1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vai trò của gia đình trong giáo dục giá trị đạo đức truyền thống cho thế hệ trẻ Việt Nam hiện nay

129 1,1K 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 129
Dung lượng 1,23 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN --- PHẠM THỊ YẾN VAI TRÒ CỦA GIA ĐÌNH TRONG GIÁO DỤC GIÁ TRỊ ĐẠO ĐỨC TRUYỀN THỐNG CHO THẾ HỆ TRẺ VIỆT NAM HIỆN NAY

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

PHẠM THỊ YẾN

VAI TRÒ CỦA GIA ĐÌNH TRONG GIÁO DỤC

GIÁ TRỊ ĐẠO ĐỨC TRUYỀN THỐNG CHO THẾ HỆ TRẺ

VIỆT NAM HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: Triết học

Hà Nội - 2014

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

PHẠM THỊ YẾN

VAI TRÒ CỦA GIA ĐÌNH TRONG GIÁO DỤC

GIÁ TRỊ ĐẠO ĐỨC TRUYỀN THỐNG CHO THẾ HỆ TRẺ

VIỆT NAM HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: Triết học

Mã số: 60.22.03.01

Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Thị Phi Yến

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan: Luận văn Thạc sỹ với đề tài “Vai trò của gia đình trong giáo dục giá trị đạo đức truyền thống cho thế hệ trẻ Việt Nam hiện nay” được hoàn thành dưới sự hướng dẫn của TS Nguyễn Thị

Phi Yến là công trình nghiên cứu của riêng tôi Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm

Hà Nội, ngày 2 tháng 10 năm 2014

Học viên

Phạm Thị Yến

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo trong khoa Triết học, trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội đã giảng dạy, trang bị cho tôi những kiến thức trong những năm học qua, giúp tôi nắm vững những vấn đề lý luận và phương pháp luận để hoàn thành luận văn này

Đặc biệt tôi xin chân thành cảm ơn TS Nguyễn Thị Phi Yến đã nhiệt tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong thời gian hoàn thành đề tài

Tôi xin trân trọng cảm ơn!

Hà Nội, ngày 2 tháng 10 năm 2014

Học viên

Phạm Thị Yến

Trang 5

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 3

1 Lí do chọn đề tài 4

2 Tình hình nghiên cứu 6

3 Mục đích, nhiệm vụ của luận văn 9

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 10

5 Cơ sở lí luận và phương pháp nghiên cứu 10

6 Đóng góp mới của đề tài 10

7 Ý nghĩa của luận văn 10

8 Kết cấu của luận văn 11

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ VAI TRÒ CỦA GIA ĐÌNH TRONG GIÁO DỤC GIÁ TRỊ ĐẠO ĐỨC TRUYỀN THỐNG CHO THẾ HỆ TRẺ VIỆT NAM HIỆN NAY 12

1.1 Gia đình và vai trò của gia đình trong giáo dục đạo đức cho thế hệ trẻ 12

1.1.1 Khái niệm, kết cấu, cấu trúc, chức năng của gia đình 12

1.1.2 Biểu hiện vai trò giáo dục đạo đức truyền thống cho thế hệ trẻ của gia đình Việt Nam 25

1.2 Phát huy vai trò của gia đình trong giáo dục đạo đức cho thế hệ trẻ là một tất yếu 54

1.2.1 Gia đình là môi trường giáo dục đạo đức nền tảng, cơ bản của mỗi con người 54

1.2.2 Giáo dục đạo đức cho thế hệ trẻ là một trong những chức năng của gia đình 57

1.2.3 Vai trò giáo dục đạo đức của gia đình gia tăng do ảnh hưởng tiêu cực của kinh tế thị trường và xã hội mở 58

Kết luận chương 1 61

Trang 6

CHƯƠNG 2: PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA GIA ĐÌNH TRONG VIỆC GIÁO DỤC GIÁ TRỊ ĐẠO ĐỨC TRUYỀN THỐNG CHO THẾ HỆ

TRẺ VIỆT NAM HIỆN NAY-THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP 63

2.1 Thực trạng phát huy vai trò của gia đình trong việc giáo dục giá trị đạo đức truyền thống cho thế hệ trẻ hiện nay 63

2.1.1 Thực trạng gia đình Việt Nam và thanh thiếu niên - đối tượng giáo dục đạo đức truyền thống trong gia đình Việt Nam hiện nay 63

2.1.2 Thực trạng nội dung và phương pháp giáo dục đạo đức truyền thống cho thế hệ trẻ trong gia đình Việt Nam hiện nay 70

2.1.3 Những vấn đề đặt ra và nguyên nhân của nó 93

2.2 Giải pháp nâng cao vai trò giáo dục giá trị đạo đức truyền thống của gia đình đối với thế hệ trẻ Việt Nam hiện nay 103

Kết luận chương 2 112

KẾT LUẬN 113

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 115

PHỤ LỤC 123

Trang 7

DANH MỤC BẢNG

Biểu 2.1: Nội dung gia đình giáo dục giá trị truyền thống cho thế hệ trẻ: 72

Biểu 2.2: Quan niệm về chữ Hiếu 73

Biểu 2.3: Mức độ ảnh hưởng đến con cái của các vấn đề xã hội 76

Biểu 2.4: Phương pháp giáo dục: 77

Biểu 2.5: Những biện pháp xử lí khi con cái mắc lỗi 79

Biểu 2.6: Tỷ lệ thanh thiếu niên từng bị người trong gia đình gây thương tích 81

Biểu 2.7: Thái độ của trẻ khi gặp bạo lực gia đình 84

Biểu 2.8: Những khó khăn gia đình gặp phải trong quá trình giáo dục đạo đức truyền thống cho con cái 84

Biểu 2.9: Những khó khăn cha mẹ gặp phải khi giáo dục con cái 85

Trang 8

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Trong quá trình đổi mới đất nước, mỗi người dân Việt Nam nói chung và thế hệ trẻ nói riêng đều cần trau dồi những phẩm chất đạo đức đáp ứng công cuộc xây dựng Chủ Nghĩa Xã Hội Phẩm chất đạo đức ấy được hình thành và củng cố ngay từ trong gia đình Song trong điều kiện biến động của xã hội hiện nay, vai trò giáo dục đạo đức, nhất là đạo đức truyền thống gặp nhiều thách thức Những phẩm chất đạo đức như: kính, hiếu, lễ độ, thật thà, trung thực cho đến yêu nước, yêu Chủ nghĩa xã hội, cần cù, sáng tạo, có kỉ luật cao trong lao động, sống có lương tâm, có trách nhiệm với người khác, với xã hội, sống có nghị lực rất cần xây dựng và vun đắp ngay trong gia đình nhưng không hề dễ thực hiện khi có những tác động phức tạp từ xã hội

Đạo đức là phần quan trọng trong việc xây dựng con người mới XHCN Thông qua giáo dục đạo đức trong gia đình, ngay từ khi còn nhỏ, con người đã học được cách điều chỉnh mình, hoàn chỉnh dần nhân cách qua các quan hệ với người khác Có thể nói rằng, những mầm mống ban đầu của nhân cách, đời sống tình cảm, những quan niệm về cuộc sống đều được hình thành ngay trong gia đình Thấy được vai trò quan trọng của giáo dục đạo đức trong gia đình đối với thế hệ trẻ, gần đây nhiều nhà nghiên cứu, các tổ chức quốc tế quan tâm, đặc biệt là UNFPA (quỹ dân số

Liên Hợp Quốc, (tên tiêng Anh: United Nations Fund for Population Activities)), UNESCO (Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên

hiệp quốc ( tên tiếng Anh: United Nations Educational Scientific and Cultural Organization)) Ở Việt Nam, giáo dục đạo đức trong gia đình đã trở thành nội dung vô cùng quan trọng được đưa vào giảng dạy ở các nhà trường phổ thông, các trường cao đẳng và đại học Cũng ngay trong chính

Trang 9

gia đình, những kinh nghiệm ứng xử, những giá trị đạo đức truyền thống của ông bà, cha mẹ trở thành căn cứ, thành tấm gương định hướng trong giáo dục đạo đức cho thế hệ trẻ Hướng dẫn những hành vi đạo đức nên làm, được làm hay những điều cấm kỵ không được phép trong ứng xử qua cách làm của người lớn, qua những câu chuyện cổ tích mẹ kể con nghe, qua những bài học kinh nghiệm của thế hệ đi trước ngấm dần một cách tự nhiên vào mỗi đứa trẻ và trở thành hành trang của chúng khi trường thành, giúp chúng hòa nhập vào quan hệ xã hội dễ dàng hơn Trong những hành trang đạo đức mà trẻ được trang bị, có cả những giá trị đạo đức truyền thống mà thành viên nào trong xã hội cũng có thể có, có thể hiểu, vì thế mà dễ dàng chấp nhận Rõ ràng yếu tố đạo đức truyền thống của gia đình có vai trò quan trọng trong việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục thế hệ trẻ - những chủ nhân tương lai của đất nước Tạo ra những người chủ đất nước có đạo đức XHCN để xây dựng CNXH, trong đó có những giá trị đạo đức truyền thống cần được bảo tồn, phát huy và những giá trị đạo đức mới mang tính thời đại trước hết và quan trọng nhất vẫn là gia đình

Trong tác phẩm “Emile hay là về giáo dục” của Rutxo có nói về vai trò của gia đình: “Đứa trẻ được một người cha có óc phán đoán đúng đắn song kiến thức hạn chế giáo dục sẽ tốt hơn là được ông thầy giỏi giang nhất thế giới giáo dục, bởi nhiệt tình hăng hái bù cho tài năng tốt hơn là tài năng

bù cho nhiệt tình hăng hái” [94, tr 48] “Không có bức tranh nào dễ thương hơn bức tranh gia đình nhưng chỉ một nét hỏng khiến mọi nét khác đều xấu

xí, biến dạng” [94, tr 49] “Một người cha khi sinh thành và nuôi dưỡng con cái, chỉ mới thực hiện một phần nhiệm vụ mà thôi Người cha ấy mắc

nợ giống loài những con người, xã hội những con người có tính hợp quần, mắc nợ quốc gia những công dân Bất kì người nào có thể trả ba món nợ này mà không thực hiện đều có tội và có lẽ mắc tội lớn hơn nếu chỉ trả nửa

Trang 10

vời Ai không thể làm tròn nghĩa vụ làm cha thì không có quyền làm cha Chẳng có cảnh nghèo nào, công việc nào, sự tôn trọng nào của một người được miễn cho người cha việc nuôi dưỡng con và tự mình dạy dỗ chúng” [94, tr 49]

