1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hoạt động giải trí của người dân tỉnh Vĩnh Phúc sống trong khu vực đang công nghiệp hóa, đô thị hóa hiện nay

88 294 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 88
Dung lượng 1,31 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sự đi lên của đời sống kinh tế, sự xuất hiện của những yếu tố văn hóa đô thị mới mẻ, hiện đại, và đặc biệt là sự gia tăng thời gian nhàn rỗi trong các tầng lớp dân cư đã tác động không n

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

LẠI THỊ THANH BÌNH

HOẠT ĐỘNG GIẢI TRÍ CỦA NGƯỜI DÂN TỈNH VĨNH PHÚC SỐNG TRONG KHU VỰC ĐANG CÔNG NGHIỆP HOÁ,

ĐÔ THỊ HOÁ HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SỸ XÃ HỘI HỌC

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

LUẬN VĂN THẠC SỸ XÃ HỘI HỌC

Người hướng dẫn khoa học: T.S Mai Thị Kim Thanh

Trang 3

Mục lục

Trang Mục lục

Danh mục bảng biểu

Phần 1 Phần mở đầu

1 Lý do chọn đề tài

2 Ý NGHĨA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

3 ĐỐI TƯỢNG, KHÁCH THỂ VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

4 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU

5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

6 GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU VÀ KHUNG LÝ THUYẾT

PHẦN 2 NỘI DUNG CHÍNH

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

1.1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN

1 3 HỆ KHÁI NIỆM CÔNG CỤ

CHƯƠNG 2 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

2.1 ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA ĐỊA BÀN KHẢO SÁT

1.1.1 Tỉnh Vĩnh Phúc

1.2.2 Phường Khai Quang

2.2 HOẠT ĐỘNG GIẢI TRÍ CỦA NGƯỜI DÂN SỐNG TRONG KHU VỰC

ĐANG CHN, ĐTH

2.2.1 Nhận thức của người dân về giải trí

2.2.2 Sự tham gia các hoạt động giải trí của người dân

2.2.2.1 Giải trí tại nhà

2.2.2.2 Giải trí ngoài gia đình

2.2.3 Các nhân tố tác động đến nhu cầu và sự tham gia giải trí của người

dân sống trong khu vực đang CNH, ĐTH

2.2.3.1 Nguyên nhân mang tính vĩ mô - bối cảnh xã hội chuyển đổi và phát

Trang 4

2.2.3.2 Vấn đề thu hồi ruộng đất - một yếu tố tác động trực tiếp đến hoạt

động vui chơi giải trí của người dân

2.2.3.3 Nhóm nguyên nhân từ những đặc điểm cá nhân và hộ gia đình (mức

Trang 5

DANH MỤC BẢNG BIỂU Trang

Biểu đồ 1: Nhận thức của người dân về mức độ cần thiết của giải trí 29

Bảng 2.1 Loại hình giải trí yêu thích trong thời gian rỗi 32

Bảng 2.2 Mức độ tham gia các hoạt động giải trí tại nhà của người dân 36

Bảng 2.3 Mức độ sang chơi nhà hàng xóm, đi sinh nhật, mừng thọ 38

Bảng 2.4 Mức độ sử dụng dịch vụ giải trí ngoài cộng đồng 41

Bảng 2.5 Mức độ tham gia các môn thể thao 44

Bảng 2.6 Mức độ tham gia các tổ chức xã hội 45

Bảng 2.7 Mức độ tham gia sinh hoạt tín ngưỡng của người dân 49

Bảng 2.8 Phần trăm thu nhập tính theo năm dành cho giải trí 57

Bảng 2 9 Phương tiện giải trí có trong gia đình 58

Bảng 2.10 Tương quan giữa tổng mức thu nhập của hộ gia đình với các phương tiện giải trí hiện có trong gia đình 60

Bảng 2.11 Tương quan giữa mức thu nhập hộ gia đình với mức độ sử dụng dịch vụ giải trí 61

Bảng 2.12 Tương quan giữa nghề nghiệp của người được hỏi với mức độ sử dụng các dịch vụ giải trí ngoài gia đình 63

Bảng 2.13 Tương quan giữa tuổi của người được hỏi với mức độ tham gia một số loại hình giải trí 67

Trang 6

PHẦN 1 PHẦN MỞ ĐẦU

1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Hoạt động giải trí là một bộ phận quan trọng trong cơ cấu hoạt động sống của

cá nhân nhằm giải toả những căng thẳng do lao động đưa lại, bù đắp những thiếu

hụt về đời sống tinh thần, tạo điều kiện để con người phát triển toàn diện cả về thể

chất, trí tuệ, tình cảm và thẩm mỹ Hoạt động giải trí cũng góp phần tạo nên diện

mạo văn hóa cho mỗi cá nhân, và là một trong những thước đo lối sống của con

người hiện đại Theo nhiều nhà nghiên cứu, trong các xã hội hiện đại, hoạt động giải

trí cần thiết đối với con người không kém gì các nhu cầu thiết yếu khác như ăn,

mặc, ở, … Thậm chí, nếu nhu cầu giải trí không được đáp ứng thỏa đáng, nhân cách

của con người sẽ có nguy cơ bị biến dạng, các loại tâm bệnh sẽ ngày càng phổ biến

và trầm trọng hơn

Quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa (CNH, ĐTH) thời gian qua đã mang lại

những đổi thay đáng kể cho nhiều vùng nông thôn Việt Nam, trong đó có tỉnh Vĩnh

Phúc, vốn là một tỉnh có tốc độ đô thị hóa cao nhất trên cả nước hiện nay Sự đi lên

của đời sống kinh tế, sự xuất hiện của những yếu tố văn hóa đô thị mới mẻ, hiện

đại, và đặc biệt là sự gia tăng thời gian nhàn rỗi trong các tầng lớp dân cư đã tác

động không nhỏ đến nhận thức, nhu cầu và sự tham gia giải trí của người dân Từ

chỗ đầu tư hết thời gian cho việc làm ăn đến chỗ dành thời gian đáng kể cho giải trí;

từ nhu cầu cơm áo thường nhật đến các nhu cầu cao hơn về giải trí, hưởng thụ cuộc

sống; từ nhu cầu giải trí đơn giản đến những nhu cầu tham gia các loại hình giải trí

hiện đại, mang tính đô thị hơn Bên cạnh những mặt tích cực, nhiều yếu tố tiêu cực

cũng nảy sinh từ các hoạt động giải trí, đặt ra nhiều thách thức cho các vùng quê

đang trong quá trình chuyển đổi như ở Vĩnh Phúc

Cho đến nay, việc nghiên cứu về vấn đề giải trí, sự biến đổi nhu cầu và hành

vi giải trí của người dân tại những khu vực đang CNH, ĐTH – nơi có sự tiếp biến,

giao lưu mạnh mẽ giữa văn hóa nông thôn và đô thị, vẫn còn là một vấn đề bỏ ngỏ

với nhiều câu hỏi cần phải làm sáng tỏ, cả trên bình diện lý thuyết và thực tiễn Điều

Trang 7

này đã gợi cho tôi ý tưởng nghiên cứu về vấn đề “Hoạt động giải trí của người

dân tỉnh Vĩnh Phúc sống trong khu vực đang công nghiệp hóa, đô thị hóa hiện

nay”

2 Ý NGHĨA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

2.1 Ý nghĩa lý luận

- Kết quả nghiên cứu là cơ sở thực nghiệm và kiểm chứng cho hệ thống lý

thuyết xã hội học trong các lĩnh vực chuyên biệt, góp phần bổ sung về mặt lý luận

cho xã hội học văn hóa, xã hội học gia đình, xã hội học đô thị

- Kết quả nghiên cứu còn góp phần xây dựng một quan niệm khoa học về

giải trí lành mạnh; góp phần khắc phục một số quan niệm sai lầm đang phổ biến

trong các xã hội đang trong quá trình chuyển đổi hiện nay coi giải trí là rong chơi vô

bổ, đối lập với lao động, thậm chí gắn nó vào những tệ nạn xã hội

2.2 Ý nghĩa thực tiễn

- Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho

các địa phương đang chuyển đổi trong việc quy hoạch và quản lý các hoạt động vui

chơi giải trí của người dân

- Kết quả nghiên cứu còn hướng sự chú ý của xã hội vào vai trò của giải trí

và tính bức thiết phải đáp ứng nó Ngoài ra còn giúp nâng cao nhận thức của người

dân về giải trí và định hướng hành động giải trí của họ

3 ĐỐI TƯỢNG, KHÁCH THỂ VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

3.1 Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động giải trí của người dân sống trong khu

vực đang CNH, ĐTH

3.2 Khách thể nghiên cứu:

- Người dân sống trong khu vực đang CNH, ĐTH

3.3 Địa bàn nghiên cứu

Trang 8

- Mức độ tham gia vào các hoạt động giải trí của người dân sống tại khu vực

đang CNH, ĐTH

- Những nhân tố cơ bản tác động đến hoạt động giải trí của người dân sống tại

khu vực đang CNH, ĐTH

- Đề xuất các khuyến nghị nhằm góp phần nâng cao nhận thức của người dân

về giải trí và góp phần hoàn thiện công tác quản lý các hoạt động vui chơi giải trí

trong bối cảnh CNH, ĐTH nay trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc nói riêng và cả nước nói

chung

5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu được tiến hành dựa trên những phương pháp cụ thể như sau:

5.1 Phương pháp phân tích tài liệu

Trong quá trình thực hiện nghiên cứu, chúng tôi đã đọc và phân tích những

tài liệu, những công trình nghiên cứu có đề cập đến hoạt động giải trí của người dân

sống tại khu vực đang CNH, ĐTH để hiểu và bổ xung những thông tin cần thiết mà

các phương pháp khác còn thiếu, đảm bảo tính kế thừa và tránh trùng lặp với các

nghiên cứu trước đó

5.2 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi đối với hộ gia đình

Chúng tôi tiến hành phỏng vấn với 250 bảng hỏi Mục đích của bảng hỏi là

đưa ra các số liệu định lượng nhằm đánh giá thực trạng giải trí của người dân sống

tại khu vực đang công nghiệp hóa, đô thị hóa Các câu hỏi đã được chuẩn bị sẵn và

dựa trên các bảng hỏi này, các cuộc phỏng vấn được tiến hành tại phường Khai

Quang, thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc Đây là một phường mới thực hiện

chính sách chuyển đổi mục đích sử dụng đất và có khu công nghiệp Khai Quang

mới đi vào sử dụng được hơn 10 năm, là cửa ngõ của thành phố Vĩnh Yên và cả

tỉnh Vĩnh Phúc Địa bàn này rất thích hợp cho việc triển khai nghiên cứu đề tài này

Ngoài ra, chúng tôi đã sử dụng thêm những nguồn số liệu từ điều tra bằng hỏi

của một số cuộc khảo sát, nghiên cứu trước đây trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc, bao

gồm:

Trang 9

- Cuộc điều tra của K49 Khoa Xã hội học, trường Đại học KHXH&NV Hà

Nội tại Vĩnh Phúc vào tháng 7/2008

- Cuộc điều tra của Học viện Chính trị-Hành chính Quốc gia năm 2009 về

“Tác động của chính sách chuyển đổi mục đích sử dụng đất đến lối sống của người

dân khu vực đang CNH, ĐTH”, địa bàn nghiên cứu là tỉnh Vĩnh Phúc

5.3 Phương pháp phỏng vấn sâu, thảo luận nhóm

Để củng cố độ tin cậy của các thông tin định lượng, hoặc để lý giải những lý

do, nguồn gốc của vấn đề mà bảng hỏi phát hiện mà không lý giải nổi nếu chỉ tiến

hành phân tích định lượng; đồng thời nội dung phỏng vấn sâu cũng đi sâu phát hiện

những tâm tư, nguyện vọng của các cá nhân mà bảng hỏi không bao quát hết được

Nhóm nghiên cứu sẽ tiến hành 10 cuộc phỏng vấn sâu (1 phỏng vấn sâu với trưởng

thôn; 1 phỏng vấn sâu với cán bộ văn hóa của phường; 8 phỏng vấn sâu còn lại chia

