được trang bị trong khoá đào tạo Thạc sỹ quản lý giáo dục của mình để lựa chọn đề tài: “Biện pháp quản lý quá trình dạy học môn tiếng Anh theo phương thức tín chỉ tại Trường Đại học Khoa
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
PHẠM THỊ HOA
BIỆN PHÁP QUẢN LÝ QUÁ TRÌNH DẠY HỌC MÔN TIẾNG ANH THEO PHƯƠNG THỨC TÍN CHỈ TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC
KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN – ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Chuyên ngành: Quản lý giáo dục
Mã số : 60 14 05
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN THỊ NGỌC BÍCH
HÀ NỘI – 2010
Trang 2DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Bộ GD&ĐT Bộ Giáo dục và Đào tạo
ĐHKHXH&NV Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn
Trang 3MỤC LỤC
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 4
3 Câu hỏi nghiên cứu 4
4 Khách thể, đối tượng nghiên cứu 5
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 5
6 Phạm vi nghiên cứu 5
7 Ý nghĩa 5
8 Phương pháp nghiên cứu 6
9 Cấu trúc luận văn 6
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ QUÁ TRÌNH DẠY HỌC THEO PHƯƠNG THỨC TÍN CHỈ Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC 7
1.1 Một số khái niệm cơ bản của đề tài 7
1.1.1 Khái niệm quản lý 7
1.1.2 Quản lý quá trình dạy học 8
1.1.3 Dạy học theo phương thức tín chỉ 12
1.1.4 Quản lý quá trình dạy học theo phương thức tín chỉ 26
1.2 Đặc thù của dạy học ngoại ngữ (tiếng Anh) trong trường đại học 29
1.2.1 Đặc thù của dạy học ngoại ngữ 29
1.2.2 Dạy học tiếng Anh trong trường đại học 31
1.3 Quản lý quá trình dạy học tiếng Anh theo phương thức tín chỉ 33
1.3.1 Quản lý hoạt động giảng dạy của giảng viên tiếng Anh 33
1.3.2 Quản lý hoạt động tự học tiếng Anh của sinh viên 33
Kết luận chương 1 34
Chương 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ QUÁ TRÌNH DẠY HỌC MÔN TIẾNG ANH THEO PHƯƠNG THỨC TÍN CHỈ TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN - ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI 35
2.1 Tổng quan về mô hình đào tạo và việc chuyển đổi sang tín chỉ
Trang 4của Trường ĐHKHXH&NV – ĐHQGHN 35
2.1.1 Giới thiệu chung về trường ĐHKHXH&NV – ĐHQGHN 35
2.1.2 Quy mô đào tạo và việc chuyển đổi mô hình đào tạo theo phương thức tín chỉ của trường ĐHKHXH&NV - ĐHQGHN 36
2.1.3 Bộ môn Tiếng Nước Ngoài 41
2.1.4 Hệ thống cơ sở vật chất phục vụ đào tạo theo phương thức tín chỉ của trường 43
2.2 Thực trạng công tác quản lý quá trình dạy học môn tiếng Anh theo phương thức tín chỉ tại trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc Gia Hà Nội 45
2.2.1 Thực trạng về trình độ của giảng viên tiếng Anh và thực trạng về quản lý chương trình 45
2.2.2 Thực trạng quản lý hoạt động giảng dạy của giảng viên tiếng Anh 56
2.2.3 Thực trạng quản lý hoạt động học tập môn tiếng Anh của sinh viên 63
2.2.4 Thực trạng quản lý cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ dạy học môn tiếng Anh theo PTTC 66
2.3 Đánh giá chung 68
2.3.1 Mặt mạnh (S) 68
2.3.2 Mặt yếu (W) 69
2.3.3 Thời cơ (O) 70
2.3.4 Thách thức (T) 71
Kết luận chương 2 72
Chương 3: CÁC BIỆN PHÁP QUẢN LÝ QUÁ TRÌNH DẠY HỌC MÔN TIẾNG ANH THEO PHƯƠNG THỨC TÍN CHỈ TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN - ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI 74
3.1 Căn cứ chính và các nguyên tắc để xây dựng các biện pháp quản lý quá trình dạy học môn tiếng Anh theo phương thức tín chỉ 74
3.1.1 Căn cứ chính để xây dựng các biện pháp 74
3.1.2 Các nguyên tắc xây dựng các biện pháp 76
Trang 53.2 Những biện pháp quản lý quá trình dạy học môn Tiếng Anh theo
phương thức tín chỉ tại trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
- Đại học Quốc Gia Hà Nội 77
3.2.1 Chỉ đạo, giám sát, đánh giá giảng viên thực hiện đổi mới phương pháp dạy học phù hợp với phương thức tín chỉ nhằm tăng cường tính tích cực tự học ngoại ngữ cho sinh viên 77
3.2.2 Chỉ đạo, giám sát, đánh giá giảng viên đổi mới phương pháp kiểm tra - đánh giá đặc biệt là kiểm tra - đánh giá thường xuyên môn học đối với sinh viên nhằm kích thích sinh viên tự học, tự nghiên cứu 81
3.2.3 Chỉ đạo hệ thống cố vấn học tập phối hợp với Đoàn Thanh Niên trong nhà trường giúp đỡ sinh viên biết kế hoạch hoá thời gian học tập môn tiếng Anh, có ý chí tự học, tự nghiên cứu 89
3.2.4 Quản lý các hoạt động hỗ trợ cho quá trình dạy học tiếng Anh theo phương thức tín chỉ 93
3.3 Mối quan hệ giữa những biện pháp 98 3.4 Khảo nghiệm tính cấp thiết và tính khả thi của các biện pháp quản lý quá trình dạy học môn tiếng Anh theo phương thức tín chỉ 99
3.4.1 Phạm vi khảo nghiệm 99
3.4.2 Kết quả khảo nghiệm 100
3.4.3 Nhận xét 100
Kết luận chương 3 102
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 103
1 Kết luận 103
2 Khuyến nghị 105
TÀI LIỆU THAM KHẢO 108 PHỤ LỤC
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Trong bối cảnh hội nhập quốc tế, nền giáo dục Việt Nam cần đẩy nhanh tiến trình đổi mới để rút ngắn khoảng cách về trình độ phát triển giáo dục so với các nước khu vực và thế giới Hiện nay, đào tạo theo phương thức tín chỉ (PTTC) là một trong bảy bước quan trọng của lộ trình đổi mới giáo dục đại học (GDĐH) ở Việt Nam giai đoạn 2006 - 2020 Học chế này ra đời vào nửa cuối thế kỷ thứ 19, bắt đầu ở đại học Harvard (Hoa Kỳ) Đến đầu thế kỷ 20 hệ thống tín chỉ được áp dụng rộng rãi hầu như trong mọi trường đại học Hoa Kỳ Tiếp sau đó, nhiều nước lần lượt áp dụng hệ thống tín chỉ (HTTC) trong toàn bộ hoặc một bộ phận của trường đại học của mình như: các nước Bắc Mỹ, Nhật Bản, Philippin, Đài Loan, Thái Lan, Malaisia Tại Trung Quốc từ cuối thập niên 80 đến nay HTTC cũng lần lượt được áp dụng ở nhiều trường đại học Thái Lan quy định áp dụng HTTC cho tất cả các trường đại học và cao đẳng (ĐH&CĐ) trong cả nước
Ở Việt Nam, năm 2005 Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) chính thức chỉ đạo các trường ĐH&CĐ chuyển đổi từ đào tạo niên chế sang đào tạo tín chỉ Đào tạo theo PTTC cho phép sinh viên (SV) phát huy cao độ sự chủ động của người học, được lựa chọn ngành học, môn học kể cả giảng viên (GV) tuỳ theo năng lực, sở thích và điều kiện học thực tế của bản thân đồng thời tạo điều kiện để SV tự chủ, tự chịu trách nhiệm, tự nghiên cứu, tự tổ chức (có sự hướng dẫn) quá trình tích luỹ kiến thức để tiến tới một văn bằng Đào tạo theo PTTC
đang được coi là một “cuộc cách mạng” thay đổi “công nghệ đào tạo” tiên
tiến Thực hiện chủ chương của Đại học Quốc Gia Hà Nội (ĐHQGHN) về việc triển khai tổ chức đào tạo theo tín chỉ gồm hai giai đoạn:
+ Giai đoạn I (2007 - 2010) - áp dụng những yếu tố tích cực của đào tạo theo PTTC;
Trang 7+ Giai đoạn II (từ năm 2010 trở đi)- áp dụng 100% đào tạo theo PTTC Học kỳ I năm học 2007 - 2008 Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc Gia Hà Nội (ĐHKHXH&NV-ĐHQGHN) chính thức triển khai các yếu tố tích cực của đào tạo theo PTTC giai đoạn I đối với khoá QX.2006 (K.51) và QX.2007 (K.52) Do vậy mà việc đào tạo theo PTTC còn rất mới đối với các trường đại học nói chung, mới với trường ĐHKHXH&NV nói riêng và cụ thể hơn nữa là rất mới với Bộ môn tiếng nước ngoài (BMTNN)
Quá trình toàn cầu hoá đang đặt ra hai nhiệm vụ lớn: Đẩy mạnh hợp tác quốc tế và trang bị khả năng về ngoại ngữ Tuy thuộc hai lĩnh vực khác nhau, hai nhiệm vụ trên nằm trong cùng một chiến lược chung, trong đó ngoại ngữ là phương tiện để thực hiện nhiệm vụ thứ nhất Tại các trường ĐH&CĐ, bên cạnh các ngành chuyên ngữ, ngoại ngữ không chuyên là một cánh cửa mở ra thế giới Đa số giảng viên và sinh viên (GV&SV) tiếp cận thế giới bên ngoài thông qua ngoại ngữ không chuyên, một bộ môn dành riêng cho các ngành khoa học Song vấn đề trên chưa thực sự được chú ý và đầu tư đúng mức từ phía các đơn vị quản lý cũng như từ phía những người hưởng thụ chương trình ngoại ngữ
