Bởi vì thông qua việc tính toán, phân tích tài chính cho ta biếtnhững điểm mạnh và điểm yếu về hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệpcũng như những tiềm năng
Trang 1MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG IKHÁI QUÁT VỀ HOẠT ĐỘNG PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP 3
1.1 Khái niệm và sự cần thiết của hoạt động phân tích tài chính 3
1.1.1 Khái niệm 3
1.1.2 Sự cần thiết của hoạt động phân tích tài chính doanh nghiệp 3
1.2 Thông tin, phương pháp và nội dung phân tích tài chính doanh nghiệp 6
1.2.1 Thông tin được sử dụng trong phân tích tài chính 6
1.2.1.1 Thông tin từ báo cáo của doanh nghiệp 6
1.2.1.1.1 Bảng cân đối kế toán 6
1.2.1.1.2 Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh 8
1.2.1.1.3 Báo cáo lưu chuyển tiền tệ 8
1.2.1.2 Thông tin từ bên ngoài doanh nghiệp 9
1.2.2 Phương pháp sử dụng 9
1.2.2.1 Phương pháp tỷ lệ: 9
1.2.2.2 Phương pháp so sánh: 10
1.2.2.3 Phương pháp phân tích chỉ số: 11
1.2.3 Nội dung phân tích 11
1.2.3.1 Phân tích khái quát tình hình tài sản và nguồn vốn, tình hình thu, chi trong doanh nghiệp 11
1.2.3.2 Phân tích các nhóm chỉ tiêu đặc trưng tài chính doanh nghiệp 13
1.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới hoạt động phân tích tài chính doanh nghiệp 18
1.3.1 Những nhân tố khách quan 18
1.3.2 Những nhân tố chủ quan 20
CHƯƠNG II:HOẠT ĐỘNG PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN LIÊN HIỆP ĐẦU TƯ XÂY DỰNG NÔNG THÔN VIỆT NAM 22
2.1 Khái quát về CÔNG TY CỔ PHẦN LIÊN HIỆP ĐẦU TƯ XÂY DỰNG NÔNG THÔN VIỆT NAM 22
Trang 22.1.1 Giới thiệu chung về Công ty Cổ phần Liên hiệp đầu tư xây dựng nông
thôn Việt Nam 22
2.1.2 Tình hình hoạt động chung 25
2.1.3 Tổng quan về kết quả hoạt động kinh doanh 26
2.2 Tình hình hoạt động phân tích tài chính tại CÔNG TY CỔ PHẦN LIÊN HIỆP ĐẦU TƯ XÂY DỰNG NÔNG THÔN VIỆT NAM 27
2.2.1 Quy trình phê duyệt báo cáo tài chính tại Công ty cổ phần liên hiệp đầu tư xây dựng nông thôn Việt Nam: 27
2.2.2 Các thông tin chung tài chính doanh nghiệp 28
2.2.3 Báo cáo phân tích tài chính CÔNG TY CỔ PHẦN LIÊN HIỆP ĐẦU TƯ XÂY DỰNG NÔNG THÔN VIỆT NAM 30
2.2.3.1 Kế hoạch vay vốn của Công ty 30
2.2.3.2 Phân tích báo cáo tài chính của CÔNG TY CỔ PHẦN LIÊN HIỆP ĐẦU TƯ XÂY DỰNG NÔNG THÔN VIỆT NAM 32
2.3 Đánh giá hoạt động phân tích tài chính tại công ty 39
2.3.1 Kết quả đạt được 39
2.3.2 Hạn chế 40
2.4 Nguyên nhân: 41
2.4.1 Nguyên nhân chủ quan: 41
2.4.2 Nguyên nhân khách quan: 42
CHƯƠNG III:GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN LIÊN HIỆP ĐẦU TƯ XÂY DỰNG NÔNG THÔN VIỆT NAM 43
3.1 Định hướng phát triển sản xuất kinh doanh của CÔNG TY CỔ PHẦN LIÊN HIỆP ĐẦU TƯ XÂY DỰNG NÔNG THÔN VIỆT NAM trong thời gian tới 43
3.1.1Nguyên tắc định hướng: 43
3.1.2 Định hướng phát triển sản xuất kinh doanh: 43
3.2 Các giải pháp hoàn thiện công tác phân tích tài chính tại CÔNG TY CỔ PHẦN LIÊN HIỆP ĐẦU TƯ XÂY DỰNG NÔNG THÔN VIỆT NAM 45
Trang 33.2.1 Hoàn thiện phương pháp phân tích 45
3.2.2 Hoàn thiện nguồn thông tin sử dụng 46
3.2.3 Hoàn thiện nội dung phân tích tài chính 47
3.3 Kiến nghị: 53
KẾT LUẬN 56
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 57
Trang 4DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU
I BẢNG
Bảng 1: Kết quả kinh doanh của công ty 26
Bảng 2: Kế hoạch vay vốn tổng hợp các công trình 31
Bảng 3: Phân tích tài sản 32
Bảng 4: Tỷ trọng tài sản 33
Bảng 5: Phân tích nguồn vốn 35
Bảng 6: Tỷ trọng nguồn vốn 36
Bảng 7: Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh 38
Bảng 8: Tỷ trọng doanh thu hoạt động kinh doanh (%) 38
Bảng 9: Kế hoạch sản xuất kinh doanh năm 2011 - 2012 44
Bảng 10: Phân tích Dupont 46
Bảng 11: Phân tích lợi nhuận biên 48
Bảng 12: Phân tích hệ số sinh lợi của tài sản (ROA) 48
Bảng 13: Phân tích hệ số nợ tổng tài sản 49
Bảng 14: Phân tích hệ số nợ vốn cổ phần 49
Bảng 15: Phân tích khả năng thanh toán 50
Bảng 16: Phân tích vòng quay hàng tồn kho 51
Bảng 17: Về nhu cầu vốn lưu động thường xuyên 51
Bảng 18: Về vốn lưu động thường xuyên 52
Bảng 19: Tình hình đảm bảo nguồn vốn cho hoạt động kinh doanh 52
II BIỂU ĐỒ Biểu đồ 1: Kết quả kinh doanh giai đoạn 2009 – 2011 27
Biểu đồ 2: Tình hình đảm bảo nguồn vốn cho hoạt động kinh doanh 53
III SƠ ĐỒ Sơ đồ 1: Sơ đồ tổ chức sản xuất kinh doanh của CÔNG TY CỔ PHẦN LIÊN HIỆP ĐẦU TƯ XÂY DỰNG NÔNG THÔN VIỆT NAM 23
Trang 5Sơ đồ 2: Quy trình phê duyệt báo cáo tài chính 27
LỜI MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài:
Quản trị tài chính là một bộ phận quan trọng của quản trị doanh nghiệp Tất cả cáchoạt động kinh doanh đều ảnh hưởng tới tình hình tài chính của doanh nghiệp,ngược lại tình hình tài chính tốt hay xấu lại có tác động thúc đẩy hoặc kìm hãm quátrình kinh doanh Do đó, để phục vụ cho công tác quản lý hoạt động kinh doanh cóhiệu quả các nhà quản trị cần phải thường xuyên tổ chức phân tích tình hình tàichính cho tương lai Bởi vì thông qua việc tính toán, phân tích tài chính cho ta biếtnhững điểm mạnh và điểm yếu về hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệpcũng như những tiềm năng cần phát huy và những nhược điểm cần khắc phục Qua
đó các nhà quản lý tài chính có thể xác định được nguyên nhân gây ra và đề xuấtcác giải pháp nhằm cải thiện tình hình tài chính cũng như tình hình hoạt động kinhdoanh của đơn vị mình trong thời gian tới
Xuất phát từ đó, trong thời gian thực tập tại Công ty Cổ phần Liên hiệp đầu tư Xây dựng nông thôn Việt Nam, em đã cố gắng tìm hiểu thực tiễn hoạt động sản xuất
kinh doanh của Công ty thông qua phân tích tình hình tài chính Công ty trong vàinăm gần đây nhằm mục đích tự nâng cao hiểu biết của mình về vấn đề tài chínhdoanh nghiệp nói chung, phân tích tài chính nói riêng Vì vậy, em chọn đề tài “
Phân tích tài chính và các giải pháp nhằm tăng cường năng lực tài chính tại Công
ty Cổ phần Liên hiệp đầu tư Xây dựng nông thôn Việt Nam” làm chuyên đề thực
tập tốt nghiệp
2 Mục đích nghiên cứu:
Tìm hiểu hoạt động phân tích tại chính tại Công ty Cổ phần Liên hiệp đầu
tư Xây dựng nông thôn Việt Nam trong những năm gần đây, xác định những đạt
được và tồn tại trong quá trình phân tích, từ đó đưa ra những giải pháp hoàn thiệnhoạt động này
3 Phạm vi nghiên cứu:
Nghiên cứu hoạt động phân tích tài chính tại Công ty Cổ phần Liên hiệp đầu tư Xây dựng nông thôn Việt Nam
Trang 64 Phương pháp nghiên cứu:
Các phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong phạm vi đề tài này là:Phương pháp phân tích tổng hợp lý thuyết, phương pháp phân tích chỉ số, so sánhvà phương pháp tỷ lệ
5 Kết cấu chuyên đề:
Nội dung bao gồm 3 chương:
Chương I: Khái quát về hoạt động phân tích tài chính doanh nghiệp
Chương II: Hoạt động phân tích tài chính tại Công ty Cổ phần Liên hiệp đầu tư Xây dựng nông thôn Việt Nam.