đều cho 4 nam, 4 nữ thuộc các ngành ngề khác nhau Ngoài ra đề tài cũng tiến hành

2 thảo luận nhóm (1 thảo luận với nhóm cán bộ thôn, xóm; 1 thảo luận với nhóm

người dân) Những thông tin định tính sẽ được lựa chọn, khái quát, trích dẫn theo

từng chủ đề

5.4 Phương pháp quan sát

Phương pháp quan sát được tiến hành chủ yếu vào khoảng thời gian nghỉ làm

việc của đa số người dân trong phường (vào khoảng sau 5 giờ chiều), hoặc khoảng

thời gian diễn ra các lễ hội văn hóa, các lễ hội thể thao Đó là khoảng thời gian

diễn ra nhiều hoạt động sinh hoạt cộng đồng nên rất có ích cho việc đánh giá các

vấn đề một cách đầy đủ và bao quát hơn Chúng tôi cũng tiến hành quan sát những

loại hình giải trí hiện có trên địa bàn khảo sát, cũng như phương tiện giải trí có

trong mỗi hộ gia đình

6 GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU VÀ KHUNG LÝ THUYẾT

6.1 Giả thuyết nghiên cứu

1 Họat động giải trí của người dân tỉnh Vĩnh Phúc sống tại khu vực đang

CNH, ĐTH khá đa dạng, phong phú, theo hướng hiện đại hơn so với trước, nhưng

vẫn chủ yếu là những hoạt động giải trí tại nhà, chi phí thấp

Trang 10

2 Nhiều loại hình giải trí mang tính truyền thống, nông nghiệp, nông thôn vẫn

tiếp tục được bảo lưu, phát huy và phát triển

3 Nhiều hình thức vui chơi giải trí không lành mạnh có xu hướng gia tăng

trong cộng đồng

4 Mức sống của hộ gia đình là nguyên nhân chính ảnh hưởng đến nhu cầu và

sự tham gia các hoạt động giải trí của người dân

5 Khả năng đáp ứng nhu cầu giải trí của người dân từ phía xã hội còn rất hạn

chế do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan

7.2 Khung lý thuyết

(Xem ở trang sau)

Trang 11

Nhận thức của người dân

về giải trí

Sự tham gia các hoạt động giải trí

của người dân

Giải trí ngoài gia đình Giải trí tại gia đình

Sang chơi nhà hàng xóm, sinh nhật, mừng thọ

Sử dụng dịch

vụ giải trí

Đọc

sách,

báo

Giải trí khác tại nhà: Hát karaoke, truy cập Internet

Tham gia CLB, hội, nhóm

Sinh hoạt thể thao

Sinh hoạt tín ngưỡng

Đi thăm quan,

du lịch

Điều kiện kinh tế - xã hội

(Bối cảnh chuyển đổi và phát triển CNH, ĐTH)

Xem

tivi,

nghe

đài

Trang 12

PHẦN 2 NỘI DUNG CHÍNH

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

1.1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Một số quan niệm về vai trò của giải trí đối với đời sống con người

Ý niệm về vai trò của giải trí đối với đời sống của con người từng được triết

gia Aristotle đề cập đến từ thời kỳ cổ đại Ông cho rằng, giải trí mang lại nhiều lợi

ích cho con người về mặt sinh học giống như giấc ngủ: nó đem lại sự thư giãn và

khoẻ khoắn; nó rũ sạch những mệt nhọc và căng thẳng do công việc gây ra Tuy

nhiên ông cũng cho rằng, con người cần phải biết sử dụng thời gian rỗi của mình

một cách hợp lý, nếu sử dụng nó vào những trò chơi không mục đích, những hình

thức giải trí thụ động, và những phương cách bạt mạng chỉ để giết thì giờ, thì rõ

ràng nó không tốt cho xã hội, nó có thể đưa đến sự thoái hóa và mục nát Nhưng

nếu mọi người dùng thời gian rảnh rỗi để khai mở những khả năng của họ, để giải

trí lành mạnh, phát triển về mặt tinh thần, và để cùng góp phần vào xã hội và văn

hóa, thì càng có nhiều thời gian rỗi càng tốt

Trên thế giới, những nghiên cứu về vai trò của giải trí xuất hiện nhiều hơn vào

cuối thế kỷ XIX, khi xã hội công nghiệp đã phát triển khá mạnh mẽ Trong các xã

hội công nghiệp và đô thị, những áp lực về công việc khiến cho các nguy cơ về mất

cân bằng, trầm cảm ngày càng gia tăng, người ta mới nhận thấy vui chơi giải trí có

những tác động tích cực như thế nào đối với đời sống Dumagedier trong cuốn

Những thực tại của sự nhàn rỗi và các hệ tư tưởng (1959; 6) đã xem giải trí là sự

biến đổi về chất của xã hội công nghiệp từ chỗ bị bóc lột thô bạo bằng việc kéo dài

thời gian lao động, người công nhân đã có quyền nghỉ ngơi và giải trí mà vẫn hưởng

lương Ông tiên đoán về triển vọng của xã hội hậu công nghiệp sẽ là một xã hội giải

trí, trong đó thời gian lao động được rút ngắn tới mức tối thiểu, nhường phần áp đảo

cho thời gian rỗi, mối quan tâm của xã hội không phải làm gì để sống mà làm thế

Trang 13

nào để giải trí tốt hơn Các loại hình giải trí sẽ ngày càng đa dạng và đáp ứng được

ngày càng nhiều nhu cầu của con người Corbin Alain trong cuốn “Sự ra đời của

giải trí 1850-1960” (1995; 1) cũng đã phân tích vai trò của giải trí trong xã hội

phương Tây thời kỳ từ 1850-1960, trong đó ông cho rằng, giải trí lành mạnh là cách

tốt nhất giúp con người cân bằng cuộc sống, và làm giàu thêm đời sống tinh thần

Hoạt động giải trí cũng giúp con người có thêm những mối quan hệ xã hội Tác giả

cũng phân tích những ước muốn du lịch của người lao động sau những ngày lao

động vất vả trong những xã hội công nghiệp

Tác giả Đoàn Văn Chúc trong cuốn Văn hóa học (2004; 4) đã phân tích khá

sâu sắc về vai trò của giải trí đối với đời sống con người Theo tác giả, vui chơi giải

trí là một dạng hoạt động xã hội, nó sinh ra cùng với xã hội loài người và gắn bó

như hình với bóng trong suốt cuộc đời của một con người Trong thời thơ ấu thì

hoạt động vui chơi của trẻ em là phương thức tập dượt để làm người lớn, đến tuổi

trưởng thành thì hoạt động giải trí để nhằm giải toả những căng thẳng về tâm sinh

lý, để lặp lại sự cân bằng, là phương thức nghỉ ngơi tích cực nhằm tái sản sinh ra

sức lao động ở một cấp cao hơn, và khi về già thì vui chơi giải trí được coi là hoạt

động dinh dưỡng tinh thần để hoàn tất cuộc đời Tuy nhiên, con người không giải trí

bằng bất kỳ giá nào Các hoạt động rỗi chỉ có hiệu quả giải trí khi có một nội dung

thẩm mỹ nhất định, vì thế nhu cầu giải trí cũng được gọi là nhu cầu văn hóa, hoặc

nữa là nhu cầu thẩm mỹ Tác giả cho rằng, bước sang xã hội công nghiệp, các hoạt

động giải trí vui chơi không hề giảm đi mà còn phát triển mạnh mẽ, vui chơi giải trí

không chỉ là hoạt động xa xỉ như quan niệm của xã hội truyền thống, mà trở thành

một dạng hoạt động sống đích thực của xã hội công nghiệp

Về hoạt động giải trí của người dân sống tại khu vực đang CNH, ĐTH

Ở Việt Nam, sau hơn hai thập kỷ đổi mới, khu vực nông thôn đang diễn ra sự

thay đổi mạnh mẽ dưới tác động của các chính sách phát triển kinh tế Hệ quả của

các chính sách phát triển là tiến trình CNH, ĐTH đang diễn ra trên quy mô rộng và

với tốc độ nhanh chóng Chính bởi vậy, một trong những chủ đề được quan tâm

nghiên cứu trong thời gian gần đây ở Việt Nam là sự biến đổi xã hội tại các khu vực

Trang 14

đang công nghiệp hóa, đô thị hóa Nhiều tác giả và nhóm nghiên cứu, cả trong và

ngoài nước, đã tập trung mô tả các vấn đề kinh tế - xã hội mới nảy sinh tại các vùng

ven đô và các khu công nghiệp mới được hình thành (Trịnh Duy Luân, 2000 &

2003; Nguyễn Hữu Minh, 2005; Trần Văn Thạch, 2005; Ngô Văn Giá, 2006;

Nguyễn Đình Tuấn, 2007 ) Các vấn đề như sự biến đổi về mức sống, đời sống

văn hoá – tinh thần, phân hoá giàu nghèo, việc làm của những người nông dân bị

thu hồi đất, di dân, môi trường xã hội và tệ nạn xã hội, văn hoá truyền thống, quan

hệ gia đình, giải trí…vv đều được nghiên cứu mặc dù chưa đạt được sự khái quát

cao Điểm nổi bật và xuyên suốt các công trình nghiên cứu nêu trên là các nhà khoa

học đã phác hoạ ra được một bức tranh đa dạng về sự biến đổi kinh tế - xã hội ở một

số vùng nông thôn dưới tác động của CNH, ĐTH Vấn đề giải trí của người dân

được một số nghiên cứu tiếp cận từ các chỉ báo sau:

Từ khía cạnh mức sống, một điểm chung của một số nghiên cứu (Nguyễn Hữu

Minh, 2003; Nguyễn Văn Quân, 2006; Ngô Văn Giá, 2006) là coi giải trí như một

chỉ báo phản ánh mức sống của người dân Những nghiên cứu này đều có chung

nhận định rằng, sự thay đổi mức sống là nguyên nhân chính dẫn đến sự thay đổi về

nhu cầu và sự tham gia các hoạt động giải trí của người dân Theo các tác giả, đời

sống kinh tế khá lên, cuộc sống của người nông dân truyền thống và thuần tuý với

“một nắng hai sương” chân lấm tay bùn đã dần bớt đi Công việc đồng áng, lợn gà,

bếp núc không còn quá vất vả như trước đây mà đã có những phương tiện hiện đại

hỗ trợ Bởi vậy, người dân đã có nhiều thời gian nhàn rỗi hơn để tham gia hưởng

thụ đời sống văn hoá tinh thần Không chỉ sang hàng xóm trò chuyện, uống nước,

đánh cờ, chơi với người thân, họ còn có thể tham gia nhiều hoạt động văn hoá tinh

thần trong và ngoài gia đình mang hơi thở của cuộc sống đô thị như đọc báo, đi

tham quan, tham gia vào các hội, nhóm Đời sống kinh tế khá lên cũng khiến người

dân có nhiều điều kiện mua sắm các trang thiết bị phục vụ cho nhu cầu giải trí, điều

kiện tiếp nhận và trao đổi thông tin vì thế cũng được đầy đủ hơn, nâng cao tầm hiểu

biết và nhận thức của bản thân và gia đình

Trang 15

Tiếp cận vấn đề giải trí từ chiều cạnh lối sống, nhóm tác giả của Viện Xã hội

học – Học viện Chính trị Hành chính Quốc gia (2009; 19) đã phân tích khá rõ nét sự

biến đổi nhu cầu, hành vi tham gia giải trí của người dân – một trong những chỉ báo

quan trọng phản ánh lối sống - do tác động của việc chuyển đổi mục đích sử dụng

đất mang lại Các tác giả nhận định rằng, việc dành thời gian trong ngày cho các

hoạt động vui chơi giải trí đã trở thành một nét mới trong lối sống của người dân

sống tại khu vực đang chuyển đổi Sự thay đổi này có mối liên hệ mật thiết với

nguồn tiền đền bù đất Nhờ nguồn tiền này mà nhiều gia đình mua sắm được các

phương tiện sinh hoạt, giải trí hiện đại Cũng nhờ nguồn tiền này mà chính quyền

địa phương có điều kiện đầu tư các nhà văn hóa, sân chơi, tổ chức các sự kiện vui

chơi giải trí cho cả cộng đồng với quy mô lớn hơn, chu đáo hơn, chẳng hạn như các

giải thi đấu thể thao, lễ hội vv

Từ chiều cạnh văn hóa, Nguyễn Thị Phương Châm trong cuốn: Biến đổi văn

hóa ở các làng quê hiện nay (2009; 2) lại cho rằng, điều kiện kinh tế cùng với cấu

trúc xã hội theo mạng lưới khá kết đoàn và bền chặt ở làng là nhân tố quan trọng

thúc đẩy nhanh quá trình tiếp cận thông tin cũng như các loại hình giải trí ở các

làng Kinh tế đã khá giả, con người quan tâm nhiều hơn và cũng dành thời gian

nhiều hơn cho hưởng thụ cuộc sống, chăm sóc sức khỏe và kết nối chặt chẽ hơn các

mối quan hệ xã hội Chính nhờ việc tham gia vào các hoạt động giải trí đa dạng cả ở

