng tăng 5%, 3 tháng tăng 6,6%, 4 thángtăng 7,4%, 5 tháng tăng 8,4%, 6 tháng tăng 8,8% Tuy chưa bằng tốc độ tăng củacác năm trước năm 2007, nhưng đã cao hơn tốc độ tăng 6,5% của năm 2008 và caogấp đôi tốc độ tăng trưởng GDP (3,9%) Đây vừa là động lực của tăng trưởng, vừa
là một trong những yếu tố quan trọng làm cho giá tiêu dùng có xu hướng cao lên
Nhóm thứ tư là chi phí đẩy Nhóm này gồm một số nhóm nhỏ Giá cả trên thịtrường thế giới, nếu năm trước tăng cao vào đầu năm, giảm mạnh vào cuối năm(góp phần kéo lạm phát cao trong các tháng cuối năm), thì năm nay đầu năm ở mứcthấp nhưng đang có xu hướng cao lên vào cuối năm, nhất là giá xăng dầu, sắt thép,thức ăn chăn nuôi, đường, sữa, thuốc chữa bệnh, Đó là giá tính bằng USD, khinhập khẩu tính bằng VND sẽ còn tăng kép, bởi tỷ giá VND/USD năm nay tăng caohơn năm trước (6 tháng đầu năm nay tăng 5,33%, nếu tính bình quân 6 tháng so vớicùng kỳ tăng 9,62%, trong khi các con số tương ứng của cùng kỳ năm trước là5,02% và 0,51%) Nếu lạm phát trên thế giới tăng lên như dự báo của nhiều chuyêngia, thì lạm phát ở trong nước sẽ bị “khuyếch đại” lên
Ở trong nước, giá nhiều loại nguyên nhiên vật liệu nếu năm trước đầu nămtăng lên, cuối năm giảm xuống theo giá thế giới; chi phí vay vốn nếu năm trước ởmức cao, năm nay được bù lãi suất; nhưng nếu hết năm phần vay vốn lưu động hếtthời hạn cấp bù lãi suất thì có thể sẽ có “cú sốc” không chỉ về chi phí vốn vay, mà
cả về tiếp cận vốn vay không chỉ đối với doanh nghiệp mà cả các ngân hàng thương