Để cụ thể hóa cho mục tiêu đó, lãnh đạo Đài luôn tạo điều kiện để nhân lực Khoa học và Công nghệ được tiếp cận với các công nghệ truyền hình tiên tiến trên thế giới thông qua hình thức đ
Trang 1MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 4
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU 4
PHẦN MỞ ĐẦU 5
1 Lý do chọn đề tài 5
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu 6
3 Mục tiêu nghiên cứu 9
4 Phạm vi nghiên cứu 9
5 Mẫu khảo sát 10
6 Câu hỏi nghiên cứu 10
7 Giả thuyết nghiên cứu 10
8 Phương pháp nghiên cứu 11
9 Kết cấu của Luận văn 12
CHƯƠNG 1 13
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 13
1.1 Khái niệm công nghệ 13
1.2 Công nghệ truyền hình 16
1.2.1 Truyền hình và lịch sử hình thành công nghệ truyền hình 16
1.2.2 Dây chuyền công nghệ truyền hình 21
1.2.3 Công nghệ truyền hình 25
1.2.4 Phân loại công nghệ truyền hình 27
1.3 Chuyển giao công nghệ 29
1.3.1 Khái niệm chuyển giao công nghệ 29
1.3.2 Đặc điểm chuyển giao công nghệ truyền hình 30
1.4 Nhân lực Khoa học và Công nghệ 30
1.4.1 Khái niệm nhân lực và nguồn nhân lực 30
1.4.2 Khái niệm nhân lực Khoa học và Công nghệ 32
1.5 Năng lực tiếp nhận – năng lực làm chủ 33
1.5.1 Khái niệm năng lực 33
1.5.2 Năng lực tiếp nhận công nghệ truyền hình 34
1.5.3 Năng lực làm chủ công nghệ truyền hình 35
* Kết luận Chương 1 36
CHƯƠNG 2 38
THỰC TRẠNG TIẾP NHẬN VÀ LÀM CHỦ CÔNG NGHỆ TRUYỀN HÌNH CỦA ĐÀI TRUYỀN HÌNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 38
2.1 Giới thiệu khái quát về Đài Truyền hình TP.Hồ Chí Minh 38
2.2 Đặc điểm của nhân lực Khoa học và Công nghệ Đài Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh 41
2.2.1 Nhân lực KH&CN Đài Truyền hình TP.HCM 41
2.2.2 Độ tuổi và giới tính của nhân lực KH&CN Đài Truyền hình TP.HCM 45
2.2.3 Tuyển dụng nhân lực KH&CN 49
Trang 22.2.4 Đào tạo nguồn nhân lực KH&CN 51
2.2.5 Những thuận lợi và khó khăn về nhân lực Khoa học và Công nghệ của Đài Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh 51
2.3 Thực trạng công nghệ sản xuất chương trình truyền hình 53
2.3.1 Hoạt động Khoa học và Công nghệ ở Đài Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh53 2.3.2 Đặc điểm hoạt động công nghệ của Đài Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh 55 2.3.3 Hoạt động đổi mới công nghệ của Đài Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh 57
2.3.4 Hoạt động nghiên cứu triển khai (R&D) 58
2.4 Chính sách tài chính cho công nghệ sản xuất chương trình truyền hình 62
2.4.1 Chính sách tài chính cho đào tạo nguồn nhân lực 63
2.4.2 Chính sách tài chính đầu tư cho công tác nghiên cứu 65
2.4.3 Chính sách tài chính đầu tư cho duy tu, bảo dưỡng thiết bị, mua sắm thiết bị, hằng năm 65
2.4.4 Chính sách tài chính đầu tư cho các dự án 66
* Kết luận Chương 2 70
CHƯƠNG 3 71
GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC TIẾP NHẬN VÀ LÀM CHỦ CÔNG NGHỆ TRUYỀN HÌNH CỦA ĐÀI TRUYỀN HÌNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 71
3.1 Nâng cao năng lực nhân lực Khoa học và Công nghệ của Đài Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh 71
3.1.1 Nâng cao năng lực quản lý của đội ngũ cán bộ quản lý 72
3.1.2 Nâng cao năng lực của nhân lực KH&CN Đài Truyền hình TP.HCM 79
3.2 Đổi mới chính sách hoạt động Khoa học và Công nghệ 83
3.2.1 Đổi mới cách thức hoạt động của tổ chức R&D 83
3.2.2 Đổi mới chính sách chuyển giao công nghệ truyền hình 85
3.2.3 Đẩy mạnh liên kết với các tổ chức KH&CN chuyên nghiệp 90
3.3 Xã hội hóa nguồn lực tài chính để tiếp nhận công nghệ truyền hình 94
3.3.1 Đẩy mạnh xã hội hóa hoạt động sản xuất chương trình truyền hình 94
3.3.2 Hoàn thiện hành lang pháp lý để đẩy mạnh phát triển dịch vụ, thu hút nguồn lực tài chính xã hội phát triển công nghệ truyền hình 96
* Kết luận Chương 3 98
KẾT LUẬN 99
KHUYẾN NGHỊ 100
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 102
PHỤ LỤC 104
Trang 3DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
KH&CN : Khoa học và Công nghệ
Đài Truyền hình TP.HCM : Đài Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh
UBND TP.HCM : Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU
Trang
Bảng 1 Tổng quát về dây chuyền công nghệ truyền hình ……… 21
Bảng 2 Quy trình sản xuất chương trình truyền hình – Giai đoạn sản xuất 22
Bảng 3 Quy trình sản xuất chương trình truyền hình – Giai đoạn sản xuất 23
Bảng 4 Quy trình phân phối chương trình truyền hình 24
Bảng 5 Nhân lực của Đài Truyền hình TP.HCM ……… 42
Biều đồ 1 Tỉ lệ giữa các chức danh của Đài Truyền hình TP.HCM 43
Bảng 6 Độ tuổi của nhân lực Đài TP.HCM ……… 44
Biều đồ 2 Tỉ lệ giữa các độ tuổi của nhân lực Đài Truyền hình TP.HCM 45
Biều đồ 3 Tỉ lệ giữa các độ tuổi nhân lực nam Đài Truyền hình TP.HCM 46
Biều đồ 4 Tỉ lệ giữa các độ tuổi nhân lực nữ Đài Truyền hình TP.HCM 47
Đồ thị 1 Số lượng nhân lực KH&CN nam, nữ ở các độ tuổi 48
Đồ thị 2 Số lượng nhân viên được tuyển dụng hằng năm 49
Bảng 7 Kinh phí đào tạo và số lượng nhân lực KH&CN đào tạo hằng năm 63 Đồ thị 3 Kinh phí sử dụng cho công tác đào tạo nhân lực KH&CN Đài 63
Bảng 8 Các dự án đầu tư tiêu biểu của Đài Truyền hình TP.HCM đến năm 2010 ……….67
Bảng 9 Kế hoạch đầu tư phát triển Đài giai đoạn từ năm 2011 – 2020 …… 68
Trang 4PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong kỹ thuật việc tiếp nhận và làm chủ một công nghệ tiên tiến trong lĩnh vực chuyên môn luôn là một thách thức đối với các nhân lực Khoa học và Công nghệ (bao gồm các kỹ sư, các kỹ thuật viên, những cá nhân tham gia công tác nhận công nghệ được chuyển giao…) Trên thế giới, ngay tại các nước phát triển như Mỹ, Anh, Pháp, Đức… từ giai đoạn nhận chuyển giao một công nghệ cho đến khi có thể làm chủ hoàn toàn công nghệ được chuyển giao và khai thác một cách hiệu quả và kinh tế nhất của các nhân lực Khoa học và Công nghệ đôi khi còn gặp phải những khó khăn thậm chí còn đưa đến những thất bại cho tập đoàn, doanh nghiệp Thế nên, tại các nước kém phát triển thì việc gặp khó khăn hoặc gặp những thất bại trong việc tiếp cận và làm chủ một công nghệ tiên tiến được chuyển giao của các nhân lực Khoa học và Công nghệ có xác suất xảy ra rất cao Những khó khăn và thất bại nêu trên nếu xét ở tầm vi mô thì nó sẽ làm hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp bị giảm còn ở tầm vĩ mô nếu nó xảy ra trên diện rộng thì sẽ làm trì trệ tình hình phát triển chung của cả một quốc gia
Tại Việt Nam hiện nay, tình hình các doanh nghiệp trong và ngoài quốc doanh tham gia thị trường công nghệ mà chủ yếu là nhận chuyển giao công nghệ một cách ồ ạt với chi phí đầu tư rất lớn nhưng hiệu quả đem lại trong phần lớn các doanh nghiệp đó là rất thấp thậm chí nhiều trường hợp có thể xem bằng không Có rất nhiều nguyên nhân để giải thích cho sự việc trên nào
là trình độ công nghệ của ta không theo kịp các nước phát triển trên thế giới, năng lực công nghệ hiện tại của doanh nghiệp, kinh nghiệm trong việc ràng buộc các điều khoản trong hợp đồng chuyển giao công nghệ, trình độ của người đi mua công nghệ, những hạn chế của nhân lực Khoa học và Công nghệ trong việc làm chủ công nghệ, những tiêu cực trong việc mua/ bán cho đến chính sách chuyển giao công nghệ chưa được đồng bộ hóa từ nhiều nguồn được chuyển giao khác nhau…
Trang 5Tại Đài Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh, lãnh đạo cơ quan đặt ra chiến lược phát triển của đơn vị phải là một Đài truyền hình đi đầu và tiên phong trong lĩnh vực truyền hình của cả nước từ đó làm tiền đề cho việc vươn
ra tầm khu vực, châu lục và thế giới nhằm góp phần tuyên truyền văn hóa, dân tộc, con người Việt Nam ra thế giới góp phần thúc đẩy nền kinh tế nước nhà ngày càng phát triển Để cụ thể hóa cho mục tiêu đó, lãnh đạo Đài luôn tạo điều kiện để nhân lực Khoa học và Công nghệ được tiếp cận với các công nghệ truyền hình tiên tiến trên thế giới thông qua hình thức đào tạo ngắn hạn
và dài hạn, trong nước và ngoài nước, đầu tư, trang bị các thiết bị, dây chuyền sản xuất chương trình truyền hình hiện đại… Thế nhưng trong giai đoạn phát triển của Đài từ thời điểm đất nước được thống nhất, hoàn toàn độc lập cho đến nay (đặc biệt là những năm hậu WTO) những khó khăn trong việc tiếp cận, khai thác hiệu quả và làm chủ hoàn toàn các công nghệ truyền hình tiên tiến của thế giới được chuyển giao luôn là vấn đề nhức nhối trong đơn vị Câu hỏi được đặt ra là vấn đề mấu chốt nằm ở đâu? Nguyên nhân tại sao? Những khó khăn nào mà các nhân lực Khoa học và Công nghệ thường gặp phải?…