Từ những chủ trương lớn của Chính phủ về đổi mới cơ bản và toàn diện GDĐH Việt Nam, chủ trương của Bộ GD&ĐT về chuyển đổi từ quản lý đào tạo theo niên chế sang quản lý đào tạo theo PTTC Đây là sự thay đổi lớn, là một bước ngoặt lịch sử trong GDĐH ở Việt Nam Chính vì thế mà đòi hỏi tất yếu các nhà quản lý giáo dục Việt Nam phải có những biện pháp quản lý (BPQL) đồng thời phải hiểu rõ và vận dụng tốt lý thuyết quản lý sự thay đổi trong giáo dục để quản lý quá trình dạy học (QTDH) nói chung và quản lý quá trình dạy học tiếng Anh theo PTTC nói riêng như thế nào để đạt hiệu quả trong đào tạo Các thành tựu nghiên cứu giáo dục đã khẳng định quản lý giáo dục (QLGD) và quản lý sự thay đổi hiệu quả là nhân tố then chốt đảm bảo sự thành công của phát triển giáo dục
Trang 8Trường ĐHKHXH&NV-ĐHQGHN được thành lập theo Nghị định 97/CP của Thủ tướng Chính phủ ngày 10 tháng 12 năm 1993 trên cơ sở các ngành khoa ho ̣c xã hô ̣i và nhân văn của Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội Là một cơ sở đào tạo đại học, sau đại học và nghiên cứu khoa học, Trường có chức năng đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao ở các trình độ cử nhân, thạc
sỹ và tiến sỹ về các ngành khoa học cơ bản và ứng dụng thuộc lĩnh vực Khoa học xã hội và nhân văn Mục tiêu của nhà trường hiện nay là phấn đấu đạt ngang tầm các đại học tiên tiến trong khu vực, tiến tới đạt trình độ quốc tế
Qua quá trình giảng dạy tiếng Anh ở BMTNN, qua kết quả đánh giá công tác đào tạo theo PTTC giai đoạn I của BMTNN, qua bản “Thông báo kết luận Hội nghị Ban chỉ đạo chuyển đổi đào tạo đại học theo tín chỉ (phiên họp thứ XVIII, tháng 4/2009)” của nhà trường trong hội nghị tổng kết đánh giá công tác đào tạo theo tín chỉ giai đoạn I tại ĐHQGHN và qua “Hội thảo đào tạo theo PTTC tháng 6/2008” của nhà trường đã đưa ra kết luận rằng việc quản
lý QTDH môn tiếng Anh theo PTTC tại Trường ĐHKHXH&NV- ĐHQGHN trong giai đoạn I hiện nay chưa hiệu quả, chưa đáp ứng được mục tiêu nâng cao chất lượng đào tạo của trường Trình độ năng lực chuyên môn nghiệp vụ của cán bộ quản lý (CBQL) còn thiếu nhiều kinh nghiệm thực tế về quản lý đào ta ̣o theo tín chỉ, hệ thống quản lý đào tạo theo PTTC chưa có một cơ chế linh hoạt, mềm dẻo, chưa có nhiều sự lựa chọn cho phép SV có thể học theo khả năng của mình Cả CBQL, GV và SV chưa hoàn toàn thích ứng với PTTC
Hệ thống cố vấn học tập (CVHT) ít về số lượng, chưa chuyên nghiệp với các
kỹ năng tư vấn học tập theo PTTC cho SV, phương pháp giảng dạy ngoại ngữ của GV chậm được cải tiến, chưa phù hợp với PTTC Hơn nữa, phương pháp giảng dạy (PPGD), phương pháp kiểm tra-đánh giá (KT-ĐG) theo PTTC của người thầy thực sự chưa đạt hiệu quả, trong khi yếu tố người thầy về việc dạy cách-tự học lại là một trong những yếu tố quan trọng nhất quyết định sự thành công của đào tạo theo PTTC Về đối tượng SV thì đa số SV chưa có phương
Trang 9pháp tự học ngoại ngữ phù hợp nên dẫn đến trình độ giao tiếp không đáp ứng được yêu cầu của nhà tuyển dụng khi ra trường Trình độ đọc viết cũng hạn chế không đủ khả năng cho chuyên ngành, kể cả kỹ năng đọc viết Về chương trình và giáo trình thì giáo trình ngoại ngữ chuyên ngành chưa được biên soạn đầy đủ cho tất cả các ngành Khoa ho ̣c Xã hô ̣i và Nhân văn cũng là bất cập lớn đối với QTDH môn tiếng Anh theo PTTC [21,Tr.26]
Thực trạng công tác quản lý QTDH môn tiếng Anh theo PTTC trong giai đoạn I ở ĐHKHXH&NV-ĐHQGHN đã làm cho tôi luôn trăn trở suy nghĩ
và tìm cách cải tiến Với những lý do trên mà tôi đã vận dụng cơ sở lý thuyết
về quản lý giáo dục , quản lý sự thay đổi trong giáo dục , quản lý dạy học theo PTTC được trang bị trong khoá đào tạo Thạc sỹ quản lý giáo dục của mình
để lựa chọn đề tài: “Biện pháp quản lý quá trình dạy học môn tiếng Anh theo phương thức tín chỉ tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn -Đại học Quốc Gia Hà Nội” làm đề tài nghiên cứu với mong muốn góp phần xây
dựng các biện pháp quản lý QTDH môn tiếng Anh theo PTTC hiệu quả, góp phần đưa nhà trường lên một vị thế mới đáp ứng nhu cầu phát triển của sự
nghiệp đào tạo của trường và nhu cầu nhân lực cho xã hội
2 Mục đích nghiên cứu
Xác định những biện pháp quản lý phù hợp và hiệu quả QTDH môn tiếng Anh theo PTTC tại Trường ĐHKHXH&NV-ĐHQGHN, góp phần nâng
cao chất lượng dạy học môn tiếng Anh nói riêng và đào tạo nói chung
3 Câu hỏi nghiên cứu
Đào tạo theo phương thức tín chỉ là mới và còn nhiều bất cập vì đang ở giai đoạn chuyển đổi của Việt Nam nói chung và ĐHQGHN nói riêng Trong quá trình nghiên cứu đã xuất hiện nhiều câu hỏi nhưng tôi chỉ tập trung nghiên cứu vào hai câu hỏi sau:
a) Vì sao việc quản lý QTDH môn tiếng Anh theo PTTC tại Trường
ĐHKHXH&NV-ĐHQGHN hiện nay chưa đạt hiệu quả ?
Trang 10b) Những biện pháp quản lý đồng bộ, khả thi, khắc phục những hạn chế trong điều kiện hiện nay của Bộ môn Tiếng Nước ngoài và Trường là gì?
4 Khách thể, đối tƣợng nghiên cứu
- Khách thể nghiên cứu: Quản lý quá trình dạy học môn tiếng Anh theo phương thức tín chỉ tại trường ĐHKHXH&NV-ĐHQGHN
- Đối tượng nghiên cứu: Biện pháp quản lý quá trình dạy học môn tiếng Anh hiệu quả theo theo phương thức tín chỉ tại trường ĐHKHXH&NV-ĐHQGHN
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý QTDH môn tiếng Anh theo PTTC;
- Nghiên cứu, khảo sát đánh giá thực trạng quản lý QTDH môn tiếng
Anh theo PTTC tại Trường ĐHKHXH&NV-ĐHQGHN;
- Đề xuất các biện pháp quản lý QTDH môn tiếng Anh theo PTTC (khắc phục những hạn chế của thực trạng trong giai đoạn chuyển đổi) tại trường
ĐHKHXH&NV-ĐHQGHN nhằm nâng cao chất lượng dạy học
6 Phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu:
- Thực trạng công tác quản lý QTDH môn tiếng Anh theo PTTC trong giai đoạn I (2007 - 2010);
- Nghiên cứu cải tiến các biện pháp quản lý QTDH môn tiếng Anh theo PTTC tại trường ĐHKHXH&NV-ĐHQGHN
7 Ý nghĩa
- Về lý luận: Đề tài có những đóng góp cho việc ứng dụng và phát triển
lý luận quản lý sự thay đổi QTDH môn tiếng Anh theo PTTC ở các trường đại học
- Về thực tiễn: Đề tài đề xuất các biện pháp quản lý QTDH theo PTTC nhằm nâng cao chất lượng dạy học môn tiếng Anh
Trang 118 Phương pháp nghiên cứu
Sử dụng các phương pháp sau:
8.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết
+ Tổng hợp lý thuyết và xác định rõ các khái niệm thuật ngữ liên quan; + Nghiên cứu các văn bản, các chủ trương chính sách của Nhà nước, Bộ, Ngành có liên quan đến vấn đề nghiên cứu
8.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
+ Sử dụng phương pháp quan sát (Công việc dạy - học của GV&SV); + Sử dụng phương pháp điều tra: Có thể sử dụng mẫu phiếu điều tra với giảng vi ên, sinh viên và cán bộ quản lý quá trình dạy học theo phương thức tín chỉ của Trường ĐHKHXH&NV-ĐHQGHN;
+ Sử dụng phương pháp hỗ trợ: Trao đổi, phỏng vấn cán bộ quản lý và công tác quản lý quá trình dạy học theo phương thức tín chỉ của Trường ĐHKHXH&NV-ĐHQGHN;
+ Sử dụng nhóm phương pháp xử lý số liệu
9 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Khuyến nghị, Tài liệu tham khảo, Phụ lục, luận văn được trình bày trong ba chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý quá trình dạy học theo phương thức
tín chỉ ở trường đại học
Chương 2: Thực trạng công tác quản lý quá trình dạy học tiếng Anh