Chương III: Giải pháp hoàn thiện công tác phân tích tài chính tại Công ty Cổ phần Liên hiệp đầu tư Xây dựng nông thôn Việt Nam.
Trang 7CHƯƠNG I KHÁI QUÁT VỀ HOẠT ĐỘNG PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH
1.1.2 Sự cần thiết của hoạt động phân tích tài chính doanh nghiệp.
Trong hoạt động kinh doanh, các doanh nghiệp thuộc các loại hình sở hữukhác nhau, đều bình đẳng trước pháp luật trong việc lựa chọn ngành nghề, lĩnh vựckinh doanh Do vậy sẽ có nhiều đối tượng quan tâm đến tình hình tài chính củadoanh nghiệp như: chủ doanh nghiệp, nhà tài trợ, nhà cung cấp, khách hàng, kể cảcác cơ quan nhà nước và người làm công, mỗi đối tượng quan tâm đến tình hình tàichính của doanh nghiệp trên các góc độ khác nhau
a Hoạt động phân tích tài chính đối với các nhà quản trị.
Phân tích hoạt động tài chính doanh nghiệp mà trọng tâm là phân tích cácbáo cáo tài chính và các chỉ tiêu đặc trưng tài chính thông qua một hệ thống cácphương pháp, công cụ và kỹ thuật phân tích, giúp người sử dụng thông tin từ cácgóc độ khác nhau, vừa đánh giá toàn diện, tổng hợp, khái quát lại vừa xem xét mộtcách chi tiết hoạt động tài chính doanh nghiêp, để nhận biết, phán đoán, dự báo vàđưa ra quyết định tài chính, quyết định tài trợ và đầu tư phù hợp
Các hoạt động nghiên cứu tài chính trong doanh nghiệp được gọi là phân tíchtài chính nội bộ, được thực hiện bởi những nhà phân tích tài chính trong doanhnghiệp Chính vì vậy mà nó chính xác hơn nhiều những phân tích tài chính bênngoài do những nhà phân tích tài chính ngoài doanh nghiệp tiến hành Điều này là
do những nhà phân tích trong doanh nghiệp họ có nhiều thông tin hơn và nắm rõhơn về tình hình tài chính doanh nghiệp
Phân tích tài chính nội bộ rất cần thiết trong doanh nghiệp bởi nó có nhữngvai trò không thể phủ nhận:
Trang 8- Tạo thành các chu kỳ đánh giá đều đặn về các hoạt động kinh doanh, giúpnhà quản trị tài chính đánh giá được hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, xácđịnh điểm mạnh và điểm yếu của doanh nghiệp, từ đó tiến hành những phương phápđiều chỉnh phù hợp như cân đối tài chính, khả năng sinh lời, khả năng thanh toán,rủi ro tài chính của doanh nghiệp
- Định hướng cho các quyết định của Hội đồng quản trị, Ban Giám đốc cũngnhư Giám đốc tài chính về đầu tư, tài trợ hay phân chia lợi tức cổ phần
- Là cơ sở cho các dự báo tài chính trong tương lai: kế hoạch đầu tư, kếhoạch chi trả cổ tức,
- Phân tích tài chính cũng là công cụ để kiểm soát các hoạt động quản lý, xácđịnh tính hiệu quả của các quyết định đã được đưa ra và thực hiện trong doanhnghiệp,
Phân tích tài chính làm nổi bật tầm quan trọng của dự báo tài chính và là cơ
sở cho các nhà quản trị, làm sáng tỏ không chỉ chính sách tài chính mà còn làm rõcả những chính sách chung của doanh nghiệp
b Hoạt động phân tích tài chính đối với các nhà đầu tư.
Phân tích tài chính đối với các nhà đầu tư là để đánh giá doanh nghiệp, ướcđoán giá trị cổ phiếu dựa vào việc nghiên cứu các báo cáo tài chính, khả năng sinhlợi, rủi ro phát sinh Nhà đầu tư có thể là các cá nhân hoặc các tổ chức đã giao vốncho doanh nghiệp – trong trường hợp này họ là cổ đông của doanh nghiệp, hoặc lànhững người có vốn đang nhàn rỗi, có nhu cầu và ý định đầu tư sử dụng vốn để muacổ phiếu của doanh nghiệp Thu nhập của nhà đầu tư sẽ là tiền chia lợi tức và giá trịtăng thêm của vốn đầu tư (thu nhập trên cổ phiếu), hai yếu tố này chịu ảnh hưởngrất lớn của lợi nhuận kỳ vọng của doanh nghiệp Ngoài ra, một phần không nhỏ thunhập mà các nhà đầu tư kỳ vọng là phần giá trị tăng thêm của vốn đầu tư do sự biếnđộng của giá cổ phiếu trên thị trường
Các nhà đầu tư thường không thỏa mãn với lợi nhuận tính theo sổ sách kếtoán của doanh nghiệp, họ cho rằng món lợi này có quan hệ rất xa so với tiền lờithực sự Chính vì vậy họ thường dựa vào kết quả phân tích tài chính của các nhàchuyên môn để dự báo về triển vọng của doanh nghiệp, từ đó đánh giá cổ phiếu củadoanh nghiệp Các nhà đầu tư thường rất quan tâm đến tình hình thu nhập của chủsử hữu, khả năng sinh lời của doanh nghiệp, thu nhập trên cổ phiếu Đây là nhữngyếu tố giúp nhà đầu tư đưa ra quyết định có nên bỏ vốn vào doanh nghiệp haykhông, nên mua thêm vào hay bán ra số lượng cổ phiếu họ đang nắm giữ trong tay
c Hoạt động phân tích tài chính đối với người cho vay.
Trang 9Người cho vay phân tích tài chính để nhận biết đánh giá khả năng vay và trảnợ của khách hàng Để quyết định cho vay, một trong những vấn đề mà người chovay cần xem xét là doanh nghiệp có thực sự có nhu cầu vay hay không? Mục đíchsử dụng vốn vay của họ là gì? Khả năng trả nợ của doanh nghiệp đến đâu? Rủi ro cóthể phát sinh trong quá trình kinh doanh là gì? Chính vì vậy, việc phân tích tàichính khách hàng là rất cần thiết nhằm xác định rõ tình hình tài chính hiện tại củakhách hàng, giá trị tài sản, khả năng thanh toán, Ngoài ra, có thể dự báo về tìnhhình tài chính của khách hàng trong tương lai, đưa ra những khả năng rủi ro có thểxảy ra ảnh hưởng đến khả năng trả nợ của khách hàng.
Việc phân tích tài chính đối với những khoản nợ dài hạn và ngắn hạn là có sựkhác nhau:
- Đối với những khoản cho vay ngắn hạn, người cho vay đặc biệt quan tâmđến khả năng thanh toán nhanh của doanh nghiệp
- Đối với những khoản cho vay dài hạn, bên cạnh lãi suất, người cho vay cầnphải quan tâm đến khả năng hoàn trả cả gốc lẫn lãi trong thờ gian dài của doanhnghiệp Do đó, họ cần xem xét tình hình tài chính của doanh nghiệp trên cả hai giácđộ lợi nhuận và sự ổn định lâu dài của hoạt động kinh doanh Như vậy người chovay sẽ đặc biệt quan tâm đến các chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lãi và cơ cấunguồn vốn của doanh nghiệp
d Hoạt động phân tích tài chính đối với những người lao động trong doanh nghiệp.
Nguồn thu nhập chính của người lao động là khoản tiền lương họ nhận được
từ doanh nghiệp Do đó, kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh sẽ có những ảnhhưởng lớn đến thu nhập của họ Nếu doanh nghiệp làm ăn có lãi thì người lao độngsẽ yên tâm rằng thu nhập của họ sẽ ổn định theo hướng tăng lên, còn nếu doanhnghiệp thua lỗ, họ sẽ lo lắng rằng tiền lương của mình liệu có giữ được ở mức hiệntại không Chính vì vậy, người lao động rất quan tâm đến tình hình tài chính củadoanh nghiệp Phân tích tài chính giúp họ định hướng được tình hình hiện tại củadoanh nghiệp, từ đó yên tâm dốc sức vào hoạt động sản xuất kinh doanh của doanhnghiệp, nhanh chóng hoàn thành tốt công việc được phân công đảm nhiệm Ngoài
ra, hiện nay tại các doanh nghiệp cổ phần, phần lớn người lao động cũng chính lànhững người nắm giữ cổ phiếu của doanh nghiệp Khi này, họ cũng lại đứng trên
Trang 10phương diện là nhà đầu tư quan tâm đến phân tích tài chính để đưa ra những quyếtđịnh đầu tư của mình.
