ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN KHOA XÃ HỘI HỌC NGUYỄN THỊ THANH LOAN NHẬN THỨC, THÁI ĐỘ, HÀNH VI CỦA SINH VIÊN ĐỐI VỚI VẤN ĐỀ QUAN HỆ TÌNH DỤC TRƯỚC
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA XÃ HỘI HỌC
NGUYỄN THỊ THANH LOAN
NHẬN THỨC, THÁI ĐỘ, HÀNH VI CỦA SINH VIÊN ĐỐI VỚI VẤN ĐỀ QUAN HỆ TÌNH DỤC TRƯỚC HÔN NHÂN CỦA SINH VIÊN HIỆN NAY
(NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI
VÀ NHÂN VĂN)
Chuyên ngành: Xã hội học
Mã số: 60 31 30
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC XÃ HỘI HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS MAI THỊ KIM THANH
Hà Nội, 2009
Trang 2
Ở ĐẦU 1
NỘI DUNG 16
HƯƠNG 1: Ơ SỞ Ý UẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP UẬN 16
1.1 ĐỊNH NGHĨA Á KHÁI NIỆ 16
1.1.1 Khái niệm “sinh viên” 16
1.1.2 Khái niệm “Nhận thức” 16
1.1.3 Khái niệm “ Thái độ” 17
1.1.4 Khái niệm “Hành vi” 18
1.1.5 Khái niệm “Tình dục” 19
1.1.6 Khái niệm “quan hệ tình dục trước hôn nhân” 20
1.1.7 Trinh tiết ở nữ giới và vấn đề chưa quan hệ tình dục ở nam giới 20
1.2 CÁC Ý THUYẾT Ơ SỞ SỬ D NG TRONG ĐỀ TÀI 20
1.2.1 Lý thuyết giới 20
1.2.2 Lý thuyết hành động xã hội 21
1.2.3 Lý thuyết sự lựa chọn hợp lý 23
1.2.4 Lý thuyết trao đổi 25
1.3 Á QUAN ĐIỂ VÀ KHÍA ẠNH TÌNH D TRONG Ị H SỬ 28
1.3.1 Tổng quan nhận thức về tình dục trong lịch sử 28
1.3.2 Quan điểm tình dục tại Việt Nam 30
HƯƠNG 2: NHẬN THỨ , THÁI ĐỘ, HÀNH VI ỦA SINH VIÊN ĐỐI VỚI VẤN ĐỀ QUAN HỆ TÌNH D TRƯỚ HÔN NHÂN ỦA SINH VIÊN HIỆN NAY 35
2.1 NHẬN THỨ , THÁI ĐỘ, HÀNH VI ỦA SINH VIÊN ĐỐI VỚI VẤN ĐỀ QUAN HỆ TÌNH D TRƯỚ HÔN NHÂN ỦA SINH VIÊN HIỆN NAY 35
2.1.1 Nhận thức và thái độ của sinh viên về vấn đề tình dục trước hôn nhân 35
2.1.2 Hành vi quan hệ tình dục trước hôn nhân trong sinh viên 54
2.1.3 Hành vi của sinh viên đối với vấn đề QHTDTHN trong sinh viên 64
Trang 32.2 NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI NHẬN THỨ , THÁI ĐỘ, HÀNH VI
ỦA SINH VIÊN ĐỐI VỚI VẤN ĐỀ QUAN HỆ TÌNH D TRƯỚ HÔN
NHÂN TRONG SINH VIÊN 72
2.2.1 Ảnh hưởng của phong tục tập quán 72
2.2.2 Các đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi 74
2.2.3 Nhóm bạn 75
2.2.4 Gia đình 78
2.2.5 Nhà trường 79
2.2.6 Các hoạt động của hệ thống truyền thông đại chúng 81
KẾT UẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 83
Kết luận 83
Khuyến nghị 84
Trang 4DANH Á TỪ VIẾT TẮT
QHTD Quan hệ tình dục QHTDTHN Quan hệ tìnhdục trước hôn nhân
BPTT Biện pháp tránh thai TDAT Tình dục an toàn
Trang 5DANH BẢNG
Bảng 2.1: Tiêu chí lựa chọn bạn đời 44 Bảng 2.2 Thái độ của sinh viên về vấn đề QHTDTHN 45 Bảng 2.3 Thái độ của nam và nữ sinh viên trong vấn đề QHTDTHN với
người yêu 46 Bảng 2.4 Lý do QHTD lần đầu tiên với người yêu 57 Bảng 2.5 :Cảm giác sau lần QHTD đầu tiên với người yêu 60
Trang 6Ở ĐẦU
1 ý do chọn đề tài
Niên giám thống kê của Bộ Y tế năm 2004 cho thấy: hàng năm hệ thống y
tế cả nước tiếp nhận từ 1,3 đến 1,5 triệu ca nạo phá thai Tuy nhiên, nếu thống kê được đầy đủ số liệu từ các cơ sở y tế tư nhân thì con số nạo phá thai ở nước ta không dừng lại ở con số 1,5 triệu ca/năm Nhưng cũng không cần đến con số đầy
đủ như vậy, Việt Nam cũng "đủ tiêu chuẩn" xếp thứ 3 về tỉ lệ nạo phá thai và đứng đầu thế giới về tỉ lệ nạo phá thai vị thành niên
Trong tài liệu "Triển khai thực hiện "chỉ thị 54-CT/TW của ban bí thư Trung ương Đảng khoá IX về tăng cường lãnh đạo công tác phòng chống HIV/AIDS trong tình hình mới" của Ban khoa giáo Trung ương tháng 2 năm 2006", tình dục được xác định là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến HIV/AIDS Và thanh niên là lực lượng có nguy cơ mắc HIV/AIDS cao Tỉ lệ nhiễm HIV ở độ tuổi 20 - 29 tăng từ 15% năm 1993 đến 6% năm 2002 Bác
sỹ Nguyễn Huy Nga, giám đốc Uỷ ban Quốc gia Phòng chống HIV/AIDS trong cuộc nói chuyện tại thủ đô Wasington về tình hình HIV/AIDS và bệnh cúm gia cầm tại Việt Nam ngày 19/7/2006 đã cho biết, tính đến năm 2006 con
số nhiễm HIV tại Việt Nam đã lên tới 280.000 người với chừng 60.000 người
đã phát triển thành AIDS và 54.000 người đã tử vong
Những hậu quả này đã khiến cho thực trạng QHTDHN trở thành một vấn nạn trong xã hội nước ta hiện nay Để cổ xuý đúng đắn những hành vi hợp lý và loại bỏ những hành vi bất hợp lý, hơn bao giờ hết thực tiễn cuộc sống đặt ra yêu cầu phải có những tìm hiểu thấu đáo về quan hệ tình dục trước hôn nhân của lớp thanh niên, từ quan điểm, nhận thức tới thái độ, hành vi Sinh viên là một bộ phận có hàm lượng tri thức cao, song sự tiếp nhận thông tin và quan điểm cũng như hành vi của họ có thực sự “tiến bộ” hơn trong lớp thanh niên nói chung? Mỗi ngày vẫn có hàng loạt các ca nạo phá thai ngoài ý muốn trong sinh viên? Vậy đâu là nguyên nhân dẫn tới những tình trạng này?
Trang 7Nhận thức, thái độ và hành vi của sinh viên với các vấn đề xung quanh việc QHTDTHN như thế nào?