cấp độ gia đình và cộng đồng đã khiến cho quá trình giao lưu được rộng mở hơn,

dân làng có những thay đổi rõ rệt trong nhận thức, nhất là nhận thức về văn hóa:

truyền thống văn hóa của làng, của vùng cũng như giá trị của văn hóa truyền thống

trong quá trình phát triển Những đặc trưng văn hóa của thế giới cũng như của các

đô thị lớn trở nên không xa lạ với dân làng, hơn thế còn giúp dân làng có ý thức cao

hơn về những giá trị văn hóa của chính làng quê họ

Mặc dù được tiếp cận từ nhiều chiều cạnh khác nhau, nhưng đến nay hầu

như vẫn chưa có một nghiên cứu chuyên biệt nào về vấn đề giải trí của người dân

sống tại khu vực đang CNH, ĐTH Phần lớn các nghiên cứu chỉ giúp người đọc

nhận diện được một phần vấn đề giải trí qua những cách tiếp cận khác nhau, mà

Trang 16

chưa lý giải được thấu đáo nhiều vấn đề xung quanh nó: từ nhận thức đến nhu cầu

giải trí của người dân; từ nhu cầu đến hành vi; từ những sự tác động khác nhau của

một cộng đồng xã hội mang những đặc trưng rất riêng ở Việt Nam; và từ cả mức độ

đáp ứng của mỗi cá nhân đối với vấn đề này Đây chính là điều mà luận văn mong

muốn được làm rõ

1.2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN

1.2.1 Chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử

Những nguyên tắc và quan điểm của xã hội học Mác - Lênin là cơ sở phương

pháp luận, đóng vai trò nền tảng xuyên suốt quá trình nghiên cứu đề tài Theo đó,

trong xã hội, không có sự vật - hiện tượng nào tồn tại độc lập mà chúng có một sự

liên kết và ràng buộc lẫn nhau, cái này tác động hoặc chịu tác động của cái kia,

ngoài ra chúng còn chuyển hoá lẫn nhau Do vậy, việc nghiên cứu các vấn đề xã hội

yêu cầu mỗi chúng ta phải xem xét các hiện tượng xã hội trong mối liên hệ với các

hiện tượng xã hội khác, phải xem xét các mặt, các yếu tố của nó một cách toàn diện

Tuy nhiên, chúng ta không thể xem xét tất cả mọi mặt của sự vật, hiện tượng mà chỉ

xem xét những mối liên hệ quan trọng nói lên bản chất sự vật, hiện tượng cần

nghiên cứu

Vận dụng những quan điểm trên vào nghiên cứu hoạt động giải trí của người

dân khu vực đang công nghiệp hóa, đô thị hóa đòi hỏi chúng ta phải xem bối cảnh

thời gian và không gian của vùng miền đó Cụ thể ở đề tài này, chúng ta cần xem

xét hoạt động giải trí của cư dân sống trong khu vực đang có những chuyển biến lớn

trong đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội do những tác động của quá trình đô thị hóa

mang lại Ngoài ra, nhu cầu giải trí luôn biến đổi theo không gian, thời gian, sở

thích, chịu sự lựa chọn chủ quan của chủ thể hành động Do đó, những vấn đề liên

quan đến sự biến đổi văn hóa, lối sống cũng cần được quan tâm làm rõ

1.2.2 Lý thuyết biến đổi xã hội

Lý thuyết biến đổi xã hội đề cập đến sự biến đổi về cấu trúc xã hội hay tổ chức

của một xã hội Sự thay đổi đó ảnh hưởng sâu sắc đến phần lớn các cá nhân trong

một xã hội Điều kiện của biến đổi xã hội là cần phải có thời gian, biến đổi phải

Trang 17

được xác định trong hoàn cảnh cụ thể về vật chất và văn hóa, và nhu cầu xã hội

chính là động lực cho sự biến đổi xã hội Các tác nhân quan trọng của biến đổi xã

hội thường được quan tâm là: môi trường tự nhiên; cách tân văn hóa; động thái dân

số; chính sách và bộ máy quản lý nhà nước; công nghệ; hành động xã hội Do vậy,

tất cả các chủ đề nghiên cứu trong khuôn khổ quá trình thời gian đều cần thiết phải

áp dụng lý thuyết biến đổi xã hội vào nghiên cứu (nhất là nghiên cứu về biến đổi giá

trị và biến đổi văn hóa) Những câu hỏi thường đặt ra để phân tích biến đổi xã hội

là: cái gì biến đổi? Biến đổi như thế nào? Ai gây ra biến đổi? Nó có tác dụng gì? Nó

có tầm ảnh hưởng như thế nào? Nó có hậu quả gì? Nó cần thời gian bao lâu? Nó

xảy ra theo hướng nào? Biến đổi xã hội vừa diễn ra ở tầm vi mô vừa diễn ra ở tầm

vĩ mô Biến đổi xã hội là một hiện tượng phổ biến nhưng nó diễn ra không giống

nhau giữa các xã hội Biến đổi xã hội luôn có sự khác biệt về thời gian và hệ quả xã

hội Biến đổi vừa có tính kế hoạch vừa có tính phi kế hoạch Biến đổi xã hội có

quan hệ nhưng hoàn toàn không đồng nhất với biến cố xã hội, tiến bộ xã hội, tiến

hóa xã hội

Hạt nhân hợp lý của lý thuyết biến đổi xã hội chính là việc đề cao và chỉ ra xu

hướng tất yếu của tiến bộ xã hội Vận dụng lý thuyết biến đổi xã hội vào phân tích

quá trình công nghiệp hoá và đô thị hoá ở Việt Nam sẽ có giúp chúng ta có cơ sở

khoa học trong việc xem xét nhìn nhận nó như là một tất yếu của sự phát triển xã

hội Chính quá trình đô thị hóa là một tác nhân quan trọng làm thay đổi các điều

kiện sống của dân cư, từ đó làm thay đổi nhận thức, nhu cầu và sự tham gia vào các

hoạt động giải trí của người dân Việc đưa lý thuyết biến đổi xã hội vào nghiên cứu

hoạt động giải trí của người dân khu vực đang công nghiệp hóa, đô thị hóa là rất cần

thiết và có tính khả thi Bởi vì, nó sẽ giúp chúng tôi có thể tiến hành phân tích và

giải thích hàng loạt các vấn đề mà luận văn cần phải giải quyết Chẳng hạn, đời

sống của cư dân sinh sống tại khu vực đang công nghiệp hóa, đô thị hóa đã và đang

biến đổi như thế nào? Nhận thức, nhu cầu, và hành vi của họ đối với vấn đề giải trí

thay đổi ra sao trước sự biến đổi của xã hội nói chung và biến đổi mức sống của họ

nói riêng? Các nhân tố gây ra những biến đổi đó là gì? Sự biến đổi nhận thức, nhu

Trang 18

cầu và hành vi giải trí của người dân có ý nghĩa như thế nào đối với đời sống của

chính họ và xu hướng vận động của nó ra sao? v.v

Theo cách tiếp cận của lý thuyết biến đổi xã hội có nhiều tác nhân dẫn đến sự

biến đổi nhu cầu và sự tham gia các hoạt động giải trí, tuy nhiên trong khuôn khổ

luận văn này chúng tôi chủ yếu nhấn mạnh việc xem xét yếu tố: mức sống, trình độ

học vấn, tuổi, giới tính trong phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động giải trí

của người dân khu vực công nghiệp hóa, đô thị hóa

1.2.3 Lý thuyết hành động xã hội

Các tác giả nổi tiếng của thuyết này như Pareto, Weber, Parson, … đều coi

hành động xã hội là cốt lõi của mối quan hệ con người – xã hội, là cơ sở của đời

sống xã hội con người Theo Weber, hành động xã hội là hành vi được chủ thể gắn

cho một ý nghĩa chủ quan nhất định Và cái mà Weber gọi là “ ý nghĩa chủ quan”

chính là ý thức, là hành động có ý thức, chủ thể hiểu được mình định thực hiện hành

động gì và sẽ thực hiện nó như thế nào? – điều này khác hẳn với những hành động

bản năng sinh học Hành động lựa chọn những hình thức giải trí của người dân là

hành động có sự tham gia của ý thức, thể hiện sự lựa chọn của chủ thể về nhiều khía

cạnh như chơi cái gì? Đi đâu? Vào lúc nào? Có phù hợp với điều kiện của mình

không? Vận dụng lí thuyết hành động xã hội vào trong nghiên cứu này có thể nhận

thấy hoạt động giả trí của người dân là một dạng hành động xã hội vì:

- Hành động xã hội của cá nhân phụ thuộc rất nhiều vào hoàn cảnh và môi

trường hành động Trong đề tài này hoạt động giải trí của người dân phụ thuộc rất

nhiều vào điều kiện đáp ứng của xã hội, điều kiện kinh tế gia đình… Chính vì vậy

trong một cộng đồng sẽ có những sự lựa chọn các loại hình giải trí khác nhau

- Hành động xã hội có tính chuẩn mực, luôn phụ thuộc vào hệ giá trị chuẩn

mực của xã hội Nhận thức của các cá nhân trong hoạt động giải trí đều được điều

chỉnh bởi giá trị và chuẩn mực của xã hội, đã được các thành viên trong xã hội chấp

nhận Vì vậy, khi tham gia vào hoạt động giải trí không thể không tính đến hệ giá

trị, chuẩn mực của xã hội

Trang 19

- Hành động có tính duy lý, nghĩa là phụ thuộc vào nhận thức chủ quan của

chủ thể Các cá nhân một mặt tuân theo hệ giá trị chuẩn mực của xã hội, mặt khác

vẫn hành động rất khác nhau, chứ không nhất thiết theo khuôn mẫu cứng nhắc Vì

vậy các cá nhân tuỳ thuộc vào nhu cầu, sở thích và mục đích có thể lựa chọn cho

mình những hình thức giải trí phù hợp

1.2.4 Lý thuyết về thang bậc nhu cầu của Maslow

Lý thuyết về thang bậc nhu cầu của Maslow là một trong các lý thuyết mà tầm

ảnh hưởng của nó được thừa nhận rộng rãi và được sử dụng trong nhiều lĩnh vực

khác nhau, bao gồm cả lĩnh vực giáo dục Trong lý thuyết này, ông sắp xếp các nhu

cầu của con người theo một hệ thống trật tự cấp bậc và được thể hiện dưới dạng một

hình kim tự tháp, trong đó, các nhu cầu ở mức độ cao hơn muốn xuất hiện thì các

nhu cầu ở mức độ thấp hơn phải được thỏa mãn trước Trong đó:

Nhu cầu cơ bản (basic needs:) đươc coi là quan trọng nhất vì nó đáp ứng nhu

cầu sinh lý tối thiểu của con người như ăn uống, ngủ, mặc, không khí để thở, tình

dục Maslow cho rằng, những nhu cầu ở mức độ cao hơn sẽ không xuất hiện khi

những nhu cầu cơ bản này không được thỏa mãn

Nhu cầu về an toàn, an ninh (safety, security needs): Khi con người đã được

đáp ứng các nhu cầu cơ bản, tức các nhu cầu này không còn điều khiển suy nghĩ và

hành động của họ nữa, họ sẽ nảy sinh nhu cầu về an toàn, an ninh Con người mong

muốn có sự bảo vệ cho sự sống còn của mình khỏi các nguy hiểm Nhu cầu này sẽ

trở thành động cơ hoạt động trong các trường hợp khẩn cấp, nguy khốn đến tính

mạng như chiến tranh, thiên tai, gặp thú dữ,… Nhu cầu này cũng thường được

khẳng định thông qua các mong muốn về sự ổn định trong cuộc sống, được sống

trong các khu phố an ninh, sống trong xã hội có pháp luật, có nhà cửa an toàn để ở

