Trong Nghị quyết của Chính phủ số 14/2005/NQ-CP ngày 02/11/2005 về đổi mới cơ bản và toàn diện giáo dục đại học Việt Nam giai đoạn 2006-2020 lại nêu rõ “Xây dựng và thực hiện lộ trình ch
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
NGUYỄN THỊ NHÀI
QUẢN LÝ QUÁ TRÌNH ĐÀO TẠO NGÀNH KIẾN TRÚC CÔNG TRÌNH THEO PHƯƠNG THỨC TÍN CHỈ TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KIẾN TRÚC HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Chuyên ngành: QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Mã số: 60 14 05
Người hướng dẫn khoa học: GS TS NGUYỄN ĐỨC CHÍNH
HÀ NỘI – 2011
Trang 2DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT
Trang 3Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ ĐÀO TẠO THEO
1.3.7 Hình thức tổ chức dạy học trong học chế tín chỉ 19 1.3.8 Phương pháp kiểm tra, đánh giá trong học chế tín chỉ 21 1.3.9.Các ưu, nhược điểm của học chế tín chỉ và một số điều kiện để triển
khai đào tạo theo học chế tín chỉ trong các trường đại học ở Việt Nam 22
Trang 41.4 Chuyển đổi từ đào tạo niên chế sang đào tạo theo tín chỉ 27 1.4.1 Pha 1: Chuyển đổi Chương trình đào tạo (Môđun hoá); 27
1.4.3 Pha 3: Lớp môn học đầy đủ, tin học hoá toàn bộ quá trình đào tạo 32
1.5.1 Quản lý chuyển đổi Chương trình đào tạo sang tín chỉ 33
1.5.5 Quản lý kiểm tra, đánh giá trong học chế tín chỉ 36
Chương 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ ĐÀO TẠO
2.1.2 Về cơ sở vật chất, học liệu và thiết bị dạy học 41
2.3 Nét đặc thù trong đào tạo ngành Kiến trúc công trình 47 2.4 Thực trạng về đào tạo và quản lý đào tạo theo tín chỉ hiện nay của
Chương 3: QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO THEO
PHƯƠNG THỨC TÍN CHỈ NGÀNH KIẾN TRÚC CÔNG
3.2 Quản lý quá trình đào tạo theo phương thức tín chỉ 72
3.2.2 Tổ chức chuyển đổi chương trình từ đào tạo niên chế sang tín chỉ 77
Trang 53.2.4 Đa dạng hóa các hình thức tổ chức dạy học, phương pháp dạy học 86 3.2.5 Đổi mới phương thức kiểm tra, đánh giá theo học chế tín chỉ 93 3.3 Khảo nghiệm tính cần thiết và tính khả thi về quản lý quá trình
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Thế kỷ 21, thế kỷ của sự phát triển nhảy vọt của khoa học công nghệ, đặc biệt là thông tin và truyền thông Nhân loại đang trong thời kỳ quá độ sang kinh tế tri thức Trong xu thế đó, nguồn nhân lực đang trở thành động lực chủ yếu đảm bảo cho sự phát triển bền vững của đất nước Nền giáo dục đại học trên thế giới đang có những chuyển biến nhanh theo tốc độ biến đổi không ngừng của xu thế thời đại với những vận hội mới, thời cơ và thách thức mới Giáo dục đại học thế giới đã phát triển mạnh mẽ theo hướng: đại chúng hoá, thị trường hoá, đa dạng hoá và quốc tế hoá
Xuất phát từ đòi hỏi qui trình đào tạo phải tổ chức sao cho mỗi sinh viên
có thể tìm được cách học thích hợp nhất cho mình, đồng thời trường đại học phải nhanh chóng thích nghi và đáp ứng được những nhu cầu của thực tiễn cuộc sống, nhiều trường đại học tiên tiến trên thế giới đã triển khai áp dụng học chế tín chỉ Hiện nay, học chế tín chỉ được truyền bá nhanh chóng và áp dụng rộng rãi nhờ có hiệu quả đào tạo cao, có tính mềm dẻo và khả năng thích ứng cao và có hiệu quả cao về mặt quản lý, giảm giá thành đào tạo
Những xu thế mới này đặt ra cho giáo dục đại học Việt Nam một nhiệm vụ hết sức to lớn và cấp bách và được Đảng và Nhà nước xác định mục tiêu đến năm 2020: “Giáo dục Việt Nam phải đạt trình độ tiên tiến trong khu vực và tiếp cận trình độ tiên tiến trên thế giới, có năng lực cạnh tranh cao, thích ứng với cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” Bên cạnh đó, nhiệm vụ của giáo dục và đào tạo cũng được xác định rõ là
“Tiếp tục nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đổi mới nội dung, phương pháp dạy và học, hệ thống trường lớp và hệ thống quản lý giáo dục”, thực hiện “chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá v.v ”
Trang 7Đứng trước những thời cơ mới đó, giáo dục đại học nước ta đã từng buớc phát triển rõ rệt về quy mô, đa dạng về loại hình trường và hình thức đào tạo, nguồn lực xã hội được huy động nhiều hơn và đạt được nhiều kết quả tích cực, cung cấp nguồn nhân lực trình độ cao cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Trong những năm gần đây, Nhà nước đã chủ trương mở rộng áp dụng học chế tín chỉ trong hệ thống giáo dục đại học nước ta Trong Nghị quyết của Chính phủ số 14/2005/NQ-CP ngày 02/11/2005 về đổi mới cơ bản và toàn diện giáo dục đại học Việt Nam giai đoạn 2006-2020 lại nêu rõ “Xây dựng và thực hiện lộ trình chuyển sang chế
độ đào tạo theo hệ thống tín chỉ, tạo điều kiện thuận lợi để người học tích luỹ kiến thức, chuyển đổi ngành nghề, liên thông, chuyển tiếp tới các cấp học tiếp theo ở trong nước và nước ngoài” Từ năm 2005, lần đầu tiên, Bộ Giáo dục và Đào tạo chính thức chỉ đạo các trường đại học và cao đẳng chuyển đổi từ đào tạo niên chế sang đào tạo tín chỉ Đây được coi là một
“cuộc cách mạng” thay đổi “công nghệ đào tạo” tiên tiến
Nhằm thích ứng yêu cầu hội nhập và phát triển, năm 2008 Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội đã chính thức chuyển đổi hình thức đào tạo từ niên chế sang tín chỉ Trong kế hoạch chiến lược của Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội đến năm 2020 đã xác định:
- Xây dựng mô hình đào tạo tiên tiến, đảm bảo độc lập, tự chủ, vững vàng hội nhập, đáp ứng nhu cầu phát triển xã hội, ưu tiên phát huy thế mạnh truyền thống của Trường
- Xây dựng và phát triển một số mô hình đào tạo đạt chuẩn quốc tế, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao
- Tiếp tục thực hiện lộ trình đào tạo theo phương thức tín chỉ, quan tâm điều chỉnh chương trình đào tạo đảm bảo tính liên thông giữa các ngành, chuyên ngành đào tạo trong Trường, trong nước và quốc tế
Trang 8- Đổi mới công tác kiểm tra – đánh giá kết quả học tập của sinh viên, đảm bảo nghiêm túc, khách quan, chính xác, công bằng phù hợp với phương thức đào tạo tín chỉ
- Đẩy mạnh công tác đảm bảo chất lượng để từng bước hình thành văn hoá chất lượng Kiện toàn đơn vị chuyên trách làm công tác đảm bảo chất lượng trong Trường
Ngành Kiến trúc công trình là ngành đặc thù của Trường và được Nhà trường ưu tiên đặc biệt trong việc khẳng định vai trò, vị thế, thương hiệu của mình trong lĩnh vực kiến trúc trong nước, và hướng tới hội nhập khu vực và
quốc tế Vì vậy, tác giả đã lựa chọn đề tài “Quản lý quá trình đào tạo ngành
Kiến trúc công trình theo phương thức tín chỉ tại Trường Đại học Kiến trúc
Hà Nội” làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình
2 Lịch sử nghiên cứu
Vào năm 1872 Viện Đại học Harvard đã quyết định thay thế hệ thống chương chình đào tạo niên chế cứng nhắc bằng hệ thống chương trình mềm dẻo, cấu thành bởi các Môđun mà mỗi sinh viên có thể lựa chọn một cách rộng rãi Có thể xem sự kiện đó là điểm mốc khai sinh học chế tín chỉ
Đến đầu thế kỷ 20, hệ thống tín chỉ được áp dụng rộng rãi hầu như trong mọi trường đại học Hoa Kỳ Tiếp sau đó, nhiều nước lần lượt áp dụng
hệ thống tín chỉ trong toàn bộ hoặc một bộ phận của trường đại học của mình như: các nước Bắc Mỹ, Nhật Bản, Philippin, Đài Loan, Hàn Quốc, Thái Lan, Malaysia, Inđônêxia,… Tại Trung Quốc từ cuối thập kỷ 80 đến nay hệ thống tín chỉ cũng lần lượt được áp dụng ở nhiều trường đại học
Vào năm 1999, 29 Bộ trưởng đặc trách giáo dục đại học ở các nước
trong liên minh châu Âu đã ký tuyên ngôn Boglona nhằm hình thành Không
gian giáo dục đại học Châu Âu thống nhất vào năm 2010, một trong các nội
Trang 9dung quan trọng của tuyên ngôn đó là triển khai áp dụng học chế tín chỉ trong toàn hệ thống giáo dục đại học để tạo thuận lợi cho việc cơ động hoá, liên thông hoạt động học tập của sinh viên trong khu vực Châu Âu và trên toàn thế giới
Ở Việt Nam đã có nhiều trường áp dụng học chế tín chỉ từ trước năm
1975 như: Viện Đại học Cần Thơ, Viện Đại học Thủ Đức,… Đến thập niên
90, nhiều trường đại học đã áp dụng học chế này: Đại học Đà Lạt, Đại học Cần Thơ, Đại học Thuỷ sản Nha Trang, ĐHDL Thăng Long,… Với ưu điểm nổi bật của nó, hiện nay học chế tín chỉ đã được áp dụng rộng rãi trong các trường đại học với các sắc thái và mức độ khác nhau
Đào tạo theo tín chỉ đã và đang được quan tâm ở tất cả các nước trên thế giới
3 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở đánh giá thực trạng quản lý đào tạo và nghiên cứu lý luận quản lý đào tạo theo yêu cầu của phương thức đào tạo tín chỉ, đề xuất một số biện pháp quản lý chất lượng đào tạo theo phương thức tín chỉ đối với ngành Kiến trúc công trình tại Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu lý luận về quản lý đào tạo theo học chế tín chỉ
- Khảo sát thực trạng về quản lý đào tạo theo học chế tín chỉ ngành Kiến trúc công trình tại Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội
- Đề xuất giải pháp đổi mới quản lý quá trình đào tạo ngành Kiến trúc công trình tại Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội
Trang 105 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
- Khách thể nghiên cứu: Quá trình quản lý đào tạo tín chỉ ngành Kiến trúc công trình ở Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội
- Đối tượng nghiên cứu: Biện pháp quản lý chất lượng đào tạo theo phương thức tín chỉ đối với ngành Kiến trúc công trình ở Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội
6 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về nội dung: Quá trình đào tạo tín chỉ bao gồm nhiều nội dung phức tạp Luận văn chỉ giới hạn phạm vi nghiên cứu quản lý chất lượng đào tạo hệ tín chỉ ngành Kiến trúc công trình; qua đó, nâng cao chất lượng đào tạo hướng tới hội nhập quốc tế
- Phạm vi địa lý: Các nghiên cứu, khảo sát được tiến hành ở Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội
- Phạm vi thời gian: từ năm 2008 (năm Nhà trường bắt đầu triển khai đào tạo theo tín chỉ) đến nay
7 Giả thuyết khoa học
Thực hiện được “Quản lý chất lượng đào tạo hệ tín chỉ đối với ngành Kiến trúc công trình của Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội” sẽ góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả đào tạo và quản lý đào tạo của Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội
8 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu lý luận:
- Nghiên cứu tài liệu
- Phân tích tổng hợp
- Đánh giá
Trang 11Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
- Phỏng vấn
- Điều tra xã hội học (qua bảng hỏi)
Phương pháp chuyên gia
9 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, khuyến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn được trình bày trong 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận quản lý đào tạo theo phương thức tín chỉ Chương 2: Thực trạng đào tạo và công tác quản lý đào tạo theo phương thức tín chỉ tại Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội
Chương 3: Biện pháp quản lý chất lượng đào tạo theo phương thức tín chỉ ngành Kiến trúc công trình tại Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội
Trang 12Học chế tín chỉ được áp dụng đầu tiên lại đại học Havard vào năm
1872, sau đó được áp dụng và phát triển nhanh chóng ở nhiều nước trên thế giới Cùng với sự phát triển của phương thức đào tạo này, rất nhiều công trình nghiên cứu đã được công bố, nhiều cuốn sách về hệ thống tín chỉ và cách thức quản lý đào tạo theo hệ thống này đã được xuất bản
Tác giả C.James Quann của ĐH Quốc gia Washington đã định nghĩa các khái niệm Tín chỉ, Giờ tín chỉ, Chuyển đổi giờ tín chỉ trong tài liệu “The Academic Credit System” (về hệ thống tín chỉ học tập) Các định nghĩa này của Quann được sử dụng phổ biến trong các nghiên cứu của các tác giả Việt Nam hiện nay
Tài liệu “The Credibility of the Credit Hour: The History, Use and Shortcomings of the Credits System”, tác giả H.James đã trình bày tổng quan
về hệ thống tín chỉ với những khái niệm, quá trình triển khai đào tạo, các ưu nhược điểm của hệ thống, những điều kiện tiên quyết để đảm bảo cho sự chuyển đổi thành công và khả năng áp dụng hệ thống trong các nước đang phát triển, một số bài học rút ra từ kinh nghiệm của Mỹ và thế giới về hệ thống tín chỉ
Được nhiều nước quan tâm và áp dụng, học chế tín chỉ đã được nghiên cứu dưới nhiều phương diện khác nhau:
Năm 1998, tác giả Robert M.Diamond đã trình bày và phân tích các vấn
đề về xây dựng chương trình, chương trình môn học theo quan điểm lấy người
Trang 13học làm trung tâm; quan hệ giữa mục tiêu, môn học, chương trình và giảng dạy; thực thi, đánh giá và cải tiến chương trình giáo dục và chương trình môn học trong tài liệu “Xây dựng và đánh giá môn học và chương trình học”
Các tài liệu “Chương trình: những cơ sở, nguyên tắc và chính sách xây dựng” của Allan C.Ornstein và Francis P.Hunkins (1998); “Chương trình: các phương pháp tiếp cận và vấn đề đang tiếp diễn” của Collin J.Marsh và George Willis (2003); “Thiết kế môn học trong giáo dục đại học”, các tác giả đã tổng thuật khá toàn diện về: Các cơ sở xây dựng chương trình cùng hệ thống lý luận về chương trình; Phát triển chương trình giáo dục; Các chính sách và khuynh hướng phát triển chương trình
Ở Việt Nam, triển khai đào tạo theo HTTC trong các trường ĐH là một vấn đề đã được đề cập cách đây trên 20 năm nhưng gặp rất nhiều lúng túng trong cả khâu quản lý và triển khai Gần đây vấn đề về quản lý đào tạo theo HTTC và quá trình chuyển đổi sang học chế này được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm
Bộ Giáo dục & Đào tạo đã xuất bản cuốn “Về hệ thống tín chỉ học tập” năm 1994 [6] trên cơ sở tuyển dịch bốn tài liệu nước ngoài về HTTC với những kiến thức rất cơ bản và các kinh nghiệm quản lý đào tạo theo tín chỉ của một số nước Bộ và một số trường ĐH đã tổ chức rất nhiều các hội thảo lấy ý kiến đóng góp của các chuyên gia giáo dục về vấn đề này
Nghiên cứu về qui trình KT-ĐG kết quả học tập theo yêu cầu của HTTC, tác giả Nguyễn Đức Chính đã xây dựng được qui trình KT-ĐG, nghiên cứu những điểm cần chú ý khi triển khai một quá trình dạy học nói chung và HTTC nói riêng như khâu phân tích nhu cầu người học và khâu đánh giá cải tiến của cá nhà quản lý và của giảng viên
Trang 14Những nghiên cứu về Qui trình triển khai đào tạo theo HTTC, cơ cấu lại CTĐT để chuyển sang phương thức đào tạo theo tín chỉ ở các trường đại học hiện nay ở Việt Nam đã được tác giả Ngô Doãn Đãi trình bày trong báo cáo về HTTC của Ban đào tạo, ĐH Quốc gia Hà Nội [16]
Các nghiên cứu về “Chương trình đào tạo, Chương trình môn học” như: “Chương trình đào tạo và phát triển chương trình đào tạo” – tác giả Nguyễn Đức Chính (2007); tác giả Ngô Doãn Đãi với bài viết “Cấu trúc lại chương trình đào tạo để chuyển từ đào tạo niên chế sang chương trình đào tạo theo tín chỉ ở các trường đại học hiện nay”; tác giả Trần Khánh Đức với bài viết “Phát triển và đánh giá chương trình đào tạo giáo viên trong nền giáo dục hiện đại” Các công trình và bài viết đã đề cập đến các tiêu chí đánh giá, qui trình đánh giá chương trình đào tạo; đã phân tích đặc điểm của học chế tín chỉ
và các yêu cầu đối với việc cấu trúc nội dung, phân bổ thời lượng chương trình đào tạo cho phù hợp
Luận án tiến sĩ “Nghiên cứu đánh giá thẩm định chương trình giáo dục đại học” – tác giả Trần Thị Hoài đã đề xuất các tiêu chí đánh giá thẩm định chương trình giáo dục đại học Luận án tiến sĩ “Quản lý xây dựng và đánh giá chương trình môn học trình độ đại học trong học chế tín chỉ” – tác giả Trần Hữu Hoan đã đề xuất cấu trúc và nội dung CTMH theo triết lý mô hình CDIO
Nghiên cứu về KT-ĐG trong học chế tín chỉ như: Luận án tiến sĩ
“Nghiên cứu quản lý kiểm tra, đánh giá kết quả học tập trong giáo dục đại học
ở Việt Nam ” của tác giả Cấn Thị Thanh Hương, 2011 Tác giả luận án đã đề xuất 3 nhóm gồm 9 giải pháp quản lý KT-ĐG kết quả học tập của người học trong giáo dục đại học ở Việt Nam
Nghiên cứu về phương pháp giảng dạy trong học chế tín chỉ như:
“Quản lý quá trình dạy và học theo học chế tín chỉ trong các trường đại học ở
Trang 15Hương, 2011 Tác giả đã đề xuất năm biện pháp quản lý quá trình dạy học theo HTTC trong các trường ĐH ở Việt Nam hiện nay
Tóm lại, các tài liệu nghiên cứu về HTTC hiện nay, hệ thống tín chỉ của một số nước và các bài học kinh nghiệm được các tác giả trong nước tìm hiểu và phân tích riêng lẻ hoặc biên dịch từ tài liệu nước ngoài
1.2.Cơ sở lý luận về đào tạo và quản lý đào tạo
1.2.1.Đào tạo
Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam: “Đào tạo là quá trình tác động đến một con người nhằm làm cho người đó lĩnh hội và nắm vững tri thức, kỹ năng, kỹ xảo một cách có hệ thống nhằm chuẩn bị cho người đó thích nghi với cuộc sống và khả năng nhận một sự phân công nhất định, góp phần của mình vào sự phát triển của xã hội, duy trì và phát triển nền văn minh của loài người Về cơ bản, đào tạo là giảng dạy và học tập trong nhà trường gắn với giáo dục nhân cách” [37; tr 289]
1.2.2.Quản lý
Theo tác giả Ngô Trung Việt, từ quản lý (management) bắt nguồn từ chứ Latinh “manus” nghĩa là bàn tay Theo nghĩa gốc, thực hiện quản lý là
“nắm vững trong tay”, “điều khiển vững tay” Theo một nghĩa nào đó, quản lý
là một nghệ thuật khiến người khác phải làm việc
Tuỳ theo các cách tiếp cận khác nhau mà ta có các quan điểm khác nhau về quản lý Thông thường, khi đưa ra khái niệm quản lý các tác giả thường gắn với một loại hình cụ thể:
F.W Taylor (1856 – 1915) là cha đẻ của thuyết quản lý khoa học định nghĩa: “Quản lý là biết được chính xác điều bạn muốn người khác làm, và sau
đó hiểu được rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất”
Trang 16H.Fayols (1841 – 1925) đã xuất phát từ nghiên cứu các loại hình hoạt động quản lý và phân biệt thành 5 chức năng cơ bản: “kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ huy, phối hợp và kiểm tra” Sau này được kết hợp thành bốn chức năng cơ bản của quản lý: kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra Fayol còn chứng minh được rằng khoa học quản lý – “quản lý hành chính”, không những cần thiết cho các tổ chức công nghiệp và hãng kinh doanh mà còn có thể áp dụng với mọi loại hình tổ chức, kể cả cơ quan của Chính phủ vì quản lý ở một tổ chức đều có chung những chức năng trên
M.T.Follet (1868-1933) cho rằng trong công việc quản lý cần chú trọng tới những người lao động với toàn bộ đời sống của họ, cả yếu tố kinh tế lẫn yếu tố tinh thần và tình cảm Theo Bà “Quản lý là nghệ thuật khiến cho công việc được thực hiện thông qua người khác”
Theo tác giả Đặng Quốc Bảo: “Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quát
là họt động điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác giáo dục thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển xã hội”
Tác giả Trần Khánh Dức khái quát quản lý “là hoạt động có ý thức của con người nhằm định hướng, tổ chức, sử dụng các nguồn lực và phối hợp hành động của một nhóm người hay một cộng đồng người để đạt được các mục tiêu đề ra một cách hiệu quả nhất”
Theo các tác giả, quản lý là một hoạt động vừa khó khăn vừa phức tạp lại có ý nghĩa trong sự phát triển hay trì trệ của mọi tổ chức Quản lý đúng đắn sẽ giúp cho các tổ chức hạn chế các nhược điểm, liên kết gắn bó mọi người trong tổ chức, tạo niềm tin, sức mạnh và truyền thống của tổ chức
1.2.3.Hệ thống chức năng quản lý
Với vai trò là yếu tố quan trọng không thể thiếu trong việc duy trì và phát triển tổ chức, quản lý có bốn chức năng: kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo – lãnh đạo và kiểm tra
Trang 17Kế hoạch hoá là chức năng cơ bản nhất trong các chức năng của quản
lý Kế hoạch hoá có nghĩa là xác định mục tiêu, mục đích đối với thành tựu tương lai của tổ chức và các con đường, biện pháp, cách thức để đạt được mục tiêu, mục đích đó
Tổ chức là quá trình phân công và phối hợp các nhiệm vụ và nguồn lực
để đạt được các mục tiêu đã vạch ra Khi người quản lý đã lập xong kế hoạch,
họ cần phải chuyển hoá nhứng ý tưởng khá trừu tượng ấy thành hiện thực
Chỉ đạo – lãnh đạo vừa có ý nghĩa chỉ thị, điều hành, vừa là tác động
ảnh hưởng tới hành vi, thái độ của các thành viên trong tổ chức trên cơ sở sử dụng đúng các quyền lực của người quản lý Chỉ đạo – lãnh đạo bao hàm việc liên kết, liên hệ với người khác và động viên họ hoàn thành những nhiệm vụ nhất định để đạt được mục tiêu của tổ chức Nó không chỉ bắt đầu sau khi việc lập kế hoạch và thiết kế bộ máy đã hoàn tất, mà nó thấm vào, ảnh hưởng quyết định tới hai chức năng kia Nội dung công tác chỉ đạo bao gồm: chỉ đạo lập kế hoạch, chỉ đạo tổ chức thực hiện và chỉ đạo kiểm tra đánh giá
Kiểm tra là một chức năng quản lý, thông qua đó một cá nhân, một
nhóm hoặc một tổ chức theo dõi, giám sát các thành quả hoạt động và tiến hành những hoạt động sửa chữa, uốn nắn nếu cần thiết Một kết quả hoạt động phải phù hợp với những chi phí bỏ ra, nếu không tương ứng thì phải tiến hành những hành động điều chỉnh, uốn nắn Đó cũng là quá trình tự điều chỉnh, diễn ra có tính chu kỳ như sau: người quản lý đặt ra những chuẩn mực thành đạt của hoạt động; đối chiếu, đo lường kết quả, sự thành đạt so với chuẩn mực
đã đề ra; điều chỉnh những sai lệch và hiệu chỉnh, sửa lại chuẩn mực nếu cần
Ngoài bốn chức năng cơ bản trên, tác giả Nguyễn Quốc Chí còn nhấn mạnh vai trò của thông tin trong quản lý: “không có thông tin không có quản lý” [28, tr.277]
Trang 18Viện sĩ Berg cho rằng: “thụng tin là thể nền của quản lý”;
Nhà toỏn học Xụ viết (cũ) Konmogorop khẳng định: “bản chất của hoạt động quản lý là sự vận động của thụng tin”
Trong bối cảnh giao lưu toàn cầu ngày càng phỏt triển mạnh mẽ như hiện nay, hàng ngày người quản lý ở bất kỳ cấp nào cũng phải xử lý “hàng nỳi” thụng tin Việc xử lý thụng tin kịp thời và cú độ tin cậy cao sẽ giỳp cho
tổ chức cú những quyết định đỳng đắn
Thụng tin là một nguồn lực Khụng giống như những nguồn lực vật chất, thụng tin tự nú khụng tham gia vào việc xỏc định giỏ trị của mỡnh Thụng tin khụng cú giỏ trị nội tại Giỏ trị của thụng tin được xỏc định bởi người sử dụng nú để ra quyết định Giỏ trị của thụng tin bao gồm bốn yếu tố cấu thành: chất lượng, tớnh phự hợp, số lượng và tớnh kịp thời
Chu trỡnh quản lý cú thể biểu diễn bằng sơ đồ dưới đõy:
Sơ đồ 1.1: Chu trình quản lý
1.2.4.Biện phỏp quản lý
Quản lý là cỏch thức tốt nhất để đạt được mục tiờu chung Vỡ vậy, nhiệm vụ của quản lý là biến cỏc mối quan hệ giữa những con người cụ thể, giữa những nhúm người thành những yếu tố tớch cực, hạn chế xung đột và tạo nờn mụi trường thuận lợi để hướng tới mục tiờu Ở khớa cạnh này, quản lý là
Kế hoạch hoỏ
Thụng tin quản lý
Chỉ đạo Kiểm tra,
Trang 19nghệ thuật Đó là bí quyết làm việc với con người, bí quyết sắp xếp các nguồn lực của tổ chức, là sự sáng tạo khi gặp những tình huống khác nhau trong hoạt động của tổ chức
Tuy nhiên, các bí quyết đó chỉ có thể được khám phá trên sự đúc kết kinh nghiệm thực tế và vận dụng những tri thức khoa học liên ngành Các nhà quản lý chỉ có thể thực hiện sứ mệnh của mình tốt hơn khi vận dụng những kinh nghiệm
đã được đúc kết, khái quát hoá thành những nguyên tắc, phương pháp và kỹ năng quản lý cần thiết, đó là khoa học Vì thế, quản lý vừa là khoa học vừa là nghệ thuật
Theo Từ điển Tiếng Việt thông dụng do Nguyễn Như ý chủ biên, biện pháp là “cách làm, cách thức tiến hành”
Biện pháp là cách thức hành động để thực hiện một mục đích, là cách làm, cách giải quyết một vấn đề cụ thể
Biện pháp là một bộ phận của phương pháp, điều đó có nghĩa là để sử dụng một phương pháp nào đó phải sử dụng nhiều biện pháp khác nhau Cùng một biện pháp có thể sử dụng trong nhiều phương pháp
Biện pháp quản lý là cách thức tác động vào đối tượng quản lý nhằm giúp chủ thể nâng cao khả năng hoàn thành có kết quả các mục tiêu đã đặt ra
1.2.5.Đánh giá hiệu lực quản lý
Đánh giá hiệu lực quản lý chính là thực hiện công tác kiểm tra, rà soát lại xem việc thực hiện kế hoạch đạt tiến độ, chất lượng và hiệu quả tới đâu, xem xét sự tác động của các quyết định quản lý, tìm kiếm được những thuận lợi, khó khăn, những nguyên nhân dẫn đến kết quả của quá trình thực hiện kế hoạch Trên cơ sở đó, các chủ thể quản lý kịp thời phát hiện những sai lệch, những vấn đề sai lệch, những vấn đề tồn tại, yếu kém; để từ đó có kế hoạch diều chỉnh, tăng cường quản lý ở những khâu yếu kém Sau khi kiểm tra nắm
Trang 20bắt thực trạng công tác quản lý, điều hành và thực hiện kế hoạch, chủ thể quản
lý tiến hành bước đánh giá nhằm xem xét thực hiện nội quy, quy chế và các chỉ tiêu đạt được mà đề ra các biện pháp thích hợp cho việc điều chỉnh, uốn nắn
1.3 Đào tạo theo học chế tín chỉ
1.3.1.Khái niệm tín chỉ (Credit)
Tín chỉ là đại lượng đo khối lượng lao động học tập trung bình của
người học, tức là toàn bộ thời gian mà một người học bình thường phải sử dụng
để học một môn học, bao gồm 03 thành tố: 1) thời gian học tập trên lớp; 2) thời gian học tập trong phòng thí nghiệm, thực tập hoặc làm các phần việc khác đã được quy định ở đề cương môn học; 3) thời gian dành cho việc tự học ngoài
lớp như (đọc sách, nghiên cứu, giải quyết vấn đề hoặc chuẩn bị bài ) Tín chỉ
còn được hiểu là khối lượng kiến thức và kỹ năng theo yêu cầu của môn học
mà người học cần phải tích luỹ được trong một khoảng thời gian nhất định
1.3.2.Đơn vị tín chỉ (credit unit)
Một tín chỉ có một trong các giá trị sau đây:
a 01 giờ học lý thuyết trên lớp với 2 giờ chuẩn bị bài trong 1 tuần, kéo dài trong 1 học kỳ 15 tuần (tương đương với 15 tiết lý thuyết và 30 tiết chuẩn
bị ở nhà/học kỳ);
b 02 giờ thực hành, thực tập (gọi tắt là thực hành) ở studio hay trong phòng thí nghiệm với 1 giờ chuẩn bị bài trong 1 tuần, kéo dài trong 1 học kỳ
15 tuần (tương đương với 30 tiết thực hành và 15 tiết chuẩn bị ở nhà/học kỳ);
c 03 giờ tự học, tự nghiên cứu được đánh giá và tích luỹ vào kết quả cuối cùng của môn học trong 1 tuần, kéo dài trong 1 học kỳ 15 tuần (tương đương với 45 tiết tự học, tự nghiên cứu/học kỳ)
Một giờ ở đây là 50 phút Môn học có số tín chỉ là một số nguyên
Trang 211.3.3.Giờ tín chỉ (credit hour)
Giờ tín chỉ là một trong các giá trị sau đây:
a 1 giờ học trên lớp và 2 giờ chuẩn bị bài / 1 tuần
b 2 giờ thực hành và 1 giờ chuẩn bị bài/ 1 tuần
c 3 giờ tự học, tự nghiên cứu / 1 tuần
Tuỳ theo tính chất đặc thù của môn học, hình thức tổ chức dạy học, giờ tín chỉ có thể thay đổi, song thời gian tuyệt đối cho 1 giờ tín chỉ không nhỏ hơn 3 Trong đó, giờ học lý thuyết hoặc các giờ thực hành, thảo luận được
bố trí vào thời khoá biểu
1.3.4.Hình thức tổ chức giờ tín chỉ
Hình thức tổ chức giờ tín chỉ là cách thức tổ chức thực hiện các hoạt
động của giảng viên và sinh viên ứng với cách tổ chức chương trình môn học hoặc bài học Trong đó coi trọng khâu tự học, năng lực nghiên cứu, thực tập, thực hành, thực tế nhằm tích luỹ đủ khối lượng kiến thức theo yêu cầu của phương thức đào tạo này
Hình thức tổ chức giờ tín chỉ bao gồm:
a Dạy, học trên lớp: Thường là dạy, học giờ lý thuyết gồm nghe thuyết trình, ghi bài giảng, làm và chữa bài tập, thảo luận và các hoạt động khác do giảng viên yêu cầu;
b Dạy, học trong phòng thí nghiệm, studio, hiện trường : Làm thí nghiệm, thực hành, thực tập, điền dã (gọi chung là dạy, học thực hành, thực tập);
c Ngoài lớp, ngoài phòng thí nghiệm: Tự học, tự nghiên cứu, các hoạt động theo nhóm để hỗ trợ thảo luận, thực hành, thực tập
Trang 221.3.5.Hệ thống tín chỉ
Hệ thống tín chỉ lần đầu tiên được áp dụng tại ĐH Harvard vào năm
1872 Viện trưởng thời kỳ đó là GS Elliot đã có sáng kiến đưa ra 1 hệ thống các môn học để sinh viên lựa chọn, thoạt đầu là cho các sinh viên năm cuối và
từ 1889 cho tất cả các sinh viên của trường Đến năm 1890 ở ĐH Harvard việc hoàn thành toàn bộ chương trình khoá học và nhận văn bằng được tính bằng việc sinh viên tích luỹ đủ số tín chỉ cần thiết Cho đến nay các trường
ĐH của hầu hết các nước, kể cả các nước đang phát triển cũng đang áp dụng
hệ thống này
Thực chất hệ thống tín chỉ là bảng liệt kê:
(1) Số lượng của tín chỉ được cung cấp cho mỗi môn học, con số đó được xác định bởi các giờ lên lớp và thực hành, thực nghiệm dành cho một môn học trong một tuần;
(2) số lượng tín chỉ cần tích luỹ để đạt một văn bằng;
(3) số lượng các môn học và các phương thức tổ hợp các môn học để tích luỹ đủ số tín chỉ cần cho một văn bằng
Như vậy, hệ thống tín chỉ tạo điều kiện để sinh viên chủ động lựa chọn các môn học (và các hoạt động khác) tích luỹ, bổ sung dần và để cuối cùng tiến tới một văn bằng (không phụ thuộc vào thời gian và địa điểm)
Việc triển khai hệ thống tín chỉ liên quan tới cách tổ chức năm học theo học kỳ Thông thường, một năm học được chia thành 2 học kỳ, mỗi học kỳ có 15-16 tuần giảng dạy Đây là một yếu tố rất quan trọng cho việc tổ chức dạy học theo học chế tín chỉ, trong đó phải đảm bảo 80 ngày làm việc trong một học kỳ, 160 ngày làm việc trong hai học kỳ Một số trường ĐH tổ chức thêm học kỳ hè (có 8-10 tuần)
Trang 23Phần lớn các trường ĐH ở Hoa Kỳ và Châu Âu cũng như ở một số nước châu Á, đòi hỏi cỡ 120-140 tín chỉ cho văn bằng ĐH thứ nhất, và phần lớn các môn học có 3 hoặc 4 giờ tín chỉ Riêng ở các nước châu Âu và Ốt-x-trây-lia, môn học được xây dựng thành các mô-đun có kích cỡ chuẩn, thông thường là 5 tín chỉ Các môn có kích cỡ lớn hơn thì phải có số tín chỉ là bội số của 5 (10, 15…) Số giờ tín chỉ cho mỗi môn học quy định số giờ tiếp xúc hàng tuần giữa giáo viên và sinh viên
Mỗi sinh viên khi nhập học đều được 1 cố vấn học tập trợ giúp trong việc lựa chọn các môn học thích hợp để tiến tới 1 ngành chuyên môn chính Việc lựa chọn môn học là khá tự do, tuỳ thuộc vào sở trường, hứng thú, điều kiện thời gian, tài chính của người học Chính yếu tố này tạo nên sự mềm dẻo
và đa dạng của GDĐH
Trong học chế tín, kiểm tra đánh giá được tiến hành thường xuyên và liên tục, hàng tuần, hàng tháng, giữa học kỳ và cuối học kỳ, tuỳ theo các hoạt động giáo dục đa dạng, như lên lớp lý thuyết, làm thí nghiệm, seminar, thực hành, tự học và tự nghiên cứu Điểm tổng kết của môn học được tính trên cơ
sở các điểm đánh giá thường xuyên đó
1.3.6.Chương trình đào tạo theo học chế tín chỉ
CTĐT theo học chế tín chỉ có khối lượng 120 - 140 tín chỉ đối với chương trình chuẩn (chương trình của các trường đào tạo 4 năm với 2 học kỳ
mỗi năm theo kiểu Mỹ) Thí dụ: CTĐT của Đại học Missouri - Columbia (Mỹ) có ít nhất 120 tín chỉ, kể cả các môn hoạt động thể chất bắt buộc
(University of Missouri - Columbia; Undergraduate Catalog 2004 - 2006);
CTĐT ĐH của Đại học Tokyo (Nhật Bản) có ít nhất 136 tín chỉ đối với các
ngành khoa học nhân văn, hoặc 144 tín chỉ đối với các ngành khoa học tự nhiên (The University of Tokyo, Catalogue for 2000 - 2001), CTĐT đại học
đối với đa số ngành của Đại học Quốc gia Đài Loan là 128 tín chỉ (trừ ngành
Trang 24y - 290 tín chỉ, nha khoa - 255 tín chỉ, thú y - 170 tín chỉ với tổng số thời gian
học dài hơn) [National Taiwan University, Bulletin 2004]
Khung chương trình thể hiện đầy đủ bản chất của học chế tín chỉ, xác định rõ mỗi môn học có: a) thời gian học trên lớp, b) thời gian học trong phòng thí nghiệm, thực tập, thực hành ở hiện trường, c) thời gian tự đọc sách, nghiên cứu, làm bài tập, chuẩn bị xê-mi-na ở nhà
Ngoài các môn bắt buộc, trong CTĐT có nhiều môn học cho sinh viên lựa chọn và khi đã đưa vào chương trình các môn học này đảm bảo có người dạy Do đó, số môn học mà nhà trường tổ chức giảng dạy cho một chương trình bao giờ cũng có tổng số tín chỉ lớn hơn số tín chỉ quy định mà một sinh viên phải tích luỹ để hoàn thành chương trình đó Như thế, với sự hướng dẫn của giảng viên cố vấn học tập, sinh viên có thể xây dựng được kế hoạch học tập phù hợp với riêng mình
Tạo điều kiện thuận lợi cho người học lựa chọn, bố trí kế hoạch học tập phù hợp với điều kiện và khả năng của mình
Như vậy, hệ thống tín chỉ cho phép sinh viên chủ động lập kế hoạch
(dưới sự hướng dẫn của cố vấn học tập) cho toàn bộ quá trình học tập tại trường ĐH, tuỳ thuộc vào các điều kiện cá nhân của từng người Ngoài ra, hệ thống tín chỉ còn cho phép sinh viên tích luỹ tín chỉ bằng nhiều hình thức khác nhau, và tự chịu trách nhiệm và kết quả học tập của mình cho từng môn học cũng như cho cả quá trình học tập trong trường ĐH
1.3.7.Hình thức tổ chức dạy học trong học chế tín chỉ
Hình thức tổ chức dạy học trong học chế tín chỉ là cách thức tổ chức thực hiện các hoạt động của giảng viên và sinh viên ứng với cách tổ chức chương trình môn học/bài học, trong đó coi trọng khâu tự học, năng lực
Trang 25nghiên cứu, thực tập, thực hành, thực tế nhằm tích lũy đủ khối lượng kiến thức theo yêu cầu của phương thức đào tạo theo tín chỉ
Có các hình thức tổ chức giờ tín chỉ như sau:
- Dạy, học trên lớp: thường là dạy, học giờ lý thuyết gồm nghe thuyết trình, ghi bài giảng, làm và chữa bài tập, thảo luận và các hoạt động khác do giảng viên yêu cầu
- Dạy, học trong phòng thí nghiệm, studio, hiện trường… Làm thí nghiệm, thực hành, thực tập, điền dã (gọi chung là dạy, học thực hành, thực tập);
- Ngoài lớp, ngoài phòng thí nghiệm: tự học, tự nghiên cứu, các hoạt động theo nhóm để hỗ trợ thảo luận, thực hành, thực tập …
- Trong học chế tín chỉ có 5 hình thức tổ chức dạy – học chính :
+ Lý thuyết: Giảng viên lựa chọn trong nội dung dạy học của tuần vấn đề cốt lõi và tìm các phương pháp phù hợp tryuền đạt cho sinh viên Các vấn đề còn lại hướng dẫn để sinh viên tự học, tự nghiên cứu Hướng dẫn các hình thức kiểm tra, đánh giá đối với nội dung dạy học của tuần Còn sinh viên chuẩn bị nghe giảng theo hướng dẫn trong đề cương; tìm đọc tài liệu để hoàn thành bài kiểm tra đối với nội dung kiến thức của tuần đó
+ Xemina: là một hình thức tổ chức thực hiện giờ tín chỉ bắt buộc sau các giờ lý thuyết Để thực hiện giờ xemina giảng viên cần chuẩn bị các vấn đề cho sinh viên tự nghiên cứu và trình bày Các vấn đề lý thuyết trong giờ xemina được sinh viên tự nghiên cứu mở rộng, đi sâu hoặc vận dụng vào thực tiễn Giảng viên đóng vai trò hướng dẫn, định hướng, đánh giá và tổng kết + Thảo luận nhóm là hình thức tổ chức thực hiện giờ tín chỉ bắt buộc nhằm giải quyết các vấn đề mang tính vận dụng, phân tích, tổng hợp hay đánh giá, đòi hỏi có sự góp sức của tập thể Để thực hiện hoạt động này, giảng viên phải chuẩn bị các vấn đề mang tính ứng dụng cao, có thể tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhau và hướng dẫn để các nhóm sinh viên thực hiện
Trang 26+ Thực hành, thí nghiệm
+ Tự học, tự nghiên cứu: trên lớp giảng viên chỉ giới thiệu các vấn đề cốt lõi, các vấn đề cơ bản, các phương pháp nghiên cứu, còn lại sinh viên phải tự học, tự nghiên cứu Để sinh viên có thể tự học, tự nghiên cứu, tìm hiểu sâu hơn các vấn đề liên quan tới môn học, giảng viên phải chuẩn bị một loạt các vấn đề cần nghiên cứu trong môn học, nguồn tư liệu, phương pháp tự học, tự nghiên cứu và yêu càu cụ thể đối với hoạt động này
1.3.8.Phương pháp kiểm tra, đánh giá trong học chế tín chỉ
Theo cách đào tạo kiểu niên chế trong các trường ĐH của ta hiện nay, kết quả học tập môn học (học phần) của sinh viên được đánh giá bằng điểm thi kết thúc học phần Điều 10, Quy chế đào tạo ĐH ban hành theo Quyết định
số 25/2006/QĐ-BGD&ĐT ngày 26/6/2006 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT:
“Điểm tổng hợp đánh giá học phần bao gồm: điểm kiểm tra thường xuyên
trong quá trình học tập, điểm đánh giá nhận thức và thái độ tham gia thảo luận, điểm đánh giá phần thực hành, điểm chuyên cần, điểm thi giữa học phần, điểm tiểu luận và điểm thi kết thúc học phần Trong đó điểm thi kết thúc học phần là bắt buộc cho mọi trường hợp và phải có trọng số không dưới 50% của điểm học phần” Quy định này đã có tính động viên sinh viên phải
cố gắng học tập thường xuyên Tuy nhiên, nhiều bộ môn đạt trọng số điểm thi kết thúc học phần cao (70-80%) nên sinh viên chỉ tập trung học vào thời gian chuẩn bị thi kết thúc học phần
Trong học chế tín chỉ người ta đánh giá kết quả học tập của sinh viên không chỉ bằng các bài kiểm tra và bài thi cuối môn học mà còn bằng cách
đánh giá: a) các hoạt động trên lớp (số buổi có mặt, thái độ theo dõi bài giảng, thảo luận), b) tự học ở nhà (qua nội dung phát biểu thảo luận trên lớp, thời gian và chất lượng hoàn thành bài tập ở nhà do giảng viên giao), c) làm
Trang 27viên cũng được thông báo về cách thức và trọng số đánh giá kết quả học tập như trên ngay từ khi bắt đầu học môn học trong bản đề cương môn học (syllabus) mà giảng viên phát cho mình và được thể hiện trong các quy định pháp lý của nhà trường Việc đánh giá liên tục các hoạt động học tập làm giảm nhẹ sức ép của thi cử cuối học kỳ, làm giảm tình trạng nhồi nhét kiến thức để lo thi và do vậy cho phép sinh viên hiểu và yêu thích môn học, nâng cao khả năng tự học theo kiểu nghiên cứu
1.3.9 Các ưu, nhược điểm của học chế tín chỉ và một số điều kiện để triển khai đào tạo theo học chế tín chỉ trong các trường đại học ở Việt Nam
1.3.9.1.Ưu điểm của hệ thống tín chỉ
Hệ thống tín chỉ phân chia hoạt động học tập thành các đơn nguyên có thể đo được, tích luỹ được để tiến tới một văn bằng bằng một tổ hợp rộng rãi các hoạt động giáo dục ở những thời gian và địa điểm khác nhau
Ưu điểm của hệ thống tín chỉ có thể được thể hiện ở 3 bình diện:
- Hiệu quả học tập cao
- Độ mềm dẻo, khả năng thích ứng tốt
- Hiệu quả về quản lý và giá thành
HiÖu qu¶ häc tËp cao
Hệ thống tín chỉ giúp sinh viên chủ động lập kế hoạch cho toàn bộ quá trình học tập tại trường ĐH tuỳ thuộc vào các điều kiện của cá nhân sinh viên
đó, và ghi nhận kịp thời các thành tích của sinh viên sau mỗi giai đoạn tích luỹ Hệ thống cho phép đặt ra những mục tiêu ngắn hạn để hoàn thành, một điều có lợi cho các sinh viên không có điều kiện xây dựng kế hoạch dài hạn
Trong hệ thống tín chỉ mỗi môn học chỉ kéo dài và chấm dứt sau 1 học
kỳ, do vậy cả giáo viên và sinh viên đều chủ động hơn trong việc dạy và học Việc kiểm tra đánh giá được tiến hành bằng nhiều hình thức đa dạng và cũng
Trang 28kéo dài trong suốt học kỳ nên gánh nặng thi cử được giảm nhẹ, nhưng cũng
không phép sinh viên được chây lười
Một số trường ĐH cấp tín chỉ cho các hoạt động giáo dục ngoài lớp học, như vậy các hoạt động độc lập của sinh viên và nhiều hoạt động giáo dục không
truyền thống khác có thể được đánh giá bằng tín chỉ để tiến tới văn bằng
Hệ thống tín chỉ với đặc điểm là người học có quyền lựa chọn các môn học đã làm cho giáo dục ĐH hướng tới người học, cá nhân hoá quá trình đào
tạo mà các hệ thống khác không có được
Hệ thống tín chỉ cho phép cho phép xây dựng kế hoạch học tập để tiến tới 1 văn bằng theo điều kiện của từng cá nhân Sinh viên có thể bố trí xen kẽ các giai đoạn làm việc và học tập, có thể hoàn thành chương trình giáo dục
ĐH theo hình thức bán thời gian, kết hợp giữa việc học để lấy văn bằng với giáo dục thường xuyên, đào tạo lại hoặc văn bằng hai
Trong hệ thống tín chỉ việc đề xuất một môn học mới dễ dàng hơn nhiều so với học chế niên chế Điều này cho phép cải tiến, phát triển CTĐT một cách liên tục, gắn đào tạo với yêu cầu sử dụng, đáp ứng nhanh chóng những yêu cầu mới của sự phát triển KT-XH, hay nói cách khác, đáp ứng các yêu cầu đang thay đổi nhanh chóng của thị trường lao động
Trang 29Một ưu việt khỏc của hệ thống tớn chỉ là cho phộp chấp nhận sự di chuyển sinh viờn giữa cỏc trường ĐH với nhau, cho phộp chuyển từ 1 trường
ĐH này sang 1 trường ĐH khỏc tuỳ theo khả năng và sở thớch của họ Ở đõy,
hệ thống tớn chỉ được xem là ngụn ngữ chung của cỏc trường ĐH cho phộp việc chuyển đổi sinh viờn giữa cỏc truờng ĐH gặp ớt khú khăn hơn
Việc sử dụng hệ thống tớn chỉ tạo điều kiện để cỏc trường ĐH phỏt triển cỏc chương trỡnh song đụi (twin program) và chương trỡnh chuyển tiếp Cỏc chương trỡnh này cho phộp sinh viờn nhận văn bằng (ĐH, SĐH) của người ngoài mà khụng tốn kộm nhiều (thời gian, kinh phớ ) Sinh viờn cú thể hoàn thành phần đầu của CTĐT ở trong nước, phần cũn lại sẽ được hoàn thành ở nước ngoài theo yờu cầu của trường cấp bằng
Hiệu quả về mặt quản lý và giá thành đào tạo
Trong hệ thống tớn chỉ, thành tớch học tập của sinh viờn được đo trờn cơ sở tớch luỹ cỏc tớn chỉ ứng với từng mụn học Việc chưa hoàn thành một mụn học khụng ảnh hưởng nhiều tới quỏ trỡnh học tập của sinh viờn vỡ họ cú thể học lại mụn học đú hoặc chọn một mụn học khỏc thay thế Như vậy sinh viờn khụng phải học lại cả năm học hay bỏ học, giỏ thành đào tạo vỡ vậy giảm đi đỏng kể
Hệ thống tớn chỉ khuyến khớch cỏc trường ĐH phải là cỏc trường đa ngành, đa lĩnh vực, trong đú cú những khối kiến thức chung cho nhiều lĩnh vực Việc tổ chức giảng dạy cỏc mụn này được tiến hành bởi cỏc bộ mụn chung cho cả ĐH, chứ khụng cần cỏc bộ mụn trong khoa Điều này cho phộp chuyờn mụn hoỏ đội ngũ giảng viờn, để họ tập trung vào NCKH và nõng cao chất lượng giảng dạy, đồng thời hạ thấp giỏ thành đào tạo so với cấu trỳc theo kiểu khoa truyền thống
Hệ thống tớn chỉ cho phộp cỏc trường ĐH cấp tớn chỉ cho cỏc hoạt động giỏo dục bờn ngoài trường ĐH để tiến tới 1 văn bằng Để nhận được tớn chỉ sinh viờn (thường là lớn tuổi) phải tập hợp cỏc hồ sơ, tài liệu là minh chứng
Trang 30cho thành tích học tập, làm việc, tự nghiên cứu của họ, như tiểu luận, bằng sáng chế, bản sao các công trình, giấy khen Hội đồng giáo chức sẽ đánh giá
hồ sơ này và nếu đạt yêu cầu, người học sẽ được cấp 1 số tín chỉ tương ứng
Hệ thống tín chỉ tạo sự liên kết giữa hoạt động đào tạo và quản lý, hành chính Các hoạt động quản lý, hành chính đều có thể được biểu diễn thông qua giờ tín chỉ: học phí theo giờ tín chỉ, lương trả theo giờ tín chỉ, phương tiện được cấp theo giờ tín chỉ, các kế hoạch dạy học cũng được đăng ký theo giờ tín chỉ
Hệ thống tín chỉ cho phép kết hợp các nguồn lực, phối hợp giữa các đơn
vị để giảng dạy mà tránh được sự trùng lặp về các môn học, qua đó tối ưu hoá được việc sử dụng các nguồn lực, kể cả nguồn nhân lực, đội ngũ giáo chức qua
đó được sử dụng hiệu quả hơn, các giáo sư sẽ có đông sinh viên hơn
1.3.9.2.Nhược điểm của hệ thống tín chỉ
Hệ thống tín chỉ tạo ra sự cắt vụn kiến thức Một môn học chỉ kéo dài một học kỳ, và sinh viên thường thì học 4-5 môn học trong 1 học kỳ, và để đạt một văn bằng sinh viên học khoảng 40 môn học Để khắc phục nhược điểm này, người ta xây dựng các môn học có số tín chỉ lớn (5-6), và để tích luỹ sinh viên cần có thời gian dài hơn, kiến thức sẽ hệ thống hơn, và như vậy
số lượng môn học phải tích luỹ để đạt một văn bằng có thể nhỏ hơn 20
Việc thừa nhận các hoạt động giáo dục ngoài trường ĐH có giá trị như các tín chỉ được tích luỹ có nguy cơ làm giảm giá trị của các hoạt động khoa học nghiêm túc
Hệ thống tín chỉ làm méo mó động cơ học tập của sinh viên Họ nhìn nhận trình độ học vấn quy định cho 1văn bằng như là sự tích luỹ các tín chỉ hơn là học tập vì mục tiêu cuối cùng của nó
Hệ thống tín chỉ tạo điều kiện mở rộng các cơ hội để nhận văn bằng
ĐH và đương nhiên nhu cầu nhận văn bằng sẽ tăng lên Lúc đó có thể các
Trang 31trường ĐH sẽ làm nhiều việc xác nhận các hoạt động giáo dục ngoài trường hơn là cung cấp các hoạt động giáo dục trong trường
1.3.9.3.Một số điều kiện để triển khai đào tạo theo tín chỉ trong các trường đại học ở Việt Nam
Từ năm 1998 một số yếu tố tích cực của hệ thống tín chỉ đã được áp dụng từng bước vào quá trình đào tạo và quản lý đào tạo trong GDĐH Việt Nam Trước yêu cầu đổi mới toàn diện và triệt để hệ thống GDĐH Việt Nam nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả và hội nhập quốc tế, GDĐH Việt Nam cần
và có thể áp dụng một mô hình đào tạo theo tín chỉ của riêng mình Kinh nghiệm cho thấy không phải mọi mô hình GDĐH phương tây đều tiến bộ và thành công như nhau, và càng không thể áp dụng dập khuôn bất kỳ một mô hình nào dù cho đó là mô hình thành công nhất của một nước nào đó Vấn đề là phải vận dụng các ưu điểm nổi bật của hệ thống tín chỉ vào điều kiện cụ thể của Việt Nam, tìm ra một lộ trình hợp ký để tiến tới một học chế tín chỉ triệt để với đầy đủ các đặc điểm nổi trội của nó, tương thích với truyền thống của GDĐH Việt Nam, với trình độ phát triển KT-XH, văn hóa, khoa học của đất nước trong từng giai đoạn cụ thể
Để chuyển đổi thành công sang hệ thống tín chỉ cần phải có một số điều kiện tiên quyết sau:
1 Phải xây dựng được mô hình riêng phù hợp với trình độ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, tương thích với cơ cấu và trình độ của hệ thống Giáo dục ĐH Việt Nam
2 Phải xây dựng được “văn hoá tín chỉ” trong giới quản lý giáo dục, giáo chức, sinh viên và được toàn xã hội đồng tình ủng hộ, trong đó sự quyết tâm của lãnh đạo là khâu then chốt
Trang 323 Phải xây dựng được chương trình của khoá học, chương trình môn học, đề cương chi tiết của từng môn học theo nguyên tắc của học chế tín chỉ, cùng hệ thống giáo trình, tài liệu tham khảo đủ phục vụ cho CTĐT đó
4 Phải có đội ngũ giáo chức, quản lý đào tạo (kể cả đội ngũ cố vấn học tập) giỏi về chuyên môn, tinh thông nghiệp vụ
5 Có hệ thống văn bản pháp qui, văn bản hướng dẫn được xây dựng một cách chuyên nghiệp, đúng với nguyên tắc của học chế tín chỉ
6 Phải xây dựng được cơ sở hạ tầng cho hệ thống học chế tín chỉ, bao gồm hệ thống thông tin quản lý (MIS), các phần mềm chuyên dụng, các cơ sở học liệu, cơ sở vật chất, kĩ thuật đồng bộ
7 Phải thiết lập hệ thống kiểm định chất lượng trong nước và liên thông với các nền giáo dục ĐH tiên tiến trên thế giới
Những điều kiện trên phải được thực hiện một cách đồng bộ, có thể sớm hay muộn hơn nhau một chút, song không thể chờ có điều kiện này mới thực hiện điều kiện kia
1.4.Chuyển đổi từ đào tạo niên chế sang đào tạo theo tín chỉ
1.4.1 Pha 1: Chuyển đổi Chương trình đào tạo (Môđun hoá);
Đổi mới Dạy - Học - Kiểm tra đánh giá theo tín chỉ;
Chuẩn bị học liệu, tin học hoá
1.4.1.1 Chuyển đổi chương trình đào tạo (Môđun hóa):
CTĐT trong học chế tín chỉ được thiết kế thành các môđun có kích cỡ chuẩn Chương trình từng môn học cũng được tổ chức thành các môđun
Môđun là một đơn vị kiến thức tương đối hoàn chỉnh, hướng tới một
mục tiêu đầu ra nhất định và có thể lồng ghép với một (một số) mô đun khác thành khối kiến thức lớn hơn, hướng tới một mục tiêu đầu ra rộng hơn (hoặc
Trang 33sâu hơn) Môđun có giá trị được đánh giá bằng số tín chỉ; được KT-ĐG và được thực hiện trong một học kỳ
Môđun gồm: Mô đun bắt buộc; Mô đun tự chọn và Mô đun tuỳ ý
Kích cỡ của môđun: tối thiểu là 3 (hoặc 4) tín chỉ Khi cần có các môđun
có kích cỡ lớn hơn, phải thiết kế các môđun có giá trị là bội số của kích cỡ chuẩn Các môđun dù kích cỡ khác nhau đều phải được thực hiện trong một học kỳ
Để tích lũy 1 Môđun sinh viên cần phải: Lên lớp giờ lý thuyết; Dự
xemina; Thảo luận nhóm; Làm thí nghiệm; Các hoạt động thực hành, thực tế;
Tự học, tự nghiên cứu và tham gia các hoạt động khác do giáo viên quy định
1.4.1.2 Đổi mới Dạy - Học - Kiểm tra đánh giá theo tín chỉ:
* Phương pháp dạy học
Phương pháp dạy học là hệ thống những cách thức hoạt động (bao gồm các hành động và thao tác) của giảng viên và sinh viên nhằm thực hiện mục tiêu và nhiệm vụ dạy học xác định
Phương pháp dạy học bao gồm phương pháp dạy và phương pháp học
- Phương pháp dạy: phương pháp tổ chức hoạt động nhận thức cho người học, phương pháp điều khiển các hoạt động trí tuệ và thực hành, phương pháp giáo dục ý thức và thái độ đúng đắn cho sinh viên
- Phương pháp học: phương pháp tự điều khiển hoạt động nhận thức và rèn luyện khả năng thu thập thông tin để hình thành hệ thống tri thức và
kỹ năng thực hành, hình thành nhân cách người học
Hai phương pháp này không tồn tại độc lập, tách rời nhau mà nó liên quan và phụ thuộc nhau vừa là mục đích vừa là nguyên nhân tồn tại của nhau
* Kiểm tra đánh giá theo tín chỉ
Trang 34Trong mọi qui trình đào tạo, KT-ĐG là khâu cuối cùng và cũng là khâu quan trọng nhất, bởi lẽ thực hiện KT-ĐG một cách khoa học, nghiêm túc không chỉ cho chúng ta biết qui trình đào tạo có đạt được mục tiêu hay không
và nếu đạt thì ở mức nào, KT-ĐG còn cung cấp các thông tin phản hồi hữu ích, giúp giảng viên điều chỉnh cách dạy và giúp sinh viên chủ động tổ chức quá trình học của mình để đạt mục tiêu một cách hiệu quả nhất
KT-ĐG định hướng cho hoạt động dạy và học, tạo động lực cho người dạy, người học tìm kiếm các hình thức tổ chức dạy học, phương pháp dạy học phù hợp nhằm đạt mục tiêu Trong học chế tín chỉ sinh viên được khuyến khích và được hướng dẫn để tự học, tự nghiên cứu, vận dụng các kiến thức kĩ năng tiếp thu được trong nhà trường vào thực tiễn cuộc sống thì KT-ĐG lại càng có ý nghĩa quan trọng
KT-ĐG không những chỉ là công cụ hữu hiệu để đánh giá kết quả của quá trình đào tạo (đối chiếu với mục tiêu) và cung cấp các thông tin phản hồi (cho sinh viên, giảng viên và nhà quản lí), KT-ĐG còn là một phương cách hữu hiệu để rèn luyện các kiến thức và kĩ năng mà giảng viên mong muốn sinh viên phải đạt được Nói cách khác, KT-ĐG còn là một bộ phận cấu thành của mọi phương pháp dạy học
KT-ĐG là phương pháp để rèn luyện kĩ năng tự đánh giá của sinh viên
1.4.1.3 Chuẩn bị học liệu, tin học hóa:
Học liệu là một trong những điều kiện không thể thiếu để đảm bảo chất lượng đào tạo Khi áp dụng học chế tín chỉ, giáo trình, tài liệu tham khảo là một trong những điều kiện để thực hiện thành công việc chuyển đổi
Hệ thống học liệu bao gồm: đề cương môn học, bài giảng, giáo trình, tài liệu tham khảo đây là bộ công cụ không thể thiếu đối với cả người dạy và người học trong quá trình triển khai đào tạo tín chỉ
Trang 35Tin học hóa là một yêu cầu không thể thiếu trong đào tạo tín chỉ để đảm bảo: tính mềm dẻo của học chế tín chỉ; sự đa dạng và cá thể hóa của từng sinh viên, khả năng tự động cập nhật các thay đổi; Sự tích hợp và chia xẻ thông tin tác nghiệp; Sự phản ánh mô hình và qui trình quản lý và sự phối hợp giữa các đơn vị chức năng
Với yêu cầu tổ chức đào tạo tín chỉ hướng đến nhu cầu hết sức đa dạng của từng sinh viên thì việc tổ chức công tác đào tạo theo kiểu truyền thống sẽ rất khó khăn trong việc đáp ứng những nhu cầu này Cần phải có một phần mềm tích hợp tất cả các chức năng vốn có của các bộ phận như: quản lý CTĐT; quản lý kế hoạch đào tạo; đăng ký học của sinh viên; quản lý, đánh giá kết quả học tập của sinh viên; quản lý hồ sơ sinh viên; quản lý thư viện; quản lý chế độ, chính sách với sinh viên; quản lý kinh phí đào tạo
Hệ thống thông tin giúp cho các khâu của quá trình đào tạo theo tín chỉ được đảm bảo được tính ưu việt của nó Ứng dụng tốt công nghệ thông tin là chìa khóa thành công của việc quản lý của các nhà trường và là tiền đề nâng cao chất lượng đào tạo
1.4.2.Pha 2: Lớp môn học (các môn học tự chọn)
Ngoài các môn bắt buộc, trong CTĐT có nhiều môn học cho sinh viên lựa chọn và khi đã đưa vào chương trình các môn học này đảm bảo có người dạy Do đó, số môn học mà nhà trường tổ chức giảng dạy cho một chương trình bao giờ cũng có tổng số tín chỉ lớn hơn số tín chỉ quy định mà một sinh viên phải tích luỹ để hoàn thành chương trình đó Những môn trong số các môn học chính
mà sinh viên lựa chọn để đăng ký học Hệ thống môn tự chọn này cho phép sinh viên chọn lựa và theo học những môn nào đạt được những tri thức và kỹ năng
mà họ quan tâm
Trang 36Một nhân tố sống còn của hệ thống tín chỉ là hệ thống tự chọn môn học Hệ thống môn tự chọn bắt đầu ở ĐH Harvard trong những năm 1880 nhằm kích thích sự tò mò ham học của sinh viên Hầu hết các trường ĐH đã
đi theo con đường này của Harvard và thay đổi chương trình được tiêu chuẩn hóa của họ thành hệ thống tự chọn Điều này “làm thay đổi một cách căn bản nội dung của tấm bằng ĐH từ chỗ là một thứ được cấp dựa trên cơ sở một chương trình tổng hợp đến chỗ dựa trên việc hoàn thành một loạt các môn học” Việc tạo ra các môn mới trong hệ thống tự chọn dẫn tới sự phát triển các môn học chuyên ngành, các lĩnh vực học thuật, và tri thức sâu rộng trong từng ngành hẹp, vốn là nền tảng của phần lớn các trường ĐH Hoa Kỳ
Các môn tự chọn cho phép sinh viên đăng ký học những môn do chính
họ quyết định chọn Một số môn tự chọn là một phần của chương trình chuyên ngành và cho phép sinh viên cụ thể hóa trong những lĩnh vực cho trước Chẳng hạn, sinh viên học môn Thi công có thể chọn các học phần: Thi công đất và tầng hầm nhà cao tầng; Thi công phần thân nhà cao tầng; Thi công các công trình đặc biệt; Quản lý dự án công trình xây dựng hoặc Thi công phá dỡ và xử lý sự cố công trình Những môn tự chọn trong các chuyên ngành hẹp này giúp họ tập trung mục tiêu vào lĩnh vực mà họ quan tâm và rèn luyện những kỹ năng, kiến thức mà thị trường tuyển dụng cần Những môn tự chọn tự do cho phép sinh viên đăng ký học bất cứ chủ đề nào Sinh viên có thể chọn những môn về bản chất có tính chất dạy nghề hay những môn đem lại tri thức sâu hơn hoặc chuyên biệt hơn trong phạm vi ngành học Điều quan trọng là hệ thống tự chọn đem lại cho sinh viên một cơ hội để phân biệt bản thân mình với người khác, theo đuổi những mối quan tâm riêng của mình, và xây dựng tương lai nghề nghiệp dựa trên thế mạnh và tài năng của mình
Trang 371.4.3.Pha 3: Lớp môn học đầy đủ, tin học hoá toàn bộ quá trình đào tạo
Trong đào tạo theo niên chế, việc tổ chức đào tạo được thực hiện theo lớp sinh hoạt Nhà trường có thể hoàn toàn chủ động trong việc lập kế hoạch đào tạo cho từng lớp theo từng học kỳ Ngược lại, đào tạo tín chỉ phải đảm bảo sinh viên có thể chủ động học theo điều kiện và năng lực của mình Những sinh viên giỏi có thể học vượt để tốt nghiệp sớm hoặc học cùng lúc hai chương trình Vì thế, toàn bộ hệ thống tổ chức quản lý đào tạo phải vận hành theo yêu cầu riêng của từng sinh viên
Trong đào tạo theo niên chế, các công việc cụ thể được phân chia thực hiện ở nhiều bộ phận chức năng như phòng Đào tạo, phòng Công tác sinh viên, phòng Hành chính tổng hợp, các Khoa, phòng Tài vụ, Thư viện Mỗi bộ phận
có thể thực hiện chức năng của mình một cách tương đối độc lập và công việc
có thể thực hiện bằng cách thủ công hoặc tự động Việc trao đổi thông tin giữa các bộ phận bị hạn chế và công việc giữa các bộ phận có thể chồng chéo nhau dẫn đến gây lãng phí nguồn lực, làm giảm tính hiệu quả và quy mô đào tạo của các trường
Hệ thống thông tin trong đào tạo tín chỉ phải được thiết kế để phục vụ tối đa các hoạt động tổ chức đào tạo của tất cả các thành viên, bộ phân trong trường và dáp ứng nhu cầu của sinh viên, giảng viên cũng như các đối tượng khác Hệ thống thông tin phải có chức năng thông tin chung và có chức năng ứng dụng cho từng nhóm đối tượng Cụ thể:
Chức năng thông tin chung: cho phép các bộ phận chức năng của trường đưa thông tin chung như: tin tức liên quan đến công tác đào tạo, các quy chế và quy định đào tạo, kế hoạch đào tạo, lịch học, lịch thi, công tác sinh viên, CTĐT, lộ trình học, thời khóa biểu lên trang web
Chức năng thông tin cho từng nhóm đối tượng:
Trang 38Sinh viên: là đối tượng trung tâm của hệ thống Từ khi nhập học sinh
viên cần được cấp một tài khoản để thực hiện các chức năng như đăng ký học phần, rút học phần, cập nhật hồ sơ sinh viên, tra cứu điểm, kiểm tra học phí, mượn sách thư viện,
Cán bộ phòng Đào tạo: thực hiện các chức năng xếp thời khóa biểu, lập
kế hoạch mở cửa phòng học, lịch thi, đưa tin, tổng hợp và điều chỉnh đăng ký học, quản lý danh sách và điểm của sinh viên, xét thôi học, học tiếp, xếp hạng năm học,
Cán bộ phòng Công tác sinh viên: thực hiện các nghiệp vụ liên quan
đến cấp tài khoản sinh viên, cập nhật, tra cứu hồ sơ sinh viên, xét học bổng, cập nhật điểm rèn luyện
Giáo vụ khoa: cập nhật, tra cứu điểm, xét học bổng, thôi học của sinh
viên do khoa phụ trách
Tổ khảo thí: Thực hiện việc quản lý, nhập điểm thi kết thúc học phần
và in bảng điểm học phần của từng lớp tín chỉ
Giảng viên: Quản lý, cập nhật và in điểm chuyên cần, điểm giữa kỳ của
các lớp học phần tham gia giảng dạy
Bộ phận tài vụ: Thực hiện đối chiếu, kiểm tra việc thu học phí, báo cáo
tổng hợp thu học phí theo từng loại: học lần đầu, học lại, học nâng điểm
Bộ phận thư viện: Thực hiện quản lý tình hình mượn và trả sách của
sinh viên, cán bộ giảng viên và in các báo cáo thống kê theo yêu cầu
1.5.Quản lý quá trình đào tạo theo học chế tín chỉ
1.5.1.Quản lý chuyển đổi Chương trình đào tạo sang tín chỉ
- Bước 1: Nhận diện chương trình đào tạo:
Trang 39Tiến hành kiểm tra nhận diện toàn bộ chương trình đào tạo hiện có, chỉ
ra ưu khuyết điểm
Căn cứ chương trình khung của Bộ Giáo dục & Đào tạo, rà soát và đánh giá lại CTĐT
Xác định rõ kiểu chương trình, mảng kiến thức cốt lõi, kiến thức bổ trợ,
tự chọn, số lượng các học phần (cơ bản, cơ sở ngành, đồ án, khóa luận tổng hợp, học phần bắt buộc, tự chọn, tiên quyết )
- Bước 2: Xây dựng chương trình đào tạo:
Định hướng: Theo chương trình khung của Bộ Giáo dục & Đào tạo, đảm bảo tính chất cơ bản, khoa học hiện đại, cập nhật thực tiễn, liên thông
Chuyển đổi CTĐT: Điều chỉnh thời lượng các môn học Làm tròn số lượng tín chỉ của từng môn học Xây dựng văn bản hướng dẫn thực hiện chương trình chuyển đổi
Tổ chức hội thảo về chương trình chuyển đổi, có sự tham gia của các giảng viên, chuyên gia, các cán bộ quản lý liên quan đến chương trình đào tạo
Thủ trưởng các đơn vị đào tạo tổ chức hoàn chỉnh CTĐT đã chuyển đổi
để nghiệm thu và báo cáo
Tổ chức thẩm định và ban hành chương trình đào tạo đã chuyển đổi
1.5.2.Tổ chức xây dựng đề cương môn học
ĐCMH là văn bản có ý nghĩa quyết định tới thành bại việc áp dụng phương thức đào tạo theo tín chỉ ĐCMH do từng giảng viên/ nhóm giảng viên của bộ môn biên soạn, được bộ môn, khoa, trường thẩm định, xác nhận làm cơ sở cho các hoạt động dạy, học, đánh giá kết quả học tập, nghiên cứu môn học
Do vậy, ĐCMH phải được xây dựng với chất lượng cao nhất, cụ thể là:
Trang 40- Trên cơ sở mẫu đề cương và văn bản hướng dẫn, giảng viên cung cấp thông tin đầy đủ và xác thực nhất cho các mục trong đề cương
- Cần quan tâm đặc biệt tới mục tiêu môn học và hình thức tổ chức dạy học Vì đây là cơ sở quan trọng nhất cho việc áp dụng phương pháp dạy – học, phương pháp KT-ĐG tiến tiến phù hợp
- Đáp ứng yêu cầu của phương thức đào tạo theo tín chỉ, tiếp cận chuẩn mực quốc tế, khả thi trong điều kiện của đơn vị
- Là cơ sở để triển khai dạy – học, KT-ĐG theo phương pháp tiên tiến
1.5.3.Quản lý hoạt động giảng dạy
Trong HCTC, quản lý hoạt động giảng dạy được tiến hành thông qua ĐCMH Trong ĐCMH có các thông tin về nội dung: thông tin về GV; các môn học tiên quyết, kết tiếp; mục tiêu chung của môn học; các hình thức và tiêu chí KT-ĐG; lịch trình của môn học và chính sách đối với môn học
Giảng viên phải biên soạn và nộp bản ĐCMH cho khoa/bộ môn;
Hệ thống quản lý theo dõi, kiểm tra việc giảng viên thực hiện đề cương môn học nói trên;
Trường/ khoa tổ chức cho sinh viên nhận xét về công việc giảng dạy của giảng viên Việc lên lương, bổ nhiệm có dựa vào kết quả giảng dạy, đánh giá của cơ quan quản lý và nhận xét của sinh viên
1.5.4.Quản lý hoạt động học tập
Dựa vào catalog do nhà trường công bố, ĐCMH do giảng viên cung cấp, sinh viên tham khảo ý kiến của giảng viên, cố vấn học tập để xây dựng
kế hoạch học tập phù hợp với mình và đăng ký với khoa/trường;
Giảng viên đánh giá liên tục các hoạt động học tập của sinh viên, báo cáo cho phòng Đào tạo và cho sinh viên biết;