1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Biện pháp quản lý hoạt động đánh giá kết quả học tập của sinh viên hệ vừa làm vừa học tại trường Đại học Kiến trúc Hà Nội

121 958 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 121
Dung lượng 1,22 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NÔI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC PHẠM THỊ HẠNH BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN HỆ VỪA LÀM VỪA HỌC TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KIẾN TRÚC HÀ NỘ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NÔI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

PHẠM THỊ HẠNH

BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐÁNH GIÁ

KẾT QUẢ HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN HỆ VỪA LÀM VỪA HỌC

TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KIẾN TRÚC HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC

CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ GIÁO DỤC

Mã số: 60 14 05

Người hướng dẫn khoa học: GS.TS NGUYỄN HỮU CHÂU

HÀ NỘI- 2012

Trang 2

MỤC LỤC

Trang

Lời cảm ơn i

Danh mục các bảng ii

Danh mục các hình iii

Danh mục các sơ đồ iv

Mục lục v

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÁNH GIÁ VÀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN 5

1.1 Lịch sử nghiên cứu ……… 5

1.1.1 Trên thế giới……… 5

1.1.2 Tại Việt Nam……… 8

1.2 Một số khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài nghiên cứu ………… 10

1.2.1 Quản lý ……… 10

1.2.2 Biện pháp quản lý 14

1.2.3 Đánh giá 15

1.2.4 Đánh giá kết quả học tập 19

1.2.5 Đánh giá kết quả học tập của sinh viên 23

1.3 Quản lý hoạt động đánh giá kết quả học tập 30

1.3.1 Quản lý kế hoạch đánh giá 31

1.3.2 Quản lý quá trình đánh giá 32

1.3.3 Quản lý việc sử dụng kết quả đánh giá 33

1.4 Hệ đào tạo Vừa làm vừa học 34

1.4.1 Đặc điểm của hệ đào tạo Vừa làm vừa học 34

1.4.2 Quản lý hoạt động đánh giá kết quả học tập của sinh viên Hệ Vừa làm vừa học

36 Tiểu kết chương 1 38

Chương 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG ĐÁNH GIÁ VÀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN HỆ VỪA LÀM VỪA HỌC TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KIẾN TRÚC HÀ NỘI 39

2.1 Giới thiệu chung về Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội 39

2.1.1 Khái quát về trường Đại học Kiến trúc Hà Nôi 39

2.1.2 Mục tiêu đào tạo của trường Đại học Kiến trúc Hà Nội 40

Trang 3

2.1.3 Loại hình và quy mô đào tạo của Nhà trường 42

2.1.4 Tổ chức bộ máy quản lý của trường Đại học Kiến trúc Hà Nội 46

2.1.5 Đội ngũ cán bộ quản lý, giảng viên và nhân viên 48

2.1.6 Cơ sở vật chất và trang thiết bị phục vụ đào tạo 52

2.2 Thực trạng về hoạt động đánh giá kết quả học tập của sinh viên hệ Vừa làm vừa học tại Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội 53

2.2.1 Nhận thức của giáo viên, cán bộ quản lý và sinh viên về vai trò của kiểm tra đánh giá kết quả học tập 55

2.2.2 Phương pháp kiểm tra, đánh giá chưa phù hợp 56

2.2.3 Kiểm tra đánh giá chưa kích thích động lực học tập cho sinh viên 58

2.2.4 Chưa xây dựng được ngân hàng đề thi và sử dụng có hiệu quả 60

2.3 Thực trạng Quản lý hoạt động đánh giá kết quả học tập của sinh viên hệ Vừa làm vừa học tại Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội 61

2.3.1 Thực trạng về lập kế hoạch kiểm tra đánh giá kết quả học tập của sinh viên hệ vừa làm vừa học 61

2.3.2 Thực trạng về quy trình kiểm tra đánh giá kết quả học tập của sinh viên hệ vừa làm vừa học 62

2.3.3 Thực trạng về quản lý sử dụng kết quả đánh giá kết quả học tập của sinh viên 64

2.3.4 Thực trạng việc ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động đánh giá kết quả học tập của sinh viên 65

2.3.5 Thực trạng việc kiểm tra, thanh tra của Nhà trường trong hoạt động đánh giá kết quả học tập của sinh viên 67

2.4 Đánh giá chung nguyên nhân 69

2.4.1 Đánh giá chung 69

2.4.2 Nguyên nhân 70

Tiểu kết chương 2 72

Chương 3: CÁC BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN HỆ VỪA LÀM VỪA HỌC TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KIẾN TRÚC HÀ NỘI 73

3.1 Các nguyên tắc xây dựng giải pháp: 73

3.1.1 Đảm bảo tính khoa học 73

3.1.2 Đảm bảo tính thực tiễn 74

3.1.3 Đảm bảo tính hệ thống 74

3.1.4 Đảm bảo tính khả thi 74

Trang 4

3.2 Các biện pháp quản lý hoạt động đánh giá kết quả học tập của sinh

viên hệ Vừa làm vừa học tại Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội 75

3.2.1 Chỉ đạo việc xây dựng kế hoạch và quy trình cho đánh giá kết quả học tập của sinh viên hệ vừa làm vừa học 75

3.2.2 Nâng cao nhận thức cho cán bộ quản lý, giáo viên và sinh viên về đánh giá kết quả học tập 84

3.2.3 Xây dựng đội ngũ có đủ năng lực đánh giá 89

3.2.4 Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong đánh giá 95

3.3 Khảo sát tính cấp thiết và tính khả thi của các biện pháp 99

Tiểu kết chương 3 102

KẾT L.UẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 103

1 Kết luận 103

2 Khuyến nghị 104

TÀI LIỆU THAM KHẢO 105

PHỤ LỤC 107

Trang 5

DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang

Bảng 2.1 Quy mô đào tạo đại học hệ chính quy (tính đến năm 2011) 43

Bảng 2.2 Quy mô đào tạo đại học hệ vừa làm vừa học (tính đến tháng 5/2012)

44 Bảng 2.3 Số học viên cao học của Trường từ năm 2006 đến 2011 45

Bảng 2.4 Đội ngũ cán bộ quản lý của Trường 48

Bảng 2.5 Hiện trạng đội ngũ cán bộ giảng dạy theo đơn vị Khoa, Trung tâm 49

Bảng 2.6 Hiện trạng đội ngũ cán bộ viên chức khối quản lý và phục vụ đào tạo 51

Bảng 2.7 Diện tích các khối làm việc 52

Bảng 2.8 Đánh giá mức độ sử dụng hiệu quả kết quả của hoạt động đánh giá kết quả học tập của sinh viên 64

Bảng 2.9 Ứng dụng công nghệ thông tin trong đánh giá kết quả học tập 66

Bảng 2.10 Công tác kiểm tra, thanh tra của Nhà trường trong hoạt động đánh giá kết quả học tập của sinh viên 67

Bảng 2.11 Nguyên nhân tác động đến hoạt động kiểm tra đánh giá kết quả học tâp 71

Bảng 3.1 Kế hoạch kiểm tra đánh giá 77

Bảng 3.2 Hình thức kiểm tra đánh giá các môn học trong chương trình 79

Bảng 3.3 Hình thức kiểm tra đánh giá môn Ngoại ngữ 79

Bảng 3.4 Mẫu dàn bài các bài kiểm tra 81

Bảng 3.5 Mẫu thống kê kết quả thi đối với bài tự luận 83

Bảng 3.6 Mẫu thống kê đối với bài thi trắc nghiệm 83

Bảng 3.7 Kết quả khảo sát sự cần thiết và tính khả thi của các biện pháp 99

Trang 6

DANH MỤC CÁC HÌNH

Trang Hình 2.1 Chỉ tiêu đào tạo đại học hệ chính quy và vừa làm vừa học của

Trường hàng năm 43 Hình 2.2 Vai trò của Kiểm tra đánh giá kết quả học tập 55 Hình 2.3 Hình thức kiểm tra đánh giá kết quả học tập của sinh viên hệ

Vừa làm vừa học 57 Hình 2.4 Kết quả bài kiểm tra, bài thi luôn tạo động lực cho sinh viên

trong học tập 59 Hình 2.5 Quy trình kiểm tra đánh giá kết quả học tập của sinh viên hệ

vừa làm vừa học 62 Hình 3.1 Kết quả khảo sát sự cần thiết và tính khả thi của các biện pháp 100

Trang 7

DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ

Trang

Sơ đồ 1.1 Trình bày quá trình giáo dục theo Tyler 5

Sơ đồ 1.2 Mối quan hệ giữa các chức năng của quản lý 13

Sơ đồ 1.3 Quy trình đào tạo 28

Sơ đồ 2.1 Cơ cấu tổ chức hành chính của Trường đại học Kiến trúc

hiện nay 47

Sơ đồ 3.1 Các biện pháp quản lý hoạt động đánh giá kết quả học tập

của sinh viên hệ Vừa làm vừa học tại Trường Đại học Kiến

trúc Hà Nội 75

Sơ đồ 3.2 Mục tiêu môn học 78

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Nâng cao chất lượng giáo dục, chất lượng dạy học là nhiệm vụ quan trọng nhất trong toàn bộ quá trình dạy học nói riêng và quá trình phát triển của Nhà trường nói chung Để cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao cho mục tiêu công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước Chính phủ yêu cầu giáo dục đại học thực hiện đổi mới, rút ngắn khoảng cách với các trường đại học hàng đầu trong khu vực ASEAN, xây dựng môi trường học tập và làm việc đạt tiêu chuẩn quốc tế Trong những năm gần đây, để đáp ứng với nhu cầu của thời kỳ đổi mới, giảng dạy đại học đang từng bước thay đổi cả về chương trình và phương pháp đào tạo

Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội được thành lập theo Quyết định số 181/CP ngày 17 tháng 9 năm 1969 Là một trường đại học có uy tín hàng đầu trong lĩnh vực đào tạo Kiến trúc, Quy hoạch và Xây dựng tại Việt Nam Với sự phát triển nhanh chóng của xã hội và yêu cầu đổi mới giáo dục đại học Việt Nam, đã đặt ra nhiều thách thức và cơ hội quan trọng Trong bối cảnh đó, Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội cần phải xác định tầm nhìn chiến lược tới năm 2020 và các giải pháp để phát huy những năng lực cốt lõi của Trường, khai thác các cơ hội, khắc phục các điểm yếu, vượt qua các thách thức cạnh tranh không lành mạnh để hoàn thành sứ mạng

vẻ vang của một trường đại học hàng đầu Việt Nam

Với chức năng và nhiệm vụ như vậy, Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội đã thực hiện đa dạng hoá đào tạo theo các hình thức đào tạo tập trung và đào tạo Vừa làm vừa học để thoả mãn nhu cầu của xã hội và sự phân công nhiệm vụ của hai bộ

là Bộ Xây dựng và Bộ Giáo dục & Đào tạo Hệ đại học chính quy hằng năm tuyển khoảng 1.350 sinh viên cho 12 chuyên ngành đào tạo, hệ không chính quy tuyển bình quân 800 sinh viên cho các hệ vừa làm vừa học, liên thông và văn bằng hai để đào tạo và đào tạo lại nguồn nhân lực cho các tổng công ty xây dựng, doanh nghiệp, các sở xây dựng ở khu vực phía Bắc

Thực hiện Luật Giáo dục năm 2005 và chủ trương xã hội hoá giáo dục, những năm gần đây nhiều trường đại học dân lập, đại học vùng đã được cấp phép thành lập trên toàn quốc, phần nào đã đáp ứng được nhu cầu của người học, giảm

Trang 9

tải bớt cho các trường công lập nhưng cũng đặt ra sự cạnh tranh, thách thức cho các trường về cách thức quản lý cũng như chất lượng giảng dạy phải không ngừng được nâng cao Từ những lý do trên đang đặt ra yêu cầu cấp thiết đối với người làm công tác quản lý giáo dục phải tổng kết, đúc rút kinh nghiệm, tìm ra các biện pháp đồng

bộ, mang tính khả thi

Để nâng cao chất lượng đào tạo ở trường đại học Kiến trúc Hà Nội, cùng với việc đổi mới, hoàn thiện chương trình nội dung đào tạo, đổi mới phương pháp đào tạo thì khâu đánh giá kết quả học tập của sinh viên là một khâu rất quan trọng trong công tác đào tạo ở bậc đại học Đánh giá không chỉ nhằm đánh giá năng lực, trình

