1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu những yếu tố văn học trong giáo trình tiếng Anh nhằm nâng cao hiệu quả giảng dạy tiếng Anh cơ sở tại trường ĐHKHTN, ĐHQGHN.PDF

93 716 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 93
Dung lượng 43,69 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Nghiên cứu những yếu tố văn học trong một số giáo trình cũng như những tài liệu bổ trợ đang được sử dụng để giảng dạy tiếng Anh tại trường ĐHKHTN dưới góc độ những giá trị văn hóa và n

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC T ự N H IÊ N

ì P T / m _ =

HÀ NỘI -2 0 1 0

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC T ự N H IÊ N

* * * * * * * * * * * * *

TÊN ĐỂ TÀI:

NGHIÊN c ú u NHŨNG Y Ếư T ố VĂN HỌC

TRONG GIÁO TRÌNH TIÊNG ANH NHẰM NÂNG CAO

TẠI TRƯỜNG ĐHKHTN, ĐHQGHN

MÃ SỐ: QT - 09- 67

CHỦ TRÌ ĐỀ TÀI:

ThS Trần Thị Nga CÁC CÁN BỘ THAM GIA:

ThS Nghiêm Thị Bích Diệp ThS Trương Thu Hà

ThS Nguyễn Minh Hiền ThS Phan Thị Minh Thu

Và một số cán bộ khác

HÀ NỘI - 2 0 1 0

Trang 3

a Tên đề tài:

”Nghiên cứu những yếu tô' văn học trong giáo trình tiếng Anh nhằm nâng cao

hiệu quả giảng dạy tiếng Anh cơ sở tại trường ĐHKHTN, ĐHQGHN "

Mã số đề tài: Q T - 0 9 - 6 7

b Chủ trì đề tài: GVC ThS Trần Thị Nga

c Các cán bộ tham gia: ThS Nghiêm Thị Bích Diệp

ThS Trương Thu Hà ThS Nguyễn Minh Hiền ThS Phan Thị Minh Thu

Và một số cán bộ khác

d Mục tiêu và nội dung nghiên cứu:

Đề tài này mong muốn tìm hiểu những yếu tố văn học trong giáo trình tiếng

Anh nhàm nâng cao hiệu quả giảng dạy tiếng Anh cơ sở tại trường ĐHKHTN nói

riêng và các trường thành viên khác trong ĐHQGHN nói chung

Muc đích nghiên cứu:

- Tìm hiểu sâu hơn về cơ sở lý luận của yếu tố văn học: giá trị về văn hóa và giá trị về ngôn ngữ

- Tìm hiểu mối quan hệ giữa những yếu tố văn học trong giáo trình giảng dạy ngoại ngữ và sự thành công của người học ngoại ngữ

- Nghiên cứu những yếu tố văn học trong một số giáo trình cũng như những tài liệu bổ trợ đang được sử dụng để giảng dạy tiếng Anh tại trường ĐHKHTN dưới góc độ những giá trị văn hóa và ngôn ngữ

- Việc sử dụng những yếu tố văn học đã có tác động như thế nào trong giờ học ngoại ngữ

- Đề xuất một số tiêu chí giúp giáo viên ngoại ngữ lựa chọn những tác phẩm văn học phù hợp để giáng dạy nhằm nâng cao hiệu quả giảng dạy tiếng Anh

cơ cở cho sinh viên của trường

BÁO CÁO TÓM TẮT

Trang 4

• Việc đưa các tác phẩm văn học vào giáo trình giảng dạy ngoại ngữ là xu hướng rất phổ biến.

• Trong các tài liệu phụ trợ cũng thường được giáo viên đưa thêm các yếu tố văn học Mục đích cũng nhằm luyện bổ trợ cho các kiến thức và kỹ năng được dạy trong bài

• Các tác phẩm văn học đưa vào sử dụng đều chứa đựng nhiều giá trị văn hóa của ngôn ngữ mà sinh viên được học Như vậy giúp người học tăng cường hiểu biết vể một nền vãn hóa mới và tránh được sốc văn hóa

• Các tác phẩm văn học đều chứa đựng những giá trị ngôn ngữ và được giáo viên sử dụng để phục vụ cho mục đích bài giảng Qua đó tăng cường củng cố

kỹ năng một cách lâu bển cho người học

• Khi giáo viên sử dụng các yếu tố vãn học trong giờ giảng thì cơ hội thực hành nói trên lớp nhiều hơn và sinh viên tham gia tích cực hơn so với giờ giảng không có yếu tố văn học

f Tình hình kinh phí của đề tài: 25.000.000 đ

Đã chi theo đúng dự toán

Đơn vị quản lý

ThS Trần Thị Nga

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC T ự N H IÊ N

Trang 5

SUMMARY OF THE PROJECT

a Name of the project:

"In search o f literature values in the English language textbooks so as to help improve the efficiency o f teaching basic English at H a N oi University

Nghiêm Thị Bích Diệp, M.A

Trương Thu Hà, M.E

Nguyễn Minh Hiền, M.A

Phan Thị M inh Thu, M.A

And others

d Purposes and foci o f the project:

This research aims at investigating literature values in the English language textbooks currently used at the College of Science, VNU in order to help improve the efficiency of teaching basic English at the College of Science as well as at other colleges of VNU The research focuses on:

• Gaining insights into the theoretical background of literature values: cultural and linguistic values

• Looking at the relationship between the use of literature in language teaching and learners' success in studying a foreign language

• Investigating the literature values with regard to cultural and linguistic factors in current core textbooks as well as in some supplementary materials used to teach English at the College of Science

• Looking at the effect of using literature in a language class on students’ participation in classroom activities

Trang 6

• M aking some recommendations for teachers in selecting cultural works to incorporate in theừ teaching practices so as to raise quality of general foreign language teaching and learning.

• Linguistic values are obvious in literary texts and are used selectively by language teachers to serve the aims of their teaching practices This helps reinforce learning and consolidate learners’ language skills

• With literature in classroom contact hours, there are more opportunities for students to practice and the learner is more active in participating in class activities

Trang 7

Chương II LÝ LU ẬN C H UN G VỂ VAI TRÒ C Ủ A V Ã N HỌC Đ ố i VỚI 14 VIỆC HỌC NG O ẠI N G Ữ

11.4 Văn học và điều kiện học ngoại ngữ thành công 22

III 1.1 Đ iều kiện dạy và học tiếng 26

111.3.1 Kết quả qua nghiên cứu giáo trình 31 111.3.2 Kết quả qua nghiên cứu tài liệu phụ trợ 34 111.3.3 Kết quả qua phân tích các yếu tố văn học - Giá trị văn hóa 36 111.3.4 Kết quả qua phân tích các yếu tố vãn học - Giá trị ngôn ngữ 44 111.3.5 Kết quả qua quan sát hành vi trong lớp học 49

Phụ lục 3 Truyện ngắn “Bữa ân trưa " của w s Maugham 69

Phụ lục 4 Thơ ca “N ổ i buồ n trong ánh m ắt em " 74 Tóm tắt các công trình NCKH của cá nhân 75

Trang 8

CÁC BẢNG BIỂU

BẢNG

Bảng 1: Các yếu tố văn học trong giáo trình New Headway 32

Bảng 2: Các yếu tố văn học trong giáo trình Lifelines 33

Bảng 3: Các yếu tố văn học trong giáo trình New Headway và Lifelines 34

Bảng 4: Các yếu tố văn học trong tài liệu phụ trợ 35

Bảng 5: Giá trị văn hóa trong giáo trình New Headway và Lifelines 36Bảng 6: Giá trị văn hóa trong tài liệu phụ trợ 37

Bảng 7: Giá trị ngồn ngữ trong giáo trình New Headway và Lifelines 44Bảng 8: Giá trị ngôn ngữ trong tài liệu phụ trợ 45Bảng 9: Mức độ tham gia của sinh viên lớp C-NHE buổi học trước 50 Bảng 10: Mức độ tham gia của sinh viên lớp C-NHE buổi học sau 50Bảng 11: Mức độ tham gia của sinh viên lớp c -L E buổi học trước 51Bảng 12: Mức độ tham gia của sinh viên lớp c -L E buổi học sau 51Bảng 13: Mức độ tham gia của sinh viên lớp C-NHP buổi học trước 52Bảng 14: Mức độ tham gia của sinh viên lớp C-NHP buổi học sau 52Bảng 15: Mức độ tham gia của sinh viên lớp C-LP buổi học trước 53Bảng 16: Mức độ tham gia của sinh viên lớp C-LP buổi học sau 53Bảng 17: Mức độ tham gia của sinh viên lớp C-NHI buổi học trước 54Bảng 18: Mức độ tham gia của sinh viên lớp C-NHI buổi học sau 54Bảng 19: Mức độ tham gia của sinh viên lớp C-LI buổi học trước 54Bảng 20: Mức độ tham gia của sinh viên lớp C-LI buổi học sau 55Bảng 21: So sánh mức độ tham gia của sinh viên 56

Trang 9

Cũng trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay, để có thể thực hiện được mục tiêu hội nhập và phát triển thì giảng dạy ngoại ngữ đóng vai trò vô cùng quan trọng trong giao tiếp đối với mọi lĩnh vực hoạt động chính trị, kinh tế, xã hội,

và giáo dục Bối cảnh hội nhập và hoà nhập đã đòi hỏi những thay đổi lớn lao trong công nghệ giảng dạy ngoại ngữ Đây cũng là một thách thức và trách trách nhiệm to lớn đối với người giáo viên giảng dạy tiếng Anh tại các trường đại học thành viên của ĐHQGHN nói chung và của trường Đại học KHTN nói riêng Việc cơ cấu lại tổ chức đã kéo theo một loạt những thay đổi mới về chương trình giảng dạy cũng như cách thức giảng dạy Giảng dạy ngoại ngữ sẽ cần tận dụng tốt những điều kiện sẵn có nhằm nâng cao tính hiệu quả của giảng dạy Có như vậy thì sinh viên khi ra trường sẽ có được khả năng giao tiếp thực thụ cũng như khả nãng nghiên cứu độc lập thông qua việc sử dụng ngoại ngữ

Sự thành công trong việc học ngoại ngữ bị chi phối bởi rất nhiều yếu tố khác nhau như: điều kiện học tập, phòng ốc, chương trình học tập, thời lượng học tập, số lượng học viên trong một lớp, giáo trình và tài liệu phụ trợ, vai trò tích cực ứng biến của người giáo viên trên lớp và vai trò tham gia chủ động của người học, những yếu tô' tâm lý tác động đến việc học, vv Có thể nói rằng có

vô vàn yếu tố ảnh hưởng đến sự thành công của sinh viên

Xét về giáo trình và tài liệu phụ trợ, đã có một số nghiên cứu liên quan tới biên soạn giáo trình giảng dạy ngoại ngữ, những nguyên tắc khi biên soạn