Phân tích tài chính cũng rất cần thiết đối với một số đối tượng khác như cánbộ thuế, thanh tra, cảnh sát kinh tế, luật sư, Tùy từng vị trí khác nhau mà họ cónhững quan tâm khác nhau đối với hoạt động của doanh nghiệp nhằm phục vụ chocông việc của mình
1.2 Thông tin, phương pháp và nội dung phân tích tài chính doanh nghiệp 1.2.1 Thông tin được sử dụng trong phân tích tài chính.
1.2.1.1 Thông tin từ báo cáo của doanh nghiệp.
1.2.1.1.1 Bảng cân đối kế toán.
Bảng cân đối kế toán là một báo cáo tài chính chủ yếu phản ánh tổng quáttình hình tài sản của doanh nghiệp theo giá trị tài sản và nguồn hình thành tài sản đótại một thời điểm nhất định Bảng cân đối kế toán được kết cấu dưới dạng bảng cânđối số dư các tài khoản kế toán và trật tự các chỉ tiêu được sắp xếp theo yêu cầuquản lý (theo thứ tự tính thanh khoản giảm dần đối với tài sản và tính ổn định tăngdần của nguồn vốn)
Bảng được chia hai phần: “Tài sản” và “Nguồn vốn” luôn được cân đối theoquan hệ:
Tổng tài sản = Tổng nguồn vốn
a Phần nguồn vốn: phản ánh cơ cấu nguồn vốn được huy động vào sản xuất kinh doanh Toàn bộ nguồn vốn được chia thành:
Nguồn vốn vay nợ:
- Nợ ngắn hạn: là khoản tiền mà doanh nghiệp có trách nhiệm trả trong vòngmột chu kỳ hoạt động kinh doanh bình thường hoặc trong vòng một năm
- Nợ dài hạn: là các khoản nợ dài hơn một năm hoặc phải trả sau một kỳ kinhdoanh, không phân biệt đối tượng cho vay và mục đích vay
Vốn chủ sở hữu: đây là các nguồn vốn thuộc sở hữu của chủ doanh nghiệp vàcác thành viên trong công ty liên doanh hoặc các cổ đông trong công ty cổ phần Có
3 nguồn chính tạo nên vốn chủ sở hữu: số tiền góp vốn của các nhà đầu tư, tổng sốtiền tạo ra từ kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh (lãi chưa phân phối) và tăngvốn bằng cách phát hành cổ phiếu mới
Ngoài ra vốn chủ sở hữu còn bao gồm vốn đầu tư xây dựng cơ bản và kinh
Trang 11phí sự nghiệp.
Trang 12b Phần tài sản: phản ánh quy mô và kết cấu các loại tài sản của doanh nghiệp Toàn bộ tài sản gồm hai loại:
- Tài sản lưu động: đây là những tài sản thuộc quyền sở hữu của doanhnghiệp mà thời gian sử dụng, thu hồi, luân chuyển thường là dưới 1 năm hoặc 1 chu
kỳ kinh doanh Bao gồm:
+ Vốn bằng tiền: gồm tiền mặt tại quỹ, tiền gửi ngân hàng và các khoản tiềnđang chuyển
+ Đầu tư ngắn hạn: là việc bỏ vốn mua các chứng khoán có giá trị hoặc gópvốn liên doanh bằng tiền, hiện vật có thể thu hồi kịp thời trong một chu kỳ kinhdoanh hoặc trong thời hạn không quá một năm, và các loại đầu tư khác không quámột năm
+ Các khoản phải thu
+ Dự phòng phải thu khó đòi: các khoản thu khó đòi ghi tại đây được coi nhưlà chi phí trong kỳ
+ Tạm ứng và chi phí trả trước
+ Vật tư hàng hóa tồn kho: bao gồm vật tư, hàng hóa, thành phẩm, giá trị sảnphẩm dở dang
Ngoài ra tài sản lưu động còn bao gồm các khoản chi phí sự nghiệp dở danghoặc đã kết thúc nhưng đang chờ quyết toán
- Tài sản cố định: phản ánh ba giá trị của tài sản cố định: nguyên giá, giá trịhao mòn lũy kế và giá trị còn lại Tài sản cố định bao gồm không những toàn bộ tàisản cố định hiện có thuộc sở hữu doanh nghiệp, hình thành từ các nguồn vốn khácnhau mà còn bao gồm các tài sản cố định doanh nghiệp đi thuê dài hạn của bênngoài (thuê tài chính)
+ Tài sản cố định hữu hình: là những tài sản có tính vật chất như nhà cửa,máy móc thiết bị
+ Tài sản cố định đi thuê dài hạn
+ Tài sản cố đinh vô hình là tài sản cố định không có hình thái vật chất, lànhững giá trị biểu hiện những quyền của doanh nghiệp như quyền đặc nhượng,quyền sử dụng, giá trị bằng phát minh sáng chế, lợi thế thương mại
+ Hao mòn lũy kế tài sản cố định: giá trị hao mòn lũy kế của ba loại tài sảncố định kể trên được ghi ở khoản này
+ Đầu tư dài hạn
Trang 131.2.1.1.2 Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh
Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh là báo cáo tổng hợp cho biết tình hìnhtài chính của doanh nghiệp tại những thời kỳ nhất định Dựa vào số liệu trên báocáo kết quả hoạt động kinh doanh người sử dụng thông tin có thể kiểm tra, phântích, đánh giá kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trong kỳ; so sánh vớicác kỳ trước và với các doanh nghiệp khác cùng ngành để nhận biết khái quát kếtquả hoạt động của doanh nghiệp trong kỳ và xu hướng vận động, nhằm đưa ra cácquyết định quản lý, quyết định tài chính phù hợp Bản báo cáo bao gồm 2 phần:
- Phần kết quả hoạt động kinh doanh (Lãi, lỗ) : phản ánh kết quả hoạt độngkinh doanh, kết quả hoạt động tài chính và kết quả bất thường của kỳ trước, số phátsinh trong kỳ và số lũy kế từ đầu năm
- Phần tình hình thực hiện nghĩa vụ với nhà nước: gồm các chỉ tiêu phản ánhtình hình thực hiện nghĩa vụ của doanh nghiệp với Nhà nước theo từng chỉ tiêu nhưnộp thuế, Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn
1.2.1.1.3 Báo cáo lưu chuyển tiền tệ
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ là một trong bốn báo cáo tài chính bắt buộc màbất kỳ doanh nghiệp nào cũng phải lập để cung cấp cho người sử dụng thông tin củadoanh nghiệp, được lập để trả lời các vấn đề liên quan đến các luồng tiền vào, ratrong doanh nghiệp, tình hình tài trợ, đầu tư bằng tiền của doanh nghiệp trong từngthời kỳ
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ cung cấp những thông tin về những luồng tiềnvào, ra của tiền và coi như tiền, những khoản đầu tư ngắn hạn có tính lưu động cao,
có thể nhanh chóng và sẵn sàng chuyển đổi thành một khoản tiền biết trước ít chịurủi ro lỗ về giá trị do những sự thay đổi về lãi suất Những luồng tiền vào, ra và cáckhoản coi như tiền được tổng hợp và chia thành 3 nhóm: lưu chuyển tiền tệ từ hoạtđộng sản xuất kinh doanh; lưu chuyển tiền tệ từ hoạt động đầu tư và lưu chuyển tiềntệ từ hoạt động tài chính và được lập theo phương pháp trực tiếp hoặc gián tiếp
Những thông tin từ báo cáo lưu chuyển tiền tệ và những thông tin ở các báocáo tài chính khác, giúp cho người sử dụng phân tích, đánh giá khả năng tạo ra cácluồng tiền trong tương lai, khả năng thanh toán các khoản nợ, khả năng chi trả tiềnlãi cổ phần Đồng thời những thông tin này còn giúp người sử dụng nó xem xét sựkhác nhau giữa doanh thu và chi phí và các khoản thu chi
Trang 14Báo cáo lưu chuyển tiền tệ phản ánh ba mục thông tin chủ yếu:
- Lưu chuyển tiền tệ từ hoạt động sản xuất kinh doanh: phần này phản ánhcác khoản tiền đã thu được và đã chi trong quá trình sản xuất kinh doanh Nguồntiền được cung cấp ở đây chủ yếu là tiền thu về bán hàng và cung cấp dịch vụ