theo phương thức tín chỉ tại trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc Gia Hà Nội
Chương 3: Các biện pháp quản lý quá trình dạy học tiếng Anh theo
phương thức tín chỉ tại trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc Gia Hà Nội
Trang 12Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ QUÁ TRÌNH DẠY HỌC THEO PHƯƠNG THỨC TÍN CHỈ Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC
Để xác định khung lý thuyết cơ bản của đề tài trong chương 1, luâ ̣n văn xin trình bày các khái niệm cơ bản sau:
1.1 Một số khái niệm cơ bản của đề tài
1.1.1 Khái niệm quản lý
Có nhiều định nghĩa khác nhau về quản lý Trong phạm vi nghiên cứu này, luận văn chỉ đề cập đến một số định nghĩa tiêu biểu, liên quan đến hoạt động quản lý trong Giáo dục - Đào tạo
K-Marx đã từng khẳng định: “Bất cứ lao động xã hội hay cộng đồng trực tiếp nào được thực hiện ở quy mô tương đối lớn đều cần ở chừng mực nhất định đến sự quản lý Quản lý là xác lập sự tương hợp giữa các công việc
cá nhân và hình thành những chức năng chung, xuất hiện trong toàn bộ cơ chế sản xuất, khác với sự vận động của bộ phận riêng lẻ của nó.[41tr.195]
Harold Koontz, trong tác phẩm “Những vấn đề cốt yếu của quản lý”
viết:“Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo phối hợp những nỗ lực
cá nhân, nhằm đạt được các mục đích của nhóm Mục tiêu của mọi nhà quản
lý là nhằm hình thành một môi trường mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc và sự bất mãn cá nhân ít nhất”.[32.tr.188]
Các nhà nghiên cứu của Việt Nam xuất phát từ góc độ khác nhau cũng
đã đưa ra những khái niệm quản lý Tác giả Hà Thế Ngữ quan niệm: “Quản lý
là một quá trình định hướng…”[42.tr.24] Hai tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc và Nguyễn Quốc Chí định nghĩa về quản lý: “Quản lý là tác động có định hướng,
có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người
bị quản lý) - trong một tổ chức - nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức” [35, tr.1]
Trang 13Hiện nay, hoạt động QL thường được định nghĩa cụ thể hơn: “Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra [35, tr.1]
Sơ đồ 1.1: Chức năng của quản lý
Quản lý (QL) vừa là một khoa học, vừa là một nghệ thuật QL mang tính khoa học vì các hoạt động của QL tổ chức, có định hướng đều dựa trên những quy luật, những nguyên tắc và những phương pháp hoạt động cụ thể, đồng thời
QL mang tính nghệ thuật vì nó vận dụng một cách linh hoạt và sáng tạo vào những điều kiện cụ thể trong sự kết hợp và tác động nhiều mặt của các yếu tố khác nhau trong đời sống xã hội Tuy có nhiều định nghĩa khác nhau về khái niệm QL, song có thể rút ra những dấu hiệu chung của QL được đề cập đến trong các định nghĩa được nêu trên là: Phải có mục tiêu; Phải có chủ thể (cá
nhân hoặc một nhóm người); Phải có khách thể (đối tượng QL)
1.1.2 Quản lý quá trình dạy học
1.1.2.1 Khái niệm dạy học
Có nhiều khái niệm về dạy học của các tác giả nhưng luâ ̣n văn xin nêu khái niệm dạy học của tác giả Phạm Viết Vượng vì khá tổng hợp được các quan điểm chung của nhiều tác giả:
Lập kế hoạch
Chỉ đạo
Trang 14“Dạy học là hoạt động phối hợp của hai chủ thể đó là giáo viên và học sinh Dạy và học được thực hiện đồng thời với cùng một nội dung và hướng tới cùng một mục đích Phải khẳng định rằng nếu hai hoạt động này bị tách rời sẽ lập tức phá vỡ khái niệm quá trình dạy học Học tập không có giáo viên trở thành tự học Giảng dạy không có học sinh trở thành độc thoại” [46, tr.53]
Như vậy, tác giả Phạm Viết Vượng đã khẳng đi ̣nh yếu tố quan tro ̣ng của dạy học là giáo viên và học sinh Hai chủ thể này phối hợp với nhau thực hiê ̣n cùng một nội dung và hướng tới cùng một mục đích đó là dạy học
1.1.2.2 Khái niệm quá trình dạy học
Xét theo quan điểm hệ thống, “Quá trình dạy học là một chỉnh thể, có cấu trúc gồm nhiều thành tố, mỗi thành tố có vị trí xác định, có chức năng riệng và chúng có mối quan hệ mật thiết biện chứng với nhau Mỗi thành tố vận động theo quy luật riêng và đồng thời tuân theo quy luật chung của toàn
bộ hệ thống Hệ thống bao giờ cũng nằm trong một môi trường, giữa hệ thống
và môi trường có mối quan hệ tác động lẫn nhau” [46, tr.58]
Quá trình dạy học là quá trình xã hội, một quá trình sư phạm đặc thù Nó
tồn tại như một “hệ thống toàn vẹn bao gồm hoạt động dạy và hoạt động học Hai hoạt động này luôn tương tác với nhau, thâm nhập vào nhau, sinh thành
ra nhau Sự tương tác giữa dạy và học mang tính cộng tác (cộng đồng và hợp tác) trong đó hoạt động dạy giữ vai trò chủ đạo”.[39, tr.52]
1.1.2.3 Bản chất và cấu trúc của quá trình dạy học đại học
1 Bản chất:
Khác với quá trình dạy học ở trường phổ thông, bản chất của quá trình dạy học đại học là quá trình nhận thức độc đáo có tính chất nghiên cứu của người SV dưới sự điều khiển của giảng viên nhằm lĩnh hội một hệ thống tri thức, kỹ năng, kỹ xảo một lĩnh vực nghề nghiệp ở trình độ cao Trong đó phương pháp da ̣y ho ̣c đại học phải được coi là yếu tố quyết định nhằm đạt được mục tiêu bồi dưỡng năng lực tự học, tự nghiên cứu, tạo điều kiện cho người học phát triển nhân cách nghề nghiệp
Trang 15Bộ máy
Sơ đồ 1.2: Quá trình dạy học
Mục tiêu đào tạo: (M)
Nội dung đào tạo: (N)
Lực lượng đào tạo (Th)
Đối tượng đào tạo (Tr)
Phương pháp đào tạo (P)
b) Cấu trúc biên [5 tr.8]
Bộ máy đào tạo (B) Hình thức đào tạo (H) Quy chế đào tạo (Q) Điều kiện đào tạo (Đ) Môi trường đào tạo (M2)
1.1.2.4 Quản lý quá trình dạy học
Quản lý QTDH là quản lý một quá trình xã hội, một quá trình sư phạm đặc thù, nó tồn tại như là một hệ thống bao gồm nhiều thành tố cấu trúc
Quản lý QTDH có vị trí rất quan trọng bởi hoạt động quản lý này là một
bộ phận cấu thành chủ yếu của toàn bộ hoạt động của hệ thống QLGD.Thực chất của quản lý QTDH là thực hiện các chức năng của QL đối với dạy học nhằm tạo ra nguồn nhân lực có chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu của đất nước
và xã hội Quản lý QTDH bao gồm QL những thành tố đã nêu trên Tuy nhiên,
Trang 16theo cách tiếp cận từ lý thuyết thông tin, chu trình QL gồm 16 bước cụ thể như tác giả Đặng Quốc Bảo đã đưa ra là:
6 Lựa chọn chiến lược hành động
7 Nhận diện các định mức tiêu chuẩn
8 Phát hiện nguồn lực, tìm kiếm nguồn lực
9 Huy động nguồn lực
10.Tổ chức phân công nhiệm vụ
11 Phân phối nguồn lực
12.Triển khai công việc thực tiễn
QL Ta có thể sắp xếp các bước nêu trên vào 4 chức năng QL như sau:
Lập kế hoạch gồm các bước: 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7
Tổ chức gồm các bước: 8, 9, 10, 11
Chỉ đạo gồm các bước: 12, 13
Kiểm tra gồm các bước: 14, 15, 16
Như vậy, quản lý quá trình dạy học có thể hiểu là thực hiện 4 chức năng quản lý lên đối tượng quản lý là quá trình dạy học [5 tr.8]
Trang 171.1.3 Dạy học theo phương thức tín chỉ
1.1.3.1 Hệ thống tín chỉ, ưu điểm và nhược điểm của hệ thống tín chỉ
1 Hệ thống tín chỉ (HTTC)
Hệ thống tín chỉ thực chất là bảng liệt kê: (1) Số lượng của tín chỉ được cung cấp cho mỗi môn học, con số đó được xác định bởi các giờ lên lớp và thực hành, thực nghiệm dành cho một môn học trong một tuần;(2) số lượng tín chỉ cần tích luỹ để đạt một văn bằng; (3) số lượng các môn học và các phương thức tổ hợp các môn học để tích lu ̃y đủ số tín chỉ cần cho một văn bằng
2 Ưu điểm của hệ thống tín chỉ:
a) Hiệu quả học tập cao:
+ HTTC giúp SV chủ động lập kế hoạch cho toàn bộ quá trình học tập tại trường đại học tùy thuộc vào các điều kiện của cá nhân SV đó và ghi nhận kịp thời các thành tích của SV sau mỗi giai đoạn tích luỹ Hệ thống cho phép đặt ra những mục tiêu ngắn hạn để hoàn thành, một điều có lợi cho các SV không có điều kiện xây dựng các kế hoạch dài hạn;