Trang 10

giáo trình, ngữ liệu ngôn ngữ sử dụng trong giáo trình, hệ thống bài tập và bài luyện đi kèm, w Rõ ràng mọi yếu tố này đều có liên quan và tác động trực tiếp đến sự thành công trong giảng dạy và học tập, Ở Việt nam và đặc biệt tại trường Đại học KHTN Hà Nội, mặc dù từ trước đến nay đã có một số nghiên cứu liên quan tới giảng dạy ngoại ngữ như nghiên cứu đánh giá giáo trình giảng dạy, nghiên cứu về giảng dạy từ vựng, nghiên cứu về phản hồi và chữa lỗi, về mối quan hệ giữa động cơ học tập và kết quả học ngoại ngữ, w nhưng chưa có nghiên cứu nào đề cập tới những yếu tố văn học trong giáo trình ngoại ngữ Nếu biết sử dụng tốt những yếu tố văn học trong giáo trình ngoại ngữ, chúng sẽ rất hữu ích cho người dạy để triển khai các hoạt động đa dạng có định hướng nhằm thúc đẩy và nâng cao động cơ học tập của người học Chính

vì vậy, việc triển khai nghiên cứu những yếu tố văn hóa trong giáo trình giảng dạy và trong các tài liệu bổ trợ cho dạy và học ngoại ngữ là vấn đề trọng tâm nghiên cứu của đề tài QT-09-67

1.2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN c ú u

Xuất phát từ sự cẩn thiết như đã nêu trên, đề tài QT-09-67 mong muốn nâng cao được tầm nhìn và hiểu biết sáu sắc hơn về cơ sở lý luận từ việc khai thác

và sử dụng văn học phục vụ cho mục đích dạy và học ngoại ngữ Cụ thể, đề tài

đã đặt ra những muc đích nghiên cứu sau:

(1) Tìm hiểu sâu hơn về cơ sở lý luận của yếu tố văn học trong dạy và học ngoại ngữ: giá trị về văn hóa và giá trị về ngôn ngữ

(2) Tìm hiểu mối quan hộ giữa việc đưa những yếu tố văn học vào giáo trình giảng dạy ngoại ngữ và sự thành công của người học ngoại ngữ

(3) Nghiên cứu những yếu tố văn học trong một số giáo trình cũng như những tài liệu bổ trợ đang được sử dụng để giảng dạy tiếng Anh tại trường ĐHKHTN dưới góc độ văn hóa và ngôn ngữ

(4) Đề xuất một số tiêu chí giúp giáo viên ngoại ngữ lựa chọn những tác phẩm văn học phù hợp khi đưa vào lớp học nhằm nâng cao hiệu quả giảng dạy tiếng Anh cơ sở tại trường Đại học KHTN, ĐHQGHN

Trang 11

1.3 PHẠM VI VÀ PHƯƠNG THỨC NGHIÊN c ú u

Đối với đề tài nghiên cứu này, công việc nghiên cứu được thực hiện ở trường Đại học KHTN Đề tài tiến hành nghiên cứu trên các giáo trình chính đang được sử dụng giảng dạy tiếng Anh cơ sở tại trường Đại học KHTN cũng như tài liệu phụ trợ phục vụ cho mục đích bài giảng

Một số giáo trình đang giảng dạy là:

- S oars, L and J Soars 2003 (The New Edition) N ew Headway:

Elementary Student's Book Oxford: Oxford University Press.

- Soars, L and J Soars 2005 (The New Edition) N ew Headway: Pre-

Intermediate Student's Book Oxford: Oxford University Press.

- S oars, L and J Soars 2005 (The New Edition) New Headway:

Intermediate Student's Book Oxford: Oxford University Press.

- H u tch in so n , T 1999 Life Lines Elementary Student's Book Oxford: Oxford

University Press

- H u tch in so n , T 1997 LifeLines Pre-Intermediate Student's Book Oxford:

Oxford University Press

- H u tch in so n , T 1999 LifeLines Intermediate Student's Book Oxford:

Oxford University Press

Ngoài ra những tài liệu phụ trợ có nhiều yếu tố văn học cũng được giáo viên đưa vào sử dụng nhằm làm phong phú cho tài liệu giảng dạy, củng cố kỹ năng cũng như kiến thức và nâng cao chất lượng bài giảng

Đề tài nghiên cứu đặt ra bốn câu hỏi sau:

• Vãn học đóng vai trò gì đối với việc dạy và học ngoại ngữ?

• Có bao nhiêu ngữ liệu ngôn ngữ liên quan đến văn học hoặc tác phẩm văn

học trong các bài giảng của các giáo trình N ew Headway và Life Lines!

• Có bao nhiêu ngữ liệu ngôn ngữ liên quan đến văn học hoặc tác phẩm văn

Trang 12

• Những yếu tố văn học này đã được khai thác như thế nào để phù hợp với vai trò của văn học trong dạy và học ngoại ngữ?

Đề tài nghiên cứu tiến hành các bước sau:

- Tổng quan tài liệu để tìm hiểu vai trò của vãn học trong giảng dạy ngoại ngữ

- Nghiên cứu các giáo trình chính đang được sử dụng để giảng dạy tiếng Anh

và một số tài liệu phụ trợ cho bài giảng tại trường Đại học KHTN để tìm ra những yếu tố văn học

- Nghiên cứu những yếu tố văn học trong các giáo trình và tài liệu phụ trợ để tìm ra những nét văn hóa

- Nghiên cứu những yếu tố văn học trong các giáo trình và tài liệu phụ trợ nhằm tìm ra những nét ngôn ngữ

- Tiến hành quan sát lớp học nhằm tìm hiểu tính hiệu quả của việc sử dụng các yếu tố văn học đối với hành vi trong lớp học của sinh viên

- Ngoài ra chúng tôi cũng tiến hành buổi toạ đàm trao đổi với các đồng nghiệp xung quanh vấn đề các yếu tố văn học và dạy và học ngoại ngữ

1.4 Ý NGHĨA NGHIÊN c ú u

Để tài nghiên cứu khái quát hoá một số vấn đề lý luận chung về vai trò của văn học trong việc giảng dạy và học ngoại ngữ Qua đó đề tài giúp tăng cường nhận thức về cơ sở lý luận - một phần quan trọng trong nền tảng của giảng dạy ngoại ngữ

Kết quả nghiên cứu có thể được tham khảo và ứng dụng trong các giờ giảng dạy tiếng Anh tại trường đại học KHTN và có thể mở rộng ra cho đối tượng sinh viên ở các trường không chuyên ngữ khác như trường Đại học Khoa học

Xã hội và Nhân vãn, Đại học Kinh tế, Đại học Giáo dục thuộc Đại Học Quốc Gia Hà Nội

Đề tài QT-09-67 cũng đưa ra một số gợi ý giúp người giáo viên biết cách khai thác những yếu tố vãn học trong giáo trình cũng như trong tài liệu bổ trợ để giới thiệu ngôn ngữ và củng cố các kỹ năng mà sinh viên đã được học

Trang 13

Đề tài QT-09-67 cũng đưa ra những tiêu chí cần thiết giúp giáo viên chọn lọc các tác phẩm văn học phù hợp với mục đích giảng dạy của mình Qua đó có thể giúp thúc đẩy quá trình học, tiếp thu và vận hành ngôn ngữ của sinh viên.

Trang 14

CHƯƠNG II

LÝ LUẬN CHUNG VỀ VAI TRÒ CỦA VÃN HỌC

ĐÔÌ VỚI VIỆC HỌC NGOẠI N G Ữ

II 1 MỘT SỐ ĐỊNH NGHĨA c ơ BẢN

Dưới đây là một số định nghĩa về các khái niệm cơ bản được sử dụng trong đề tài QT-09-67

Thuật ngữ học ngôn ngữ thứ hai, theo định nghĩa của Dulay et al (1982:10) là

chỉ quá trình học một ngôn ngữ khác sau khi người học đã học được ngôn ngữ thứ nhất và việc học ấy có thể diễn ra cả ở nước ngoài cũng như ở nước bản

địa Còn thuật ngữ học tiếng Anh như là một ngoại ngữ theo Crystal (1993:

368) thì việc học này diễn ra ở trường học mà ngôn ngữ ấy không đóng vai trò

là phương tiện giao tiếp tại nước đó (English as a foreign language is referred

to as English taught at school or university which “has no status as a routine medium o f com m unication” in the country where it is taught) Theo những

định nghĩa này thì học tiếng Anh tại Việt Nam có thể coi như là học ngôn ngữ thứ hai hoặc học tiếng Anh như là một ngoại ngữ

Moody (1983: 19) đã đưa ra định nghĩa về thuật ngữ văn học như sau: văn học

là “sự sáng tạo nên những tác phẩm nghệ thuật bàng ngôn ngữ và những tác phẩm nghệ thuật ấy được sử dụng phục vụ cho mọi nhu cầu giao tiếp của con người, cho cá nhàn hay tập thể, bằng lời nói hay văn bản thông qua ngôn

ngữ” (Literature is defined as the “constructions or artifacts, in language,

which may be designed fo r any o f the whole range o f human communication needs, private or public, oral or written, fo r which language is u se d ”) Theo

định nghĩa này thì Moody (1983) và Walson (1983) đã liệt kê những tác phẩm văn học theo nhiều hình thức khác nhau như: thơ ca, kịch, bi kịch, hài kịch, kịch vui nhộn, truyện dân gian, thần thoại, truyện ngắn, và tiểu thuyết

Cuối cùng khi đề cập đến những yếu tố văn học trong giáo trình tiếng Anh, chủ trì để tài trọng tâm nghiên cứu xem xét tới những tác phẩm văn học hoặc lược trích tác phẩm văn học được đưa vào làm ngữ liệu giảng dạy Trên cơ sở những yếu tố văn học ấy, đề tài nghiên cứu những giá trị tiềm ẩn: giá trị văn

Trang 15

hóa và ngôn ngữ trong việc tăng cường tri thức cũng như các kỹ năng giao tiếp ngồn ngữ Những yếu tố văn học này hữu ích như th ế nào trong các giờ giảng tiếng Anh cơ sở tại trường đại học KHTN, ĐHQGHN.