Chính vì thế, tính cấp thiết của vấn đề là việc làm thế nào để nâng cao năng lực tiếp nhận và làm chủ công nghệ truyền hình của nhân lực KH&CN Đài Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh, từ đó nhân ra trên diện rộng để có những khuyến nghị chung nhằm góp phần giúp các nhân lực KH&CN thấy được những hạn chế của mình để có thể làm chủ hoàn toàn công nghệ được chuyển giao nhằm đem lại lợi ích cho doanh nghiệp nói riêng và cho đất nước nói chung
Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề này, tôi chọn Nâng cao năng lực tiếp nhận và làm chủ công nghệ truyền hình (Nghiên cứu trường hợp Đài Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh) làm đề tài Luận văn Thạc sĩ
Quản lý Khoa học và Công nghệ
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Từ thời điểm Giải phóng miền Nam hoàn toàn thống nhất đất nước cho đến nay Hay nói chính xác hơn là từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX
Trang 6thông qua chiến lược phát triển kinh tế xã hội giai đoạn 2001 – 2010 với ba
bước đột phá và một trong ba bước đó là “tạo bước chuyển mạnh về phát triển nguồn nhân lực, trọng tâm là giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ” Để hiện thực hóa chiến lược này Chính phủ đã có những chính sách hỗ
trợ cho các hoạt động nghiên cứu KH&CN trong các lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp, y tế, giáo dục… và đáp lại nó là sự ra đời hàng loạt các đề tài nghiên cứu về chuyển giao công nghệ, về quản lý KH&CN, về chính sách KH&CN,
về nhân lực KH&CN hoặc có những đề tài nghiên cứu cả về chính sách và nhân lực KH&CN…
Tuy nhiên, trong một thời gian dài các đề tài nghiên cứu hoạt động KH&CN trong lĩnh vực truyền hình của các Đài Truyền hình tại Việt Nam là không nhiều, điều này thể hiện qua số lượng các công trình nghiên cứu, các bài báo khoa học viết về vấn đề này rất ít
Thời gian gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ truyền hình trên thế giới cùng với sự chuyển đổi từ cơ chế bao cấp sang nền kinh tế thị trường theo định hướng Xã hội chủ nghĩa trong lĩnh vực truyền hình đã góp phần thúc đẩy ngành truyền hình Việt Nam phát triển ồ ạt và trở thành phương tiện của thông tin đại chúng Tuy nhiên, trong giai đoạn hội nhập và phát triển này đã xuất hiện những bất cập về công tác quản lý của hoạt động truyền hình nói chung và hoạt động KH&CN trong lĩnh vực truyền hình nói riêng Chính vì lý do đó, các cơ quan quản lý nhà nước trong lĩnh vực truyền thông, lãnh đạo của các Đài Truyền hình trong cả nước, các nhà nghiên cứu khoa học, các nhân lực KH&CN trong lĩnh vực truyền hình… đã bắt đầu có những quan tâm và đầu tư nghiên cứu các đề tài khoa học cũng như tổ chức các hội thảo về hoạt động KH&CN trong lĩnh vực truyền hình tiêu biểu như:
- Xây dựng hệ thống các chức danh trong sản xuất chương trình truyền hình chuyên nghiệp của tác giả Tạ Bích Loan (nhân lực KH&CN của Đài
Truyền hình Việt Nam)
- Nghiên cứu của Ngô Huy Hoàng được thể hiện tại Luận văn Thạc sĩ
chuyên ngành Quản lý KH&CN với đề tài Đổi mới cơ chế quản lý nguồn
Trang 7nhân lực KH&CN tại Đài Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh nhằm mục
tiêu phân tích, đánh giá và chỉ ra những bất cập trong công tác quản lý nguồn nhân lực KH&CN đồng thời đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của Đài Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh
- Nghiên cứu của Cao Anh Minh được thể hiện tại Luận văn Thạc sĩ
chuyên ngành Quản lý KH&CN với đề tài Đổi mới quản lý hoạt động công nghệ ngành truyền hình Việt Nam nhằm đổi mới các quan điểm về cơ chế
quản lý hoạt động truyền hình cũng như hoạt động công nghệ truyền hình để thúc đẩy phát triển các hoạt động công nghệ trên toàn ngành truyền hình Việt Nam trong xu hướng hội nhập và toàn cầu hóa hiện nay
- Nghiên cứu của Lê Quang Trung được thể hiện tại Luận văn Thạc sĩ
chuyên ngành Quản lý KH&CN với đề tài Ảnh hưởng của kinh tế thị trường đối với hoạt động KH&CN ở Đài Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh nhằm
đánh giá tác động của kinh tế thị trường đối với hoạt động quản lý KH&CN tại Đài Truyền hình TP.HCM khi chuyển từ cơ chế bao cấp sang cơ chế tự chủ về tài chính và đề xuất các giải pháp đổi mới trong công tác quản lý KH&CN tại Đài Truyền hình TP.HCM cho phù với nền kinh tế thị trường theo định hướng Xã hội chủ nghĩa như nước ta hiện nay
- Các hội thảo khoa học do Đài Truyền hình Việt Nam tổ chức gần đây như: Hội thảo giới thiệu về thiết bị công nghệ truyền hình của một số hãng nổi tiếng trên thế giới như Coemar (Ý), Panasonic (Nhật Bản) Hội thảo khoa học giới thiệu công nghệ truyền hình số và ứng dụng tại Việt Nam được tổ chức trong khuôn khổ Liên hoan Truyền hình toàn quốc lần thứ 30…
Đài Truyền hình TP.HCM – một trong hai Đài Truyền hình có qui mô hoạt động lớn nhất Việt Nam, là đơn vị thường xuyên nhận chuyển giao công nghệ truyền hình từ các nước và cũng không ít trong số những lần tiếp nhận công nghệ mới, các nhân lực KH&CN của họ gặp những khó khăn, lúng túng, đôi lúc dẫn đến thất bại trong việc làm chủ hoàn toàn công nghệ được trang
bị Thế nhưng sau những lần đó cũng chỉ là những buổi họp, buổi hội thảo rút kinh nghiệm… Đến thời điểm này, ngoài các bài tham luận được thể hiện
Trang 8trong Đại hội Cán bộ viên chức hằng năm thì vẫn chưa có một nghiên cứu khoa học nào đi sâu vào tìm hiểu và nhận diện những hạn chế trong hoạt động KH&CN nói chung và năng lực của nhân lực KH&CN trong việc tiếp nhận và làm chủ công nghệ truyền hình được chuyển giao nói riêng và sau đó đưa ra các giải pháp, các khuyến nghị, các kiến nghị nhằm giúp các nhân lực KH&CN trong lĩnh vực truyền hình tháo gỡ những khó khăn để có thể tiếp cận và làm chủ hoàn toàn công nghệ truyền hình được chuyển giao một cách nhanh nhất, hiệu quả và khoa học nhất nhằm đem lại lợi ích chung cho tổ chức nói riêng và góp phần xây dựng và phát triển đất nước nói chung
Một lần nữa, xin khẳng định lại cho đến thời điểm này, vẫn chưa có nghiên cứu khoa học nào bàn về việc nhận diện những hạn chế trong việc tiếp nhận và làm chủ công nghệ truyền hình được chuyển giao của nhân lực KH&CN trong lĩnh vực truyền hình và tại đơn vị cụ thể như Đài Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh
3 Mục tiêu nghiên cứu
Tìm ra các giải pháp để nâng cao năng lực tiếp nhận và làm chủ công nghệ truyền hình của Đài Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh
Hoạt động Khoa học và Công nghệ (chính sách chuyển giao công nghệ, hoạt động của tổ chức nghiên cứu và phát triển, chính sách tài chính cho hoạt động KH&CN, nhân lực KH&CN ) của Đài Truyền hình TP.HCM
Trang 9Phạm vi về thời gian: từ năm 2005 đến 2010 (việc lấy mốc 2005 là thời điểm Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh ban hành qui định 252/QĐUB về việc cho phép Đài thực hiện cơ chế tự chủ về tài chính)
5 Mẫu khảo sát
Trong phạm vi nghiên cứu, học viên chọn mẫu khảo sát là nhân lực Khoa học và Công nghệ ở tất cả các Phòng, Ban, Trung tâm thuộc khối kỹ thuật - hậu cần trong Đài Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh cụ thể như sau:
- Ban Quản lý kỹ thuật;
- Trung tâm Sản xuất chương trình;
- Trung tâm Truyền hình cáp;
- Trung tâm Truyền dẫn phát sóng;
- Trung tâm Phát hình;
- Ban Kỹ thuật cơ điện lạnh;
- Bộ phận Quản lý tòa nhà trung tâm truyền hình
Tổng số mẫu dự kiến khảo sát là 50 phiếu khảo sát
Đồng thời khảo sát ý kiến, nhận xét của đại diện lãnh đạo Đài (Tổng Giám đốc hoặc một Phó Tổng Giám đốc), Trưởng các đơn vị Phòng, Ban, Trung tâm nêu trên
6 Câu hỏi nghiên cứu
- Thực trạng năng lực tiếp nhận và làm chủ công nghệ truyền hình của Đài Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh như thế nào?
- Cần phải có những giải pháp nào để nâng cao năng lực tiếp nhận và làm chủ công nghệ truyền hình của Đài Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh?
7 Giả thuyết nghiên cứu
- Thực trạng năng lực tiếp nhận và làm chủ công nghệ truyền hình của Đài Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh được thể hiện trên các mặt:
+ Khó khăn trong việc huy động nhân lực KH&CN của Đài trong việc tiếp nhận và làm chủ công nghệ truyền hình;
Trang 10+ Hoạt động nghiên cứu và triển khai, đổi mới công nghệ truyền hình của Đài còn nhiều điểm hạn chế;
+ Chính sách tài chính đầu tư cho công nghệ sản xuất chương trình truyền hình chưa đóng góp tích cực
- Để nâng cao năng lực tiếp nhận và làm chủ công nghệ truyền hình của Đài Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh, cần phải có những giải pháp sau đây:
+ Nâng cao năng lực cho nhân lực KH&CN của Đài để có thể tiếp nhận
+ Hoàn thiện các quy định pháp lý để tiếp nhận công nghệ truyền hình
8 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn đã sử dụng các nhóm phương pháp nghiên cứu cụ thể sau:
8.1 Phương pháp phân tích tổng hợp
Tác giả nghiên cứu sử dụng phương pháp tổng hợp, phân tích trên cơ
sở đánh giá hiện trạng hoạt động Khoa học và Công nghệ của Đài Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh từ năm 2005 đến năm 2010 Vì điều kiện hạn chế nên các số liệu được sử dụng chủ yếu từ nguồn của Đài Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh Ngoài ra, Tác giả Luận văn còn tổng hợp một số số liệu khác từ trang Web của các Đài Truyền hình trong và ngoài nước, Bộ Thông tin truyền thông, Bộ Tài chính…
8.2 Phương pháp khảo sát thực tế
Phương pháp điều tra xã hội học (khảo sát, thu thập thông tin) từ nhóm nhân lực Khoa học và Công nghệ trực tiếp tham gia tiếp nhận công nghệ truyền hình để tìm hiểu cách thức tiếp cận và những khó khăn, hạn chế gặp phải trong qúa trình làm chủ công nghệ, về hoạt động KH&CN Đài, nhân lực KH&CN, về chính sách tài chính
Trang 11Phương pháp phỏng vấn: Tác giả Luận văn trực tiếp phỏng vấn sâu Phương pháp tổng hợp, phân tích: kết quả khảo sát có được
9 Kết cấu của Luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của Luận văn bao gồm 3 chương:
- Chương 1 Cơ sở lý luận của đề tài
- Chương 2 Thực trạng tiếp nhận và làm chủ công nghệ truyền hình của Đài Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh
- Chương 3 Giải pháp nâng cao năng lực tiếp nhận và làm chủ công nghệ truyền hình của Đài Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh
Trang 12CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
1.1 Khái niệm công nghệ
Mặc dù đã được sử dụng khá rộng rãi trên thế giới, song việc đưa ra một định nghĩa hoàn chỉnh về công nghệ lại chưa có được sự thống nhất Đó
là do số lượng các công nghệ hiện có nhiều đến mức không thể thống kê được Công nghệ lại hết sức đa dạng, khiến những người sử dụng một công nghệ cụ thể trong những điều kiện và hoàn cảnh không giống nhau sẽ dẫn đến sự khái quát của họ về công nghệ sẽ khác nhau Bên cạnh đó, sự phát triển như vũ bão của khoa học công nghệ làm thay đổi nhiều quan niệm cũ
tưởng như vĩnh cửu, cũng là nguyên nhân dẫn đến sự không thống nhất trên Tuy nhiên, xét trên góc độ khoa học quản lý, việc đưa ra được định nghĩa
khái quát về công nghệ là một việc làm mang tính cần thiết, bởi vì không thể quản lý được công nghệ khi chưa biết rõ công nghệ là gì Hiện nay, công nghệ có rất nhiều khái niệm khác nhau tùy ở mỗi tổ chức mà công nghệ được
định nghĩa ở một dạng khác nhau chẳng hạn như:
Trong Luật Khoa học và Công nghệ (2000) của Việt Nam đưa ra khái
niệm công nghệ: “Công nghệ là tập hợp các phương pháp, quy trình, kỹ năng, bí quyết, công cụ, phương tiện dùng để biến đổi các nguồn lực thành sản phẩm” Song song đó, cũng tại Việt Nam Luật Chuyển giao công nghệ (2006) khái niệm công nghệ được hiểu là: “Công nghệ là giải pháp, quy trình, bí quyết kỹ thuật có kèm hoặc không kèm công cụ, phương tiện dùng để biến đổi nguồn lực thành sản phẩm”
Một số định nghĩa tiêu biểu về công nghệ của các tác giả, các tổ chức trên thế giới như sau:
Theo tác giả P Strunk (1986) “Công nghệ là sự áp dụng khoa học vào công nghiệp bằng cách sử dụng những nghiên cứu và cách xử lý một cách có
hệ thống và có phương pháp”
Trang 13Theo tác giả Sharif (1986) thì cho rằng “Công nghệ bao gồm khả năng sáng tạo, đổi mới và lựa chọn từ những kỹ thuật khác nhau và sử dụng chúng một cách tối ưu vào tập hợp các yếu tố bao gồm môi trường vật chất, xã hội
và văn hóa” Công nghệ là tập hợp của phần cứng và phần mềm, bao gồm 4
dạng cơ bản:
- Thể hiện ở dạng vật thể (vật liệu, công cụ sản xuất, thiết bị và máy móc, sản phẩm hoàn chỉnh…)
- Thể hiện ở dạng con người (kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm)
- Thể hiện ở dạng ghi chép (bí quyết, qui trình, phương pháp, dữ kiện thích hợp… được mô tả trong các ấn phẩm, tài liệu…)
- Thể hiện ở dạng thiết chế tổ chức (dịch vụ, phương tiện truyền bá, công ty tư vấn, cơ cấu quản lý, cơ sở luật pháp…)
Theo quan điểm của Tổ chức phát triển công nghiệp của Liên Hiệp
Quốc (United Nations Industrial Development Organization – UNIDO):
“công nghệ là hệ thống tập hợp kiến thức và kết quả của khoa học ứng dụng nhằm mục đích biến đổi nguồn lực tự nhiên thành những mục tiêu sinh lợi cho
xã hội”
Theo quan điểm của Ủy ban Kinh tế và Xã hội khu vực Châu Á – Thái
Bình Dương (Economic and Social Commission for Asia and the Pacific – ESCAP): “công nghệ là kiến thức có hệ thống về qui trình và kỹ thuật dùng
để chế biến vật liệu và thông tin Nó bao gồm kiến thức, kỹ năng, thiết bị, phương pháp và các hệ thống dùng trong việc tạo ra hàng hóa và cung cấp dịch vụ” Quan điểm này đã được thừa nhận là bước ngoặt quan trọng trong
khái niệm về công nghệ Trong đó, Tiến sĩ K Ramanathan, Giám đốc Trung tâm chuyển giao công nghệ Châu Á – Thái Bình Dương, đơn vị trực thuộc ESCAP đã chỉ ra rằng: công nghệ có bốn thành phần là thiết bị, con người, thông tin và tổ chức
+ Thành phần thiết bị (Technoware): bao gồm các công cụ, các phương tiện sản xuất thực hiện các hoạt động sản xuất để tạo ra các sản phẩm mong
Trang 14muốn Thành phần thiết bị gồm hệ thống biến đổi nguyên vật liệu và hệ thống
ba giai đoạn: nhận biết - phân tích - xử lý
+ Thành phần con người (Humanware): là kỹ năng và kinh nghiệm sản xuất biểu hiện về mặt con người của công nghệ Tầm quan trọng của kỹ năng dựa trên ba điều cơ bản:
• Nguồn nhân lực là yếu tố quan trọng nhất trong quá trình sản xuất và
là nguồn gốc giá trị thị trường của các loại hàng hoá
• Con người có trí thông minh (không như máy móc) Do đó, họ có khả năng suy nghĩ, phân tích, sáng tạo và phát triển thông tin cần thiết để tạo ra sự sung túc, giàu có
• Năng suất lao động của con người có thể tăng hoặc giảm do môi trường làm việc
+ Thành phần tổ chức (Orgaware): đề cập tới sự hỗ trợ về nguyên lý,
thực tiễn và bố trí để vận hành hiệu quả việc sử dụng Technoware bởi Humanware nó có thể được thể hiện thông qua các thuật ngữ như nội quy công việc, tổ chức công việc, sự thuận tiện trong công việc, đánh giá công việc và giảm nhẹ công việc
+ Thành phần thông tin (Inforware): biểu thị việc tích lũy kiến thức bởi con người Dù có tổ chức tốt, “con người” cũng không thể sử dụng “máy móc” hiệu quả nếu không có cơ sở “thông tin, tài liệu” Inforware được chia làm ba loại:
• Thông tin chuyên về thiết bị: thông tin cần cho việc vận hành, bảo trì
và cải tiến
Trang 15• Thông tin chuyên về con người: thông tin về những hiểu biết và đánh giá về quy trình sản xuất và thiết bị được sử dụng
• Thông tin chuyên về tổ chức: thông tin cần thiết để bảo đảm việc sử dụng hiệu quả, sự tác động qua lại theo thời gian, và sự có sẵn của Technoware và Humanware
Trong phạm vi đề tài Luận văn, tác giả sẽ sử dụng và bám sát khái niệm
công nghệ theo quan điểm của Tiến sĩ K Ramanathan được hiểu: công nghệ
là tập hợp của bốn thành phần thiết bị, con người, thông tin và tổ chức Bốn
thành phần này là một tập hợp không thể thiếu của bất kỳ một công nghệ nào
dù là đơn giản hay phức tạp Chúng tác động qua lại lẫn nhau để tạo ra sự biến đổi mong muốn
thông tin trung gian (Media of Communication) hay gọi tắt là phương tiện truyền thông (Media) Bao gồm của tất cả các thông tin đầu vào, dây chuyền
xử lý để có được thông tin đầu ra, và cuối cùng là thông tin được truyền tải đến người thụ hưởng thì gọi là công nghệ truyền thông
Tuy nhiên, vì yêu cầu thúc đẩy sự phát triển của báo chí với động cơ chính là mục tiêu về truyền tải thông tin, mục tiêu đưa thông tin nhanh nhất đến số lượng nhiều nhất các đối tượng khán giả … đã phân loại báo chí Việt Nam thành 04 loại như sau:
+ Báo in (báo viết): là các ấn phẩm xuất bản và phát hành định kỳ đưa thông tin đến với công chúng Hình thức của loại báo này được thể hiện trên giấy, có hình ảnh minh họa Báo viết là loại báo truyền thống và xuất hiện đầu tiên trong lĩnh vực truyền thông đại chúng
Trang 16+ Báo tiếng (báo nói): thông tin được chuyển tải qua thiết bị đầu cuối là
vô tuyến truyền thanh (radio) bằng ngôn ngữ
+ Báo mạng (báo điện tử): là loại báo mà người ta đọc nó trên máy tính, điện thoại di động, máy tính bảng bằng cách sử dụng giao diện website trên Internet để truyền tải thông tin bằng bài viết, âm thanh, hình ảnh, các đoạn video gồm cả hình ảnh động và âm thanh (video clip) Báo điện tử là loại báo mới được xuất hiện trong giai đoạn bùng nổ công nghệ thông tin
+ Báo hình (truyền hình): truyền hình ra đời để đáp ứng nhu cầu thông tin giao tiếp, giải trí và nhận thức của con người Sự phát triển của truyền hình bắt nguồn từ nhu cầu phát triển của báo chí muốn tiếp cận đến đông đảo đối tượng khán giả và khi sự phát triển đã đạt đến khả năng phổ cập rất lớn bởi vai trò phản ánh hiện thực của nó, truyền hình đã thay đổi tính chất, trở thành hoạt động truyền thông đại chúng và là một ngành của công nghệ truyền thông đại chúng Tuy nhiên tính chất báo chí vẫn còn nguyên và
có phần ngày càng được phát huy mạnh mẽ hơn nhờ sự tiến bộ của công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin
Tóm lại, khái niệm truyền hình có nhiều cách hiểu khác nhau tùy theo từng quan điểm và cách tiếp cận Trong khuôn khổ phạm vi Luận văn này tác giả sử dụng khái niệm truyền hình là một ngành của công nghệ truyền thông đại chúng và là một bộ phận của lĩnh vực công nghệ thông tin
b Lịch sử hình thành công nghệ truyền hình
Trải qua nhiều thập niên, công nghệ truyền hình đã đạt được những thành tựu rất to lớn đặc biệt là các công nghệ ghi hình, truyền tải và tái tạo thông tin … đã được ứng dụng và phát triển mạnh mẽ Tuy nhiên, để có được thành tựu như ngày nay thì công nghệ nền tảng cho hoạt động của truyền hình
đã trải qua những giai đoạn hết sức khó khăn và phức tạp Trong phạm vi Luận văn này tác giả sẽ khái quát lại lịch sử của công nghệ truyền hình theo cách cơ bản nhất
Ý tưởng tái tạo hình ảnh chuyển động bằng điện được Paul G Nipkow phát triển từ năm 1884 khi ông chế tạo ra chiếc đĩa quay quét hình, qua đó tạo
Trang 17ra cách thức truyền tải bản ghi lại của một hình ảnh chuyển động qua một dây dẫn sử dụng tín hiệu điện biến thiên tạo ra từ việc quét hình ảnh chuyển động
đó bằng cơ học Việc quét và truyền dẫn hình ảnh chuyển động bằng cơ học được tiến hành sớm nhất trên thực tế là vào giữa thập niên 1920
Đầu thập niên 1930, phương pháp quét hình cơ học đã được thay thế bằng phương pháp quét hình điện tử Ban đầu, hình ảnh nhận được rất thô sơ, chỉ khá hơn cái bóng chút ít, nhưng khi tiềm năng của truyền hình như là một phương tiện kiếm lời trở nên quá rõ ràng, dẫn đến việc đầu tư tiền và công sức vào các thí nghiệm về công nghệ truyền hình và các nghiên cứu nâng cấp công nghệ này đã được tiến hành xuyên suốt thập niên 1930
Từ năm 1941, các tiêu chuẩn kỹ thuật cho việc quét và truyền tải hình ảnh truyền hình ở Mỹ đã được thông qua và những tiêu chuẩn này nói chung vẫn được duy trì đến tận ngày nay Chuẩn Hoa Kỳ, được biết đến như Ủy ban
Hệ thống Truyền hình Quốc gia (viết tắt là NTSC), sử dụng công nghệ quét hình theo chiều ngang với 525 dòng, 60 trường và 30 khung hình Tức là hình ảnh được quét bằng máy quay truyền hình và được tái tạo trong máy thu hoặc màn ảnh truyền hình 30 lần mỗi giây Mỗi hình ảnh, hay còn gọi là khung hình, được quét bằng cách chia hình ảnh thành 535 dòng ngang và tiếp đó quét tuần tự, trước tiên là tất cả các dòng số chẵn (dòng xen kẽ) từ trên xuống dưới và tạo ra một trường, và tiếp theo là quét các dòng số lẻ theo cùng cách thức để tạo ra trường thứ hai Hai trường này, khi kết hợp (chẵn lẻ) sẽ tạo ra một khung hình Vì vậy, 30 hình ảnh hoặc khung hình hoàn chỉnh, mỗi cái được tạo thành từ 2 trường, sẽ được tạo ra trong mỗi giây Ngoài Hoa Kỳ, chuẩn NTSC còn được sử dụng ở Canada, Nhật, nhiều nước Mỹ La tinh Tồn tại song song với hệ NTSC còn có hệ PAL (chuẩn 25 khung hình một giây được sử dụng rộng rãi ở hầu hết các nước Tây Âu và Ấn Độ) và hệ SECAM được sử dụng ở Pháp, Nga và một số nước Tây Âu
Máy quay truyền hình bao gồm một thấu kính để hội tụ hình ảnh lên bề mặt trước của một hoặc nhiều thiết bị thu hình, và bên trong máy quay một hay nhiều thiết bị thu hình và linh kiện điện tử sẽ tạo nên hoạt động của máy
Trang 18quay Thiết bị thu hình, đọc hình ảnh hội tụ và chuyển hóa hình ảnh này thành tín hiệu điện tử biến thiên có thể mô phỏng lại hình ảnh Những máy quay chất lượng cao thường sử dụng 3 thiết bị thu hình, mỗi thiết bị để thu một trong 3 màu chủ đạo (đỏ, xanh lá và xanh dương) tạo nên hình ảnh màu
Tại Đài Truyền hình, tín hiệu điện tử từ máy quay truyền hình có thể được kết hợp hoặc trộn lẫn với tín hiệu video từ các thiết bị khác như đầu băng video, máy tính, đoạn phim (các loại phim hoặc hình ảnh máy chiếu có nguồn ra được chuyển đổi thành tín hiệu video) sử dụng thiết bị gọi là máy chuyển đổi Đầu chuyển cũng được sử dụng để tạo ra nhiều hiệu ứng hình ảnh bằng điện tử Nguồn video đi ra từ máy chuyển đổi có thể được thu lại, gởi đến trường quay hay phòng điều khiển chính khác, hoặc gởi trực tiếp đến máy phát Tín hiệu video hoàn chỉnh gởi đến máy phát hoặc qua dây dẫn đến màn hình bao gồm các tín hiệu mô phỏng hình ảnh (độ chói), màu sắc (độ đậm nhạt), và đồng bộ hóa Việc đồng bộ hóa tín hiệu buộc máy thu phải khóa mã chính xác (đồng bộ hóa) và tái tạo hình ảnh gốc chính xác Mỗi Đài truyền hình được quy định một hoặc vài tần số truyền phát cụ thể : tần số VHF (tần
số rất cao với dãi tần số từ 54 - 216 MHz) và tần số UHF (tần số cực cao với dãi tần số 470 - 890 MHz)
Từ những thử nghiệm trong các thập niên 1920 và 1930, qua các cột mốc quan trọng của truyền hình thương mại cuối thập niên 1940 cho đến khi truyền hình màu trở thành chuẩn vào giữa thập niên 1960, truyền hình đã phát triển nhanh chóng để trở thành, có lẽ là, một ảnh hưởng quan trọng bậc nhất với xã hội hiện nay Trong khi truyền hình vẫn tiếp tục tiến hóa và đổi thay, tầm quan trọng, sức ảnh hưởng và sự lan tỏa của nó dường như sẽ tiếp tục mạnh mẽ bởi các thông tin trên truyền hình vừa có tính xã hội cao vừa có tính
tư tưởng và khuynh hướng rõ rệt với mục đích tác động tới nhiều tầng lớp xã hội những mối quan tâm, sở thích và nhu cầu không giống nhau
Công nghệ mới sẽ thay đổi bộ mặt truyền hình ra sao? Như đã từng có trong thế giới của khoa học viễn tưởng, chúng ta hiện đang chứng kiến sự ra đời của các hệ thống truyền phát mới, truy cập trực tuyến, số lượng kênh có
Trang 19sẵn nhiều hơn, tương tác hai chiều, và sự se duyên giữa truyền hình và máy tính cá nhân Chúng ta đang trong tiến trình trải nghiệm chất lượng kỹ thuật tốt hơn bao gồm độ phân giải nâng cao, HDTV, sự tiện lợi của đầu thu truyền hình mỏng hơn và nhẹ hơn, cũng như việc xử lý và truyền phát kỹ thuật số Chưa hết, tiêu chuẩn cơ bản dùng cho công nghệ truyền hình đã song hành cùng chúng ta, chỉ với các thay đổi và cải tiến rất nhỏ, một cách tốt đẹp trong hơn 50 năm qua
Đến cuối thế kỷ XX đầu thế kỷ XXI các công nghệ truyền thông đã phát triển rất mạnh mẽ và phổ cập, cùng với nó là sự ra đời của công nghệ vệ tinh đã cho phép cùng lúc truyền tải thông tin đến hàng triệu đối tượng mà không bị bất kỳ ràng buộc bởi điều kiện địa lý như đất liền, núi cao, hải đảo… đồng thời những giới hạn về truyền tải thông tin gần như bị loại bỏ Chính vì đặc điểm có khả năng truyền tải thông tin đến số lượng khổng lồ các đối tượng khán giả nên khái niệm truyền thông thuần túy đã phát triển thành
truyền thông đại chúng (Mass Media).Và cũng nhờ khả năng tiếp cận tốt với
đối tượng khán giả nên truyền thông đại chúng được ứng dụng rộng rãi trong khá nhiều lãnh vực khác ngoài báo chí như: cổ động, giáo dục, giải trí, thương mại…
Đến thời điểm này, truyền hình là một phương tiện vô cùng sắc bén của thông tin đại chúng, từng phút, từng giờ, từng ngày truyền hình đã, đang và tiếp tục truyền tải những thông tin được cập nhật liên tục, những kiến thức xã hội hữu ích, những kênh giải trí hấp dẫn… đến người dân trên toàn thế giới Tóm lại, ngày nay truyền hình là món ăn tinh thần không thể thiếu được của mọi người
Trang 20
1.2.2 Dây chuyền công nghệ truyền hình
Bảng 1 Tổng quát về dây chuyền công nghệ truyền hình
Giai đoạn
chuẩn bị Giai đoạn tiền kỳ Giai đoạn hậu kỳ
Hệ thống dây chuyền thiết bị phụ trợ
Giai đoạn phân phối
Hệ thống dây chuyền thiết bị phụ trợ
Giai đoạn sản xuất Giai đoạn phân phối
Sản phẩm truyền hình
Truyền hình (Television)
Trang 21Bảng 2 Quy trình sản xuất chương trình truyền hình – Giai đoạn sản xuất
Giai đoạn chuẩn bị (Planning):
- Bản quyền truyền hình (nếu có)
- Kịch bản (đề tài, kế hoạch chi tiết …)
- Nhân sự
- Tài chính
- Thiết bị kỹ thuật (máy tính, máy chiếu)
Giai đoạn tiền kỳ (Acquisition):
- Nhóm tổ chức thực hiện (đạo diễn, biên tập, quay phim, chủ nhiệm, kỹ thuật …)
- Thiết bị kỹ thuật (camera, máy ghi băng, hệ thống thiết bị hỗ trợ ghi hình,
hệ thống truyền tin - uplink, máy tính )
- Phim trường, hiện trường tác nghiệp…
Giai đoạn hậu kỳ (Ingest & Edit):
- Nhóm tổ chức thực hiện (đạo diễn, biên tập, thư kí, diễn viên đọc tiếng, kỹ thuật dựng …)
- Thiết bị kỹ thuật (hệ thống nhận tin - downlink, hệ thống dựng hình ảnh, âm thanh, kỹ xảo, phần mềm chuyên dụng, máy tính, server lưu trữ )
Sản phẩm truyền hình (Television Product):
- Chương trình chính luận, tin tức, ký sự
- Chương trình văn hóa, giáo dục
- Chương trình giải trí: thể thao, game show, phim truyện …
Giai đoạn lưu trữ (Archive):
- Nhóm tổ chức thực hiện (lưu trữ viên, kỹ thuật …)
- Thiết bị kỹ thuật (hệ thống lưu trữ, thiết bị tìm kiếm, máy tính, hệ thống hỗ trợ kỹ thuật cho kho băng )
- Kho lưu trữ băng
Giai đoạn phân phối (Distribution):
Trang 22Bảng 3 Quy trình sản xuất chương trình truyền hình – Giai đoạn sản xuất
Trang 23Bảng 4 Quy trình phân phối chương trình truyền hình
- Lưu trữ bằng băng Betacam
- Lưu trữ bằng file (đĩa, ổ cứng )
- Nguồn trực tiếp từ hiện trường
Trung tâm truyền hình cáp:
- Các chi nhánh của trung tâm
- Hệ thống thiết bị kỹ thuật hỗ trợ truyền dẫn tín hiệu: cáp đồng trục, cáp quang,
bộ chia, bộ khuếch đại tín hiệu
- Nguồn trực tiếp từ hiện trường
Trung tâm truyền dẫn phát sóng:
- Hệ thống thiết bị hỗ trợ kỹ thuật phát sóng: máy phát sóng, hệ thống dẫn sóng, thiết bị theo dõi
- Hình thức phát: vệ tinh, digital, analog
- Các thiết bị kỹ thuật phụ trợ : máy tính,
hệ thống giải nhiệt
Truyền hình (Television)
Trang 241.2.3 Công nghệ truyền hình
Truyền hình nhìn từ khía cạnh công nghệ là một tập hợp với đầy đủ các yếu tố cấu thành như thiết bị, con người, thông tin và tổ chức Nhìn một cách tổng quát, truyền hình là một hệ thống các phân xưởng, nhà máy sản xuất và
hệ thống phân phối sản phẩm với hàng hóa là chương trình truyền hình Một sản phẩm truyền hình được hình thành đều phải trải qua các giai đoạn chuẩn
bị, tiền kì, hậu kì, lưu trữ và cuối cùng là giai đoạn phân phối cụ thể như sau:
Giai đoạn chuẩn bị (Planning): khi bắt đầu thực hiện một chương trình
truyền hình, việc đầu tiên là phải có ý tưởng về nội dung với việc xác định mục tiêu và đối tượng khán giả chương trình Tiếp theo là công việc soạn thảo kịch bản chương trình Kịch bản chương trình một bản tài liệu mô tả chi tiết
về chương trình sẽ thực hiện: kịch bản lời thoại của nhân vật, kịch bản về bố cục các khuôn hình, kịch bản về âm thanh (kỹ xảo, tiếng động, âm nhạc…) Nhằm đa dạng hóa các chương trình truyền hình cũng như tránh đi vào lối mòn gây nhàm chán, tại các nước phát triển trước đây và Việt Nam trong thời gian gần đây đã thực hiện việc xã hội hóa các kịch bản truyền hình bằng hình thức đặt hàng hoặc mua các kịch bản từ những công ty, đơn vị, cá nhân bên ngoài Giai đoạn chuẩn bị là giai đoạn rất quan trọng và quyết định phần lớn
sự thành công của chương trình Trong giai đoạn này các công tác hậu cần khác như lựa chọn nhân sự (đạo diễn, diễn viên, đội ngũ làm việc…), tài chính (đầu tư, thuê máy móc thiết bị), kế hoạch thực hiện… Về lý thuyết đây chính là một phần sản phẩm công nghệ dưới dạng thông tin Vì sản phẩm mang tính công nghệ này có giá trị thương mại nên được xem như nằm trong lĩnh vực hoạt động công nghệ
Giai đoạn tiền kỳ (Acquisition): đây là giai đoạn thu thập các “nguyên
vật liệu“ để chuẩn bị cho quá trình sản xuất Nguyên vật liệu ở đây chính là thông tin thô dưới nhiều dạng khác nhau: hình ảnh, âm thanh, văn bản… Phần cứng là các thiết bị kỹ thuật phục vụ cho công tác tác nghiệp của phóng viên, biên tập như camera, mirophone, máy ghi băng, hệ thống phim trường, trường quay… Phần mềm chính là các kỹ năng, khả năng, nghiệp vụ để tập hợp được
Trang 25nhiều thông tin có ích nhất phục vụ cho quá trình hậu kỳ sau này Trong các giai đoạn để sản xuất và hình thành một chương trình, sản phẩm truyền hình đều tồn tại song song và cùng lúc phần cứng và phần mềm tùy thuộc vào mỗi giai đoạn mà thành phần trong nó biến đổi, bổ sung cho phù hợp với yêu cầu thực tế Hiệu quả công việc của giai đoạn tiền kỳ phụ thuộc rất nhiều vào kết quả của giai đoạn chuẩn bị từ khâu nhân sự, kế hoạch thực hiện, tài chính, đặc biệt là chất lượng của kịch bản với kịch bản càng chi tiết thì khả năng thu thập thông tin càng dễ dàng và chính xác Ở đây tính hiệu quả chủ yếu được tính theo tỉ lệ các thông tin hữu ích (sử dụng được) trên chi phí bỏ ra
Giai đoạn hậu kỳ sản xuất (Post Production = Ingest + Edit): đây là
giai đoạn quan trọng để hình thành một sản phẩm hoàn chỉnh là một tác phẩm truyền hình Ở đó, các thông tin tổng hợp được sẽ được truyền tải về và đưa vào xử lý, thực hiện quá trình biên tập lại, lựa chọn sắp xếp hình ảnh, lồng tiếng, kỹ xảo, thể hiện lời bình Đây là giai đoạn tốn nhiều chi phí, thời gian, nhân lực đa dạng (phụ trách hình ảnh, âm thanh, kỹ thuật dựng, biên tập, đạo diễn…) và cần thiết bị kỹ thuật phục vụ đa dạng, phức tạp và có giá thành rất cao Chính vì tính chất quan trọng và độ phức tạp của giai đoạn này nên việc sắp xếp dây chuyền thiết bị kỹ thuật và các công đoạn xử lý một cách phù hợp
sẽ tạo hiệu quả của quá trình sản xuất Trong công tác định hướng và quản lý
vĩ mô thì việc hợp lý hóa dây chuyền sản xuất hậu kỳ là một trong những mục tiêu quan trọng nhất của quá trình sản xuất chương trình truyền hình và cũng
là động lực cho quá trình cải tiến công nghệ của ngành công nghiệp truyền hình nói chung trên thế giới
Các giai đoạn kể trên có mối liên hệ chặt chẽ và gắn kết với nhau theo một dây chuyền công nghệ sản xuất ra sản phẩm là chương trình truyền hình Chúng có mối tương tác qua lại lẫn nhau và sự ra đời của một sản phẩm truyền hình không thể thiếu một trong các giai đoạn trên
Giai đoạn lưu trữ (Archive): một sản phẩm truyền hình hoàn thiện sau
khi đưa vào khai thác sử dụng sẽ được chuyển giao cho bộ phận lưu trữ Tùy theo công nghệ ứng dụng mà sản phẩm được lưu trữ dưới những hình thức
Trang 26khác nhau như dạng băng betacam, dạng đĩa hoặc dạng tập tin (file) Sản phẩm lưu trữ này có thể được đem tái sử dụng một hoặc nhiều lần tùy vào giá trị tinh thần, giá trị lịch sử của sản phẩm, giá trị này chỉ mang tính tương đối
và không thể cân đo bằng vật chất cụ thể Cũng như các giai đoạn khác, công tác lưu trữ sản phẩm truyền hình đòi hỏi một đội ngũ kỹ thuật, một hệ thống thiết bị kỹ thuật hỗ trợ, một qui trình hợp lý và khoa học để phục vụ lưu trữ, truy suất dữ liệu…
Giai đoạn phân phối (Distribution): giai đoạn phân phối sản phẩm
truyền hình là sự truyền tải sản phẩm hoàn thiện thông qua một chuỗi hệ thống dây chuyền thiết bị phức tạp được liên kết từ trung tâm phát hình đến trung tâm truyền dẫn phát sóng để kết thúc mục tiêu đặt ra là đưa sản phẩm truyền hình đến khán giả, đến công chúng với số lượng nhiều nhất có thể Công nghệ truyền dẫn, phân phối sản phẩm truyền hình cũng rất đa dạng và ngày càng phát triển như: truyền hình số, truyền hình cáp, truyền hình vệ tinh, truyền hình Internet… Ngoài các hình thức phân phối nêu trên, sản phẩm truyền hình còn có thể được phân phối thông qua các kênh bán hàng dưới hình thức băng, đĩa VCD, DVD…
Tóm lại, công nghệ truyền hình là tập hợp một chuỗi các sự kiện tương tác đến các yếu tố liên quan về dây chuyền thiết bị, nhân lực, tổ chức và thông tin để tạo ra sản phẩm vô hình (thông tin) hoặc hữu hình (máy móc, dây chuyền thiết bị kỹ thuật) Tức là, sản phẩm của công nghệ truyền hình có thể tồn tại ở nhiều hình thức khác nhau như: kịch bản truyền hình, dây chuyền sản xuất một chương trình truyền hình, chương trình truyền hình, hệ thống phát hình, mạng lưới truyền dẫn và phát hình…
Như vậy, hoạt động công nghệ truyền hình là những hoạt động về nghiên cứu và phát triển công nghệ, chuyển giao và khai thác công nghệ, phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, hợp lý hóa sản xuất, dịch vụ tư vấn…
1.2.4 Phân loại công nghệ truyền hình
Qua phân tích về các giai đoạn của quá trình hình thành và phân phối sản phẩm, công nghệ truyền hình có thể được phân loại theo hai cách sau đây:
Trang 27Cách phân loại thứ nhất là căn cứ theo từng chủng loại, thể loại chương trình hay nội dung chương trình mà người ta phân loại thành: công nghệ sản xuất tin tức, công nghệ sản xuất trò chơi truyền hình, công nghệ sản xuất kịch, cải lương, công nghệ sản xuất phim, công nghệ sản xuất ca nhạc…
Trên thế giới, việc mua bán, trao đổi bản quyền thực hiện các chương trình truyền hình diễn ra rất phổ biến Tại Việt Nam trong những năm gần đây khi truyền hình ngoài mục đích phục vụ chính trị thì nhu cầu về thông tin, giải trí ngày càng cao và có tính thương mại hóa lớn Chính vì thế việc trao đổi, mua bán bản quyền thực hiện các chương trình truyền hình như là một điều tất yếu và đã diễn ra ở nhiều Đài truyền hình như: VTV, HTV, SCTV, BTV… với các chương trình đã và đang thực hiện như: “Việt Nam Idol“, “ Siêu thị may mắn”, “Hành trình Văn hóa“, “Dự báo thời tiết “… Về cơ bản đây chính
là một sản phẩm công nghệ sản xuất chương trình truyền hình theo đúng nghĩa Các chương trình này có một định dạng khá cố định về nội dung, hình thức thể hiện, các khuôn hình bố cục Bản quyền ở đây bao gồm quyền được sản xuất chương trình và kèm theo toàn bộ tài liệu, thông tin và các chi phí đào tạo chuyển giao qui trình cho nhóm thực hiện chương trình
Sản phẩm của công nghệ truyền hình khác với sản phẩm của các dây chuyền công nghệ sản xuất khác Nghĩa là, các sản phẩm truyền hình trong cùng một dây chuyền sản xuất là không giống nhau hoàn toàn, các sản phẩm này chỉ giống nhau về định dạng, về qui trình sản xuất nhưng khác nhau về mặt nội dung Sự khác biệt cơ bản này đến từ yếu tố con người vì các sản phẩm truyền hình luôn mang hàm lượng sáng tạo cao mà con người thì đóng vai trò quyết định về mặt nội dung Vì thế, sự thể hiện khác nhau trên từng sản phẩm là cơ sở đánh giá chất lượng của sản phẩm truyền hình hoàn thiện
Ví dụ: Cuộc thi Ngôi sao tiếng hát truyền hình do Đài Truyền hình TP.HCM
tổ chức hằng năm là một sản phẩm truyền hình có cùng qui trình sản xuất, cùng cách thức tổ chức nhưng về mặt hình thức của sản phẩm thì khác nhau
và thay đổi theo từng năm
Trang 28Cách phân loại thứ hai là căn cứ theo hệ thống thiết bị kỹ thuật của từng giai đoạn: công nghệ ghi hình, công nghệ dựng hậu kỳ, công nghệ phát hình, công nghệ phát sóng, công nghệ lưu trữ… Cách phân loại này đề cao vai trò của thành phần thiết bị, nguyên nhân chính là do trong thực tế chưa có
sự thống nhất định nghĩa về công nghệ đã dẫn đến các bất cập trong việc đánh giá các yếu tố vô hình (phần mềm, bí quyết, tổ chức quản lý, khả năng biên tập chương trình…) Vì thế, các yếu tố vô hình thường được áp vào trong một vật mang cụ thể nào đấy Ví dụ như hệ thống dựng, biên tập lại sản phẩm trong giai đoạn hậu kỳ bao gồm: máy tính, phần mềm chuyên dụng, bản quyền phần mềm, bo mạch xử lý, tài liệu hướng dẫn thao tác, kỹ năng sử dụng,… nhưng trong công tác quản lý tài sản chỉ được xem đơn giản là một máy tính chuyên dùng
Trong phạm vi Luận văn này, tác giả sử dụng cách phân loại thứ nhất
về công nghệ truyền hình để tiếp cận các qui trình sản xuất chương trình truyền hình bị được chuyển giao để từ đó có thể làm rõ, đánh giá năng lực tiếp nhận và năng lực làm chủ công nghệ truyền hình của nhân lực KH&CN Đài Truyền hình TP.HCM
1.3 Chuyển giao công nghệ
1.3.1 Khái niệm chuyển giao công nghệ
Chuyển giao công nghệ được hiểu một cách tổng quát nhất đó là việc đưa kiến thức kỹ thuật ra khỏi ranh giới nơi sản sinh ra nó
Theo quan điểm quản lý công nghệ: “Chuyển giao công nghệ là tập hợp các hoạt động thương mại và pháp lý nhằm làm cho bên nhận công nghệ
có được năng lực công nghệ như bên giao công nghệ, trong khi sử dụng công nghệ đó vào một mục đích đã định”
Theo Luật Chuyển giao công nghệ, năm 2006: “Chuyển giao công nghệ là chuyển giao quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng một phần hoặc toàn
bộ công nghệ từ bên có quyền chuyển giao công nghệ sang bên nhận công nghệ”
Trang 291.3.2 Đặc điểm chuyển giao công nghệ truyền hình
Như đã trình bày ở phần khái niệm công nghệ truyền hình, sản phẩm của dây chuyền sản xuất công nghệ truyền hình có thể là vô hình (thông tin) hoặc hữu hình (máy móc, dây chuyền thiết bị kỹ thuật) Chính vì thế, ngoài những đặc điểm tương đồng với chuyển giao công nghệ sản xuất sản phẩm thông thường thì chuyển giao công nghệ truyền hình có những đặc điểm riêng như sau:
+ Dây chuyền được chuyển giao thường phải được cải tạo lại để có thể tạo ra sản phẩm phù hợp với văn hóa của nước sở tại
+ Chất lượng sản phẩm của công nghệ nhập sẽ không cố định và thay đổi tùy thuộc vào hàm lượng sáng tạo của đội ngũ nhân lực KH&CN tham gia
“vận hành” dây chuyền sản xuất công nghệ truyền hình
+ Việc thiết kế, xây dựng nên một dây chuyền sản xuất mới có thể bắt đầu từ hệ thống máy móc, thiết bị hiện hữu mà không cần phải tốn kinh phí để cải tiến nâng cao công nghệ nhập Tuy nhiên, quá trình này đòi hỏi phải có sự thay đổi tư duy về mặt con người
+ Để tạo ra một sản phẩm mới đôi lúc không cần thiết phải nhập công
nghệ hoàn toàn mới mà chỉ cần thay đổi một vài chi tiết nhỏ trong dây chuyền
công nghệ sản xuất chương trình truyền hình
1.4 Nhân lực Khoa học và Công nghệ
1.4.1 Khái niệm nhân lực và nguồn nhân lực
a Khái niệm nhân lực
Nhân lực được hiểu theo một cách tổng quát nhất đó là sức mạnh thể lực và trí lực của con người đang tham gia vào một quan hệ lao động nhất định tạo ra những giá trị vật chất và tinh thần nhằm thỏa mãn nhu cầu của con người và xã hội
Đối với doanh nghiệp thì khái niệm nhân lực là bao gồm tất cả các tiềm năng của con người trong một tổ chức hay xã hội tức là tất cả các thành viên trong doanh nghiệp sử dụng kiến thức, khả năng, hành vi ứng xử và giá trị đạo đức để thành lập, duy trì và phát triển doanh nghiệp
Trang 30Tóm lại, khi nói về nhân lực của xã hội, tổ chức hay doanh nghiệp không chỉ đơn thuần nói về số lượng con người mà là tổng hòa các năng lực
về khía cạnh thể chất, trình độ, kỹ năng, khả năng đáp ứng nhu cầu, nhân cách của những người có thể lao động trong một xã hội, một tổ chức hay một doanh nghiệp nào đó Trong đó, nét đặc trưng của nhân lực thể hiện ở hai điểm cơ bản sau:
- Là những người đang tham gia trực tiếp vào các quan hệ lao động
- Là những sức mạnh hiện có của con người
b Khái niệm nguồn nhân lực (Human resources)
Nguồn nhân lực được phân chia thành nguồn nhân lực xã hội và nguồn nhân lực của tổ chức Trong đó:
Nguồn nhân lực xã hội là những năng lực về thể chất và trí tuệ để sản xuất ra hàng hóa và dịch vụ cho xã hội Nói theo một cách khác thì đó là toàn
bộ số lượng người có thể làm việc khi cần thiết Tuy nhiên, một bộ phận nguồn nhân lực có thể không thuộc lực lượng lao động xã hội đó chính là những người thuộc độ tuổi lao động nhưng không tìm việc làm, những người đang đi học và những người thuộc tình trạng khác như nghỉ hưu trước tuổi, những người hết tuổi lao động vẫn đang làm việc
Nguồn nhân lực của tổ chức là một bộ phận cấu thành nguồn nhân lực
xã hội, bao gồm tất cả những ai làm việc cho tổ chức hoặc những người chờ đợi để làm việc cho tổ chức (nguồn dự trữ) Cụ thể hơn nguồn nhân lực xã hội, nguồn nhân lực của tổ chức có những đòi hỏi, yêu cầu riêng tùy theo chức năng nhiệm vụ, tính chất công việc của tổ chức đó Vì thế, ngoài nguồn nhân lực của xã hội có thể đáp ứng được yêu cầu của tổ chức thì mỗi tổ chức phải có chiến lược, kế hoạch phát triển, tạo nguồn nhân lực cho mình một cách hợp lý
Tóm lại, nguồn nhân lực là phạm trù khả năng bởi nó bao gồm sức mạnh ở dạng tiềm năng của mọi con người tồn tại trong xã hội Nguồn nhân lực xét ở tầm vĩ mô thì đó là sức mạnh tiềm ẩn của xã hội, sức mạnh này chỉ
Trang 31có thể phát huy tác dụng nếu chúng được định hướng, khai thác và sử dụng một cách hợp lý
1.4.2 Khái niệm nhân lực Khoa học và Công nghệ
Theo định nghĩa của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên
Hợp Quốc (United Nations Educational Scientific and Cultural Organization – UNESCO) nhân lực KH&CN (Scientific and Technological personnel) là
“những người trực tiếp tham gia vào hoạt động KH&CN (là những hoạt động
có tính chất hệ thống và liên quan chặt chẽ đến tạo ra, phát triển, phổ biến, áp dụng kiến thức KH&CN trong mọi lĩnh vực KH&CN) trong một cơ quan, tổ chức và được trả lương hay thù lao cho lao động của họ, bao gồm các nhà khoa học và kỹ sư, kỹ thuật viên và nhân lực phù trợ” Trong định nghĩa này, UNESCO không phân biệt nhân lực KH&CN theo bằng cấp mà chỉ quan tâm đến yếu tố công việc hiện đang đảm nhận có liên quan trực tiếp vào hoạt động KH&CN hay không Vì thế, những người có bằng cấp mà không hoạt động trong lĩnh vực KH&CN cũng không được xếp vào nhân lực KH&CN
Theo định nghĩa của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế
(Organization for Economic Cooperation and Development – OECD) nhân
lực KH&CN là “những người đã tốt nghiệp trường đào tạo trình độ nhất định nào đó về một chuyên môn KH&CN thuộc trình độ 3(1)
trong hệ giáo dục đào tạo trở lên và những người không thuộc diện trên nhưng làm một nghề trong lĩnh vực KH&CN mà đòi hỏi trình độ trên với kỹ năng tay nghề được đào tạo tại nơi làm việc” Theo định nghĩa này, nhân lực KH&CN là những người thuộc trong các diện sau:
- Những người có bằng cấp thuộc trình độ 3 trở lên và làm việc trong lĩnh vực KH&CN
- Những người có bằng cấp thuộc trình độ 3 trở lên và không làm việc trong lĩnh vực KH&CN
- Những người được qui đổi trình độ tương đương trình độ 3 làm việc trong lĩnh vực KH&CN nhưng không có bằng cấp
1 Chương trình bậc cao của giáo dục cơ bản hay đạt trình độ trung học (THCS)
Trang 32- Những người làm việc trong lĩnh vực KH&CN với trình độ kỹ năng thấp, không ở mức ngang bằng với những người có trình độ tay nghề cũng được tính vào nguồn nhân lực KH&CN
Như vậy, khác với UNESCO, định nghĩa nguồn nhân lực KH&CN của OECD không quan tâm đến yếu tố công việc hiện đang đảm nhận có liên quan trực tiếp vào hoạt động KH&CN hay không mà chỉ quan tâm đến yếu tố bằng cấp và trình độ kỹ năng nghề nghiệp Vì thế, nguồn nhân lực này rất lớn,
nó bao gồm tất cả các lực lượng tiềm tàng chứ không chỉ những người đang tham gia hoạt động KH&CN
Hiện nay, tại Việt Nam từ khi Luật Khoa học và Công nghệ được ban hành vào ngày 22/6/2000 cho đến nay vẫn chưa đưa ra một định nghĩa chính thức về nhân lực KH&CN hay nguồn nhân lực KH&CN Trong các đề tài nghiên cứu tùy theo quan điểm của từng tác giả mà định nghĩa này được hiểu theo quan điểm của UNESCO, OECD hay chính quan điểm của tác giả Trong phạm vi Luận văn này, tác giả sử dụng thuật ngữ nguồn nhân lực KH&CN theo định nghĩa của OECD
1.5 Năng lực tiếp nhận – năng lực làm chủ
1.5.1 Khái niệm năng lực
Năng lực (từ gốc: Capability): có thể được hiểu là khả năng thực hiện tốt các hành động Năng lực là sự kết hợp của công suất và sự thành thạo trong quá trình thực hiện hành động đó
Theo quan điểm của tâm lý học(2)
thì năng lực là tổ hợp những thuộc tính tâm lý của cá nhân phù hợp với những yêu cầu đặc trưng của một hoạt động, nhằm đảm bảo cho hoạt động đó đạt được kết quả cao
Ngoài ra còn có nhiều quan điểm khác nhau về năng lực, tùy thuộc vào từng ngành nghề, lĩnh vực nghiên cứu mà khái niệm về năng lực được thể hiện ở các hình thức khác nhau nhưng tựu trung lại: năng lực là những đặc điểm tâm lý cá nhân của con người, nó đảm bảo khả năng nắm bắt các hình
2
Tâm lý học đại cương, Khoa Giáo dục học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc
gia Thành phố Hồ Chí Minh
Trang 33thức hoạt động xác định Năng lực được hình thành trên cơ sở năng khiếu - đặc điểm cá biệt về tổ chức cơ thể và tổ chức thần kinh, những đặc điểm qui định sự phù hợp hữu hiệu của sự điều chỉnh cảm quan với các loại hành động
cụ thể Đồng thời năng lực cũng không qui về được năng khiếu Khác với năng khiếu, năng lực luôn biến đổi, không theo sự hình thành một cách có mục đích rõ ràng
Các quan điểm nêu trên đều thống nhất năng lực được phân chia thành
2 loại là năng lực chung và năng lực đặc biệt
Trong đó, năng lực chung qui định khả năng nắm bắt có hiệu quả và nhanh chóng nhiều hình thức hoạt động có mục đích rõ ràng hay có thể hiểu một cách đơn giản đó là năng lực vốn có ở mọi người, cần thiết cho mọi lĩnh vực hoạt động tức là nếu thiếu nó mọi người không thể hoạt động có hiệu quả
ở bất kì lĩnh vực nào Ví dụ: năng lực suy nghĩ, năng lực quan sát, năng lực tưởng tượng, năng lực sử dụng ngôn ngữ, năng lực nhớ, năng lực tập trung chú ý…
Đối với năng lực đặc biệt (năng lực riêng) gắn liền với một loại hoạt động xác định nào đó, năng lực này mang tính chuyên môn nhằm đáp ứng yêu cầu của mọi lĩnh vực hoạt động chuyên biệt cụ thể nào đó Ví dụ: năng lực âm nhạc, năng lực toán học, năng lực văn học, năng lực thể thao…
Tóm lại năng lực trong hoạt động KH&CN thì được hiểu là các đặc điểm tâm lý của nhân lực KH&CN nhằm đảm bảo các khả năng nắm bắt trong lĩnh vực hoạt động để cho hoạt động KH&CN đạt được kết quả như yêu cầu đề ra
1.5.2 Năng lực tiếp nhận công nghệ truyền hình
Năng lực tiếp nhận (từ gốc: Retention) trong lĩnh vực nguồn nhân lực
là khả năng tiếp nhận sự vật, hiện tượng vào trí nhớ Từ đó là cơ sở dữ liệu để phân tích, đánh giá, so sánh … hình thành khái niệm về sự vật, hiện tượng đó Trong lĩnh vực nghiên cứu thì năng lực tiếp nhận là sự tiếp nhận cái mới hoặc
bổ sung những kiến thức, hành vi, kỹ năng, giá trị hiện có
Trang 34Thuật ngữ “năng lực tiếp nhận công nghệ truyền hình” chính là khả năng đánh giá, phân tích, chọn lọc và tiếp nhận các dây chuyền công nghệ được chuyển giao trong lĩnh vực truyền hình: công nghệ ghi hình, công nghệ dựng hậu kỳ, công nghệ phát hình, công nghệ phát sóng, công nghệ lưu trữ … thể hiện ở các yếu tố sau:
- Năng lực công nghệ của doanh nghiệp: có hai yếu tố cần quan tâm là năng lực đồng hoá công nghệ được chuyển giao với khả năng nắm vững, thích nghi công nghệ nhập và yếu tố năng lực phát triển công nghệ nội sinh
tức là khả năng tổng hợp trong nước để có thể thích nghi, cải tiến và sáng tạo
công nghệ
- Nguồn nhân lực như Strunk (1968) đã nói “ chuyển giao công nghệ là một quá trình vật chất (trí tuệ), là một quá trình về cơ bản một mặt đi liền với việc đào tạo toàn diện và mặt khác là sự hiểu biết và học hỏi” Tiếp nhận công nghệ là một khâu trong quá trình chuyển giao công nghệ, trong đó yếu tố con người – nhân lực KH&CN đóng một vai trò rất quan trọng vì với năng lực của mình họ là người quyết định thành bại của việc nhập khẩu công nghệ trong đó
có việc tiếp nhận công nghệ Năng lực của nhân lực trong giai đoạn tiếp nhận này phụ thuộc vào các yếu tố như trình độ học vấn, độ tuổi, kinh nghiệm chuyển giao, am hiểu hệ thống kỹ thuật, tình hình công nghệ hiện tại của doanh nghiệp, mức độ phản ứng và độ nhanh nhạy với công nghệ trên thế giới, khả năng đánh giá kỹ thuật, các thông tin, bí quyết … đã được thương thảo trong hợp đồng của công nghệ được chuyển giao khi tiếp nhận …
1.5.3 Năng lực làm chủ công nghệ truyền hình
Năng lực làm chủ công nghệ truyền hình là năng lực của nhân lực KH&CN Đài Truyền hình để có thể tranh thủ sự hỗ trợ và trợ giúp của các yếu tố bên trong và bên ngoài nhằm hoàn thành nhiệm vụ chung
Năng lực làm chủ công nghệ truyền hình được đánh giá dựa trên bốn cấp độ sau:
Mức 1: Năng lực vận hành các dây chuyền công nghệ truyền hình
- Khả năng tổ chức và điều hành có khoa học các hoạt động sản xuất
Trang 35- Năng lực thích ứng công nghệ mới và khả năng tương thích giữa công nghệ hiện có và công nghệ được chuyển giao nhằm đạt được hiệu quả cao
- Năng lực khai thác và sử dụng có hiệu quả nguồn thông tin, các bí quyết công nghệ nhằm tạo ra nguồn lực phục vụ các hoạt động sản xuất
Mức 2: Năng lực duy tu – bảo dưỡng
- Năng lực dự báo sự cố và khắc phục sự cố song song với việc tiến hành các công việc duy tu, bảo dưỡng hệ thống thiết bị kỹ thuật
Mức 3: Năng lực đổi mới dây chuyền công nghệ truyền hình
- Năng lực đổi mới quy trình dựa trên các ghi nhận chi tiết trong quá trình vận hành để phát hiện các lỗi mang tính hệ thống hay mắc xích, lỗi do phần cứng hay phần mềm để thực hiện việc đổi mới qui trình cho phù hợp
- Khả năng tạo được những đổi mới ứng dụng
- Năng lực cải tiến công nghệ để có thể theo kịp hoặc có thể tương thích với các công nghệ trên tiên tiến trên thế giới
Mức 4: Năng lực tự xây dựng và thiết kế dây chuyền sản xuất chương trình truyền hình: đây là năng lực cao nhất của nhân lực KH&CN trong việc tiếp
nhận và làm chủ hoàn toàn dây chuyền công nghệ sản xuất chương trình
truyền hình
* Kết luận Chương 1
Trong Chương 1 Luận văn đã đưa ra hệ thống lý thuyết về:
- Công nghệ truyền hình, trong đó tác giả tập hợp và đưa ra các khái niệm công nghệ, khái niệm truyền hình, dây chuyền truyền hình, công nghệ truyền hình để có thể khái quát được một chuỗi các hoạt động để sản xuất
ra chương trình truyền hình thông qua các công nghệ như công nghệ ghi hình, công nghệ dựng hậu kỳ, công nghệ phát hình, công nghệ phát sóng, công nghệ lưu trữ…
- Nhân lực KH&CN, trong đó đã đưa khái niệm nhân lực, nguồn nhân lực, nhân lực KH&CN nhằm thống nhất khái niệm được sử dụng để có thể phân loại, làm rõ nhân lực và nguồn nhân lực KH&CN từ đó định hướng bồi
Trang 36dưỡng, đào tạo, phát triển nhân lực theo nhu cầu của tổ chức (cơ quan, doanh nghiệp) hay dựa trên tiêu chí đặt ra để tiếp nhận nguồn nhân lực của xã hội