- Lưu chuyển tiền tệ từ hoạt động đầu tư: phần này phản ánh các khoản chitiền đầu tư vào các đơn vị khác dưới hình thức mua cổ phiếu, trái phiếu, góp vốnliên doanh, chi mua sắm tài sản cố định và thu tiền đầu tư do bán cổ phiếu, tráiphiếu đã mua, tiền lãi thu được từ các khoản đầu tư vào các đơn vị khác, thu bán,thanh lý tài sản cố định
- Lưu chuyển tiền tệ từ hoạt động tài chính: phần này phản ánh các khoảntiền thu được từ các chủ sở hữu hoặc các nhà đầu tư, và các khoản tiền chi ra đểmua lại cổ phiếu của chủ sở hữu, trả cổ tức cho cổ đông
1.2.1.2 Thông tin từ bên ngoài doanh nghiệp
Trong báo cáo phân tích tài chính, ngoài những thông tin từ các báo cáo tàichính như đã trình bày ở trên, doanh nghiệp còn cần phải quan tâm cân nhắc tớinhững yếu tố khác bên ngoài có ảnh hưởng tới công tác này như: chế độ kế toán,chuẩn mực kế toán, chuẩn mực kiểm toán được ban hành và chính sách pháp luật,sự thay đổi trong lãi suất cho vay của thị trường, yêu cầu và định hướng của doanhnghiệp trong hoạt động sản xuất kinh doanh
Việc chú ý xem xét và có những đánh giá phù hợp đối với những thông tin từbên ngoài sẽ giúp cho công tác phân tích tài chính của doanh nghiệp trở nên hiệuquả hơn và bao quát được nhiều khía cạnh hơn
1.2.2 Phương pháp sử dụng
Phương pháp phân tích tài chính bao gồm một hệ thống các công cụ và biệnpháp nhằm tiếp cận, nghiên cứu các sự kiện hiện tượng, các mối quan hệ bên trongvà bên ngoài, các luồng dịch chuyển và biến đổi tài chính, các chỉ tiêu tài chính tổnghợp và chi tiết, nhằm đánh giá tình hình tài chính doanh nghiệp
Về lý thuyết, có nhiều phương pháp phân tích tài chính doanh nghiệp, nhưngtrên thực tế người ta thường sử dụng ba phương pháp chính là phương pháp tỷ lệ,phương pháp so sánh, và phương pháp phân tích chỉ số
1.2.2.1 Phương pháp tỷ lệ:
Phương pháp này dựa trên ý nghĩa chuẩn mực các tỷ lệ của đại lượng tài chínhtrong các quan hệ tài chính Sự biến đổi của các tỷ lệ, cố nhiên là sự biến đổi của các đạilượng tài chính Về nguyên tắc, phương pháp tỷ lệ yêu cầu phải xác định được cácngưỡng, các định mức, để nhận xét, đánh giá tình hình tài chính doanh nghiệp, dựa trên
Trang 15cơ sở so sánh các tỷ lệ của doanh nghiệp với giá trị các tỷ lệ tham chiếu.
Trong phân tích tài chính doanh nghiệp, các tỷ lệ tài chính được phânthành các nhóm tỷ lệ đặc trưng, phản ánh những nội dung cơ bản theo mục tiêuhoạt động của doanh nghiệp Đó là các nhóm tỷ lệ về khả năng thanh toán, nhóm
tỷ lệ về cơ cấu vốn, nhóm tỷ lệ về năng lực hoạt động kinh doanh, nhóm tỷ lệ vềkhả năng sinh lời
Mỗi nhóm tỷ lệ lại bao gồm nhiều tỷ lệ phản ánh riêng lẻ, từng bộ phận củahoạt động tài chính trong mỗi trường hợp khác nhau, tùy theo giác độ phân tích,người phân tích lựa chọn các nhóm chỉ tiêu khác nhau để phục vụ cho mục tiêuphân tích của mình
Ưu điểm: Phương pháp này cho thấy rõ cơ cấu, tỷ trọng của từng đại lượngtài chính cụ thể trong con số tổng quát; dễ dàng nhận thấy độ lớn và thành phần củatừng yếu tố đơn lẻ trong một giá trị chung, tạo tiền đề cho việc so sánh với các giátrị tham chiếu
Hạn chế: Chỉ đưa ra được con số phản ánh cơ cấu trong bản thân các đạilương tài chính tổng quát
1.2.2.2 Phương pháp so sánh:
Để áp dụng phương pháp so sánh cần phải đảm bảo các điều kiện có thể sosánh được của các chỉ tiêu tài chính (thống nhất về không gian, nội dung, tính chấtvà đơn vị tính toán) và theo mục đích phân tích mà xác định gốc so sánh Gốc sosánh được chọn là gốc về mặt thời gian hoặc không gian, kỳ phân tích được lựachọn là kỳ báo cáo hoặc kỳ kế hoạch, giá trị so sánh có thể được lựa chọn bằng sốtuyệt đối, số tương đối hoặc số bình quân Nội dung so sánh bao gồm:
+ So sánh giữa số thực hiện kỳ này với số thực hiện kỳ trước để thấy rõ xuhướng thay đổi về tình hình tài chính doanh nghiệp; đánh giá sự tăng trưởng haythụt lùi trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
+ So sánh giữa số thực hiện với số kế hoạch để thấy mức độ phấn đấu củadoanh nghiệp
+ So sánh giữa số liệu của doanh nghiệp với số liệu trung bình của ngành củacác doanh nghiệp khác để đánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp mình tốthay xấu
+ So sánh theo chiều dọc để xem xét tỷ trọng của từng chỉ tiêu so với tổngthể, so sánh theo chiều ngang của nhiều kỳ để thấy được sự biến đổi cả về số tươngđối và tuyệt đối của một chỉ tiêu nào đó qua các niên độ kế toán liên tiếp
Ưu điểm: Phương pháp này cho phép dễ dàng nhận ra sự thay đổi của các đại
Trang 16lượng tài chính qua các kỳ kinh doanh, hay trong xu hướng chung của toàn ngành,nhanh chóng đưa ra được những nhận xét đánh giá cần thiết về những biến đổi đó,là cơ sở để điểu chỉnh các hoạt động tài chính trong tương lai.
Hạn chế: Để việc so sánh thực sự có hiệu quả và đạt giá trị cao thì nguồnthông tin phải đảm bảo đầy đủ, các số liệu phải được so sánh qua một chuỗi thờigian đủ dài để có thể đưa ra được xu hướng thay đổi rõ ràng, việc tính toán phảihoàn thiện, tạo cơ sở để so sánh một cách chính xác và có ý nghĩa
1.2.2.3 Phương pháp phân tích chỉ số:
Đây là một phương pháp rất cơ bản nhằm phân tích hoạt động kinh doanhcủa doanh nghiệp Hệ thống chỉ số cung cấp cái nhìn rất cụ thể và rõ ràng đối vớitừng mảng hoạt động tài chính của doanh nghiệp Thông qua các chỉ số, con sốđược tính toán mà nhà quản lý, nhà đầu tư và những đối tượng quan tâm khác có thể
so sánh đánh giá được tình hình tài chính của doanh nghiệp một cách dễ dàng vàhiệu quả
Trong hoạt động phân tích tài chính, hệ thống những chỉ số được đưa ra rấtcụ thể, bao gồm những nhóm chỉ tiêu chính:
- Nhóm chỉ tiêu về khả năng thanh toán;
- Nhóm chỉ tiêu về cơ cấu tài chính;
- Nhóm chỉ tiêu về năng lực hoạt động;
- Nhóm chỉ tiêu về lợi nhuận và phân phối lợi nhuận;
Ưu điểm: Phương pháp này cho phép đánh giá được chi tiết từng khả năngtài chính của doanh nghiệp Đây là một phương pháp đòi hỏi những nguồn thông tintổng hợp từ cả ba báo cáo tài chính của doanh nghiệp Như vậy ta có thể nhìn nhậnđược tương đối tổng quát và đầy đủ khả năng thanh toán, cơ cấu tài chính củadoanh nghiệp
Hạn chế: Việc sử dụng phương pháp này bên cạnh tính toán những con số cụthể, người tiến hành phân tích cần phải có một lượng kiến thức và khả năng chuyênmôn tương đối rộng để có thể đưa ra được những nhận xét đánh giá mang tính chínhxác cao và tăng hiệu quả phân tích
1.2.3 Nội dung phân tích
1.2.3.1 Phân tích khái quát tình hình tài sản và nguồn vốn, tình hình thu, chi trong doanh nghiệp
a Phân tích diễn biến nguồn vốn, sử dụng tài sản, luồng tiền vào, ra trong doanh nghiệp
Phân tích diễn biến nguồn vốn và sử dụng vốn là xem xét và đánh giá sự thay
Trang 17đổi các chỉ tiêu cuối kỳ so với đầu kỳ trên Bảng cân đối kế toán về nguồn vốn vàcách thức sử dụng vốn của doanh nghiệp.