II.2 VĂN HỌC VÀ YẾU TỐ VĂN HÓA

Có rất nhiều các nhà giáo dục học đã chú ý tới việc sử dụng những tác phẩm văn học trong giáo trình ngoại ngữ Điều này chứng tỏ rằng văn học có tiềm

ẩn những giá trị lớn lao, dặc biệt là giá trị văn hóa Trong việc học ngoại ngữ

mà cụ thể hơn là học tiếng Anh, kiến thức hiểu biết về nền văn hóa của thứ tiếng mình đang học là vô cùng cần thiết bởi lẽ văn hóa phản ánh hành vi và lối sống của con người Theo Brown (1994: 164), văn hóa chính là “ý tưởng, phong tục tập quán, kỹ năng, mỹ nghệ, và công cụ biểu thị đặc trưng của

nhóm người trong thời gian nhất định nào đó.” ( “the ideas, customs, skills,

arts, and tools which characterize a given group o f people in a given period o f time ”) Văn hóa không chỉ bó gọn trong những thành phần cấu thành mà còn

là “Một hệ thống liên kết các thành phần cấu thành nên nó và chi phối hành

vi con người “ ( “It is a system o f integrated patterns which govern

human behaviour .”) (Condon 1973: 4) Bởi lẽ ngôn ngữ được sử dụng để

phản ánh văn hóa nên ngôn ngữ và văn hoá có mối quan hệ rất khăng khít với nhau Brown (1994) đã chỉ ra mối quan hệ khăng khít giữa văn hóa và ngôn ngữ như sau: "Ngôn ngữ là một phần của văn hoá và văn hoá cũng chính là một phẩn của ngôn ngữ Hai thứ đó hoà quyện vào nhau tới mức mà người ta không thể tách chúng ra mà lại không làm mất đi ý nghiã hoặc của ngôn ngữ

hoặc của văn hoá" ( “A language is a part o f a culture and a culture is a part

o f a language; the two are intricately interwoven such that one cannot separate the two without losing the significance o f either language or

cu ltu re”) (p.165) Nhiều các nhà giáo dục học và ngồn ngữ học khác như Du

(1986), M arckwardt (1978), Stem (1987), Gwin (1990), Truitt (2002), Le Thi Anh Phuong (2003), Tran Thi Nga (2003), Nault (2006), và Nguyen Thi Thom Thom (2009) đều nhận thấy những mối quan hệ khăng khít giữa văn hoá và ngôn ngữ Rõ ràng rằng việc học ngôn ngữ thứ hai sau tiếng mẹ đẻ chính là nắm bắt thêm một nền vãn hoá mới

Trang 16

Chúng ta có thể nhận thấy rằng sự hiểu biết về nền văn hoá của thứ tiếng mình đang học là không thể thiếu được đối với người học ngoại ngữ Nó cũng chính

là yếu tố tạo nên sự thành công của người học Vậy thì đâu là nguồn tài liệu cung cấp cho chúng ta những hiểu biết về văn hóa? Một trong những nguồn tài liệu đó chính là các tác phẩm văn học Nhiều nhà ngôn ngữ cũng thừa nhận văn học như là một cách thức rất hữu ích để học về văn hóa Du (1986: 24) cho rằng văn học “là một phương tiện rất có giá trị để nắm bắt được văn hóa Trong Gajdusek 1988, Bateson cho rằng văn học có một giá trị đặc biệt đối với một nền văn hóa vì nó hướng con người ta liên kết tới vô vàn những kinh

nghiệm trong cuộc sống (Literature “serves as a valuable means o f attaining

cultural insights”).

Truitt (2002) khi bàn về chức năng của nghệ thuật kịch trong giảng dạy ngoại ngữ, đã phát biểu rằng sử dụng kịch “là một phương thức tuyệt vời để giảng dạy văn hóa cho sinh viên” (p 10) Stem (1987: 47) cho rằng văn học tạo

ra cơ hội để người học hòa mình vào nển văn hóa của ngôn ngữ mình đang học “thông qua việc nghiên cứu những trải nghiệm thông thường của con người trong một bối cảnh nhất định nào đó và sự nhận thức của con người.” Quan điểm của Sage (1987) cũng tương tự như quan điểm của Stem khi ông nhận thấy những giá trị văn hóa tiềm ẩn và xuyên suốt trong văn học bởi nó cung cấp cho một bối cảnh văn hóa đầy đủ (Tr 41) Carter và Long (1991: 3) coi văn học như là phương tiện có thể “Diễn đạt những ý tưởng và tình cảm

có ý nghĩa nhất của con người” Cũng liên quan tới vấn đề này còn có rất nhiều các nhà ngôn ngữ học và giáo dục học đều chia sẻ quan điểm về những giá trị văn hóa của văn học Ví dụ như DiPietro (1982), Basturkmen (1990), Brock (1990), và nhiều tên tuổi khác được nhắc đến trong Sage (1987): Scott, Povey, Marshall, w Họ đều cho rằng văn học dạy cho con người ta về văn hóa bằng việc lột tả cuộc sống và đặt người học trong một bối cảnh giao tiếp với cả “vô số những lối diễn đạt biểu cảm có giá trị suốt cả một thời kỳ lịch sử hay những giai đoạn lịch sử” (Carter và Long 1991: 3)

Chính vì vậy mà việc đưa các yếu tố văn học vào giảng dạy ngoại ngữ sẽ tạo

ra cơ hội thích hợp để người học khám phá những yếu tố văn hóa của con người thuộc một nền văn hóa có thứ tiếng họ đang học Việc dạy văn hóa không chỉ tăng cường “nhận biết của sinh viên về sự mở mang và bản chất của văn hóa” (Alien và Valette 1977: 327), mà còn cung cấp cho họ một phương

Trang 17

tiện để giúp họ “hiểu, cảm thông, và tích cực tham gia vào những hoạt động văn hóa” (Stem 1987: 47) Sage (1987) còn chỉ ra rằng một trong những mục đích của văn học là “thể hiện văn hóa thông qua các nhân vật trong truyện” nên nó sẽ “thành công hơn rất nhiều những thể loại đọc khác” (tr, 41).

Rõ ràng rằng không gì có thể phủ nhận được mối quan hệ khăng khít giữa ngôn ngữ và vãn hóa được thể hiện trong văn học Do vậy chúng ta có thể thấy rất nhiều những yếu tố văn học trong các giáo trình giảng dạy tiếng nước ngoài Mặt mạnh của việc học hiểu thêm một nền văn hóa nằm ở chỗ nó nâng cao được nhận thức của người học về những sự khác biệt trong lối sống, lối suy nghĩ thể hiện ngay từ những lối chào hỏi dến những chiến thuật giao tiếp tinh tế hơn Nói cách khác, sử dụng văn học trong giảng dạy ngoại ngữ sẽ mở đường cho sinh viên hiểu biết cách thức giáo tiếp thực thụ giữa các thành viên

từ những nền văn hóa khác nhau và nhờ đó mà người học sẽ dần nắm bắt được tốt ngôn ngữ mình đang học (Marquardt, trích trong Stem 1987) Chính do có mối quan hệ khăng khít giữa ngôn ngữ và văn hóa mà việc giảng đạy và học ngoại ngữ cần tạo điều kiện cho sinh viên đến với nền văn hóa của ngôn ngữ mình đang học - nền văn hóa ấy được phản ánh trong các tác phẩm văn học.Trong học tiếng Anh, sự hiểu biết về nền văn hoá của thứ tiếng ấy khồng thê thiếu được Các tác phẩm văn học như truyện ngắn, tiểu thuyết, kịch và thơ ca

sẽ là nguồn tài liệu phong phú cung cấp cho người học những kiến thức và hiểu biết thêm về một nền văn hoá của những nước nói tiếng Anh Khi chúng

ta đọc một câu truyện hoặc một tiểu thuyết chúng ta có thể thấy đựơc lối sống

và làm việc của những người trong nền văn hoá ấy: cách thức làm quen nhau, cuộc sống gia đình với mối quan hệ giữa những thành viên trong gia đình, những phong tục tập quán, lễ hội, cung cách làm việc, cung cách học tập, lối suy nghĩ và cách ứng xử v.v

Như vậy việc dạy tiếng nước ngoài khi lồng các thể loại văn học vào là tạo điều kiện cho sinh viên có cơ hội đê khám phá những yếu tố văn hoá của người nói thứ tiếng ấy và thông qua đó họ có thể hiểu biết được từ những lối nói, lối chào hỏi cho đến những phương thức giao tiếp tinh vi hơn

Trang 18

II.3 VÃN HỌC VÀ GIÁ TRỊ NGÔN NGỮ

Ngoài những giá trị văn hoá, người ta đều thừa nhận mặt mạnh nữa của văn học khi được lồng vào các giờ học ngoại ngữ là giúp phát triển các kỹ năng ngôn ngữ Như chúng ta nhận thấy các tác phẩm văn học còn tạo điều kiện để phát triển các kỹ năng ngôn ngữ cho người học vì văn học tự bản thân nó đã phản ánh các cách thức giao tiếp khác nhau trong cuộc sống; tự nó là kho tàng

về từ vựng giàu có và về cách thể hiện ngôn ngữ phong phú

Sage (1987) cho rằng những lợi ích mà văn học đem lại cho sinh viên rất lớn lao bởi nó là biểu thị của hàng loạt những chiến thuật giao tiếp Roger (1983) cũng thừa nhận ý nghĩa đặc biệt của văn học trong giao tiếp ngôn ngữ Trong thơ ca, tiểu thuyết hoặc kịch nói người ta đã sử dụng những quy ước giao tiếp đặc biệt cùng với cả những quy ước giao tiếp thông thường Điều này sẽ tạo cho bức thông điệp của tác giả vượt ra khỏi ngôn ngữ thông thường và cho phép giao tiếp trên cấp độ câu Văn học trong những trường hợp này đã tạo cơ hội cho người học tiếp cận với “phổ rộng nhất về cú pháp, sự khác biệt phong phú về từ vựng,” và đưa ra những ví dụ về ngôn ngữ “được sử dụng có hiệu quả, tinh tế và gợi mở nhất” (Povey, trích trong Zughoul 1986: 13), Eagleson

và Kramer cho rằng văn học sẽ chau chuốt chúng ta bằng những ngữ liệu phong phú về sự vận hành của ngôn ngữ: cấu trúc ngữ pháp - cả theo quy tắc

và không theo quy tắc - và ngữ nghĩa, về sự mở rộng và cấu trúc của từ vựng,

về quá trình tạo dựng từ, về sắc thái thay đổi của dạng thức ngôn ngữ và về mối quan hệ giữa ngôn ngữ viết và ngôn ngữ nói (trích trong Du 1986: 24) Văn học sẽ tạo ra rất nhiều cơ hội thuận lợi cho việc kích thích phát triển kỹ năng giao tiếp ngôn ngữ cũng như mở rộng phạm vi tiếp cận ngôn ngữ của sinh viên Quan điểm này được rất nhiều người chia sẻ: Lee, Povey, Moody,

O ’Brien và Young (trong Sage 1987), Slater (1988), Spack (1985), McKay (1982), M arckwardt (1978), và Gwin (1990) Chính vì vậy mà việc đưa văn học lồng vào chương trình giảng dạy ngoại ngữ đã nhận được sự ủng hộ của nhiều nhà giáo dục học như Widdowson (1984), Zughoul (1986), Munro (trích trong Zughoul 1986), John (1986), Du (1986), Krsul (1986), Truitt (2002), Trần Thị Nga (2003), và Nguyen Thi Thom Thom (2009)

Liên quan đến nhận định của Widdowson khi cho rằng văn học có đóng góp đáng kể đối với cả quá trình cũng như mục đích học tập, Basturkmen (1990)

Trang 19

cho rằng sự đóng góp của văn học nhằm thúc đẩy quá trình học tập thể hiện ở chỗ nó tạo ra nhiều cơ hội thiết yếu cho người đọc ghi mã và giải mã ngữ nghĩa Đây chính là quá trình quan trọng cho việc phát triển ngôn ngữ (tr 18) Thêm vào đó, văn học còn góp phần thực hiện mục đích giảng dạy và học ngoại ngữ bởi nó là đặc trưng ngôn ngữ được sử dụng thực tế, có nghĩa là ngôn ngữ được sử dụng trong những bối cảnh xã hội và giao tiếp với những mục đích khác nhau.

Văn học, đặc biệt thơ ca, kịch, và truyện ngắn đã chứng tỏ được ý nghĩa của

nó như một phương tiện hữu ích trong giảng dạy ngoại ngữ Maley và Duff (1989) đã lưu ý tới những nét gợi mở, nhiều màu sắc và liên tưởng của thơ ca Chính nét đặc biệt này đã giúp gửi đi những bức thông điệp rất tinh tế tới mọi người Mặt mạnh của nó thể hiện ở chỗ thơ ca, kịch, và truyện cho phép người

ta hiểu theo nhiều cách khác nhau mà vẫn đảm bảo được giá trị ngữ nghĩa Do kênh tiếp nhận của mỗi người khác nhau nên đây sẽ tạo ra những cơ hội cho

sự bàn luận hứng thú và sôi nổi xoay quanh một chủ đề lý thú Cả hai học giả đều tin ràng thơ ca là phương tiện rất tốt để tăng cường niềm tin cho người học

vì nó tạo cho họ cơ hội khám phá ngôn ngữ theo nhiều khía cạnh khác nhau Những âm thanh của thơ ca, theo như Sage (1987: 9) nhận định, sẽ vô cùng hữu ích đối với luyện âm Yếu tố thực dụng này đã được Baurain (2002) - người đã coi thơ ca như một cách thức vô cùng hứng thú đê luyện âm và ngữ điệu - sử dụng trong các giờ giảng tiếng Anh của mình cho sinh viên Việt Nam và sinh viên các nước Châu Á khác Brown (1994) cũng cho rằng những yếu tố về trọng âm, ngữ điệu, nhịp nói trong thơ ca là những yếu tố thiết yếu giúp cho người học ngoại ngữ phát triển khẩu ngữ và nói năng trôi trảy

Các thể loại kịch ngắn có thể được sử dụng để “tăng cường bổ trợ cho việc dạy

và học mọi khía cạnh của ngôn ngữ” (Truitt 2002: 13) Tương tự như Truitt, Stem (1987) tin rằng kịch ngắn giúp phát triển các kỹ năng ngôn ngữ, đặc biệt

là kỹ năng nói thông qua việc tạo dựng ra các hoạt động ngôn ngữ lý thú cho người học McRae (1985) thậm chí còn cho rằng việc đóng kịch và quan sát sẽ rất hữu ích cho người học vì nó giúp người học nhận thức được những nét ngôn ngữ đặc biệt trong khẩu ngữ như thái độ, tình cảm, ngữ điệu lời nói, điệu

bộ, nét mặt, di chuyển w Việc tranh luận, bàn luận, gợi ý, đưa ra chính kiến, đổng ý, không đồng ý hoặc bác bỏ sẽ “bắt đầu ngấm vào người học một cách

Trang 20

tự nhiên một khi họ ngày càng quen hơn với nhiều ca kịch và sẽ cảm thấy tự tin hơn trong việc sử dụng tiếng Anh (tr 7).

Sử dụng văn học vào các giờ giảng, ngoài việc phát triển các kỹ năng nói, còn giúp phát triển các kỹ năng đọc và viết Ta có thể thấy một ví dụ điển hình là thơ ca Vì theo như Maley và Duff (1989: 12) nhận định: “Thơ ca tạo ra một bối cảnh đầy đủ (thường) ở dạng cô đọng Nghĩa thể hiện được diễn đạt có tính chất rất kinh tế”, vì vậy muốn hiểu được nghĩa của chúng, người học luôn cần mở rộng phạm vi từ vựng và sử dụng các chiến thuật đọc khác nhau

Nói về kỹ năng viết, từ rất lâu nhà sử- triết học vĩ đại Ibn Khaldum (trích trong John 1987) đã đánh giá tầm quan trọng lớn lao của văn học trong việc phát triển kỹ năng viết cho người học và đặc biệt nhấn mạnh tới việc tạo cơ hội cho người học tiếp cận với các tác phẩm văn học Bản thân John cũng tin rằng:

“Chỉ có những kiến thức về văn học mới có thể giúp sinh viên nhận thức một cách tích cực về những lối sử dụng ngữ pháp khác biệt và tinh tế đóng góp vào

sự thành công trong phát triển kỹ năng viết” (tr 21) Stem (1987) đưa ra hai dạng thức nhằm phát triển kỹ năng viết - viết theo mẫu (viết lại bài theo cấu trúc được kiểm soát cho sẵn, có hướng dẫn, có bắt chước) và viết về bài liên quan đến tác phẩm văn học (viết về tác phẩm văn học hoặc viết mở rộng xung quanh những tác phẩm văn học) Cả hai phương thức viết đó đều rất giúp ích cho việc phát triển kỷ năng ngôn ngữ

Nhiều kết quả nghiên cứu về khả năng viết của sinh viên đã minh chứng cho cho lợi ích của việc tiếp cận với văn học trong học ngoại ngữ Watt (trích trong Sage 1987) đã tiến hành nghiên cứu kỹ năng viết của sinh viên ở Ghana Kết quả cho thấy những lỗi về ngữ pháp, đặc biệt lỗi về sử dụng thời của động

từ, lỗi về dạng thức số nhiều và số ít đã dần bớt đi khi sinh viên được học thơ

ca Tương tự như vậy, Norman (1990) cũng chỉ ra ảnh hưởng tích cực của việc

sử dụng các tác phẩm văn học trong quá trình giảng dạy ngoại ngữ: sinhviên có xu hướng viết được các bài luận tốt hơn trong các bài kiểm tra khi họ viết về các chủ đề thường gặp trong giáo trình dạy viết Họ sử dụng những cấu trúc phức tạp hơn và từ vựng tinh tế hơn Họ chú ý nhiều tới xắp xếp và bố cục của bài Họ luôn sẩn sàng liên tưởng và liên kết tới những gì họ đã được học

từ văn học” (tr 46) ( " the students tend to produce better compositions in

tests than the compositions they w rite on topics commonly fo u n d in current

Trang 21

books on teaching writing They use more complex structures and sophisticated vocabulary They pay more attention to organization They are more willing to relate to the experience provided by literature ”).

Ngoài việc giúp phát triển cả bốn kỹ năng về tiếng: nói, nghe, đọc và viết, văn học còn giúp phát triển khả năng phân tích tổng hợp Đây cũng là một điều kiện thiết yếu cho việc học ngoại ngữ thành công Khi bình luận về truyện ngắn, Sage (1987: 43) đã nói: truyện ngắn cũng giống như những tác phẩm văn học khác, giúp cho việc phát triển khả năng phân tích trí não, đưa người học tới những tổng hợp cô đọng của một tình huống ở một không gian và thời gian Trọng tâm và ghi nhớ, đó chính là một phần quan trọng của ngôn ngữ và những trải nghiệm văn hóa quý giá có được đối với người học ngoại ngữ thứ hai.” like all literature, contributes to the development o f cognitive analytical ability, bringing the whole se lf to bear on a compressed account o f

a situation in a single place and moment Focused and memorable, it is an essential part o f the language and cultural experience available to ESL students”).

Sage còn nói thêm rằng một khi người học cảm thụ về quá trình viết và sáng tác thông qua việc học thơ ca thì họ sẽ tăng cường được hiểu biết sâu hơn về ngôn ngữ (tr 12) Nhờ đó mà sinh viên sẽ phát triển được cảm thụ từ ngữ và những khám phá của mình mà sau này có thể sẽ giúp tăng cường ham mê văn học và khả năng phân tích tốt hơn Quan điểm này cũng được Maley và Duff (1989) cùng chia sẻ

Gwin (1990) đã tổng kết những giá trị về ngôn ngữ của văn học khi đưa lồng vào giáo trình giảng dạy ngoại ngữ như sau Gwin nói các tác phẩm văn học:

- là ngữ liệu ngôn ngữ đầu vào lý thú và đẩy ý nghĩa;

- trọng tâm cho hoạt động sản sinh ngôn ngữ đầu ra thông qua hoạt động viết và bàn luận;

- là những trải nghiệm thực tiễn cho sinh viên khi họ đọc những dạng thức bài đọc mà họ sẽ có thể gặp trong các khóa học hàn lâm;

- là cách thức hữu hiệu để hiểu những nét phức tạp và tinh tế cần có trong

sự sáng tạo về lối viết văn phong

Trang 22

Chính nhờ những giá trị này mà trong thực tế nhiều nhà biên soạn giáo trình

đã trích dẫn một số tác phẩm văn học để bổ sung và làm phong phú thêm

nguồn tài liệu giảng dạy Ví dụ như Viney trong giáo trình Streamline

English: Directions đã lấy hẳn vở kịch ngắn của Oscar Wilde "The

importance of being earnest" làm một bài học trong giáo trình Giáo trình dạy

đọc M ilestones của Saitz và Kopec có đưa một truyện ngắn "Fear" của nhà văn

Mỹ Gordon Lish Trong các giáo trình khác như New Headw ay của Soars (2008) hoặc Lifelines của Hutchinson (2002) các tác giả cũng có sử dụng

truyện của các nhà văn làm ngữ liệu giảng dạy ngôn ngữ Đặc biệt là Roberts

đã tập hợp thơ và văn xuôi làm toàn bộ ngữ liệu cho giảng dạy tếng Anh trong

giáo trình The Roberts English Series: a Linguistics Program Nhiều các giáo

viên dạy tiếng như W alker (2001); Wells và W alker (2001); Truitt (2002); and Baurain (2002) đã đưa thơ, ca, và kịch vào tiết dạy tiếng Anh để nhằm luyện ngữ âm, từ vựng, và ngữ pháp Qua đó chúng ta càng thấy rõ những hữu ích của việc lấy các tài liệu từ kho tàng văn học vào dạy và học tiếng nước ngoài

II.4 VĂN HỌC VÀ ĐIỀU KIỆN HỌC NGOẠI NGỮTHÀNH CÔNG

Với những giá trị vãn hóa và ngôn ngữ của văn học trong các giờ giảng dạy ngoại ngữ, văn học quả thực đã đảm bảo được một số điều kiện tất yếu cho việc học ngoại ngữ thành công

Thứ nhất, theo Schumann (1978) thì Tiếp biến văn hóa (Acculturation) - được hiểu như một quá trình hòa nhập vào nền văn hóa mới (nhờ đó mà người học

sẽ học được ngôn ngữ thứ hai) - được quyết định bởi các yếu tố xã hội và tâm

lý Một trong những yếu tố xã hội chính là sốc vãn hóa Sốc văn hóa là “nỗi lo lắng khi người học gặp phải những xa lạ trong nền văn hóa mới” (tr 167)

ị " anxiety resulting fro m the disorientation encountered upon entering a new culture ”) Khi tiếp cận với một nền văn hóa mới, nếu cơ chế đương đầu và giải

quyết vấn đề trong người học không thực hiện tốt chức năng của mình thì người học sẽ bị lệch hướng (disorientation) và như vậy sẽ gây ra sự căng thẳng, bức xúc, lo sợ Hậu quả là “trí não sẽ sản sinh ra hội chứng mạnh mẽ phản ứng không chịu tiếp nhận và do đó nó làm tản mát trí lực và chuyên tâm cho việc học ngôn ngữ thứ hai Trong những điều kiện như vậy thi người học dường như sẽ không có được những cố gắng cần thiết để học và nói được ngôn

Trang 23

ngữ thứ hai” (ibid), (the “resulting mental State can produce a powerful

syndrome o f rejection which diverts energy and attention from second language learning Under such conditions the learner is unlikely to make effort necessary to become bilingual ”) Sốc văn hóa sẽ ức chế việc học nhưng

quá trình Đồng hóa văn hóa sẽ giúp người học nắm bắt được những tri thức cần thiết để vận hành hoạt động trong một nền vãn hóa mới Vậy nếu văn học dạy về văn hóa, nó sẽ dần tạo dựng lên một hình ảnh tích cực về ngôn ngữ mình đang học cho sinh viên và giúp họ vượt qua được sốc văn hóa và qua đó

sẽ cố gắng học ngoại ngữ tốt hơn

Có thể nói rằng quá trình Tiếp biến văn hoá, hay quá trình thích nghi với nền vãn hoá mới có ảnh hưởng tới lượng giao tiếp, gặp gỡ, và tương tác giữa người học với người bản ngữ Nó cũng liên quan tới mức độ cởi mở của người học có sẵn sàng đón nhận ngôn ngữ đầu vào hay chưa? Khi học ngoại ngữ, điều kiện quan trọng đầu tiên để người học tiếp biến văn hoá là:

- Vượt qua được sốc văn hoá (cultural shock): nỗi lo lắng e ngại thấy mình không hoà nhập được vào nền văn hoá mới

- Vượt qua được sốc ngôn ngữ: nỗi lo sợ thấy mình kém cỏi khi cố gắng vận hành ngôn ngữ mình đang học

- Có đủ động cơ học tập cũng như khả năng hoà nhập với cộng đồng khác.Thứ hai, trong những xem xét cẩn thận và kỹ lưỡng về truyện ngắn sử dụng trong giảng dạy tiếng Anh, Sage (1987: 42) đã chỉ ra rằng: “ truyện kê là những bức thông điệp dễ hiểu nhất tăng cường cho học ngoại ngữ bởi nó giúp làm thuyên giảm những bức xúc lo lắng của sinh viên và làm tăng sự tự tôn của m ình” Krashen (1981) cũng nhất trí với quan điểm này khi ông cho rằng việc học ngoại ngừ tốt nhất sẽ diễn ra ở những môi trường mà nỗi lo lắng e ngại của người học thấp và do đó không có hàng rào bảo vệ ngăn cách “Văn học có tầm quan trọng lớn lao cho không khí lớp học ngoại ngữ việc sử dụng văn học vào giờ giảng sẽ giúp xóa đi hàng rào ngăn cách tâm lý đứng chặn giữa bản thân người học và giữa người học với người thày” (Basturkmen (1990- 18)

Rõ ràng rằng, với vãn học sinh viên sẽ bị cuốn hút vào việc học không chỉ ở phương diện trí não mà còn ở phương diện tình cảm Dulay et al (1982) nhận

Trang 24

xét rằng một khi người học cởi mở sẵn sàng tiếp nhận ngôn ngữ đầu vào thì đây chính là điều kiện quan trọng đầu tiên cho việc học ngoại ngữ thành công Người học càng cởi mở bao nhiêu thì dữ liệu ngôn ngữ sẽ càng được thu nhận vào trí não bấy nhiêu.

Thứ ba, vì văn học là một nguồn dữ liệu ngôn ngữ đầu vào giàu và vô cùng lý thú, nó sẽ kích thích động cơ học ngoại ngữ của sinh viên Gardner (1985), trong những nghiên cứu về động cơ và thái độ của người học đối với việc ngoại ngữ, đã chỉ ra rằng khi người học có được động cơ học tập cao, thì họ sẽ

cố gắng hết mình để học tập Đây cũng chính là điều kiện cơ bản quyết định

sự thành công cho người học

Trong nghiên cứu gần đây nhất của Trần Thị Nga (2008) trên sinh viên của trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học QGHN về động cơ học tập và ảnh hưởng của nó tới việc học ngoại ngữ, kết quả nghiên cứu đã khẳng định những ảnh hưởng tích cực đáng kể của động cơ học tập tới kết quả học tập, tới mức

độ cởi mở tham gia các hoạt động trong lớp học cũng như tới ham muốn tiếp tục theo đuổi học tập khi người học có động cơ học tập cao, đặc biệt là động

cơ định hướng hòa nhập

Thứ tư, như đã nhắc đến trong phần trước, văn học, đặc biệt là thơ ca, sẽ tạo nên vô vàn các cơ hội để sinh viên thảo luận và đòi hỏi các hoạt động ngôn ngữ tương tác ở cấp độ cao Thông qua những hoạt động tương tác trong lớp, người học sẽ tăng cường được vốn tri thức ngôn ngữ Bộ não của họ sẽ trở nên linh hoạt, và do vậy mà người học sẽ liên tục liên kết những tri thức họ sẵn có với những gì họ đang học (Rivers 1987: 4,5) Chính từ thực tế này mà chúng

ta sẽ dễ dàng nhận thấy vì sao tương tác trong lớp học lại đóng góp cho sự thành công của người học

Thứ năm, văn học bao hàm những chiến thuật giao tiếp Sage (1987) cho rằng thông qua văn học, thì “sớm hay muộn sinh viên sẽ gặp phải hầu hết các chiến thuật giao tiếp mà người nói sử dụng hoặc suy tính sử dụng” (tr 6) Nếu đúng như vậy thì thực tế cho thấy một khi chúng ta tạo ra nhiều cơ hội và thời gian

để người học tiếp cận và chìm mình trong văn học, họ sẽ dần nắm bắt được những chiến thuật giao tiếp quan trọng Học và sử đụng được những chiến thuật giao tiếp là điều kiện quan trọng cho việc học ngoại ngữ thành công Chính trong những bối cảnh này mà các kỹ năng ngôn ngữ được hình thành,

Trang 25

xây dựng và phát triển qua quá trình sử dụng những chiến thuật giao tiếp vào bối cảnh cụ thể.

Thứ sáu, để hiểu được một tác phẩm văn học, đặc biệt là thơ ca, người học cần

“chơi” với thơ ca, phân tắch ra từng phần để giải mã và rồi chắp nối lại chúng Spolsky (1989) đã dùng thuật ngữ “điều kiện phân tích giải m ã” (analysed knowledge condition) nhằm chỉ cho quá trình này Ông nói: “Vì tri thức ngôn ngữ được phân tách ra các thành phần cấu thành để phân tích, chúng sẽ luôn

có sẵn tạo điều kiện cho kết hợp và chắp nối lại” (tr 17) ( “Analysed

knowledge condition As linguistic knowledge is analysed into its constituent parts, it becomes available fo r recombination ”).

Tóm lại, khi lồng các tác phẩm văn học hoặc trích lược văn học vào giảng dạy ngoại ngữ, một bối cảnh thuận lợi đã đựơc tạo ra với những điều kiện lý tưởng cho việc học ngoại ngữ: người học dễ dàng tiếp biến vãn hoá, họ cởi mở hơn khi tiếp nhận ngôn ngữ đầu vào, động cơ học tập được nâng lên, mở ra nhiều

cơ hội thực hành tiếng, cung cấp các chiến thuật giao tiếp cơ bản và tinh tế, và tạo ra cơ hội thuận tiện cho việc giải mã ngôn ngữ Đó chính là sáu điều kiện quan trọng để người học thành công

Trang 26

CHƯƠNG m

NGHIÊN c ú u

III 1 BỐI CẢNH NGHIÊN c ú u

III.1.1 Điểu kiện dạy và học tiếng

- Đối với đề tài nghiên cứu QT - 09 - 67, công việc nghiên cứu được thực hiện

ở trường Đại học KHTN.

- Như ta thấy hầu hết các giảng đường tại trường Đại học KHTN đều là giảng đường lớn với bàn ghế kê sử dụng tối đa (cho khoảng 70 sinh viên ngồi học) Như vậy khi học ngoại ngữ, việc di chuyển trong lớp để thực hiện các hoạt động theo nhóm hoặc giao tiếp sẽ tương đối khó khăn Dạy kỹ nàng nghe chủ yếu dựa vào CD và Casset Sinh viên chưa có điều kiện học trong phòng máy Tuy nhiên giáo viên có thể sử dụng các phương tiện khác phục vụ giảng dạy như đèn chiếu, máy vi tính w

- Lớp học ngoại ngữ thường được chia nhỏ ra làm 30 sinh viên Nếu để học ngoại ngữ thì 30 người trong một lớp vẫn là khá đông So với điều kiện học ngoại ngữ không chuyên tại Việt nam và tại các trường Đại học thì có thể coi đây là phù hợp

III 1.2 Giáo trình chính giảng dạy

Giáo trình chính là giáo trình:

- S oars, L and J S oars 2003 (The New Edition) N ew Headway:

Elementary Student's Book Oxford: Oxford University Press.

- S oars, L and J S oars 2005 (The New Edition) New Headway: Pie-

Intermediate Student's Book Oxford: Oxford University Press.

- S oars, L and J Soars 2005 (The New Edition) N ew Headway:

Intermediate Student's Book Oxford: Oxford University Press.

- H u tch in so n , T 1999 LifeLines Elementary Student's Book Oxford: Oxford

University Press,

Trang 27

- H u tch in so n , T 1997 LifeLines Pre-Intermediate Student's Book Oxford:

Oxford University Press

- H utch in so n , T 1999 LifeLines Intermediate Student's Book Oxford:

Oxford University Press

Các giáo trình này được soạn theo quan điểm hiện đại về giảng dạy ngoại ngữ,

có bố cục các bài gọn gàng, có độ dài hợp lý, các chủ đề trong bài gần gũi với cuộc sống thường ngày Các bài tập phong phú về thể loại và nó đã kết hợp luyện cả 4 kỹ năng nghe, nói, đọc, viết Đây là điều kiện thuận lợi để sinh viên thực hành các hoạt động ngôn ngữ

Ngoài việc sử dụng các giáo trình đó ra, nhiều tài liệu khác cũng được giáo viên đưa vào sử dụng bổ trợ và tăng cường cho các hoạt động ngôn ngữ trên lớp, đặc biệt là các tài liệu cập nhật trên mạng Internet và tài liệu giảng dạy

tiếng Anh cho từng kỹ năng riêng như bộ sách "Tune in" của Jack c Richard

và Kery O ’Sullivan

Như vậy các giáo trình sử dụng rất đa dạng và việc giảng dạy cho phép người giáo viên có nhiều linh hoạt khi phân bố thời gian giảng dạy và trọng tâm hơn đối với một số hoạt động ngôn ngữ nhằm tăng cường các kỹ năng giao tiếp và

sự tương tác trong lớp học

III 2 PHƯƠNG THỨC NGHIÊN c ú u

III 2.1 Đ ôi tượng nghiên cứu

- Đề tài QT-09-67 tiến hành nghiên cứu các giáo trình chính dùng để giảng dạy tiếng Anh cơ sở cho sinh viên tại trường Đại học Khoa học Tự nhiên và một số nguồn tài liệu bổ trợ được giáo viên sử dụng cho học tiếng Anh

- Đề tài nghiên cứu tìm hiểu những yếu tố văn học trong các giáo trình và tài liệu đưa vào giảng dạy tiếng Anh nhằm tìm ra những giá trị của văn học như những giá trị vãn hóa và ngôn ngữ trong giảng dạy và học tiếng Anh

- Đề tài cũng tiến hành quan sát lớp học nhằm có được những thông tin về hoạt động giao tiếp trong lớp học khi giáo viên sử dụng các tác phẩm văn học vào giảng dạy

Trang 28

- Sáu lớp học được quan sát Mỗi lớp học được quan sát 2 buổi học và mỗi buổi kéo dài 2 giờ học tín chỉ (50 phút/ giờ tín chỉ) Trong 2 buổi quan sát lớp thì 1 buổi không có ngữ liệu văn học và 1 buổi có sử dụng ngữ liệu văn học Tổng số buổi quan sát lớp là 12 buổi.

- Tiến hành so sánh hành vi trong lớp học của sinh viên giữa 2 buổi trên mỗi lớp nhằm tìm hiểu những tác động của việc sử dụng ngữ liệu văn học đối với nguời học

III 2.2 Phương thức nghiên cứu

Đề tài QT-09-67 được tiến hành nghiên cứu tài liệu và quan sát ỉớp học Kết quả qua quan sát lớp học sẽ đem so sánh để nghiên cứu ảnh hưởng của văn học trong giờ giảng

Nghiên cứu trọng tâm tìm hiểu:

(1) Có những yếu tố vãn học nào trong các giáo trình chính dùng giảng dạy tiếng Anh cơ sở cho sinh viên trường Đại học Khoa học Tự nhiên?

(2) Có những yếu tố văn học nào trong các tài liệu phụ trợ dùng phục vụ giảng dạy tiếng Anh cơ sở cho sinh viên trường Đại học Khoa học Tự nhiên?

(3) Giá trị văn hóa và giá tri ngôn ngữ được thể hiện trong các ngữ liệu văn học ấy như thế nào?

(4) Mức độ tham gia trong giờ học của sinh viên như thế nào khi giáo viên sử dụng những yếu tố văn học để nâng cao hiệu quả giảng dạy tiếng Anh cơ sở?(5) Và đề xuất một số kiến nghị trong việc chọn lựa và sử dụng các tác phẩm văn học phục vụ giảng dạy ngoại ngữ

Cách thức tiếp cận

- Để trả lời câu hỏi (1), đề tài nghiên cứu hai bộ giáo trình sử dụng cho giảng

dạy tiếng Anh cơ sở: New Headway và Life Lines nhằm tìm xem có bao nhiêu

yếu tố văn học xuất hiện trong giáo trình

- Với câu hỏi (2), đề tài tiến hành nghiên cứu một số tài liệu phụ trợ mà giáo viên đưa vào sử dụng để tìm kiếm những yếu tố văn học Đề tài tìm hiểu số tài

Trang 29

liệu mà 4 giáo viên sử dụng thêm cho lớp học của mình trong cả học kỳ II năm học 2008-2009 Đây là 4 giáo viên giảng dạy cho 6 lớp mà đề tài QT-09-

67 tiến hành quan sát lớp

- Với câu hỏi (3) đề tài đã chọn lựa và tiến hành phân tích 3 ấn phẩm văn học điển hình - một là tác phẩm lược trích có sẵn trong giáo trình, một là truyện ngắn được giáo viên đưa vào làm tài liệu phụ trợ sử dụng, và một dưới dạng thơ ca để tìm ra những giá trị về văn hóa và giá trị ngôn ngữ của những ngữ liệu văn học khi đưa vào giảng dạy ngoại ngữ

- Có được thông tin cho câu hỏi (4), đề tài tiến hành quan sát 6 lớp học Mỗi lớp sẽ dự 2 buổi trong đó có:

+ một buổi giáo viên chỉ sử dụng các ngữ liệu trong giáo trình để giảng dạy; và

+ một buổi giáo viên có sử dụng ngữ liệu văn học - có thể từ trong giáo trình hoặc từ tài liệu phụ trợ

- 6 lớp học được mã hóa như sau:

+ Lớp học giáo trình New Headway: Elementary Student's Book: C-NHE

+ Lớp học giáo trình New Headway: Pre-Intermediate Student's Book:

C -N H P

+ Lớp học giáo trình N ew Headway: Intermediate Student's Book: C-NHI

+ Lớp học giáo trình LifeLines Elementary Student's Book: C-LE

+ Lớp học giáo trình LifeLines Pre-Intermediate Student's Book: C-LP

+ Lớp học giáo trình LifeLines Intermediate Student's Book: C-LỈ

Do không thê quan sát tất cả mọi sinh viên trong lớp nên đề tài chọn ngẫu nhiên mỗi lớp 3 sinh viên để quan sát và trọng tâm vào hành vi trong lớp học của họ Tổng số sẽ có 18 sinh viên trong 6 lớp

Những thông tin được đem ra phân tích và đối chiếu Dựa trên kết quả nghiên cứu đề tài sẽ đưa ra những khuyến cáo cho việc sử dụng các tài liệu văn học khi giảng dạy ngoại ngữ

Trang 30

Phiếu quan sát lớp học (Xem phụ lục 1)

Phiếu quan sát lớp học tập trung vào hành vi của sinh viên trong giờ học tiếng Anh trên hai bình diện sau:

- Mức độ hăng hái phát biểu ý kiến đóng góp cho thảo luận (trong khi thảo luận theo cặp hoặc theo nhóm sinh viên có tích cực nói hay không)

- Mức độ hăng hái trình bày trước nhóm và trước lớp Mỗi khi có cơ hội

để trình bày, người học có sẩn sàng xung phong nói hay không Mức độ hăng hái này được tính theo số lần nói trên tổng số cơ hội giáo viên tạo

ra cho sinh viên

Và người quan sát có ghi những nhận xét ở cột cuối cùng về mức độ tích cực của sinh viên

Phiếu quan sát lớp học được thiết kế như sau:

Phiếu quan sát lốp học Class observation

2

3

(Ghi chú: TC = tích cực; v p = vừa p h ả i; K T C = khống tích cực)

Để đánh giá mức độ tích cực của sinh viên thì tiêu chí đánh giá như sau:

- TC: Sinh viên tham gia từ 20 % trong tổng số cơ hội trở lên.

- VP: Sinh viên tham gia từ 10 đến cận 20% trong tổng số cơ hội

Trang 31

- KTC: Sinh viên tham gia dưới 10 % trong tổng số cơ hội.

Số cơ hội là các cơ hội được giáo viên cho phép sinh viên thực hành nói trên lớp Cơ hội có thể là dịp trình bày ý kiến của mình, thảo luận trong nhóm, thảo luân theo cặp, trả lời câu hỏi của giáo viên hoặc của bạn Nói tóm lại cơ hội được nói là bất cứ hình thức nào cho phép người học nói bằng tiếng Anh

Tuy nhiên, thực tế có thể xảy ra là cùng một lúc và tại cùng một thời điểm có thể có nhiều người muốn nói nhưng chỉ một người được lựa chọn Vậy thì nếu sinh viên giơ tay xin phát biểu cũng sẽ được đánh dấu là có tham gia

Mỗi khi tham gia vào những hoạt động trên thì người quan sát đánh dấu (V) vào cột tương ứng, Cột cuối cùng là cột để ghi đánh giá và nhận xét của người quan sát dựa trên tiêu chí đã thống nhất

III 3 KẾT QUẢ

// / 3.1 K ết quả qua nghiên cứu giáo trình

Đề thuận tiện cho việc tổng hợp số liệu vào bảng biểu, các giáo trình được viết tắt như sau:

- S oars, L and J Soars 2003 (The New Edition) New Headway:

Elementary Student's Book Oxford: Oxford University Press,

(Viết tắt: NHE)

- Soars, L and J Soars 2005 (The New Edition) New Headway: Pre-

Intermediate Student's Book Oxford: Oxford University Press.

(Viết tắt: NHP)

- Soars, L and J Soars 2005 (The New Edition) New Headway:

Intermediate Student's Book Oxford: Oxford University Press.

(Viết tắt: NHI)

- H u tch in so n , T 1999 LifeLines Elementary Student's Book Oxford: Oxford

University Press

(Viết tắt: LE)

Trang 32

- Hutchinson, T 1997 LifeLines Pre-Intermediate Student's Book Oxford:

Oxford University Press

(Viết tắt: LP)

- Hutchinson, T 1999 LifeLines Intermediate Student's Book Oxford:

Oxford University Press

Trong tổng số 40 bài học của 3 quyển giáo trình New Headway thì có 8 bài

(chiếm tỷ lệ 20 %) được nhóm tác giả biên soạn đưa các yếu tô' văn học vào giảng dạy để bổ trợ và củng cố các kỹ năng và kiến thức ngôn ngữ sinh viên

đã được học trong bài

Một điểm rõ nét nữa là tất cả các yếu tố văn học bộ giáo trình này đều được

bố cục xắp xếp sau phần giới thiệu ngôn ngữ trọng tâm của bài học (presentation of new language items) Thơ ca đều được xắp xếp vào cuối bài

Tìm hiểu những yếu tố văn học trong 3 quyển giáo trình Lifelines chúng ta có

được các số liệu thể hiện ở Bảng 2 dưới đây

Trang 33

Bảng 2 Các yếu tố văn học trong giáo trình Lifelines

Giữa bộ giáo trình Lifelines và bộ giáo trình New Headway ta thấy có số liệu

tương tự về những yếu tố văn học được các nhà biên soạn giáo trình đưa vào

Có thể nói rằng các tác giả giáo trình cũng có những quan điểm thống nhất trong việc sử dụng những yếu tố văn học phục vụ cho mục đích giảng dạy

Trong tổng số 42 bài học của 3 quyển giáo trình Lifelines thì có 12 bài (chiếm

tỷ lệ 28.6 %) được tác giả Hutchinson đưa các yếu tố văn học vào giảng dạy

để bổ trợ và củng cố cho các kỹ năng và kiến thức ngôn ngữ sinh viên đã được học trong bài

Một điểm tương đồng nữa là tất cả các yếu tố văn học trong bộ giáo trình

Lifelines cũng được xắp xếp sau phần giới thiệu ngôn ngữ trọng tâm của bài

học (presentation of new language items) Thơ ca đều được xắp xếp vào cuối bài

Tổng hợp cả hai bộ giáo trình chúng ta có số liệu sau (Xem Bảng 3.)

Trang 34

Bảng 3 Các yếu tố văn học trong giáo trình N ew Headway và Lifelines

về các bài có yếu tố văn học là 26,8 %.

Từ bố cục xắp xếp trình tự bài giảng, chúng ta có thể dễ dàng nhận ra các yếu

tố văn học rất hữu ích cho việc luyện tăng cường nhằm củng cố lâu bền hơn những kỹ năng cũng như kiến thức sinh viên đã được học Các nhà ngôn ngữ học đã biết khai thác kho tàng văn học làm phong phú thêm cho ngữ liệu giảng dạy ngoại ngữ nhằm phục vụ tốt nhất cho mục đích dạy và học tiếng nước ngoài

// / 3.2 K ết quả qua nghiên cứu tài liệu phụ trợ

Đề thuận tiện cho việc tổng hợp số liệu vào bảng biểu, đề tài tập hợp các tài liệu phụ trợ của 4 giáo viên tham giảng dạy các lớp:

Trang 35

Trong số các giáo viên giảng dạy có hai giáo viên tham gia giảng dạy 2 lớp (một giảng dạy lớp C-NHE và lớp C-LE, một giảng dạy lớp C-NHI và C-LI) còn hai giáo viên khác thì một người dạy lớp C-NHP và một người dạy lớp C-LP.

Để giúp cho việc tập hợp số liệu, chúng tôi ghi số giáo viên như sau

- Giáo viên 1 - G V 1: giảng dạy lớp C-NHE và lớp C-LE;

- Giáo viên 2 - GV2: giảng dạy lớp C-NHP;

- Giáo viên 3 - GV3: giảng dạy lớp C-LP;

- Giáo viên 4 - GV4: giảng dạy lớp C-NHI và lớp C-LI

Kết quả được thể hiện ở Bảng 4 dưới đây

Bảng 4 Các yếu tố văn học trong tài liệu phụ trợ

Giáo

viên

Số tài liệu

Thơ ca Truyện Thể loại

hành thì có tới 18 tài liệu có liên quan tới các yếu tố văn học (chiếm 52,9 %)

Điều này cũng một lần nữa khẳng định rõ vai trò của văn học trong giảng dạy ngoại ngữ, đặc biệt trong việc tăng cường và củng cố kỹ nâng ngôn ngữ

Trong buổi tọa đàm về số liệu và dữ liệu diễn ra vào cuối tháng 6/2009 những cán bộ tham gia nghiên cứu và bốn giáo viên của Bộ Môn Ngoại Ngữ tham gia giảng dạy cho các nhóm đối tượng của Đề tài QT- 09 - 67 đều cho rằng khi

Trang 36

ngôn ngữ Họ tìm kiếm những tài liệu phù hợp với trọng tâm của bài giảng Ví

dụ khi bài học tăng cường luyện lối mời chào thì giáo viên cũng trọng tâm vào lối nói này từ một số trích đoạn hoặc truyện ngắn

Hơn nữa, để việc luyện và củng cố các kỹ năng cho sinh viên tốt thì những tài liệu phụ trợ cần phải lý thú nhằm thu hút và kích thích động cơ của người học Nguồn tài liệu mà giáo viên hay tìm đến là truyện ngắn, thơ ca, hoặc truyện dân gian Thực tế cho thấy những yếu tố bất ngờ của các tác phẩm vãn học đã trở thành điểm “nóng” giúp cho không khí học tập sôi nổi, đặc biệt khi thảo luận và bình luận

HI 3.3 K ết quả qua phân tích các yếu tô vãn học - Giá trị vãn hóa

Tất cả mọi tác phẩm văn học trong các giáo trình và tài liệu bổ trợ đều có nhiều những nét văn hóa và ngôn ngữ Chúng là một tập hợp ngữ liệu rất hữu ích cho các hoạt động củng cố kiến thức và kỷ nâng ngôn ngữ

/// 3.3.1 Giá trị văn hóa

Để tìm hiểu giá trị văn hóa trong các yếu tố văn học đưa vào giáo trình giảng dạy tiếng Anh cũng như các tài liệu phụ trợ cho giảng dạy, chúng ta hãy xem Bảng 5 và Bảng 6 dưới đây

Bảng 5 Giá trị văn hóa trong giáo trình New' Headway và Lifelines

G iáo trình Yếu tố vãn học Nét vãn hóa

Trang 37

Bảng 6 Giá trị văn hóa trong tài liệu phụ trợ

G iáo viên Yếu tố van học Nét văn hóa

tố văn học ấy Một khi làm quen và nắm bắt được những nét văn hóa thì người học cũng sẽ thấy bài học dễ hiểu hơn vì nó chính là biểu hiện của lối tư duy, suy nghĩ, cách thức giải quyết vấn đề, lối ứng xử và lối sống của con người thuộc nền văn hóa mà mình đang học ngôn ngữ của họ

HI 3.3.2 Gía trị văn hóa trong truyện ngắn ‘‘Chuyện về hai anh em lặng thinh ” cửa Arnold Benneĩ ịThe Tale o f two Silent Brothers)

Để hiểu rõ hơn những giá trị văn hóa trong ngữ liệu văn học đưa vào giảng dạy ngoại ngữ, đề tài QT-09-67 trọng tâm phân tích truyện ngắn (lược trích

truyện) được hai tác giả biên soạn giáo trình New Headway: John và Liz Soars đưa vào bài thứ 14 của giáo trình New Headway - Pre-Intermediate (tr 114-

115- Second Edition)

+ Xung khắc và bất hòa trong gia đình thường xảy ra và các thành viên trong cùng gia đình có thể sẽ không nói chuyện với nhau Tuy nhiên họ vẫn phải giao tiếp và cách thức giao tiếp của họ là thông qua ngồn ngữ viết

“They lived together, they ate meal together but they never spoke a single

Trang 38

they had had a quarrel Whenever they wanted to communicate they wrote

notes.”

(Hai anh em John và Robert, chênh lệch nhau 3 tuổi đ ã cãi nhau và trong mười năm không ai nói với ai câu nào Mỗi khi cẩn giáo tiếp hơi anh em dùng mảnh giấy đ ể viết.)

+ Khi một người sắp sửa từ biệt cõi đời (die) họ thường để lại di chúc ở chỗ

luật sư của mình và di chúc ấy chỉ được tiết lộ cho những người có liên quan sau khi họ đã chết

“I ’ve come to tell you about your sister’s will Did you know that she had left

a will?”

(Ông Powell Liversage, là luật sư, cũng là người bạn của hai anh em John và Robert đến đ ể thông báo rằng chị ruột của họ có đ ể lại di chúc.)

+ Khi trong gia đình có tang, những người nhà mặc đổ đen.

“One evening the brothers were sitting together after supper They were both wearing black because their older sister, Mary, had recently died.”

(Họ mặc đồ đen sau khi khi chị ruột của họ qua đời)

+ Di chúc chỉ được thông báo sau khi người để lại di chúc đã chết Việc đc lại

di chúc có thế sẽ không đê cho những người có liên quan biết

“I ’ve come to tell you about your sister’s will Did you know that she had left

a will?”

“ ‘N o,’ answered John and Robert together.”

(Họ hoàn toàn không biết gì vê' di chúc cùa người chị gái của mình)

+ Luật sư đến tận nhà để thông báo về di chúc.

“Mr Liversage is coming to visit He phoned and said he wanted to see us.”

{Ông Powell Liversage hẹn đến nhà hai anh em John và Robert đ ể thông báo

và đọc di chúc.)

+ Vấn đề được hai anh em quan tâm đầu tiên là chị cúa họ để lại bao nhiêu

Trang 39

“ ‘N o,’ answered John and Robert together ‘How much did she leave?’ ”

(Câu hỏi đầu tiên sau khi biết chị mình có đ ể lại di chúc là chị đ ể lại bao nhiêu tiền.)

+ Người chị khiển trách các em mình về lối ứng xử và về sự thiếu công bâng

(Annie đ ã chờ một trong hai anh em suốt mười năm trời Việc hai anh em đ ể

cô Annie đợi chờ đã làm phôi phai tuổi xuân của người phụ nữ.)

+ Người chị có cách thưởng và trừng phạt hai em mình nhằm mong muốn bù đắp phần nào cho Annie

“So John, if you marry Annie, I ’ll give all my money to you And Robert, if you marry her, I ’ll give it to you And, if neither of you marries her, all my money will go to Annie, herself.”

(Đây cũng là cách th ể hiện sử cảm thông của một người phụ nữ đối với Annie

và từ sự cảm thông dần đến quyết định đúng đắn nhằm bù lại những mất mát

mà cô Annie đ ã phải chịu đựng.)

+ Trong cuộc sống và trong tình yêu có nhiều trường hợp một người có hai ba người cùng yêu thương

“Ten years ago when Annie was a young woman of 27, both John and Robert had been in love with her.”

(Ớ đây hai anh em trai cùng yêu một cỏ gái - Annie.)

Trang 40

+ Trong một số trường hợp người ta đi đến quyết định bằng cách dùng đồng

xu tung lên xem xấp ngửa

“W hy don’t we toss a coin for Annie? Heads or tails?”

(Cả hai anh em đưa ra quyết định ai s ẽ lấy Annie dựa vào vận may dự đoán xem đồng xu xấp hay ngửa.)

+ Khi thông tin đã được tiết lộ thì sự trì trệ hoặc chậm trễ sẽ không đem lại kết quả gì

“The next evening John went round to A nnie’s house Powell Liversage was just leaving when he arrived.”

(Mãi tận tối hôm sau John mới đến nhà Annie Ông Powell Liver sage đã đến trước John.)

+ Sự căm giận và trả thù

“And Annie? Well, she got her revenge and now she’s very happily m aưied.”

(Annie đ ã từ chối John và lấy người khác như là một sự trả thừ.)

+ Câu chuyện tiềm ẩn về một xã hội bị đồng tiền chi phối

“The next evening John went round to A nnie’s house Powell Liversage was just leaving when he arrived.”

“So in the end neither brother maried Annie They are still bachelors to this day.”

“And Annie? Well, she got her revenge and now she’s very happily married.”

(Powell Liversage khi biết về khoản tiền theo di chúc 12.000 bang Anh s ẽ thuộc về Annie nếu một trong hai anh em không lấy cô thì đã đến trước đề cầu hôn Annie, c ỏ n Annie vì muốn trả thù nên đã nhận lời lấy Pow ell Liversage.)

Ngoài những lời văn trong câu chuyện ra, hai bức tranh minh họa cũng có thể nói thêm một số nét văn hóa của người Anh: trang trí căn phòng, những đồ ăn thức uống sau bữa tối w

Với những bài học như thế này, sinh viên sẽ bị cuốn hút vào câu truyện Các tình huống trong câu chuyện đã đưa người đọc đi hêt ngạc nhiên này đến ngạc

Ngày đăng: 18/03/2015, 13:44

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Aldington, R, “ Farewell to Memories" in D. Jatievoi, N. Matreeva, and A. Borisov (eds.). Short Stories by Richard Aldington, Progress Publishers, Moscow 1967 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Farewell to Memories
2. Basturkmen, H, "Literature and the Intermediate Language Learner A Sample Lesson with Hem ingway 's 'Cat in the Rain' ", English Teaching Forum 28, 3: 18-21, 1990 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Literature and the Intermediate Language Learner A Sample Lesson with Hem ingway 's 'Cat in the Rain'
3. Brock, M. N, "The Case f o r Localized Literature in the ESL Classroom ", English Teaching Forum 28, 3: 22-25, 1990 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Case f o r Localized Literature in the ESL Classroom
4. Brown, H. D., Principles o f Language Learning and Teaching, N. J., Englewood Cliffs: Prentice Hall Regents. 1994 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Principles o f Language Learning and Teaching
16. Maugham, w . s., “ The Luncheon" in M. I. Shishcanova and N. p. Vacileva (eds ). Modern English a n d American Short Stories , Moscow: Moscow Institute of International Relations, 1961 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Luncheon
17. M cK ay, s ., “Literature in the ESL Classroom ", TESO L Quarterly 16: 529-36. 1982 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Literature in the ESL Classroom
18. Moody, H. L ., “Approaches to the Study o f Literature: A Practitioner's View” in c . J. Brumfit (ed.), Teaching Literature Overseas: Language-based Approaches. Oxford:Pergamon, 1983 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Approaches to the Study o f Literature: A Practitioner's View”" in c . J. Brumfit (ed.), "Teaching Literature Overseas: Language-based Approaches
19. Nault, D., “Using W orld Literatures to Promote Intercultnrai Competence in Asean EFL Learners", The Asean E F L Journal Quarterly 8. 2: 132-150, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Using W orld Literatures to Promote Intercultnrai Competence in Asean EFL Learners
20. Nguyen T h i Thom Thom, "Using Literary Texts in ELT", Paper presented at the 5,h National V T T N English Language Teaching Conference: Challenges and Change in English Language Teaching, Hanoi, January. 2009, British Council, Vietnam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Using Literary Texts in ELT
21. Roger, A ., "Language f o r Literature” in c. J. Brumfit (ed.), Teaching Literature Overseas: Language-based Approaches. Oxford: Pergamon, 1983 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Language f o r Literature
22. Sage, H., Incorporating Literature in ESL Instruction , Englewood Cliff’s: Prentice Hall, 1987 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Incorporating Literature in ESL Instruction
23. Slater, s., "Being More Adventurous with Literature irì ESL Classroom " Prospect 3, 3: 325-37. 1988.2 4 .Spack, R., "Literature, Reading, Writing, and ESL: Bridging the Gaps", TESO L Quarterly 19, 4: 703-25, 1985 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Being More Adventurous with Literature irì ESL Classroom " Prospect 3, 3: 325-37. 1988.2 4 .Spack, R., "Literature, Reading, Writing, and ESL: Bridging the Gaps
25. Stern, s. L., "Expanded Dimensions to Literature in ESL/EFL An Integrated a p p ro a ch ”. English Teaching Forum 25. 4: 47-55. 1987 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Expanded Dimensions to Literature in ESL/EFL An Integrated a p p ro a ch
26. T ra n T h i Nga, "Incorporating Literature into English Classes in Vietnam ", Teacher's Edition 11 : 20-25, 2003.27 T ra n T h i Nga, “Teaching Maugham's The Luncheon' ", Teacher’s Edition 12: 50-53.2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Incorporating Literature into English Classes in Vietnam ", Teacher's Edition 11 : 20-25, 2003.27 T ra n T h i Nga, “Teaching Maugham's The Luncheon'
14. Le T h i Anh Phuong, "Entering the C arden o f Love Teacher's Edition 1 1: 40-41, ?003 15. M arckw ardt, A. H ., The Place o f Literature in the Teaching o f English as a Second orForeign Language, Honolulu: The University Press of Hawaii. 1978 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng  1.  Các  yếu tố văn học trong giáo trình  New Headw ay - Nghiên cứu những yếu tố văn học trong giáo trình tiếng Anh nhằm nâng cao hiệu quả giảng dạy tiếng Anh cơ sở tại trường ĐHKHTN, ĐHQGHN.PDF
ng 1. Các yếu tố văn học trong giáo trình New Headw ay (Trang 32)
Bảng 2.  Các yếu tố văn học trong giáo trình Lifelines - Nghiên cứu những yếu tố văn học trong giáo trình tiếng Anh nhằm nâng cao hiệu quả giảng dạy tiếng Anh cơ sở tại trường ĐHKHTN, ĐHQGHN.PDF
Bảng 2. Các yếu tố văn học trong giáo trình Lifelines (Trang 33)
Bảng 4.  Các yếu  tố văn học trong tài  liệu phụ trợ - Nghiên cứu những yếu tố văn học trong giáo trình tiếng Anh nhằm nâng cao hiệu quả giảng dạy tiếng Anh cơ sở tại trường ĐHKHTN, ĐHQGHN.PDF
Bảng 4. Các yếu tố văn học trong tài liệu phụ trợ (Trang 35)
Bảng  7.  Giá trị ngôn ngữ trong  giáo trình  New Headway và Lifelines - Nghiên cứu những yếu tố văn học trong giáo trình tiếng Anh nhằm nâng cao hiệu quả giảng dạy tiếng Anh cơ sở tại trường ĐHKHTN, ĐHQGHN.PDF
ng 7. Giá trị ngôn ngữ trong giáo trình New Headway và Lifelines (Trang 44)
Bảng  8.  Giá trị ngôn ngữ trong tài liệu phụ trợ - Nghiên cứu những yếu tố văn học trong giáo trình tiếng Anh nhằm nâng cao hiệu quả giảng dạy tiếng Anh cơ sở tại trường ĐHKHTN, ĐHQGHN.PDF
ng 8. Giá trị ngôn ngữ trong tài liệu phụ trợ (Trang 45)
Bảng  9.  Mức  độ tham  gia của sinh viên lớp C-NHE buổi học trước - Nghiên cứu những yếu tố văn học trong giáo trình tiếng Anh nhằm nâng cao hiệu quả giảng dạy tiếng Anh cơ sở tại trường ĐHKHTN, ĐHQGHN.PDF
ng 9. Mức độ tham gia của sinh viên lớp C-NHE buổi học trước (Trang 50)
Bảng  11.  Mức độ tham gia của sinh viên lớp  c   -L E  buổi học trước - Nghiên cứu những yếu tố văn học trong giáo trình tiếng Anh nhằm nâng cao hiệu quả giảng dạy tiếng Anh cơ sở tại trường ĐHKHTN, ĐHQGHN.PDF
ng 11. Mức độ tham gia của sinh viên lớp c -L E buổi học trước (Trang 51)
Bảng  12.  Mức độ  tham gia của sinh  viên  lớp  c   -L E  buổi  học  sau - Nghiên cứu những yếu tố văn học trong giáo trình tiếng Anh nhằm nâng cao hiệu quả giảng dạy tiếng Anh cơ sở tại trường ĐHKHTN, ĐHQGHN.PDF
ng 12. Mức độ tham gia của sinh viên lớp c -L E buổi học sau (Trang 51)
Bảng  14.  Mức độ tham gia của sinh  viên  lớp  c   -N H P  buổi  học  sau - Nghiên cứu những yếu tố văn học trong giáo trình tiếng Anh nhằm nâng cao hiệu quả giảng dạy tiếng Anh cơ sở tại trường ĐHKHTN, ĐHQGHN.PDF
ng 14. Mức độ tham gia của sinh viên lớp c -N H P buổi học sau (Trang 52)
Bảng  15. Mức độ tham gia của sinh viên lớp C-LP buổi học trước - Nghiên cứu những yếu tố văn học trong giáo trình tiếng Anh nhằm nâng cao hiệu quả giảng dạy tiếng Anh cơ sở tại trường ĐHKHTN, ĐHQGHN.PDF
ng 15. Mức độ tham gia của sinh viên lớp C-LP buổi học trước (Trang 53)
Bảng  16.  Mức độ tham gia của sinh viên  lớp C-LP buổi học sau - Nghiên cứu những yếu tố văn học trong giáo trình tiếng Anh nhằm nâng cao hiệu quả giảng dạy tiếng Anh cơ sở tại trường ĐHKHTN, ĐHQGHN.PDF
ng 16. Mức độ tham gia của sinh viên lớp C-LP buổi học sau (Trang 53)
Bảng  17.  Mức độ tham gia của sinh viên lớp C-NHI buổi học trước - Nghiên cứu những yếu tố văn học trong giáo trình tiếng Anh nhằm nâng cao hiệu quả giảng dạy tiếng Anh cơ sở tại trường ĐHKHTN, ĐHQGHN.PDF
ng 17. Mức độ tham gia của sinh viên lớp C-NHI buổi học trước (Trang 54)
Bảng 20.  Mức độ tham gia của sinh viên lớp C- LI buổi học  sau - Nghiên cứu những yếu tố văn học trong giáo trình tiếng Anh nhằm nâng cao hiệu quả giảng dạy tiếng Anh cơ sở tại trường ĐHKHTN, ĐHQGHN.PDF
Bảng 20. Mức độ tham gia của sinh viên lớp C- LI buổi học sau (Trang 55)
Bảng 21.  So sánh mức độ tham gia của sinh viên Class Sinh viên Trước  (%) Sau (%) Tăng  (%) - Nghiên cứu những yếu tố văn học trong giáo trình tiếng Anh nhằm nâng cao hiệu quả giảng dạy tiếng Anh cơ sở tại trường ĐHKHTN, ĐHQGHN.PDF
Bảng 21. So sánh mức độ tham gia của sinh viên Class Sinh viên Trước (%) Sau (%) Tăng (%) (Trang 56)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w