độ nhận thức của sinh viên mà còn tạo ra động lực thúc đẩy cả quá trình dạy và học Thông qua công tác đánh giá, sinh viên sẽ tự điều chỉnh phương pháp học của mình còn giáo viên dựa vào kết quả đánh giá, phân loại được sinh viên và điều chỉnh phương pháp giảng dạy cho các khóa học sau Tuy nhiên hiện nay ở hầu hết các cơ

sở giáo dục, việc đánh giá vẫn chưa được nghiên cứu một cách đúng mức, giáo viên phần nhiều chưa nhận thức được hết tầm quan trọng từ kết quả kiểm tra đánh giá của sinh viên, do đó chưa đánh giá hết năng lực của người học Trải qua mấy chục năm, quan niệm, hiểu biết, cách đánh giá của cán bộ quản lý giáo dục và giáo viên ít thay đổi, chủ yếu là làm theo kinh nghiệm và thói quen Cách đánh giá còn phiến diện, đơn điệu, đôi khi còn chủ quan thiếu chính xác, chưa đánh giá hết được mục tiêu đề ra, còn mang tính nể nang và cho điểm theo cảm tính Vì vậy khâu đánh giá

chất lượng đào tạo vẫn chưa phản ánh thực chất và còn nhiều vấn đề bất cập Đặc

biệt là với sinh viên hệ Vừa làm vừa học Do đặc thù học viên tham gia học hệ đào tạo này chủ yếu là những cán bộ đang công tác tại các cơ quan Nhà nước hoặc trong các doanh nghiệp, họ chưa được đào tạo một cách hoàn chỉnh theo yêu cầu của công việc đang đảm nhận, mà trong thực tiễn còn rất nhiều trường hợp cán bộ đương chức chưa được đào tạo cơ bản, hay đã được đào tạo nhưng ở trình độ còn thấp, chưa cập nhật với công việc đang đảm nhận hoặc đã được đào tạo nhưng phân công lao động còn trái ngành trái nghề, dẫn đến tình trạng năng suất lao động và hiệu quả công tác thấp Việc nâng cao năng lực quản lý và chuyên môn là gắn liền với phát

Trang 10

kiện cho tất cả các đối tượng đều có thể tham gia học tập và hoàn chỉnh kiến thức

Chính vì vậy, em chọn đề tài “Biện pháp quản lý hoạt động đánh giá kết quả học tập của sinh viên hệ Vừa làm vừa học tại Trường đại học Kiến trúc Hà Nội.” để làm luận văn cho khóa học, với mong muốn góp phần nhất định vào việc quản lý nhằm nâng cao chất lượng đào tạo và quản lý đào tạo của Trường với yêu cầu phát triển của xã hội và phù hợp với đối tượng học tập

2 Mục đích nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu, đề xuất một số biện pháp quản lý hoạt động đánh giá kết quả học tập của sinh viên hệ Vừa làm vừa học tại Trường đại học Kiến trúc Hà Nội

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu cơ sở lý luận về đánh giá và quản lý hoạt động đánh giá kết quả học tập của sinh viên hệ vừa làm vừa học

- Khảo sát, đánh giá thực trạng hoạt động đánh giá và Quản lý hoạt động đánh giá kết quả học tập của sinh viên hệ Vừa làm vừa học tại Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội

- Đề xuất một số biện pháp quản lý cho hoạt động đánh giá kết quả học tập của sinh viên hệ Vừa làm vừa học tại Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội

4 Đối tượng và khách thể nghiên cứu

4.1 Khách thể nghiên cứu: Hoạt động đánh giá kết quả học tập và Quản lý hoạt

động đánh giá kết quả học tập của sinh viên hệ Vừa làm vừa học tại Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội

4.2 Đối tượng nghiên cứu: Các phòng ban, khoa và các nhân sự liên quan đến việc

tìm hiểu thực trạng quản lý hoạt động đánh giá kết quả học tập của sinh viên hệ Vừa làm vừa học tại Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội

5 Giả thuyết khoa học

Nếu quản lý hoạt động đánh giá kết quả học tập của sinh viên hệ vừa làm vừa học của Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội tập trung vào một số biện pháp được

đề xuất trong luận văn thì có thể nâng cao hiệu quả đánh giá trong quá trình dạy học, làm nâng cao chất lượng đào tạo ở Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội

Trang 11

6 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi về không gian: Luận văn chỉ nghiên cứu hoạt động quản lý đánh giá kết quả học tập của sinh viên hệ Vừa làm vừa học tại địa điểm Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội

Phạm vi thời gian: Khảo sát và sử dụng số liệu trong vòng 4 năm (từ năm

2008 đếnnăm 2011)

Phạm vi nội dung nghiên cứu: Biện pháp quản lý hoạt động đánh giá kết quả học tập của sinh viên hệ Vừa làm vừa học tại Trường đại học Kiến trúc Hà Nội

7 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu lý luận: gồm các phương pháp phân tích, tổng hợp và xử

lý số liệu Kế thừa các nghiên cứu đã có

- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:

+ Phát phiếu điều tra: Tiến hành nghiên cứu với số lượng khoảng 200 phiếu điều tra dành cho các đối tượng là cán bộ quản lý, cán bộ giáo viên đang trực tiếp đứng lớp, sinh viên đang theo học hệ Vừa làm vừa học tại Trường từ khoá học 2008 đến 2011 + Phỏng vấn: Dự kiến phỏng vấn đối với một số đối tượng là cán bộ quản lý, chuyên viên phòng đào tạo, khảo thí và kiểm định chất lượng, thư ký khoa Tại chức

và một số cán bộ giảng dạy

- Phương pháp thống kê: Xử lý các số liệu thu được từ khảo sát thực tế

- Viết báo cáo tổng kết đánh giá, so sánh và đề xuất

8 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn được trình bày trong ba chương

Chương 1 Cơ sở lý luận về đánh giá và quản lý hoạt động đánh giá kết quả

học tập của sinh viên

Chương 2 Thực trạng hoạt động đánh giá và quản lý hoạt động đánh giá kết

quả học tập của sinh viên hệ Vừa làm vừa học tại Trường đại học Kiến trúc Hà Nội

Chương 3 Các biện pháp quản lý hoạt động đánh giá kết quả học tập của

sinh viên hệ Vừa làm vừa học tại Trường đại học Kiến trúc Hà Nội

Trang 12

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÁNH GIÁ VÀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG

ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN 1.1 Lịch sử nghiên cứu

1.1.1 Trên thế giới

Một trong những người đầu tiên đưa ra khái niệm đánh giá giáo dục là Ralph Tyler, ông sử dụng thuật ngữ đánh giá để biểu thị quy trình đánh giá sự tiến bộ của người học theo các mục tiêu đạt được Ông thầy rằng quy trình này rất quan trọng trong việc cung cấp thông tin để đạt được các mục tiêu và độ chính xác, hiệu quả trong quá trình học tập Tyler đưa ra sơ đồ thể hiện 3 yếu tố chính trong quá trình giáo dục là: mục tiêu, kinh nghiệm học tập và đánh giá người học Đó là:

Các mục tiêu

Sơ đồ 1.1:Trình bày quá trình giáo dục theo Tyler

Đây là sơ đồ đa chiểu, được đánh dấu bằng mũi tên hai chiều để nối các thành phần với nhau Bắt đầu từ mục tiêu chỉ dẫn cho việc chọn lựa các kinh nghiệm học tập Từ mục tiêu là điểm chú ý đầu tiên của đánh giá, là tập trung vào các bằng chứng mở rộng của mục tiêu cần đạt được Từ kinh nghiệm học tập đến đánh giá người học chính là kinh nghiệm học tập, là các minh chứng cho việc đánh giá

Từ đánh giá người học đến mục tiêu cho biết những thông tin mà mục tiêu cần đạt tới, đồng thời nó cũng cung cấp những thông tin có giá trị để hình thành hoặc xóa bỏ một số mục tiêu Từ đánh giá người học tới kinh nghiệm học tập đưa ra hai thông tin quan trọng Thứ nhất, chỉ có hoạt động đánh giá mới cung cấp thông tin để biết được kinh nghiệm học tập là tốt hay không tốt, có những thông tin cần

Trang 13

chỉnh sửa hay loại bỏ Thứ hai, các nhiệm vụ, các bài tập và các vấn đề nảy sinh do các chuyên gia đánh giá đưa ra có thể là đề xuất cho các kinh nghiệm học tập mới Cuối cùng từ kinh nghiệm học tập tới mục tiêu là biểu thị các hoạt động học tập có thể là nơi giao nhau giữa giáo viên, người học và tài liệu học tập để tạo nên các mục tiêu mới

Mục tiêu của chương trình giáo dục yêu cầu người học đạt được một hệ thống các kiến thức kỹ năng và có thể vận dụng vào cuộc sống Theo Tyler, đánh giá người học trong quá trình giáo dục là cần thiết, vì nó liên quan đến việc kiểm tra

mức độ tối đa có thể đạt được các mục tiêu chương trình

Quan điểm của Tyler về vai trò của đánh giá trong giáo dục đã đóng góp một giá trị đáng kể cho những người phát triển chương trình và đánh giá giáo dục, ông

đã tạo ra nền tảng cho tư duy và thực hành đánh giá lúc bấy giờ Theo ông đánh giá

là xem xét khả năng đạt được của người học về mục tiêu chương trình Ông đã cho

ra đời sơ đồ hợp lý của mình, đây là một bước nhảy có ảnh hưởng cho các thuyết sau này

Thời kỳ những năm 60 đánh giá giáo dục đã có sự phát triển rộng Nhiều mô hình đánh giá được đưa ra Năm 1966, mô hình CIPP của L.D Stufflebean được hình thành dựa trên sự kết hợp của đánh giá bối cảnh (Context), đánh giá đầu vào (Input), đánh giá quá trình (Process), đánh giá kết quả (Product) Năm 1967, M Scriven đã đưa ra mô hình đánh giá không theo mục tiêu (Goal Free) Tiếp theo là

sự ra đời của mô hình đáp ứng câu hỏi (Responsive) do R.E Stake khởi xướng…

Đến những năm 70 và 80 của thế kỷ trước, kiểm tra đánh giá đã có các tiêu chí, công cụ, chương trình đánh giá có sự hỗ trợ của kỹ thuật Kiểm tra đánh giá được coi chính là sự học tập và được xác định bởi 8 khả năng, đó là khả năng thu thập thông tin, phân tích, giải quyết vấn đề, nhận biết về giá trị, tác động đến xã hội, đáp ứng môi trường toàn cầu, làm việc hiệu quả và trách nhiệm công dân, đáp ứng

về phương tiện thẩm mỹ Merchers và Lehnmann (1975) cho rằng kiểm tra đánh giá

là giải thích và miêu tả thành tích học tập của sinh viên

Năm 1971, B.S.Bloom cùng George F.Madaus và J.Thomas Hastings cho ra

Trang 14

Cuốn sách này dành cho giáo viên, viết về kỹ thuật đánh giá kết quả học tập của học sinh Nếu được áp dụng đúng cách, việc đánh giá học sinh sẽ giúp giáo viên hỗ trợ học sinh cải thiện khả năng học tập Cuốn sách thông qua việc liên kết các kỹ thuật đánh giá tốt nhất, nhằm hỗ trợ các giáo viên sử dụng đánh giá như một công cụ để cải tiến cả quy trình dạy và học

Từ năm 1985 đến nay kiểm tra đánh giá được coi là chương trình rèn luyện

kỹ năng hoạt động Tại một số trường đại học của Mỹ đã nghiên cứu và đưa ra 8 kỹ năng tư duy sáng tạo và giải quyết vấn đề Đó là kỹ năng viết, kỹ năng nói và giao tiếp, kỹ năng phân tích số lượng, kỹ năng sử dụng máy tính, kỹ năng sử dụng thư viện - thí nghiệm và kỹ năng thông tin và kỹ năng nhận thức và phán định giá trị Chương trình kiểm tra đánh giá này tổ chức việc học tập và hành động theo khả năng cá biệt và sinh viên luôn ý thức về sự tự đánh giá mình Nhiều trường đã thành lập cơ quan đánh giá sinh viên nhằm giúp các bộ môn khoa học của trường thiết kế, phân tích những số liệu đánh giá kết quả Nhìn chung kiểm tra đánh giá đều có mục đích chung cho người dạy và người học đó là:

- Vì sự tiến bộ và phát triển của sinh viên

- Vì sự công bằng đòi hỏi thiết yếu khi xem xét hệ thống các giá trị xã hội

- Quy luật phân bổ tự nhiên được thừa nhận trong các lĩnh vực khoa học tự nhiên,

xã hội và nhân văn

- Đánh giá sinh viên phải căn cứ vào nguồn trợ giúp học về tài liệu, chương trình giảng viên và hoàn cảnh xã hội của sinh viên

Những năm sau này, khoa học đánh giá ngày càng phát triển ở cả lý thuyết

và thực hành Để đánh giá chất lượng giáo dục, người ta thường tập trung đánh giá kết quả học tập của học sinh Phương pháp, kỹ thuật đánh giá ngày một phát triển hơn Các lý thuyết về đo lường đánh giá giáo dục phát triển, người ta sử dụng phương pháp phân tích định tính và định lượng kết quả học tập của học sinh

Đặc biệt, cuốn tài liệu của UNESCO viết về đánh giá giáo dục trong đó có bàn đến công tác đánh giá kết quả học tập của học sinh tại Việt Nam, mang tên: “ Monitoring Educational Achievement” (Giám sát thành tích giáo dục) (2004 Paris Unesco) Mục tiêu của tài liệu này là để giải thích ý nghĩa của khái niệm “giám sát

Trang 15

thành tích giáo dục”, chỉ ra khái niệm thành tích đã được mô tả trong các nghiên cứu chọn lọc cấp quốc gia và quốc tế như thế nào

Ngoài ra, có nhiều tài liệu bàn về phương pháp, kỹ thuật tiến hành đánh giá kết quả học tập của học sinh cấp quốc gia và quốc tế Ở một số nước phát triển, người ta đã đạt được sự công bằng trong đánh giá thành tích học tập của học sinh, sinh viên và đang tiếp tục nghiên cứu để đánh giá sự phát triển của người học

1.1.2 Tại Việt Nam

Giai đoạn trước năm 2007: Bộ Giáo dục & Đào tạo đã có những quy định về đánh giá kết quả học học tập, nhưng trong những quy định này vẫn còn thiếu tính hệ thống Do vậy, việc kiểm tra- đánh giá ở các Trường đại học vẫn còn thiếu khoa học

và tồn tại nhiều bất cập Hoạt động đánh giá tại các trường chủ yếu xuất phát từ kinh nghiệm và truyền thống kiểm tra đánh giá trước đó Việc ra đề thi cũng từ những giáo viên trực tiếp giảng dạy Các giảng viên vẫn chưa được đào tạo về phương pháp và kỹ thuật đánh giá cho nên vẫn thực hiện theo kinh nghiệm Kết quả đánh giá vẫn chỉ dừng lại ở xếp loại sinh viên nên chưa phát huy hết giá trị

Giai đoạn từ năm 2007 đến nay: Bộ Giáo dục & Đào tạo đã ban hành quy chế 43/2007 về đào tạo đại học và cao đẳng hệ chính quy theo hệ thống tín chỉ Quy chế này có khác với quy chế 25, là kỳ thi phụ sẽ được tổ chức nếu có điều kiện, và cách tính điểm đánh giá bộ phận và điểm học phần Với quy định của quy chế này thì kết quả học tập của mỗi học phần sẽ có ít nhất 2 thành phần: đó là điểm quá trình

và điểm thi kết thúc học phần Quyết định số 36/2007/QĐ-BGD&ĐT ngày 28/6/2007 của Bộ Trưởng Bộ Giáo dục & Đào tạo về việc ban hành Quy chế đào tạo đại học và cao đẳng hình thức vừa làm vừa học thay thế Quyết định số 3676/GD-ĐT ngày 9/12/1994 của Bộ Trưởng Bộ Giáo dục & Đào tạo Ban hành quy chế về thi, kiểm tra học phần, xét cấp chứng chỉ đại học đại cương, thi và công nhận tốt nghiệp cho hệ đại học, cao đẳng tại chức ở các trường đại học, cao đẳng

Trong thời gian qua, ở trong nước đã có nhiều công trình của một số tác giả nghiên cứu về vấn đề đánh giá chất lượng giáo dục nói chung và đánh giá kết quả học tập của học sinh nói riêng Xuất hiện một số tài liệu dịch, một số bài báo đề cập

Trang 16

- Tác giả Hoàng Đức Nhuận và Lê Đức Phúc, hai ông đã thực hiện công trình nghiên cứu khoa học công nghệ cấp Nhà nước và cho xuất bản cuốn sách “Cơ sở lý luận của việc đánh giá chất lượng học tập của học sinh phổ thông” (3/1995) Tài liệu này làm nền tảng cho việc tiếp cận các khái niệm, các thuật ngữ về đánh giá giáo dục cũng như những yêu cầu về nội dung và kỹ thuật đánh giá

- Năm 1995, tác giả Dương Thiệu Tống cho xuất bản cuốn “Trắc nghiệm và

đo lường thành quả học tập”, tái bản năm 2005 Cuốn tài liệu đã mô tả hệ thống khái niệm về đo lường thành quả học tập, các nguyên lý đo lường, các nguyên tắc viết các câu hỏi trắc nghiệm, tổ chức thi và chấm thi Cuốn sách này là một đóng góp rất lớn cho giáo dục Việt Nam về phần đánh giá định lượng kết quả học tập của học sinh

Bên cạnh đó có một số tài liệu nghiên cứu về đo lường đánh giá giáo dục bằng phương pháp định lượng, được sử dụng giảng dạy trong trường đại học và có tính ứng dụng thực tiễn, đó là các cuốn tài liệu của tác giả:

- Nguyễn Đức Chính Đo lường và đánh giá trong giáo dục và dạy học, Tập bài giảng 2011

- Nguyễn Đức Chính Đánh giá thực trạng kết quả học tập trong giáo dục đại học

và đào tạo nguồn nhân lực

http://www.hids.hochiminhcity.gov.vn/hoithao/VNHOC

- Lâm Quang Thiệp, Đo lường và đánh giá trong giáo dục, 2003

- Đặng Bá Lãm, Kiểm tra đánh giá trong dạy học đại học, Nhà xuất bản Giáo dục,

Hà Nội 2003

- Nguyễn Đức Chính- Đinh Thị Kim Thoa, Kiểm tra đánh giá theo mục tiêu, tập

bài giảng, Khoa Sư phạm, Hà nội 2005

Các cuốn tài liệu này đã hệ thống hóa được lý thuyết về đo lường đánh giá trong giáo dục và các phương pháp, kỹ thuật thực hiện các vấn đề về đo lường đánh giá trong giáo dục nói chung và đo lường đánh giá kết quả học tập của người học nói riêng Từ đó giúp cho các nhà quản lý, các thầy cô giáo và học sinh hiểu về những khái niệm, xác định được vị trí, vai trò, chức năng của đánh giá trong quá trình dạy học Xác định được mục tiêu giảng dạy môn học, phân biệt và sử dụng các

Trang 17

phương pháp và vận dụng các mô hình đánh giá một cách hợp lý, khoa học Để từ

đó lập được kế hoạch kiểm tra đánh giá cho cả môn học từ khi bắt đầu đến khi kết thúc môn học

Ngoài ra, một số công trình, đề tài nghiên cứu khoa học, bài báo, một số luận

án nghiên cứu sinh có đề cập đến vấn đề đánh giá chất lượng giáo dục, đánh giá kết quả học tập của sinh viên, học sinh như:

- Luận án của nghiên cứu sinh Lê Thị Mỹ Hà, Xây dựng quy trình đánh giá kết quả

học tập của học sinh trung học cơ sở năm 2011

- Cấn Thị Thanh Hương – Vương Thị Phương Thảo, Nghiên cứu đổi mới phương

thức tổ chức kiểm tra đánh giá kết quả học tập bậc đại học”, Đại học quốc gia

9/2008

- Nguyễn Đức Vũ, Một số giải pháp nâng cao hiệu quả kiểm tra- đánh giá ở đại

học”, Huế 2005

- Ngô Thị Kim Dung, Đổi mới công tác Kiểm tra- đánh giá tại Trường đại học Kiến

trúc Hà Nội phù hợp với phương thức đào tạo theo tín chỉ, Đề tài nghiên cứu khoa

Hà Nội.” được tác giả lựa chọn và nghiên cứu với các số liệu được điều tra, thu thập để

làm luận văn cho khóa học, với mong muốn góp phần nhất định vào việc quản lý nhằm nâng cao chất lượng đào tạo và quản lý đào tạo của Trường với yêu cầu phát triển của

xã hội và phù hợp với đối tượng học tập trong giai đoạn hiện nay

1.2 Một số khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài nghiên cứu

1.2.1 Quản lý

1.2.1.1 Khái niệm

Khoa học quản lý xuất hiện cùng với sự phát triển của xã hội loài người Nó

là phạm trù tồn tại khách quan, được ra đời một cách tất yếu do nhu cầu của mọi

Trang 18

Lao động quản lý là một lĩnh vực lao động trí tuệ và thực tiễn phức tạp nhất của con người, nhằm điều khiển lao động, thúc đẩy xã hội phát triển trên tất cả các bình diện, khoa học quản lý gắn liền với tiến trình phát triển của xã hội loài người, mang tính lịch sử, giai cấp, dân tộc, thời đại Quản lý là một khoa học sử dụng tri thức của nhiều môn khoa học xã hội, đồng thời quản lý còn là một nghệ thuật đòi hỏi sự khôn khéo và tinh tế để đạt được mục đích Chính vì vậy người ta có thể tiếp nhận khái niệm quản lý theo nhiều cách khác nhau Những quan niệm này phản ánh những mặt, những chức năng cơ bản của quá trình quản lý, song về cơ bản các quan niệm đều khẳng định đến chủ thể, đối tượng quản lý, nội dung, phương thức và mục đích của quá trình quản lý

Theo từ điển tiếng Việt thông dụng, Nhà xuất bản Giáo dục, 1998, thuật ngữ

quản lý được định nghĩa là: “Tổ chức, điều khiển hoạt động của một đơn vị, cơ

quan”

Theo C.Marx: “Quản lý là lao động điều khiển lao động” Ông đã coi việc

xuất hiện quản lý như là kết quả tất nhiên của sự chuyển nhiều quá trình lao động cá biệt, tản mạn, độc lập với nhau thành một quá trình xã hội được phối hợp lại C

Mác đã viết: “ Bất cứ lao động hay lao động chung nào mà tiến hành trên một quy

mô khá lớn, đều yêu cầu phải có sự chỉ đạo để điều hoà những hoạt động cá nhân…Một nhạc sỹ độc tấu thì điều khiển lấy mình, nhưng một dàn nhạc thì phải có nhạc trưởng”

Theo Frederick Winslow Taylor (1856-1915) “Quản lý là biết được chính xác

điều bạn muốn người khác làm, và sau đó hiểu được rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất” Theo ông có 4 nguyên tắc quản lý khoa học:

1 Nghiên cứu một cách khoa học mỗi yếu tố của một công việc và xác định phương pháp tốt nhất để hoàn thành;

2 Tuyển chọn người và huấn luyện họ hoàn thành nhiệm vụ bằng phương pháp khoa học;

3 Người quản lý phải hợp tác đầy đủ, toàn diện với người bị quản lý để đảm bảo chắc chắn rằng họ làm theo phương pháp đúng đắn;

4 Có sự phân công trách nhiệm rõ ràng giữa người quản lý và người bị quản lý

Trang 19

Theo tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc thì: “Hoạt động quản

lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý)- trong một tổ chức- nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức”

Còn theo H Fayol (1841-1925) xuất phát từ nghiên cứu các loại hình hoạt

động quản lý và phân biệt thành 5 chức năng cơ bản: “ kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ

huy, phối hợp và kiểm tra” sau này kết hợp lại thành 4 chức năng cơ bản của quản

lý: kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra Theo nghiên cứu của mình ông đã đưa ra

14 nguyên tắc trong quản lý là: Phân công lao động, quyền hạn, kỷ luật, thống nhất chỉ huy, thống nhất chỉ đạo, quyền lợi cá nhân phải phục tùng quyền lợi chung, tiền lương xứng đáng, tập trung hoá, sợi dây quyền hạn, trật tự, bình đẳng, ổn định đội ngũ, sáng kiến và tinh thần đồng đội…

Qua một số các khái niệm trên ta thấy quản lý có những đặc trưng cơ bản sau:

Quản lý bao giờ cũng được cấu thành bởi hai thành tố đó là chủ thể và khách thể quản lý Chủ thể và khách thể quản lý có mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau, chủ thể làm nảy sinh các tác động quản lý, còn khách thể làm nảy sinh các giá trị vật chất và tinh thần, có giá trị sử dụng trực tiếp đáp ứng nhu cầu của con người, thoả mãn mục đích của chủ thể quản lý Dưới các cách tiếp cận khác nhau thì thuật ngữ quản lý được hiểu theo các khía cạnh đó Mặc dù vậy hiểu theo một cách khái quát thì quản lý là hoạt động có mục đích của con người

Tóm lại:“Quản lý là hoạt động có ý thức của con người nhằm định hướng, tổ

chức, sử dụng các nguồn lực và phối hợp hành động của một nhóm người hay một cộng đồng người để đạt được các mục tiêu đề ra một cách hiệu quả nhất”

1.2.1.2 Chức năng của Quản lý

Quá trình quản lý diễn ra các hoạt động cụ thể của chủ thể quản lý với sự tham gia tích cực của các thành viên trong tổ chức với 4 chức năng quản lý chủ yếu,

cơ bản, đó là: kế hoạch hoá (planning), tổ chức (organizing), chỉ đạo - lãnh đạo (leading) và kiểm tra (controlling)

a Kế hoạch hoá (planning): Ba nội dung chủ yếu của chức năng kế hoạch hoá đó là

Trang 20

bảo (có tính chắc chắn, có tính cam kết) về các nguồn lực của tổ chức để đạt được các mục tiêu này và quyết định xem những hoạt động nào là cần thiết để đạt được các mục tiêu đó

b Tổ chức (organizing): Chức năng này là quá trình hình thành nên cấu trúc các

quan hệ giữa các thành viên, giữa các bộ phận trong một tổ chức nhằm làm cho họ thực hiện thành công các kế hoạch và đạt được mục tiêu đề ra của tổ chức

c Chỉ đạo - lãnh đạo (leading): Các nhà quản lý phải lãnh đạo có hiệu quả, họ phải

có kỹ năng giao việc cho từng người, từng bộ phận để bao hàm việc liên kết, liên hệ với người khác và động viên họ hoàn thành tốt nhất những nhiệm vụ nhất định để đạt được mục tiêu của tổ chức

d Kiểm tra (controlling): Đối với hoạt động quản lý thì chức năng kiểm tra đánh

giá là khâu quan trọng, then chốt giúp nhà quản lý đánh giá được kết quả thực hiện mục tiêu kế hoạch trên cơ sở so sánh với các tiêu chuẩn theo quy định Mặt khác kiểm tra đánh giá cũng giúp cho các nhà quản lý phát hiện được những hạn chế của

hệ thống để kịp thời điều chỉnh hoạt động và trong những trường hợp cần thiết có thể phải điều chỉnh cả mục tiêu để thông qua việc điều chỉnh kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo để hoạt động quản lý đạt được mục tiêu quản lý

Trong 4 chức năng của quản lý thì chức năng lập kế hoạch là nền tảng, còn chức năng tổ chức giữ vai trò quan trọng nhất Các chức năng này luôn có mối liên

hệ mất thiết với nhau và được thể hiện bằng sơ đồ

Sơ đồ 1.2 Mối quan hệ giữa các chức năng của quản lý

Kế hoạch hoá

Kiểm tra

Tổ chức

Chỉ đạo - Lãnh đạo

Trang 21

1.2.2 Biện pháp quản lý

Theo đại từ Tiếng Việt (1999) do tác giả Nguyễn Như Ý chủ biên thì biện

pháp là: “ Cách làm, cách tiến hành, giải quyết một vấn đề cụ thể”

Biện pháp quản lý là tổ hợp nhiều cách thức tác động của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm tác động đến đối tượng quản lý để giải quyết những vấn đề trong công tác quản lý, làm cho hệ quản lý vận hành đạt mục tiêu mà chủ thể quản

lý đã đề ra và phù hợp với quy luật khách quan, nâng cao khả năng hoàn thành có kết qủa các mục tiêu đặt ra Biện pháp quản lý đòi hỏi sự tác động tương hỗ, biện chứng giữa chủ thể và khách thể quản lý

Có 4 loại biện pháp quản lý cơ bản là: Biện pháp hành chính tổ chức, biện pháp tâm lý- giáo dục, biện pháp thuyết phục và biện pháp kinh tế

Biện pháp hành chính tổ chức: là các tác động trực tiếp của chủ thể quản lý

đến đối tượng quản lý trên cơ sở quan hệ tổ chức và quyền lực hành chính bằng mệnh lệnh, chỉ thị, quyết định

Biện pháp tâm lý - giáo dục: (biện pháp tuyên truyền giáo dục) là cách tác

động của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý dựa trên cơ sở vận dụng các quy luật tâm lý ứng dụng thành tựu các khoa học như tâm lý học, khoa học giáo dục…nhằm khai thác tiềm năng con người, kích thích ý thức tự giác, lòng say mê,

sự sáng tạo của con người trong mọi hoạt động của tổ chức

Biện pháp thuyết phục: là cách tác động của chủ thể quản lý đến đối tượng

quản lý dựa trên cơ sở lý lẽ làm cho họ nhận thức đúng đắn và tự nguyện thừa nhận các yêu cầu của nhà quản lý từ đó có thái độ và hành vi phù hợp với yêu cầu

Biện pháp kinh tế: là các tác động của chủ thể quản lý đến đối tượng quản

lý dựa trên cơ sở thuyết động lực kinh tế với luận điểm: lợi ích kinh tế sẽ tạo nên động lực thúc đẩy con người tích cực hoạt động mà không cần sự can thiệp trực tiếp

về mặt hành chính của cấp trên

Tóm lại: biện pháp quản lý là tổng thể cách thức tác động của chủ thể quản

lý lên đối tượng quản lý, trong quá trình tiến hành các hoạt động nhằm đạt được mục đích đề ra

Trang 22

Các biện pháp quản lý rất đa dạng, đòi hỏi nhà quản lý phải biết lựa chọn và

sử dụng linh hoạt, sáng tạo để xử lý các tình huống trong từng trường hợp cụ thể giúp hoạt động quản lý đạt hiệu quả tối ưu Đó cũng chính là nghệ thuật quản lý

1.2.3 Đánh giá

Đánh giá là một quá trình có hệ thống bao gồm việc thu thập, phân tích, giải thích thông tin nhằm xác định mức độ người học đạt được các mục tiêu dạy học

Bất kỳ một quá trình giáo dục nào tác động lên một con người cũng nhằm tạo

ra những biến đổi nhất định trong đối tượng đó Muốn biết những biến đổi đó xảy ra

ở mức độ nào phải đánh giá hành vi của đối tượng trong một tình huống nhất định

Sự đánh giá cho phép chúng ta xác định, một là mục tiêu giáo dục được đặt ra có phù hợp hay không và có đạt được mục tiêu hay không, hai là việc giảng dạy có thành công hay không, người học có tiến bộ hay không

Theo tác giả Nguyễn Đức Chính thì thuật ngữ đánh giá được định nghĩa:

“Đánh giá là quá trình thu thập và xử lý thông tin một cách có hệ thống nhằm xác

định mục tiêu đã và đang đạt được ở mức độ nào”

Hoặc “ Đánh giá là quá trình thu thập thông tin và dữ liệu một cách hệ thống

về năng lực và phẩm chất của người học và sử dụng các thông tin đó đưa ra quyết định về người học dạy học trong tương lai”

Theo tác giả Trần Bá Hoành “ Đánh giá là quá trình hình thành những nhận

định, phán đoán về kết quả của công việc dựa vào việc phân tích những thông tin thu được, đối chiếu với những mục tiêu, tiêu chuẩn đã đề ra nhằm đề xuất những quyết định thích hợp để cải thiện thực trạng, điều chỉnh, nâng cao chất lượng và hiệu quả công việc”

Trong giáo dục thì: “ Đánh giá là quá trình thu thập thông tin và dữ liệu một

cách có hệ thống nhằm mục đích giúp người học hoạch định chính sách lựa chọn một phương pháp khả thi để tiến hành công việc giáo dục của mình”

Kiểm tra đánh giá kết quả học tập là sự so sánh, đối chiếu kiến thức, kỹ năng, thái độ thực tế đạt được ở người học với các kết qủa mong đợi đã xác định trong mục tiêu dạy học để tìm hiểu và chuẩn đoán trước và trong quá trình dạy -học hoặc sau một quá trình học tập (đánh giá kết thúc)

Trang 23

Đánh giá giáo dục vừa là một lĩnh vực nghiên cứu khoa học quản lý giáo dục, vừa là một công cụ hữu hiệu của quản lý giáo dục nhằm phán đoán giá trị của

sự nghiệp giáo dục để điều chỉnh, kiểm nghiệm trình độ phát triển của sự nghiệp giáo dục và cải tiến để giáo dục ngày càng đáp ứng tốt hơn nhu cầu của cộng đồng

xã hội

Như vậy, đánh giá trong giáo dục là sự xem xét, so sánh độ tương thích giữa những thông tin thu thập được về quá trình giáo dục với chuẩn mực, tiêu chuẩn tương ứng nhằm đưa ra những quyết định về người học và việc tổ chức quá trình dạy học, tạo điều kiện thúc đẩy quá trình học tập

1.2.3.1 Chức năng của đánh giá trong quá trình dạy học

Đánh giá trong quá trình dạy học có các chức năng định hướng, đôn đốc, kích thích tạo động lực và sàng lọc, lựa chọn cho học sinh, cụ thể như sau:

* Chức năng định hướng: Đánh giá giáo dục tiến hành trên cơ sở mục tiêu

giáo dục, nó tiến hành phán đoán độ sai lệch giữa hiện trạng thực tế và mục tiêu đề ra trước đó, làm cho khoảng cách ngày càng ngắn hơn Chính vì vậy kiểm tra đánh giá là cái đích để người dạy hướng dẫn người học cùng vươn tới, hơn nữa kiểm tra đánh giá giúp nhà trường lập kế hoạch dạy và học để cùng hướng tới việc đạt mục tiêu

* Chức năng đôn đốc, kích thích tạo động lực: Thông qua kết quả đánh

giá, có thể kích thích tinh thần học tập hăng say của người học Các kết quả sau mỗi bài kiểm tra, sẽ cho học sinh biết được mức độ nắm kiến thức của bản thân và để họ

có hướng phấn đấu tiếp theo Với những học sinh giỏi, kết quả học tập tốt sẽ động viên, kích thích các em hăng say học tập, còn đối với những học sinh yếu, kết quả học tập sẽ là một minh chứng thôi thúc các em cố gắng vươn lên Như vậy sẽ tạo ra một môi trường cạnh tranh lành mạnh giữa các đối tượng đánh giá

* Chức năng sàng lọc, lựa chọn: Trong quá trình giảng dạy, người giáo

viên phải tiến hành lựa chọn, sàng lọc, phân loại học sinh Giáo viên có thể dựa trên kết quả kiểm tra đánh giá để làm cơ sở cho việc phân loại học sinh Từ kết quả phân loại học sinh, người giáo viên sẽ áp dụng những phương pháp giảng dạy khác nhau cho từng đối tượng học sinh cụ thể, điều đó sẽ nâng cao hiệu quả của hoạt động

Trang 24

1.2.3.2 Nguyên tắc của đánh giá

Để đảm bảo chất lượng của hoạt động đánh giá nói chung và đánh giá kết quả học tập nói riêng, thì quy trình đánh giá phải đáp ứng được các nguyên tắc sau:

* Tính quy chuẩn: Đánh giá, dù theo bất kỳ hình thức nào cũng đều nhằm

mục tiêu phát triển hoạt động dạy và học, đồng thời phải đảm bảo lợi ích cho người được đánh giá phát triển Vì vậy, hoạt động đánh giá cần tuân theo những chuẩn mực nhất định, và phải được ghi rõ trong văn bản quy định hoạt động kiểm tra đánh giá Phải được công khai đối với người được đánh giá.Việc kiểm tra, đánh giá phải được xác định rõ về mặt nội dung cũng như cách thức, thời điểm thực hiện, có như thế mới tránh được sự tùy tiện, ngẫu hứng trong quá trình đánh giá, kết quả mới đảm bảo tính công bằng Hoạt động kiểm tra đánh giá phải trả lời được nhưng câu hỏi sau:

1 Mục tiêu của kiểm tra đánh giá?

2 Nội dung kiểm tra đánh giá?

3 Tiêu chuẩn, tiêu chí kiểm tra đánh giá?

4 Kiểm tra đánh giá bằng phương pháp nào, phương tiện nào?

5 Ai kiểm tra đánh giá?

6 Thời điểm kiểm tra đánh giá?

7 Địa điểm kiểm tra đánh giá?

8 Quyền lợi và trách nhiệm của người được kiểm tra đánh giá?

9 Tính pháp lý của việc kiểm tra đánh giá?

* Tính khách quan: Trong quá trình kiểm tra đánh giá thì tính khách quan

là nguyên tắc đầu tiên và tiên quyết, bởi vì phải đảm bảo được tính khách quan thì

kết quả của đánh giá mới có độ tin cậy cao Việc kiểm tra đánh giá khách quan có tác dụng kích thích động cơ và tính tích cực học tập của người học Ngược lại, nếu kết quả đánh giá thiếu khách quan sẽ nảy sinh các tác động xấu đến tâm lý của người học Tính khách quan của hoạt động kiểm tra đánh giá phụ thuộc vào phẩm chất, năng lực nghiệp vụ của người đánh giá, phụ thuộc vào tính quy chuẩn của việc đánh giá, vào quan điểm, phương pháp và phương tiện đánh giá

Trang 25

Việc vi phạm tính khách quan trong hoạt động kiểm tra đánh giá do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan, trong đó lý do chủ quan cần được hạn chế một cách triệt để Đảm bảo tính khách quan trong kiểm tra đánh giá không chỉ là yêu cầu tự thân của quá trình đánh giá, mà còn góp phần tạo nên các yếu tố tâm lý tích cực đối với đối tượng được đánh giá, qua đó thúc đẩy việc phát huy sức sáng tạo của họ

* Tính toàn diện: Tính toàn diện ở đây được hiểu là đầy đủ các mặt, các

khía cạnh về kiến thức, kỹ năng cần đạt được của quá trình giáo dục được quy định bởi mục tiêu giáo dục Mỗi bài thi, bài kiểm tra đều có trọng tâm kiến thức nhất định Tuy nhiên, yêu cầu toàn diện trong kiểm tra đánh giá là cần thiết Trong giáo dục, đánh giá toàn diện không chỉ xét về mặt số lượng mà còn xét về mặt chất lượng, không chỉ quan trọng về kiến thức mà còn xét đến kỹ năng, thái độ

* Tính hệ thống: Quá trình kiểm tra đánh giá cần được thực hiện theo kế

hoạch, có hệ thống, Kiểm tra theo kế hoạch và hệ thống giúp thu thập thông tin cần thiết một cách chính xác và đầy đủ cho việc đánh giá khách quan, toàn diện Ngoài

ra, với lượng thông tin đầy đủ chúng ta sẽ có cơ sở chắc chắn để thực hiện việc điều chỉnh hoạt động giáo dục Do đó, chúng ta cần thực hiện kết hợp các hình thức kiểm tra đánh giá thường xuyên với đánh giá định kỳ Số lần và hình thức kiểm tra đánh giá cần phù hợp và đảm bảo cho việc đánh giá kết quả học tập của học sinh

* Tính xác nhận và phát triển: là việc kiểm tra đánh giá phải khẳng định

được hiện trạng của nội dung cần đánh giá so với mục tiêu đánh giá (về mặt định tính và định lượng) và nguyên nhân của hiện trạng đó, dựa trên những tư liệu khoa học chính xác và các lập luận xác đáng Tuy nhiên, giáo dục có bản chất nhân đạo

và phát triển nên việc kiểm tra đánh giá cũng phải mang tính nhân đạo và phát triển Tức là phải đảm bảo chức năng phát triển của đánh giá, giúp cho người học không chỉ nhận ra hiện trạng cái mình đạt được (chức năng xác nhận) mà còn có niềm tin vào khả năng của mình trong việc tiếp tục phát triển hoặc khắc phục những điểm không phù hợp

Theo Stuffebean và Guber, 5 nguyên tắc chung trong đánh giá kết quả học

Trang 26

1 Đánh giá là một quá trình tiến hành một cách có hệ thống để xác định phạm vi đạt được của các mục tiêu đã đạt được đề ra Vì vậy điều tiên quyết là phải xác định rõ mục tiêu đánh giá là gì?

2 Quy trình và công cụ đánh giá phải được lựa chọn theo mục tiêu đánh giá

3 Để đánh giá cần phải có nhiều công cụ và biện pháp tiến hành đồng thời

để có giá trị tổng hợp

4 Biết những hạn chế của từng công cụ đánh giá để sử dụng cho đúng

5 Đánh giá chỉ là phương tiện đi đến mục đích chứ không phải bản thân nó

là mục đích

1.2.4 Đánh giá kết quả học tập

1.2.4.1 Các cách hiểu về đánh giá kết quả học tập

Theo tác giả Nguyễn Đức Chính, 2005 “Kết quả học tập là mức độ kiến thức,

kỹ năng hay nhận thức của người học trong một lĩnh vực nào đó (môn học) Chỉ có bài kiểm tra (trắc nghiệm) kết quả học tập là có thể đo lường một cách trực tiếp những gì người ta thiết kế để đo”

Kết quả học tập hay thành tích học tập được hiểu theo nghĩa giống nhau, mặc

dù những khái niệm này chưa thực sự thống nhất Kết quả học tập thể hiện chất lượng của quá trình dạy học Kết quả học tập chỉ đích thực xuất hiện khi có nhiều biến đổi tích cực trong nhận thức, hành vi của người học Trong khoa học cũng như trong thực tế, kết quả học tập được hiểu theo hai nghĩa:

- Mức độ mà người học đạt được so với các mục tiêu đã xác định (theo tiêu chí)

- Mức độ mà người học đạt được so với các đối tượng cùng học khác (theo tiêu chuẩn)

Theo Trần Kiểu: “Dù hiểu theo nghĩa nào thì kết quả học tập cũng đều thể

hiện ở mức độ đạt được các mục tiêu của dạy học, trong đó bao gồm 3 mục tiêu lớn là: nhận thức, hành động, xúc cảm Với từng môn học thì các mục tiêu trên được cụ thể hóa thành các mục tiêu về kiến thức, kỹ năng và thái độ”

Theo Phạm Minh Hạc: “Sự học tập, hiểu theo nghĩa rộng, có thể xem như là mọi hoạt động làm gia tăng giá trị trong con người, vừa thông qua hệ thống trường lớp, vừa bằng mọi biện pháp khác như tự học, tự thể nghiệm, tự rút kinh nghiệm…

Trang 27

Một quan niệm mới về sự học, được trình bày như sau: Học là một quá trình

trong đó chủ thể tự biến đổi mình, tự làm phong phú mình bằng cách thu lượm và

xử lý thông tin, từ môi trường sống xung quanh mình

Với quan niệm như trên về sự học, vai trò của người thầy sẽ có những nhân

tố hỗ trợ, hướng dẫn, trọng tài, cố vấn cho sự phát huy cao độ tính năng động chủ quan của người học; quan hệ giữa dạy và học mang tính hợp tác hơn là mang tính quyền uy của người thầy đối với trò”

Theo Thông tư số 51/2011/TT-BGDĐT ngày 3/11/2011 của Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định về Đánh giá định kỳ quốc gia kết quả học tập của học sinh trong các cơ sở giáo dục phổ thông đã đưa ra quan niệm về kết quả học tập như sau: “Kết quả học tập” là mức độ đạt được của học sinh về kiến thức, kỹ năng, năng lực so với mục tiêu được quy định trong chương trình giáo dục phổ thông

Về lý thuyết, kết quả học tập không hoàn toàn đồng nhất với những yếu tố nội dung học tập mà nhà trường thường đánh giá theo quy định của chương trình giáo dục hay theo mục tiêu giáo dục đã đề ra Nó rộng hơn và phong phú hơn khối lượng và mức độ tri thức, kỹ năng, hành vi biểu cảm và vận động mà người học đạt được nhờ học tập Kết quả học tập thực sự bao hàm cả những giá trị xã hội (nhất là

kỹ năng xã hội), mức độ tăng trưởng thể chất và trí tuệ, sự phát triển lý trí, tình cảm, nhu cầu và hành vi đạo đức.v.v Nhưng đó là những yếu tố khó định lượng khi đánh giá vì chúng không đơn thuần phản ánh tác dụng của học tập

Do đó, có thể hiểu kết quả học tập theo nghĩa là những gì có thể đánh giá được và vẫn được đánh giá trong giáo dục nhà trường hiện nay

Tóm lại: Dù được hiểu theo nghĩa nào thì kết quả học tập cũng đều thể hiện ở mức độ đạt được của các mục tiêu dạy học và kết quả học tập của người học, là thước đo của quá trình đào tạo Do đó để đánh giá được chính xác kết quả học tập của người học là điều vô cùng cần thiết

1.2.4.2 Đánh giá kết quả học tập

Trong cuốn “Cơ sở lý luận của việc đánh giá chất lượng học tập của học sinh phổ thông” của tác giả Hoàng Đức Nhuận và Lê Đức Phúc “Đánh giá kết quả học

Trang 28

học tập của học sinh, về tác động và nguyên nhân của tình hình đó nhằm tạo cơ sở cho những quyết định sư phạm của giáo viên và nhà trương, cho bản thân học sinh

để họ học tập ngày một tiến bộ hơn”

Theo Trần Kiều: “có thể coi đánh giá kết quả học tập của học sinh là xác định mức độ đạt được về kiến thức, kỹ năng và thái độ của người học đối chiếu với mục tiêu của chương trình môn học”

Theo Đỗ Công Tuất, “việc đánh giá kết quả học tập của học sinh nhằm các mục đích sau:

- Làm sáng tỏ mức độ đạt được và chưa đạt được về các mục tiêu dạy học, tình trạng kiến thức, kỹ năng, thái độ của học sinh so với yêu cầu của chương trình; phát hiện những sai sót và nguyên nhân dẫn tới những sai sót đó, giúp học sinh điều chỉnh hoạt động học tập của mình

- Công khai hóa các nhận định về năng lực, kết quả học tập của mỗi em học sinh và cả tập thể lớp, tạo cơ hội cho các em có kỹ năng tự đánh giá, giúp các em nhận ra sự tiến bộ của mình, khuyến khích, động viên và thúc đẩy việc học tập ngày một tốt hơn

- Giúp giáo viên có cơ sở thực tế để nhận ra những điểm mạnh, điểm yếu của mình, tự điều chỉnh, hoàn thiện hoạt động dạy, phấn đấu không ngừng nâng cao chất lượng và hiệu quả dạy học

Do đó việc đánh giá kết quả học tập của học sinh nhằm:

+ Nhận định thực trạng, định hướng điều chỉnh hoạt động học tập của học sinh + Tạo điều kiện nhận định thực trạng, định hướng điều chỉnh hoạt động giảng dạy của giáo viên

Trên thế giới hiện nay, có 4 xu hướng đánh giá kết quả học tập của học sinh,

cụ thể:

1 Đánh giá kết quả học tập dựa trên thang đo nhận thức của B Bloom

B.Bloom và các cộng sự phân chia mục tiêu giáo dục thành 6 cấp độ của lĩnh vực nhận thức, 5 cấp độ trong lĩnh vực kỹ năng và 5 cấp độ trong lĩnh vực tình cảm- thái độ Từ những năm 60 của thế kỷ 20, các nhà khoa học về đánh giá giáo dục đã

sử dụng thang đo Bloom ở lĩnh vực nhận thức để thiết kế các đề kiểm tra đánh giá

Trang 29

kết quả học tập của học sinh Việc sử dụng thang đánh giá của Bloom thịnh hành trong suốt những năm 60 đến những năm cuối thế kỷ 20 Thang đo của Bloom chú trọng đến

đo các mức độ đạt được mục tiêu giáo dục ở khả năng nhận thức của học sinh

6 cấp độ nhận thức của thang Bloom gồm:

2 Đánh giá kết quả học tập sử dụng thang đo Các cấp độ tư duy (Thinking levels)

Vào những năm 80 của thế kỷ 20, khi khoa học đánh giá phát triển thì giáo

sư người Ba Lan Boleslaw Niemierko đã đưa ra thang đánh giá Các cấp độ tư duy (Thinking levels) gồm 4 mức độ để đánh giá kết quả học tập của học sinh Cách đánh giá này nhanh chóng được chấp nhận và sử dụng rộng rãi ở các nước phát triển, để thiết

kế các đề thi của giáo viên và các đề thi tiêu chuẩn hóa Thang đo này chú trọng đến các cấp độ tư duy của học sinh, phát huy khả năng sáng tạo của học sinh

4 cấp độ của thang đo Thinking levels

+ Nhận biết

+ Thông hiểu

+ Vận dụng cấp độ thấp

+ Vận dụng cấp độ cao

3 Đánh giá kết quả học tập của PISA-OECD

Chương trình đánh giá học sinh quốc tế gọi tắt là PISA do tổ chức hợp tác

và phát triển kinh tế OECD khởi xướng và chỉ đạo, kỳ thi đầu tiên của PISA là vào năm 2000 Cách đánh giá của PISA nhanh chóng thu hút được sự quan tâm của nhiều nước trên thế giới và ngày càng trở nên thịnh hành Thang đo PISA chú trọng đến khả năng vận dụng kiến thức đã học vào xử lý, giải quyết các tình huống thực tiễn

Trang 30

Thang đánh giá PISA gồm 3 cấp độ sau:

+ Nhận biết/Thu thập thông tin

+ Kết nối và tích hợp/Phân tích, lý giải

+ Phản hồi và đánh giá

4 Đánh giá kết quả học tập của học sinh theo Stiggins:

Stiggins là giáo sư người Mỹ nghiên cứu chuyên sâu về đánh giá học sinh trên lớp học và đánh giá tiêu chuẩn hóa quy mô lớn Ông là người có tư tưởng nổi bật hiện nay, có ảnh hưởng mạnh mẽ đến các nhà khoa học đánh giá giáo dục hiện

đại Stiggins đã phân loại 5 nhóm mục tiêu học tập cụ thể để đánh giá kết quả học

tập của học sinh dựa theo 5 nhóm mục tiêu này, đó là:

có cơ sở để xếp hạng, phê chuẩn hay phân loại thành tựu học tập của người học, đưa

ra các giải pháp điều chỉnh phương pháp dạy của thầy và phương pháp học của trò, đưa ra các khuyến nghị góp phần thay đổi các chính sách giáo dục”

1.2.5 Đánh giá kết quả học tập của sinh viên

Trong khung cảnh của Trường đại học, người ta phân ra 2 loại đánh giá kết quả học tập:

Trang 31

+ Đánh giá hình thành (còn được gọi là đánh giá thường xuyên): Là đánh giá mức

độ hình thành khả năng trong quá trình học tập và tạo ra động lực phát triển sinh viên trong quá trình đó Đây là loại hình kiểm tra, đánh giá từng bước một cách chính thức hoặc không chính thức, “đi kèm” với quá trình hình thành kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo và thái độ ở người học, cung cấp những thông tin phản hồi nhanh để kịp thời hỗ trợ, bổ sung ở mỗi giai đoạn cần thiết trong suốt quá trình học tập Kiểm tra, đánh giá hình thành được thực hiện thường xuyên trong quá trình dạy học và định kỳ cuối mỗi chương, phần hoặc cuối học kỳ, cuối năm học

Tác dụng chính của loại hình đánh giá này là:

- Do có nhiều lần kiểm tra nên sai sót trong một giai đoạn được hỗ trợ, bổ sung kịp thời, đảm bảo cho người học đạt được kết quả học tập chung cuối cùng

- Loại bỏ được những lo âu, căng thẳng trong một lần thi cuối khóa duy nhất

- Thúc đầy người học nỗ lực học tập thường xuyên trong cả khóa

- Giáo viên có cơ sở để từ đó điều chỉnh phương pháp dạy học cho phù hợp với sinh viên

- Bổ sung những thiếu hụt của tài liệu

Đánh giá sự hình thành là đánh giá từng bước một cách chính thức để cung cấp số liệu chứng minh sự mạnh yếu và quyết định làm gì cho phù hợp với chương trình, tăng cường năng lực của sinh viên tiếp cận với sự thay đổi liên tục

+ Đánh giá tổng kết: là đánh giá để phán định giá trị của sản phẩm hoàn chỉnh Người ta còn gọi là đánh giá vĩ mô Được thực hiện vào cuối môn học lý thuyết, thực hành hoặc một mô- đun vào cuối khóa học

- Dựa vào mục tiêu học tập của môn học hoặc mô- đun và mục tiêu đào tạo của khóa học

- Phải kiểm định được toàn bộ mục tiêu đã đặt ra, phản ánh đúng năng lực thực

sự của người học

- Nếu thực hiện việc đánh giá một cách thường xuyên trong suốt cả khóa học thì

đánh giá kết thúc trở nên nhẹ nhàng hơn

Trang 32

1.2.5.1 Các hình thức đánh giá

Để kiểm tra- đánh giá kết quả học tập của sinh viên, người ta thường áp dụng các dạng kiểm tra như: thường xuyên, định kỳ và cuối kỳ với các hình thức chủ yếu là:

a Tự luận: Đặt câu hỏi yêu cầu người học trình bày kiến thức hoặc ý kiến của mình

về vấn đề được đưa ra Hình thức kiểm tra đánh giá này rất phổ biến và có từ lâu đời Thường được dùng để đánh giá chất lượng đầu vào, trong quá trình học tập và đầu ra của sinh viên

Hình thức đánh giá này là dạng bài thi, kiểm tra trong đó sinh viên được tự viết câu hỏi ra giấy bằng việc kết hợp giữa các năng lực cảm thụ của bản thân với giáo trình, sách giáo khoa hoặc tài liệu tham khảo Dựa vào các câu hỏi trả lời của sinh viên trên bài thi, kiểm tra, giáo viên cho điểm hoặc xác định các mức độ kết quả bài thi dưới hai dạng:

+ Dạng thứ nhất bao gồm các câu hỏi mở, trong đó sinh viên được quyền tự do diễn đạt ý tưởng và kiến thức của mình

+ Dạng thứ hai là bài kiểm tra bao gồm câu hỏi tự luận giới hạn về phạm vi kiến thức Thường là những câu hỏi cụ thể, chi tiết mà người ra đề có thể khoanh vùng được câu trả lời của sinh viên

Ƣu điểm của hình thức kiểm tra tự luận:

+ Đo lường được các mục tiêu đã xác định trước, mất ít thời gian và dễ dàng trong khâu chuẩn bị

+ Đánh giá được thái độ và kiến thức của sinh viên

+ Tạo cơ hội cho sinh viên phát huy hết được khả năng suy nghĩ độc lập, sáng tạo

và bày tỏ được cảm xúc của bản thân

+ Hình thức này có thể sử dụng đồng thời cho nhiều sinh viên trong cùng một thời điểm

+ Có khả năng đo lường tốt ở mức độ hiểu, tổng hợp, đánh giá

Hạn chế của hình thức kiểm tra tự luận:

+ Khó đánh giá toàn diện mức độ nắm kiến thức của sinh viên, mà chỉ tập trung vào một số phần chính Do đó dễ dẫn đến tình trạng sinh viên học tủ, học đối phó

+ Tốn nhiều thời gian trong khâu rọc phách và chấm bài

Trang 33

+ Bị ảnh hưởng nhiều bởi yếu tố chủ quan từ phía người chấm nên khó đảm bảo tính khách quan trong đánh giá

b Trắc nghiệm khách quan (trắc nghiệm): là hình thức kiểm tra đưa ra một bảng

gồm nhiều câu hỏi yêu cầu người học lựa chọn hoặc điền câu trả lời hợp lý, thông thường gồm bốn phương án trả lời Trắc nghiệm thường được chia thành hai loại:

- Trắc nghiệm năng lực: là các trắc nghiệm do năng lực nhận thức của cá nhân như trắc nghiệm trí tuệ, trắc nghiệm năng khiếu

- Trắc nghiệm thành quả học tập: là trắc nghiệm đánh giá tri thức, kinh nghiệm, kỹ năng, thái độ của người học trong học tập

Ƣu điểm của hình thức trắc nghiệm khách quan:

+ Đề thi, kiểm tra có thể bao quát toàn bộ kiến thức trong chương trình môn học, từ

đó có thể thẩm định mức độ hoàn thành các nhiệm vụ học tập của người học

+ Người soạn thảo bài thi trắc nghiệm có quyền tự do bộc lộ kiến thức và các giá trị của mình qua việc đặt câu hỏi

+ Việc chấm bài diễn ra nhanh hơn và đảm bảo tính khách quan hơn do ít bị phụ thuộc vào trạng thái chủ quan của người chấm

+ Việc áp dụng công nghệ tiên tiến trong khâu chấm bài sẽ tiết kiệm được rất nhiều thời gian, với tốc độ nhanh và chính xác

Hạn chế của trắc nghiệm khách quan:

+ Khó đánh giá chiều sâu trong nhận thức của sinh viên, đặc biệt là với những lĩnh vực đòi hỏi mang tính sáng tạo và khả năng sử dụng ngôn ngữ

+ Đội ngũ soạn thảo bài thi trắc nghiệm đòi hỏi phải có kỹ thuật và kinh nghiệm, tốn kém về thời gian và kinh phí trong xây dựng bài thi trắc nghiệm

+ Thí sinh trong khi làm bài trắc nghiệm khách quan nhiều khi là đoán mò và ăn may

c Vấn đáp: Yêu cầu người học trả lời miệng vấn đề được đưa ra trong một thời

gian ngắn Đây là phương thức đánh giá rất phổ biến trong dạy học (sinh viên có thể được chuẩn bị trước hoặc không được chuẩn bị trước câu hỏi) Căn cứ vào câu trả lời, giáo viên sẽ biết được mức độ hiểu bài, nắm được kiến thức của sinh viên

Trang 34

Ƣu điểm của hình thức kiểm tra vấn đáp:

+ Linh hoạt, cơ động, tạo cơ hội cho sinh viên gỡ điểm, nên có thể dùng để đánh giá

kiến thức đã được học và những kiến thức mới học của sinh viên

+ Kiểm tra được khả năng tư duy và mức độ ghi nhớ của sinh viên

+ Thông qua hình thức vấn đáp, giáo viên có điều kiện trao đổi trực tiếp với từng sinh viên, kích thích tư duy của họ từ đó có sự chuẩn đoán chính xác hơn đối với từng đối tượng sinh viên

Hạn chế của hình thức kiểm tra vấn đáp:

+ Phương pháp đánh giá này mang tính chất chủ quan của giáo viên vì cách đặt câu hỏi, nhận xét và đánh giá tức thời

+ Không thể đặt cùng một câu hỏi cho các sinh viên khác nhau nên khó so sánh giữa các sinh viên với nhau

+ Thời gian kiểm tra kéo dài nhất là đối với lớp học có đông sinh viên

+ Kết quả kiểm tra chưa thực sự chính xác đối với các sinh viên rụt rè, ngại tiếp xúc trước giáo viên

d Các hình thức khác: Thực hiện các bài tập lớn, đồ án, thuyết trình, viết tiểu

luận

1.2.5.2 Vị trí của kiểm tra- đánh giá

Xét trên quan điểm hệ thống, Quy trình đào tạo được xem như một hệ thống bao gồm các yếu tố: mục tiêu, nội dung, hình thức tổ chức dạy- học, phương pháp dạy của thày, phương pháp học của trò và cuối cùng là kiểm tra đánh giá kết quả của người học