… Nhiều người tìm đến sự che chở bởi các niềm tin tôn giáo cũng là do nhu cầu

này, đây chính là việc tìm kiếm sự an toàn về mặt tinh thần Các chế độ bảo hiểm xã

hội, các chế độ khi về hưu, các kế hoạch để dành tiết kiệm, … cũng chính là thể

hiện sự đáp ứng nhu cầu an toàn này

Trang 20

Nhu cầu về xã hội (social needs): Nhu cầu này còn được gọi là nhu cầu mong

muốn thuộc về một bộ phận, một tổ chức nào đó (belonging needs) hoặc nhu cầu về

tình cảm, tình thương (needs of love) Nhu cầu này thể hiện qua quá trình giao tiếp

như việc kết bạn, tìm người yêu, lập gia đình, tham gia một cộng đồng nào đó, đi

làm việc, đi chơi picnic, tham gia các câu lạc bộ, làm việc nhóm…

Nhu cầu được quý trọng (esteem needs): Nhu cầu này còn được gọi là nhu cầu

tự trọng (self esteem needs) vì nó thể hiện 2 khía cạnh: nhu cầu được người khác

quý mến, nể trọng thông qua các thành quả của bản thân, và nhu cầu cảm nhận, quý

trọng chính bản thân, danh tiếng của mình, có lòng tự trọng, sự tự tin vào khả năng

của bản thân Sự đáp ứng và đạt được nhu cầu này có thể khiến cho một đứa trẻ học

tập tích cực hơn, một người trưởng thành cảm thấy tự do hơn

Nhu cầu được thể hiện mình (self-actualizing needs): đây chính là nhu cầu

được sử dụng hết khả năng, tiềm năng của mình để tự khẳng định mình, để làm

việc, đạt các thành quả trong xã hội Đó chính là việc đi tìm kiếm các cách thức mà

năng lực, trí tuệ, khả năng của mình được phát huy và mình cảm thấy hài lòng về

Theo Maslow, con người cá nhân hay con người trong tổ chức chủ yếu hành

động theo nhu cầu Chính sự thỏa mãn nhu cầu làm họ hài lòng và khuyến khích họ

hành động Đồng thời việc nhu cầu được thỏa mãn và thỏa mãn tối đa là mục đích

hành động của con người Theo cách xem xét đó, nhu cầu trở thành động lực quan

trọng và việc tác động vào nhu cầu cá nhân sẽ thay đổi được hành vi của con người

Những nhu cầu này phát triển một cách hết sức tự nhiên cùng với sự phát triển của

đời sống bản thân, gia đình và xã hội

Theo tháp nhu cầu của Maslow, nhu cầu giải trí nằm ở nấc thang thứ ba, thuộc

về nhu cầu xã hội Khi các nhu cầu cơ bản của con người như ăn, mặc ở…, sự an

toàn được đảm bảo, con người sẽ nảy sinh những ước muốn được thỏa mãn các nhu

cầu tinh thần, nhu cầu được giải trí Mặc dù Maslow xếp nhu cầu này sau 2 nhu cầu

phía trên, nhưng ông nhấn mạnh rằng nếu nhu cầu này không được thoả mãn, đáp

ứng, nó có thể gây ra các bệnh trầm trọng về tinh thần, thần kinh

Trang 21

Tuy nhiên, con người không nhất thiết phải thực hiện các nhu cầu theo một

tuần tự sắp đặt như trên Trong nhiều trường hợp, những nhu cầu ở bậc cao hơn đôi

khi lại được ưu tiên hơn Chẳng hạn, hoặc khi gặp các vấn đề về tâm lý, mọi người

thường lựa chọn cách giải trí thư giãn nào đó trước khi nghĩ đến việc đáp ứng các

nhu cầu ăn ngủ

1.2.5 Quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước về vấn đề phát triển

văn hóa

Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc

đẩy sự phát triển kinh tế xã hội của quốc gia Chính vì thế, vấn đề về văn hóa đang

được Đảng, Nhà nước và các cơ quan đoàn thể đặc biệt quan tâm Trong văn kiện

Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX, Đảng đã xác định:

Xây dựng một nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, hướng mọi

hoạt động văn hóa vào việc xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn

diện về chính trị- tư tưởng, trí tuệ, đạo đức, năng lực sáng tạo, có ý thức cộng

đồng, có lòng nhân ái, khoan dung, tôn trọng tình nghĩa, lối sống văn hóa, có

quan hệ hài hòa trong gia đình, cộng đồng và xã hội Đồng thời Đảng cũng

chỉ rõ: “Tạo điều kiện để nhân dân ngày càng nâng cao trình độ thẩm mỹ và

thưởng thức nghệ thuật, trở thành những chủ thể sáng tạo văn hóa, đồng thời

hưởng thụ ngày càng nhiều các thành quả văn hóa, nâng cao chất lượng hệ

thống bảo tàng lịch sử, bảo tàng cách mạng, đẩy mạnh xây dựng thư viện,

nhà văn hóa, nhà thông tin, câu lạc bộ sức khỏe, sân bãi thể dục thể thao, khu

vui chơi giải trí”

Nhận thức được đầy đủ tầm quan trọng của văn hóa đến sự phát triển kinh tế-

xã hội, trong Văn kiện đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X, Đảng tiếp tục khẳng định:

Phát triển văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội Trong chiến lược

phát triển kinh tế- xã hội 10 năm 2001-2010 được đưa ra thảo luận tại Đại hội

Đảng lần thứ X đã chỉ rõ: “ làm cho văn hóa thấm sâu vào khu dân cư, từng

gia đình, từng người, hoàn thiện hệ giá trị mới của con người Việt Nam, kế

thừa các giá trị truyền thống của dân tộc và tiếp thu tinh hoa văn hóa của loài

Trang 22

người, tăng cường sức đề kháng chống văn hóa đồi truỵ, độc hại Nâng cao

tính văn hóa trong mọi hoạt động kinh tế, chính trị, xã hội và sinh hoạt của

nhân dân Đẩy mạnh việc xây dựng đời sống văn hóa đại chúng, xây dựng

môi trường văn hóa lành mạnh, đi đôi với bồi dưỡng các tài năng văn hóa,

khuyến khích sáng tạo nhiều công trình văn hóa, nghệ thuật tiêu biểu có giá

trị cao về tư tưởng và nghệ thuật, tương xứng với sự nghiệp giữ nước và

dựng nước, đổi mới và phát triển của dân tộc Nâng cao chất lượng và mở

rộng diện phổ biến các sản phẩm văn hóa đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hóa

ngày càng cao, đa dạng của các tầng lớp nhân dân, phát triển mạnh và nâng

cao chất lượng các hoạt động thông tin báo chí, phát thanh, truyền hình, xuất

bản và phát hành sách trên tất cả các vùng, chú ý nhiều hơn đến vùng sâu,

vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số”

Các chính sách trên đã thể hiện sự quan tâm của Đảng, Nhà nước ta tới đời

sống văn hóa tinh thần của nhân dân, tạo điều kiện để nhân dân ngày càng nâng cao

chất lượng cuộc sống (cả về vật chất và tinh thần), các cá nhân ngày càng hoàn

thiện bản thân, nâng cao nhận thức, phát triển nhân cách tốt và giúp ích cho xã hội

1.3 HỆ KHÁI NIỆM CÔNG CỤ

Trong phạm vi đề tài này, các khái niệm công cụ được sử dụng với hàm ý

như sau:

Đô thị hóa Các nhà khoa học thuộc nhiều bộ môn đã nghiên cứu quá trình đô

thị hóa và đưa ra không ít định nghĩa về nó, nhưng tựu chung lại có thể hiểu đô thị

hóa là quá trình hình thành các thành phố và gia tăng số người sống trong các thành

phố đó Đó là quá trình các thành phố trở thành các trung tâm điều khiển và kiểm

soát tập trung Các đặc trưng cơ bản của đô thị hóa là sự đông đúc, rộng lớn, đa

dạng về thành phần xã hội, nghề nghiệp

Quá trình ĐTH không chỉ thay đổi sự phân bố dân cư và những yếu tố vật

chất, mà còn là sự chuyển hóa những kiểu mẫu của đời sống xã hội Một trong

những điểm nổi bật là quá trình ĐTH đã diễn ra sự phổ biến các giá trị văn hóa và

lối sống đô thị vào cuộc sống nông thôn

Trang 23

Công nghiệp hóa: là quá trình nâng cao tỷ trọng của công nghiệp trong toàn

bộ các ngành kinh tế của một vùng kinh tế hay một nền kinh tế Đó là tỷ trọng về

lao động, về giá trị gia tăng, v.v

Đây là quá trình chuyển biến kinh tế-xã hội ở một cộng đồng người từ nền

kinh tế với mức độ tập trung tư bản nhỏ bé (xã hội tiền công nghiệp) sang nền kinh

tế công nghiệp Công nghiệp hóa là một phần của quá trình hiện đại hóa Sự chuyển

biến kinh tế-xã hội này đi đôi với tiến bộ công nghệ, đặc biệt là sự phát triển của sản

xuất năng lượng và luyện kim quy mô lớn Công nghiệp hóa còn gắn liền với thay

đổi các hình thái triết học hoặc sự thay đổi thái độ trong nhận thức tự nhiên

Lối sống: Sở dĩ nghiên cứu đề cập đến khái niệm lối sống là do trong nghiên

cứu này, chúng tôi muốn nhấn mạnh giải trí như một chỉ báo quan trọng phản ánh

lối sống của người dân Hay nói một cách khác, con người nhận thức về giải trí như

thế nào, thể hiện bằng hành động ra sao, phụ thuộc rất nhiều vào lối sống của người

đó Lối sống là thuật ngữ dùng để chỉ cách thức mà cá nhân sống trong cộng đồng

và xã hội Lối sống được đặc trưng bởi các mô hình hành vi có ý nghĩa với bản thân

cá nhân cũng như những người khác trong những tình huống nhất định Đó có thể là

các quan hệ xã hội, nhu cầu tiêu dùng, thói quen giải trí, cách thức sử dụng trang

phục…vv Lối sống của cá nhân là tổng hợp các thói quen, cách thức giải quyết

công việc cũng như các mô hình hành vi phổ biến trong cuộc sống hàng ngày Lối

sống phản ánh định hướng giá trị cũng như thái độ của cá nhân cho nên bản chất cá

nhân có thể được nhận biết qua lối sống của anh ta Nói cách khác, có thể coi lối

sống chính là yếu tố tạo ra những biểu trưng văn hoá phản ánh bản sắc cá nhân rất

rõ nét

Trong xã hội hiện nay, lối sống của cá nhân chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi các

yếu tố công nghệ cũng như môi trường xã hội hiện đại và phức tạp Bởi vậy, biểu

hiện ra trong thực tiễn hàng ngày là các lối sống hết sức đa dạng Chẳng hạn, thông

thường, chúng ta hay gọi đó là lối sống khép kín nếu như ai đó đề cao sự độc lập và

ít tham gia vào các hoạt động liên quan đến cộng đồng; lối sống hòa đồng đề cập

đến những người dễ dàng chấp nhận sự khác biệt xã hội, tham gia vào mọi tổ chức

Trang 24

và hoạt động xã hội một cách tích cực và tự nguyện Cũng vậy, những người đề cao

việc bảo vệ môi trường và thực hiện việc tiết kiệm nhiên liệu có thể được xếp vào

lối sống vì môi trường; những người không quá chú trọng đến hình thức ăn – mặc -

ở - đi lại được coi là người có lối sống giản dị; những người đề cao sự chuẩn tắc

trong công việc ở cơ quan, cuộc sống gia đình và giải trí được coi là có lối sống

công nghiệp…vv Tóm lại, lối sống chính là cách sống hoặc phương thức sống của

cá nhân trong thực tiễn sinh hoạt hàng ngày

Về lối sống của người dân khu vực đang công nghiệp hóa, đô thị hóa là sự pha

trộn lối sống nông thôn - đô thị do sự đa dạng về thành phần dân cư, trong đó chịu

tác động mạnh của lối sống đô thị Tuy vẫn thuộc là vùng nông thôn nhưng trong

sinh hoạt, thói quen, lối sống của người dân mang dáng dấp của đô thị, chịu ảnh

hưởng nhiều của văn hoá, văn minh và lối sống đô thị Thái độ, hành vi và ứng xử

giữa các cá nhân với nhau thay đổi nhanh theo xu hướng đô thị hóa Các giá trị,

chuẩn mực văn hoá và lối sống đang biến đổi rất mạnh trong mỗi gia đình và ngoài

xã hội Các chiều hướng xung đột và hợp tác để phát huy giữa giá trị văn hóa truyền

thống và hiện đại đang hàng ngày diễn ra mạnh mẽ

Giải trí: Giải trí là một dạng hoạt động của con người, đáp ứng những nhu cầu

phát triển của con người về các mặt thể chất, trí tuệ và mỹ học Giải trí không chỉ là

nhu cầu của từng cá nhân, mà còn là nhu cầu của đời sống cộng đồng (1994; 18)