Nội dung phân tích này cho ta biết trong một kỳ kinh doanh nguồn vốn tănggiảm bao nhiêu, tình hình sử dụng vốn như thế nào, những chỉ tiêu nào là chủyếu ảnh hưởng đến sự tăng giảm nguồn vốn và sử dụng vốn của doanh nghiệp
Từ đó có giải pháp khai thác các nguồn vốn và nâng cao hiệu quả sử dụng vốntrong doanh nghiệp
Ngoài việc phân tích diễn biến nguồn vốn, sử dụng vốn, trên thực tế,người ta còn sử dụng phương pháp phân tích theo luồng tiền Phương pháp nàydựa vào dòng tiền mặt đầu kỳ và cuối kỳ so sánh với nhau Sau đó xác địnhnguyên nhân làm thay đổi tăng (giảm) tiền mặt cuối kỳ so với đầu kỳ, dựa vào sựthay đổi trong từng chỉ tiêu của bảng cân đối kế toán Mỗi sự thay đổi cuối kỳ sovới đầu kỳ trong từng chỉ tiêu của bảng cân đối kế toán đều dẫn đến sự tăng(giảm) tiền mặt tương ứng
Phương pháp này giúp ta xác định khả năng chuyển đổi vật tư, hàng hóa vàtài sản thành tiền mặt trong kỳ
b Phân tích tình hình vốn lưu động và nhu cầu vốn lưu động.
Để tiến hành sản xuất kinh doanh các doanh nghiệp cần có tài sản bao gồmtài sản lưu động và tài sản cố định Để hình thành 2 loại tài sản này phải có cácnguồn vốn tài trợ tương ứng bao gồm nguồn vốn ngắn hạn và nguồn vốn dài hạn
- Nguồn vốn ngắn hạn là nguồn vốn mà doanh nghiệp sử dụng trong khoảngthời gian dưới 1 năm cho hoạt động sản xuất kinh doanh bao gồm các nợ ngắn hạn,nợ quá hạn, nợ nhà cung cấp và nợ phải trả ngắn hạn khác
- Nguồn vốn dài hạn là nguồn vốn doanh nghiệp sử dụng lâu dài cho hoạtđộng kinh doanh như vốn chủ sở hữu, vốn vay nợ trung, dài hạn
Nguồn vốn dài hạn trước hết được đầu tư để hình thành tài sản cố định,phần dư của nguồn vốn dài hạn và nguồn vốn ngắn hạn được đầu tư hình thànhtài sản lưu động Chênh lệch giữa nguồn vốn dài hạn với tài sản cố định haygiữa tài sản lưu động với nguồn vốn ngắn hạn được gọi là vốn lưu động thườngxuyên Vốn lao động thường xuyên là một chỉ tiêu tổng hợp rất quan trọng đểđánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp, chỉ tiêu này cho biết hai điều cốtyếu Một là doanh nghiệp có đủ khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn haykhông Hai là tài sản cố định của doanh nghiệp có được tài trợ một cách vữngchắc bằng nguồn vốn dài hạn không
Ngoài khái niệm vốn lưu động thường xuyên, để nghiên cứu tình hình đảm
Trang 18bảo vốn cho hoạt động kinh doanh người ta còn sử dụng chỉ tiêu nhu cầu vốn lưuđộng thường xuyên để phân tích.
Nhu cầu vốn lưu động thường xuyên là lượng vốn ngắn hạn doanh nghiệpcần để tài trợ cho một phần tài sản lưu động, đó là hàng tồn kho và các khoản phảithu (TSLĐ không phải là tiền)
c Phân tích kết cấu tài sản và nguồn vốn trong bảng cân đối kế toán.
Phân tích kết cấu tài sản và nguồn vốn ngoài việc so sánh cuối kỳ so với đầu
kỳ về số tuyệt đối và tỷ trọng, ta còn phải so sánh, đánh giá tỷ trọng từng loại tài sảnvà nguồn vốn chiếm trong tổng số và xu hướng biến động của chúng
d Phân tích khái quát các chỉ tiêu tài chính trung gian và cuối cùng trong báo cáo kết quả kinh doanh.
Mục tiêu phân tích là xác định mối liên hệ và đặc điểm các chỉ tiêu trong báocáo kết quả kinh doanh, đồng thời so sánh chúng qua một số niên độ kế toán liêntiếp và với số liệu trung bình của ngành (nếu có) để đánh giá xu hướng thay đổitừng chỉ tiêu và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp so vói các doanh nghiệp khác
1.2.3.2 Phân tích các nhóm chỉ tiêu đặc trưng tài chính doanh nghiệp
a Nhóm chỉ tiêu về khả năng thanh toán
Tình hình tài chính doanh nghiệp được thể hiện khá rõ nét qua các chỉ tiêu vềkhả năng thanh toán của doanh nghiệp Khả năng thanh toán của doanh nghiệp phảnánh mối quan hệ tài chính giữa các khoản có khả năng thanh toán trong kỳ với cáckhoản phải thanh toán trong kỳ Nhóm chỉ tiêu này bao gồm các chỉ tiêu chủ yếusau:
(1) Hệ số thanh toán ngắn hạn
Hệ số thanh toán ngắn hạn = Tài sản lưu động và đầu tư ngắn hạnTổng số nợ ngắn hạn
Hệ số này càng cao, khả năng trả nợ ngắn hạn của doanh nghiệp càng lớn.Nếu hệ số này nhỏ hơn 1 thì doanh nghiệp có khả năng không hoàn thành đượcnghĩa vụ trả nợ của mình khi tới hạn Mặc dù với tỷ lệ nhỏ hơn 1, có khả năngkhông đạt được tình hình tài chính tốt, nhưng điều đó không có nghĩa là công ty sẽbị phá sản vì có rất nhiều cách để huy động thêm vốn
Tỷ lệ này cho phép hình dung ra chu kì hoạt động của công ty xem có hiệuquả không, hoặc khả năng biến sản phẩm thành tiền mặt có tốt không Nếu công tygặp phải rắc rối trong vấn đề đòi các khoản phải thu hoặc thời gian thu hồi tiền mặt
Trang 19kéo dài, thì công ty rất dễ gặp phải rắc rối về khả năng thanh khoản.
(2) Hệ số thanh toán nhanh
Hệ số thanh toán nhanh = Tiền + các khoản phải thuTổng số nợ ngắn hạn
Hệ số thanh toán nhanh là một hệ số khắt khe hơn nhiều so với hệ số khảnăng thanh toán ngắn hạn bởi vì nó đã loại trừ hàng tồn kho ra khỏi công thức tínhtoán Công thức này được các nhà đầu tư sử dụng khá phổ biến
Hệ số này nói lên tình trạng tài chính ngắn hạn của một công ty có lành mạngkhông Nếu một công ty có hệ số thanh toán nhanh nhỏ hơn 1, nó sẽ không đủ khảnăng thanh toán ngay lập tức toàn bộ các khoản nợ ngắn hạn và cần phải rất cẩntrọng khi đầu tư vào những công ty như vậy Nếu hệ số thanh toán nhanh nhỏ hơnhệ số thanh toán ngắn hạn rất nhiều chứng tỏ tài sản ngắn hạn phụ thuộc rất lớn vàhàng tồn kho, đây là một ví dụ của các công ty bán lẻ Trong trường hợp này tínhthanh khoản của tài sản ngắn hạn là tương đối thấp Ngoài ra có thể so sánh hệ sốthanh toán nhanh của năm nay với năm trước để nhận diện xu hướng biến động, sosánh với hệ số của doanh nghiệp cùng ngành để đánh giá tương quan cạnh tranh.(3) Hệ số thanh toán tức thời
Hệ số thanh toán
Sau khi xác định các chỉ tiêu trên, xí nghiệp tiến hành phân tích chi tiết nhucầu và khả năng thanh toán nhằm đánh giá chính xác tình hình thanh toán của doanhnghiệp trước mắt và triển vọng trong thời gian tới
b Nhóm chỉ tiêu về cơ cấu tài chính.
(1) Hệ số nợ tổng tài sản
Hệ số nợ tổng tài sản = Tổng nợ
Tổng tài sản
Trang 20Tổng nợ bao gồm nợ ngắn hạn và nợ dài hạn phải trả Còn tổng tài sản baogồm tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn hay chính là toàn bộ giá trị đầu tư cho sảnxuất kinh doanh của doanh nghiệp, được thể hiện trọng phần “Tài sản” của Bảngcân đối kế toán.