Trang 35

Sơ đồ 1.3 Quy trình đào tạo

Từ sơ đồ trên cho ta thấy, các yếu tố tác động qua lại lẫn nhau theo một sơ

đồ cấu trúc nhất định Đó là từ phân tích nhu cầu của xã hội, trên cơ sở triết lý của nền giáo dục và các cơ sở khác (hệ) mục tiêu của cấp học, ngành học được xác định Đây là mốc cơ bản để thiết kế chương trình, lựa chọn và sắp xếp nội dung đào tạo

Hệ mục tiêu còn định hướng cho việc tìm ra các hình thức tổ chức dạy- học phù hợp trong đó người dạy và người học tìm được các phương pháp dạy- học tương ứng để đạt mục tiêu

Yêu cầu của xã hội

ĐỊNH HƯỚNG

ơ

Mục tiêu Khóa đào tạo

Nội dung đào tạo- các môn học

(Mục tiêu môn học, bài học) ĐỊNH HƯỚNG

Kiểm tra- đánh giá

Trang 36

Trong sơ đồ trên thì, kiểm tra- đánh giá là khâu cuối cùng và cũng là khâu quan trọng nhất bởi nó không chỉ cho ta biết quá trình đào tạo có đạt mục tiêu hay không, mà còn cung cấp các thông tin hữu ích để điều chỉnh toàn bộ các hoạt động xảy ra trước đó

1.2.5.3 Vai trò của đánh giá trong dạy đại học

Kiểm tra, đánh giá làm thay đổi nhận thức, nội dung, phương pháp hoạt động của sinh viên, giảng viên và Nhà trường:

- Kiểm tra, đánh giá thúc ép sinh viên phải học và họ tìm cách để đạt kết quả trong thi và kiểm tra Điều đó đã phần nào khuyến khích sự đua tranh trong học tập của sinh viên

- Kết quả thi, kiểm tra, đánh giá phần nào chỉ cho sinh viên những thiếu hụt giữa nhu cầu đào tạo và khả năng của bản thân

- Kết quả của kiểm tra, đánh giá giúp phát hiện những sinh viên giỏi trong quá trình đào tạo

- Giúp cho giảng viên có cơ sở để điều chỉnh nội dung, phương pháp giảng dạy và lên kế hoạch cho việc dạy tiếp theo và sinh viên tích luỹ kinh nghiệm trong học tập, kiểm tra và thi cử

- Kết qủa của kiểm tra, đánh giá giúp cho Nhà trường tiến hành phân loại và quản lý sinh viên, bổ sung, hoàn thiện chương trình đào tạo, có chiến lược tổ chức giảng dạy đem lại chất lượng, hiệu quả cao hơn trong đào tạo

- Nếu xem chất lượng của quá trình dạy- học là sự “trùng khớp với mục tiêu” thì kiểm tra- đánh giá là cách tốt nhất để đánh giá chất lượng của quy trình đào tạo

1.2.5.4 Mục đích của việc đánh giá kết quả học tập của sinh viên

Trong giáo dục đại học, việc đánh giá được tiến hành ở nhiều cấp độ khác nhau, đối tượng, phương pháp và mục đích cũng khác nhau Nhưng nhìn chung thì mục đích của đánh giá thường là: Làm sáng tỏ mức độ đạt được và chưa đạt được

về các mục tiêu dạy học, tình trạng kiến thức, kỹ năng, thái độ của người học đối với yêu cầu của chương trình, cụ thể là:

- Đánh giá chất lượng học tập, phân loại sinh viên

- Giúp giảng viên nắm bắt được hiệu quả của quá trình dạy học

Trang 37

- Cung cấp thông tin phản hồi, xác định tính hiệu quả của chương trình học, chương trình đào tạo và phương pháp quản lý

1.2.5.5 Yêu cầu của đánh giá thông qua kiểm tra

Đánh giá phải tập trung vào sự hiểu bài là chính, phải thông qua việc vận dụng kiến thức đã học vào việc làm các loại bài tập, giải quyết các tình huống mới dựa trên các kỹ năng phân tích, tổng hợp , của sinh viên chứ không chỉ dựa vào sự tái nhận hay tái hiện

Đánh giá phải nhằm khuyến khích việc học tập của sinh viên Ngoài chức năng cho điểm và xếp loại sinh viên, cần quan tâm đến chức năng khuyến khích, tạo động lực cho việc học tập của sinh viên, hướng việc học của sinh viên vào các hoạt động học tập tích cực, tránh việc học vì điểm số

Đánh giá phải phù hợp với đối tượng, nhưng vẫn không ngoài những kiến thức và nội dung trọng tâm của môn học

Các tiêu chí đánh giá cần được công khai hóa và sau mỗi lần đánh giá phải được thông báo cho sinh viên biết đáp án, thang điểm để họ có thể tự đánh giá bản thân trước

Thông tin phản hồi cho sinh viên: Sau mỗi bài kiểm tra cần tập trung lưu ý cho sinh viên những điều sinh viên làm tốt, những sáng tạo trong bài làm và phân tích kỹ những sai sót để họ rút kinh nghiệm chung và có cơ hội cải tiến việc học tập của mình

Cho phép sinh viên tham gia vào quá trình đánh giá: sinh viên có thể tự cho điểm, sau đó là các bạn cùng lớp cho điểm và cuối cùng giáo viên sẽ cho điểm Việc cho phép sinh viên tham gia vào quá trình đánh giá như trên có đóng góp đáng kể cho sự thúc đẩy quá trình học tập, đặc biệt là cải tiến phương pháp học tập, ngoài ra

nó còn tạo cho sinh viên làm quen với cách đánh giá

1.3 Quản lý hoạt động đánh giá kết quả học tập

Quản lý kiểm tra đánh giá là hoạt động vô cùng quan trọng, bởi nó là yếu tố quyết định để đảm bảo chất lượng kiểm tra đánh giá Công tác quản lý kiểm tra đánh giá hiệu quả phải đảm bảo các yêu cầu sau:

Trang 38

- Có quy trình kiểm tra đánh giá phù hợp

- Tổ chức, chỉ đạo việc thực hiện kiểm tra đánh giá theo đúng quy trình

- Kiểm tra hoạt động kiểm tra đánh giá để có các điều chỉnh kịp thời để nâng cao chất lượng kiểm tra đánh giá

Chất lượng và hiệu quả dạy - học phụ thuộc vào nhiều yếu tố trước, trong và sau quá trình dạy- học Có thể nói rằng, qúa trình dạy- học sẽ đạt được kết quả tốt nếu người quản lý nhà trường và đội ngũ giáo viên nắm vững các quy luật vận động của quá trình dạy học và giải quyết tốt mối quan hệ biện chứng giữa các nhân tố cấu thành quá trình dạy -học như một chỉnh thể trọn vẹn Với vị trí là một khâu của quá trình dạy học, kiểm tra- đánh giá xác định mức độ đạt được mục tiêu của quá trình dạy học và góp phần trực tiếp thúc đẩy và hoàn thiện quá trình dạy học

1.3.1 Quản lý kế hoạch đánh giá

Cán bộ quản lý giáo dục từ cấp Bộ đến cấp Trường có thể quản lý được kế hoạch đánh giá kết quả học tập của học sinh thông qua việc theo dõi, đôn đốc công việc đánh giá kết quả học tập một cách có hệ thống, có căn cứ thường xuyên trong quá trình giám sát nên có thể nắm được hoạt động đánh giá của giáo viên Cán bộ quản lý thực hiện giám sát việc kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh thông qua lịch kiểm tra hàng tuần, hàng tháng, hay theo học kỳ Qua việc thực hiện đúng tiến độ kiểm tra theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo để điều chỉnh kịp thời và đúng đắn công tác quản lý chuyên môn và quản lý trường học Kết quả giám sát cung cấp cho các nhà quản lý những căn cứ để xác định hoạt động đánh giá đang diễn ra như thế nào, có đúng kế hoạch không, có tuân thủ các quy định không, có tác động tích cực đến quá trình học tập và giảng dạy không, có khách quan và chính xác không.v.v và những sai lệch cần phải khắc phục, những thiếu sót cần sửa chữa, những cải thiện cần tiếp tục được tiến hành để nâng cao chất lượng đánh giá, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục

Kế hoạch kiểm tra đánh giá được thực hiện ở các trường đại học đó chính là

hệ thống các biểu mẫu, thời điểm kiểm tra, nội dung kiểm tra và hình thức kiểm tra Cần phải chọn các phương pháp, hình thức kiểm tra phù hợp: các phương pháp kiểm tra đánh giá phải phù hợp với mục tiêu, không chỉ là mục tiêu của môn học mà

Trang 39

còn là mục tiêu của cả chương trình đào tạo, cho nên phải do nhà quản lý quyết định Việc chọn lựa và ra quyết định đúng phương pháp sẽ góp phần rất lớn cho sự thành công của việc đánh giá Kế hoạch phải được xây dựng cụ thể từ tổng thể đến

kế hoạch chi tiết, đảm bảo các bước sau:

Bước 1: Tổ chức khảo sát

Bước 2: Xây dựng bộ đề câu hỏi kiểm tra

Bước 3: Tổ chức thực hiện

Bước 4: Tổ chức chấm điểm, trả bài

Bước 5: Xử lý kết quả thi

Bước 6: Kiểm tra giám sát

Quản lý việc xác định mục tiêu làm cơ sở cho kiểm tra đánh giá: Kiểm tra đánh giá là một quá trình bắt đầu việc xác định mục tiêu, tức là xác định những gì người học cần biết, cần làm được sau khi kết thúc chương trình học, đối với nhà trường thì đó là mục tiêu đào tạo, với sinh viên thì đó là mục tiêu học tập và thực tế cho thấy quá trình dạy - học không thể tốt và thiếu cơ sở thu thập thông tin, dữ liệu cho đánh giá Việc đánh giá có thành công hay không cần có sự phù hợp giữa mục tiêu với công cụ kiểm tra đánh giá, giữa mục tiêu với phương pháp giảng dạy

Mục tiêu và kết quả học tập của sinh viên phải bao gồm bốn thành tố: kiến thức, năng lực nhận thức và tư duy, kỹ năng kỹ sảo được huấn luyện và thái độ đối với môn học, ngành học và với xã hội

1.3.2 Quản lý quá trình đánh giá

Là quá trình quản lý các công việc được triển khai theo kế hoạch: Bao gồm các công việc như xây dựng bộ đề câu hỏi kiểm tra, công tác tổ chức đánh giá và quá trình chấm điểm

Quản lý công tác xây dựng câu hỏi kiểm tra: Xây dựng câu hỏi kiểm tra đó là các

câu hỏi được ra để kiểm tra năng lực nhận thức của người học sau khi hoàn thành một chương trình học tập cụ thể, như bài kiểm tra giữa kỳ, bài tập lớn, đồ án, bài thu hoạch, và bài kiểm tra kết thúc môn học.v.v Trên cơ sở mục tiêu môn học, các nội dung cần được kiểm tra đánh giá Đề kiểm tra phải được xây dựng theo một ma trận nhất định và phải đảm bảo đạt được mục tiêu của môn học, phù hợp với đối

Trang 40

Tổ chức viết các câu hỏi kiểm tra cho nội dung môn học, thông qua các bậc nhận thức: Câu hỏi kiểm tra bậc 1, bậc 2 và bậc 3 Sau đó tổ chức nhóm lại thành đề kiểm tra hoàn chỉnh theo dàn bài kiểm tra để phê duyệt

Sau khi hoàn chỉnh một đề kiểm tra, cần được phân tích đề kiểm tra đó, theo các tiêu chí sau: Đảm bảo số câu cho các bậc nhận thức

Đảm bảo số câu cho các nội dung kiểm tra

Đảm bảo các nội dung trong dàn bài

Đảm bảo việc điều chỉnh phù hợp cho đối tượng kiểm tra

Đề kiểm tra phải được tổ chức phản biện và đánh giá, sau đó được bảo mật

và sao in để tổ chức thi

Quản lý công tác tổ chức đánh giá: Đó là công việc giám sát, kiểm tra việc thực

hiện kế hoạch kiểm tra đánh giá của giáo viên đối với từng lớp học, về thái độ tinh thần trách nhiệm của giáo viên trong công tác coi thi