Giải trí là một dạng hoạt động mang tính chất tự do hơn các dạng hoạt động

khác, con người có quyền lựa chọn các loại hình giải trí tùy theo sở thích, trong

khuôn khổ hệ chuẩn mực của xã hội Nó là bước chuyển từ những hoạt động nghĩa

vụ, bổn phận sang những hoạt động tự nguyện Nó đồng thời là những hoạt động

không mang tính vụ lợi nhằm mục đích giải tỏa sự căng thẳng tinh thần để đạt tới sự

thư giãn, thanh thản trong tâm hồn và cao hơn, đó là sự rung cảm về thẩm mỹ

Như vậy, nói đến giải trí là muốn nói đến các hoạt động vui chơi nói chung,

đem lại cho con người cảm giác thư thái, thoải mái về mặt thể chất cũng như tinh

thần Tuy nhiên, chúng ta cũng cần phân biệt giải trí lành mạnh và giải trí không

lành mạnh Vì ngày nay, cùng với sự phát triển của xã hội, những hình thức giải trí

Trang 25

đáp ứng nhu cầu của người dân ngày càng phong phú, đa dạng nhưng không tránh

khỏi những hình thức giải trí mang mục đích xấu, ảnh hưởng đến sự phát triển nhân

cách con người

Giải trí lành mạnh là hoạt động giải trí trong thời gian rỗi nhằm mục đích thư

giãn, nghỉ ngơi, lấy lại trạng thái cân bằng sau những giờ làm việc mệt mỏi Các

hoạt động được cho là lành mạnh có thể kể đến như nghe nhạc, xem phim, đọc sách

báo, truy cập internet, tập thể dục thể thao, tham gia các câu lạc bộ…

Tuy nhiên, cũng là những hoạt động diễn ra trong thời gian rỗi như chơi cờ

bạc, cá độ bóng đá, mê tín dị đoan, hoặc cũng truy cập internet, chơi game v.v…

nhưng động cơ, mục đích không lành mạnh, không trong sáng được coi là giải trí

không lành mạnh Những hoạt động này không những làm tiêu tốn thời gian tiền

bạc, mà còn ảnh hưởng đến sự phát triển nhân cách của bản thân Việc tham gia các

hoạt động giải trí không lành mạnh còn dẫn họ đến con đường phạm tội, hủy hoại

bản thân, ảnh hưởng đến gia đình và xã hội

Khoảng cách giữa giải trí lành mạnh và không lành mạnh đôi khi rất gần nhau

Do đó, mỗi cá nhân cần trang bị cho mình những kiến thức cần thiết, tránh sa đà vào

những loại hình giải trí giải trí không lành mạnh

Có nhiều cách phân chia các loại hình vui chơi giải trí, tuy nhiên trong khuôn

khổ luận văn này này tác giả chỉ hướng hướng vào vận dụng cách phân chia không

gian vui chơi giải trí, đó là vui chơi giải trí trong gia đình và ngoài ra đình

Những nhân tố quyết định đến hoạt động giải trí:

- Điều kiện chủ quan: Nhân khẩu xã hội của chủ thể, nhu cầu tinh thần, thời

gian rỗi của chủ thể

- Điều kiện khách quan: Số lượng, vị trí của các địa điểm giải trí, sự tổ chức và

quản lý các hoạt động giải trí

- Định hướng của xã hội: Chính sách phát triển giải trí, quan niệm xã hội, đầu

tư của xã hội cho giải trí

* Thời gian rỗi

Trang 26

Thời gian rỗi là khoảng thời gian mà trong đó con người không bị thúc bách

bởi các nhu cầu sinh tồn, không bị chi phối bởi bất cứ nghĩa vụ khách quan nào Nó

được dành cho các hoạt động tự nguyện, theo sở thích của chủ thể nhằm thỏa mãn

nhu cầu tinh thần của con người

Khái niệm thời gian rỗi trong nghiên cứu này được hiểu là khoảng thời gian

dành cho nghỉ ngơi, giải trí của các cá nhân có được sau khoảng thời gian làm việc

tạo ra thu nhập cho gia đình Trong khoảng thời gian rỗi này, các cá nhân có quyền

lựa chọn các hình thức giải trí phù hợp với bản thân và gia đình nhằm thoả mãn nhu

cầu về mặt tinh thần

Trang 27

CHƯƠNG 2 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

2.1 ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA ĐỊA BÀN KHẢO SÁT

2.1.1 Tỉnh Vĩnh Phúc

Tỉnh Vĩnh Phúc nằm ở cửa ngõ Tây Bắc của Thủ đô Hà Nội, là một trong 8

tỉnh thuộc vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc, có diện tích tự nhiên khoảng

1.371km2, dân số gần 1,2 triệu người và bao gồm 9 đơn vị hành chính: Thành phố

Vĩnh Yên, thị xã Phúc Yên và 7 huyện là Mê Linh, Bình Xuyên, Yên Lạc, Vĩnh

Tường, Tam Dương, Tam Đảo và Lập Thạch Một trong những ưu thế của Vĩnh

Phúc so với các tỉnh xung quanh Hà Nội là có diện tích đất đồi rộng, rất thuận tiện

cho việc xây dựng và phát triển các khu công nghiệp, khu đô thị Bên cạnh đó

nguồn lao động của Vĩnh Phúc khá dồi dào, chiếm khoảng 61,6% tổng dân số, trong

đó chủ yếu là lao động trẻ Năm 1997, sau khi tách khỏi tỉnh Vĩnh Phú, đặc biệt là

từ đầu những năm 2000 trở lại đây, quá trình đô thị hóa trên địa bàn Vĩnh Phúc

được đẩy lên với tốc độ nhanh hơn Nhờ thu hút được nhiều dự án đầu tư nên tổng

thu ngân sách của tỉnh hàng năm tăng cao, năm 2008 đạt xấp xỉ 9.000 tỷ đồng Năm

2008, tốc độ tăng GDP của tỉnh ước đạt 18% Để đạt được những thành tựu này,

tỉnh Vĩnh Phúc đã coi khâu giải phóng mặt bằng là then chốt Toàn tỉnh đã chuyển

gần 7.000 ha đất dành cho công nghiệp và phát triển đô thị Với phương châm "có

công nghiệp vào, đời sống nhân dân phải tốt hơn khi chưa có", Vĩnh Phúc tạo cơ

chế cấp đất cho người dân bị mất 30% đất sản xuất trở lên ở những vị trí thuận lợi

để họ làm dịch vụ; có chính sách ràng buộc nhà đầu tư thực hiện nghĩa vụ tạo việc

làm cho con em nông dân trong các doanh nghiệp trên địa bàn

2.1.2 Phường Khai Quang

Khai Quang là một phường nằm ở phía Đông Nam và là cửa ngõ của thành

phố Vĩnh Yên Trên địa bàn phường có tuyến đường sắt Hà Nội – Lào Cai dài

3,5km và có tuyến quốc lộ 2 dài khoảng 4km chạy qua Dân số của phường tính đến

năm 2009 là 16.661 khẩu, 1832 hộ Diện tích đất tự nhiên của phường là 1.117,17

ha và được phân chia thành 12 tổ dân phố Quá trình chuyển đổi mục đích sử dụng

đất được bắt đầu tiến hành từ năm 1997 Đến năm 2005, tổng diện tích đất bị thu

Trang 28

hồi phục vụ cho việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất của địa phương nămlà 33.67

ha; năm 2006 là 65.2 ha; năm 2007 là 20.8 ha; năm 2008 là 48 ha

Đặc điểm kinh tế

Kể từ khi bắt đầu thực hiện chính sách chuyển đổi mục đích sử dụng đất cho

việc thực hiện CNH, ĐTH, từ chỗ là một xã nghèo, nhiều vùng nông thôn chưa có

điện lưới, hàng trăm hécta đất vườn trơ sỏi đá, cuộc sống người dân bấp bênh, nhiều

hộ còn thiếu đói, đến nay phường Khai Quang đã trở trở thành một đô thị công

nghiệp Trong năm 2009 kinh tế của phường tiếp tục duy trì tăng trưởng tốt, với

tổng doanh thu đạt 2.848 tỷ đồng, thu nhập bình quân đầu người đạt 42.741.000

đồng, tăng đáng kể so với năm 2008 là 33.988.000đ/người Cơ cấu kinh tế của

phường hiện nay là: công nghiệp – thương mại – du lịch – dịch vụ và nông nghiệp

Tuy nhiên, do sự thu hẹp đất đai canh tác, tỷ trọng nông nghiệp của phường hiện

nay chỉ chiếm 0,4% cơ cấu kinh tế toàn phường Tỷ trọng ngành thương mại, dịch

vụ mặc dù tăng mạnh so với năm 2008 (tăng 14,6%) nhưng cũng chỉ chiếm 18,1%

cơ cấu kinh tế, còn lại là giá trị của ngành công nghiệp, xây dựng và tiểu thủ công

nghiệp (81,5%) Phường không còn hộ đói, số hộ nghèo chỉ còn 1,49%, số hộ khá,

giầu chiếm trên 60%, gần 50% số hộ có nhà kiên cố cao tầng, 95% số hộ có xe máy,

51% hộ có điện thoại, 100% hộ có tivi

Với quy mô gần 300 ha, với địa thế và giao thông thuận lợi, khu công nghiệp

Khai Quang nằm trên địa bàn phường hiện có hơn 40 doanh nghiệp từ trong nước

và quốc tế đến đầu tư, trong đó có 37 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, đã

trở thành một trong những khu công nghiệp lớn nhất của tỉnh Vĩnh Phúc

Văn hóa xã hội

Cùng với sự khởi sắc về kinh tế, đời sống văn hóa, tinh thần của người dân

Khai Quang trong những năm qua đã được cải thiện đáng kể và từng bước được

nâng cao Ngay từ những ngày đầu mới thành lập, phường Khai Quang đã có Ban

chỉ đạo phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” Đại hội Đảng

bộ phường lần thứ 23 (2005-2010) đã ra nghị quyết về xây dựng các thiết chế văn

hóa giai đoạn 2005-2010, soạn thảo hương ước, quy ước, đăng ký gia đình văn hóa,

Trang 29

khu phố văn hóa Đến nay, 12/12 thôn đã xây dựng xong hương ước, quy ước và đã

được phê duyệt, trong đó 4 thôn đã đưa vào thực hiện

Các thôn đều có nhà văn hóa phục vụ cho việc hội họp, sinh hoạt văn hóa, văn

nghệ, thể thao của người dân trong thôn Hàng năm đều có ngày hội thể thao toàn

phường, thu hút nhiều tầng lớp nhân dân đến tham gia Điển hình là năm 2009

phường đã tổ chức thành công Đại hội thể dục thể thao toàn phường với số lượng

vận động viên tham gia lên tới 115 người, thuộc mọi lứa tuổi, chủ yếu là thi đấu

bóng bàn, cầu lông, xe đạp

Trên địa bàn phường có 7 đình, 8 chùa, 8 miếu, trong đó có chùa Phú đã được

tỉnh Vĩnh Phúc công nhận là di tích lịch sử Lễ hội chùa Phú diễn ra vào ngày mùng

9 tháng giêng, thu hút không chỉ người dân địa phương mà còn đông đảo khách thập

phương về dự Tùy từng năm mà lễ hội chùa Phú có thể diễn ra từ 1 đến vài ngày,

trong đó diễn ra nhiều nghi lễ quan trọng như lễ múa mo, cày cấy vào vụ … Ngoài

ra mỗi thôn làng đều có ngày hội làng riêng với nhiều hoạt động văn hóa sôi nổi và

mang những nét đặc trưng riêng

Qua nghiên cứu và tìm hiểu những khu vực đang CNH, ĐTH từ các nguồn tài

liệu khác, chúng tôi nhận thấy rằng, với những đặc điểm kinh tế và xã hội như trên,

phường Khai Quang có thể đặc trưng cho khu vực CNH, ĐTH trên địa bàn tỉnh

Vĩnh Phúc mà luận văn đặt ra để nghiên cứu Cụ thể là

- Về kinh tế: Khác với khu vực nông thôn thuần túy, vùng đang CNH, ĐTH

bao gồm toàn diện hơn các hoạt động kinh tế, như các hoạt động sản xuất công

nghiệp, nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ Do vậy, đời sống kinh tế,

mức thu nhập của các hộ gia đình cũng cao hơn so với mặt bằng chung của nông

thôn thuần túy

- Về xã hội: Khu vực đang CNH, ĐTH là nơi không thuần nhất về thành phần

dân cư (nông dân/công nhân/ trí thức/chủ doanh nghiệp…); trình độ dân trí và nhận

thức của người dân cao hơn so với nông thôn thuần tuý vì được tiếp xúc nhiều hơn

với các yếu tố hiện đại và được cung cấp thông tin thường xuyên từ nhiều kênh

khác nhau Quan hệ xã hội đa chiều và phức tạp hơn, do vậy dễ nảy sinh những

Trang 30

xung đột về lợi ích giữa các nhóm dân cư (đặc biệt trong sử dụng đất, các dịch vụ