+ Trong HTTC mỗi môn học chỉ kéo dài và chấm dứt sau 1 học kỳ, do vậy cả GV&SV đều chủ động hơn trong việc dạy và học Việc KT-ĐG được tiến hành bằng nhiều hình thức đa dạng và kéo dài trong suốt học kỳ nên gánh nặng thi cử được giảm nhẹ, nhưng cũng không cho phép SV được chây lười;
+ HTTC với đặc điểm là người học có quyền lựa chọn các môn học đã làm cho giáo dục đại học hướng tới người học, cá nhân hoá quá trình đào tạo
mà các hệ thống khác không có được.[33, tr.7-8]
b) Tính mềm dẻo và khả năng thích ứng cao
+ HTTC cho phép sinh viên thay đổi ngành chuyên môn chính trong quá trình học;
+ HTTC cho phép xây dựng kế hoạch học tập để tiến tới một văn bằng theo điều kiện của từng cá nhân;
+ Trong HTTC việc đề xuất một môn học mới dễ dàng hơn nhiều so với học chế niên chế Điều này cho phép cải tiến, phát triển chương trình đào ta ̣o
Trang 18một cách liên tục, gắn đào tạo với yêu cầu sử dụng, đáp ứng nhanh chóng những yêu cầu mới của sự phát triển kinh tế - xã hội;
+ HTTC cho phép chấp nhận sự di chuyển sinh viên giữa các trường đại học với nhau, cho phép chuyển từ trường đại học này sang một trường đại học khác tuỳ theo khả năng và sở thích của họ;
+ Việc sử dụng HTTC tạo điều kiện để các trường đại học phát triển các chương trình song đôi và chương trình chuyển tiếp Các chương trình này cho phép sinh viên nhận văn bằng (đại học, sau đại học) của ngoài mà không tốn kém nhiều (thời gian, kinh phí ) sinh viên có thể hoàn thành phần đầu của chương trình đào ta ̣o ở trong nước, phần còn lại sẽ được hoàn thành ở nước ngoài theo yêu cầu của trường cấp bằng [33, tr.8-9]
c) Hiệu quả về mặt quản lý và giá thành đào tạo
+ Trong HTTC, thành tích học tập của sinh viên được đo trên cơ sở tích luỹ các tín chỉ ứng với từng môn học Việc chưa hoàn thành một môn học sinh viên có thể học lại môn học đó hoặc chọn một môn học khác thay thế Như vậy sinh viên không phải học lại cả năm học hay bỏ học, giá thành đào tạo vì vậy giảm đi đáng kể;
+ HTTC khuyến khích các trường đại học phải là các trường đa ngành,
đa lĩnh vực, trong đó có những khối kiến thức chung cho nhiều lĩnh vực Việc
tổ chức giảng dạy các môn này được tiến hành bởi các bộ môn chung cho cả đại học, chứ không cần các bộ môn trong khoa Điều này cho phép chuyên môn hoá đội ngũ giảng viên để họ tập trung vào nghiên cứu khoa học và nâng cao chất lượng giảng dạy, đồng thời hạ thấp giá thành đào tạo so với cấu trúc theo kiểu khoa truyền thống;
+ HTTC cho phép các trường đại học cấp tín chỉ cho các hoạt động giáo dục bên ngoài trường đại học để tiến tới một văn bằng;
+ HTTC tạo sự liên kết giữa hoạt động đào tạo và quản lý, hành chính Các hoạt động quản lý, hành chính đều có thể được biểu diễn thông qua giờ tín
Trang 19chỉ: học phí theo giờ tín chỉ, lương trả theo giờ tín chỉ, phương tiện được cấp theo giờ tín chỉ, các kế hoạch dạy học cũng được đăng ký theo giờ tín chỉ;
+ HTTC cho phép kết hợp các nguồn lực, phối hợp giữa các đơn vị để giảng dạy mà tránh được sự trùng lặp về các môn học, qua đó tối ưu hoá được việc sử dụng các nguồn lực, kể cả nguồn nhân lực, đội ngũ giảng viên qua đó được sử dụng hiệu quả hơn, các giáo sư sẽ có đông sinh viên hơn [33, tr.9]
3 Nhược điểm của hệ thống tín chỉ
- HTTC tạo ra sự cắt vụn kiến thức Một môn học chỉ kéo dài một học
kỳ và SV thường thì học 4 - 5 môn học trong một học kỳ, và để đạt một một văn bằng SV học khoảng 40 môn học;
- Việc thừa nhận các hoạt động giáo dục ngoài trường đại học có giá trị như các tín chỉ được tích luỹ có nguy cơ làm giảm giá trị các hoạt động khoa học nghiêm túc;
- HTTC làm méo mó động cơ học tập của sinh viên Họ nhìn nhận trình
độ học vấn cho một văn bằng như là sự tích luỹ các tín chỉ hơn là học tập vì mục tiêu cuối cùng của nó;
- HTTC tạo điều kiện mở rộng các cơ hội để nhận văn bằng đại học và đương nhiên nhu cầu nhận văn bằng sẽ tăng lên Lúc đó có thể các trường đại học sẽ làm nhiều việc xác nhận các hoạt động giáo dục ngoài trường hơn là cung cấp các hoạt động giáo dục trong trường.[33, tr.9-10]
1.1.3.2 Các điều kiện tiên quyết để áp dụng hệ thống tín chỉ
Để chuyển đổi thành công theo PTTC cần phải có các điều kiện tiên quyết sau:
1 Phải xây dựng được mô hình riêng phù hợp với trình độ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, tương thích với cơ cấu và trình độ của hệ thống GDĐH Việt Nam
2 Phải xây dựng được “văn hoá tín chỉ” trong giới QLGD, giáo chức, sinh viên và được toàn xã hội đồng tình ủng hộ, trong đó sự quyết tâm của lãnh đạo là khâu then chốt
Trang 203 Phải xây dựng được chương trình của khoá học, chương trình môn học, đề cương chi tiết của từng môn học theo nguyên tắc của PTTC, cùng hệ thống giáo trình, tài liệu tham khảo đủ phục vụ cho chương trình đào tạo đó
4 Phải có đội ngũ giáo chức, quản lý đào tạo (kể cả đội ngũ cố vấn học tập) giỏi về chuyên môn, tinh thông nghiệp vụ
5 Có hệ thống văn bản pháp quy, văn bản hướng dẫn xây dựng một cách chuyên nghiệp, đúng với nguyên tắc của học chế tín chỉ
6 Phải xây dựng được cơ sở hạ tầng cho hệ thống học chế tín chỉ, bao gồm hệ thống thông tin quản lý (MIS), các phần mềm chuyên dụng, các cơ sở học liệu, cơ sở vật chất, kĩ thuật đồng bộ
7 Phải thiết lập hệ thống kiểm định chất lượng trong nước và liên thông với các nền giáo dục đại học tiên tiến trên thế giới
Những điều kiện trên phải được thực hiện một cách đồng bộ, có thể sớm hay muộn hơn nhau một chút, song không thể chờ có điều kiện này mới thực hiện điều kiện kia
Ở giai đoạn khởi động cần thực hiện những điều kiện sau:
- Điều kiện 1:
Trong khi chưa xác định được mô hình đào tạo theo tín chỉ tối ưu cho
GDĐH Việt Nam trong giai đoạn hiện tại thì giải pháp tối ưu là: “Áp dụng ngay hai đặc điểm đầu đã chín muồi của đào tạo theo tín chỉ trên quy mô rộng rãi, đồng thời khuyến khích áp dụng tối đa đặc điểm thứ 3 ở những nội dung
và ở những đơn vị đã hội tụ đầy đủ những điều kiện đảm bảo cần thiết” Đặc
điểm 1: Coi trọng sự tự học, tự nghiên cứu; đặc điểm 2: Chương trình đào tạo được chia thành các mô-đun kiến thức, kỹ năng có tính tự chọn cao Và để
bước đầu áp dụng 2 đặc điểm này thì “Áp dụng phương pháp dạy và học, phương pháp KT-ĐG tiên tiến phù hợp với yêu cầu đào tạo theo tín chỉ được coi là giải pháp đột phá ”
Trang 21- Điều kiện 2:
Để từng bước tạo dựng văn hoá tín chỉ trong đội ngũ QLGD, giáo chức,
SV và được toàn xã hội ủng hộ, việc đầu tiên là lãnh đạo chủ chốt các đơn vị phải thấu hiểu sâu sắc bản chất của quy trình đào tạo và quản lý đào tạo theo HTTC và quyết tâm cao trong việc thực hiện hai giải pháp đột phá này
- Điều kiện 4:
Cần có các khoá huấn luyện ngắn hạn về các vấn đề tín chỉ, giờ tín chỉ, HTTC; các hình thức tổ chức dạy - học theo HTTC; các PPDH, KT-ĐG trong HTTC; công việc cụ thể của GV, SV, CBQL trong HTTC
- Điều kiện 5:
Các văn bản pháp quy, văn bản hướng dẫn trong HTTC phải được xây dựng hoàn thiện từng bước, phù hợp với lộ trình triển khai HTTC Trước mắt cần xây dựng và ban hành những loại văn bản sau: Quy định về KT-ĐG kết quả học tập các môn học; quy định về đề cương chi tiết môn học; văn bản hướng dẫn tổ chức các hình thức KT-ĐG kết quả học tập môn học trong HTTC; các văn bản quy định chức trách GV đại học và quy trình đánh giá GV theo chức trách
Trang 22- Điều kiện 6:
Cần có phần mềm QL các dữ liệu về việc dạy học, KT-ĐG trong toàn trường phù hợp với HTTC (Phần mền để QL thời khoá biểu cho các giờ lý thuyết, thực hành, xêmina , QL dữ liệu kết quả KT-ĐG, QL chương trình đào tạo, chương trình môn học có nối mạng internet hoặc website của trường) Có các phương tiện kỹ thuật phục vụ dạy học như máy tính, projector, phòng học chuyên dụng Có đủ giáo trình chính cho các bộ môn và tài liệu tham khảo mà