- Năng lực tiếp nhận, năng lực làm chủ, trong đó đã đưa ra khái niệm
về năng lực của nhân lực KH&CN trong lĩnh vực truyền hình để có thể hình dung và khái quát được nhiệm vụ, vai trò, khả năng trong công tác tiếp nhận
và làm chủ công nghệ truyền hình đang có và công nghệ truyền hình được chuyển giao Đây là những khái niệm đóng vai trò quan trọng trong việc tổ chức nhân sự, tổ chức hoạt động sản xuất, hợp lý hóa dây chuyền sản xuất nhằm mục đích phát triển Đài Truyền hình trong giai đoạn phát triển đất nước hiện nay Ở Việt Nam, một số Đài Truyền hình đã và đang hoạt động như là một doanh nghiệp vì thế trong quá trình hội nhập quốc tế hiện nay, một doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển thì phải nâng cao năng lực cạnh tranh của mình, một trong những yếu tố quan trọng hàng đầu để nâng cao năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp là yếu tố nhân lực và yếu tố công nghệ
Trang 37CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG TIẾP NHẬN VÀ LÀM CHỦ
CÔNG NGHỆ TRUYỀN HÌNH CỦA ĐÀI TRUYỀN HÌNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
2.1 Giới thiệu khái quát về Đài Truyền hình TP.Hồ Chí Minh
Đài Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh (Ho Chi Minh City Television) là Đài truyền hình do Nhà nước quản lý, trực thuộc Ủy ban Nhân dân TP.HCM, bắt đầu phát sóng từ ngày 01/5/1975
Trong lịch sử hình thành và phát triển thì Đài Truyền hình TP.HCM có thể chia làm ba giai đoạn sau:
Giai đoạn từ năm 1965 đến 30/4/1975: Đài Truyền hình Sài Gòn là Đài
vô tuyến truyền hình thuộc Nha Vô tuyến Truyền hình Việt Nam của Việt Nam Cộng hòa được thành lập năm 1965, trong giai đoạn chưa xây dựng cơ
sở trên mặt đất thì các buổi phát hình được thực hiện bằng phi cơ bay ở độ cao từ 3km đến 6km và phủ sóng từ Phan Thiết đến Cần Thơ với thời lượng phát khoảng 3 giờ/ngày
Năm 1968, Đài Truyền hình Sài Gòn hoàn thành việc xây dựng trụ sở làm việc và bắt đầu thực hiện việc phát sóng thông qua cột anten cao 122m với phạm vi phủ sóng từ khu vực miền Đông Nam Bộ đến các tỉnh miền Tây Nam Bộ và phát trên 2 kênh: K9 của Truyền hình Sài Gòn, thời lượng phát khoảng 9 giờ/ngày và K11 của Đài AFVN Hoa Kỳ, thời lượng phát khoảng
12 giờ/ngày
Buổi phát sóng cuối cùng của Đài Truyền hình Sài Gòn là vào chiều ngày 29/4/1975 và chính thức được chuyển giao cho Ủy ban Quân quản Thành phố chiều ngày 30/4/1975 đồng thời chấm dứt 10 năm hoạt động của Đài Truyền hình đầu tiên tại Việt Nam dưới sự quản lý của chế độ cũ
Giai đoạn từ 01/5/1975 đến năm 1991: sau khi tiếp quản, Đài Truyền hình Sài Gòn được đổi tên thành Đài Truyền hình Giải phóng và bắt đầu đưa vào hoạt động từ chiều 01/5/1975 với đội ngũ kỹ thuật, phóng viên, biên tập
Trang 38tại chỗ và được bổ sung thêm nguồn lực từ miền Bắc và các chiến khu nhằm duy trì sự hoạt động ổn định của Đài Trong giai đoạn đầu, Đài vẫn tiếp tục sử dụng toàn bộ hệ thống thiết bị kỹ thuật của Hoa Kỳ để lại, đồng thời bổ sung một số thiết bị từ các nước XHCN và các nước khác như: VTR Umatic của Nhật, xe màu của Tiệp Khắc, camera
Trước năm 1991, Đài hoạt động dưới cơ chế quản lý bao cấp (cơ chế xin – cho) thiếu thốn về mọi mặt: đội ngũ CBCNV ít được tái đào tạo và bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ, đời sống vật chất thiếu thốn dẫn đến tình trạng một số CBCNV bỏ nghề, chuyển công tác khác hoặc đi hợp tác lao động tại các nước XHCN Hệ thống thiết bị kỹ thuật xuống cấp, hư hỏng sau nhiều năm sử dụng nhưng không có thiết bị thay thế hoặc có nhưng giá rất cao (vì thời điểm này vẫn đang trong giai đoạn bị Hoa Kỳ cấm vận và nước ta chưa
mở cửa thông thương với các nước trên thế giới), song song với nó là việc không theo kịp với sự phát triển của ngành truyền hình nói chung và công nghệ truyền hình nói riêng trong khu vực và trên thế giới Tuy nhiên, với nỗ lực của cơ quan chủ quản nhằm vực dậy hoạt động của Đài, năm 1986 Đài đã được trang bị hệ thống thiết bị kỹ thuật của Pháp (sử dụng hệ SECAM) thay cho hệ thống cũ của Mỹ (sử dụng hệ NTSC) từ nguồn tài chính do Ủy ban Nhân dân TP.HCM cấp, sự kiện này được xem là lần đầu tiên Đài tham gia mua bán trên thị trường công nghệ trong lĩnh vực truyền hình
Giai đoạn từ năm 1991 đến nay: Đài Truyền hình TP.HCM phát triển mạnh mẽ cùng với sự phát triển của đất nước sau thời kì bao cấp Nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN đã mang đến những thay đổi kì diệu trong
sự phát triển của Đài Ngoài nhiệm vụ trọng tâm là phục vụ công tác tuyên truyền đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước thể hiện qua việc thông tin, tuyên truyền, giáo dục nâng cao dân trí và giải trí cho khán giả, Đài còn
có thể tự tạo nguồn thu thông qua các chương trình quảng cáo Điều này đã dẫn đến những thay đổi cơ bản sau:
Trang 39- Các hệ thống thiết bị kỹ thuật được nâng cấp, đầu tư mới và có chiều sâu để có thể theo kịp với sự phát triển chung của ngành truyền hình trong khu vực và trên thế giới
- Chất lượng về nội dung, kỹ thuật, kỹ xảo không ngừng nâng cao
- Qui trình sản xuất chương trình truyền hình đang dần được hoàn thiện thông qua việc từng bước hợp lý hóa dây chuyền sản xuất
- Đội ngũ CBCNV ngày càng nhiều với năng lực và trình độ chuyên môn nghiệp vụ cao
- Đời sống của CBCNV được cải thiện
- Khả năng quản lý từng bước được hoàn thiện
Với những thay đổi cơ bản trên thì từ năm 2000 đến nay, Đài Truyền hình TP.HCM đã phát triển đồng đều và mạnh mẽ về mọi mặt và đạt được một số thành tựu quan trọng như sau:
- Số lượng kênh phát sóng: 22 kênh phát sóng dưới các hình thức vệ tinh, analogue, digital Ngoài ra, Đài Truyền hình TP.HCM còn mua bản quyền từ nhiều hãng truyền hình khác và phát sóng hơn 70 kênh trên hệ thống truyền hình cáp HTVC
- Thời lượng phát sóng: đa số các kênh được phát sóng 24/24
- Vùng phủ sóng: với cột anten cao 252m mới được đầu tư xây dựng và đưa vào khai thác hoạt động từ giữa năm 2010 thì sóng analogue của Đài Truyền hình TP.HCM có thể phủ trong vòng bán kính 150km (bao gồm hầu hết các Tỉnh, Thành khu vực phía nam) Ngoài ra, tất cả cả Tỉnh, Thành trên
cả nước, toàn bộ các nước khu vực Đông Nam Á và một số nước Châu Á có thể tiếp sóng của Đài Truyền hình TP.HCM qua vệ tinh Vinasat 1
- Hệ thống thiết bị kỹ thuật được trang bị hiện đại với công nghệ đầu tư cho sản xuất chương trình, phát hình, phát sóng thuộc nhóm đứng đầu cả nước và có thể so sánh ngang với các Đài truyền hình lớn trong khu vực
- Đội ngũ kỹ sư, phóng viên, biên tập thuộc biên chế Đài và lực lượng cộng tác viên thường xuyên cho Đài tổng cộng hơn 1.000 người Đội ngũ này
Trang 40dần được trẻ hóa và thường xuyên được bổ sung, được đào tạo ngắn hạn, dài hạn, bồi dưỡng chuyên môn cả trong và ngoài nước
- Cơ cấu tổ chức ngày càng hoàn thiện với 26 Phòng, Ban, Trung tâm trực thuộc thực hiện nhiệm vụ riêng biệt và có tính chuyên môn hóa cao
- Về mặt nội dung thì đảm bảo nhiệm vụ chính trị được giao nhưng cách thức thể hiện không mang nặng hình thức giáo điều vì thế đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước dễ dàng đi sâu vào các tầng lớp nhân dân Thông tin được cập nhật liên tục, có tính thời sự và độ chính xác cao, các chương trình giải trí hấp dẫn, sinh động và được đổi mới liên tục nhằm mục tiêu phục vụ nhu cầu giải trí của nhiều thành phần, nhiều lứa tuổi khác nhau
- Doanh thu từ hoạt động quảng cáo và các dịch vụ khác trong những năm gần đây đã vượt con số 1.500 tỉ đồng
2.2 Đặc điểm của nhân lực Khoa học và Công nghệ Đài Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh
2.2.1 Nhân lực KH&CN Đài Truyền hình TP.HCM
Trong phạm vi Luận văn tác giả dựa theo quan điểm của OECD để định nghĩa, thống kê và đánh giá đặc điểm nhân lực KH&CN của Đài Truyền hình TP.HCM Tính đến thời điểm 31/12/2010 tổng số nhân lực KH&CN của Đài Truyền hình TP.HCM là 973 người Trong đó, bao gồm các đối tượng thuộc biên chế, hợp đồng ngoài chỉ tiêu biên chế (dạng hợp đồng không thời hạn và hợp đồng có thời hạn): cán bộ quản lý là 76 người, khối hành chính sự nghiệp là 203 người, khối kỹ thuật là 261 người, khối biên tập là 433 người (không bao gồm đội ngũ làm công tác phục vụ như bảo vệ, lái xe, lao công, tạp vụ ) Ngoài ra, còn khoảng 1.300 cộng tác viên theo hình thức: 300 cộng tác viên thường xuyên kí hợp đồng trực tiếp với Đài và khoảng 1.000 cộng tác viên kí hợp đồng trực tiếp với các Phòng, Ban, Trung tâm trực thuộc Đài (trong đó đại đa số là hợp đồng với các Trung tâm: Trung tâm Truyền hình cáp, Trung tâm Dịch vụ truyền hình, Trung tâm Sản xuất chương trình ) Tuy nhiên, vì đặc thù công việc mang tính thời vụ nên đội ngũ này có độ ổn