xã hội, ) trong quá trình chuyển đổi từ nông thôn sang đô thị

- Về văn hoá: Lối sống của cư dân vùng đang CNH, ĐTH là sự pha trộn lối

sống nông thôn - đô thị do sự đa dạng về thành phần dân cư, trong đó chịu tác động

mạnh của lối sống đô thị Nếp sống sinh hoạt, thói quen, lối sống của người dân

mang dáng dấp của đô thị, chịu ảnh hưởng nhiều của văn hoá, văn minh và lối sống

đô thị Thái độ, hành vi và ứng xử giữa các cá nhân với nhau thay đổi nhanh theo xu

hướng đô thị hóa Các giá trị, chuẩn mực văn hoá và lối sống đang biến đổi rất

mạnh trong mỗi gia đình và ngoài xã hội Các chiều hướng xung đột và hợp tác để

phát huy giữa giá trị văn hóa truyền thống và hiện đại đang hàng ngày diễn ra mạnh

mẽ

2 2 HOẠT ĐỘNG GIẢI TRÍ CỦA NGƯỜI DÂN SỐNG TRONG KHU

VỰC ĐANG CNH, ĐTH HIỆN NAY

2.2.1 Nhận thức của người dân về giải trí

Nhận thức là một quá trình đi từ nhận thức cảm tính đến nhận thức lí tính Quá

trình này thường gắn với một mục đích nhất định và là sự phản ánh hiện thực khách

quan Nhận thức đúng đắn thường giúp con người định hướng đến những hành vi

đúng đắn, nhưng nhận thức sai lầm thường dẫn đến những định kiến sai lầm, từ đó

dễ mắc phải những sai lầm trong hành động

Quá trình CNH, ĐTH không chỉ mang lại sự phát triển kinh tế, xã hội cho các

khu vực nông thôn, mà hơi thở của cuộc sống đô thị đã làm thay đổi đáng kể nhận

thức của người dân nông thôn trong nhiều lĩnh vực, trong đó có nhận thức về vai trò

của giải trí đối với bản thân, gia đình và xã hội

Khảo sát sự đánh giá của người dân về mức độ cần thiết của giải trí, chúng tôi

nhận được kết quả như sau:

Biểu đồ 1: Nhận thức của người dân về mức độ cần thiết của giải trí (đơn vị

%)

Trang 31

10.4 0

cần thiết bình thường không cần thiết

(Nguồn: Số liệu khảo sát bằng bảng hỏi của luận văn - 2010)

Biểu đồ trên cho thấy, số người nhận thấy sự cần thiết của giải trí chiếm một

tỷ lệ khá cao (89,6%), 10,4% còn lại cho rằng bình thường và không có ý kiến nào

được hỏi cho rằng nó không cần thiết Để hiểu kỹ hơn nhận thức của người dân về

giải trí, chúng tôi đã trò chuyện, phỏng vấn một số người dân và nhận thấy, có hai

nhóm quan điểm chủ yếu xung quanh vấn đề này:

Thứ nhất là quan điểm nhìn nhận giải trí theo hướng tích cực, nghĩa là nhận

thấy sự cần thiết và những ích lợi mà giải trí mang lại cho bản thân, gia đình và xã

hội Cụ thể đối với một số lĩnh vực sau:

- Về việc giải trí thông qua nghe, nhìn, đọc

“Cứ đến thời sự là cả nhà cùng xem, nhiều tin tức hay, bây giờ tivi nói thẳng

nhiều vấn đề thực tế cuộc sống Không xem thì làm sao biết được tình hình các

nước đánh nhau, xem hết cả dự báo thời tiết, người thực việc thực, hơn đọc báo

Các cháu trẻ bây giờ chúng nó cũng xem thời sự nhiều, bình luận ra phết ….”(PVS

nam, cựu chiến binh, 56 tuổi)

“Sáng nào bác cũng nghe đài, 5 rưỡi dậy là nghe rồi, nhưng phải mang đài ra

sân để các cháu nó còn ngủ, nghe từ lâu thành quen, không có thì khó chịu lắm …

tin gì cũng nghe, đều có ích cả” (PVS nam, nghỉ hưu, 63 tuổi)

Những ý kiến trên thể hiện rằng, người dân đã nhận thấy hoạt động giải trí

thông qua các phương tiện truyền thông không chỉ giúp họ giải trí, thư giãn, mà còn

giúp họ nâng cao nhận thức, hiểu biết về xã hội và thế giới xung quanh; mang đến

Trang 32

cho họ nhiều kiến thức và kinh nghiệm bổ ích cả trong cuộc sống và trong công

việc

- Về việc giải trí thông qua các hoạt động thể thao, sinh hoạt tập thể

“Trước khác, bây giờ khác, không thể thao là lạc hậu, sức mình đến đâu mình

tập đến đấy, vừa nâng cao sức khỏe, vừa vui Tôi trong người cũng không có bệnh

tật gì đáng kể, nhưng vẫn phải rèn luyện”(PVS, nam, cựu chiến binh, 56 tuổi)

“Đời sống đi lên, dân chủ hơn Hội họp nhiều, phát biểu nhiều” (PVS, nam,

nghỉ hưu, 63 tuổi)

Nhiều người đã nhận thấy ích lợi của việc tập thể dục thể thao đối với sức

khỏe của bản thân Nhận thấy ích lợi của việc tham gia các hoạt động xã hội, sinh

hoạt trong các câu lạc bộ, hội, nhóm tại địa phương Các hoạt động này không chỉ

mang lại những giờ phút thư giãn quí giá cho bản thân mà những người tham còn

tạo được cho mình phong cách sống vui vẻ, hoạt bát, năng nổ, là những phẩm chất

rất cần thiết cho con người hiện đại

- Về việc giải trí bằng hình thức đi thăm quan, du lịch

Tham quan du lịch là môt loại hình giải trí mới phổ biến ở nông thôn Mặc dù

để đáp ứng một chuyến du lịch cũng tốn kém một khoản tiền không nhỏ, nhưng

nhiều người dân đã nhận thức được những giá trị quý giá hơn sau mỗi chuyến đi, đó

là những kỷ niệm, là sự mở mang, hiểu biết về các vùng miền, các danh lam thắng

cảnh, các di tích trên khắp mọi miền đất nước Những chuyến đi còn giúp các cá

nhân trong gia đình, trong cộng đồng có cơ hội hiểu nhau hơn, gắn kết các mối quan

hệ của họ hơn

“Trước chỉ mơ được xuống Hà Nội, bây giờ được đi nhiều, đủ các nơi, tốn thì

tốn thật đấy nhưng mà cũng đáng, đầu óc mở mang ra nhiều” (PVS nữ, 63 tuổi,

nghỉ hưu )

“Năm nào gia đình chị cũng tổ chức đi nghỉ mát vào dịp nghỉ hè, tiền ít nên

chỉ đi gần thôi, chủ yếu cho các cháu nó vui, động viên các cháu học hành tốt

hơn”(PVS nữ 38 tuổi, cán bộ)

Trang 33

Tuy nhiên, không phải ai nhận thấy sự cần thiết của giải trí cũng đều nhận

thức được hết ý nghĩa và vai trò của nó cũng như là nhận thức được việc phải giải

trí như thế nào cho phù hợp với đời sống của bản thân và gia đình

Thứ hai là luồng ý kiến nhìn nhận giải trí theo hướng tiêu cực, hoặc chưa nhận

thức được hết vai trò của giải trí Sở dĩ như vậy là do trong xã hội nước ta, có một

số quan niệm cũ coi giải trí là hoạt động ngược với hoạt động lao động sản xuất

Nếu như lao động là cần thiết, là vinh quang thì giải trí ngược lại là lười biếng, là

không cần thiết, là lãng phí thời gian một cách vô bổ, thậm chí dẫn tới hậu quả xấu

Chính vì quan niệm này đã làm cho hoạt động giải trí bị xem nhẹ, hoặc bị gắn cho

những ý nghĩa tiêu cực Một số người không nhận thức được cách thức giải trí lành

mạnh và phù hợp với những giá trị, chuẩn mực của xã hội

“Tôi bận tối ngày, chẳng có lúc nào mà giải trí, chỉ thỉnh thoảng xem cái tivi,

ngày xưa không có tivi, đài đóm gì có chết đâu” (PVS nữ 67 tuổi, làm nông nghiệp)

“Tệ nạn nảy sinh nhiều, thanh niên bây giờ chơi bời nhiều trò vô bổ, nhảm

nhí” (PVS nam 70 tuổi, về hưu)

Nhưng xét trên bình diện chung, đa số người dân ở đây có nhận thức theo

hướng tích cực đối với giải trí, nhận thức được những hoạt động nào thực sự giúp

họ giải tỏa những trạng thái căng thẳng, mệt mỏi, đem lại nhiều lợi ích để tham gia;

đồng thời tránh xa các thú vui tiêu khiển vô bổ như cờ bạc, rượu chè, những hành vi

lệch chuẩn không mang lại cho họ sự thư thái, thoải mái, sảng khoái mà còn làm họ

tiêu hao sức lực, trí tuệ, tiêu tốn tiền bạc của bản thân và gia đình

Trong bối cảnh của một xã hội có sự giao thoa giữa lối sống nông thôn và

thành thị như tại những khu vực này, việc tồn tại những quan điểm, nhận thức khác

nhau về giải trí là một điều dễ hiểu Quá trình điều tra cũng giúp chúng tôi nhận

thấy có sự khác biệt khá rõ nét trong nhận thức về giải trí giữa các nhóm xã hội

khác nhau, chẳng hạn như nhóm tuổi, nhóm học vấn, và điều này sẽ ảnh hưởng

không nhỏ đến nhu cầu và sự tham gia các hoạt động giải trí của người dân mà

chúng tôi sẽ phân tích ở phần sau

2.2.2 Sự tham gia các hoạt động giải trí của người dân

Trang 34

Nhận thức nảy sinh nhu cầu, và nhu cầu thôi thúc hành động để thỏa mãn nhu

cầu, đó là quy luật của quá trình đi từ nhận thức đến hành động Nhu cầu giải trí của

người dân ở đây được chúng tôi tìm hiểu ở khía cạnh họ mong muốn (hoặc yêu

thích) được giải trí bằng những loại hình giải trí nào trong thời gian rỗi; nhu cầu giải

trí của họ ít hay nhiều, tăng hay giảm, truyền thống hay hiện đại…

Qua khảo sát bằng bảng hỏi về những loại hình yêu thích trong thời gian rỗi

của người dân nơi đây, chúng tôi thu được kết quả như sau:

Bảng 2.1 Loại hình giải trí yêu thích trong thời gian rỗi

Hoạt động ưa thích nhất

Trước khi chuyển đổi (%)

Hiện nay 2010) (%)

6 Xem phim, xem biểu diễn nghệ thuật 2,0 7,2

(Nguồn: số liệu khảo sát bằng bảng hỏi của luận văn - 2010)

Nhìn vào bảng số liệu trên, có thể nhận thấy, hầu hết những loại hình giải trí

mà chúng tôi thống kê để hỏi đều được một số lượng nhất định người dân lựa chọn

là loại hình yêu thích trong thời gian rỗi Trong đó, xem tivi, nghe đài là loại hình

giải trí được nhiều người lựa chọn nhất (95,2%) Tiếp đến là hình thức thăm hỏi

người thân, hàng xóm (73,6%), sinh hoạt câu lạc bộ, hội nhóm (33,2%), đọc sách,

báo (27,6%) Đây cũng là những loại hình giải trí được yêu thích nhất thời kỳ trước

chuyển đổi, với con số tương ứng là 78,2%; 71,2%; 26,4%; 20,8% Mặc dù vậy, đã

có sự thay đổi theo xu hướng tăng lên, tức là nhóm người yêu thích những loại hình

giải trí này đã tăng hơn so với trước

Trang 35

Đi lễ chùa, cúng bái cũng là nhu cầu giải trí được nhiều người dân yêu thích

nhất (16%), tuy nhiên con số này đã giảm khá so với thời kỳ trước chuyển đổi

(27,2%) Đây là sự suy giảm duy nhất trong bảng số liệu thống kê nhu cầu giải trí

yêu thích của người dân trước và sau chuyển đổi Còn lại tất cả đều ghi nhận những

mức tăng đáng kể Sự gia tăng tương ứng với các loại hình giải trí như sau: chơi thể

thao tăng từ 8,4% so với 3,6% thời kỳ trước chuyển đổi; xem phim, xem biểu diễn

nghệ thuật 7,2% so với 2%; truy cập Internet 2,4% so với 0%; đi sinh nhật, mừng

thọ 14% so với 6,8%; đi tham quan, nghỉ mát 31,2% so với 4,0%

Những con số trên không chỉ thể hiện mức tăng nhu cầu giải trí của người dân

trong thời gian rỗi hiện nay so với trước, mà nó còn thể hiện sự đa dạng, phong phú

trong nhu cầu giải trí của người dân Không chỉ quanh quẩn giải trí tại nhà, hoặc đi

thăm hỏi người thân, đi lễ chùa, mà người dân còn có nhu cầu hưởng thụ nhiều loại

hình giải trí khác nhau như sinh hoạt câu lạc bộ, hội; nhóm; tập thể thao; đi thăm

quan du lịch …

Mức tăng này còn thể hiện ở chỗ có sự gia tăng vào những loại hình giải trí

hiện đại, gắn liền với lối sống đô thị Chẳng hạn, một loại hình giải trí mới phổ biến

gần đây là đi thăm quan, nghỉ mát được rất nhiều người yêu thích (31,2%) Nhưng

mức tăng ở những loại hình này không cao, những số liệu thể hiện một mức độ khá

khiêm tốn nhu cầu của người dân Điều này cho thấy rằng, người dân đã có nhu cầu

hưởng thụ loại hình giải trí này, nhưng vẫn ở mức độ thấp Một lý do được đưa ra là