Đối với thế hệ trẻ, Đảng ta khẳng định "Tăng cường giáo dục chính trị tư tưởng, đạo đức lối sống cho học sinh, sinh viên” [25, tr 119] Hiện nay, những tác động đa chiều của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, đòi hỏi chúng ta một mặt, phải quan tâm tới phát triển kinh tế xã hội, tạo ra cuộc sống đầy đủ cho nhân dân, mặt khác duy trì và phát huy giá trị đạo đức truyền thống, đặc biệt cho thế hệ trẻ, khắc phục sự suy đồi phẩm chất đạo đức của một bộ phận dân cư đi ngược thuần phong, mỹ tục của dân tộc Một trong những biện pháp khắc phục tình trạng suy thái xuống cấp về đạo đức, lối sống, sự gia tăng tệ nạn xã hội và tội phạm đáng lo ngại, nhất là lớp trẻ là chúng ta phải đẩy mạnh hoạt động giáo dục đạo đức truyền thống Việt Nam hiện nay Có như thế chúng ta mới “hòa nhập mà không hòa tan”, mới kiên định con đường đi lên CNXH với bản chất là

"dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh" [25, tr 25]

Với quan điểm triết học, muốn làm rõ hiện trạng giáo dục đạo đức truyền thống cho thế hệ trẻ trong gia đình và tìm ra giải pháp khả thi để phát huy tốt hơn nữa những tác động tích cực của nó đối với việc hình

thành con người mới XHCN, vì thế tôi đã lựa chọn vấn đề “Vai trò của gia đình trong giáo dục giá trị đạo đức truyền thống cho thế hệ trẻ Việt Nam hiện nay” làm đề tài luận văn cao học của mình

2 Tình hình nghiên cứu

Giáo dục giá trị đạo đức truyền thống trong gia đình là một vấn đề bức thiết quan trọng trong xã hội Việt Nam hiện nay Đặc biệt là trong nền kinh tế thị trường với nhiều biến động xã hội, đạo đức gia đình ngày càng

Trang 11

xa rời đạo đức truyền thống tốt đẹp của dân tộc Đã có rất nhiều nhà nghiên

cứu bàn về giáo dục đạo đức trong gia đình: Macarenco (1971) với Nói

chuyện về giáo dục gia đình, NXB Kim Đồng Nội dung tác phẩm bàn về

giáo dục gia đình, tập trung vào vấn đề giáo dục con cái trong gia đình Xô Viết hiện thời Ông cho rằng, đối với con cái cần phải giáo dục ngay từ khi chúng còn nhỏ Giáo dục đó không phải là quá khó như mọi người vẫn nghĩ, tất cả các bậc cha mẹ đều có thể làm được, hơn nữa đó còn là một công việc lí thú, mang lại niềm vui và hạnh phúc

Nguyễn Đình Xuân (1997): Giáo dục đời sống gia đình, NXB đại

học Quốc gia Hà Nội Tác phẩm là một tài liệu hữu ích trong quá trình giảng dạy và học tập của các thầy cô giáo và học sinh trong nhà trường Đồng thời nó còn là tài liệu cần thiết cho các bậc cha mẹ, các bạn nam nữ thanh niên đang chuẩn bị bước vào cuộc sống gia đình Nội dung chủ yếu của tác phẩm là đi sâu nghiên cứu mọi khía cạnh trong đời sống gia đình: giáo dục gia đình trong mối quan hệ cha mẹ-con cái, vợ-chồng Vai trò của cha mẹ trong giáo dục con cái, phương pháp và cách thức dạy con nên người, hôn nhân gia đình, giáo dục giới tính

Đức Minh (chủ biên): Khoa học giáo dục con em trong gia đình của

Ủy ban Thiếu niên nhi đồng Trung ương, xuất bản năm 1979 Cuốn sách này đã giới thiệu một số quan điểm về giáo dục xã hội chủ nghĩa, nhấn mạnh vai trò, đặc điểm của giáo dục gia đình, cung cấp những cơ sở lí luận, những nội dung và yêu cầu của giáo dục gia đình đối với thế hệ trẻ

Ở nước ta, nhiều nhà khoa học đã đi sâu nghiên cứu giá trị đạo đức truyền thống trong xây dựng đời sống văn hóa (trong đó có đời sống đạo

đức) và con người Việt Nam thời đại mới như: “Giá trị tinh thần truyền

thống của dân tộc Việt Nam” của G.S.Trần Văn Giàu (Nxb Khoa học xã

hội, 1980), “Quán triệt mối quan hệ biện chứng giữa kinh tế và đạo đức

Trang 12

trong đổi mới tư duy” của GS.TS Nguyễn Ngọc Long (Tạp chí Nghiên cứu

lí luận, 2/1987), “Đến hiện đại từ truyền thống” của GS Trần Đình Hựu (Nxb Văn hóa, Hà Nội 1995), “Quan hệ giữa đạo đức và kinh tế thị trường

trong việc định hướng các giá trị đạo đức hiện nay” của TS Nguyễn Thế

Kiệt (Tạp chí Triết học, 6/1996), “Sự tác động hai mặt của cơ chế thị

trường đối với đạo đức người cán bộ quản lý” của PGS.TS Nguyễn Tĩnh

Gia (Tạp chí Nghiên cứu lý luận 2/1997), “Giá trị truyền thống, nhân loại

và sức sống bên trong của sự phát triển đất nước, dân tộc” của PGS

Nguyễn Văn Huyên (Tạp chí Triết học 4/1998), “Sự biến đổi của thang giá

trị đạo đức trong nền kinh tế thị trường với việc xây dựng đạo đức mới cho đội ngũ cán bộ quản lý ở nước ta hiện nay” do PGS.TS Nguyễn Chí Mỳ

chủ biên (Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội 1999), “Từ chủ nghĩa

yêu nước truyền thống đến chủ nghĩa yêu nước Hồ Chí Minh” của PGS.TS

Nguyễn Hùng Hậu (tạp chí Triết học, 9/2005), “Từ đạo đứctruyền thống

đến đọa đức cách mạng Hồ Chí Minh” của PGS.TS Nguyễn Thế Kiệt (Tạp

chí Nghiên cứu lí luận, 7/2006)

Ngoài ra còn một số những nghiên cứu của các nhà xã hội học, triết học, tâm lí học về vấn đề giáo dục đạo đức truyền thống trong gia đình:

Vấn đề giáo dục đạo đức và nếp sống văn hóa gia đình truyền thống trong nền kinh tế thị trường nước ta hiện nay của Lê Ngọc Anh, (tạp chí triết học

số 1, năm 2002): Hoàn cảnh xã hội Việt Nam trong điều kiện bị tác động bởi nên kinh tế thị trường và xu hướng trong mối quan hệ giữa những thành

viên trong nền kinh tế thị trường đó Công trình Gia đình và vấn đề giáo

dục gia đình của Trung tâm nghiên cứu về gia đình và phụ nữ, xuất bản

năm 1994: Cuốn sách nghiên cứu về gia đình Việt Nam và việc thực hiện các chức năng của gia đình, một số vấn đề chủ yếu trong nghiên cứu gia đình Việt Nam Những vấn đề lí luận, phương pháp luận; quá trình biến đổi

Trang 13

của gia đình Việt Nam từ truyền thống sang hiện đại Bài viết Văn hóa gia

đình và vấn đề giáo dục con cái xưa và nay của Giáo sư Lê Thi (đăng trên

tạp chí triết học, số 7, năm 2003), bài viết đã nêu nên thực trạng việc giáo dục con cái ở các gia đình Việt Nam hiện nay so với truyền thống đã có gì đổi mới, có những khó khăn, thuận lợi gì?

Các công trình trên đây đều đề cập ở những mức độ khác nhau đến vai trò của gia đình trong việc giáo dục đạo đức cho thế hệ trẻ Cho đến nay hầu hết các tác giả đều thừa nhận, dù việc gìn giữ và phát huy đạo đức truyền thống là rất quan trọng, xong việc giáo dục đạo đức truyền thống ấy

đã làm đến đâu và đạt được những gì thì việc làm đó mới chỉ là kết quả bước đầu, mới chỉ là phát hiện những vấn đề, còn trên những khía cạnh cụ thể cũng cần có sự đầu tư hơn nữa để nghiên cứu mộ cách tổng thể, khoa học

3 Mục đích, nhiệm vụ của luận văn

3.1 Mục đích của luận văn

Trên cơ sở khảo sát thực trạng, những yếu tố tác động đến giáo dục đạo đức truyền thống với thế hệ trẻ nhằm chỉ ra vai trò của gia đình trong việc giáo dục đạo đức truyền thống cho thế hệ trẻ Việt Nam hiện nay

3.2 Nhiệm vụ của luận văn

Để đạt được mục đích trên luận văn cần thực hiện những nhiệm vụ sau:

Thứ nhất, làm rõ gia đình và vai trò của gia điình trong việc giáo dục

thế hệ trẻ

Thứ hai, làm rõ giá trị đạo đức truyền thống của Việt Nam

Thứ ba, phân tích và làm rõ việc phát huy vai trò của gia đình trong

việc giáo dục thế hệ trẻ là một tất yếu

Thứ tư, phân tích thực trạng việc phát huy vai trò của gia đình trong

giáo dục đạo đức truyền thống cho thế hệ trẻ Việt Nam hiện nay

Trang 14

Thứ năm, đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao vai trò của

gia đình trong việc giáo dục đạo đức truyền thống cho thế hệ trẻ Việt Nam hiện nay

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu vai trò của gia đình Việt Nam hiện nay trong giáo dục đạo đức truyền thống cho thế hệ trẻ Đề tài tập trung nghiên cứu tác động của giáo dục gia đình đối với lứa tuổi vị thanh niên và thanh niên từ

14 - 21 tuổi

5 Cơ sở lí luận và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lí luận chủ yếu của luận văn là dựa trên những quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối của Đảng cộng sản Việt Nam, các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan tới nội dung được đề cập trong luận văn

Luận văn vận dụng tổng hợp các phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử như sự thống nhất giữa lôgíc và lịch sử, giữa lí luận và thực tiễn…Luận văn cũng sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như phân tích, tổng hợp, phương pháp bảng, phiếu điều tra…

6 Đóng góp mới của đề tài

Nghiên cứu về giáo dục giá trị đạo đức truyền thống cho thế hệ trẻ trong gia đình Việt Nam hiện nay không chỉ dừng lại ở các biểu hiện bề ngoài của các hiện tượng đạo đức của con cái trong mỗi gia đình mà phải đi sâu vào tìm hiểu nguyên nhân của các hiện tượng đó, từ đó đưa ra những phương hướng, giải pháp phù hợp góp phần vào việc giáo dục đạo đức

truyền thống ở Việt Nam hiện nay một cách có hiệu quả

7 Ý nghĩa của luận văn

Kết quả của nghiên cứu luận văn góp phần làm sáng tỏ thêm những luận điểm và các vấn đề lí luận và thực tiễn về gia đình và giáo dục gia