Hàng loạt các câu hỏi được đặt ra từ thực tiễn cuộc sống yêu thôi thúc tác giả muốn có một cái nhìn đầy đủ từ nhận thức tới thái độ, hành vi của sinh viên về vấn đề QHTDTHN trong sinh viên - Một vấn đề mà trong lịch sử nó
đã từng là một giá trị không được phép bước qua
2 Tổng quan nghiên cứu
Kể từ sau Hội nghị quốc tế về dân số và phát triển tại Cairo tháng 9 năm 1994, ở Việt Nam đã có nhiều đề tài nghiên cứu về tình dục và các vấn
đề liên quan Có thể chia các nghiên cứu khoa học về tình dục và các vấn đề liên quan ở Việt Nam thành 3 khuynh hướng chính:
Khuynh hướng thứ nhất nghiên cứu tình dục như một bộ phận của sức khoẻ sinh sản (SKSS) Khuynh hướng nghiên cứu này bao gồm nhóm
các nghiên cứu về tình dục và sức khoẻ sinh sản của học sinh, sinh viên Đặc điểm của nhóm đề tài này là nghiên cứu tình dục như là một bộ phận của SKSS Do đó, thành công của các nghiên cứu này không thể chỉ ra được mối quan hệ giữa SKSS, SKTD với sức khoẻ nói chung của con người Đây là thiếu sót cần khắc phục trong kỷ nguyên HIV/AIDS" hiện nay (chữ dùng của Anna Runeborg trong "Tình dục - sức mạnh siêu phàm") [01 ; 30]
Năm 1999 "Điều tra Vị thành niên và biến đổi xã hội ở Việt Nam" do viện xã hội học tiến hành tại 6 tỉnh và thành phố Hồ Chí Minh Nghiên cứu thu được kết quả 10% nam vị thành niên và 5% nữ trong độ tuổi 15 - 22 đã có QHTD trước hôn nhân
Trong năm 2003, Bộ y tế cùng với tổ chức phi chính phủ, trong đó có
Tổ chức y tế thế giới (WHO), Quỹ bảo trợ trẻ em (UNICEF) đã tiến hành cuộc điều tra quốc gia về SKSS thanh thiếu niên Đây là cuộc điều tra có quy
mô lớn và kết quả thu được có đóng góp rất lớn đối với công tác nghiên cứu
về SKSS VTN Điều tra VTN tại 6 tỉnh trong cuộc điều tra này cho thấy ở các
Trang 8tỉnh, thành, tỷ lệ nam thanh niên QHTD trước hôn nhân là từ 0% đến 19%, nữ thanh niên QHTD trước hôn nhân là từ 2% đến 9%
Khuynh hướng thứ hai nghiên cứu tình dục với tư cách là một vấn nạn xã hội, là nguyên nhân mang lại những hậu quả tiêu cực cho xã hội Khuynh hướng này bao gồm 2 nhóm nghiên cứu chính:
- Nhóm 1: Nhóm các đề tài nghiên cứu về HIV/AIDS và các bệnh lây nhiễm qua đường tình dục
Năm 1999, nghiên cứu "Nhận thức và thái độ của sinh viên các trường Đại học về tình dục và ma tuý liên quan đến HIV/AIDS" do PTS Phạm Đình Huỳnh -Học viện Chính trị Quốc gia HCM chủ nhiệm là điển hình cho nhóm
đề tài này Tuy nhiên đề tài này mới chỉ dừng lại ở phân tích các yếu tố tác động đến nhận thức và thái độ của sinh viên về HIV/AIDS, chứ chưa chỉ ra các hành vi tình dục có nguy cơ cao để phòng tránh Mặt khác, đề tài chưa đưa ra một khẳng định cần thiết; tình dục là nguyên nhân chính dẫn đến HIV/AIDS
- Nhóm 2: Nhóm các đề tài nghiên cứu về tình dục và nạo phá thai
Nhóm đề tài này đã chỉ ra tầm quan trọng của việc sử dụng các biện pháp tình dục an toàn TDAT không chỉ để ngăn chặn STDs/AIDS khi có quan hệ với những nhóm đối tượng có nguy cơ cao, mà còn để kiểm soát sự mang thai và tránh có thai ngoài ý muốn dẫn đến nạo phá thai Nhóm đề tài này cũng không nhắc đến TDAT như là một giải pháp cơ bản, mà trái lại, thuật ngữ này cũng ít được các đề tài này nhắc đến
Năm 1996, phòng XHH về môi trường và sức khoẻ cộng đồng, Viện xã hội học đã tiến hành nghiên cứu đề tài "Tình dục và nạo phá thai trước hôn nhân của nữ thanh niên tại Hà Nội" Trong đề tài này, các nhà nghiên cứu đã tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến tình trạng nạo phá thai trước hôn nhân của nữ thanh niên ở Hà Nội Kết quả phỏng vấn sâu của đề tài này cho thấy nguyên nhân chủ yếu dẫn đến nạo phá thai trước hôn nhân ở nữ thanh niên ở Hà Nội
Trang 9cần phải giữ gìn Mặt khác, khi thực hiện hành vi QHTD, các bạn nữ không chú ý và sử dụng các biện pháp phòng tránh thai Điều này cũng được nhóm nghiên cứu lý giải từ nguyên nhân về kênh thông tin Vào những năm đầu thập kỷ trước, tình dục hiếm khi được bàn luận một cách công khai Điều đó dẫn đến khó khăn trong việc tuyên truyền và TDAT và SKSS để giúp thanh niên tránh những hành vi tình dục có nguy cơ cao
Các đề tài về vấn đề tình dục ở nước ta nhìn chung đều tập trung trả lời câu hỏi: Tình dục mang lại hậu quả gì? Bởi vậy vấn đề mà các đề tài này
cố gắng giải quyết là khắc phục nhanh hậu quả xã hội tiêu cực do tình dục mang lại
Khuynh hướng nghiên cứu thứ ba dựa trên quan điểm coi tình dục là một phần không thể thiếu trong cuộc sống, bản thân hành vi tình dục không phải là tác nhân dẫn đến tiêu cực xã hội, mà cái cách người ta nhìn nhận về tình dục mới dẫn đến những việc tiêu cực đó Khuynh hướng này
thực sự là sự bổ sung cho những hạn chế tồn tại trong công tác nghiên cứu tình dục ở Việt Nam
Năm 1999, khi tìm hiểu về vấn đề tình dục trong đô thị tại xã hội Việt Nam đương đại, tác giả T.Gammeltoft đã rút ra một kết luận khá thú vị, đó là việc thanh niên đô thị QHTDTHN không phải là "một phút yếu lòng", một sự
sa ngã hay sự quy thuận để đánh đổi lấy một cái gì đó Ngược lại, đó là sự lựa chọn hợp lý trong logic hành động của họ, là quyết định chủ quan của bản thân họ chứ không phải vì bất cứ một nguyên nhân khách quan nào xô đẩy
“Quyết định QHTDTHN ở thanh niên không chỉ nhằm mục đích thoả mãn tình cảm nhục dục, mà còn có thể hướng tới một nền tảng vững chắc cho cuộc hôn nhân tương lai”
Tác giả Khuất Thu Hồng khi đánh giá về tổng quan nghiên cứu tình dục tại Việt Nam thì cho rằng: "Các nghiên cứu gần đây đã tăng sự chú ý đến tình dục của thanh niên, tập trung vào sự thay đổi trong kiến thức, thái độ và thực hành tình dục của họ Những nghiên cứu này được định hướng bởi sự gia tăng
Trang 10nhanh chóng việc mang thai trước hôn nhân và phá thai trong thanh niên, cũng như sự gia tăng số lượng thanh niên bị nhiễm HIV/AIDS" [11 ;35] Theo tác giả, để giải thích về nguyên nhân, người ta kết nối sự phát triển kinh tế, sự thay đổi về nhân khẩu và sự thay đổi về xã hội nhanh chóng với việc tăng tuổi kết hôn của thanh niên, sự kiểm soát lỏng lẻo của gia đình ảnh hưởng tới họ trong khi các thể chế xã hội như nhà nước và các tổ chức đoàn thể khác tỏ ra kém hoà nhập với xã hội
Đề tài nghiên cứu này của tác giả cũng nằm trong khuynh hướng thứ
ba, xuất phát điểm coi tình dục là một phần tất yếu của cuộc sống, nghiên cứu
sẽ là sự bổ sung cần thiết không chỉ ở khía cạnh đối tượng tìm hiểu là sinh viên, nhóm đối tượng nòng cốt đại diện cho thế hệ trẻ, mà còn thể hiện ở các kết quả nghiên cứu và khía cạnh tiếp cận Đề tài muốn tìm hiểu từ nhận thức, thái độ tới hành vi của sinh viên đối với vấn đề quan hệ tình dục trước hôn nhân trong chính sinh viên, xem xét giữa nhận thức, thái độ tới hành vi có khác nhau nhiều không và điều gì làm nên sự khác nhau đó Sinh viên khác với thanh niên khác trong xã hội là đã được học về chương trình chăm sóc sức khỏe, tình dục an toàn điều đó cũng có nghĩa họ đã biết được những tác hại và
hệ quả của quan hệ tình dục trước hôn nhân, cũng như các cách phòng tránh hay kiềm chế bản thân Tuy nhiên đây cũng là nhóm đối tượng được tiếp cận nhiều nguồn thông tin khác nhau và nhiều quan điểm khác nhau từ các phương tiện truyền thông đại chúng Vậy thì quan điểm, thái độ và trong hành
vi của họ có điều khác với những nhóm đối tượng khác? Những câu hỏi này
đã thôi thúc tác giả tìm lời giải trong đề tài này Vì thế, đề tài không chỉ là sự đóng góp vào thực tế với những đề xuất về mặt giải pháp mà còn là sự bổ sung cần thiết cho việc nhận thức
3 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiến của đề tài
3.1 Ý nghĩa khoa học
Trang 11Hành vi tình dục và tình dục an toàn từ lâu đã được các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu như triết học, tâm lý học, y học, văn học… Bên cạnh những ngành khoa học nghiên cứu đó thì xã hội học cũng đang khẳng định vị trí, vai trò của mình với tư cách là một ngành khoa học độc lập trong hệ thống khoa học xã hội Theo cách tiếp cận xã hội học, đề tài nghiên cứu, xem xét, đánh giá và nhìn nhận vấn đề một cách khoa học để có thể lý giải và chứng minh một số quan điểm và khía cạnh dưới góc độ xã hội học, từ đó có thể phân biệt với cách nhìn của một số ngành khoa học xã hội khác
Bằng phương pháp nghiên cứu xã hội học, đề tài góp phần làm phong phú thêm kho tàng nhận thức lý luận xã hội học, nâng cao nhận thức về lý thuyết xã hội cho chính bản thân và những người quan tâm Đồng thời đề tài còn vận dụng một số lý thuyết phạm trù cơ bản của xã hội học vào nghiên cứu nhằm làm rõ hành vi quan hệ tình dục cũng như đo lường quan điểm, thái độ
và hành vi của sinh viên nói riêng và của giới trẻ nói chung về vấn đề này Cụ thể là việc vận dụng nhuần nhuyễn lý thuyết xã hội học thực nghiệm (lý thuyết giới, thuyết hành động xã hội, lý thuyết trao đổi…) nhằm đánh giá một cách rõ ràng các yếu tố tác động, các tác nhân khách quan và chủ quan tác động tới hành vi của sinh viên đối với vấn đề quan hệ tình dục trong sinh viên hiện nay
Việc vận dụng các lý thuyết xã hội học vào nghiên cứu cũng góp phần giúp tác giả cũng như những người quan tâm hiểu biết một cách khoa học và
có quan niệm đúng đắn hơn về vấn đề QHTDTHN trong sinh viên Từ đó có thể hiểu rõ hành vi cũng như những yếu tố tác động, chi phối hành vi của SV -
bộ phận nòng cốt trong giới trẻ hiện nay Qua đó sẽ đưa ra được những giải pháp, những kiến nghị phù hợp góp phần phục vụ công tác xây dựng chính sách xã hội
3.2 Ý nghĩa thực tiễn
Trang 12Trong xã hội ngày nay với sự phát triển của toàn xã hội trên mọi lĩnh vực, thì việc nghiên cứu về hành vi QHTDTHN trong sinh viên và những khía cạnh liên quan có một ý nghĩa xã hội rất lớn Đây là thế hệ sẽ gánh trọng trách
xã hội, tương lại của đất nước, quan điểm thái độ và hành vi của họ sẽ là điển hình, là phần đại diện quan trọng, là phần định hướng cho quan điểm, thái độ
và hành vi của giới trẻ nói chung về vấn đề QHTDTHN Vì thế, việc nghiên cứu này sẽ giúp các nhà hoạch định chính sách đưa ra được những chương trình phù hợp cho một vấn đề nhạy cảm, tế nhị nhưng quan trọng trong sinh viên, trong giới trẻ hiện nay Ngoài ra, kết quả nghiên cứu còn giúp nhà trường, gia đình sinh viên và chính bản thân sinh viên có “cái nhìn toàn cảnh” vào bản chất vấn đề từ đó có những quyết định đúng đắn và phù hợp cho việc xây dựng những chương trình quản lý đối với sinh viên
4 Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu
- Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 9/2008 đến tháng 8/2009
- Địa bàn nghiên cứu: Trường ĐH KHXH&NV
5 ục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Mục đích
- Tìm hiểu nhận thức, thái độ và hành vi về vấn đề quan hệ tình dục trước hôn nhân của sinh viên đại học Từ đó đề xuất các kiến nghị mang tính khả thi
5.2 Nhiệm vụ
Trang 13- Khảo sát quan điểm, thái độ của sinh viên trường ĐH KHXH&NV về vấn đề quan hệ tình dục trước hôn nhân
- Tìm hiểu các yếu tố là nguyên nhân hình thành nên quan điểm thái độ đó
- Tìm hiểu sự lựa chọn hành vi tình dục trong sinh viên
- Tìm hiểu mối quan hệ giữa các yếu tố dẫn tới sự lựa chọn hành vi tình dục trong sinh viên
- Tìm hiểu hành vi của sinh viên đối với việc QHTDTHN trong sinh viên
6 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu cụ thể
6.1 Phương pháp luận nghiên cứu
Đề tài được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận xã hội học Mác Xít Các nguyên tắc cơ bản của phương pháp này là chủ nghĩa duy vật biện chứng
và chủ nghĩa duy vật lịch sử Đây sẽ là kim chỉ nam xuyên suốt cho quá trình nghiên cứu
- Đảm bảo tính khách quan: Nghiên cứu nhận thức, thái độ, hành vi
của sinh viên về vấn đề QHTDTHN như nó vốn có, như chúng tồn tại trong thực tế, cố gắng ghi nhận chi tiết những biểu hiện của chúng, tránh phán đoán một cách chủ quan, thiếu căn cứ khoa học và manh định kiến của người nghiên cứu Cố gắng để kết quả nghiên cứu phản ánh đúng nhất thực tế vốn có
- Nghiên cứu sự vật, hiện tượng đặt trong mối quan hệ của chúng,
đó là mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau Với đề tài này, cố gắng tìm ra các mối liên hệ và tác động của nhận thức, thái độ, hành vi với các yếu tố khác có liên quan để tìm hiểu sâu hơn về hiện tượng
- Nghiên cứu sự vật, hiện tượng trong sự phát triển: Mỗi sự vật,
hiện tượng trong tự nhiên, xã hội đều có quá trình nảy sinh, vận động và phát triển Khi tìm hiểu nhận thức, thái độ, hành vi của sinh viên về vấn đề QHTDTHN tác giả cố gắng tìm hiểu quá trình của hiện tượng này và xu hướng phát triển của nó
Trang 14- Nghiên cứu sự vật trong một chỉnh thể toàn vẹn của nó: nhận thức,
thái độ, hành vi của sinh viên về vấn đề QHTDTHN là một hiện tượng xã hội bao gồm và chịu tác động của những yếu tố khách quan và chủ quan người thực hiện hành vi Do vậy theo nguyên tắc này tác giả cố gắng đặt nó trong chỉnh thể bản thân hiện tượng và tìm hiểu các yếu tố tác động đó
6.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể:
- Đây là đề tài khá tế nhị Và vì vậy tác giả phải sử dụng song hành cả hai phương pháp: Khảo sát định lượng và phương pháp định tính nhằm thu được thông tin sát thực tế nhất Trong đó, phỏng vấn anket và phỏng vấn sâu được sử dụng như phương pháp chủ yếu thu thập thông tin Ngoài ra các phương pháp bổ trợ khác cũng được áp dụng trong đề tài: Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Khảo sát qua các báo Dân trí, VNexpress, Tuổi trẻ, các tài liệu tiếng Việt và ấn phẩm tiếng Anh
- Mô tả mẫu chọn
- Phỏng vấn bảng hỏi: 360 phiếu
Khoa báo, khoa ngữ văn, khoa xã hội học là 3 khoa được tác giả trong
đề tài này lựa chọn để khảo sát nghiên cứu Với lý do, sinh viên khoa Báo sau khi ra trường sẽ làm những người có vai trò quan trọng trong việc định hướng thái độ của cộng đồng Khoa xã hội học lại có đặc thù riêng, sau này ra trường
sẽ trở thành những cán bộ nghiên cứu các vấn đề xã hội Họ sẽ là những người phải có tư tưởng tiên tiến đồng thời phải luôn giữ mình khách quan nhất có thể Họ đóng vai trò quan trọng trong phát hiện và định hướng nhận thức cộng đồng Sinh viên khoa ngữ văn được tiếp cận với những giá trị nhân văn từ các ấn phẩm, họ có thể sẽ có những đặc điểm khác với hai khoa trên
Do đó, người nghiên cứu đã chọn các khoa đó để thu thập thông tin cho đề tài
Trong nghiên cứu này, tác giả cũng thực hiện phỏng vấn sâu với 25 sinh viên 10 sinh viên có bạn bè hoặc bản thân đã từng có QHTDTHN Vì đây là đề tài khá tế nhị như đã khẳng định, nên phương pháp phỏng vấn sâu
Trang 15chát qua yahoo, qua mail, điện thoại Đồng thời tác giả cũng tiến hành 3 thảo luận nhóm, mỗi nhóm 5 người
7 Giả thuyết nghiên cứu và khung lý thuyết
7.1 Giả thuyết nghiên cứu
- Vấn đề trinh tiết hiện nay không còn là yếu tố chính gắn với sự ràng buộc về hôn nhân
- Đại đa số sinh viên dù có quan điểm đồng tình nhưng bản thân vẫn chưa sẵn sàng với hành vi quan hệ tình dục trước hôn nhân Sinh viên lúng túng trong việc xác định được một giá trị đích thực cho bản thân về vấn đề này
- Các phương tiện truyền thông đại chúng là tác nhân quan trọng ảnh hưởng tới nhận thức, thái độ và làm biến đổi hành vi trong sinh viên về vấn đề QHTDTHN trong sinh viên
- Vai trò, sự kiểm soát của gia đình ít có ảnh hưởng tới hành vi quan hệ tình dục trước hôn nhân trong sinh viên
Trang 16thích, bạn chơi trong diễn đàn )
Nhà trường (chương trình giáo
dục giới tính, Đoàn TN, Hội SV )
Hoạt động của hệ thống truyền
thông (báo giấy, báo mạng, các
SV đối với vấn đề QHTD trước hôn nhân của
SV (về tình
yêu, tình dục, hôn nhân, trinh tiết, QHTD trước hôn nhân)
Trang 17NỘI DUNG HƯƠNG 1: Ơ SỞ Ý UẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP UẬN
1.1 ĐỊNH NGHĨA Á KHÁI NIỆ
1.1.1 Khái niệm “sinh viên”
Theo từ điển Tiếng Việt thì "sinh viên (sinh viên Việt Nam ) là công dân Việt Nam đang theo học tại các trường Đại học và Cao đẳng" [35 ; 109]
Họ là một nhóm dân số xã hội lớn, với các đặc điểm được xác định rõ bởi vai trò, vị trí của hệ thống tái sản xuất và phát triển xã hội
Cuốn “Tâm lý học sư phạm Đại học” của Phạm Minh Hạc đã chỉ rõ,
"thuật ngữ “Sinh viên” có nguồn gốc từ tiếng La tinh “students” có nghĩa là người làm việc nhiệt tình, người tìm hiểu, khai thác tri thức Sinh viên là đại biểu của một nhóm xã hội đặc thù, đại đa số là thanh niên đang chuẩn bị những tri thức, phương pháp và kinh nghiệm cần thiết để có thể tham gia vào quá trình sản xuất vật chất hay tinh thần của xã hội sau khi tốt nghiệp" [8 ; 179]
1.1.2 Khái niệm “Nhận thức”
Các nhà tâm lý cho rằng: "Hoạt động nhận thức chủ yếu của con người
là phản ánh thực tế khách quan, để thích nghi với nó hoặc để cải tạo nó Quá trình hoạt động nhận thức đi từ chưa biết đến biết; Từ các thuộc tính bên ngoài (cảm tính, trực quan, riêng rẽ) đến sự trọn vẹn (ổn định, có ý nghĩa trong các quan hệ của nó); Sau đó đến các thuộc tính bên trong - đi sâu vào bản chất của sự vật (hiện tượng) được nghiên cứu; Cuối cùng từ đó trở về thực tiễn Hoạt động nhận thức của con người diễn ra qua hai hình thức cơ bản là: hành động nhận thức hay quá trình nhận thức" [33 ; 75]
Hành động nhận thức - Là hành động nhận ra, biết được (hiểu được) về một vấn đề cụ thể trong đời sống vật chất hoặc tinh thần của con người Quá trình nhận thức - Là kết quả hiểu biết của con người về một vấn đề cụ thể của thế giới khách quan Kết quả này được tìm thấy trong một khoảng thời gian nhất định
Trang 18Còn theo từ điển Tiếng Việt: “Nhận thức là quá trình hay kết quả phản ánh và tái hiện hiện thực vào tư duy, quá trình con người nhận biết thế giới khách quan trên kết quả nghiên cứu đó Tức là nhận thức là nhận ra, biết được
và hiểu được” [35 ; 72]
Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng: “Nhận thức là sự phản ánh biện chứng thế giới khách quan vào bộ óc con người Nhận thức là quá trình xâm nhập của ý thức con người vào hiện thực làm cho con người chịu sự chi phối của chủ thể và quá trình này cũng chính là quá trình con người làm phong phú thêm tri thức của mình bằng những tri thức mới Đây chính là sự tương tác giữa chủ thể nhận thức với khách thể nhận thức trong quá trình phản ánh hiện thực khách quan”
Trong đề tài này, tác giả sử dụng khái niệm nhận thức theo từ điển tiếng việt Theo đó, “nhận thức là điều hiểu biết về sự vật do quan sát, xem xét mà có, là hiểu biết về sự kiện (do xem xét, suy nghĩ)" [35 ; 72]
1.1.3 Khái niệm “ Thái độ”
Theo Từ điển Tiếng việt, thái độ được định nghĩa theo 2 cách:
“Thứ nhất, thái độ là tổng thể nói chung của những biểu hiện ra bên ngoài (nét mặt, cử chỉ, lời nói, hành động) của ý nghĩ, tình cảm đối với ai hoặc đối với sự việc nào đó Thứ hai, thái độ là cách nhìn, cách nghĩ và cách hành động theo một hướng nào đó trước một vấn đề, một tình hình”.[35 ; 115]
“Trong mọi quan hệ xã hội, con người bao giờ cũng biểu hiện thái độ của mình, hiển thức hay vô thức, ngấm ngầm hay công khai Là nền tảng ứng
xử cá nhân của các cá nhân, một hoạt động tâm lý của cá nhân bao hàm sự lý giải và biển đổi khuôn mẫu xã hội qua kinh nghiệm cá nhân” [35; 116]
Còn theo Từ điển XHH của tác giả Nguyễn Khắc Viện thì cho rằng:
"Trong mọi quan hệ xã hội, con người bao giờ cũng biểu hiện thái độ của mình, hữu thức hoặc vô thức Thái độ là nền tảng ứng xử xã hội của cá nhân,
Trang 19là một hoạt động tâm lý của cá nhân bao hàm sự lý giải và biến đổi các khuôn mẫu xã hội qua kinh nghiệm của cá nhân".[34; 79] Có các yếu tố hợp thành
xã hội:
- Một biến số nằm ở chiều sâu, không thể quan sát được
- Một sự chuẩn bị hành vi, bền vững hơn và có tính chất chung
- Một sự lưỡng phân về cảm xúc
Có thể khái quát khái niệm thái độ ở những nội dung sau:
- Thái độ được hình thành trong các mối quan hệ xã hội, có thái độ của
cá nhân và có thái độ của nhóm
- Thái độ là một hoạt động tâm lý cá nhân, là ý nghĩa tình cảm của cá nhân trước một con người hay công việc được biểu hiện ở nét mặt, cử chỉ và lời nói, hành động của cá nhân đó
Trong nghiên cứu này, tác giả muốn tìm hiểu cách nghĩ, cách nhìn, cách hành động của sinh viên đối với vấn đề QHTDTHN trong sinh viên
1.1.4 Khái niệm “Hành vi”
Theo từ điển tiếng Việt, "hành vi là toàn bộ nói chung những phản ứng, cách cư xử, biểu hiện ra bên ngoài của một người trong hoàn cảnh cụ thể nhất định" [35 ; 32]
Theo quan điểm của các nhà xã hội học, hành vi của các cá nhân tuyệt nhiên không phải là một sản phẩm của sự “tuỳ tiện” hay một sự tự do tuyệt đối Nó bao giờ cũng phát triển trong một hệ thống cưỡng chế Nó không phải hoàn toàn do các cơ cấu xã hội khách quan quy định Nó là hành vi cá nhân diễn ra trong quá trình xã hội hoá nhưng không phải là hệ quả máy móc của quá trình xã hội hoá Nó còn dựa vào những ý định và động cơ của chủ thể hành vi, cũng như vào phương tiện hành vi của chủ thể Hay nói cách khác, hành vi vừa mang tính khách quan vừa mang tính chủ quan Muốn tìm hiểu hành vi cần đặt nó trong mối quan hệ chặt chẽ giữa cá nhân và xã hội
Trang 20Đặc biệt, chúng ta cần phải thấy được mối quan hệ giữa nhận thức, thái
độ và hành vi Hành vi là sự chuyển tải nhận thức, thái độ thành làm việc cụ thể Chính vì vậy, nhận thức và thái độ là sự chuẩn bị cho hành vi Thái độ là nền tảng ứng xử của cá nhân, nó định hướng hành động của con người theo một xu hướng nào đó trước một tình hình Thái độ là một ý nghĩ, một tình cảm bên trong của con người nhưng lại được thể hiện ở hành vi, hành động của con người Tuy nhiên, cũng cần khẳng định rằng thái độ là sự phản ánh nhận thức Nhận thức của cá nhân được kiểm nghiệm thông qua thái độ của một cá nhân về một vấn đề nhất định cũng như cố gắng thể hiện ra hành vi tương xứng Do đó, muốn có hành vi đúng thì phải có thái độ đúng Muốn có thái độ đúng thì nhận thức phải đúng Mối quan hệ nhận thức, thái độ và hành
vi là mối quan hệ biện chứng Trong mối quan hệ nhận thức – thái độ, nhận thức là nguyên nhân, thái độ là kết quả Trong mối quan hệ thái độ – hành vi, nguyên nhân là thái độ và kết quả là hành vi Nói khác đi hành vi là kết quả,
là hình thức biểu hiện của nhận thức và thái độ
1.1.5 Khái niệm “Tình dục”
Theo cuốn “Một số vấn đề lý luận về tình dục” của tác giả Khuất Thu Hồng, Viện Nghiên cứu và Phát triển xã hội thì: Tình dục (sex) là sự thể hiện (cụ thể hóa) tính dục của con người gồm:
- Tưởng tượng, mơ ước về quan hệ tình dục với đối tượng
- Nói chuyện về vấn đề tình dục
- Tự kích thích, thủ dâm
- Quan hệ tình dục (âu yếm, giao hợp) với đối tượng
"Nói tóm lại, tình dục là những hoạt động, những suy nghĩ đem lại cảm xúc tình dục cho con người Tình dục không chỉ bao hàm hoạt động và hành
vi tình dục mà cả suy nghĩ, thái độ và cảm xúc Như vậy hành vi tình dục là các hành động (vuốt ve, ôm hôn, kích thích, giao hợp) thể hiện tính dục của
Trang 21một người Hoạt động tình dục hay hành vi tình dục là những gì mà con người thể hiện với nhau hoặc với bản thân" [12 ; 54]
Nhưng trong vốn từ vựng của người Việt Nam hiện nay, theo cách hiểu thông thường của đại đa số, “quan hệ tình dục” được dùng để chỉ sự giao hợp
mà con người thực hiện với nhau Đề tài này cũng sử dụng cách hiểu này
1.1.6 Khái niệm “quan hệ tình dục trước hôn nhân”
Xuất phát từ khái niệm “tình dục” vừa được định nghĩa và khu trú định nghĩa như trên, khái niệm “quan hệ tình dục trước hôn nhân” được hiểu là
“quan hệ giao hợp mà con người thực hiện với nhau” diễn ra trước khi kết hôn, trước sự thừa nhận hôn nhân về mặt pháp lý hay về khía cạnh xã hội
1.1.7 Trinh tiết ở nữ giới và vấn đề chưa quan hệ tình dục ở nam giới
Đây là thuật ngữ rất gây tranh cãi song trong đề tài này, thuật ngữ trinh tiết được hiểu là sự nguyên vẹn đối với hành vi QHTD, nói khác đi là việc chưa từng QHTD trước hôn nhân ở cả hai giới nam và nữ
1.2 Á Ý THUYẾT Ơ SỞ SỬ D NG TRONG ĐỀ TÀI
1.2.1 Lý thuyết giới
Lý thuyết giới phân biệt rõ hai thuật ngữ: giới và giới tính Giới tính (sex) là sự phân biệt về mặt sinh học giữa nam và nữ, hay nói khác đi là sự khác nhau giữa giống đực và giống cái Giới (gender) dùng để ám chỉ những khác biệt xã hội về nam tính và nữ tính trong xã hội Hầu hết các nhà nghiên cứu đều thừa nhận rằng dù có sự khác biệt về sinh học, nhưng những đặc điểm sinh học của nam và nữ giống nhau nhiều hơn là khác nhau Sự khác nhau cơ bản là ở số cặp nhiễm sắc thể, hormon…., nhưng những điểm khác biệt này bằng mắt thường chúng ta không thể nhìn thấy được Song có một điều chắc chắn là sự khác biệt liên quan đến giới tính ít hơn nhiều so với sự khác biệt trong sự kì vọng mà các chuẩn mực văn hóa – xã hội gán cho hai giới – nam và nữ
Trang 22Trong cách nghĩ của mỗi cá nhân hay trong quan niệm xã hội đều có cách nhìn phân chia thành hai cực: một cực dành cho nam giới, và cực kia dành cho nữ giới Điều này được nhắc đến bằng thuật ngữ “sự phân biệt giới tính”, hay nói khác đi là sự bất bình đẳng dựa trên cơ sở giới Sự bất bình đẳng giới bắt nguồn từ hệ tư tưởng coi trọng giới này hơn giới kia Bất bình đẳng giới khuyến khích những định kiến và phân biệt đối xử được thể chế hóa Định kiến ở đây là những đánh giá, phán xét của cộng đồng về các cá nhân dựa trên những khuôn mẫu không có cơ sở nào khác ngoài cơ sở giới, còn sự phân biệt đối xử là những hành vi dẫn đến sự thiệt thòi xã hội của cá nhân chỉ bởi vì họ là thành viên của một nhóm (một giới) nào đó trong xã hội
Sự bất bình đẳng giới cũng như chủ nghĩa phân biệt chủng tộc ủng hộ sự phân biệt đối xử và bất bình đẳng dựa trên những đặc điểm có sẵn (vị thế gán) – là giới tính và màu da
Chủ nghĩa phân biệt giới tính không hẳn chỉ là những định kiến và phân biệt đối xử chống lại nữ giới Trong nhiều trường hợp nam giới cũng là nạn nhân của chủ nghĩa phân biệt, ví dụ như nghề nghiệp họ chọn bị hạn chế bởi quan điểm, chuẩn mực, giá trị, luật lệ dựa trên những kỳ vọng giới truyền thống
Ở Việt Nam, những định kiến về giới đã tồn tại từ rất lâu đời và ảnh hưởng mạnh mẽ đến hành vi cá nhân Có thể nói, những chuẩn mực về giới là công cụ kiểm soát hành vi rất mạnh mẽ trong xã hội Việt Nam Vận dụng lý thuyết giới, tác giả muốn khắc họa lại sự khác biệt trong thái độ và hành vi tình dục của sinh viên nam, sinh viên nữ Chuẩn mực của xã hội cũ có còn là công cụ kiểm soát đắc lực đối với hành vi QHTDTHN của sinh viên hay không cũng là câu hỏi tác giả quan tâm trong đề tài này
1.2.2 ý thuyết hành động xã hội
Nhà XHH Weber chỉ rõ đối tượng nghiên cứu của xã hội học lý giải là hành động xã hội Ông chỉ ra sự khác nhau giữa hành động xã hội khác và những
Trang 23hành vi và hành động khác của con người Nói tới hành động là nói tới việc chủ thể gắn cho hành vi của mình một ý nghĩa chủ quan nào đó Hành động kể cả hành động thụ động và không hành động đều được coi là hành động xã hội khi ý nghĩa chủ quan của nó có tính đến hành vi của người khác trong quá khứ, hiện tại hay trong tương lai; ý nghĩa chủ quan đó định hướng hành động
Max Weber cho rằng “Xã hội học phải là một định lý giải thích các lý
do của hành động xã hội, quá trình và tác động của chúng “Hành động” có nghĩa là một thái độ của con người (tự có, hành động bên ngoài hoặc bên trong, không được phéo hoặc được phép), khi và chỉ khi chủ thể gắn liền thái
độ của mình với một ý nghĩa chủ quan “Hành động xã hội” thì lại là hành vi
có định hướng ý nghĩa theo thái độ của những người khác”
Không phải hành động nào cũng có tính xã hội hay đều là hành động xã hội Ví dụ, hành động chỉ nhằm tới các sự vật mà không tính đến hành vi của người khác thì không được coi là hành động xã hội Không phải tương tác nào của con người cũng là hành động xã hội Ví dụ, việc hai người đi xe đạp vô tình va quệt vào nhau trên đường phố không phải là hành động xã hội
Hành động giống nhau của các cá nhân trong một đám đông cũng không được coi là hành động xã hội Ví dụ khi mọi người đều bật ô che nắng lúc trời nắng thì đó không phải là hành động xã hội Thậm chí hành động thuần tuý bắt chước hay làm theo người khác cũng không phải là hành động
xã hội Hành động đó có thể coi là hành động có nguyên nhân từ phía người khác, nhưng không có ý nghĩa hướng tới người đó, do vậy không được coi là hành động xã hội Tuy nhiên, cũng là hành động bắt chước người khác, nhưng nếu việc bắt chước đó là do một và mẫu mực, nếu không bắt chước theo sẽ bị người khác chê cười thì hành động đó là hành động xã hội
Để hiểu rõ hơn về hành động xã hội, ông phân thành 4 loại hành động
xã hội như sau:
Trang 24- Hành động duy lý – công cụ: là hành động được thực hiện với sự cân nhắc, tính toán, lựa chọn công cụ, phương tiện, mục đích sao cho có hiệu quả cao nhất
- Hành đông duy lý giá trị: Là hành động được thực hiện vì bản thân hành động (mục đích tự thân) Thực chất loại hành động này có thể nhằm vào những mục tiêu phi lý nhưng lại đựoc thực hiện bằng những công cụ, phương tiện duy lý
- Hành động cảm tính (xúc cảm): Là hành độg do các trạng thái cảm xúc hoặc tình cảm bột phát gây ra, mà không có sự cân nhắc, xem xét, phân tích mối quan hệ giữa công cụ, phương tiện và mục đích hành động
- Hành động theo truyền thống: Là loại hành động tuân thủ những thói quen, nghi lễ, phong tục, tập quán đã được truyền lại từ đời này sang đời khác
Đối với đề tài nghiên cứu này, lý thuyết động xã hội của Max weber không chỉ giúp ích cho tác giả về mặt lý luận khi áp dụng phân biệt các dạng thức hành động xã hội trong nghiên cứu này, mà còn giúp tác giả đánh giá được mức độ của các hành động, đi tìm hiểu lý do của các hành động xã hội, của hành
vi quan hệ tình dục, những lý do của sự từ chối hay chấp nhận… Ngược lại, kết quả nghiên cứu của đề tài còn góp phần làm sáng tỏ thêm những tri thức mà Max Weber đã chỉ ra
Trang 25Mối quan tâm của các cá nhân không hoàn toàn quyết định quá trình các sự kiện của cả một tập thể mà cá nhân là thành viên nhưng sẽ quyết định tới hành vi lựa chọn bởi mối quan tâm chính là biểu hiện rõ nhất của những gì liên quan đến lợi ích, quyền lợi … Tức là có liên quan đến cá nhân đó, hoặc đến tập thể mà cá nhân đó thuộc về nếu lợi ích trùng nhau
Trong các điểm căn bản, học thuyết Sự lựa chọn hợp lý cho rằng hành
vi của một người được xác định bởi thái độ (chuẩn mực cá nhân) của họ đối với kết quả của hành động và phản ứng của môi trường xã hội xung quanh họ
Những chuẩn mực cá nhân được tạo nên bởi những niềm tin mà một
người tích lũy suốt cuộc đời Vài đức tin được hình thành từ những kinh nghiệm trực tiếp, một vài cái khác từ người khác, hoặc được truyền từ đời này sang đời khác Tuy nhiên, chỉ có một số ít những đức tin này thực sự tạo nên thái độ của cá nhân Chúng được gọi là những đức tin nổi bật, quan trọng nhất
và được gọi là “những yếu tố quyết định tức thời cho thái độ của mỗi người”
Chuẩn mực, khi đó là niềm tin nổi bật nhất để xem biểu hiện hành động của một người là tích cực hay tiêu cực Nếu người đó có niềm tin chủ đạo mang tính tích cực về biểu hiện hành động của mình, thì sẽ có thái độ tích cực với hành vi của mình Và ngược lại, nếu người đó có niềm tin chủ đạo mang tính tiêu cực về biểu hiện hành động của mình, thì sẽ có thái độ tiêu cực với hành
vi Đó gọi là sức mạnh của niềm tin Sức mạnh niềm tin và sự định giá được nhân lên để làm thành chuẩn mực cá nhân
Ràng buộc xã hội là những niềm tin về việc những người khác nghĩ gì
về hành vi của mình Chúng là những khái niệm về gia đình và bạn bè sẽ nhận thức thế nào về biểu hiện hành vi (niềm tin chuẩn mực) và mức độ ảnh hưởng đến việc hành vi có được thực hiện hay không (động lực tuân theo) Hai nhân
tố này được nhân lên để tạo thành ràng buộc xã hội Cần phải chú ý rằng những ràng buộc xã hội được tạo thành chỉ trong các mối tương quan giữa các
ý kiến được coi là quan trọng hoặc có ý nghĩa của nhiều người
Trang 26Dự định hành động, được đánh giá bởi chủ thể, là khả năng một người
có thể thực hiện hành vi của mình hay không Ý định này được tạo nên từ những chuẩn mực cá nhân và ràng buộc xã hội Tuy nhiên những biến này phải ảnh hưởng sâu sắc đến chuẩn mực hoặc những yếu tố cấu thành đức tin chuẩn mực và tầm quan trọng của chúng Những yếu tố này bao gồm các biến
về nhân khẩu học và những đặc điểm tính cách
Trong nghiên cứu này, lý thuyết này được sử dụng để lý giải sự lựa chọn hành vi tình dục của sinh viên Hành vi tình dục rất đa dạng, nhưng với đặc điểm và chuẩn mực của mình sinh viên đã lựa chọn hành vi tình dục như thế nào? Hành vi QHTDTHN trong sinh viên chịu sự chi phối của những yếu
tố nào? Những chuẩn mực cá nhân và ràng buộc xã hội trong trường hợp này thể hiện ra sao Đó là một trong những nội dung trọng tâm mà người tác giả tìm hiểu thông qua việc vận dụng lý thuyết sự lựa chọn hợp lý này trong nghiên cứu của mình
1.2.4 Lý thuyết trao đổi
Cơ sở hình thành lý thuyết trao đổi là lý thuyết sự lựa chọn hợp lý, lý thuyết trò chơi và nguyên tắc “Cùng có lợi”
Thuyết lựa chọn hợp lý trong XHH có nguồn gốc từ triết học, kinh tế học, nhân học và tâm lý học hành vi Đại diện cho thuyết này là Alfre Marschal (1842-1924) (nhà kinh tế học), Gorger Homans, Jonh Elster Một biến thể nổi tiếng của lý thuyết lựa chọn hợp lý là lý thuyết trò chơi do một số nhà kinh tế học đầu thế kỷ XX xây dựng Đại diện là Harold Kelly, John Thibaut, Marcel Maus (nhà Nhân học) (1872-1950)
Thuyết lựa chọn hợp lý cho rằng con người luôn hành động một cách
có chủ đích, có suy nghĩ để lựa chọn và sử dụng các nguồn lực một cách duy
lý nhằm đạt được kết quả tối đa với chi phí tối thiểu
Trang 27Thuyết trò chơi cho thấy, hành động duy lý cá nhân chỉ có thể đem lại kết quả tốt đẹp cho các bên tham gia khi cùng nhất trí những “luật chơi”, ví
dụ trao đổi thông tin hợp tác cùng có lợi, tin cậy lẫn nhau
Thuyết này tập trung vào việc xem xét vấn đề cho và nhận trong quá trình tương tác Theo quan điểm của lý thuyết này, cá nhân hành động tuân theo nguyên tắc trao đổi cá giá trị vật chất, tinh thần, sự ủng hộ, tán thưởng, danh dự
Nguyên tắc chung của thuyết Trao đổi là con người từ chối những hành
vi phải chi phí (trả giá) và tìm kiếm những thiết chế trong đó phần thưởng nhiều hơn chi phí Con người đã chọn phương án có hiệu quả nhất trên cơ sở nhận thức phần thưởng và chi phí
Một số nội dung cơ bản và hướng vận dụng của lý thuyết trao đổi trong nghiên cứu như sau:
1 Trong quá trình lựa chọn hành động, con người sẽ có những hành động mà anh ta nhận thức đầy đủ về nó nhất Khi đó anh ta tính toán đến hiệu quả của hành động Con người hành động để có phần thưởng tối đa và chi phí tối thiểu Con người hành động để tìm lợi ích hợp nhất đối với anh ta Áp dụng vào đề tài nghiên cứu này, câu hỏi được đặt ra là vậy những “ích lợi” gì
mà SV sẽ nhận được khi QHTDTHN? Hành vi từ chối hay chấp nhận QHTD trong SV mang lại “lợi ích” gì khiến SV lựa chọn hành động đó?
2 Bản thân những chi phí, phần thưởng, lợi ích đều mang giá trị Con người hành động là thực hiện trao đổi những giá trị (vật chất, phi vật chất) Bên cạnh phần thưởng còn có sự trừng phạt Con người hành động sợ bị trừng phạt Trừng phạt mang giá trị tiêu cực đối với chủ thể hành động Hành động
xã hội có xu hướng lặp lại nếu nó từng được thưởng trong quá khứ, ngược lại không có xu hướng lặp lại những gì được phát hiện không có phần thưởng
Và phần thưởng đều mang tính chất đền bù
Trang 28Khi con người ở trạng thái thiếu thốn mà nhận được phần thưởng thì phần thưởng đó rất có giá trị Ngược lại nếu ở trạng thái dư thừa thì tương quan chi phí và lợi nhuận càng phải lớn mới có thể gây được nhiều kích thích tích cực
Trong quá trình hành động, con người phải bỏ ra những chi phí nào đó
và đổi lại anh ta sẽ nhận được một phần thưởng tương ứng với chi phái mà anh ta bỏ ra Đó là xu hướng cân bằng của cá nhân trong hành động (cân bằng giữa chi phí và phần thưởng) Xu hướng cân bằng này thể hiện ở chỗ các cá nhận mong muốn đạt được những phần thưởng lớn nhất so với chi phí đã bỏ
ra Điều này có ảnh hưởng lớn trong các quyết định của các cá nhân
Áp dụng lý thuyết trong nghiên cứu, câu hỏi tác giả muốn tìm hiểu là vậy thì đối với những SV đã có QHTDTHN, xu hướng hành động của họ sẽ
ra sao nếu như trong “quá khứ” họ không hề nhận được sự đồng tình? Có sự khác biệt nào trong hành động giữa những SV đã nhận được sự ủng hộ và những sinh viên gặp phải sự phản đối? Họ sẽ làm gì để cân bằng các hành động của mình, sự cân nhắc giữa các yếu tố nào?
3 Con người sẽ có hành vi chống đối hay tán thành khi hành động của anh ta không nhận được phần thưởng như mong đợi Giá trị phần thưởng phụ thuộc vào ý nghĩa của nó đối với một cá nhân cụ thể.: Một bông hồng có thể
là phần thưởng nhiều hơn một quà tằng đắt tiền, phụ thuộc vào ý nghĩa cụ thể của người trao và người nhận Con người sẽ quyết định lựa chọn hành động nào đấy ngay cả khi giá trị của nó thấp nhưng được bù lại, họ chọn hành động
đó vì tính khả thi của nó rất cao
Bản thân chi phí, phần thưởng, lợi ích đều mang lại giá trị Con người hành động là thực hiện trao đổi những giá trị (vật chất, phi vật chất) Áp dụng điểm này trong nghiên cứu, câu hỏi được đặt ra là vậy thì những “phần thưởng” nào mà SV mong đợi sau QHTDTHN, cũng như những “hình phạt”
Trang 291.3 Á QUAN ĐIỂ VÀ KHÍA ẠNH TÌNH D TRONG Ị H SỬ 1.3.1 Tổng quan nhận thức về tình dục trong lịch sử
Tham khảo các tài liệu của tác giả Khuất Thu Hồng, tác giả nhìn nhận các quan điểm về tình dục trong lịch sử được đề cập đến như sau: ban đầu giới tính được xác định như thuộc tính mà theo đó cơ thể được phân ra nam hay nữ dựa trên căn bản là cơ quan chức năng sinh sản của họ Do đó mà tình dục có liên quan tới sinh sản và đến vai trò giới tính được gán cho trong một
cơ thẻ sinh sản có tính chất giới tính Vì điều này, người ta phân tách giữa tình dục thuộc về phạm vi cá nhân và phạm vi cộng đồng Tình dục được coi
là phổ biến, tĩnh tại và cố định cho tất cả mọi người và tất cả mọi xã hội
Dần dần, vượt qua những ý nghĩa thuần túy về mặt sinh học đó, tình dục bắt đầu được gắn với những ý nghĩa xã hội, được đặt trong bối cảnh tổng thể của một nền văn hoá mang định chế xã hội, bao gồm cả sự phân biệt giới, những khuôn mẫu của nam tính và nữ tính, cách biểu lộ tình cảm, vẻ ngoài của cơ thể và các nguyên tắc về giao tiếp bằng lời nói Mỗi xã hội đều tạo ra một số sự khác biệt tình dục giữa tình dục “đúng” và tình dục “sai” Nó có thể được chấp nhận hoặc không chấp nhận về mặt đạo đức xã hội
Ở thời điểm hiện tại, cuộc đấu tranh đánh đổ hệ thống truyền thống phân biệt giới tính dựa trên sự thống trị của đàn ông, những thay đổi về các khuôn mẫu nam tính/nữ tính và các quy định, mong đợi về vai trò của giới đã làm gia tăng tính không ổn định và tâm lý học hoá các quan hệ hôn nhân Dần dần, hình thành thái độ mới mang tính giải phóng về cơ thể và tình cảm, gia tăng sự chấp nhận của xã hội đối với những khác biệt và tuân thủ của cá nhân, làm yếu đi sự kiểm soát của cha mẹ, nhà trường và bạn bè đối với tình dục vị thành niên Ở các nước công nghiệp, thanh niên bắt đầu đời sống tình dục sớm hơn các thế hệ trước đó Thái độ về tình dục trước hôn nhân trở nên thoải mái hơn và trong đa số trường hợp, các mối quan hệ như vậy được coi là có thể chấp nhận được về mặt xã hội và đạo đức Sự thoả mãn về mặt tình dục đã
Trang 30trở thành một trong những yếu tố quan trọng nhất cho sự thành công và ổn định của hôn nhân Các kỹ thuật tình dục ngày càng trở nên tinh vi và đa dạng hơn, con người thể hiện nhu cầu cao hơn, mong đợi lớn hơn và lo lắng nhiều hơn về chất lượng đời sống tình dục của mình
Những thay đổi trong đời sống tình dục của phụ nữ là hết sức quan trọng
Sự khác biệt về tuổi bắt đầu đời sống tình dục cho nam và nữ đã giảm một cách đáng kể và oàn toàn biến mất Phụ nữ phản đối một cách mạnh mẽ “chuẩn mực kép” trong đạo lý tình dục Thái độ xã hội cởi mở hơn đã dẫn đến sự giảm liên tục lỷ lệ phụ nữ bị lãnh cảm tình dục và không thể đạt cực khoái Tình dục đang trở thành một khía cạnh quan trọng của đặc tính cá nhân và xã hội của phụ nữ
Xét về toàn cục, tiến trình này đồng nghĩa với sự cá nhân hoá và sự riêng tư hoá tình dục và chuyển từ sự kiểm soát bằng xã hội bên ngoài tới sự
tự kiểm soát bằng đạo lý bên trong Nhưng những thay đổi này không còn đơn
phương và rất trái ngược Sự yếu kém của các quy tắc xã hội về tình dục
cộng với sự thiếu thông tin và hiểu biết đã mang đến những hậu quả không như mong đợi: sự gia tăng tỷ lệ mang thai và phá thai tuổi vị thành niên ở
một số nước, lạm dụng tình dục, các bệnh lây nhiễm qua đường tình dục Sách bao khiêu dâm được thương mại hoá kịch động tình dục, và các mối quan hệ phóng khoáng không cần tình yêu hoặc tình cảm đang biến tự do tình dục thành sự tha hoá về tình dục Các hiểm hoạ của tình dục không hạn chế được nhấn mạnh bởi đại dịch AIDS Căn bệnh này đã làm sống lại nhiều nỗi
lo lắng và sợ hãi từ trong quá khứ liên quan đến tình dục, gây ra tình trạng hoảng loạn về đạo đức Những người bảo thủ coi sự giải phóng tình dục như một tình trạng rối loạn hoàn toàn về đạo đức, dẫn đến sự tự huỷ hoại của nền văn hoá và xã hội Khác với những nỗi lo sợ này là sự phát triển các tự quy ước về đạo lý và sự tăng cường giáo dục giới tính một cách đầy đủ
Tất cả những yếu tố này làm tiền đề cho việc phát triển một quan điểm
Trang 31phần lớn cho sinh sản để trở thành chức năng chính của tình dục Chức năng
về tình dục ngày càng mang tính xã hội Theo văn hoá tiêu dùng, tình dục như một thứ được bán hàng theo ham muốn, người ta ăn mặc hay sống cũng theo một định nghĩa mới về tình dục Tình dục được tiếp thị đến tất cả mọi người
và nó ngấm vào từng khía cạnh khác nhau của mỗi người
1.3.2 Quan điểm tình dục tại Việt Nam
Thời xa xưa, ở những vùng kinh tế hái lượm, nông nghiệp chiếm ưu thế
- vùng Đông Nam Á, vai trò chủ đạo thuộc về người nữ, tạo thành truyền thống văn hóa mẫu hệ Nhiều tộc người Việt như Gia Rai, Ê đê đến nay vẫn còn giữ tục người nữ chủ động tìm chồng, có giai đoạn sống thử để chọn được người nam ưng ý nhất rồi mới cưới chồng
Đó cũng chính là truyền thống văn hóa tình dục của người Việt cổ trước khi tiếp xúc với Trung Hoa Nghĩa là, trái với suy nghĩ nhiều người, truyền thống văn hóa tình dục ban đầu của người Việt đã từng chấp nhận tình dục trước hôn nhân và không hề biết đến "chữ trinh" Việc sống thử là một biện pháp hạn chế những sai sót trong việc lựa chọn bạn đời
Trong cuốn sách của Lê Văn Lan, Phạm Văn Kính và Nguyễn Linh (1963) về các thời đại Đồ đá và Đồ đồng ở Việt Nam, mô tả chi tiết các di chỉ khảo cổ ủng hộ cho quan điểm người Việt Nam những năm đầu của dân tộc
đã coi tình dục và quan hệ tình dục như các hoạt động của con người trong sự hoà hợp với tự nhiên Các tác phẩm về các trò chơi truyền thống trong các lễ hội, các quy tắc, các thực hành và thói quen truyền thống cũng như các truyền thuyết đều đưa ra các bằng chứng về các niềm tin và cách thực hành như đã nói ở trên trong nền văn hoá đại chúng Do đó mặc dù hệ thống tư tưởng chính thống ở Việt Nam bị ảnh hưởng nặng nề bởi Khổng giáo, khuyến khích những hạn chế ngặt nghèo và tính bí mật về tình dục, quan điểm này chưa bao giờ ảnh hưỏng một cách hoàn toàn đến đa số nhân dân
Trang 32Nền văn hoá phương Tây, chủ yếu là từ Pháp đến Việt Nam cùng với
sự thực dân hoá từ giữa thế kỷ XIX cho tới nửa đầu thế kỷ XX, khuyến khích các ý tưởng và lối sống mới hướng tới các quan điểm, thậm chí còn tự do hơn
về tình dục và các thái độ về tình dục Tuy nhiên, ảnh hưởng của Phương Tây chủ yếu ảnh hưởng tới khu vực đô thị và những nhóm nhỏ của cứ dân đô thị,
và cũng như vậy ảnh hưởng chỉ tới một khí cạnh nhỏ của đời sống, chỉ ở bề mặt, không thấm nhuần một cách sâu sắc như Khổng giáo và văn hoá truyền thống Việt Nam
Từ năm 1945, Việt Nam giành được độc lập từ người Pháp, nhưng ngay sau đó lại trải qua cuộc kháng chiến chín năm chống Pháp Tiếp sau đó
là một cuộc chiến tranh còn dài hơn nhiều chống người Mỹ, cho đến tận thắng lợi cuối cùng vào năm 1975 Trong thời gian đó, đất nước được chia thành hai khu vực đối nghịch: miền Bắc tham gia vào khối xã hội chủ nghĩa và miền Nam nằm dưới sự hậu thuẫn của một chính quyền được Mỹ hậu thuẫn Trong khi các tài liệu ở phía Nam trong giai đoạn đó vẫn chưa được khám phá, những gì xẩy ra ở miền Bắc cho thấy những quan điểm cứng nhắc và giáo điều về quan hệ tình dục, mà trên thực tế là sản phẩm của ý thức hệ rộng hơn
về các vấn đề xã hội và chính trị du nhập từ bên ngoài (Trung Quốc và Liên Xô) nhấn mạnh đến các quan điểm và hành vi mang tính lý tưởng, mà bỏ qua thậm chí hạ thấp giá trị của tình dục như là cơ sở tự nhiên cho quan hệ đàn ông và đàn bà Tuy nhiên “văn hoá truyền thống của á Đông , ảnh hưởng còn rơi rớt lại của văn hoá Pháp từ trước Cách mạng, cũng như các nguyên lý
cơ bản của văn hóa Nga và châu Âu góp phần củng cố những ý tưởng tự do
vốn vẫn tồn tại “Có lẽ sự kết hợp của các ảnh hưởng văn hoá này đã làm
nổi lên những mâu thuẫn giữa lý thuyết và thực tế trong các quan hệ tình dục trong giai đoạn này” (Khuất Thu Hồng, 1998:36)
Nếu như Việt Nam thời bao cấp, văn hóa tình dục người Việt rơi vào
Trang 33người bị đè nén) thì Đổi mới như một luồng gió đã thay đổi tất cả Người ta tò
mò, người ta háo hức Người ta lao vào.Việc thống kê của Google cho thấy năm 2006 VN có số lượt người tìm từ khóa "sex" cao nhất thế giới không có nghĩa là người VN ham sex nhất thế giới Nó chỉ có nghĩa là người VN "đói" thông tin về sex vào loại nhất thế giới
Khi Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế, cũng có nghĩa là phải đồng thời chấp nhận hội nhập về văn hóa và lối sống ở một mức độ nhất định Xu hướng tình dục "thoáng" hiện nay là một thực tế đã được báo động trước mà ta không thể nào tránh được Trong những năm gần đây, nhiều nhà quan sát nước ngoài
đã nói đến khái niệm "cách mạng tình dục" Một cuộc "cách mạng" như vậy đã xảy ra ở Nga, đang xảy ra ở Trung Quốc và tiếp đến là Việt Nam?
Như trên đã nói, khởi thuỷ văn hoá Việt Nam coi trọng những giá trị
mà tình dục mang lại, song bởi đứng giữa sự giao thoa của nhiều nền văn hoá, trải qua nhiều biến cố lịch sử cho nên quan niệm về tình dục cũng có nhiều biến đổi Song đó là sự thống nhất trong đa dạng Một mặt những giá trị về tình dục vẫn được đề cao nhưng mặt khác từ trong lịch sử, con người bị bó buộc trong những quan niệm giáo điều, khuôn mẫu khiến cho tình dục vừa trở nên thiêng liêng vừa trở nên bí hiểm Bởi người ta một mặt coi trọng nhưng một mặt không được cởi mở khi nói về tình dục Phân tích sâu hơn điều này trong văn hoá dân gian sẽ thấy rõ hơn
Trong nền văn hóa dân gian, tình dục tự nhiên như hơi thở, như một con ong hút mật hay những bông hoa thụ phấn để đơm hoa kết trái Trong kho tàng ca dao, dân ca về tình yêu cũng ẩn chứa những ẩn dụ về quan hệ rất con người này:
“Hôm nay mận mới hỏi đào Vườn hồng đã có ai vào hay chưa?
Mận hỏi thì đào xin thưa Vườn hồng có lối nhưng chưa ai vào”
Trang 34Hình ảnh “vườn hồng mở lối” và bước chân phiêu lãng của chàng lãng
tử dạo trong vườn hồng phải chăng là phép ẩn dụ tinh tế cho hành động tính giao của con người? Và lời tỏ tình này của chàng trai cũng là sự tán tỉnh ỡm ờ với những ám chỉ về tình dục, và cô gái tuy có e lệ nhưng cũng không giấu giếm sự đáp lại những ám chỉ ấy?
Không chỉ có trong dòng văn hoá dân gian, trong dòng văn hóa bác học vấn đề về tình dục cũng được đề cập đến một cách rất “bạo” Điển hình như
Hồ Xuân Hương Các bài thơ đầy sự ám chỉ tình dục của bà là một hiện tượng đặc biệt trong xã hội và văn học Việt Nam thế kỷ XVIII Xuất thân trong một gia đình nhà nho, nhưng Hồ Xuân Hương không chấp nhận một nền luân lý trái tự nhiên của Nho giáo đối với phụ nữ Thơ của bà nói lên khát vọng chính đáng về hạnh phúc tự nhiên của con người, thông cảm với người con gái lỡ làng trót hoang thai, với thân phận lẽ mọn, chế nhạo bọn ngụy quân tử đạo đức giả,…Những bài thơ về phong cảnh hay hội hè, sinh hoạt của con người nhưng lại ám chỉ táo tợn về bộ phận sinh dục của đàn ông và đàn bà hay hoạt động tình dục, đã đạt tới trình độ tuyệt đỉnh của nghệ thuật đố tục giảng
thanh Tiêu biểu nhất là các bài “Vịnh quả mít”, “Chơi đu”, “Khóc tổng
cóc”,…Cho đến mãi gần đây thơ của bà vẫn còn bị lên án là dâm và tục
Nhưng đối với người Việt Nam, thơ Hồ Xuân Hương luôn được thích thú và truyền thụng từ thế hệ này qua thế hệ khác
Rõ ràng văn hóa dân gian đã có những tác động đến văn hóa bác học Tuy nhiên, nền văn hóa bác học vẫn ảnh hưởng sâu sắc đến nền văn hóa dân gian Chúng ta có thể nhận thấy là trong truyện cổ tích, mô tuýp người đàn bà chỉ ướm vào vết chân lạ hay uống nước trong sọ dừa, mà mang thai rồi đẻ ra những đứa con tài giỏi có thể là sự bênh vực cho những người đàn bà không chồng mà có con Nhưng những tư liệu lịch sử cho thấy trong xã hội truyền thống cũng có những hình phạt như “cạo đầu bôi vôi”, “thả bè trôi sông” dành
Trang 35cho những người phụ nữ không chồng mà chửa Tại sao lại có hiện tượng mâu thuẫn này?
Rõ ràng, các thể chế xã hội đã đặt ra những ngưỡng để khống chế, kìm hãm những quan hệ tự nhiên, trong đó dành đặc lợi về tình dục cho một nhóm người trong xã hội Ví dụ như quan niệm:
“Đàn ông năm thê bảy thiếp Gái chính chuyên chỉ lấy một chồng”
Vở chèo “Quan âm Thị Kính” nổi tiếng là minh chứng thể hiện sức
mạnh của thể chế xã hội, và cả sự quẫy đạp của những ẩn ức về tình dục trong
xã hội phong kiến “Quan âm Thị Kính” không hẳn là vở chèo được dựng lên
với mục đích răn dạy những thiếu nữ tránh điều cấm kỵ – QHTD và có thai trước hôn nhân, mà nó còn ẩn chứa trong đó nỗi khao khát tình yêu – tình dục cháy bỏng của người thiếu nữ Với những chuẩn mực phong kiến ngặt ngèo,
cô Mầu bị coi là phụ nữ lẳng lơ, nhưng tác giả dân gian vẫn tỏ ra thương cảm cho cô Mầu Cô gái chửa hoang này bị xét xử bởi những “cụ tiên chỉ” trong làng Những người đại diện cho những người có quyền lực trong cộng đồng
đã khép cô Mầu vào tội vi phạm “luân thường đạo lý” Tuy nhiên, họ vẫn không giấu được sự ham muốn đối với người con gái đẹp bị họ phạt vạ Có lẽ
cô Mầu sẽ không phải chịu “phạt vạ” nếu như cô mang trong mình giọt máu của một trong những “cụ chỉ tiên” kia Trong xã hội truyền thống, việc quan
hệ trước hôn nhân của trai gái trong làng là cấm kỵ Nhưng các công tử nhà giàu, hay vua quan phong kiến “phong lưu” thì lại được chấp nhận Bởi vì, như trên đã trình bày, những chuẩn mực xã hội được đặt ra để kìm hãm hành
vi của con người, nhưng vẫn dành những đặc quyền cho một nhóm nhất định
Trang 36HƯƠNG 2 NHẬN THỨ , THÁI ĐỘ, HÀNH VI ỦA SINH VIÊN ĐỐI VỚI VẤN ĐỀ QUAN HỆ TÌNH D TRƯỚ HÔN NHÂN
ỦA SINH VIÊN HIỆN NAY
2.1 NHẬN THỨ , THÁI ĐỘ, HÀNH VI ỦA SINH VIÊN ĐỐI VỚI VẤN
ĐỀ QUAN HỆ TÌNH D TRƯỚ HÔN NHÂN ỦA SINH VIÊN HIỆN NAY
2.1.1 Nhận thức và thái độ của sinh viên về vấn đề tình dục trước hôn nhân
Về tình yêu và tình dục
Bắt đầu từ câu hỏi “Bạn đã có người yêu chưa?”, thu được kết quả như
sau: trong số những sinh viên tham gia phỏng vấn, có 48.3% sinh viên hiện đang có người yêu, 27.5% sinh viên đã từng có người yêu nhưng đã chia tay và
có 24.2% sinh viên chưa có người yêu Số liệu trên đây cho thấy tình yêu trong sinh viên rất phổ biến Chỉ có khoảng 1/4 số sinh viên trả lời câu hỏi này chưa bao giờ có những trải nghiệm về tình yêu (chỉ có những tình cảm “thích thích” thuở học trò) Những sinh viên tham gia vào nghiên cứu này đều nằm trong độ tuổi 18 – 24 Đây là độ tuổi của nhu cầu tình cảm lớn và những cảm xúc dạt
dào, lãng mạn Họ cũng đã bước qua tuổi học trò ngây thơ để bắt đầu một cuộc
sống trưởng thành và tiếp nhận những trải nghiệm tất yếu của cuộc sống
Dù có người yêu hay chưa thì tình yêu vẫn là điều tuyệt vời, thiêng liêng trong sinh viên Như một sinh viên bày tỏ:
“Tình yêu chân thật xuất phát từ sự yêu thương thật lòng và sống cho người mình yêu Em cảm thấy mình thánh thiện hơn khi
được yêu” (Phiếu 33, Nữ, 20 tuổi, SV năm 2)
Không ít sinh viên được hỏi trong nghiên cứu này đều cho rằng sinh
viên là tuổi đã trưởng thành rồi nên yêu là chuyện bình thường Cho dù là
đến với tình yêu với động cơ gì, vì lý do gì nữa thì 92% sinh viên vẫn
Trang 37lại dành thời gian tập trung tuyệt đối cho học tập và làm thờm, để dành “chỉ yờu sau khi ra trường”
Tỡnh yờu là một khỏi niệm đẹp trong hầu hết cỏc bạn sinh viờn được
hỏi Vậy giữa tỡnh yờu và tỡnh dục cú mối quan hệ như thế nào? Tỡnh yờu
cú nhất thiết đi kốm tỡnh dục hay khụng?
Kết quả nghiờn cứu cũng chỉ ra rằng tõm thế của nam và nữ sinh viờn khi nhỡn nhận vấn đề tỡnh dục trong tỡnh yờu cũng cú sự khỏc biệt
Khi đưa ra cõu hỏi: “Bạn cú đồng tỡnh với nhận định: Tỡnh dục
khụng thể thiếu trong tỡnh yờu?” thỡ kết quả cho thấy, trong số cỏc nam sinh
viờn tham gia phỏng vấn bằng bảng hỏi thỡ cú tới 56.3% sinh viờn hoàn toàn đồng tỡnh, 50.5% phần lớn là đồng tỡnh, khụng cú sinh viờn nào cú thỏi độ phần lớn là phản đối, và chỉ cú 5.6% sinh viờn nam hoàn toàn phản đối ý kiến trờn Tỷ lệ này ở nữ sinh viờn trong nghiờn cứu này lần lượt là 8.5%, 30.5%, 40.2% và 20.7% (Biểu đồ 2.1) Kết quả đú cho thấy sự khỏc biệt giữa nam và
nữ khi cựng nhỡn nhận về vấn đề tỡnh dục trong tỡnh yờu
Biểu đồ 2.1 Thỏi độ của nam và nữ sinh viờn về vấn đề tỡnh dục trong tỡnh yờu
đồng tình Phần lớn là phản đối Hoàn toàn phản đối
Thỏi độ này cũng được chia sẻ ở cỏc ý kiến phỏng vấn sõu khỏc khi họ đều thống nhất ở điểm cho rằng: sức hỳt giới tớnh ở những người yờu nhau là
tự nhiờn, cũng như việc những người yờu nhau cú ham muốn tỡnh dục với nhau là điều hoàn toàn bỡnh thường Khi đó yờu nhau thỡ khú trỏnh khỏi
những sự động chạm về xỏc thịt dự ở mức độ này hay mức độ khỏc
Trang 38Đã yêu nhau rồi, thiếu gì lúc ở gần nhau chỉ có hai người Mà những lúc đó không làm gì nhau có mà buồn cười Tình dục bây
giờ với người yêu nhau là bình thường mà, không thế mới là lạ”
(Phiếu số 7, Nam, 21 tuổi, SV năm thứ 3)
“Bây giờ báo chí, phim ảnh, mạng internet đầy, nên em thấy nói
về tình dục điều ấy rất bình thường Em nghĩ tình yêu nếu có tình dục làm cho mình khó dứt ra hơn Mình mà đã một lần rồi thể nào chả có lần thứ hai Và dần dần thấy bình thường Tình dục
và tình yêu gắn với nhau là lẽ đương nhiên” (PVS số 10, Nam,
23 tuổi, SV năm 4)
Như vậy để thấy rằng, hiện nay quan điểm về tình yêu gắn với tình dục trở nên rất cởi mở trong sinh viên Đối tượng được hỏi đều cho rằng đó là chuyện bình thường và sự “sánh đôi” của tình dục và tình yêu như một cặp không thể phủ nhận Rõ ràng là những áp đặt của gia đình, của đạo đức về
vấn đề phẩm hạnh người phụ nữ như “Nam nữ thụ thụ bất thân” đã dần xa
rời trong sinh viên
Bên cạnh đó sinh viên cũng cùng đồng ý với ý kiến cho rằng tình dục làm cho tình yêu mãnh liệt hơn và làm cho hai người yêu nhau hiểu nhau hơn:
“Em rất tin tưởng vào người mình yêu nên em cảm thấy việc quan
hệ không phải là việc mình không giữ gìn Đó chỉ đơn giản là vì em cũng muốn anh ấy và anh ấy cũng thế Lúc đó là dâng hiến cho nhau Và nói thực là sau khi quan hệ xong, em còn thấy yêu nhau hơn, cảm giác hiểu nhau và đúng như người ta nói không còn
khoảng cách nữa” (PVS số 3, nữ, 22 tuổi, SV năm 4)
“Bình thường anh ấy rất ít nói, em cũng biết bạn em rất tình cảm
nhưng hơi lạnh lùng nhưng khi bọn em “cùng nhau” thì anh ấy quả thật rất nồng nhiệt, vừa dịu dàng vừa say đắm Nói chung là
em thấy đúng là quan hệ tình dục giúp em hiểu bạn em hơn”
Trang 39“Em thấy nhiều người cứ nói mãi về việc QHTDTHN, em thì thấy bình thường, đó là việc khó tránh khỏi khi hai người yêu nhau mà lại trong bối cảnh thuận lợi Khi đã “yêu” nhau rồi có khi còn gắn bó hơn, cảm giác không còn gì ngăn cách giữa hai
người, chuyện gì cũng có thể nói được, kể cả “chuyện ấy” (TLN
số 2, nam, 22 tuổi, SV năm 4)
Như vậy quan điểm về tình dục gắn với tình yêu được SV coi đó là điều bình thường, như một sự ngẫu nhiên xảy ra Điều đó thể hiện quan điểm cởi
mở của SV về tình dục trong tình yêu
Về hôn nhân và trinh tiết
Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng quan điểm về hôn nhân vẫn còn nguyên giá trị, song mối quan hệ giữa tình dục và hôn nhân đã lỏng lẻo hơn và quan điểm về trinh tiết không còn quá ngặt nghèo, khắc nghiệt
Hầu hết các ý kiến phỏng vấn sâu đều cho rằng nếu đã chấp nhận quan
hệ tình dục thì phải gắn bó, chung thủy với nhau để tình cảm có thể đi đến một kết cục có hậu Khi tìm hiểu về sự chung thuỷ đòi hỏi ở bạn tình khi QHTDTHN, kết quả nghiên cứu thu được như sau: chỉ có 9% sinh viên trả lời
có thể thông cảm với hành vi quan hệ tình dục với nhiều người theo nghĩa không chung thủy Bởi vì
“Chung thủy trong quan hệ tình dục cũng quan trọng như chung
thủy trong tình yêu” (Phiếu số 12, nam, 22 tuổi, SV năm 4)
Trong số các sinh viên có thái độ thông cảm với hành vi không chung thủy trong tình yêu chỉ có 20% là sinh viên nữ SV nữ tỏ ra rất bất bình với
việc có nhiều nam thanh niên quan hệ tình dục “lăng nhăng”.Bởi vì theo họ
khi người phụ nữ đã trao thân cho người yêu nghĩa là đã chấp nhận thiệt thòi, tuy nhiên người đàn ông phải tạo được ở người phụ nữ niềm tin Theo sinh đồng tình với hành vi quan hệ tình dục với nhiều người có nghĩa là
“khuyến khích tính vô trách nhiệm ở đàn ông” (Phiếu số 8, nữ,
22 tuổi, SV năm 4)
Trang 40Yờu cầu về sự chung thuỷ trong tỡnh yờu, trung thuỷ khi đó “là của nhau” được SV lý giải và gắn kết nú với một đỏm cưới trong tương lai
“Chỳng em chẳng cú một giao ước gỡ cả nhưng em nghĩ nếu đó tin tưởng để làm chuyện kia với nhau thỡ cần phải chung thuỷ và
cú trỏch nhiệm với nhau Người ta bảo yờu nhau là cựng nhỡn về
một hướng và chỳng em đều nghĩ là sẽ kết hụn với nhau” (PVS
số 1, nữ, 21 tuổi, SV năm 3)
“Tụi với bạn gỏi đó quan hệ với nhau, tụi khụng chắc chắn cú tiến tới hụn nhõn hay khụng vỡ từ giờ đến lỳc đú cũn nhiều yếu tố
nhưng về dự định thỡ tụi vẫn chọn bạn gỏi hiện tại thụi” (PVS số
10, nam, 22 tuổi, SV năm 4)
Trong quan niệm SV thỡ tỡnh yờu gắn với hụn nhõn Số liệu trong nghiờn cứu này phần nào cũng cho thấy quan điểm đú 77.8% sinh viờn trong nghiờn cứu này trả lời rằng cú ý định kết hụn với người yờu, chỉ cú 22.2% trả lời rằng chưa tớnh đến chuyện hụn nhõn với người yờu hiện tại Kết quả thu được từ cõu
hỏi “Bạn cú ý định kết hụn với người yờu hiện tại khụng” cho thấy sự chờnh
lệch trong quan điểm về kết hụn của nam và nữ sinh viờn là khụng đỏng kể 41.4% sinh viờn nam trả lời đó từng cú ý định kết hụn với người yờu, trong khi
đú tỷ lệ này ở sinh viờn nữ là 58.6% thể hiện ở biểu đồ sau:
Biểu đồ 2.2 í định kết hụn với người yờu ở nam và nữ sinh viờn
0 20 40 60 80 100
Có ý định kết hôn
Không có ý
định kết hôn
Nữ
Nam