“đời sống người dân đã biến đổi theo chiều hướng tốt, nhưng nhiều người dân mình

vẫn sống theo lối chân quê, tiết kiệm, bỏ tiền ra để giải trí còn xót ruột lắm Ai có

điều kiện, cũng phải dư dả lắm thì họ mới có nhu cầu hưởng thụ này kia Còn không

cũng chỉ chủ yếu là mua cái tivi, cái đầu đĩa để xem Nếu anh muốn chơi cái gì thì

lên tỉnh, mất chục phút đi xe máy, muốn gì cũng có.” (PVS, nam, trưởng thôn, 37

tuổi)

Nhận thức và nhu cầu về giải trí của người dân là như vậy, nhưng điều đó thể

hiện thành hành động ra sao? Mức độ như thế nào? Có sự thay đổi như thế nào so

với trước khi chuyển đổi? Chúng tôi sẽ tiếp tục làm rõ sau đây

Trang 36

2.2.2.1 Giải trí tại nhà

Xem tivi, nghe đài

Theo các tài liệu mà chúng tôi thu thập được có liên quan đến vấn đề giải trí

của người dân tại các khu vực đô thị hoá, công nghiệp hoá (Nguyễn Hữu Minh

2003; Đỗ Văn Quân 2006; K49 Xã hội học 2008 ), kết quả đều cho thấy: xem ti vi

và nghe đài là 2 hoạt động giải trí tại gia đình được nhiều người dân lựa chọn tham

gia hơn cả Những số liệu điều tra bằng bảng hỏi tại địa bàn nghiên cứu cũng cho

những kết quả tương tự Và điều này phản ánh chính xác nhu cầu xem tivi, nghe đài

mà chúng tôi đã trình bày ở trên Nhu cầu này xuất phát từ thực tế đây là loại hình

giải trí mang tính cá nhân nhiều hơn so với các loại hình giải trí khác, lại tiện lợi, dễ

thực hiện mỗi khi có thời gian nhàn rỗi Chỉ cần ngồi ở nhà, mọi người có thể lựa

chọn cho mình một chương trình phù hợp, mình thích để thư giãn sau một ngày lao

động, học tập Ngay cả những người không có nhiều thời gian rỗi cũng có thể tranh

thủ xem ti vi lúc đêm khuya hay trong bữa ăn Nhu cầu xem tivi cũng dễ dàng được

đáp ứng do hầu hết gia đình nào cũng có những phương tiện giải trí này Loại hình

giải trí này không chỉ thực hiện chức năng giải trí, thư giãn mà còn có chức năng

cung cấp nhiều thông tin bổ ích, nâng cao kiến thức cho người dân Hệ thống các

kênh phát trên ti vi ngày càng đa dạng (sự xuất hiện của truyền hình cáp, truyền

hình đa kênh, truyền hình kỹ thuật số…), các chương trình truyền hình có chất

lượng ngày càng cao, nội dung ngày càng phong phú, hình thức ngày càng mới mẻ

nên đã thu hút được sự quan tâm của đông đảo người dân 95,2% số người được hỏi

cho rằng họ thường xuyên tham gia hai loại hình giải trí này, chỉ có sô ít (4,8%) lựa

chọn mức độ thỉnh thoảng So sánh với trước khi chuyển đổi, thì con số này đã gia

tăng đáng kể Cụ thể là chỉ có 40,4% ý kiến cho rằng họ thường xuyên xem tivi và

nghe đài trước khi chuyển đổi Đây có lẽ cũng là điều dễ hiểu bởi thời điểm trước

khi thu hồi đất, Khai Quang vẫn còn là một xã nghèo, số hộ có các phương tiện giải

trí trên không nhiều nên người dân khó có điều kiện tiếp cận với nó Ngoài ra,

truyền hình thời điểm đó cũng chưa phát triển phong phú như hiện nay

Trang 37

Đọc sách, báo

Đọc sách báo cũng là một loại hình giải trí tại nhà được nhiều người dân ưa

chuộng trong thời gian gần đây 29,6% ý kiến cho rằng họ thường xuyên đọc báo,

38,4% cho là thỉnh thoảng Nếu so với trước khi chuyển đổi, thì đây là một khoảng

cách dài, chỉ có 0,8% số người được hỏi nói rằng họ thường xuyên đọc báo và

26,8% thỉnh thoảng đọc báo trong giai đoạn trước chuyển đổi Đọc sách, báo vừa

giúp giải trí, vừa giúp cung cấp nhiều loại thông tin bổ ích, đa dạng, nâng cao nhận

thức và thẩm mỹ của mỗi cá nhân Sở dĩ số lượng người thường xuyên tiếp cận loại

hình giải trí này ít hơn nhiều so với xem tivi và nghe đài là do trên toàn địa bàn

khảo sát không có bất cứ một thư viện công cộng nào nên người dân muốn đọc báo

phải tự mua về Ngoài ra, mặc dù mua báo tốn không nhiều tiền, nhưng không

giống như các phương tiện giải trí khác là tivi và đài chỉ phải đầu tư một lần, người

đọc muốn đọc báo phải thường xuyên bỏ tiền ra mua báo nên họ cũng hạn chế,

thỉnh thoảng có dịp mới mua về đọc Hầu như chỉ có những đối tượng được cấp

phát báo miễn phí mới có cơ hội thường xuyên đọc báo

Các hoạt động giải trí tại nhà khác: hát karaoke, truy cập Internet

Ngoài những loại hình giải trí tại nhà khá phổ biến trên, người dân tại đây đã

đầu tư mua sắm một số phương tiện giải trí khác nhằm phục vụ cho nhu cầu giải trí

của mình như dàn máy karaoke, dàn máy vi tính Theo điều tra, có tới 36% số hộ

gia đình có dàn máy karaoke, 14,4% có dàn máy vi tính Nhưng khi được hỏi về

mức độ thường xuyên giải trí bằng những phương tiện này, chỉ có 6% cho rằng họ

thường xuyên hát karaoke tại nhà, 31,6% nói rằng thỉnh thoảng họ mới hát karaoke

Đây cũng là điều dễ hiểu vì không phải cứ mua vật dụng gì cũng phải sử dụng nó

một cách thường xuyên Người dân chủ yếu hát trong các ngày lễ, trong những dịp

gia đình có công việc đông người Lý giải cho điều này, một người dân được hỏi đã

cho rằng “mua để đấy thỉnh thoảng vui mới hát, hát ầm ĩ suốt ngày hàng xóm người

ta chửi cho à, bây giờ khác xưa rồi, mình cũng phải tôn trọng trật tự cho hàng xóm

ch,” (PVS nam, xe ôm, 34 tuổi) Số người thường xuyên truy cập Internet tại nhà

Trang 38

cũng không nhiều (8%), đây là loại hình giải trí khá mới mẻ chỉ mới phổ biến thời

gian gần đây nên người dân chưa dễ dàng thích ứng với nó

Bảng số liệu sau sẽ làm rõ hơn các mức độ tham gia giải trí tại nhà của người

dân trước và sau chuyển đổi:

Bảng 2.2 Mức độ tham gia các hoạt động giải trí tại nhà của người dân

Các hoạt động giải

trí tại nhà

Mức độ tham gia Trước khi bị thu hồi đất Hiện nay (2009-2010)

Thường xuyên (%)

Thỉnh thoảng (%)

Không tham gia (%)

Thường xuyên (%)

Thỉnh thoảng (%)

Không tham gia (%)

1 Xem tivi, nghe đài 40,4 57,2 1,6 95,2 4,8 0

3 Hát karaoke tại nhà 2,8 1,6 98,25 6,0 31,6 63,4

4 Truy cập Internet

(Nguồn: số liệu khảo sát bằng bảng hỏi của luận văn - 2010)

Bảng số liệu trên cho thấy xem tivi, nghe đài là loại hình giải trí tại nhà phổ

biến nhất, được người dân tham gia thường xuyên nhất, ngoài ra bảng trên còn cho

thấy sự gia tăng đáng kể mức độ tham gia các loại hình giải trí của người dân hiện

nay so với trước chuyển đổi Mức tăng thể hiện ở cả tần xuất thường xuyên và thỉnh

thoảng, và ở tất cả các loại hình giải trí

2.2.2.2 Giải trí ngoài gia đình

Sang chơi nhà hàng xóm, đi sinh nhật, mừng thọ

Sang chơi nhà hàng xóm, một thú giải trí đặc trưng của nông thôn cũng vẫn

còn tồn tại khá phổ biến ở khu vực đang CNH, ĐTH So sánh số liệu thời kỳ trước

thu hồi ruộng đất và thời gian gần đây, có thể thấy rõ điều này 49,2% ý kiến cho

rằng thường xuyên sang nhà hàng xóm chơi thời kỳ trước chuyển đổi và hiện nay là

67% Con số thay đổi không nhiều nhưng có xu hướng tăng lên, điều này một mặt

cho thấy người dân đã ngày càng có nhiều thời gian rảnh rỗi hơn, một mặt cho thấy

việc duy trì những mối quan hệ hàng xóm láng giềng vẫn luôn được người dân coi

trọng Mặc dù không còn là những xã thuần nông, các hộ gia đình lại biến đổi theo

xu hướng khép kín hơn, nhưng tính cố kết cộng đồng, quan hệ anh em làng xóm vẫn

Trang 39

được người dân coi trọng Việc thăm hỏi người thân, gặp gỡ trao đổi với hàng xóm,

láng giềng giúp củng cố các mối quan hệ xã hội, thể hiện sự quan tâm, chia xẻ đối

với những người xung quanh Việc gặp gỡ, trao đổi còn là một kênh thông tin hữu

hiệu với người dân Ở đó, mỗi cá nhân thường học được những cách ứng xử đúng

đắn, giúp phát triển nhân cách và không ngừng hoàn thiện bản thân Đó cũng là nơi

họ tìm thấy những người bạn tri ân, giúp giải tỏa những nỗi niềm, những lo âu,

những thắc mắc…trong cuộc sống Việc sang chơi nhà hàng xóm còn là nơi để gặp

gỡ và trao đổi những phương pháp về chăn nuôi, trồng trọt, những cách làm kinh tế

giỏi Hơn nữa đối với hình thức giải trí này con người không mất chi phí về vật chất

mà chỉ cần chi phí về thời gian nhưng hiệu quả giải trí cũng rất hữu hiệu Theo lý

thuyết hành động xã hội của Max Weber, việc lựa chọn hình thức giải trí sang chơi

nhà hàng xóm trong thời gian rỗi có thể coi là hành động duy lí truyền thống Người

Việt Nam từ xưa luôn coi trọng tình nghĩa bạn bè, làng xóm Với người dân việc đi

thăm nhau khi rảnh rỗi là hoạt động thường nhật, không thể thiếu trong cuộc sống,

nhất là khi nơi đây phần lớn người dân xuất thân từ nông thôn, những nếp sống, thói

quen truyền thống ăn sâu vào họ Đó là một lý do khiến loại hình giải trí này được

những người dân nơi đây thường xuyên sử dụng

Kinh tế khấm khá lên thường đi kèm với việc nảy sinh thêm nhiều nghi lễ

trong đời sống con người, nói như người xưa là “phú quý sinh lễ nghĩa” Trong

những năm gần đây, nhiều người đã bắt đầu chú ý tổ chức sinh nhật, lễ mừng thọ

cho những người thân trong gia đình Nhiều gia đình tổ chức mừng thọ cho người

thân khá linh đình và tốn kém, không chỉ những người trong họ được mời mà những

người hàng xóm, những người thân ở xa cũng về dự, trở thành một ngày vui lớn

không chỉ của gia đình mà còn của cả họ “Nhẹ thì cũng phải hai chục mâm, con

cháu đánh chén là chính, nhà càng giầu mừng thọ càng to, linh đình có khi còn hơn