SV có thể tiếp cận được tại thư viện [33, tr.10-13]
1.1.3.3 Chương trình đào tạo theo phương thức tín chỉ
1 Mođun -Yếu tố cấu thành của chương trình đào tạo
Chương trình đào tạo theo PTTC được thiết kế thành các mô-đun có kích cỡ chuẩn Chương trình từng môn học được tổ chức thành các mô-đun
a) Các đặc trưng của mô-đun:
Là một đơn vị kiến thức tương đối hoàn chỉnh, hướng tới một mục tiêu đầu ra nhất định và có thể lồng ghép với một (một số) mô-đun khác thành khối kiến thức lớn hơn, hướng tới một mục tiêu đầu ra rộng hơn (hoặc sâu hơn); có giá trị được đánh giá bằng số tín chỉ; được kiểm tra-đánh giá; được thực hiện trong một học kỳ
d) Các hoạt động của SV để tích lu ̃y số tín chỉ của một mô-đun: Lên lớp
giờ lý thuyết; Dự Xemina; Thảo luận nhóm; Làm thí nghiệm; Các hoạt động thực hành, thực tế; Tự học, tự nghiên cứu; Các hoạt động khác do GV quy
định.[33, tr.14]
Trang 232 Tín chỉ (credit), một tín chỉ (credit unit), giờ tín chỉ (credit hour), hình thức tổ chức thực hiện giờ tín chỉ
a) Tín chỉ (credit):
Là đại lượng đo khối lượng lao động học tập trung bình của người học, tức là toàn bộ thời gian mà một người học bình thường phải sử dụng để học một môn học, bao gồm: 1) Thời gian học tập trên lớp; 2) Thời gian học tập trong phòng thí nghiệm, thực tập hoặc làm các phần việc khác đã được quy định ở đề cương môn học; và 3) Thời gian dành cho việc tự học ngoài lớp như đọc sách, nghiên cứu, giải quyết vấn đề hoặc chuẩn bị bài Tín chỉ còn được hiểu là khối lượng kiến thức và kỹ năng theo yêu cầu của môn học mà người học cần phải tích luỹ được trong một khoảng thời gian nhất định.[16, tr.1]
b) Một tín chỉ (credit unit) là một trong các giá trị sau đây:
+ 1 giờ học lý thuyết trên lớp với 2 giờ chuẩn bị bài trong 1 tuần kéo dài trong một học kỳ 15 tuần (tương đương với 15 tiết lý thuyết và 30 tiết chuẩn bị
ở nhà/học kỳ);
+ 2 giờ thực hành, thực tập ở studio hay trong phòng thí nghiệm với 1 giờ chuẩn bị bài trong một tuần kéo dài trong một học kỳ 15 tuần (tương đương với 30 tiết thực hành và 15 tiết chuẩn bị ở nhà/học kỳ);
+ 3 giờ tự học, tự nghiên cứu được đánh giá và tích lũy vào kết quả cuối cùng của môn học trong 1 tuần kéo dài trong một học kỳ 15 tuần (tương đương với 45 tiết tự học, tự nghiên cứu/học kỳ) 1 giờ ở đây là 50 phút Môn học có
số tín chỉ là một số nguyên.[16, tr.1]
c) Giờ tín chỉ (credit hour) là một trong các giá trị sau đây:
+ 1 giờ học trên lớp và 2 giờ chuẩn bị bài/1 tuần;
+ 2 giờ thực hành và 1 giờ chuẩn bị bài/1 tuần;
+ 3 giờ tự học, tự nghiên cứu/1 tuần
Tuỳ theo tính chất đặc thù của mục tiêu và nội dung môn học, hình thức
tổ chức dạy học, giờ tín chỉ có thể thay đổi, song với thời gian tuyệt đối cho 1
Trang 24giờ tín chỉ không nhỏ hơn 3, trong đó giờ học lý thuyết hoặc các giờ thực hành, thảo luận được bố trí vào thời khoá biểu.[16, tr.1-2]
d) Hình thức tổ chức giờ tín chỉ
Là cách thức tổ chức thực hiện các hoạt động của GV và SV ứng với cách tổ chức chương trình môn học/bài học, trong đó coi trọng khâu tự học, năng lực nghiên cứu, thực tập, thực hành, thực tế nhằm tích lũy đủ khối lượng kiến thức theo yêu cầu của phương thức đào tạo theo tín chỉ Có các hình thức
tổ chức giờ tín chỉ như sau:
+ Dạy, học trên lớp: Thường là dạy, học giờ lý thuyết gồm nghe thuyết trình, ghi bài giảng, làm và chữa bài tập, thảo luận và các hoạt động khác do
GV yêu cầu;
+ Dạy, học trong phòng thí nghiệm, studio, hiện trường
+ Ngoài lớp, ngoài phòng thí nghiệm: Tự học, tự nghiên cứu, các hoạt động theo nhóm để hỗ trợ thực hành, thực tập [16, tr.2]
Bảng 1.1 Hình thức tổ chức thực hiện giờ tín chỉ [33, tr.16]
Hình thức tổ chức thực hiện một giờ tín chỉ Tổng
Lý thuyết
bị
Tự nghiên cứu
- Nhiệm vụ của giảng viên
+ Xây dựng đề cương môn học (syllabus) theo đúng hướng dẫn;
+ Xác định mục tiêu cụ thể cần đạt được sau mỗi bài học;
Trang 25+ Chuẩn bị các câu hỏi để hỏi SV trên lớp, các bài tập, bài kiểm tra trên lớp và các tiêu chí đánh giá;
+ Xác định nội dung tự học và cách học cho SV;
+ Xây dựng, thu thập, phân loại, hướng dẫn sử dụng học liệu/tài liệu phục vụ cho việc tự học, tự nghiên cứu của SV;
+ Xây dựng kịch bản cho một giờ lên lớp;
+ Hướng dẫn cách học cho SV để hoàn thành khối lượng kiến thức; + Hướng dẫn, đánh giá SV thảo luận, làm bài tập trên lớp.[17,tr.3]
- Nhiệm vụ của sinh viên
+ Lập kế hoạch chi tiết để thực hiện tất cả các nhiệm vụ đối với từng giờ học mà GV giao;
+ Thực hiện thật tốt kế hoạch chi tiết nói trên;
+ Trước khi đến lớp: xem xét lại việc hoàn thành kế hoạch học tập của mình để chắc chắn đã hoàn thành “khối lượng kiến thức” mà GV đã yêu cầu hoặc các vấn đề cần trao đổi nhằm giải đáp những khúc mắc, chưa rõ;
+ Ghi chép trên lớp cho được các mục: Mục tiêu của bài học và cấu trúc nội dung của bài học; Những kiến thức cốt lõi của bài học; Các hướng dẫn của
GV cho SV tự học.[17, tr.3]
Giờ thảo luận
- Nhiệm vụ của giảng viên
+ Lựa chọn và giao các nội dung, các vấn đề, yêu cầu, tài liệu tham khảo
để từng nhóm hoặc từng SV chuẩn bị trình bày tại từng buổi thảo luận;
+ Soạn kịch bản về các vấn đề cần thảo luận cho từng buổi thảo luận; + Tham dự, hướng dẫn, nhận xét và tổng kết thảo luận;
+ Đánh giá, cho điểm phần chuẩn bị trình bày, thảo luận của từng nhóm hoặc từng SV và tích lũy vào kết quả cuối của môn học.[17, tr.3]
Trang 26- Nhiệm vụ của sinh viên
+ Nhận nội dung, vấn đề nghiên cứu, mở rộng, đi sâu vào bản chất, vận dụng lý thuyết vào thực tiễn, chuẩn bị bài trình bày theo sự phân công và hướng dẫn của GV;
+ Trình bày báo cáo theo phân công;
+ Theo dõi, bổ sung, góp ý bài trình bày của các bạn cùng lớp, hoàn chỉnh bài trình bày đó hoặc của mình;
+ Hỏi, đối thoại, tranh luận vấn đề đã trình bày tại buổi thảo luận;
+ Theo dõi sự nhận xét, tổng kết của GV để hoàn chỉnh bài trình bày tại buổi thảo luận;
+ Sắp xếp tài liệu có được sau từng buổi thảo luận theo kế hoạch nghiên cứu, học tập của bản thân để dễ sử dụng cho các mục đích khác như: làm bài tập nhóm, bài tập lớn học kỳ, kiểm tra giữa kỳ và kiểm tra cuối kỳ [17, tr.3-4]
Giờ hoạt động theo nhóm
- Nhiệm vụ của giảng viên
+ Lựa chọn và giao các nội dung, các vấn đề, công việc và các yêu cầu liên quan cho các nhóm SV thực hiện, nguồn tài liệu tham khảo tối thiểu, ;
+ Xây dựng và giao mẫu báo cáo và thời gian nhận thông tin phản hồi từ phía GV;
+ Đánh giá kết quả làm việc theo nhóm SV và tích luỹ vào kết quả đánh giá cuối cùng của môn học.[17, tr.4]
- Nhiệm vụ của sinh viên
+ Nhận nhiệm vụ, thời hạn hoàn thành, mẫu báo cáo hoạt động nhóm; + Nhóm trưởng lên kế hoạch phân công (bằng văn bản) cho từng thành viên với nhiệm vụ, thời hạn hoàn thành, nguồn tài liệu tham khảo,…;
+ Nhóm trưởng lập báo cáo, thông qua toàn nhóm trước khi nộp cho giảng viên [17, tr.4]
Trang 27 Giờ tự học, tự nghiên cứu
- Nhiệm vụ của giảng viên
+ Xác định và giao nhiệm vụ tự học, tự nghiên cứu cho SV;
+ Biên soạn các tiêu chí đánh giá, xác định thời gian nộp báo cáo kết quả tự học, tự nghiên cứu của SV và thông báo cho SV ngay khi giao nhiệm vụ
+ Đánh giá kết quả tự học, tự nghiên cứu của SV và tích luỹ kết quả cuối cùng của môn học.[17, tr.5]
- Nhiệm vụ của sinh viên
+ Nhận và xây dựng kế hoạch chi tiết thực hiện nhiệm vụ tự học, tự nghiên cứu mà GV giao;
+ Thực hiện thật tốt kế hoạch nói trên
+ Viết báo cáo thu hoạch theo các tiêu chí đánh giá của GV, tranh thủ những ý kiến góp ý của bạn, tư vấn của GV trước khi nộp bài;