Hệ số nợ cho biết phần trăm tổng tài sản được tài trợ bằng nợ Hệ số nợ càngthấp thì hiệu ứng đòn bẩy tài chính càng ít, hệ số nợ càng cao thì hiệu ứng đòn bẩycàng cao Tuy nhiên muốn biết tỷ số này cao hay thấp phải so sánh với tỷ số nợ củabình quân ngành, với hệ số nợ của các năm trước để đánh giá hiệu quả tài chính củadoanh nghiệp
(2) Hệ số khả năng thanh toán lãi vay
Hệ số khả năng thanh toán lãi vay = Lợi nhuận trước thuế + lãi vay
Lãi vayLãi vay của doanh nghiệp bao gồm tổng chi phí trả lãi cho các khoản vayngắn hạn, các khoản vay trung và dài hạn và các khoản vay mượn dưới các hìnhthức khác
Chỉ tiêu này đo lường mức độ mà lợi nhuận phát sinh do sử dụng vốn để đảmbảo trả lãi vay như thế nào Nó cho biết khả năng thanh toán lãi hàng năm củadoanh nghiệp hay độ an toàn cụ thể đối với người cấp tín dụng cho doanh nghiệp
(3) Hệ số cơ cấu tài sản
Hệ số cơ cấu tài sản = Tài sản cố định và đầu tư dài hạnTổng tài sản
(4) Hệ số cơ cấu nguồn vốn
Hệ số cơ cấu nguồn vốn = Vốn chủ sở hữu
Tổng nguồn vốn
ơ
c Nhóm chỉ tiêu về năng lực hoạt động.
(1) Vòng quay hàng tồn kho
Hàng tồn kho là một loại tài sản dự trữ với mục đích nhằm đảm bảo cho sảnxuất được tiến hành một các bình thường, liên tục, và đáp ứng được nhu cầu của thịtrường Mức độ tồn kho cao hay thấp phụ thuộc rất nhiều vào các yếu tố như: loạihình kinh doanh, chế độ cung cấp mức độ đầu vào, mức độ tiêu thụ sản phẩm, thờivụ trong năm Để đảm bảo sản xuất được tiến hành liên tục, đồng thời đáp ứngđủ cho nhu cầu của khách hàng, mỗi doanh nghiệp cần có một mức dự trữ tồn khohợp lý, chỉ tiêu này được xác định bằng tỷ lệ doanh thu tiêu thụ trong năm và hàngtồn kho
Trang 21Vòng quay hàng tồn kho = Giá vốn hàng bán
Hàng tồn khoGiá vốn là toàn bộ chi phí để sản xuất ra hàng hóa, dịch vụ tiêu thụ trong kỳ,bao gồm chi phí nguyên vật liệu, chi phí nhân công, chi phí khấu hao tài sản cốđịnh
Còn Hàng tồn kho bình quân là giá trị trung bình trong kỳ của hàng hóa,nguyên vật liệu tồn kho của doanh nghiệp, bao gồm: hàng mua đang đi trên đường,nguyên vật liệu tồn kho, công cụ dụng cụ, chi phí sản xuất kinh doanh dở dang,hàng gửi đi bán
Hệ số vòng quay hàng tồn kho cho biết hàng tồn kho trong một kỳ nhất địnhquay được bao nhiêu vòng, nếu hệ số vòng quay hàng tồn kho cao thì cho biết mứcđộ luân chuyển hàng tồn kho nhanh và như vậy có nghĩa hiệu quả sử dụng tài sảncũng như vốn cao và ngược lại
(2) Vòng quay vốn lưu động
Vòng quay vốn lưu động = Doanh thu thuần
Vốn lưu động bình quân
Đối với một doanh nghiệp, việc xác định vòng quay vốn lưu động (thực tếtrong kỳ và kế hoạch) một cách chính xác là rất quan trọng Vì thông qua chỉ tiêunày mà ta có đánh giá được rất nhiều tiêu chí như hiệu quả trong kinh doanh, trongviệc tính toán nhu cầu vốn lưu động cần thiết của một doanh nghiệp vv
(3) Hiệu suất sử dụng tài sản cố định
Hiệu suất sử dụng tài sản cố định = Doanh thu thuần
TSCĐ bình quân
Hệ số này cho biết một đồng tài sản cố định tạo ra được bao nhiêu đồng doanhthu, qua đó đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản cố định ở doanh nghiệp
(4) Kỳ thu tiền bình quân
Kỳ thu tiền bình quân = Các khoản phải thu
Doanh thu bình quân ngàyCác khoản phải thu được chia làm hai phần: Các khoản phải thu ngắn hạn làtoàn bộ giá trị các tài sản của doanh nghiệp đang bị các đơn vị, tổ chức, tác nhânchiếm dụng mà doanh nghiệp có trách nhiệm phải thu hồi trong vòng một năm,gồm: phải thu khách hàng về sản phẩm hàng hóa dịch vụ đã cung cấp, trả trước chongười bán để mua hàng hóa, dịch vụ vật tư, vốn đã cấp cho đơn vị phụ thuộc, tạmứng Và các khoản phải thu dài hạn gồm các khoản phải thu có thời hạn đáo hạn
Trang 22trên một năm của khách hàng, nội bộ và dự phòng phải thu dài hạn khó đòi.
Chỉ tiêu này phản ánh số ngày cần thiết để doanh nghiệp chuyển hóa cáckhoản phải thu được thành tiền, hay nói cách khác, nó đo lường khả năng thu hồivốn trong thanh toán trên cơ sở các khoản phải thu và doanh thu tiêu thụ mộtngày Kỳ thu tiền bình quân cao hay thấp trong nhiều trường hợp chưa thể đưa rađược đánh giá chính xác mà cần phải xem xét kết hợp với các mục tiêu và chínhsách cụ thể khác của doanh nghiệp như: mục tiêu mở rộng thị trường, chính sáchtín dụng của doanh nghiệp và mục tiêu thâm nhập thị trường của doanh nghiệp.Thông thường 20 ngày là một chu kỳ tiền chấp nhận được, tuy nhiên còn phảixem xét gắn với giá vốn và mục tiêu, chính sách của doanh nghiệp mới có thểđánh giá chính xác
d Nhóm chỉ tiêu về lợi nhuận và phân phối lợi nhuận.
(1) Hệ số sinh lợi doanh thu
Doanh lợi tiêu thụ = Lợi nhuận sau thuế
Doanh thu thuần
Chỉ tiêu này nói lên một đồng doanh thu tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận.(2) Hệ số sinh lợi của tài sản (ROA)
ROA = Lợi nhuận sau thuế
Tổng tài sảnLợi nhuận sau thuế của doanh nghiệp là phần còn lại cuối cùng trong doanhthu sau khi đã trừ đi tất cả các loại chi phí và thuế, thuộc về chủ sở hữu qua toàn bộquá trình sản xuất kinh doanh
Hệ số sinh lợi của tài sản (doanh lợi tổng tài sản) là hệ số tổng hợp nhất đượcdùng để đánh giá hiệu quả của các quyết định đầu tư tài sản của doanh nghiệp Hệsố này cho biết một đồng tài sản tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh sẽ tạo
ra bao nhiêu đồng thu nhập cho doanh nghiệp
(3) Thu nhập trên mỗi cổ phần
Thu nhập trên mỗi cổ phần = Số lượng cổ phiếu thườngLợi nhuận sau thuế
Thu nhập trên mỗi cổ phần là một yếu tố quan trọng nhất, quyết định giá trị
Trang 23của cổ phần bởi vì nó đo lường sức thu nhập chứa đựng trong một cổ phần hay nóicách khác nó thể hiện thu nhập mà nhà đầu tư có được do mua cổ phần.