đám cưới, khách đông, tiền mừng cũng nhiều, đâu vào đấy cả …” (PVS, nam, nghỉ

hưu, 63 tuổi) Hội người cao tuổi, Mặt trận Tổ quốc của phường cũng đứng ra tổ

chức mừng thọ cho những người cao tuổi trong phường Nhưng việc tổ chức thường

diễn ra đơn giản, chỉ có thuốc nước, bánh kẹo, nhưng không khí ấm cúng, trang

Trang 40

trọng, được rất nhiều người dân hưởng ứng Việc tham gia những ngày lễ nhỏ này

cũng vừa là một thú vui giải trí của người dân, vừa thể hiện sự quan tâm, chia xẻ

đến những vấn đề vốn thường bị coi là riêng tư của mỗi gia đình Nếu như trước khi

chuyển đổi không có ai được hỏi cho rằng họ thường xuyên hoặc thỉnh thoảng đi

sinh nhật, chỉ có 2,8% nói thường xuyên đi mừng thọ, thì thời gian gần đây, số

người thường xuyên đi dự sinh nhất là 3,6% và thỉnh thoảng là 49,6%; còn số người

nói rằng họ thường xuyên đến các lễ mừng thọ lên đến 45,2%

Bảng số liệu sau sẽ làm rõ hơn vấn đề này

Bảng 2.3 Mức độ sang chơi nhà hàng xóm, đi sinh nhật, mừng thọ

Các hoạt động giải

trí tại nhà

Mức độ tham gia Trước khi bị thu hồi đất Hiện nay (2009-2010)

Thường xuyên (%)

Thỉnh thoảng (%)

Không tham gia (%)

Thường xuyên (%)

Thỉnh thoảng (%)

Không tham gia (%)

1 Thăm hỏi người

(Nguồn: số liệu khảo sát bằng bảng hỏi của luận văn - 2010)

Bảng trên cho thấy tần suất tham gia các loại hình giải trí trên đều tăng theo

hướng thường xuyên hơn, và tăng đáng kể so với thời kỳ trước chuyển đổi

Sử dụng các dịch vụ giải trí ngoài cộng đồng

Phần này chúng tôi muốn tìm hiểu xem mức độ tham gia của người dân vào

những loại dịch vụ giải trí bên ngoài gia đình Những loại giải trí được chúng tôi

xếp vào nhóm này bao gồm việc đi xem phim, kịch, ca nhạc; đến các quán Internet;

đến quán chơi game; đi hát karaoke; đến các quán café, giải khát; đi mua sắm; đến

các tụ điểm vui chơi giải trí công cộng Hầu hết đây là những loại giải trí phải trả

tiền và mới phát triển gần đây nhưng cũng đang ngày càng trở nên phổ biến và đáp

ứng được nhu cầu giải trí của một bộ phận người dân nơi đây

Khai Quang là xã nằm ven đường quốc lộ 2, nơi có nhiều xe cộ thông thương

từ Hà Nội lên các tỉnh phía Bắc nên nhiều hàng quán ăn uống, giải khát mọc lên san

sát hai bên đường quốc lộ, không chỉ phục vụ khách đi đường mà còn phục vụ cả

Ngày đăng: 20/03/2015, 16:08

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Thị Phương Châm (2009), Biến đổi văn hóa ở các làng quê hiện nay, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biến đổi văn hóa ở các làng quê hiện nay
Tác giả: Nguyễn Thị Phương Châm
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 2009
2. Đinh Thị Vân Chi (2003) Nhu cầu giải trí của thanh niên, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhu cầu giải trí của thanh niên
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
3. Đoàn Văn Chúc (2004) Văn hóa học, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa học
Tác giả: Đoàn Văn Chúc
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 2004
4. Nguyễn Sinh Cúc (2009), Phát triển khu công nghiệp vùng đồng bằng sông Hồng và vấn đề nông dân mất đất nông nghiệp, Tạp chí Cộng sản, số 10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển khu công nghiệp vùng đồng bằng sông Hồng và vấn đề nông dân mất đất nông nghiệp
Tác giả: Nguyễn Sinh Cúc
Nhà XB: Tạp chí Cộng sản
Năm: 2009
5. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X- http://Dangcongsan.com.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X
6. Ngô Văn Giá (2006), Những biến đổi về giá trị văn hoá của các làng ven đô Hà Nội trong thời kỳ đổi mới, Đề tài cấp Bộ, Học viện Báo chí và Tuyên truyền Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những biến đổi về giá trị văn hoá của các làng ven đô Hà Nội trong thời kỳ đổi mới
Tác giả: Ngô Văn Giá
Năm: 2006
7. Tô Duy Hợp (2000), Sự biến đổi của làng xã Việt Nam ngày nay ở đồng bằng sông Hồng, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự biến đổi của làng xã Việt Nam ngày nay ở đồng bằng sông Hồng
Tác giả: Tô Duy Hợp
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2000
8. Trịnh Duy Luân (2003) : Biến đổi kinh tế - xã hội của các cộng đồng truyền thống trong quá trình đô thị hóa ở khu vực ngoại thành các thành phố lớn ở Việt Nam, Đề tài tiềm năng, Viện Xã hội học – Viện khoa học xã hội Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biến đổi kinh tế - xã hội của các cộng đồng truyền thống trong quá trình đô thị hóa ở khu vực ngoại thành các thành phố lớn ở Việt Nam
9. Đình Quang (2005), Đời sống văn hoá đô thị và khu công nghiệp Việt Nam, Nxb Văn hoá thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đời sống văn hoá đô thị và khu công nghiệp Việt Nam
Tác giả: Đình Quang
Nhà XB: Nxb Văn hoá thông tin
Năm: 2005
10. Đỗ Văn Quân (2006), Biến đổi mức sống hộ gia đình ở nông thôn vùng phụ cận Hà Nội, Luận văn Thạc sỹ Xã hội học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biến đổi mức sống hộ gia đình ở nông thôn vùng phụ cận Hà Nội
Tác giả: Đỗ Văn Quân
Năm: 2006
12. Nguyễn Ngọc Thanh và Nguyễn Thế Trường (đồng chủ biên)(2008), Tác động của đô thị hoá và công nghiệp hoá tới phát triển kinh tế và biến đổi văn hoá – xã hội ở tỉnh Vĩnh Phúc, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác động của đô thị hoá và công nghiệp hoá tới phát triển kinh tế và biến đổi văn hoá – xã hội ở tỉnh Vĩnh Phúc
Tác giả: Nguyễn Ngọc Thanh, Nguyễn Thế Trường
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2008
13. Nguyễn Duy Thắng (2009). Tác động của đô thị hóa đến cộng đồng ven đô, Tạp chí Xã hội học số 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Xã hội học
Tác giả: Nguyễn Duy Thắng
Năm: 2009
14. Nguyễn Đình Tuấn (2007), Biến đổi lối sống của người dân vùng chuyển đổi từ xã thành phường (trường hợp Nhân Chính và Định Công, Hà Nội), Luận văn Thạc sỹ Xã hội học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biến đổi lối sống của người dân vùng chuyển đổi từ xã thành phường
Tác giả: Nguyễn Đình Tuấn
Năm: 2007
15. Ủy ban Nhân dân phường Khai Quang, Báo cáo tình hình kinh tế xã hội phường năm 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ủy ban Nhân dân phường Khai Quang
16. Nguyễn Khắc Viện chủ biên (1994), Từ điển xã hội học, Nxb Thế giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển xã hội học
Tác giả: Nguyễn Khắc Viện
Nhà XB: Nxb Thế giới
Năm: 1994
17. Huỳnh Khái Vinh và cộng sự (2001): Một số vấn đề về lối sống, đạo đức, chuẩn giá trị xã hội. Nxb Chính trị Quốc gia, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về lối sống, đạo đức, chuẩn giá trị xã hội
Tác giả: Huỳnh Khái Vinh và cộng sự
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2001
18. Viện Xã hội học – Học viện Chính trị Hành chính Quốc gia (2009), Tác động của chính sách chuyển đổi mục đích sử dụng đất đến biến đổi lối sống của người dân khu vực công nghiệp hóa, đô thị hóa, Đề tài cấp Bộ, Học viện Chính trị Hành chính Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác động của chính sách chuyển đổi mục đích sử dụng đất đến biến đổi lối sống của người dân khu vực công nghiệp hóa, đô thị hóa
Tác giả: Viện Xã hội học, Học viện Chính trị Hành chính Quốc gia
Nhà XB: Học viện Chính trị Hành chính Quốc gia
Năm: 2009
19. Website tỉnh Vĩnh Phúc. Tình hình kinh tế xã hội tỉnh Vĩnh Phúc 2008 http://www.skhdtvinhphuc.gov.vn/Default.aspx?tabid=152 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình kinh tế xã hội tỉnh Vĩnh Phúc 2008
Nhà XB: Website tỉnh Vĩnh Phúc
Năm: 2008

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1. Loại hình giải trí yêu thích trong thời gian rỗi - Hoạt động giải trí của người dân tỉnh Vĩnh Phúc sống trong khu vực đang công nghiệp hóa, đô thị hóa hiện nay
Bảng 2.1. Loại hình giải trí yêu thích trong thời gian rỗi (Trang 34)
Bảng số liệu sau sẽ làm rõ hơn các mức độ tham gia giải trí tại nhà của người - Hoạt động giải trí của người dân tỉnh Vĩnh Phúc sống trong khu vực đang công nghiệp hóa, đô thị hóa hiện nay
Bảng s ố liệu sau sẽ làm rõ hơn các mức độ tham gia giải trí tại nhà của người (Trang 38)
Hình  thức  giải  trí  bằng  cách  đến  vui  chơi  tại  những  tụ  điểm  vui  chơi  công - Hoạt động giải trí của người dân tỉnh Vĩnh Phúc sống trong khu vực đang công nghiệp hóa, đô thị hóa hiện nay
nh thức giải trí bằng cách đến vui chơi tại những tụ điểm vui chơi công (Trang 43)
Bảng 2.5. Mức độ tham gia các môn thể thao - Hoạt động giải trí của người dân tỉnh Vĩnh Phúc sống trong khu vực đang công nghiệp hóa, đô thị hóa hiện nay
Bảng 2.5. Mức độ tham gia các môn thể thao (Trang 46)
Bảng 2.6. Mức độ tham gia các tổ chức xã hội - Hoạt động giải trí của người dân tỉnh Vĩnh Phúc sống trong khu vực đang công nghiệp hóa, đô thị hóa hiện nay
Bảng 2.6. Mức độ tham gia các tổ chức xã hội (Trang 48)
Bảng 2.7. Mức độ tham gia sinh hoạt tín ngưỡng của người dân - Hoạt động giải trí của người dân tỉnh Vĩnh Phúc sống trong khu vực đang công nghiệp hóa, đô thị hóa hiện nay
Bảng 2.7. Mức độ tham gia sinh hoạt tín ngưỡng của người dân (Trang 51)
Bảng 2. 9. Phương tiện giải trí có trong gia đình - Hoạt động giải trí của người dân tỉnh Vĩnh Phúc sống trong khu vực đang công nghiệp hóa, đô thị hóa hiện nay
Bảng 2. 9. Phương tiện giải trí có trong gia đình (Trang 60)
Bảng 2.10. Tương quan giữa tổng mức thu nhập của hộ gia đình với số lượng - Hoạt động giải trí của người dân tỉnh Vĩnh Phúc sống trong khu vực đang công nghiệp hóa, đô thị hóa hiện nay
Bảng 2.10. Tương quan giữa tổng mức thu nhập của hộ gia đình với số lượng (Trang 61)
Bảng 2.11. Tương quan giữa mức thu nhập hộ gia đình với mức độ sử dụng - Hoạt động giải trí của người dân tỉnh Vĩnh Phúc sống trong khu vực đang công nghiệp hóa, đô thị hóa hiện nay
Bảng 2.11. Tương quan giữa mức thu nhập hộ gia đình với mức độ sử dụng (Trang 62)
Bảng 2.13. Tương quan giữa tuổi của người được hỏi với việc tham gia một số - Hoạt động giải trí của người dân tỉnh Vĩnh Phúc sống trong khu vực đang công nghiệp hóa, đô thị hóa hiện nay
Bảng 2.13. Tương quan giữa tuổi của người được hỏi với việc tham gia một số (Trang 68)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w