+ Hệ thống hoá, lưu giữ tài liệu, kết quả tự học, tự nghiên cứu thuận tiện cho việc tra cứu, sử dụng sau này.[17, tr.6]
1.1.3.4 Phương pháp dạy học và kiểm tra - đánh giá phù hợp với phương thức đào tạo theo tín chỉ
1 Phương pháp dạy học (PPDH): là hệ thống những cách thức hoạt
động (bao gồm các hành động và thao tác ) của GV và SV nhằm thực hiện tốt mục đích và nhiệm vụ dạy học xác định [17, tr.2] Phương pháp dạy học phù hợp với phương thức tín chỉ là phương pháp dạy - tự học
a) Phương pháp dạy tự học là cách thức đặc thù nhằm tổ chức các mối
liên hệ giữa ba thành tố: Thầy, Trò, Tri thức Nếu từng thành tố làm trung tâm
Trang 28tức là học trò giữ vai trò chủ thể tự mình tìm ra kiến thức bằng hành động của chính mình (tức tự học) thì ta có phương pháp dạy - tự học
+ Ngoài việc truyền đạt kiến thức, GV tập trung hướng dẫn và giao nhiệm vụ cho SV tự tìm kiếm kiến thức ở ngoài lớp học Việc GV hướng dẫn, giao nhiệm vụ cho SV và đánh giá kết quả thực hiện được thể hiện trong “đề cương môn học” mà mỗi GV bắt buộc phải có và phát cho SV trước hoặc ngay trong buổi lên lớp đầu tiên
+ Do SV đã tự nghiên cứu ở nhà, trong thư viện, trong phòng thí nghiệm… nên trên lớp GV không truyền thụ đầy đủ các kiến thức đã được trình bày trong giáo trình, tài liệu tham khảo mà thực hiện các công việc sau để hướng dẫn SV tích luỹ kiến thức, kỹ năng, và nâng cao hứng thú học tập, lòng yêu khoa học cũng như ngành đào tạo đã lựa chọn: a) Giải thích những vấn đề
mà GV cho là SV sẽ gặp khó khăn khi tự đọc, tự nghiên cứu giáo trình, tài liệu; b) Nhấn mạnh những vấn đề mà SV cần chú ý trong giáo trình và tài liệu tham khảo mà GV đã yêu cầu SV đọc; c) Hướng dẫn SV thảo luận những vấn đề trong những tài liệu mà SV đã đọc, hoặc những bài nghiên cứu mà GV yêu cầu mỗi SV thực hiện; d) Theo dõi các ý kiến thảo luận của SV, qua đó uốn nắn, giải thích những nội dung SV hiểu chưa đúng; e) Giới thiệu các nhà khoa học
và những vấn đề học thuật đang được tranh luận, những vấn đề cần được nghiên cứu liên quan đến ngành học; g) Thông qua giờ lên lớp và thảo luận, đánh giá thái độ và kết quả học tập trên lớp và tự học ở nhà của SV cũng như kiến thức mà SV thu nhận được, đồng thời công bố cho SV biết ý kiến đánh giá của mình; h) Tổ chức kiểm tra ngắn, đột xuất với cả lớp hoặc với một số
SV bằng hình thức nói hoặc viết để thúc đẩy SV thường xuyên học tập; i) Trả bài kiểm tra, bài tập nghiên cứu của SV và có các nhận xét về các bài làm đó; k) Hướng dẫn SV những điều cần chú ý khi làm thí nghiệm, đi thực tập, thực tế
và i) những nội dung cần thiết khác Tuỳ theo từng buổi lên lớp mà GV lựa chọn các công việc phù hợp trong các việc được nêu trên
Trang 29+ SV học tập theo sự hướng dẫn, KT-ĐG của GV: nghe giảng, thảo luận trên lớp, tự học, tự nghiên cứu, làm bài tập, viết báo cáo ở nhà, thư viện, làm việc trong phòng thí nghiệm, đi thực tế, theo ý kiến GV trong các dịp tiếp xúc trực tiếp hoặc trao đổi bằng điện thoại, e-mail.[19, tr.68-69]
b) Đặc trưng cơ bản của hệ phương pháp dạy - tự học có 4 đặc trưng:
+ Ngoài học, chủ thể của hoạt động tự học, tự mình tìm ra kiến thức cùng với cách tìm ra kiến thức bằng hành động của chính mình;
Tri thức (Tự tìm)
Thầy Trò (Tác nhân) (Chủ thể)
+ Người học tự thể hiện mình và hợp tác với các bạn, học bạn;
+ Người dạy là thầy học- Chuyên gia về học và tự học, là người tổ chức
và hướng dẫn quá trình dạy - tự học, quá trình kết hợp cá nhân với xã hội hoá việc học của người học;
+ Người học tự kiểm tra, tự đánh giá, tự điều chỉnh
c) Chu trình dạy của thầy, gồm 3 thời:
+Thời 1: Hướng dẫn;
+ Thời 2: Tổ chức;
+ Thời 3: Trọng tài, cố vấn, kết luận, kiểm tra
2 Kiểm tra- đánh giá trong quy trình dạy học theo phương thức tín chỉ
Theo cách đào tạo kiểu niên chế trong các trường đại học của Việt Nam, kết quả học tập môn học (học phần) của SV được đánh giá bằng điểm thi kết thúc học phần; đối với các học phần có cả thực hành và lý thuyết thì phần thực
Trang 30hành đạt được coi là đủ điều kiện để được xét dự thi phần lý thuyết và điểm thi phần lý thuyết là điểm thi kết thúc học phần Quy định này không buộc SV phải cố gắng học tập thường xuyên Do vậy họ chỉ tập trung học vào thời gian chuẩn bị thi kết thúc học phần
Trong học chế tín chỉ người ta đánh giá kết quả học tập của SV không chỉ bằng các bài kiểm tra và bài thi cuối môn học mà còn bằng cách đánh giá: 1) Các hoạt động trên lớp (số buổi có mặt, thái độ theo dõi bài giảng, tích cực tham gia thảo luận và các hoạt động học tập ); 2) Tự học ở nhà (qua nội dung phát biểu thảo luận trên lớp, thời gian và chất lượng hoàn thành bài tập ở nhà
do GV giao); 3) Làm việc trong phòng thí nghiệm, đi thực tế, và 4) Bài thi kết thúc môn học SV cũng được thông báo về cách thức và trọng số đánh giá kết quả học tập như trên ngay từ khi bắt đầu học môn học trong bản đề cương môn học mà GV phát cho mình và được thể hiện trong các quy định pháp lý của nhà trường Việc đánh giá liên tục các hoạt động học tập làm giảm nhẹ sức ép của thi cử cuối học kỳ, làm giảm tình trạng nhồi nhét kiến thức để lo thi, do vậy cho phép SV hiểu và yêu thích môn học, nâng cao khả năng tự học theo kiểu nghiên cứu.[19, tr.69-70]
a) Khái niệm kiểm tra-đánh giá
Kiểm tra - đánh giá là hoạt động thu thập thông tin định tính và định lượng về kết quả học tập của SV trong suốt quá trình học tập môn học đối chiếu với mục tiêu môn học làm cơ sở cho việc xếp hạng SV và các quy định quản lý khác KT-ĐG là một bộ phận cấu thành của mọi phương pháp da ̣y ho ̣c
và rèn luyện các kiến thức và kỹ năng mà GV mong muốn SV phải đạt được.[18, tr.1]
b) Quy trình kiểm tra - đánh giá kết quả học tập
Quy trình ĐG kết quả học tập là trình tự sử dụng các hình thức
KT-ĐG khác nhau trong suốt QTDH môn học nhằm rèn luyện việc đạt các mục tiêu đã xác định trong ĐCMH Có 2 hình thức KT-ĐG: 1) KT-ĐG thường xuyên; 2) KT-ĐG định kỳ [18, tr.1]
Trang 31+ Kiểm tra-đánh giá thường xuyên
KT-ĐG thường xuyên là hoạt động của GV sử dụng các kỹ thuật đánh giá khác nhau trong các hình thức tổ chức thực hiện giờ tín chỉ (lý thuyết, thảo luận, thực hành, thí nghiệm, hoạt động nhóm, tự học, tự nghiên cứu ) như một thành tố của phương pháp da ̣y ho ̣c nhằm rèn luyện và kiểm tra việc rèn luyện các kiến thức, kỹ năng đã được xác định trong mục tiêu của môn học.[18, tr.1]
+ Kiểm tra-đánh giá định kỳ
KT-ĐG định kỳ là hoạt động của GV vào những thời điểm đã được quy định trong đề cương môn học, gắn các mục tiêu cụ thể trong từng giai đoạn với những phương pháp KT-ĐG tương ứng nhằm đánh giá, định hướng việc đạt mục tiêu môn học ở giai đoạn tương ứng của SV Kết quả KT-ĐG định kỳ được xem là kết quả học tập môn học của SV và là cơ sở để xếp hạng SV sau khi kết thúc môn học.[18, tr.1]
c) Vai trò của việc kiểm tra - đánh giá
Trong quy trình đào tạo, kiểm tra - đánh giá là khâu cuối cùng và đặc biệt quan trọng, cung cấp thông tin về mức độ đạt được mục tiêu và thông tin phản hồi, giúp giảng viên điều chỉnh cách dạy và giúp cho sinh viên chủ động
tổ chức quá trình học của mình để đạt đươ ̣c mục tiêu một cách hiệu quả nhất [18, tr.2]
KT-ĐG thúc đẩy việc dạy và học theo phương pháp tiên tiến, đáp ứng yêu cầu đào tạo theo phương thức tín chỉ , nâng cao chất lượng đào tạo và hội nhập quốc tế [18, tr.2]
1.1.4 Quản lý quá trình dạy học theo phương thức tín chỉ
Trong dạy học theo PTTC việc quản lý QTDH của GV khác hẳn quản lý QTDH theo niên chế Quản lý QTDH theo PTTC tức là quản lý quá trình dạy -
tự học và phương pháp dạy - tự học