Việc kiểm tra, giám sát của Ban Giám hiệu với công tác tổ chức đánh giá kết quả học tập là dựa theo lịch thi của các lớp Bằng phương pháp quan sát, các nhà quản lý giám sát việc thực hiện của giáo viên về công tác tổ chức thi theo kế hoạch của Trường, hình thức thi của các lớp có phù hợp với môn học không Chỉ đạo kiểm tra việc tổ chức coi thi có thực hiện theo quy chế thi không Giáo viên và sinh viên

có thực hiện nghiêm túc các quy chế tại phòng thi, Giám sát việc thu bài và nộp bài theo quy định

Quản lý công tác chấm điểm: Chấm điểm là công việc thường xuyên của

người giáo viên, là việc xác nhận ý kiến trả lời của sinh viên về câu hỏi được đặt ra theo một thang điểm nhất định Quản lý công tác chấm điểm tốt sẽ tránh được các hiện tượng tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích Bao gồm tổ chức giám sát việc

xử lý phách bài thi, quản lý chấm thi và xử lý kết quả thi, Bàn giao và lưu trữ các tài liệu liên quan

1.3.3 Quản lý việc sử dụng kết quả đánh giá

Báo cáo kết quả kiểm tra đánh giá phải chỉ ra được những điểm mạnh và những điểm yếu của người học, đồng thời chỉ ra được những ưu điểm và nhược điểm của các đối tượng liên quan như sinh viên, giáo viên và cán bộ quản lý

Ngày đăng: 16/03/2015, 18:19

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Giáo dục & Đào tạo. Quy chế đào tạo đại học và cao đẳng hình thức vừa làm vừa học, (Ban hành theo QĐ số 36/2007/QĐ-BGD ĐT ngày 28/6/2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy chế đào tạo đại học và cao đẳng hình thức vừa làm vừa học
2. Bộ Giáo dục & Đào tạo. Quy định về tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục trường Đại học, 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy định về tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục trường Đại học
5. Nguyễn Đức Chính. Đo lường và đánh giá trong giáo dục và dạy học, Tập bài giảng 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đo lường và đánh giá trong giáo dục và dạy học
6. Nguyễn Đức Chính. Đánh giá thực trạng kết quả học tập trong giáo dục đại học và đào tạo nguồn nhân lực. Lấy từ trang Web theo địa chỉ http://www.hids.hochiminhcity.gov.vn/hoithao/VNHOC Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá thực trạng kết quả học tập trong giáo dục đại học và đào tạo nguồn nhân lực
7. Nguyễn Quốc Chí - Nguyễn Thị Mỹ Lộc. Lý luận quản lý nhà trường, tài liệu giảng dạy cao học QLGD, Khoa Sư phạm- ĐHQGHN, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận quản lý nhà trường
8. Ngô Thị Kim Dung. Đổi mới công tác Kiểm tra- đánh giá tại Trường đại học Kiến trúc Hà Nội phù hợp với phương thức đào tạo theo tín chỉ, Đề tài NCKH cấp Trường 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới công tác Kiểm tra- đánh giá tại Trường đại học Kiến trúc Hà Nội phù hợp với phương thức đào tạo theo tín chỉ
9. Vũ Cao Đàm. Giáo trình phương pháp luận nghiên cứu khoa học (tái bản lần 2). Nhà xuất bản Giáo dục , 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình phương pháp luận nghiên cứu khoa học
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
10. Trần Khánh Đức. Giáo dục và phát triển nguồn nhân lực trong thể kỷ 21. NXB Giáo dục Việt Nam,2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục và phát triển nguồn nhân lực trong thể kỷ 21
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
11. Cấn Thị Thanh Hương -Vương Thị Phương Thảo. “Nghiên cứu đổi mới phương thức tổ chức kiểm tra đánh giá kết quả học tập bậc đại học”, Đề tài NCKH cấp trường ĐHQG 9/2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Nghiên cứu đổi mới phương thức tổ chức kiểm tra đánh giá kết quả học tập bậc đại học”, Đề tài
12. Phạm Minh Hạc. “Vấn đề con người trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa”, NXB Chính trị Quốc gia. 12/1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Vấn đề con người trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa”
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia. 12/1996
14. Hoàng Đức Nhuận, Lê Đức Phúc. Cơ sở lý luận của việc đánh giá chất lượng học tập của học sinh phổ thông. Chương trình khoa học cấp nhà nước KX-07-08, Hà Nội 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở lý luận của việc đánh giá chất lượng học tập của học sinh phổ thông
15. Trần Kiều (Chủ nhiệm đề tài trọng điểm cấp Bộ) “ Nghiên cứu xây dựng phương thức và một số bộ công cụ đánh giá chất lượng giáo dục phổ thông”, mã số B2003-49-45TD,Viện chiến lược và chương trình giáo dục. 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “ Nghiên cứu xây dựng phương thức và một số bộ công cụ đánh giá chất lượng giáo dục phổ thông”
16. Đặng Bá Lãm. Kiểm tra đánh giá trong dạy học đại học , NXB Giáo dục, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiểm tra đánh giá trong dạy học đại học
Nhà XB: NXB Giáo dục
17. Dương Thiệu Tống. Trắc nghiệm và đo lường thành quả học tập, Trường ĐH Tổng hợp TP Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trắc nghiệm và đo lường thành quả học tập
20. Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội. Báo cáo tự đánh giá, Tháng 6/2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tự đánh giá
21. Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội. Đề án phát triển Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội Giai đoạn 2012- 2015. Tháng 6/2012Tài liệu nước ngoài Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đề án phát triển Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội Giai đoạn 2012- 2015
22. Benjamin S. Bloom, George F. Madaus anh J. Thomas Hastings. Evaluation to Improve Learning, by McGraw-Hill Book Company, New York, (1971, 2th copyright 1981) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Evaluation to Improve Learning, by McGraw-Hill Book Company, New York
23. T.N Postlethwaite (2004). Monitoring Educational Achivement, Paris 2004; UNESCO: International Instute for Education Planning Sách, tạp chí
Tiêu đề: Monitoring Educational Achivement, Paris 2004
Tác giả: T.N Postlethwaite
Năm: 2004
3. Chiến lược phát triển giáo dục 2001- 2010. NXB Giáo dục, Hà Nội 2002 Khác
4. Luật Giáo dục. NXB Lao động- Xã hội. Hà Nội 2007. Tác giả, tác phẩm Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 1.3. Quy trình đào tạo - Biện pháp quản lý hoạt động đánh giá kết quả học tập của sinh viên hệ vừa làm vừa học tại trường Đại học Kiến trúc Hà Nội
Sơ đồ 1.3. Quy trình đào tạo (Trang 35)
Hình 2.1. Chỉ tiêu đào tạo Đại học hệ chính quy - Biện pháp quản lý hoạt động đánh giá kết quả học tập của sinh viên hệ vừa làm vừa học tại trường Đại học Kiến trúc Hà Nội
Hình 2.1. Chỉ tiêu đào tạo Đại học hệ chính quy (Trang 50)
Bảng 2.2. Quy mô đào tạo đại học hệ vừa làm vừa học (tính đến tháng 5/2012) - Biện pháp quản lý hoạt động đánh giá kết quả học tập của sinh viên hệ vừa làm vừa học tại trường Đại học Kiến trúc Hà Nội
Bảng 2.2. Quy mô đào tạo đại học hệ vừa làm vừa học (tính đến tháng 5/2012) (Trang 51)
Sơ đồ 2.1. Cơ cấu tổ chức hành chính của Trường Đại học Kiến trúc hiện nay - Biện pháp quản lý hoạt động đánh giá kết quả học tập của sinh viên hệ vừa làm vừa học tại trường Đại học Kiến trúc Hà Nội
Sơ đồ 2.1. Cơ cấu tổ chức hành chính của Trường Đại học Kiến trúc hiện nay (Trang 54)
Bảng 2.4. Đội ngũ cán bộ quản lý của Trường - Biện pháp quản lý hoạt động đánh giá kết quả học tập của sinh viên hệ vừa làm vừa học tại trường Đại học Kiến trúc Hà Nội
Bảng 2.4. Đội ngũ cán bộ quản lý của Trường (Trang 55)
Bảng 2.5. Hiện trạng đội ngũ cán bộ giảng dạy theo đơn vị Khoa, Trung Tâm - Biện pháp quản lý hoạt động đánh giá kết quả học tập của sinh viên hệ vừa làm vừa học tại trường Đại học Kiến trúc Hà Nội
Bảng 2.5. Hiện trạng đội ngũ cán bộ giảng dạy theo đơn vị Khoa, Trung Tâm (Trang 56)
Bảng 2.6.  Hiện trạng đội ngũ cán bộ viên chức khối quản lý - Biện pháp quản lý hoạt động đánh giá kết quả học tập của sinh viên hệ vừa làm vừa học tại trường Đại học Kiến trúc Hà Nội
Bảng 2.6. Hiện trạng đội ngũ cán bộ viên chức khối quản lý (Trang 58)
Bảng 2.7. Diện tích các khối làm việc - Biện pháp quản lý hoạt động đánh giá kết quả học tập của sinh viên hệ vừa làm vừa học tại trường Đại học Kiến trúc Hà Nội
Bảng 2.7. Diện tích các khối làm việc (Trang 59)
Hình 2.2. Vai trò của Kiểm tra đánh giá kết quả học tập - Biện pháp quản lý hoạt động đánh giá kết quả học tập của sinh viên hệ vừa làm vừa học tại trường Đại học Kiến trúc Hà Nội
Hình 2.2. Vai trò của Kiểm tra đánh giá kết quả học tập (Trang 62)
Hình 2.3. Hình thức kiểm tra đánh giá kết quả học tập - Biện pháp quản lý hoạt động đánh giá kết quả học tập của sinh viên hệ vừa làm vừa học tại trường Đại học Kiến trúc Hà Nội
Hình 2.3. Hình thức kiểm tra đánh giá kết quả học tập (Trang 64)
Hình 2.4. Kết quả bài kiểm tra, bài thi luôn tạo động lực cho sinh viên trong học tập - Biện pháp quản lý hoạt động đánh giá kết quả học tập của sinh viên hệ vừa làm vừa học tại trường Đại học Kiến trúc Hà Nội
Hình 2.4. Kết quả bài kiểm tra, bài thi luôn tạo động lực cho sinh viên trong học tập (Trang 66)
Hình 2.5. Quy trình kiểm tra đánh giá kết quả học tập của sinh viên - Biện pháp quản lý hoạt động đánh giá kết quả học tập của sinh viên hệ vừa làm vừa học tại trường Đại học Kiến trúc Hà Nội
Hình 2.5. Quy trình kiểm tra đánh giá kết quả học tập của sinh viên (Trang 69)
Sơ đồ 3.1 Các biện pháp quản lý hoạt động đánh giá kết quả học tập của sinh - Biện pháp quản lý hoạt động đánh giá kết quả học tập của sinh viên hệ vừa làm vừa học tại trường Đại học Kiến trúc Hà Nội
Sơ đồ 3.1 Các biện pháp quản lý hoạt động đánh giá kết quả học tập của sinh (Trang 82)
Hình thức kiểm tra đánh giá phải phù hợp với hình thức tổ chức dạy học của  từng bộ môn, và yêu cầu cần đạt được: Kiến thức hiểu biết, kỹ năng thực hành, kỹ năng  giao tiếp và xử lý tình huống - Biện pháp quản lý hoạt động đánh giá kết quả học tập của sinh viên hệ vừa làm vừa học tại trường Đại học Kiến trúc Hà Nội
Hình th ức kiểm tra đánh giá phải phù hợp với hình thức tổ chức dạy học của từng bộ môn, và yêu cầu cần đạt được: Kiến thức hiểu biết, kỹ năng thực hành, kỹ năng giao tiếp và xử lý tình huống (Trang 86)
Bảng 3.4.  Mẫu dàn bài các bài kiểm tra - Biện pháp quản lý hoạt động đánh giá kết quả học tập của sinh viên hệ vừa làm vừa học tại trường Đại học Kiến trúc Hà Nội
Bảng 3.4. Mẫu dàn bài các bài kiểm tra (Trang 88)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w