(5) Tỷ suất cổ tức
Tỷ suất cổ tức = Cổ tức mỗi cổ phần
Giá trị thị trường mỗi cổ phiếu
Như ta đã biết, thu nhập của nhà đầu tư gồm hai phần: cổ tức và chênh lệchgiá do chuyển nhượng cổ phần Nếu tỷ suất cổ tức của một cổ phần thấp điều đóchưa hẳn là xấu bởi vì nhà đầu tư có thể chấp nhận tỷ lệ chi trả cổ tức thấp để dànhphần lớn lợi nhuận để tái đầu tư Họ mong đợi một tăng trưởng nhanh trong cổ tứcvà hưởng được sự chênh lệch lớn của giá cổ phần
(6) Tỷ lệ trả cổ tức
Tỷ lệ trả cổ tức = Thu nhập cổ phiếuCổ tức
Lợi nhuận sau thuế
Chỉ tiêu tỷ lệ chi trả cổ tức nói lên công ty chi trả phần lớn thu nhập cho cổđông hay giữ lại để tái đầu tư Đây là một nhân tố quyết định đến giá trị thị trườngcủa cổ phần
1.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới hoạt động phân tích tài chính doanh nghiệp 1.3.1 Những nhân tố khách quan
a Khuôn khổ pháp lý, cơ chế chính sách:
Đây là một yếu tố có ảnh hưởng tương đối lớn đến hoạt động tài chính củadoanh nghiệp Luật pháp yêu cầu các doanh nghiệp hoạt động đều phải có báo cáotài chính phù hợp với quy mô và đảm bảo yêu cầu pháp lý của Nhà nước trong lĩnhvực này Ví dụ như: doanh nghiệp phải lập báo cáo tài chính với đầy đủ nội dungtheo yêu cầu trong từng năm kế toán, các báo cáo tài chính này phải được kiểm toánđầy đủ trước khi đưa ra công bố chính thức
Môi trường pháp lý có rõ ràng và chặt chẽ hay không sẽ có tác động đến hoạtđộng phân tích tài chính của doanh nghiệp Ngoài ra, nó còn có những ảnh hưởngnhất định đối với hoạt động này, có thể theo hướng tiêu cực hoặc tích cực Việc tạo
Trang 24ra khuôn khổ pháp lý phù hợp trong lĩnh vực tài chính sẽ giúp cho các doanh nghiệp
có định hướng rõ ràng hơn
b Khoa học công nghệ:
Trong thời đại khoa học hiện đại trở nên phổ biến và phát triển như hiện nay,việc ứng dụng các thành quả công nghệ thông tin có vai trò quan trọng trong việcnâng cao chất lượng, cập nhật các thông tin và những sáng chế mới, giúp cho doanhnghiệp có khả năng phát triển một cách vững vàng
Hoạt động phân tích tài chính doanh nghiệp cũng không nằm ngoài quy luật
đó Việc ứng dụng những phần mềm thống kê, thu thập số liệu, phân tích tài chính,phần mềm kế toán hiện đại sẽ giúp cho doanh nghiệp nâng cao được độ chính xáccủa các thông tin, các con số tính toán, các chỉ số quan trọng trong báo cáo tàichính Từ đó, các báo cáo tài chính sẽ trở nên đáng tin cậy hơn, đưa ra được tìnhhình thực tế hoạt động tài chính hiện tại của doanh nghiệp, cung cấp cái nhìn đúngđắn cho những nhà quản trị doanh nghiệp, quản lý Nhà nước, những đối tượng quantâm khác đến báo cáo tài chính của doanh nghiệp
Ngoài ra, một số nhân tố khác như tốc độ tăng trưởng và phát triển kinh tế,thể chế chính trị - xã hội cũng là những nguyên nhân khách quan cần xem xét trongquá trình phân tích tài chính doanh nghiệp
Nhận thức đúng đắn những nhân tố ảnh hưởng đến công tác phân tích tàichính sẽ giúp cho doanh nghiệp có cái nhìn khách quan và chủ động trong việc sửdụng và điều chỉnh những thông tin, những phương pháp và công cụ sử dụng trongquá trình phân tích, từ đó nâng cao chất lượng báo cáo, độ tin cậy và sự phù hợp củabáo cáo tài chính
1.3.2 Những nhân tố chủ quan
a Chất lượng những thông tin được sử dụng trong phân tích tài chính:
Trong phân tích tài chính, nguồn thông tin quan trọng nhất được sử dụng đóchính là các báo cáo tài chính của doanh nghiệp Những thông tin này phải đượcbảo đảm những yêu cầu cơ bản là phù hợp và đáng tin cậy
Trước hết, báo cáo tài chính phải cung cấp những thông tin mang tính chấtđánh giá tình hình tài chính, kết quả hoạt động kinh doanh và những thông tin mang
Trang 25tính chất dự báo về tình hình tài chính của doanh nghiệp Chúng phải được thu thậpvà thống kê trong những giai đoạn phù hợp và được cung cấp một cách kịp thời chongười sử dụng.
Hơn nữa, những thông tin này cần phải được dựa trên những bằng chứngkhách quan, những con số chính xác, phản ánh trung thực tình hình tài chính củadoanh nghiệp và có thể thẩm định được
Nếu những yêu cầu về chất lượng của những thông tin đưa vào sử dụngkhông được đảm bảo, chúng sẽ trở nên vô ích và dẫn đến việc đánh giá tình hình tàichính của doanh nghiệp bị méo mó, sai sự thực Đây chính là nguồn gốc dẫn đếnnhững sai lầm nghiêm trọng trong hệ thống quản lý doanh nghiệp
b Tình hình thực tế và trình độ cán bộ phân tích tài chính tại doanh nghiệp:Thu thập thông tin và lập báo cáo tài chính là một quá trình mang tính tổnghợp, đòi hỏi trình độ cán bộ tác nghiệp và sự thống nhất về thông tin trong doanhnghiệp phân tích tài chính phải đáp ứng được các yêu cầu quản lý của Nhà nước vàcung cấp đầy đủ những thông tin kế toán cho quản trị doanh nghiệp, các nhà đầu tưvà các nhà cho vay, các cổ đông, người lao động và các đối tượng quan tâm khác.Chính vì vậy, tính chính xác của thông tin và trình độ nghiệp vụ của bản thân cán bộlàm phân tích tài chính và đội ngũ cán bộ quản lý kinh tế nói chung cần phải đảmbảo những yêu cầu nhất định, từ đó xác lập độ tin cậy của báo cáo, của những consố, những thông tin trong báo cáo đưa ra
Ngoài ra, từ tình hình thực tế của doanh nghiệp, như ví dụ cụ thể ở đây làmột công ty cổ phần đầu tư xây dựng, có quy mô nhỏ, đặc trưng riêng, tuy đã cổphần hóa song công tác phân tích tài chính chưa được đạt đúng tầm quan trọng của
nó Việc lập báo cáo tài chính tuy được xây dựng hàng năm theo niên kế, songnhững chỉ tiêu và phạm vi nghiên cứu phân tích ở một số doanh nghiệp nhỏ vẫn cònrất hạn chế Việc phân tích những chỉ tiêu tài chính bổ sung đôi khi chỉ được thựchiện khi có yêu cầu, ví dụ như khi đi vay, Điều này cũng có những ảnh hưởngnhất định đến chất lượng báo cáo tài chính tại công ty
c Việc lựa chọn phương pháp và hệ thống chỉ tiêu phân tích:
Khi tiến hành lựa chọn phương pháp và hệ thống chỉ tiêu phân tích tài chính,
Trang 26cán bộ phân tích tài chính cần phải nắm vững những đặc điểm của quá trình sảnxuất kinh doanh của doanh nghiệp Từ đó mới có thể lựa chọn được những phươngpháp đúng đắn, phù hợp, xây dựng và tính toán những chỉ tiêu có thể sử dụng đượcvà đáng tin cậy Ngoài ra, hệ thống chỉ tiêu phải phù hợp với chế độ kế toán thống
kê hiện hành, tuân theo quy định của nhà nước, đảm bảo cung cấp đầy đủ những chỉsố, những đánh giá có giá trị cao
Nếu việc lựa chọn phương pháp và hệ thống chỉ tiêu phân tích không đượcđánh giá một cách đúng đắn và thực hiện nghiêm túc thì báo cáo tài chính và cácthông tin kèm theo sẽ trở nên kém hữu hiệu, thậm chí là vô ích Điều này sẽ gây khókhăn và rối loạn thông tin cho nhà quản lý tài chính, quản lý doanh nghiệp, hay cácđối tượng quan tâm khác
CHƯƠNG II HOẠT ĐỘNG PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN LIÊN HIỆP ĐẦU TƯ XÂY DỰNG
NÔNG THÔN VIỆT NAM2.1 Khái quát về CÔNG TY CỔ PHẦN LIÊN HIỆP ĐẦU TƯ XÂY DỰNG NÔNG THÔN VIỆT NAM.