Trong QTDH nếu người học là chủ thể, tự mình tìm ra kiến thức bằng hành động của chính mình với sự hợp tác của các bạn và sự hướng dẫn của
Trang 32thầy Thầy dạy, trò tự học, tự nghiên cứu nhằm biến QTDH thành quá trình tự học, biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo thì đó là quá trình dạy -
tự học
Quá trình dạy - tự học là một hệ thống toàn vẹn gồm 3 thành tố cơ bản: Thầy (dạy), Trò (tự học), Tri thức Ba thành tố này luôn tương tác với nhau, thâm nhập vào nhau, quy định lẫn nhau theo những quy luật riêng nhằm kết hợp chặt chẽ quá trình của thầy với quá trình tự học của trò làm cho dạy học cộng hưởng với tự học tạo ra chất lượng và hiệu quả trong giáo dục
1.1.4.1 Quản lý hoạt động giảng dạy của giảng viên
- Giảng viên phải biên soạn và nộp ĐCMH cho khoa (bộ môn)
- Ban Thanh tra đào tạo, Khoa hoặc Bộ môn quản lý kiểm tra việc GV thực hiện đề cương, chương trình học tập
- Sau một nửa chương trình GV phải tổ chức cho SV kiểm tra giữa kỳ Tùy theo điều kiện, GV quyết định kiểm tra theo hình thức viết, vấn đáp hoặc làm bài tập…
- Thi hết môn có thể là viết (trắc nghiệm, hoặc tự luận), vấn đáp, làm thực tập hoặc kết hợp giữa các hình thức trên Đề thi do chính GV dạy phần đó hoặc do những GV cùng chuyên môn chuẩn bị
- Sau khi nhà trường tổ chức thi, GV dạy phải chấm thi, ghi điểm vào bảng điểm theo mẫu thống nhất của trường Bảng điểm thì phải có chữ ký của hai GV chấm thi và gửi về hai nơi văn phòng Khoa và Phòng Đào tạo lưu giữ bản chính
- Trường/Khoa tổ chức cho SV nhận xét về công việc giảng dạy của GV Việc lên lương, bổ nhiệm có dựa vào kết quả giảng dạy, đánh giá của các cơ quan quản lý và nhận xét của SV.[19, tr.70]
1.1.4.2 Quản lý hoạt động học tập của sinh viên
Trong dạy học theo PTTC hoạt động học tập của SV khác biệt so với hoạt động học tập theo niên chế Hoạt động học tập của SV theo PTTC chính
là hoạt động tự học
Trang 331 Khái niệm tự học: Có nhiều tác giả nghiên cứu về tự học có những
quan điểm khác nhau về tự học
Theo tác giả Phạm Viết Vượng “Tự học là hình thức học ngoài giờ lên lớp bằng nỗ lực cá nhân theo kế hoạch học tập chung và không có mặt trực tiếp của giáo viên Tự học thường được tiến hành tại gia đình hay thư viện, cách học là hoàn toàn độc lập theo phương pháp tự nghiên cứu Nội dung công việc tự học là học bài cũ, chuẩn bị bài mới và làm bài tập vận dụng kiến thức, làm các bài tập sáng tạo khác.[47, tr 33]
Theo tác giả Nguyễn Đức Trí: “Tự học” là “Hoạt động độc lập chủ yếu mang tính chất cá nhân của học sinh, sinh viên trong quá trình nhận thức học tập để cải biến nhân cách, nó vừa là phương tiện , vừa là mục tiêu của quá trình đào tạo nói chung ở nhà trường Có hai loại tự học là tự học trong giờ lên lớp và tự học ngoài giờ Hai hoạt động tự học của học sinh, sinh viên trong giờ lên lớp thường được thực hiện dưới sự hướng dẫn của giảng viên bộ môn như là một bộ phận, một bước, một hình thức tổ chức của quá trình dạy học Hoạt động tự học ngoài lớp có thể được thực hiện ở ký túc xá hoặc ở nhà, theo
cá nhân hoặc theo nhóm Đây là hoạt động chủ yếu của SV sau giờ lên lớp, được hướng dẫn hoặc tự phát nhưng rất cần được tổ chức và quản lý chặt chẽ
để đảm bảo chất lượng dạy học và giáo dục”.[45, tr 49]
2 Chu trình tự học của SV, gồm có 3 thời:
+ Thời 1: Tự nghiên cứu;
+ Tự học hoàn toàn độc lập theo hứng thú và sở thích riêng của bản thân
SV mà không cần có sự hướng dẫn và điều khiển của GV
Trang 344 Các nhân tố bên trong nhà trường tham gia vào quá trình quản lý hoạt động tự học của SV
+ GV tổ chức hoạt động tự học cho SV: Dạy cho SV phương pháp học tập và nghiên cứu; hướng dẫn, tổ chức, thiết kế, điều khiển các hoạt động học tập của SV trên lớp; bồi dưỡng ý chí, năng lực tự học, tự nghiên cứu cho SV như tạo hứng thú học tập , hướng dẫn các phương pháp và kỹ năng tự học; hướng dẫn thông qua việc giao các bài tập nhận thức cho SV tự học ở nhà; tổ chức cho SV tham gia các hoạt động ngoại khoá (tổ ngoại khoá, câu lạc bộ ngoại khoá, nói chuyện chuyên đề, các buổi thảo luận hay các buổi xêmina)…
+ Các tổ chức tham gia QL hoạt động tự học cho SV: Lớp SV; Phòng Công tác sinh viên, Đoàn Thanh niên Cộng Sản Hồ Chí Minh, Hội sinh viên, Các Khoa, Tổ Bộ môn, sinh viên tự quản hoạt động học tập…
- Quản lý hoạt động tự học trong giờ học trên lớp và
- Quản lý hoạt động tự học ngoài giờ học lên lớp
QL hoạt động tự học là sự tác động của chủ thể quản lý đến toàn bộ quá trình tự học của SV làm cho SV chủ động, tích cực tự mình chiếm lĩnh tri thức bằng sự cố gắng nỗ lực của chính mình
1.2 Đặc thù của dạy học ngoại ngữ (tiếng Anh) trong trường đại học 1.2.1 Đặc thù của dạy học ngoại ngữ
Khi đất nước bước vào thời kỳ hội nhập WTO thì ngoại ngữ là chiếc cầu nối trong giao lưu quốc tế không thể thiếu được Trong tất cả các ngoại ngữ đang dùng làm môn học cho các trường phổ thông, cao đẳng, đa ̣i ho ̣c thì tiếng
Trang 35Anh chiếm một vị trí cao Tiếng Anh có chức năng là công cụ giao tiếp được thể hiện ở năm dạng hoạt động cơ bản: nghe, nói, đọc, viết và tư duy Người học sau khi học xong khoa học phổ thông sẽ sử dụng được ngoại ngữ để đọc hiểu các sách, báo khoa học thường thức phù hợp với trình độ học vấn, đồng thời có thể trò chuyện với người nước ngoài về các vấn đề sinh hoạt hàng ngày
và có thể viết thư trao đổi hữu nghị với bạn bè quốc tế Bộ môn ngoại ngữ có mục đích nâng cao trình độ hiểu biết của người học trong hai lĩnh vực chủ yếu
là ngôn ngữ học và ngôn ngữ đất nước học, đồng thời góp phần nâng cao năng lực tư duy của họ Bởi vì, để thực hiện tốt chức năng giao tiếp, việc rèn luyện thói quen tư duy bằng chính ngoại ngữ đó là hết sức quan trọng Làm tốt điều này sẽ giúp người học nói và viết ngoại ngữ như người bản xứ Bộ môn ngoại ngữ góp phần làm hoàn chỉnh thêm những thao tác tư duy cơ bản như phân tích, so sánh, đối chiếu, tổng hợp, khái quát hoá, trừu tượng hoá và phát triển thêm một bước tư duy lôgic như diễn đạt tư tưởng một cách mạch lạc, sáng sủa, gãy gọn và có lý lẽ
Về mặt phẩm chất đạo đức, Bộ môn ngoại ngữ có nhiều điều kiện giáo dục thế giới quan và nhân sinh quan Ngoại ngữ là công cụ giao tiếp quan trọng nhất của con người, gắn bó với phát triển tư duy và văn hoá Hướng theo mục đích đó , Bộ môn ngoại ngữ cần đạt tới những yêu cầu trên ở cả hai phương diện nhận thức tư tưởng lẫn trong hành động thực hiện của người học
Ở mỗi giai đoạn phát triển của đất nước nói chung, của ngành giáo dục nói riêng, ngoại ngữ có thể thay đổi ít nhiều về vị thế của môn học, về mức độ quan trọng, về thời lượng môn học, về yêu cầu sử dụng chúng trong cuộc sống cũng như trong nhà trường Song ngoại ngữ mãi mãi vẫn là chìa khoá để mở cánh cửa đến với thế giới, với nền văn minh nhân loại, với khoa học công nghệ, với sự hợp tác về mọi mặt như kinh tế, văn hoá và giao lưu quốc tế
Trang 361.2.2 Dạy học tiếng Anh trong trường đại học
1 Mục tiêu
Yêu cầu của xã hội ngày nay đối với người tốt nghiệp đại học là phải sử dụng được ít nhất một ngoại ngữ ở trình độ nhất định Mục tiêu dạy học ngoại ngữ (Tiếng Anh) ở các trường đại học không chuyên là hình thành, phát triển ở người học nhằm góp phần phát triển học vấn cần thiết để có thể tiếp tục học lên, hoặc ra trường công tác
Nêu một cách cụ thể hơn, QTDH ngoại ngữ nhằm truyền thụ cho SV nắm vững những kiến thức cơ bản tối thiểu, tương đối có hệ thống cùng những