Trang 15

đình trong việc nâng cao hiệu quả giáo dục giá trị đạo đức truyền thống trong gia đình, đồng thời cũng là tài liệu nghiên cứu cho học sinh, sinh viên quan tâm đến những vấn đề có liên quan trong luận văn

8 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 2 chương và 4 tiết

Trang 16

1.1.1 Khái niệm, kết cấu, cấu trúc, chức năng của gia đình

1.1.1.1 Khái niệm, đặc trưng

Có nhiều định nghĩa khác nhau về gia đình, tuỳ theo góc độ nhìn nhận của mỗi môn khoa học xã hội và nhân văn Trong tác phẩm "Hệ tư tưởng Đức" (1845), khi luận chứng về những tiền đề, điều kiện cho sự tồn tại của con người, C.Mác và Ph.Ăngghen đã coi gia đình là một trong ba mối quan hệ của con người đã được hình thành trong lịch sử nhân loại:

Quan hệ thứ nhất là giữa con người với tự nhiên; Quan hệ thứ hai là giữa

con người với con người trong quá trình sản xuất; và Quan hệ thứ ba là gia

đình C Mác và Ph.Ăngghen đã viết: “Hằng ngày tái tạo ra đời sống của bản thân mình, con người bắt đầu tạo ra những người khác sinh sôi nảy nở -

đó là quan hệ giữa chồng và vợ, cha mẹ và con cái, đó là gia đình”[71, tr 41] Với quan điểm này, khái niệm gia đình được nhìn nhận với một số nội dung sau: Thứ nhất, gia đình ra đời và tồn tại cùng với sự ra đời và tồn tại của xã hội loài người; con người cùng với quá trình tái tạo ra chính bản thân mình thì đồng thời cũng tạo ra gia đình Thứ hai, chức năng chính của gia đình là tái tạo ra, sinh sôi nảy nở con người Thứ ba, gia đình được tạo bởi hai mối quan hệ chủ yếu: quan hệ hôn nhân (chồng - vợ), quan hệ huyết thống (cha mẹ - con cái)

Theo tác giả Đặng Cảnh Khanh và Lê Thị Quý thì “Gia đình là một thiết chế xã hội đặc thù liên kết con người lại với nhau nhằm thực hiện việc duy trì nòi giống, chăm sóc và giáo dục con cái Các mối quan hệ gia đình

Trang 17

còn được gọi là quan hệ họ hàng Đó là những sự liên kết ít nhất cũng là của hai người dựa trên cơ sở huyết thống, hôn nhân và việc nhận nuôi con cái Những người này có thể sống cùng hoặc khác mái nhà với nhau” [57, tr 54] PTS Ngô Công Hoàn cho rằng: "Gia đình là một nhóm nhỏ xã hội Các thành viên trong nhóm có quan hệ gắn bó về hôn nhân hoặc huyết thống, tâm sinh lí, cùng chung các giá trị vật chất, tinh thần ổn định trong các thời điểm lịch sử nhất định" [47, tr 8]

Theo một khía cạnh khác, cố giáo sư Trần Đình Hượu trong bài viết

“Gia đình truyền thống Việt Nam và những sự chuyển đồi để thích ứng với thời đại mới”, đã cho rằng: “Gia đình là một thiết chế xã hội mang màu sắc

dân tộc và đánh dấu tiến trình phát triển về văn hóa Đó là một hiện tượng đặc trưng của văn hóa dân tộc… Gia đình là thiết chế cơ sở, nằm bên cạnh các thiết chế xã hội khác như họ, làng xóm, phường hội, dân tộc, nhà nước…” [54, tr 79] Từ góc độ văn hóa, nhất là văn hóa truyền thống, ta có thể đồng tình với ý tưởng trên coi gia đình là một thiết chế xã hội đồng thời cũng là một hiện tượng đặc trưng của văn hóa dân tộc, bộc lộ những giá trị văn hóa, đặc biệt là những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc

Các định nghĩa trên đây đều nhấn mạnh đến sự gắn kết chặt chẽ giữa các thành viên - đặc trưng quan trọng nhất của gia đình Như vậy xét một cách toàn diện thì có thể hiểu: Gia đình là một thể chế xã hội cơ bản xuất phát của con người, hay nói cách khác thì gia đình chính là trường học đầu tiên và suốt đời của con người Gia đình là nhóm nhỏ được liên kết hôn nhân theo quy luật xã hội trước tiên, sau đó mới là quy luật tính dục tự nhiên, gia đình chỉ có ở con người và xã hội loài người

Để nhận biết một gia đình có rất nhiều đặc trưng cơ bản, một trong những đặc trưng quan trọng của gia đình chính là: Trong gia đình giữa các thành viên gắn bó với nhau trên cơ sở văn hoá - bố mẹ có nhiệm vụ giáo

Trang 18

dục con cái thông qua nếp sinh hoạt, phong tục, tập quán để tạo ra những con người hữu ích cho xã hội, phù hợp với thời đại Mỗi gia đình có một điều kiện, hoàn cảnh khác nhau vì vậy nội dung và phương pháp giáo dục con cái của mỗi gia đình cũng mỗi khác Có rất nhiều loại hình gia đình trong xã hội, người ta có thể dựa vào đặc điểm, tính chất của mỗi gia đình

mà phân chia cho phù hợp: căn cứ vào thế hệ cùng chung sống với nhau, căn cứ vào số con trong gia đình, căn cứ vào cơ cấu, tính chất tiến bộ, thành phần giai cấp, nghề nghiệp hay căn cứ vào mức sống và sinh hoạt

1.1.1.2 Kết cấu, cấu trúc của gia đình

Kết cấu gia đình: Các mối quan hệ bên trong của gia đình, bao gồm quan

hệ giữa vợ - chồng, quan hệ giữa cha mẹ - con cái, quan hệ giữa anh - chị - em

và quan hệ giữa ông bà - con cháu

Quan hệ giữa vợ - chồng

Văn hóa gia đình Việt Nam xây dựng trên nền tảng đạo lí thủy chung, tình nghĩa Trong xã hội cổ truyền Việt Nam, dù có ảnh hưởng Nho giáo “tòng phu”, nhưng văn hóa gia đình Việt Nam vẫn là hòa thuận, bình đẳng theo quan điểm “Thuận vợ thuận chồng tát biển Đông cũng cạn”

Quan hệ giữa cha mẹ - con cái

Văn hóa gia đình Việt Nam lấy “đạo hiếu” làm trọng Vì thế, trong gia đình truyền thống Việt Nam, con cái đối với cha mẹ phải kính trọng, vâng lời,

tu dưỡng đạo đức, làm nên sự nghiệp để báo hiếu, đền đáp công ơn dưỡng dục, sinh thành Việc phụng dưỡng cha mẹ là đạo lý mà con cái phải thực hiện thường xuyên trong suốt cuộc đời Về phía cha mẹ có quyền quyết định mọi việc đối với con cái, đồng thời phải có trách nhiệm, nghĩa vụ nuôi dưỡng, bao bọc, dạy bảo các con nên người với niềm mong ước và sự hãnh diện khi “Con hơn cha là nhà có phúc” Người làm cha mẹ phải biết hy sinh, sống bao dung,

tu dưỡng bản thân, làm việc thiện và xây dựng nề nếp gia đình để truyền lại cho

Trang 19

con cháu Mối quan hệ cha mẹ - con cái luôn thấm nhuần trong tâm thức mỗi người Việt Nam qua tục ngữ - ca dao người xưa để lại:

Công cha như núi Thái Sơn, Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra

Một lòng thờ mẹ kính cha Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con

Cấu trúc gia đình: được xác định chính là những thành tố tạo nên

gia đình và quan hệ qua lại giữa các thành tố đó Nói một cách khác, cấu trúc gia đình là số lượng, thành phần và mối quan hệ giữa các thành viên và các thế hệ trong gia đình Từ đây, ta có thể thấy gia đình được cấu trúc theo chiều dọc và chiều ngang: Chiều ngang là quan hệ hôn nhân và chiều dọc là quan hệ huyết thống

Nếu ta căn cứ vào thế hệ cùng chung sống với nhau, người ta có thể phân chia gia đình thành hai loại:

+ Gia đình hạt nhân: Gia đình chỉ có hai thế hệ cùng chung sống: cha mẹ và con cái Trong thời hiện đại, loại gia đình này chiếm ưu thế

+ Gia đình mở rộng: là gia đình có từ ba thế hệ trở lên: ông bà, cha mẹ, con cái, cũng có thể là cha- mẹ- con cái có thêm chú- cô

Căn cứ vào số con, người ta phân ra làm hai loại: Gia đình nhỏ, gia đình lớn

Trang 20

Căn cứ vào cơ cấu, người ta chia gia đình thành hai loại: Gia đình đầy đủ, gia đình không đầy đủ

Căn cứ vào tính chất tiến bộ, người ta chia gia đình thành hai loại: Gia đình tiên tiến, gia đình lạc hậu

Căn cứ vào thành phần giai cấp hoặc nghề nghiệp của đôi vợ chồng

có thể chia ra thành: Gia đình công nhân, gia đình nông dân, gia đình trí thức, gia đình quân nhân, gia đình thương nhân, gia đình quan chức Công việc của cha mẹ quyết định đến thu nhập, kinh tế của gia đình, đồng thời cũng có một phần tác động đến việc giáo dục đạo đức cho con cái Điều quan trọng hơn hết là nhận thức của cha mẹ trong việc giáo dục đạo đức cho con và nội dung phương pháp giáo dục con cho phù hợp

Căn cứ vào mức sống và sinh hoạt thì ta có 3 loại: Gia đình thượng lưu giàu có, gia đình trung lưu sống sung túc đầy đủ và ổn định, gia đình hạ lưu nghèo không đủ ăn đủ tiêu, cuộc sống vất vả bấp bênh Dựa trên thực

tế của gia đình Việt Nam hiện nay, ta có thể thấy được tác động to lớn của vấn đề thu nhập, kinh tế gia đình đến việc giáo dục con cái Lẽ đương nhiên, một gia đình sung túc đầy đủ sẽ có điều kiện chăm lo cho con cái một cách toàn diện, có những phương pháp giáo dục con phong phú Gia đình khó khăn về kinh tế thì cha mẹ luôn luôn phải lo lắng về cơm áo gạo tiền, ít có thời gian quan tâm đến con cái hơn Tuy nhiên ta phải thấy rằng trong xã hội Việt Nam hiện nay không ít trường hợp những gia đình giàu

có, con cái có đầy đủ về vật chất nhưng lại luôn thiếu thốn tình cảm của cha

mẹ do cha mẹ chỉ lo làm ăn không chú ý đến giáo dục con cái, dẫn đến nhiều hệ quả không tốt như: con cái đua đòi hư hỏng, trong điều kiện kinh

tế cho phép con cái lại càng dễ sa ngã hơn Vì vậy, trong điều kiện xã hội hiện nay, vấn đề giáo dục con cái ngày càng phức tạp, xã hội càng phát triển, vấn đề giáo dục đạo đức truyền thống cho con cái trong gia đình càng gặp phải khó khăn hơn

Trang 21

1.1.1.3 Chức năng của gia đình

Từ lâu người ta đã coi gia đình là tế bào của xã hội Tế bào gia đình khỏe mạnh, xã hội sẽ lành mạnh, mọi người đều có cơ hội phát triển và hưởng hạnh phúc Tế bào gia đình lỏng lẻo, không đảm đương tốt các vai trò và chức năng của mình, xã hội có nguy cơ xáo động ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống vật chất và tinh thần của mọi thành viên trong xã hội Vì vậy việc củng cố nền tảng gia đình là phải thực hiện tốt các chức năng cơ bản

và đó luôn là mối quan tâm của các quốc gia trên thế giới Nhiều người cho rằng, các chức năng gia đình đang chuyển từ môi trường nhỏ sang môi trường lớn hơn Nhiều nhà nghiên cứu về gia đình cũng đã phải thừa nhận rằng: khi xã hội có những thay đổi thì gia đình luôn có sự thích nghi, có thể

là chậm hơn, thể hiện sự thủ cựu và tân tiến của nó

Chúng ta cần hiểu rõ trong xã hội, gia đình có các chức năng cơ bản sau:

* Chức năng sinh sản, tái sản xuất con người

Gia đình là nơi tái sản sinh con người, cung cấp thành viên, nguồn nhân lực cho gia đình và xã hội Theo dòng văn hóa, ở mỗi thời đại, việc sinh sản của gia đình có những hệ quả nhận thức khác nhau về giới tính, số lượng con người Mặt khác, sự sinh sản trong gia đình giúp cho việc xác định nguồn cội của con người, từ đó tránh nạn quần hôn, góp phần tạo nên tôn ty gia đình, trật tự xã hội, đảm bảo các điều kiện cơ bản cho nòi giống phát triển

Tái sản xuất ra con người là một chức năng đặc thù của gia đình Chức năng này vừa là bản năng nhằm mục đích duy trì nòi giống, cung cấp những công dân mới, bảo đảm sự phát triển liên tục và trường tồn của loài người, mặt khác là biểu hiện cao nhất về tình cảm rất tự nhiên của cá nhân,

về sinh đẻ con cái Việc sinh đẻ diễn ra trong từng gia đình nhưng lại quyết định mật độ dân cư của mỗi quốc gia và quốc tế - một yếu tố vật chất cấu

Trang 22

thành của tồn tại xã hội Vì mỗi gia đình là một tế bào cấu thành nên xã hội, do đó tăng hay giảm thành viên trong gia đình đương nhiên dẫn đến sự tăng hay giảm dân số của quốc gia và thế giới Với mỗi giai đoạn phát triển của quốc gia hay dân tộc, vấn đề dân số lại có nhu cầu tăng hay giảm khác nhau Do vậy, việc sinh đẻ sẽ phụ thuộc vào đó mà được khuyến khích hay hạn chế về số lượng

Ngày nay, khoa học sinh sản phát triển cao nhưng sinh sản tự nhiên trong gia đình vẫn là ưu thế bởi đó là điều kiện cơ bản để bảo vệ nòi giống người, là cơ sở, nền tảng cho mỗi người tham gia vào đời sống xã hội vì sự phát triển

* Chức năng nuôi dưỡng, giáo dục

Gia đình là nơi dưỡng dục về thể chất, tinh thần, hình thành nhân cách cho mỗi con người trong xã hội Từ trường học đầu tiên này, mỗi cá nhân được những người thầy thân yêu là cha mẹ, ông bà giáo dục kiến thức, kỹ năng sống để có thể thích ứng, hòa nhập vào đời sống cộng đồng Nêu gương là cách giáo dục tốt nhất trong gia đình ( Cha mẹ thương yêu chân thành, tôn trọng, giúp đỡ nhau; cha mẹ, ông bà vừa yêu quý vừa nghiêm khắc và bao dung với con cháu ), giữa gia đình với họ hàng, với láng giềng, với cộng đồng ( trọng nhân nghĩa, làm điều thiện, sống chan hòa, ghét thói gian tham, điều giả dối ), qua đó giúp con cháu tiếp thu một cách tự nhiên, nhẹ nhàng những bài học cuộc đời nhưng lại tác động mạnh

mẽ đến quá trình hình thành và phát triển nhân cách

Đặc điểm chức năng nuôi dưỡng, giáo dục của gia đình Việt Nam truyền thống: Nhắc đến nhiều nhất trong nội dung giáo dục của gia đình là đạo đức và cách làm người: Người xưa có câu: “tiên học lễ, hậu học văn”, giáo dục đạo đức, giáo dục cách làm người trước rồi mới đến giáo dục tri thức Việc chú trọng đến giáo dục đạo đức trong gia đình cũng xuất phát

Trang 23

một phần lớn từ ảnh hưởng của Nho giáo Nho giáo là một học thuyết căn

cứ vào gia đình để hình dung thế giới, theo mô hình gia đình êm ấm để xây dựng xã hội lí tưởng Con người nhìn chung là con người của gia đình Từ thiên tử cho tới dân thường, ai ai cũng lấy tu thân làm gốc, việc tu dưỡng đạo đức của mọi người căn bản là rèn luyện phẩm chất của con người trong gia đình đó Chính vì vậy, trong gia đình Việt truyền thống, việc giáo dục đạo đức luôn được đề cập đến nhiều nhất

Sự đánh giá của xã hội với gia đình luôn lấy tiêu chí nhìn vào con cái: Ông cha ta quan niệm rằng, với cha mẹ, không có tài sản nào lớn hơn con cái, con cái cũng chính là của để dành lớn nhất của cha mẹ Cha mẹ đầu tư cho con cái là đầu tư cho tương lai, con cái là niềm hi vọng lớn lao nhất của cha mẹ, chính vì vậy, mỗi bậc cha mẹ đều mong muốn dạy dỗ con mình giỏi giang, nên người Sản phẩm của người cha người mẹ chính là đứa con Ít người nhận ra điều đó để thấy được tầm quan trọng của nó Có thể coi, con cái là sản phẩm của cha mẹ Câu này đúng theo cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng Cha mẹ cưu mang chín tháng mười ngày vất vả sinh ra con Khi con cái lớn, ra ngoài xã hội, con cái tốt thì xã hội được nhờ, con cái hư thì không chỉ cha mẹ mà xã hội cũng phải chịu hệ quả Phải nhìn nhận như vậy thì mới thấy sự nghiệp sinh con, dưỡng dục con là vô cùng to lớn và quan trọng Cũng thông qua con cái, mọi người có thể nhìn nhận được khả năng dạy dỗ con cái của cha mẹ, đạo đức của bậc làm cha làm mẹ Vì vậy, bất cứ ai đánh giá một gia đình có nề nếp hay không, có vững trãi hay không đều lấy tiêu chí con cái để đánh giá

Mục đích giáo dục trong gia đình truyền thống khác nhau theo loại hình gia đình, những nhà nghèo khó vẫn cố gắng cho con học đến nơi đến chốn: Người Việt xưa nay có truyền thống hiếu học, biểu hiện của truyền thống hiếu học là thái độ luôn coi trọng sự học, coi trọng người có học Ở

Trang 24

nước ta, tư tưởng coi đọc sách là thanh cao là quan niệm rất phổ biến đối với các nhà Nho Dĩ nhiên nếu thái quá sẽ trở nên tiêu cực Việc đề cao giá trị của trí tuệ, thái độ trân trọng việc học hành cũng là điều được dân gian hết sức quan tâm:

“Kho vàng không bằng một nang chữ” (nang là túi đựng)

“Người không học như ngọc không mài”

Nhà văn hóa Nguyễn Trãi đã chỉ ra rằng, sự học là nguồn cội của tất thẩy những thành công dù đó là nghề gì, dù người ấy là ai: trong “bảo kính cảnh giới”, bài 46:

“Nên thợ nên thầy vì có học

Có ăn có mặc bởi hay làm” [103, tr141]

Người xưa có câu: Phi trí bất hưng (Không có trí tuệ thì không hưng

thịnh - không phát triển bền vững) Chính vì vậy mà dù cho là trong gia đình Việt thời xưa hay gia đình Việt ngày nay, các bậc làm cha làm mẹ cũng mong muốn cho con mình ăn học được đến nơi đến chốn, mong con học hành giỏi giang

Người cha thường giáo dục bằng sự nghiêm khắc, người mẹ thường giáo dục bằng sự nhân từ, "thương cho roi cho vọt, ghét cho ngọt cho bùi"

"con hư tại mẹ, cháu hư tại bà" Đây chính là do ảnh hưởng của nho giáo đến gia đình truyền thống Việt Nam Người xưa dùng Tình, Nghĩa, Lễ để xây dựng gia đình Một gia đình nề nếp đòi hỏi một người gia trưởng quan tâm đến gia đình, có trách nhiệm, gương mẫu, công minh và uy tín Cả nhà phải tỏ lòng kính trọng uy quyền của người cha trong gia đình, nhất là người mẹ không bao giờ cãi chồng trước mặt con cái Trong việc giáo dục con cái, người cha phải nghiêm, nói ít nhưng đúng, công bằng và dứt khoát, thương con nhưng cương quyết không để cho con nhờn, tự ý muốn làm gì thì làm Người mẹ cũng có vai trò rất lớn trong giáo dục con cái, nhưng lại

Trang 25

giáo dục cách khác: giáo dục bằng lòng thương, bằng sự hiền từ Người cha nghiêm làm con sợ, người mẹ hiền từ làm con yêu mến, không dám và không nỡ làm bậy

Giáo dục là một quá trình, trong đó cá thể tiếp thu, học hỏi văn hóa của xã hội, nhờ đó có thể được sinh ra một lần nữa Đó là quá trình chiếm lĩnh,tiếp nhận các kinh nghiệm xã hội, học những cái gì cần phải làm và những cái gì không nên làm, như học về ngôn ngữ, học về các chuẩn mực đạo đức, văn hóa, nghề nghiệp để thích ứng với xã hội Gia đình không phải là đơn vị duy nhất thực hiện chức năng giáo dục Ngoài gia đình, còn

có nhà trường và các tổ chức xã hội đều tham gia giáo dục con người Nhưng có thể khẳng định giáo dục của gia đình đóng vai trò quan trọng nhất bởi nó có những đặc trưng riêng mà nhà trường, xã hội hay bất kỳ một

tổ chức nào không có được

Giáo dục của gia đình xuất phát từ tình cảm và thông qua tình cảm, có khi không cần lời nói mà thông qua thái độ, việc làm, cách đối xử trong gia đình Giáo dục của gia đình mang tính cá biệt và cụ thể, chú ý đến những nét

cá biệt của từng đứa trẻ, theo sự thay đổi cuộc sống gia đình và xã hội Bởi vậy, giáo dục của gia đình có tính thực tiễn, qua thực tế, bằng cuộc sống thực

tế để giáo dục và rất chú ý đến kết quả thực tế của việc giáo dục

Gia đình là một tập thể không thuần nhất, các thành viên của gia đình (như ông bà, cha mẹ, anh chị, ) khác nhau về giới tính, nghề nghiệp, tuổi tác, địa vị xã hội, do đó giáo dục gia đình mang tính phối hợp nhiều mặt về kiến thức và các mối quan hệ xã hội Giáo dục gia đình chủ yếu dựa vào phương pháp thuyết phục giảng giải, bằng tình cảm, vận động linh hoạt, phong phú nhiều phương pháp và nghệ thuật giáo dục, đó là sự kết hợp phương pháp giáo dục truyền thống và hiện đại, kết hợp giữa uy quyền và tình thương, uy quyền với bao dung và tha thứ Phạm vi của giáo dục

Trang 26

không chỉ khuôn lại trong việc giáo dục trẻ em mà là toàn bộ các thành viên Nhưng thế hệ trẻ, thế hệ đang hình thành và tiến tới hoàn thiện nhân cách, được quan tâm hơn cả Vì những lẽ trên có thể khẳng định thêm rằng môi trường giáo dục xã hội ngày càng phong phú, học ở nhà trường, qua các phương tiện thông tin đại chúng (sách, báo hình, báo ảnh, báo giấy, internet trực tuyến ), nhưng không thể thay thế được giáo dục của gia đình

* Chức năng thỏa mãn nhu cầu tinh thần, tâm lý - tình cảm

Nhờ vào quan hệ hôn nhân và quan hệ huyết thống nên thành viên gia đình có tình yêu thương và ý thức, trách nhiệm với nhau Chính vì vậy, gia đình là nơi để mỗi được chăm sóc cả về vật chất lẫn tinh thần, được thỏa mãn nhu cầu tình cảm, cân bằng tâm lý, giải tỏa ức chế từ các quan

hệ xã hội

Khi một thành viên gặp biến cố, gia đình, dòng họ sẽ có sự quan tâm, chia sẻ và có sự giúp đỡ để niềm vui được nhân đôi, nỗi buồn được vơi đi một nửa Điều đó sẻ tạo nên sợi dây vô hình nhưng bền chặt kết nối nghĩa tình những người trong gia đình, dòng họ, thân tộc lại với nhau Mối quan

hệ đồng bào cũng từ đó mà hình thành trong làng xóm, trong xã hội, trở thành nền tảng của tình yêu quê hương, đất nước, con người

Có rất nhiều vấn đề tâm - sinh lí thuộc giới tính (nam - nữ), thế hệ của các thành viên (ông bà đã cao tuổi, cha mẹ, con cái còn nhỏ tuổi) cần được bộc lộ và giải quyết trong phạm vi gia đình, giữa những người thân Hiểu biết tâm - sinh lí cá nhân, sở thích của nhau để ứng xử phù hợp, chân thành và tế nhị, tạo bầu không khí tinh thần ổn định trong gia đình, làm cho các thành viên yên tâm sống và làm việc Mỗi người có một tính cách, cùng với sự chênh lệch về độ tuổi, khác nhau về giới tính tạo nên mỗi thành viên

có nét tâm, sinh lí, sở thích riêng, cá tính riêng vì vậy, các thành viên cần hiểu nhau để ứng xử sao cho trong ấm, ngoài êm Chẳng hạn, ông bà đã cao

Trang 27

tuổi, thích được yên tĩnh, do đó con cháu không nên gây ồn ào nhiều, cần hỏi han, tâm sự với ông bà mỗi ngày vì người già thường dễ tủi thân, chạnh lòng, cho rằng mình già yếu không làm được gì nên không ai quan tâm Cha mẹ cần thường xuyên hỏi han, tâm sự với con trẻ chuyện ở trường, ở lớp, động viên mỗi khi cháu được điểm tốt hay điểm kém để cháu thấy mình được sống trong tình yêu thương, bao bọc của bố mẹ Con cái cần giúp đỡ, vâng lời cha mẹ những việc nhỏ trong gia đình phù hợp với sức mình để bố mẹ yên lòng khi thấy mình đã tạo nên một người công dân ngoan ngoãn, giỏi giang cho xã hội

Như vậy, từ các chức năng cơ bản trên có thể thấy, đối với xã hội, gia đình là tế bào, là một trong các tổ chức cơ sở để thực hiện các chủ trương, chính sách và pháp luật của Nhà nước về tất cả các mặt kinh tế, chính trị, giáo dục, văn hoá, dân số, môi trường Đối với mỗi thành viên, gia đình là cái nôi thân yêu nuôi dưỡng, giáo dục và nâng đỡ mình suốt đời,

là môi trường để hình thành và phát triển nhân cách trong cả cuộc đời Gia đình cũng là nơi để thế hệ trẻ rèn luyện lối sống có tình nghĩa, có đạo lí để thực hành trong cuộc đời, đồng thời là nơi để thế hệ già có thể an dưỡng tinh thần, đem kinh nghiệm sống truyền lại cho con cháu Đối với xã hội hay đối với từng cá nhân, gia đình đều có vai trò rất to lớn Trong các vai trò của gia đình đối với xã hội cũng như các thành viên, thì vai trò giáo dục mỗi người trở thành một con người có đức, có tài là quan trọng nhất

* Chức năng kinh tế

Đây là chức năng nhằm đảm bảo sự tồn tại và phát triển của mỗi gia đình, góp phần vào sự phát triển toàn xã hội Lao động của mỗi thành viên gia đình hoặc hoạt động kinh tế của gia đình nhằm tạo ra nguồn lợi đáp ứng các nhu cầu đời sống vật chất (ăn, ở, đi lại) lẫn nhu cầu tinh thần (học hành tiếp cận thông tin, vui chơi giải trí) Gia đình còn là đơn vị tiêu dùng, việc

Trang 28

tiêu dùng sản phẩm hàng hóa dịch vụ trong xã hội đã tác động vào sản xuất, tiền tệ, thúc đẩy kinh tế đất nước phát triển

Gia đình là một thực thể xã hội, sự tồn tại của nó được xã hội thừa nhận Như vậy bản thân gia đình đã mang một giá trị xã hội Chính các chức năng của gia đình mới đem lại cho nó một giá trị đích thực Cho đến nay các chức năng cơ bản của gia đình vẫn còn giữ nguyên giá trị Sự thừa nhận các chức năng của gia đình tức là đã thừa nhận gia đình là một giá trị trong xã hội

Chức năng kinh tế là một trong những chức năng cơ bản của gia đình Thực hiện tốt chức năng này là cơ sở để gia đình thực hiện tốt các chức năng khác Việc sản xuất hàng hóa, tích lũy của cải cũng là công việc của gia đình Gia đình là một thể chế kinh tế đồng thời là một thể chế sinh học Không kể trong các cộng đồng, trong nền sản xuất nông nghiệp, thủ công nghiệp luôn luôn cần nhiều thành viên trong gia đình tham gia, việc xuất hiện của hệ thống nhà máy công nghiệp, công nghiệp hóa nông nghiệp khiến cho chức năng kinh tế của gia đnh theo khía cạnh này có chiều hướng giảm Tức là gia đình với tư cách một đơn vị kinh tế độc lập giảm, thay vào

đó là hoạt động kinh tế do thành viên gia đình thực hiện bên ngoài xã hội tăng lên

Chức năng kinh tế của gia đình còn tạo sự ràng buộc và gắn bó giữa các thành viên trên cơ sở lợi ích kinh tế, lợi ích vật chất chung, sự chia sẻ lợi ích và quá trình tạo dựng, tích lũy, kế thừa tài sản Phương thức của các thành viên tạo ra của cải vật chất cho gia đình (lao động tạo ra sản phẩm tiêu dung cho gia đình, lao động kiếm tiền để mua các tư liệu sinh hoạt cho gia đình hay thỏa mãn nhu cầu vật chất, tinh thần của các thành viên) và cách thức quản lí (tập trung thu nhập của các thành viên lại cho một người nắm giữ rồi cùng thảo luận về việc sử dụng, ), sử dụng (chi phí ăn, ở, đi

Trang 29

lại, thuốc thang lúc ốm đau, ngày kỉ niệm của mỗi thành viên trong gia đình, ), phân phối nguồn của cải vật chất (sử dụng, tiết kiệm, ) do thành viên đóng góp là những phương diện phản ánh đặc điểm chức năng kinh tế của gia đình

1.1.2 Biểu hiện vai trò giáo dục đạo đức truyền thống cho thế hệ trẻ của gia đình Việt Nam

1.1.2.1 Đạo đức truyền thống và những giá trị đạo đức truyền thống cần giáo dục

Quan niệm về đạo đức

Từ xa xưa đã có nhiều quan niệm về đạo đức, ví như quan niệm của Khổng Tử, Mạnh Tử về “luân thường”: Đạo đức chính là sự kết hợp “tam cương”, “ngũ thường” thành “cương thường” (mối quan hệ giữa Vua – tôi, cha – con, vợ - chồng được gọi là Tam cương Ngũ thường là: Nhân, nghĩa,

lễ, trí, tín) cho rẳng đạo đức là phép ứng xử có nhân phẩm của người này với người khác, đạo đức luôn là mối quan hệ hai chiều, là một thể chế đặc thù của xã hội nhằm điều chỉnh các hành vi của con người trong các lĩnh vực đời sống xã hội Trong khi đó, đạo đức phật giáo lại có xu hướng hướng nội, đạo đức Phật giáo là một hệ đạo đức xuất thế, giá trị đạo đức Phật giáo thiên về nội tâm, phản tỉnh hơn là xử lý các quan hệ bề ngoài cho nên Phật giáo phát huy tối đa tính tự chủ cá nhân trong việc thực hành các quy tắc đạo đức Sự phán xét của đạo đức là nghiệp báo, nghiệp quả, nó điều chỉnh đạo đức của mỗi người theo quy luật nhân - quả tự tại Theo quan niệm của Phật giáo, mọi người không phân biệt đẳng cấp giàu nghèo, nếu tu dưỡng đều trở thành Phật Đạo đức Phật giáo kêu gọi con người yêu thương nhau, nhất là thương những người ngèo, những kẻ bất hạnh Điều đặc biệt hơn, Phật giáo là tôn giáo có khuynh hướng vô thần, không thừa nhận

sự sáng tạo của một đấng siêu nhiên nào, mọi giá trị luân lý, đạo đức đều diễn

ra trong thế giới nhân sinh chứ không phải do một thế lực nào chi phối

Trang 30

Các quan niệm đạo đức trên đây mặc dù vẫn còn hạn chế nhất định nhưng đều hướng con người ta đến cái “Thiện” và có ảnh hưởng sâu rộng, lâu dài đến đạo đức người Việt Nam Vì vậy nên, C.Mác cho rằng đạo đức chính là lực lượng bản chất của con người trong sự phát triển của nó theo hướng ngày càng đạt tới giá trị đích thực của cái thiện

Hồ Chí Minh lại quan niệm đạo đức chính là sự thống nhất giữa tư tưởng và phong cách sống Ở Người, đạo đức đóng vai trò như lẽ sống thấm vào tư tưởng và lối sống Đạo đức Hồ Chí Minh chủ yếu là nói về đạo đức Cách Mạng, đạo đức của người làm Cách mạng

Theo GS.TS Huỳnh Khái Vinh: “Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội bao gồm những nguyên tắc và chuẩn mực xã hội, nhờ đó con người tự động điều chỉnh hành vi cho phù hợp với lợi ích, hạnh phúc của mình và sự tiến

bộ xã hội trong mối quan hệ người – người” [104, tr 44] Quan niệm về đạo đức như trên đã khá trọn vẹn và đầy đủ

Như vậy có thể nói đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, là một hệ thống những nguyên tắc, chuẩn mực, yêu cầu, quy tắc điều chỉnh sự ứng xử của con người trong tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội

Giá trị đạo đức và truyền thống

Giá trị đạo đức là một yếu tố cấu thành của hệ thống các giá trị tinh thần trong đời sống xã hội, được xác định là những chuẩn mực, những khuôn mẫu lý tưởng, những quy tắc ứng xử nhằm điều chỉnh và chuẩn hóa hành vi của con người trên cơ sở tự nguyện tự giác Giá trị đạo đức “được đánh giá là có ý nghĩa tích cực đối với đời sống xã hội, được lương tâm đồng tình, dư luận biểu dương Giá trị đạo đức, vì thế, có ý nghĩa thiết yếu đối với đời sống xã hội”

Giá trị đạo đức xét theo chiều thời gian (lịch đại) có thể phân thành giá trị đạo đức truyền thống và giá trị đạo đức hiện đại Mỗi dân tộc đều có

Trang 31

các giá trị đạo đức truyền thống được hình thành trong suốt quá trình hình thành và phát triển của dân tộc Mỗi dân tộc khác nhau có truyền thống khác nhau, cùng một dân tộc qua từng giai đoạn lịch sử khác nhau truyền thống cũng biểu hiện và có cách lí giải khác nhau

Đặc trưng của truyền thống là, thứ nhất, có tính ổn định và bền vững

tương đối, lặp đi lặp lại qua các thế hệ, trở thành những đức tính, thói quen, những phong tục tập quán trong xã hội, trong cộng đồng Truyền thống có sức sống dai dẳng, tồn tại lâu dài Cái nhất thời không phải là truyền thống;

thứ hai là, truyền thống mang tính cộng đồng, được cộng đồng thừa nhận ở

nhiều cấp độ và hình thức khác nhau; thứ ba là, truyền thống mang tính lưu

truyền từ đời nay sang đời khác, góp phần quy định những chuẩn mực giá trị, chuẩn mực ứng xử… trong cộng đồng, trong xã hội Giá trị truyền thống là cái thể biện bản chất nhất, đặc trưng nhất cốt lõi văn hóa dân tộc, bởi nó được kết tinh trong suốt quá trình lịch sử dân tộc

Truyền thống là sản phẩm của lịch sử, nên không thể ngay lập tức thay đổi, xóa bỏ Nhận thức này sẽ qui định thái độ của hiện tại đối với truyền thống Sùng bái truyền thống hoặc coi thường truyền thống đều dẫn đến những hậu quả tai hại Sùng bái một cách mù quáng đối với truyền thống, không phân biệt những gì là tích cực với những gì là lạc hậu, tiêu cực trong truyền thống, không tính đến những biến đổi khách quan trong hiện đại mà đề cao thái quá truyền thống sẽ dẫn đến trì trệ, bảo thủ, cản trở tiến bộ Ngược lại, nếu coi thường truyền thống trong giải quyết các vấn đề của hiện tại và tương lai, đoạn tuyệt với truyền thống sẽ dẫn đến sự phá hủy tính kế thừa, tính liên tục trong sự phát triển của xã hội Thực tiễn lịch sử cho thấy, dân tộc nào dung hòa được các giá trị truyền thống với các giá trị hiện đại, tìm được phương thức biểu hiện mới của giá trị truyền thống trong thời hiện đại thì sẽ phát triển Nghĩa là các giá trị truyền thống phải được

Trang 32

biến đổi phù hợp với tinh thần thời đại Trong quá trình đó, các giá trị truyền thống được gạn lọc, được kết hợp với các giá trị mới để tạo nên hệ giá trị mới mang tinh thần thời đại, đáp ứng yêu cầu của cuộc sống nhưng lại có đạc điểm dân tộc

Đạo đức truyền thống

Những giá trị tinh thần và đặc điểm của nhân cách con người Việt Nam có nguồn gốc sâu xa và bắt nguồn từ những hoàn cảnh địa lý, môi trường tự nhiên, lịch sử và xã hội Từ khi lập nước đến nay, Việt Nam chủ yếu vẫn là một nước nông nghiệp Nghề nông là một nghề lao động vất vả, không chỉ đòi hỏi nhiều sức lao động, mà còn phụ thuộc rất nhiều vào tự nhiên Trong khi đó, điều kiện tự nhiên của Việt Nam lại mưa nắng thất thường do nằm ở khu vực nhiệt đới gió mùa, chịu ảnh hưởng của gió mùa đông bắc và đông nam, gây ra nhiều thiên tai, hạn hán, mất mùa Chính những đặc điểm này đã ảnh hưởng tới sự hình thành hệ giá trị của dân tộc Việt Nam, tạo nên sự gắn bó cộng đồng bền chặt, sự thương yêu đùm bọc lẫn nhau, đặt nền móng cho tinh thần lao động cần cù, tiết kiệm Bên cạnh

đó, do có nhiều tài nguyên thiên nhiên và là đầu mối giao thông quốc tế quan trọng, nên Việt Nam luôn là mục tiêu xâm lược của nhiều quốc gia Với những đặc điểm tự nhiên, sự khó khăn của cư dân vùng lúa nước, sự đe dọa liên tục của nạn ngoại xâm như vậy, muốn tồn tại và phát triển, con người Việt Nam phải cùng nhau chung sức trong lao động sản xuất và trong các quan hệ xã hội khác Việc gắn đời sống của mình với cộng đồng cũng là để bảo vệ cuộc sống của mình Do đó, trong nấc thang giá trị xã hội, việc đề cao các giá trị đạo đức là đặc điểm nổi bật trong đời sống của dân tộc Việt Nam Sự phát triển ưu trội của các giá trị đạo đức còn có một nguyên nhân khác, đó là pháp luật chưa phát triển (phải đến tận thế kỷ XI,

bộ luật đầu tiên của Việt Nam mới ra đời) Do vậy, khi chưa có sự điều

Trang 33

chỉnh hành vi con người bằng pháp luật, thì sự tồn tại của phương thức điều chỉnh khác là đạo đức là điều hiển nhiên Trên nền tảng của văn hoá bản địa, với điều kiện địa lý thuận lợi, Việt Nam còn tiếp thu được những tinh hoa văn hoá nhân loại, đặc biệt là văn hoá Trung Quốc và Ấn Độ với cốt lõi

là Nho giáo, Phật giáo và Đạo giáo Nho giáo được truyền vào nước ta, tính đến nay đã trên 2000 năm Nho giáo là một học thuyết chính trị - xã hội luôn lấy đức làm trọng, là công cụ quản lý xã hội của giai cấp thống trị Trung Quốc Với rất nhiều giáo lý phù hợp với điều kiện xã hội Việt Nam, Nho giáo từng bước được giai cấp thống trị Việt Nam tiếp nhận và đề cao, đặc biệt là trong quản lý đất nước Bằng ảnh hưởng của giai cấp thống trị, Nho giáo đã ăn sâu vào tâm lý người Việt Nam Mặc dù còn có những quan niệm tiêu cực, như trọng nam khinh nữ, coi thường lao động chân tay song Nho giáo cũng có những yếu tố tích cực, đó là việc đề cao chữ nhân, ḷng thương người, trọng người cao tuổi… Cả mặt tích cực lẫn mặt tiêu cực của Nho giáo đều tác động tới nhân cách con người Việt Nam Với tư tưởng từ bi, bác ái, Phật giáo của nền văn hoá Ấn Độ đã dễ dàng thâm nhập vào Việt Nam từ rất sớm Các giáo lý Phật giáo cùng với việc các nhà sư sống hoà đồng với người dân đã tạo nên sự gần gũi giữa Phật giáo và người dân Bởi lẽ, người Việt Nam từng chịu nhiều đau thương, mất mát qua các cuộc chiến tranh, sống lam lũ, khổ sở và thường xuyên phải chống chọi với thiên nhiên khắc nghiệt, nên luôn mong muốn có một cuộc sống tốt đẹp hơn Bằng thuyết nhân quả luân hồi, ở hiền gặp lành, Phật giáo khuyến khích con người ăn ở nhân đức để có được cuộc sống tốt đẹp trong thế giới mai sau Phật giáo đã góp phần nâng cao đời sống đạo đức của người dân, dẫu chỉ là về mặt tinh thần Họ tiếp nhận Phật giáo như là một yếu tố tâm lý làm cân bằng cuộc sống vốn khốn khó của mình Phật giáo cũng củng cố cách sống nhân nghĩa, chân tình của người Việt Nam Cùng với Nho giáo

Trang 34

và Phật giáo, Đạo giáo cũng có ảnh hưởng nhất định tới nhân cách con người Việt Nam Bên cạnh những yếu tố mê tín dị đoan, Đạo giáo đã đem lại thêm cho nhân dân ta là tinh thần đoàn kết, hữu ái của nông dân lao động và một phần cái ý thức về sức mạnh có chính nghĩa của mình chống mọi sự bất công, áp bức, hà hiếp của vua chúa, cường hào, ác bá Chính đặc điểm hình thành và phát triển của xã hội Việt Nam đã làm cho các giá trị đạo đức được bồi đắp thường xuyên trong suốt chiều dài lịch sử Cùng với thời gian, những giá trị này trở nên ổn định và được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác và trở thành động lực, sức mạnh, bản sắc của nhân cách con người Việt Nam Theo giáo sư Vũ Khiêu, truyền thống đạo đức của dân tộc Việt Nam bao gồm: lòng yêu nước, truyền thống đoàn kết, lao động cần cù và sáng tạo, tinh thần nhân đạo, lòng yêu thương và quý trọng con người [62, tr 74 – 86] Giáo sư Trần Văn Giàu cho rằng, các giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc Việt Nam bao gồm: yêu nước, cần cù, anh hùng, sáng tạo, lạc quan, thương người, vì nghĩa [37, tr 94] Còn trong các văn kiện của Đảng và Nhà nước, các giá trị đạo đức thường được đề cập đến và được coi là những giá trị nổi bật Chẳng hạn, Nghị quyết của Bộ Chính trị về một số định hướng lớn trong công tác tư tưởng đã khẳng định:

"Những giá trị văn hoá truyền thống bền vững của dân tộc Việt Nam là lòng yêu nước nồng nàn, ý thức cộng đồng sâu sắc, đạo lý "thương người như thể thương thân", đức tính cần cù " [21, tr 19] Từ quan điểm của các nhà khoa học cũng như của Đảng ta, có thể khẳng định, dân tộc Việt Nam

có một di sản giá trị đạo đức vô cùng phong phú, trong đó, các giá trị điển hình là: tinh thần yêu nước, lòng thương người sâu sắc, tinh thần đoàn kết,

tinh thần lao động cần cù, tiết kiệm…

Như vậy, ta có thể kết luận: Đạo đức truyền thống Việt Nam là những quan điểm, những chuẩn mực đạo đức, phong tục, tập quán, lối ứng

Trang 35

xử của con người Việt nam được hình thành trong quá trình dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt nam, là sự tiếp nhận có chọn lọc những tinh hoa đạo đức nhân loại phù hợp với mỗi giai đoạn lịch sử của dân tộc Đạo đức truyền thống Việt Nam bao gồm rất nhiều chuẩn mực vẫn còn nguyên những giá trị tốt đẹp cần giữ gìn và phát huy, trong đó, những chuẩn mực

cơ bản của đạo đức truyền thống Việt bao gồm: Lòng yêu nước, ý thức tự cường dân tộc; tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng; tinh thần cần cù, dũng cảm, sáng tạo trong lao động; lòng nhân ái, thương người; lối sống thủy chung, tình nghĩa

Một số chuẩn mực cơ bản của đạo đức truyền thống Việt nam:

- Lòng yêu nước, ý thức tự cường dân tộc: khi lòng yêu nước phát triển

thành lẽ sống, thành khát vọng khiến con người ta sẵn sàng lao động hết mình, cống hiến sức lực cho quê hương đất nước, thậm chí không tiếc máu xương, sẵn sang hi sinh cả tính mạng của mình cho độc lập tự do của đất nước Lòng yêu nước của người Việt nam thể hiện ở lòng tự tôn và tự hào dân tộc

Tinh thần yêu nước là "nguyên tắc đạo đức và chính trị, một tình cảm xã hội mà nội dung của nó là lòng trung thành với Tổ quốc, là lòng tự hào về quá khứ và hiện tại của Tổ quốc, ý chí bảo vệ những lợi ích của Tổ quốc" Thực ra, trên thế giới, mỗi quốc gia, dân tộc đều có tình yêu đất nước, nhưng bản sắc, sự hình thành cũng như biểu hiện của nó lại có sự khác nhau Ở Việt Nam, chúng ta có thể thấy rằng, chủ nghĩa yêu nước là giá trị đạo đức cao quý nhất của dân tộc Việt Nam, là chuẩn mực đạo đức cao nhất, đứng đầu trong thang bậc giá trị truyền thống Yêu nước là đặt lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân lên trên lợi ích cá nhân, luôn chăm lo xây dựng và bảo vệ đất nước, có ý thức giữ gìn và phát triển bản sắc dân tộc, luôn tự hào về dân tộc Tinh thần yêu nước Việt Nam được bắt nguồn từ

Trang 36

những tình cảm bình dị, đơn sơ của mỗi người dân Tình cảm đó, mới đầu, chỉ là sự quan tâm đến những người thân yêu ruột thịt, rồi đến xóm làng, sau đó phát triển cao thành tình yêu Tổ quốc Tình yêu đất nước không phải

là tình cảm bẩm sinh, mà là sản phẩm của sự phát triển lịch sử, gắn liền với một đất nước nhất định Tình yêu đất nước không chỉ gắn liền với quá trình xây dựng đất nước, nó còn được thể hiện rõ hơn trong quá trình bảo vệ đất nước Trên thế giới, hầu như dân tộc nào cũng phải trải qua quá trình bảo

vệ đất nước, chống xâm lăng Nhưng có lẽ không dân tộc nào lại phải trải qua quá trình giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc nhiều và đặc biệt như ở Việt Nam Trong khoảng thời gian từ thế kỷ III TCN đến cuộc kháng chiến chống Mỹ, dân tộc ta đã dành hơn nửa thời gian cho các cuộc kháng chiến giữ nước và đấu tranh chống ngoại xâm, các cuộc khởi nghĩa và chiến tranh giải phóng dân tộc Không có một dân tộc nào trên thế giới lại phải chịu nhiều cuộc chiến tranh như vậy và với những kẻ thù mạnh hơn rất nhiều Chính tinh thần yêu nước nồng nàn đã giúp dân tộc ta vượt qua mọi khó khăn, chiến thắng mọi thế lực xâm lược Nhận xét về truyền thống yêu nước Việt Nam, trong báo cáo chính trị tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng, tháng 2/1951, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Dân tộc

ta có một lòng nồng nàn yêu nước Đó là một truyền thống quý báu của ta Từ xưa đến nay mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó bước qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và cướp nước" [73, tr 171]

- Tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng: Đoàn kết là một yêu cầu khách

quan trong lao động sản xuất, trong cuộc sống và chiến đấu của dân tộc Việt Nam

Tinh thần đoàn kết là sản phẩm đặc thù của một hoàn cảnh thiên nhiên khắc nghiệt và điều kiện kinh tế - xã hội Việt Nam Nó là nhân tố cốt

Trang 37

lõi trong hệ giá trị truyền thống của dân tộc Việt Nam Nhờ đó, con người Việt Nam, dân tộc Việt Nam có được sức mạnh to lớn trước mọi thử thách

Ý thức về tinh thần đoàn kết của người Việt Nam đã trở thành một truyền thuyết - truyền thuyết về hai chữ "đồng bào" (mọi người cùng trong một cái bọc mà ra) Truyền thuyết này phản ánh nhu cầu và mong ước của người xưa về sự gắn bó giữa những con người với nhau Tinh thần đoàn kết của người Việt Nam, trước tiên, được thể hiện trong gia đình, trong cộng đồng làng xã, và hơn hết, trong toàn thể cộng đồng các dân tộc Việt Nam Trong gia đình, sức mạnh đoàn kết được thể hiện qua câu châm ngôn: "Thuận vợ thuận chồng, tát bể Đông cũng cạn" Chính những quy tắc, thể lệ về một mảnh ruộng chung (công điền), về việc phải cùng nhau hợp tác trong lao động sản xuất, chống giặc ngoại xâm, chống thiên tai, mà tinh thần đoàn kết ngày càng được củng cố trong làng xã Có lẽ, hiếm có dân tộc nào trên thế giới mà tinh thần đoàn kết lại được biểu hiện nhiều và đa dạng như ở làng quê Việt Nam Tinh thần đoàn kết trong cộng đồng làng xã được mở rộng thành tinh thần đoàn kết dân tộc và không ngừng được nâng cao trong quá trình dựng nước và giữ nước Vì vậy, dân tộc Việt Nam đã duy trì được

sự hài hoà trong các quan hệ xã hội, làm hạn chế phần nào tính vị kỷ, tạo được sức mạnh chung cho sự sinh tồn và chiến thắng ngoại xâm Lịch sử dân tộc Việt Nam đã chứng minh rằng, nếu không tạo được sự đoàn kết nhất trí cao thì nguy cơ nước mất nhà tan sẽ xảy ra Thất bại của nhà Hồ thế

kỷ XIV là một ví dụ Do không thống nhất được lòng dân, nên dù có thời cần chuẩn bị kháng chiến lâu dài, vũ khí tân tiến vẫn không bảo vệ được độc lập dân tộc Hoặc trong các thế kỷ XVI - XVIII chiến tranh phân chia Trịnh - Nguyễn, Nam - Bắc triều là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến sự suy yếu của đất nước, làm cho thực dân Pháp có cơ hội xâm lược nước nhà Chính nhờ có truyền thống đoàn kết mà chúng ta mới có được một dân tộc

Trang 38

độc lập như ngày nay Những câu như "đoàn kết thì sống, chia rẽ thì chết",

"một cây làm chẳng nên non, ba cây chụm lại thành hòn núi cao" không chỉ là một lời khuyên nhủ, mà còn là phương châm, mục đích của sự đoàn kết dân tộc Nó trở thành sức mạnh tinh thần và đặc trưng cho nhân cách con người Việt Nam

- Tinh thần cần cù, dũng cảm, sáng tạo trong lao động: Lịch sử đã

chứng minh, lao động cần cù là một yêu cầu khách quan của con người Việt nam, bên cạnh đó là quá trình chúng ta giữ gìn và xây dựng đất nước, lao động cần cù, sang tạo là yêu cầu cần thiết để xây dựng đất nước ngày một phát triển

Tinh thần lao động cần cù, tiết kiệm cũng là một giá trị đạo đức nổi bật trong hệ giá trị của dân tộc Việt Nam Để kiến tạo ra của cải vật chất thì bất cứ dân tộc nào cũng phải lao động, cũng phải chịu khó, và họ cũng có thể tự hào về những thành quả đã tạo dựng được của mình, nhưng dân tộc Việt Nam lại là một trường hợp đặc biệt Bởi, Việt Nam là một nước có nền văn minh nông nghiệp lâu đời Lao động nông ghiệp là loại hình lao động vất vả, cần nhiều thời gian, công sức mới có hạt gạo, bát cơm để ăn Hơn nữa, Việt Nam lại là nước hàng năm phải hứng chịu nhiều thiên tai Quanh năm suốt tháng, người dân Việt Nam phải lo đắp đập, đào mương lấy nước tưới, đắp đê phòng chống bão lụt Theo giáo sư Trần Văn Giàu, những người nước ngoài đến Việt Nam đều hết sức ngạc nhiên khi thấy mọi cơ năng của con người Việt Nam đều được dùng để làm việc: đầu đội, vai gánh, lưng cõng, tay nhanh nhẹn và khéo léo, chân chạy như bay Ngoài sự khéo léo, đó còn là một minh chứng cho sự cần cù, chịu khó của người Việt Nam Hơn nữa, dân tộc Việt Nam lại luôn chịu sự xâm lăng của các thế lực bên ngoài Bất cứ cuộc xâm lăng nào, bên cạnh nhiều lý do khác, cũng đều

là sự cướp bóc của cải, phá hoại mùa màng sản xuất Do đó, để khắc phục

Trang 39

hậu quả, nhân dân Việt Nam không còn cách nào hơn là phải lao động cần

cù Như vậy, đầu tiên, lao động cần cù như một yêu cầu tất yếu để đảm bảo cho sự sinh tồn của dân tộc Sau đó, trong sự đấu tranh gian khổ với thiên nhiên, với cuộc sống luôn bị kẻ thù xâm lăng, lao động cần cù đã trở thành một phẩm chất đạo đức không thể thiếu đối với con người Việt Nam Ước vọng về một đức tính lao động cần cù đã được thể hiện nhiều trong dân gian Việt Nam Người Việt luôn nhắc nhở với nhau rằng, "năng nhặt chặt bị", "kiến tha lâu đầy tổ" Người ta luôn luôn phê phán thói "ăn không ngồi rồi", bởi với họ, "nhàn cư vi bất thiện" Lao động cần cù của người Việt Nam luôn gắn với tiết kiệm, bởi lẽ, "buôn tàu buôn bè không bằng ăn dè hà tiện", "khi có mà không ăn dè, đến khi ăn dè chẳng có mà ăn"

- Lòng nhân ái, thương người: Lòng nhân ái thương người là chuẩn mực

đạo đức của người Việt nam, là thước đo giá trị trong hành vi ứng xử của con người Việt nam

Lòng thương người của dân tộc Việt Nam xuất phát từ tình cảm yêu quý con người - "người ta là hoa của đất" Chính trong quá trình lao động sản xuất và đấu tranh bảo vệ Tổ quốc, cha ông ta đã rút ra triết lý: con người là vốn quý hơn cả, không có gì có thể so sánh được Mọi người luôn luôn "thương người như thể thương thân" và vì lẽ đó, trong quan hệ đối xử hàng ngày, người Việt Nam luôn coi trọng tình, luôn đặt tình nghĩa lên trên hết - "vì tình vì nghĩa ai vì đĩa xôi đầy" Chữ "tình" chiếm một vị trí quan trọng trong đời sống của người dân Trong gia đình, đó là tình cảm vợ chồng "đầu gối tay ấp", tình anh em "như thể tay chân", tình cảm đối với bố mẹ: "Công cha như núi Thái sơn Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra" Rộng hơn là tình cảm đối với làng xóm : "Sớm khuya tối lửa tắt đèn có nhau” Và, rộng hơn cả là tình yêu đất nước: "Nhiễu điều phủ lấy giá gương Người trong một nước thì thương nhau cùng", "Bầu ơi thương lấy

Trang 40

bí cùng Tuy là khác giống nhưng chung một giàn" Chính sự coi trọng chữ "tình" mà trong những xung đột, người Việt Nam thường cố gắng giải quyết theo phương châm "có lý có tình", "chín bỏ làm mười" Bởi với họ, tình cảm con người là cao quý hơn cả, không thể vì những điều khác mà bỏ

đi được, "một mặt người hơn mười mặt của", "người sống đống vàng” … Tinh thần thương yêu con người còn biểu hiện trong sự tương trợ và giúp

đỡ lẫn nhau theo kiểu "lá lành đùm lá rách", "chị ngã em nâng", "một con ngựa đau cả tàu không ăn cỏ" ở tình cảm bao dung, vị tha: "đánh kẻ chạy

đi, không ai đánh kẻ chạy lại" Họ không những vị tha với nhau, mà còn vị tha với cả kẻ thù Lịch sử đã từng ghi lại rất nhiều rằng, với những tù binh chiến tranh, họ luôn được đối xử tử tế, được mở đường hiếu sinh, được cấp đầy đủ quân trang khi trở về nước Tình thương người của dân tộc Việt Nam không chỉ biểu hiện trong đời sống hàng ngày của người dân, trong hương ước của các làng xã, mà còn được nâng lên thành những chuẩn tắc trong luật của nhà nước Trong các bộ luật của Việt Nam - những bộ luật rất hiếm hoi và ra đời tương đối muộn trong lịch sử phát triển dân tộc, chúng ta có thể thấy, việc vi phạm các chuẩn mực đạo đức, như con cái đối

xử không tốt với cha mẹ, với người thân có thể bị xử phạt Trong các kho của Nhà nước Việt Nam hầu như lúc nào cũng có thóc gạo dự trữ để phân phát cho những người dân nghèo, đau ốm, hay vào những năm hạn hán mất mùa Việc lập các nhà thương tế bần nuôi dưỡng những người già cả, cô đơn, đau ốm bệnh tật ở các nơi luôn được sự khuyến khích của Nhà nước Lòng thương người đã trở thành một nếp nghĩ, một cách sống, một giá trị đạo đức trong đời sống của người Việt Nam Khi Phật giáo và Nho giáo thâm nhập vào Việt Nam với những quan niệm từ bi bác ái, thương người thì chúng càng khẳng định, củng cố thêm tư tưởng thương người của dân tộc Việt Nam Nhưng tư tưởng thương người của dân tộc Việt Nam không

Ngày đăng: 24/03/2015, 08:59

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. I. A-Pê-sec-ni-cô-va (1980), Dạy con yêu lao động, Nxb. Phụ nữ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy con yêu lao động
Tác giả: I. A-Pê-sec-ni-cô-va
Nhà XB: Nxb. Phụ nữ
Năm: 1980
2. Lê Hữu Ái, Trương Quang Ánh (2008), Vấn đề giáo dục giá trị văn hóa truyền thống cho sinh viên trong bối cảnh hiện nay ở nước ta, Tạp chí khoa học và công nghệ, đại học Đà Nẵng số 5 tr 28 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí khoa học và công nghệ, đại học Đà Nẵng
Tác giả: Lê Hữu Ái, Trương Quang Ánh
Năm: 2008
3. Đào Duy Anh (2006), Việt Nam văn hóa sử cương, Nxb. Văn hóa thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam văn hóa sử cương
Tác giả: Đào Duy Anh
Nhà XB: Nxb. Văn hóa thông tin
Năm: 2006
4. Lê Ngọc Anh (2002), Vấn đề giáo dục đạo đức và nếp sống văn hóa gia đình truyền thống trong nền kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay, Tạp chí Triết học số 1 tr 17-22 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Triết học số
Tác giả: Lê Ngọc Anh
Năm: 2002
5. Lê Thị Tuyết Ba (2003), Chuẩn mực đạo đức trong bối cảnh của nền kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay, Tạp chí Triết học số 10 tr 9-12 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Triết học số
Tác giả: Lê Thị Tuyết Ba
Năm: 2003
6. Nguyễn Thanh Bình (2007), Học thuyết chính trị xã hội của Nho giáo và ảnh hưởng của nó ở Việt Nam (Từ thế kỷ XI đến nửa đầu thế kỷ XIX), Nxb. Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Học thuyết chính trị xã hội của Nho giáo và ảnh hưởng của nó ở Việt Nam (Từ thế kỷ XI đến nửa đầu thế kỷ XIX)
Tác giả: Nguyễn Thanh Bình
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2007
8. Nguyễn Trọng Chuẩn (2001), Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa hiện nay và những biến động trong lĩnh vực đạo đức, Tạp chí Triết học số 9 tr 15-20 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Triết học
Tác giả: Nguyễn Trọng Chuẩn
Năm: 2001
9. Nguyễn Trọng Chuẩn, Nguyễn Văn Phúc (2003)(Chủ biên), Mấy vấn đề đạo đức trong nền kinh tế thị trường ở nước ta, Nxb. Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy vấn đề đạo đức trong nền kinh tế thị trường ở nước ta
Tác giả: Nguyễn Trọng Chuẩn, Nguyễn Văn Phúc
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2003
12. Nguyễn Đăng Dung – Bùi Ngọc Sơn (2002), Lệ làng xưa và “lệ làng” nay, Tạp chí Cộng sản số 29, tr32-37 Sách, tạp chí
Tiêu đề: lệ làng” nay, "Tạp chí Cộng sản
Tác giả: Nguyễn Đăng Dung – Bùi Ngọc Sơn
Năm: 2002
13. Vũ Trọng Dung (2001), Quan niệm thiện ác trong lịch sử và trong bối cảnh phất triển kinh tế thị trường, Tạp chí Triết học số 2 tr 38-42 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Triết học
Tác giả: Vũ Trọng Dung
Năm: 2001
14. Vũ Trọng Dung (chủ biên)(2005), Giáo trình đạo đức học Mác – Lênin, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình đạo đức học Mác – Lênin
Tác giả: Vũ Trọng Dung (chủ biên)
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2005
15. Thành Duy (2002), Vai trò của văn hóa đạo đức trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường ở Việt Nam, Tạp chí Triết học số 2 tr 18-22 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Triết học
Tác giả: Thành Duy
Năm: 2002
16. Dương Văn Duyên,(chủ biên), (2012), Giáo trình đạo đức học đại cương, Nxb. Đại học quốc gia Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình đạo đức học đại cương
Tác giả: Dương Văn Duyên,(chủ biên)
Nhà XB: Nxb. Đại học quốc gia Hà nội
Năm: 2012
17. Quang Đạm (1999), Nho giáo xưa và nay, Nxb. Văn hóa thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Nho giáo xưa và nay
Tác giả: Quang Đạm
Nhà XB: Nxb. Văn hóa thông tin
Năm: 1999
18. Đảng Cộng sản Việt Nam (1994), Văn kiện hội nghị Trung ương lần thứ bảy Ban chấp hành Trung ương khóa VII, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện hội nghị Trung ương lần thứ bảy Ban chấp hành Trung ương khóa VII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 1994
19. Đảng Cộng sản Việt Nam(1995), Nghị quyết của Bộ chính trị về Một số định hướng lớn trong công tác tư tưởng hiện nay, Lưu hành nội bộ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết của Bộ chính trị về Một số định hướng lớn trong công tác tư tưởng hiện nay
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 1995
20. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 1996
21. Đảng Cộng sản Việt Nam (1998,) Văn kiện Hội nghị Trung ương năm Đại hội VIII, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị Trung ương năm Đại hội VIII
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
22. Đảng Cộng sản Việt Nam(2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2001
23. Đảng Cộng sản Việt Nam (2004), Văn kiện Hội nghị Trung ương lần thứ chín Đại hội IX, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị Trung ương lần thứ chín Đại hội IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2004

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình thức khác  162  16.2 - Vai trò của gia đình trong giáo dục giá trị đạo đức truyền thống cho thế hệ trẻ Việt Nam hiện nay
Hình th ức khác 162 16.2 (Trang 83)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w