2.1.1 Giới thiệu chung về Công ty Cổ phần Liên hiệp đầu tư xây dựng nông
thôn Việt Nam
CÔNG TY CỔ PHẦN LIÊN HIỆP ĐẦU TƯ XÂY DỰNG NÔNG THÔN VIỆT NAM được thành lập theo mô hình công ty cổ phần giấy phép kinh doanh số
0103000350 do sở kế hoạch và đầu tư thành phố Hà Nội cấp ngày 11 tháng 05 năm
Trang 272001
Công ty đã tập hợp được một đội ngũ cán bộ, công nhân có năng lực, kinhnghiệm và tâm huyết với công ty Đội ngũ cán bộ, công nhân của công ty đượccông ty tạo điều kiện để không ngừng học tập và nâng cao trình độ chuyên môncũng như trình độ quản lý Công ty đang từng bước tích tụ thêm vốn và năng lựcsản xuất, quan hệ của Công ty với các doanh nghiệp bạn trong và ngoài nước đểdoanh thu hàng năm không ngừng tăng trưởng ở mức cao và ổn định
Công ty đã từng thi công một số công trình lớn như: khu nhà ở cao tầng BắcHà, Trụ sở công ty thương mại và vật liệu xây dựng BMC, Công trình nhà xưởngE112 – Bộ Công an, Trung tâm kiểm nghiệm dược phẩm – mỹ phẩm trung ương,Trường mầm non Cát Linh, Đường khu công nghiệp Tân Quang – Mỹ Hào – HưngYên
Trụ sở của công ty: số 1-3/299, đường Hoàng Mai, phường Hoàng Văn Thụ, quận Hoàng Mai, Hà Nội
Người đại diện trước pháp luật: Ông Nguyễn Mạnh Hùng
Trang 28Sơ đồ 1: Sơ đồ tổ chức sản xuất kinh doanh của CÔNG TY CỔ PHẦN LIÊN HIỆP ĐẦU TƯ XÂY DỰNG NÔNG
THÔN VIỆT NAM
ĐẠI HỘI ĐỒNG CỔ ĐÔNG
CHỦ TỊCH HĐQT KIÊM GIÁM ĐỐC
HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊBAN KIỂM SOÁT
PHÓ GIÁM ĐỐC PHỤ TRÁCH KỸ THUẬT
PHÓ GIÁM ĐỐC PHỤ TRÁCH HÀNH CHÍNH –
TÀI CHÍNH – NHÂN SỰ
PHÒNG KẾ HOẠCH KỸ THUẬT
PHÒNG TỔNG HỢP TÀI CHÍNH
TRUNG TÂM TƯ VẤN THIẾT KẾ VÀ QUẢN LÝ DỰ ÁN
ĐỘI XÂY
DỰNG
SỐ 1
ĐỘI XÂY DỰNG
SỐ 2
ĐỘI XÂY DỰNG
SỐ 3
ĐỘI XÂY DỰNG
SỐ 4
ĐỘI XÂY DỰNG
SỐ 5
ĐỘI XÂY DỰNG
SỐ 6
ĐỘI XÂY DỰNG
SỐ 7
ĐỘI XÂY DỰNG
SỐ 8
Trang 29Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý gồm:
- Đại hội đồng cổ đông: gồm tất cả các cổ đông có quyền biểu quyết, là cơquan quyết định cao nhất của Công ty, có nhiệm vụ: Thông qua định hướng pháttriển Công ty; Quyết định loại cổ phần và tổng số cổ phần của từng loại được quyềnchào bán; Quyết định mức cổ tức hàng năm
- Hội đồng quản trị: là cơ quan quản lý Công ty, có toàn quyền nhân danhCông ty để quyết định mọi vấn đề liên quan đến mục đích, quyền lợi của Công ty,trừ những vấn đề thuộc thẩm quyền của Đại hội Cổ đông
- Ban kiểm soát: ban kiểm soát do Đại hội đồng cổ đông bầu ra bằng thể thức
bỏ phiếu trực tiếp, thay mặt Cổ đông để kiểm soát, giám sát mọi hoạt động củaCông ty
- Giám đốc: do Hội đồng quản trị bổ nhiệm, là người điều hành mọi hoạtđộng của Công ty và chịu trách nhiệm trước Hội đồng quản trị và Pháp luật về việcthực hiện các quyền và nhiệm vụ được giao
- Phó giám đốc phụ trách kỹ thuật: Có trách nhiệm chỉ đạo và giám sát thicông các công trình của Công ty và Tổng Công ty Mở rộng địa bàn hoạt động,tham gia vào các dự án, tham gia tổ chức đấu thầu, chỉ đạo bàn giao, thanh toán vàchịu trách nhiệm trước Giám đốc về tiến độ, biện pháp thi công và chất lượng côngtrình
- Phó giám đốc phụ trách hành chính – tài chính – nhân sự: đảm nhận tráchnhiệm về quản lý công tác tổ chức lao động, công tác tổ chức văn phòng, thực hiệncác quy chế tổ chức, quản lý cán bộ công nhân viên; quản lý hoạt động tài chính,theo dõi giám sát việc lập các báo cáo tài chính,
- Phòng kế hoạch kỹ thuật: là phòng chức năng, tham mưu trong các lĩnh vựcnhư công tác kế hoạch và báo cáo thống kê, công tác đấu thầu nội bộ, giao thầu củacông ty, lập kế hoạch xây dựng cơ bản hàng năm, tổ chức ký kết hợp đồng xâydựng, lập dự toán thi công công trình
- Phòng tài chính kế toán: giúp tổ chức, thực hiện và kiểm soát mọi hoạtđộng thuộc lĩnh vực tài chính kế toán của công ty theo pháp luật và chuẩn mực, chếđộ kế toán của Nhà nước
- Trung tâm tư vấn thiết kế và quản lý dự án: có trách nhiệm lập và thẩmđịnh, quản lý dự án, thiết kế quy hoạch tổng thể, chi tiết các công trình xây dựngdân dụng, công nghiệp và khu đô thị, thiết kế cấp thoát nước các công trình, thiết kếkết cấu,
Trang 302.1.2 Tình hình hoạt động chung
Hiện nay Công ty Cổ phần Liên hiệp đầu tư xây dựng nông thôn Việt Nam hoạt động kinh doanh trong các lĩnh vực:
1 Xây dựng các công trình dân dụng, công nghiệp, giao thông, thủy lợi;
2 Lập, thẩm định, quản lý dự án (không bao gồm dịch vụ thiết kế côngtrình), tổng dự toán các công trình xây dựng;
3 Lắp đặt máy móc, thiết bị, kết cấu kim loại phục vụ xây dựng;
4 Kinh doanh vật liệu xây dựng, cấu kiện bê tông đúc sẵn, thiết bị vệ sinh,thiết bị vật tư ngành nước, điện, điện tử, điện lạnh, đồ trang trí nội, ngoại thất;
5 Kinh doanh nhà, hạ tầng khu đô thị, khu công nghiệp, cơ sở hạ tầng;
6 Đại lý mua, bán, ký gửi hàng hóa;
7 Xuất nhập khẩu các mặt hàng công ty kinh doanh;
8 Xây dựng các công trình công công, hạ tầng kỹ thuật, khu đô thị;
9 Xây dựng, lắp đặt đường dây và trạm biến áp tới 110kV, xây dựng côngtrình thủy điện;
10 Khoan địa chất; thi công các loại cọc, xử lý nền móng công trình xâydựng;
11 Tư vấn đầu tư (không bao gồm tư vấn pháp luật, tài chính, kế toán, thuếkiểm toán, chứng khoán), tư vấn xây dựng (không bao gồm dịch vụ thiết kế côngtrình);
12 Khai thác, vận hành, kinh doanh dịch vụ đối với các khu chung cư caotầng, tòa nhà văn phòng;
13 Đào tạo, cung ứng lao động kỹ thuật trong nước cho ngành xây dựng(không bao gồm đào tạo, môi giới, tuyển chọn, cung ứng nhân lực cho các doanhnghiệp có chức năng xuất khẩu lao động);
14 Mua bán, cho thuê, lắp đặt, sửa chữa, bảo dưỡng, sửa chữa máy móctrang thiết bị phục vụ ngành xây dựng;
15 Dịch vụ cho thuê xe ô tô và kinh doanh vận tải bằng xe ô tô theo hợpđồng;
16 Thiết kế tổng mặt bằng, kiến trúc, nội ngoại thất đối với công trình xâydựng dân dụng công nghiệp;
17 Thiết kế quy hoạch tổng thể, chi tiết khu đô thị;
18 Thiết kế cơ điện các công trình dân dụng và công nghiệp;
19 Thiết kế cấp thoát nước công trình dân dụng và công nghiệp;
20 Thiết kế san nền, thoát nước, đường nội bộ đối với các khu đô thị;
Trang 3121 Thiết kế kết cấu đối với công trình xây dựng dân dụng, công nghiệp;
2.1.3 Tổng quan về kết quả hoạt động kinh doanh
Để đánh giá hiệu quả kinh doanh và hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của Công
ty cần phải quan tâm đến kết quả cuối cùng của hoạt động kinh doanh đó là lợi nhuận.Lợi nhuận là chỉ tiêu chất lượng để đánh giá hiệu quả kinh tế của các hoạt động củadoanh nghiệp, nó là khoản chênh lệch giữa doanh thu và chi phí mà doanh nghiệp bỏ rađể đạt được doanh thu đó từ hoạt động kinh doanh chủ yếu của mình
Bảng 1: Kết quả kinh doanh của công ty
Đơn vị: triệu VND
Giá trị Tỷ trọng Giá trị Tỷ trọng Giá trị Tỷ trọng