kỹ năng nghe, nói, đọc, viết về tiếng nước ngoài được học và sử dụng như một công cụ giao tiếp Sau khi hoàn thành chương trình, SV phải sử dụng được ngôn ngữ đó để đọc hiểu các sách báo khoa học thưởng thức, các tài liệu tham khảo phù hợp với trình độ học vấn và ngành nghề công tác; đồng thời có thể giao tiếp với người nước ngoài và các vấn đề sinh hoạt đơn giản hàng ngày, sử dụng được một số thuật ngữ chuyên ngành theo chuyên môn được đào tạo nhằm góp phần hỗ trợ cho việc học tập các môn học khác, phát triển trí tuệ cần thiết để tiếp tục học tiếp hoặc đi vào cuộc sống lao động, công tác
Tháng 7/2007 Bộ GD&ĐT đã có dự thảo: “Đề án dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân giai đoạn 2007 - 2015” Theo dự thảo này đối với các trường đại học, cao đẳng không chuyên ngữ: “ Khuyến khích các trường chọn tiếng Anh Trình độ ngoại ngữ chung của SV sau khi tốt nghiệp CĐ&ĐH không chuyên ngữ đạt bậc 3 Các trường cần tiến hành kiểm tra trắc nghiệm về năng lực ngoại ngữ của SV nhập học để sắp xếp theo học các chương trình ngoại ngữ phù hợp Tuỳ theo điều kiện cụ thể của mình, các trường CĐ&ĐH của mình không chuyên ngữ có thể xây dựng và tiến hành chương trình dạy và học ngoại ngữ đối với các SV nhập học có trình độ đầu vào là bậc 3 để đạt bậc cao hơn nữa về năng lực ngoại ngữ”.[7, tr.29]
Trang 37Bảng 1.2: Bảng năng lực ngoại ngữ [7, tr.29]
Kỹ năng nghe Nghe hiểu ý chính các thông
tin đơn giản trong đời sống
xã hội thông thường
Có thể hiểu nội dung chính các cuộc đối thoại, đọc thoại về các vấn đề quen thuộc trong đời sống, văn hoá, xã hội
Kỹ năng nói Có thể bày tỏ ý kiến một
cách đơn giản về các vấn đề văn hoá, xã hội quen thuộc
Có thể tham gia đối thoại
và trình bày ý kiến, quan điểm về các chủ đề quen thuộc
Kỹ năng đọc Đọc hiểu nội dung chính các
tài liệu phổ thông liên quan đến các vấn đề văn hoá, xã hội quen thuộc
Đọc hiểu các thông tin cần thiết và thâu tóm được ý chính các văn bản liên quan đến chuyên môn và nghề nghiệp
Kỹ năng viết Có thể viết các đoạn văn
ngắn, đơn giản về các chủ đề quen thuộc phù hợp với sự hiểu biết của người học
Có thể ghi những ý chính
về những điều đã nghe hoặc đọc được
Có thể viết thư giao dịch thông thường
2 Nội dung chương trình
Nội dung dạy học luôn theo sát mục tiêu, là công cụ để thực hiện mục tiêu Nội dung dạy học môn tiếng Anh ở các trường CĐ&ĐH bao gồm: tiếng Anh cơ bản và tiếng Anh chuyên ngành Nội dung học liệu tiếng Anh cơ bản
và tiếng Anh chuyên ngành phải đảm bảo ba nội dung cơ bản: Giáo dục tư tưởng đạo đức, bồi dưỡng tri thức văn hoá và rèn luyện kỹ năng giao tiếp bằng ngoại ngữ Hiện chưa có giáo trình ngoại ngữ không chuyên chung cho các
trường Các trường tự lựa chọn cho mình tài liệu dạy học tiếng Anh cơ bản để đạt được mục tiêu đã đưa ra ở trên Sách dạy tiếng Anh chuyên ngành tự các trường biên soạn Ngoài sách vở ra, SV ngày nay còn có thể tiếp cận với rất
Trang 38nhiều các phương tiện hỗ trợ khác như: Mạng internet, băng, đĩa, từ điển điện tử… vấn đề đặt ra ở đây là lựa chọn nội dung, chương trình học liệu như thế nào cho phù hợp với mục tiêu và quỹ thời gian của môn học
Từ khi chuyển đổi đào ta ̣o từ niên chế sang đào ta ̣o theo PTTC các
trường đa ̣i ho ̣c vẫn đang theo chương trình khung quy định về môn tiếng Anh với 14 tín chỉ Trong đó có 10 tín chỉ là tiếng Anh chung, sử dụng các giáo trình như Life Lines, New Head Way… và chỉ có 4 tín chỉ còn lại là tiếng Anh chuyên ngành
1.3 Quản lý quá trình dạy học tiếng Anh theo phương thức tín chỉ
1.3.1 Quản lý hoạt động giảng dạy của giảng viên tiếng Anh
- GV tiếng Anh phải biên soạn và nộp ĐCMH tiếng Anh cho BMTNN
- Ban Thanh tra đào tạo, BMTNN quản lý kiểm tra việc GV tiếng Anh thực hiện đề cương, chương trình học tập môn tiếng Anh
- Sau một nửa chương trình GV tiếng Anh cho SV kiểm tra giữa kỳ GV quyết định kiểm tra theo hình thức viết, vấn đáp hoặc làm bài tập…
- Thi hết môn có thể là viết (trắc nghiệm, hoặc tự luận), vấn đáp, làm thực tập hoặc kết hợp giữa các hình thức trên Đề thi do chính GV dạy tiếng Anh phần đó hoặc do những GV tiếng Anh cùng chuyên môn chuẩn bị
- Sau khi tổ chức thi, GV tiếng Anh chấm thi, ghi điểm vào bảng điểm theo mẫu thống nhất của trường Bảng điểm có đầy đủ chữ ký của hai GV chấm thi gửi về Văn phòng BMTNN và Phòng Đào tạo lưu giữ bản chính
- Trường tổ chức cho SV nhận xét việc giảng dạy của GV tiếng Anh
1.3.2 Quản lý hoạt động tự học tiếng Anh của sinh viên
Quản lý hoạt động tự học tiếng Anh của SV là một trong những yếu tố không nhỏ góp phần nâng cao chất lượng đào tạo, được tiến hành trên cả hai phương diện, ở trường và ở nhà bao gồm:
+ Quản lý hoạt động tự học tiếng Anh của SV trong giờ học trong lớp; + Quản lý hoạt động tự học tiếng Anh của SV ngoài giờ lên lớp
Trang 39* Kết luận chương 1
Trong chương I, luận văn đã làm rõ một số cơ sở lý luận thực tiễn liên quan đến đề tài nghiên cứu Nội dung của chương này đã đề cập đến các khái niệm cơ bản về khoa học QL, quản lý QTDH, quản lý QTDH theo PTTC (khái niệm về tín chỉ, HTTC, giờ tín chỉ…) Đây là chương làm nổi bật được bản chất của đào tạo theo PTTC là cho phép SV phát huy cao độ sự chủ động của người học, được lựa chọn ngành học, môn học tuỳ theo năng lực, sở thích và điều kiện học thực tế của bản thân đồng thời tạo điều kiện để SV tự chủ, tự chịu trách nhiệm, tự nghiên cứu, tự tổ chức (có sự hướng dẫn) quá trình tích luỹ kiến thức để tiến tới một văn bằng đồng thời đưa ra những ưu, nhược điểm của HTTC, các điều kiện tiên quyết, hình thức tổ chức giờ tín chỉ, các PPDH, KT-ĐG, phương pháp học tập của SV phù hợp với PTTC để từ đó có cơ sở để làm rõ thực trạng về quản lý QTDH tiếng Anh theo PTTC tại trường ĐHKHXH&NV-ĐHQGHN Quản lý đúng tức là con người đã nhận thức được quy luật, vận động theo quy luật và sẽ đạt được những mục tiêu đề ra
Căn cứ vào cơ sở lý luận đã trình bày ở chương I, chương 2 sẽ phân tích thực trạng công tác quản lý QTDH môn tiếng Anh theo PTTC tại trường ĐHKHXH&NV-ĐHQGHN
Trang 40
Chương 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ QUÁ TRÌNH DẠY HỌC MÔN TIẾNG ANH THEO PHƯƠNG THỨC TÍN CHỈ TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN - ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
2.1 Tổng quan về mô hình đào tạo và việc chuyển đổi sang tín chỉ của Trường ĐHKHXH&NV – ĐHQGHN
2.1.1 Giới thiệu chung về trường ĐHKHXH&NV - ĐHQGHN
Trường ĐHKHXH&NV thuộc ĐHQGHN có lịch sử phát triển khá lâu dài Tiền thân của trường là Trường Đại học Văn khoa được Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh thành lập tháng 10 năm 1956 Ngày 19/9/1995, Trường ĐHKHXH&NV được thành lập trên cơ sở các khoa đào tạo về Khoa ho ̣c Xã
hô ̣i và Nhân văn của Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội trước đây Trường ĐHKHXH&NV là một trường đa ̣i ho ̣c thành viên lớn trong ĐHQGHN đã có nhiều đóng góp quan trọng cho sự phát triển ĐHQGHN trong hơn 10 năm qua
Trường ĐHKHXH&NV thuộc ĐHQGHN là trường đa ̣i ho ̣c trọng điểm, đầu ngành, có uy tín và truyền thống lâu đời, đi đầu trong sáng tạo, truyền bá tri thức và đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao về Khoa ho ̣c Xã hô ̣i và Nhân văn Nhà trường có được thành tựu và kết quả như ngày hôm nay là dựa trên truyền thống đào tạo, sự cống hiến và tấm lòng yêu nghề của đội ngũ các giáo
sư, các thầy giáo, cô giáo cùng tập thể cán bộ quản lý , phục vụ đào tạo giàu kinh nghiệm
Trường ĐHKHXH&NV-ĐHQGHN đang hoà nhịp cùng với các trường
đa ̣i ho ̣c thành viên của ĐHQGHN phấn đấu trở thành một trung tâm đào tạo và nghiên cứu đa ngành, chất lượng cao của Việt Nam, từng bước đạt trình độ của các trường đa ̣i ho ̣c tiêu biểu trong khu vực và trên thế giới
Trường ĐHKHXH&NV-ĐHQGHN đảm nhận các nhiệm vụ sau: