Lãng phí trong chi tiêu ngân sách nhà nước và tiêu dùng xã hội còn nghiêm trọng” Nhận thức được vị trí của ngành giao thông cũng như tầm quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả thực sự t
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tên tôi là: Khuất Văn Quyền
Lớp : QHPT1A
MSV: 5014013029
Sau một thời gian học tập và nghiên cứu với sự hướng dẫn của TS Ngô
Công Thành tôi đã hoàn thành chuyên đề tốt nghiệp “Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn ngân sách cho đầu tư phát triển các công trình giao thông trên địa bàn huyện Thạch Thất – Hà Nội” Chuyên đề của tôi không sao chép từ bất kì công
trình nghiên cứu, luận văn hay luận án nào Đó là công sức nghiên cứu và tìm hiểu của bản thân tôi Các tài liệu sử dụng được phép công bố, hoàn toàn trung thực, có nguồn gốc rõ ràng và chỉ mang tính chất để tham khảo phục vụ cho nghiên cứu chuyên đề
Tôi xin cam đoan những điều trên là đúng sự thật, nếu có gì sai phạm tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm
Hà Nội, ngày 15 tháng 05 năm 2014
Tác giả Khuất Văn Quyền
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Trước hết, tôi xin bày tỏ lời cảm ơn chân thành tới TS Ngô Công Thành, Vụ phó Vụ Quản lý quy hoạch - Bộ Kế Hoạch Đầu Tư là người tận tình hướng dẫn tôi trong suốt thời gian khóa luận tốt nghiệp
Tôi xin cảm ơn các thầy cô giáo đang công tác tại Học viện Chính sách và Phát triển đã giảng dạy tôi trong suốt thời gian học tập tại trường và tạo điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành khóa luận này
Tôi xin cảm ơn bạn bè đã cổ vũ, động viên tôi trong suốt quá trình học tập tại trường
Tuy đã có những cố gắng nhất định nhưng Khóa luận này còn thiếu sót và hạn chế Kính mong được sự góp ý của các thầy cô và các bạn
Hà Nội, ngày 15 tháng 05 năm 2014
Tác giả Khuất Văn Quyền
Trang 3MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
LỜI MỞ ĐẦU v
CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN, NGUỒN VỐN ĐẦU TƯ VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN 4
1.1 Đầu tư phát triển 4
1.1.1 Khái niệm đầu tư và đầu tư phát triển 4
1.1.2 Đặc điểm của đầu tư phát triển 6
1.1.3 Vai trò của đầu tư phát triển trong nền kinh tế 8
1.2 Nguồn vốn đầu tư phát triển 11
1.2.1 Vốn đầu tư phát triển 11
1.2.2 Vốn đầu tư phát triển từ ngân sách nhà nước 15
1.2.3 Vai trò của nguồn vốn đầu tư phát triển từ ngân sách nhà nước 16
1.3 Các tiêu chí đánh giá hiệu quả sử dụng vốn ngân sách nhà nước cho đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng giao thông đường bộ 17
1.3.1 Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng giao thông đường bộ 17
1.3.2 Các tiêu chí đánh giá hiệu quả sử dụng vốn đầu tư 18
1.4 Các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả sử dụng vốn đầu tư phát triển các công trình giao thông 23
1.4.1 Các nhân tố khách quan 23
1.4.2 Các nhân tố chủ quan 25
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG SỬ DỤNG VỐN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CHO ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN CÁC CÔNG TRÌNH GIAO THÔNG HUYỆN THẠCH THẤT 29
2.1 Tình hình phát triển kinh tế xã hội huyện Thạch Thất dẫn đến yêu cầu về nâng cấp hệ thống giao thông đường bộ 29
2.1.1 Tình hình kinh tế huyện Thạch Thất 29
2.1.2 Tình hình xã hội 30
2.1.3 Yêu cầu về phát triển hệ thống giao thông đường bộ 31
Trang 42.2 Thực trạng đầu tư xây dựng giao thông từ ngân sách nhà nước trên địa bàn
huyện Thạch Thất năm 2013 - 2015 32
2.2.1 Hiện trạng mạng lưới giao thông huyện Thạch Thất 32
2.2.2 Đánh giá chung về hiện trạng giao thông huyện 37
2.2.3 Tình hình huy động vốn NSNN cho phát triển giao thông đường bộ 38
2.2.4 Tình hình sử dụng vốn NSNN cho phát triển giao thông đường bộ 39
2.3 Phân tích hiệu quả sử dụng vốn ngân sách nhà nước cho đầu tư phát triển giao thông trên địa bàn huyện 41
2.3.2 Hiệu quả xã hội 44
2.4 Đánh giá hiệu quả sử dụng vốn ngân sách nhà nước đầu tư phát triển giao thông trên địa bàn huyện 45
2.4.1 Những thành tựu đạt được 46
2.4.2 Hạn chế, yếu kém 47
2.4.3 Nguyên nhân 48
CHƯƠNG 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN NSNN ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN CÁC CÔNG TRÌNH GIAO THÔNG Ở HUYỆN THẠCH THẤT – HÀ NỘI 52
3.1 Định hướng đầu tư từ ngân sách nhà nước cho xây dựng cơ bản trên địa bàn huyện giai đoạn tới 52
3.1.1 Định hướng phát triển kinh tế xã hội của huyện trong thời gian tới 52
3.1.2 Định hướng đầu tư phát triển các công trình giao thông 54
3.2 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư phát triển 55
3.2.1 Giải pháp về quy hoạch, kế hoạch 55
3.2.2 Các giải pháp về cơ chế chính sách, tổ chức, quản lý đầu tư phát triển 56
3.2.3 Giải pháp kỹ thuật 58
3.2.4 Giải pháp về tổ chức, thực hiện 59
3.3 Một số kiến nghị, đề xuất 60
KẾT LUẬN 62
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 63
PHỤ LỤC
Trang 5DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Tổng hợp hiện trạng dân số huyện Thạch Thất 31
Bảng 2.2: Tổng hợp hiện trạng dân số huyện Thạch Thất phân theo khu vực 31
Bảng 2.3: Chiều dài các loại đường trên địa bàn Thạch Thất 33
Bảng 2.4: Cơ cấu vốn đầu tư phát triển huyện Thạch Thất 2013 40
Bảng 2.5: Kế hoạch vốn huyện Thạch Thất 2013 40
Bảng 2.6: Cơ cấu kinh tế huyện Thạch Thất phân theo ngành 41
Bảng 2.7: Các Phương tiện đường bộ đăng kí tại huyện Thạch Thất 43
Bảng 2.8: Tiến độ đầu tư các loại công trình giao thông huyện Thạch Thất năm 2013 43
Bảng 2.9: Vốn đầu tư phát triển cho 3 xã miền núi huyện Thạch Thất năm 2013 45
DANH MỤC HÌNH VẼ Hình 2.1: Cơ cấu GDP huyện Thạch Thất năm 2013 30
Hình 2.2: Hiện trạng tỉ lệ các loại mặt đường 33
Hình 2.3: Giá trị sản lượng các ngành nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ với Tổng km đường từ năm 2010-2013 42
Trang 6LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Con đường từ nghèo tới khá hoặc giàu của một địa phương, một đất nước bao giờ cũng là một con đường khó khăn Để tạo lập được sự phát triển bền vững, tăng lợi ích quốc gia một trong những yếu tố quyết định đó chính là các hoạt động đầu tư Trong đó, hoạt động đầu tư phát triển sẽ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tăng thu nhập quốc dân, góp phần giải quyết việc làm và nâng cao đời sống người dân trong xã hội Đặc biệt để thực hiện mục tiêu tới năm 2020 đưa nước ta trở thành một nước công nghiệp như trong tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đã khẳng định,
có vai trò vô cùng quan trọng của cơ sở hạ tầng giao thông, nhất là với giao thông đường bộ được coi là huyết mạch của sự phát triển kinh tế xã hội đất nước
Có thể nói giao thông đường bộ là một bộ phận quan trọng của giao thông vận tải nói riêng và của hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội nói chung, đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội và đóng góp lớn vào việc đảm bảo nhu cầu đi lại của người dân, mở rộng giao lưu giữa các vùng, xóa bỏ khoảng cách địa
lý, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo đúng hướng và lợi thế của từng vùng, đảm bảo
an ninh quốc phòng Bên cạnh đó, với quan điểm có thông mới có thương, có phát triển về giao thông mới phát triển về thương mại hệ thống giao thông đường bộ cũng thể hiện trình độ phát triển của vùng, của quốc gia
Tuy nhiên, thực trạng về đầu tư phát triển nói chung và giao thông vận tải nói riêng hiện nay vẫn còn nhiều tồn tại, bất cập, tại đại hội Đại biểu Đảng lần thứ
XI đã khẳng định: “Nhiều nguồn lực và tiềm năng trong nước chưa được huy động
và khai thác tốt Đầu tư các ngành, các lĩnh vực của nhà nước còn dàn trải, bị thất thoát nhiều, một số công trình lớn, quan trọng của quốc gia không hoàn thành theo
kế hoạch Lãng phí trong chi tiêu ngân sách nhà nước và tiêu dùng xã hội còn nghiêm trọng”
Nhận thức được vị trí của ngành giao thông cũng như tầm quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả thực sự trong sử dụng vốn ngân sách nhà nước đầu tư phát triển, Đảng và nhà nước cũng đặt ra yêu cầu cần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn để phát triển hệ thống giao thông đường bộ nói riêng và giao thông vận tải nói chung
đi trước một bước
Cũng như các địa phương khác, quá trình đầu tư phát triển ngành giao thông của huyện Thạch Thất- huyện ngoại thành về phía Tây của Hà Nội cũng đã có bước thành công nhất định Nguồn vốn ngân sách đã được phát huy một cách hiệu quả
Trang 7khi nhiều công trình, hạng mục giao thông đã được hoàn thành và đưa vào sử dụng, chất lượng đường xá được cải thiện Tuy nhiên trên thực tế, đầu tư xây dựng giao thông huyện cũng vẫn còn những bất cập, còn tồn tại nhiều công trình chất lượng thấp, hiệu quả kinh tế xã hội huyện còn hạn chế Thất thoát trong đầu tư xây dựng
cơ bản giao thông chưa được khắc phục triệt để Với vị trí là mắt xích của thủ đô, là cầu nối kinh tế của vùng thì việc sử dụng hiệu quả vốn đầu tư xây dựng cơ bản giao thông đường bộ của huyện Thạch Thất là một nút cổ chai quan trọng trong phát triển của huyện nói riêng và của toàn thành phố Hà Nội nói chung, cần phải có những chính sách, giải pháp triệt để hơn nữa để giải quyết những vấn đề còn tồn tại
Chính vì lý do đó mà em đã lựa chọn nghiên cứu đề tài “Nâng cao hiệu quả sử
dụng vốn ngân sách cho đầu tư phát triển các công trình giao thông trên địa
bàn huyện Thạch Thất – Hà Nội”
2 Đối tượng và mục đích nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Hiệu quả sử dụng vốn ngân sách cho đầu tư phát
triển các công trình giao thông
- Trên cơ sở nghiên cứu lý luận về đầu tư phát triển, nguồn vốn đầu tư và các tiêu chí đánh giá hiệu quả sử dụng vốn, vận dụng những lý thuyết này vào trong việc đánh giá thực trạng hiệu quả sử dụng vốn đầu tư các công trình giao thông tại huyện Thạch Thất Trong thời gian qua, việc đầu tư xây dựng các công trình giao thông đã đạt được những thành tựu và còn tồn tại những hạn chế, yếu kém gì Từ
đó, đề ra một số những giải pháp nhằm giải quyết những vấn đề còn tồn tại, hướng đến
4 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Không gian: Đầu tư phát triển công trình giao thông tại huyện Thạch Thất
+ Thời gian : Đánh giá hiệu quả sử dụng vốn của huyện trong giai đoạn đến
năm 2013 và những năm tiếp theo
5 Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, khóa luận này sử dụng các phương pháp khảo sát, tổng hợp, thống kê, phân tích số liệu,
so sánh nhằm đánh giá thực trạng hiệu quả sử dụng vốn ngân sách nhà nước cho đầu tư phát triển
6 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, chuyên đề gồm
Trang 83 chương :
Chương 1: Một số vấn đề lý luận chung về đầu tư phát triển, nguồn vốn đầu
tư và hiệu quả sử dụng vốn
Chương 2: Thực trạng đầu tư và hiệu quả sử dụng vốn ngân sách nhà nước
cho đầu tư phát triển các công trình giao thông trên địa bàn huyện Thạch Thất
Chương 3: Một số giải pháp cao hiệu quả sử dụng vốn ngân sách đầu tư phát triển
các công trình giao thông ở huyện Thạch Thất giai đoạn tới
Trang 9CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN,
NGUỒN VỐN ĐẦU TƯ VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN
tế
Đầu tư là một khái niệm có hai nghĩa:
Ở nghĩa rộng, đầu tư là sự hy sinh các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành các
hoạt động nào đó nhằm thu về cho người đầu tư các kết quả nhất định trong tương lai lớn hơn các nguồn lực đã bỏ ra để đạt được các kết quả đó Nguồn lực phải hy sinh đó có thể là tiền, là tài nguyên thiên nhiên, là sức lao động và trí tuệ Những kết quả đạt được có thể là sự tăng thêm các tài sản tài chính, tài sản vật chất, tài sản trí tuệ và nguồn nhân lực
Ở nghĩa hẹp, đầu tư chỉ bao gồm những hoạt động sử dụng các nguồn lực ở
hiện tại nhằm đem lại cho nền kinh tế - xã hội những kết quả nhất định trong tương lai lớn hơn các nguồn lực đã bỏ ra để đạt được các kết quả đó
Như vậy chúng ta có thể thấy xuất phát từ phạm vi phát huy tác dụng của các kết quả đầu tư ta có những cách hiểu khác nhau về đầu tư nhưng phần nào đã cho chúng ta cái nhìn tổng thể về đầu tư Tóm lại đầu tư có thể hiểu một cách đơn giản
là hoạt động sử dụng các nguồn lực tài chính, nguồn lực vật chất, nguồn lực lao động và trí tuệ để sản xuất kinh doanh trong một thời gian tương đối dài nhằm thu
về lợi nhuận và lợi ích kinh tế xã hội
Trang 10Đầu tư tài chính là loại đầu tư trong đó người có tiền bỏ ra cho vay hoặc mua các giấy tờ có giá để hưởng lãi suất định trước, hay lãi suất tùy thuộc vào kết quả của hoạt động sản xuất kinh doanh của cơ quan phát hành, không tạo ra tài sản mới cho nền kinh tế mà chỉ làm tăng giá trị tài sản tài chính của các tổ chức cá nhân
Đầu tư thương mại là hình thức đầu tư trong đó người có tiền bỏ tiền ra mua hàng hóa và sau đó bán với giá cao hơn nhằm thu lợi nhuận chênh lệch do giá khi mua và bán, không tạo ra tài sản mới cho nền kinh tế mà chỉ làm tăng tài sản tài chính của nhà đầu tư
Đầu tư phát triển là bộ phận cơ bản của đầu tư, là hoạt động đầu tư mà trong đó người có tiền bỏ tiền ra để tiến hành các hoạt động nhằm làm tăng thêm hoặc tạo ra những tài sản vật chất( nhà xưởng, thiết bị ) và tài sản trí tuệ ( tri thức,
kỹ năng ) mới cho nền kinh tế, làm tăng tiềm lực sản xuất kinh doanh và các hoạt động xã hội khác, là điều kiện chủ yếu để tạo việc làm, nâng cao đời sống của mọi người dân trong xã hội
Ba loại này luôn tồn tại và có quan hệ tương hỗ lẫn nhau Trong đó đầu tư phát triển là loại đầu tư quyết định trực tiếp sự phát triển của nên sản xuất xã hội, là điều kiện tiên quyết cho sự ra đời, tồn tại và tiếp tục phát triển của mọi cơ sở sản xuất kinh doanh dịch vụ
1.1.1.2 Đầu tư phát triển
Đầu tư phát triển có thể hiểu đơn giản là việc bỏ tiền ra để xây dựng các công trình hạ tầng kinh tế - xã hội, mua sắm trang thiết bị, bồi dưỡng và đào tạo nguồn nhân lực, thực hiện các chi phí thường xuyên gắn liền với sự hoạt động của các tài sản này nhằm duy trì tiềm lực hoạt động của các cơ sở đang tồn tại và tạo tiềm lực mới cho nền kinh tế xã hội
Đầu tư phát triển đòi hỏi rất nhiều các loại nguồn lực: về vốn, đất đai, lao động, máy móc, thiết bị, tài nguyên…Vì vậy, khi xem xét lựa chọn dự án đầu tư hay đánh giá hiệu quả hoạt động đầu tư phát triển cần tính toán đủ các nguồn lực tham gia
Đối tượng của đầu tư phát triển là tất cả các yếu tố mà chủ đầu tư bỏ vốn ra thực hiện để đạt mục tiêu nhất định Tùy vào những góc độ khác nhau thì phân chia đối tượng của ĐTPT thành những nhóm đối tượng khác nhau Theo góc độ tính chất, mục đích: đối tượng ĐTPT gồm đầu tư vì mục tiêu lời nhuận, đầu tư phi lợi nhuận Theo góc độ tài sản: đối tượng ĐTPT gồm tài sản vật chất, tài sản vô hình Theo góc độ phân công LĐXH : đối tượng ĐTPT gồm đầu tư theo ngành, đầu tư
Trang 11theo lãnh thổ
Đứng trên góc độ nền kinh tế, đầu tư phát triển là việc làm gia tăng tài sản cho nền kinh tế Vì vậy, kết quả của đầu tư phát triển là sự tăng thêm về tài sản vật chất (nhà xưởng, thiết bị ), tài sản trí tuệ (trình độ văn hóa, chuyên môn, khoa học,
kỹ thuật ) và tài sản vô hình (những phát minh sáng chế, bản quyền ) Và chính các kết quả đã làm gia tăng năng lực sản xuất của xã hội Còn hiệu quả đầu tư phát triển
là sự so sánh giữa kết quả kinh tế xã hội thu được với chi phí chi ra để đạt kết quả
đó Chi phí bỏ ra càng ít mà thu được kết quả về kinh tế, xã hội càng nhiều thì hiệu quả đầu tư phát triển càng cao Tuy nhiên khi xem xét và đánh giá kết quả và hiệu quả hoạt động ĐTPT cần đứng trên quan điểm lợi ích của cả nền kinh tế quốc dân đồng thời cũng cần ghi nhận lợi ích chính đáng của chủ đầu tư nhằm đảm bảo các lợi ích này không mâu thuẫn với nhau
Mục đích của đầu tư phát triển là vì sự phát triển bền vững, vì lợi ích quốc gia, cộng đồng và nhà đầu tư, thúc đẩu tăng trưởng kinh tế, tăng thu nhập quốc dân, giải quyết việc làm, nâng cao đời sống người dân
Hoạt động ĐTPT là một quá trình, diễn ra trong thời kỳ dài và tồn tại vấn đề
“độ trễ thời gian” Độ trễ thời gian là sự không trùng hợp giữa thời gian đầu tư với thời gian vận hành các kết quả đầu tư hay đầu tư ở hiện tại nhưng kết quả thu được lại ở tương lai Do đó, yếu tố độ trễ thời gian cần được xem xét khi đánh giá kết quả, chi phí và hiệu quả hoạt động của đầu tư phát triển
1.1.2 Đặc điểm của đầu tư phát triển
Hoạt động đầu tư phát triển có những đặc điểm chủ yếu sau đây:
Nguồn lực đầu tư về tiền vốn, nguyên nhiên vật liệu, lao động thường rất lớn Khi xây dựng một công trình ĐTPT, nguồn vốn đầu tư bỏ ra là rất lớn, nằm ứ đọng dưới dạng các công trình dở dang Do vậy nó ảnh hưởng đến chi phí sử dụng, quản lý vốn ( thời gian, chi phí, kết quả, chất lượng) và khả năng cạnh tranh trên thị trường Nếu vốn không được sử dụng hợp lý thì sẽ bỏ lỡ thời cơ và cơ hội cạnh tranh nên các nhà đầu tư cần phải cân nhắc lựa chọn đầu tư vào đâu cho có hiệu quả cao nhất, phải nghiên cứu thị trường, có giải pháp tạo vốn và huy động vốn hợp lý, xây dựng các chính sách, quy hoạch, kế hoạch đầu tư đúng đắn, quản lý chặt chẽ tổng vốn đầu tư, bố trí vốn theo tiến độ đầu tư, thực hiện ưu tiên đầu tư trọng tâm, trọng điểm
Thời kỳ đầu tư kéo dài: Thời kỳ đầu tư là khoảng thời gian bắt đầu từ khi khởi công thực hiện dự án đến khi dự án hoàn thành và đưa vào hoạt động Các công trình đầu tư phát triển có thời gian đầu tư từ vài tháng, vài năm thậm chí kéo
Trang 12dài hàng chục năm tùy mức độ quan trọng và nguồn vốn của từng công trình Vì thế nên nguồn vốn đầu tư nằm ứ đọng trong suốt quá trình thực hiện đầu tư, do đó để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư, cần tiến hành phân kỳ đầu tư ra thành những khoảng thời gian ngắn để phân vốn và các nguồn lực tập trung hoàn thành dứt điểm từng hạng mục công trình, quản lý chặt chẽ tiến độ kế hoạch đầu tư, khắc phục tình trạng thiếu vốn, nợ đọng vốn đầu tư phát triển
Thời gian vận hành các kết quả đầu tư kéo dài: Thời gian vận hành đầu tư là khoảng thời gian bắt đầu từ khi công trình được đưa vào hoạt động cho đến khi công trình hết thời gian sử dụng, khoảng thời gian này chịu sự tác động của cung cầu thị trường, của các yếu tố đầu vào và đầu ra của dự án Đồng thời trong thời gian vận hành các công trình đầu tư dài cũng chịu ảnh hưởng của các yếu tố như: môi trường, điều kiện tự nhiên, pháp lý, kinh tế, xã hội, chính trị Các yếu tố này có thể thay đổi kết quả và hiệu quả của đầu tư Vì vậy để hạn chế những tác động tiêu cực và phát huy tối đa những tác động tích cực từ các yếu tố trên, cần xây dựng cơ chế và phương pháp dự báo về nhu cầu thị trường với sản phẩm đầu tư trong tương lai, dự kiến khả năng cung từng năm và toàn bộ vòng đời dự án, quản lý tốt quá trình vận hành, nhanh chóng đưa các thành quả đầu tư vào sử dụng, hoạt động tối đa công suất, đẩy mạnh tiến độ để nhanh chóng thu hồi vốn, tránh những hao phí vô hình Hơn nữa, cũng cần chú ý đến yếu tố độ trễ thời gian trong đầu tư để phát huy cao nhất tính hiệu quả của dự án đầu tư phát triển
Các yếu tố của hoạt động đầu tư phát triển như quá trình thực hiện đầu tư, thời kỳ vận hành hay các thành quả của quá trình đầu tư đều chịu tác động lớn của các nhân tố tự nhiên, kinh tế, xã hội vùng
Khi đưa ra chủ trương đầu tư và quyết định đầu tư các dự án phát triển, để xem xét đầu tư cái gì, đầu tư ở đâu, công suất như thế nào là hợp lý cần dựa trên căn cứ, qua tìm hiểu, nghiên cứu về tổng thể các yếu tố tự nhiên, địa lý, kinh tế, xã hội cùng nhằm tạo ra hệ thống các chi tiêu khác nhau và nhiều phương án so sánh
để chọn vùng lãnh thổ và địa điểm đầu tư cụ thể phù hợp nhất, sao cho khai thác được tối đa lợi thế vùng và không gian đầu tư cụ thể, tạo điều kiện nâng cao hiệu quả vốn đầu tư
Đầu tư phát triển có độ rủi ro cao: Với quy mô vốn đầu tư lớn, thời kỳ đầu tư dài và thời gian vận hành cũng kéo dài của các công trình đầu tư phát triển nên hoạt động đầu tư phát triển này mang tính rủi ro cao Rủi ro đầu tư do nhiều nguyên nhân,
có những nguyên nhân khách quan và chủ quan, trong đó, nguyên nhân khách quan là
có thể do giá nguyên vật liệu tăng, công suất sản phẩm không đạt công suất thiết kế, giá
Trang 13sản phẩm giảm…và nguyên nhân chủ quan là công tác quản lý của các chủ đầu tư còn kém, chất lượng sản phẩm làm ra không đạt yêu cầu…Vì vậy, để quản lý hoạt động đầu tư phát triển hiệu quả, cần phải thực hiện các biện pháp quản lý rủi như: nhận diện rủi ro đầu tư từ nhiều nguyên nhân gây rủi ro khác nhau, qua đó, cần xác định đúng nguyên nhân rủi ro để tìm ra giải pháp phù hợp khắc phục Sau đó đánh giá mức độ rủi
ro sẽ giúp đưa ra biện pháp phòng và chống phù hợp Và xây dựng các biện pháp phòng và chống rủi ro để hạn chế mức thấp nhất các thiệt hại có thể có do rủi ro gây ra
1.1.3 Vai trò của đầu tư phát triển trong nền kinh tế
Như chúng ta đã biết, đầu tư phát triển chính là hoạt động đầu tư tài sản vật chất và sức lao động chính vì thế nó là nhân tố quan trọng để phát triển và tăng trưởng kinh tế Vai trò của nó trong nền kinh tế được thể hiện ở các mặt sau:
1.1.3.1 Làm tăng tổng cung và tổng cầu của nền kinh tế
Về tổng cầu: Đầu tư phát triển là yếu tố chiếm tỷ trọng lớn trong tổng cầu của toàn bộ nền kinh tế, đầu tư thường chiếm từ 24%-28% trong tổng cầu Khi mà tổng cung chưa thay đổi, sự tăng lên của đầu tư làm cho tổng cầu tăng kéo sản lượng cân bằng tăng theo và giá cân bằng tăng
Về tổng cung: Tổng nguồn cung của nền kinh tế gồm nguồn cung trong nước
và nguồn cung nước ngoài Cung trong nước là một hàm của các nguồn lực về vốn, lao động, tài nguyên, công nghệ Vì thế nên tăng lượng vốn đầu tư tác động trực tiếp làm tổng cung tăng Đồng thời đầu tư là tăng năng lực sản xuất dẫn đến sản lượng tăng, giá giảm xuống, cho phép tiêu dùng tăng Tăng tiêu dùng lại kích thích sản xuất phát triển, tăng quy mô đầu tư Sản xuất phát triển lại là nhân tố cơ bản để tăng tích luỹ, phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao thu nhập của người lao động, cải thiện đời sống của mọi thành viên trong xã hội
Có thể thấy mối quan hệ chặt chẽ giữa đầu tư với tổng cung và tổng cầu của nền kinh tế Đầu tư có tác động hai mặt đến sự ổn định kinh tế:
Sự tác động không đồng thời về mặt thời gian của đầu tư tới tổng cung và tổng cầu của nền kinh tế vừa là yếu tố duy trì sư ổn định, song cũng lại thể hiện sự thay đổi, vận động linh hoạt của nền kinh tế của mọi quốc gia Từ đó nhà nước cần đưa ra các chính sách đầu tư hợp lý để thúc đẩy nền kinh tế phát triển bền vững
1.1.3.2 Tác động đến tốc độ tăng trưởng và phát triển kinh tế
Đầu tư phát triển là nhân tố vừa ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng vừa ảnh hưởng đến chất lượng tăng trưởng Tăng quy mô vốn đầu tư và sử dụng vốn đầu tư hợp lý là nhân tố quan trọng góp phần nâng cao hiệu quả đầu tư, tăng năng suất nhân tố tổng hợp, tác động đến việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH-
Trang 14HĐH, nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế, do đó nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế
Mối quan hệ giữa đầu tư phát triển với tăng trưởng kinh tế thể hiện qua hệ số ICOR
Hệ số ICOR là tỷ số giữa quy mô đầu tư tăng thêm với mức gia tăng sản lượng tức là suất đầu tư cần thiết để tạo ra một đơn vị sản lượng
ICOR = Vốn đầu tư tăng thêm/ GDP tăng thêm
= Đầu tư trong kỳ/ GDP tăng thêm
=> Mức tăng GDP = Mức tăng vốn đầu tư / ICOR
Do đó nếu hệ số ICOR không đổi thì mức tăng GDP hoàn toàn phụ thuộc vào mức tăng vốn đầu tư cho nên đầu tư có ảnh hưởng rất quan trọng đến tốc độ tăng trưởng kinh tế, nó là nhân tố không thể thiếu cho bất kì quốc gia nào trong quá trình phát triển
Đầu tư phát triển còn có ảnh hưởng quan trọng không chỉ đến tốc độ tăng trưởng cao hay thấp mà còn đến chất lượng tăng trưởng kinh tế Trên góc độ phân tích đa nhân tố, mối quan hệ đầu tư với tăng trưởng kinh tế thể hiện qua công thức:
g= Di + Dl + TFP Trong đó:
g: tốc độ tăng trưởng GDP
Di: đóng góp của vốn đầu tư vào tăng trưởng GDP
Dl: đóng góp của lao động vào tăng trưởng GDP
TFP: đóng góp của các yếu tố năng suất vào tăng trưởng GDP
Từ công thức trên có thể thấy tốc độ tăng trưởng tăng khi Di tăng, đây là sự tăng trưởng theo chiều rộng Tuy nhiên cần nâng cao chất lượng tăng trưởng (tăng trưởng theo chiều sâu) bằng cách sử dụng hợp lý nguồn vốn đầu tư, tăng tỷ trọng nhân tố năng suất tổng hợp(TFP), sẽ giúp thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tăng tính bền vững của tăng trưởng kinh tế
1.1.3.3 Thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Đầu tư phát triển là nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến quá trình chuyển dịch
cơ cấu kinh tế Đầu tư góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế phù hợp với mục tiêu và chiến lược phát triển kinh tế xã hội của từng vùng, từng địa phương và của cả nước trong từng thời kỳ, đảm bảo sự phát triển theo hướng tích cực, tạo cân đối mới giữa các ngành, các vùng trong nền kinh tế
Về cơ cấu ngành, tùy thuộc vào vị trí, vai trò của từng ngành trong nền kinh
Trang 15tế mà xác định ưu tiên đầu tư vốn, tăng quy mô vốn vào ngành phát triển trọng tâm, trọng điểm hơn các ngành khác, đồng thời xem xét việc sử dụng vốn đạt hiệu quả cao hay thấp… sẽ tác động đến tốc độ phát triển kinh tế, đến khả năng tăng cường
cơ sở vật chất của từng ngành do đó làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành theo định hướng phát triển kinh tế xã hội của từng vùng và trên cả nước
Về cơ cấu lãnh thổ, tùy tình hình kinh tế xã hội của từng vùng, từng địa phương khác nhau mà đầu tư phát triển có vai trò khác nhau Với những vùng kém phát triển, ĐTPT sẽ giúp các vùng này thoát khỏi tình trạng đói nghèo, bất bình đẳng giữa các vùng, đồng thời với những vùng có khả năng phát triển nhanh hơn thì ĐTPT có thể phát huy tối đa những lợi thế so sánh về tài nguyên, địa thế, kinh tế, chính trị… của các vùng này, góp phần thúc đẩy các địa phương cùng phát triển
Vì vậy để phát huy vai trò của đầu tư phát triển đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cần có quy hoạch đầu tư, cơ cấu đầu tư phù hợp với quy hoạch, chiến lược tổng thể phát triển KTXH của ngành, của địa phương và của cả nước Đồng thời cần có kế hoạch đầu tư phù hợp với khả năng tài chính, phát huy lợi thế so sánh từng vùng nhằm giảm thất thoát lãng phí nguồn lực đầu tư, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư
1.1.3.4 Tăng cường khả năng khoa học và công nghệ của đất nước
Đầu tư phát triển có tác động quan trọng đến đổi mới và cải tiến khoa học, công nghệ của một doanh nghiệp, một địa phương và của cả nước
Công nghệ gồm có các yếu tố cơ bản về phần cứng như máy móc, trang thiết
bị, phần mềm như các văn bản, tài liệu, các bí quyết, yếu tố con người như các kỹ năng quản lý, kinh nghiệm, yếu tố tổ chức như về thể chế, phương pháp tổ chức Muốn đổi mới công nghệ phải đầu tư vào cải tiến các yếu tố cấu thành
Trong các thời kỳ khác nhau, cần có những bước đầu tư phát triển công nghệ khác nhau Ở giai đoạn đầu với các nước đang phát triển, do có nhiều lao động và nguyên liệu, thường đầu tư các loại công nghệ sử dụng nhiều lao động và nguyên liệu, sau đó giảm dần hàm lượng lao động nguyên liệu trong sản xuất và tăng dần hàm lượng vốn thiết bị và tri thức thông qua việc đầu tư công nghệ hiện đại hơn và đầu tư đúng mức để phát triển nguồn nhân lực Đến giai đoạn phát triển như hiện nay khi mà công nghệ là trung tâm của công nghiệp hóa thì xu hướng đầu tư mạnh vào công nghệ chứa hàm lượng vốn thiết bị và tri thức chiếm ưu thế tuyệt đối Ở giai đoạn này, đòi hỏi lượng vốn đầu tư cho công nghệ là rất lớn Có thể khẳng định đầu tư là điều kiện tiên quyết của sự phát triển và tăng cường khả năng khoa học công nghệ của đất nước Có thể dễ dàng nhận thấy có hai con đường để có công nghệ đó là tự nghiên cứu phát minh hoặc mua của nước ngoài Dù là tự nghiên cứu hay nhập khẩu để có công nghệ thì cũng đều đòi hỏi lượng vốn đầu tư lớn Mỗi
Trang 16doanh nghiệp, mỗi nước khác nhau cần phải có bước đi phù hợp để lựa chọn công nghệ thích hợp
Tác động của đầu tư đến trình độ phát triển khoa học công nghệ được phản ánh qua các chỉ tiêu sau:
Tỷ trọng vốn đầu tư đổi mới công nghệ/ tổng vốn đầu tư Chỉ tiêu này cho thấy mức độ đầu tư đổi mới công nghệ nhiều hay ít trong mỗi thời kỳ
Tỷ trọng chi phí mua sắm máy móc thiết bị/ tổng vốn đầu tư thực hiện Chỉ tiêu này cho thấy tỷ lệ vốn là máy móc thiết bị chiếm bao nhiêu
Tỷ trọng vốn đầu tư theo chiều sâu/ tổng vốn đầu tư thực hiện Đầu tư chiều sâu thường gắn liền với đổi mới công nghệ Do đó chỉ tiêu này càng lớn phản ánh mức độ đâu tư đổi mới khoa học và công nghệ càng cao
Tỷ trọng vốn đầu tư cho các công trình ưu tiên, trọng tâm, trọng điểm Các công trình này thường là các công trình đầu tư lớn, công nghệ hiện đại, tạo tiền đề
để đầu tư phát triển các công trình khác Chỉ tiêu này càng lớn cho thấy mức độ tập trung của công nghệ càng cao
1.2 Nguồn vốn đầu tư phát triển
1.2.1 Vốn đầu tư phát triển
1.2.1.1 Khái niệm và vai trò của vốn đầu tư
* Khái niệm vốn đầu tư
Vốn đầu tư là một nguồn lực quan trọng tác động đến quá trình phát triển kinh tế xã hội
Theo quan điểm của nền kinh tế thị trường:
Vốn được coi là giá trị tài sản xã hội được hình thành nguồn vật chất và phi vật chất Vốn gồm tài nguyên thiên nhiên được con người khai thác và sử dụng tạo
ra giá trị mới và tài sản tích lũy
Như vậy, nhìn một cách tổng quát, vốn đầu tư chính là tiền tích luỹ của xã hội của các cơ sở sản xuất kinh doanh, dịch vụ, là vốn huy động của dân và vốn huy động từ các nguồn khác, được đưa vào sử dụng trong quá trình tái sản xuất xã hội nhằm duy trì tiềm lực sẵn có và tạo tiềm lực mới cho nền sản xuất xã hội
Theo đó, nguồn hình thành vốn đầu tư chính là phần tích lũy được thể hiện dưới dạng giá trị được chuyển hóa thành vốn đầu tư đáp ứng yêu cầu phát triển của
xã hội Xét về bản chất, nguồn hình thành vốn đầu tư chính là phần tiết kiệm hay tích lũy mà nền kinh tế có thể huy động được để đưa vào quá trình tái sản xuất
* Vai trò vốn đầu tư
Trang 17Đối với tài sản lưu động:
Vốn đầu tư vào tài sản lưu động đáp ứng nhu cầu dự trữ thường xuyên và ổn định các yếu tố được coi là nhu cầu thiết yếu của các ngành kinh tế, như nhu cầu dự trữ nguyên, nhiên vật liệu Hơn nữa, nguồn vốn này giúp cho các nhà đầu tư tăng, giảm mức dự trữ hàng hóa tồn kho theo biến động của giá cả nền kinh tế thị trường Vốn đảm bảo hoạt động của nền kinh tế diễn ra một cách liên tục, tuần hoàn, trơn tru và có hiệu quả
Đối với tài sản cố định
Vốn đầu tư vào tài sản cố định nhằm cân đối với sự hao mòn trong quá trình hoạt động của tài sản cố định, tăng cường việc đổi mới, cải tiến và hiện đại hóa phù hợp với yêu cầu của xu thế phát triển Vốn đầu tư vào tài sản cố định làm tăng năng lực, tăng sức cạnh tranh của nền kinh tế Nó được tính bằng tổng giá trị xây dựng lắp đặt thực hiện trong nền kinh tế với thời gian là một năm
1.2.1.2 Phân loại vốn đầu tư
Tùy theo từng mục đích nghiên cứu mà người ta phân loại vốn đầu tư phát triển thành các tiêu thức khác nhau Nhưng tổng quan các cách phân loại này đều phục vụ cho công tác quản lý tốt hơn đối với hoạt động đầu tư phát triển
*Trên góc độ của toàn nền kinh tế: nguồn vốn đầu tư gồm nguồn vốn đầu tư trong nước và nguồn vốn đầu tư nước ngoài
- Nguồn vốn đầu tư trong nước
Nguồn vốn đầu tư trong nước là phần tích lũy của nội bộ nền kinh tế bao gồm tiết kiệm của khu vực dân cư, các tổ chức kinh tế, các doanh nghiệp và tiết kiệm của chính phủ được huy động vào quá trình tái sản xuất xã hội Hai nguồn chính của vốn đầu tư trong nước bao gồm vốn đầu tư nhà nước và nguồn vốn của dân cư và tư nhân Trong nền kinh tế thị trường, nguồn vốn đầu tư trong nước được đánh giá đóng vai trò chủ đạo trong phát triển kinh tế - xã hội
Nguồn vốn nhà nước
Nguồn vốn nhà nước bao gồm nguồn vốn của ngân sách nhà nước, nguồn vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước và nguồn vốn đầu tư phát triển của doanh nghiệp thuộc nhà nước
Nguồn vốn ngân sách nhà nước: Đây là nguồn vốn chi ngân sách nhà nước
cho hoạt động đầu tư Vốn ngân sách nhà nước là một nguồn vốn đầu tư quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia Nguồn vốn này thường được sử dụng cho các dự án kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, hỗ trợ dự án của doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực cần có sự tham gia của nhà
Trang 18nước, chi cho công tác lập và thực hiện các quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế- xã hội vùng, lãnh thổ, quy hoạch xây dựng đô thị và nông thôn
Trong những năm gần đây, với sự tăng trưởng và phát triển không ngừng của nền kinh tế, quy mô tổng thu ngân sách nhà nước không ngừng gia tăng nhờ sự mở rộng nhiều nguồn thu khác nhau (huy động qua thuế, phí, bán tài nguyên, bán hay cho thuê tài sản thuộc sở hữu nhà nước) Đi cùng với sự mở rộng quy mô ngân sách, mức chi cho đầu tư phát triển từ ngân sách nhà nước cũng tăng lên đáng kể
Nguồn vốn tín dụng đầu tư phát triển nhà nước: Đây là nguồn vốn được huy
động thông qua phát hành trái phiếu chính phủ và các hình thức vay nợ qua kho bạc nhà nước Vốn tín dụng đầu tư phát triển nhà nước ngày càng đóng vai trò đáng kể trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội Trong những năm gần đây, nguồn vốn này đã có mức tăng trưởng tương đối lớn và bắt đầu có vị trí quan trọng trong chính sách đầu tư của nhà nước, đang có xu hướng cải thiện về chất lượng và phương thức tài trợ song tỷ trọng sẽ không có tăng đáng kể Nguồn vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước có tác dụng tích cực trong việc giảm đáng kể việc cấp vốn trực tiếp từ nhà nước Với cơ chế tín dụng, các đơn vị sử dụng nguồn vốn này sẽ phải đảm bảo nguyên tắc hoàn trả vốn vay, chủ đầu tư là người vay vốn sẽ sử dụng vốn một cách
có hiệu quả và tiết kiệm hơn Vốn tín dụng đầu tư và phát triển của nhà nước là một hình thức chuyển từ phương thức cấp phát vốn ngân sách sang phương thức tín dụng đối với các dự án có khả năng thu hồi vốn trực tiếp
Ngoài ra, vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước còn hỗ trợ công tác kế hoạch và quản lí kinh tế vĩ mô Thông qua nguồn tín dụng đầu tư, Nhà nước có thể lên kế hoạch xác định đầu tư phát triển các ngành, vùng, lĩnh vực theo đúng chiến lược phát triển kinh tế xã hội của mình Đồng thời đứng trên góc độ xã hội, vốn tín dụng còn khuyến khích phát triển những vùng kinh tế khó khăn, giải quyết các vấn
đề xã hội như bất bình đẳng xã hội, xóa đói giảm nghèo Và trên hết, vốn tín dụng đầu tư phát triển có tác dụng đáng kể trong việc chuyển dịch cơ cấu theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Nguồn vốn đầu tư của các doanh nghiệp nhà nước: Đây là nguồn vốn chủ
yếu bao gồm khấu hao tài sản cố định và thu nhập giữ lại tại các doanh nghiệp Nhà nước Nguồn vốn này có vai trò chủ đạo trong nền kinh tế, các doanh nghiệp Nhà nước thường nắm giữ một khối lượng vốn khá lớn, chủ yếu là đầu tư chiều sâu, mở rộng sản xuất, đổi mới thiết bị, hiện đại hóa dây chuyền công nghệ của doanh nghiệp Trong những năm gần đây, mặc dù gặp phải nhiều khó khăn và thách thức, nhưng có thể nói sự tham gia của doanh nghiệp Nhà nước vẫn đóng vai trò chủ đạo trong nền kinh tế nhiều thành phần Vì vậy cần tăng hiệu quả sử dụng vốn đầu tư
Trang 19vào doanh nghiệp nhà nước
Nguồn vốn của dân cư và khu vực tư nhân
Nguồn vốn từ khu vực tư nhân: đây là nguồn vốn gồm phần tiết kiệm của dân cư, phần tích lũy của các doanh nghiệp và hợp tác xã Nguồn vốn này được xác định là rất quan trọng trong việc phát triển công – nông nghiệp, mở rộng thêm nhiều ngành nghề, phát triểnlàng nghề, khu kinh tế mới, khu công nghiệp mới, thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh, thương mại, dịch vụ ở các địa phương Trong những năm gần đây, nhà nước đã có nhiều chính sách tạo điều kiện cho khu vực kinh tế tư nhân, hộ gia đình phát triển hơn nữa Vì thế nguồn vốn được tích lũy của khu vực này ngày càng gia tăng, đóng góp lớn vào tổng nguồn vốn xã hội
Nguồn vốn ở khu vực này phụ thuộc vào thu nhập, chi tiêu của hộ gai đình đồng thời phụ thuộc vào cả trình độ phát triển của đất nước, tập quán tiêu dùng của dân cư và chính sách khuyến khích của nhà nước thông qua chính sách thuế thu nhập và các khoản đóng góp của xã hội
- Nguồn vốn đầu tư nước ngoài
Đây là nguồn vốn gồm phần tích lũy của cá nhân, các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế và chính phủ nước ngoài có thể huy động vào quá trình đầu tư phát triển của nước sở tại Nguồn vốn đầu tư nước ngoài có vai trò quan trọng, giúp thúc đẩy quá trình tăng trưởng kinh tế ở mỗi quốc gia diễn ra nhanh hơn Có thể xét trên phạm vi rộng hơn, nguồn vốn đầu tư nước ngoài chính là dòng lưu chuyển vốn quốc
tế Dòng vốn này biểu hiện sự chuyển giao nguồn lực tài chính giữa các quốc gia và diễn ra dưới nhiều hình thức khác nhau Mỗi hình thức lại có những đặc điểm, mục tiêu và điều kiện khác nhau Theo tính chất luân chuyển vốn có thể phân loại các nguồn vốn đầu tư ngoài nước thành:
- Nguồn tài trợ phát triển chính thức: bao gồm viện trợ phát triển chính thức (ODA- chiếm tỉ trọng chủ yếu) và các hình thức viện trợ khác
- Nguồn tín dụng từ các ngân hàng thương mại quốc tế
- Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI)
- Nguồn huy động qua thị trường vốn quốc tể
Nguồn vốn ODA: Đây là nguồn vốn phát triển do các tổ chức quốc tế và các
chính phủ ngoài cung cấp với mục tiêu giúp đỡ các nước đang phát triển So với các hình thức tài trợ khác, ODA mang tính ưu đãi cao hơn, lãi suất thấp, thời hạn vay tương đối dài
Căn cứ vào chính sách ưu tiên, sử dụng ODA và để đảm bảo yêu cầu phát triển nhanh, bền vững, Việt Nam định hướng nguồn vốn này cho đầu tư phát triển các lĩnh vực như: giao thông vận tải, nông nghiệp nông thôn, giáo dục- y tế, khoa
Trang 20hoc- công nghệ, nâng cấp hệ thống điện, đường, trường, trạm Song đi kèm với các
ưu đãi cao là những điều kiện và ràng buộc về chính trị, xã hội Vì vậy, để có thể nhận được viện trợ này với thiệt thòi ít nhất đòi hỏi các nhà hoạch định cần phải xem xét dự án trong điều kiện tổng thể Nếu không, việc tiếp nhận viện trợ có thể trở thành gánh nặng về lâu dài cho nền kinh tế
Nguồn vốn tín dụng từ các ngân hàng thương mại quốc tế: Đây là nguồn vốn
vay từ các ngân hàng thương mại quốc tế với thủ tục vay vốn rất khắt khe, mức lãi suất cao và thời gian trả nợ được quy định nghiêm ngặt Vì những khắt khe như vậy nên nguồn vốn này không gắn với những ràng buộc về kinh tế- xã hội như nguồn vốn ODA
Do được đánh giá là mức lãi suất tương đối cao cũng như rủi ro khi vay tiền nên nguồn vốn tín dụng của các ngân hàng thương mại quốc tế thường được sử dụng để đáp ứng nhu cầu xuất khẩu trong ngắn hạn Một bộ phận của nguồn vốn này có thể dùng để đầu tư phát triển và tỷ trọng có thể tăng trưởng của nước đi vay
là ổn định và xuất khẩu tăng mạnh
Nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI): Đây là nguồn vốn quan trọng
và có tỷ trọng đáng kể trong tổng vốn đầu tư của Việt Nam Nguồn vốn này có đặc điểm cơ bản khác với các nguồn vốn khác là việc tiếp nhận nguồn vốn này không phát sinh nợ cho nước tiếp nhận vốn Khi dự án đầu tư có hiệu quả, thay vì lãi suất trên vốn đầu tư, nhà đầu tư sẽ được nhận lại phần lợi nhuận Đầu tư trực tiếp nước ngoài có thể thúc đẩy phát triển công nghệ, kĩ thuật hay những ngành mới đòi hỏi cao về kỹ thuật hay nhiều vốn thông qua việc học hỏi công nghệ của nước đầu tư
Do đó, nguồn vốn này có những tác động lớn tới quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở nước nhận đầu tư Với Việt Nam, nguồn vốn này còn đóng góp tích cực vào NSNN và ảnh hưởng quan trọng đến hệ thống cơ sở
hạ tầng giao thông vận tải, khu công nghiệp lớn, tạo công ăn việc làm, gia tăng thu nhập, ổn đinh đời sống người dân
Thị trường vốn quốc tế: Trong quá trình toàn cầu hóa, mối liên kết ngày càng
tăng của các thị trường vốn quốc gia vào hệ thống tài chính quốc tế đã tạo nên sự đa dạng về các nguồn vốn cho mỗi quốc gia cũng như làm tăng khối lượng lưu chuyển vốn ngày càng lớn trên phạm vi toàn cầu
1.2.2 Vốn đầu tư phát triển từ ngân sách nhà nước
1.2.2.1 Khái niệm
Vốn đầu tư phát triển từ NSNN là nguồn vốn hình thành từ sự huy động của Nhà nước dùng để chi cho đầu tư phát triển nhằm xây dựng và phát triển cơ sở
Trang 21vật chất - kỹ thuật và kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội cho nền kinh tế quốc dân
Vốn đầu tư từ NSNN địa phương
Là nguồn vốn hình thành từ các khoản thu của các đơn vị hành chính các cấp
có Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân: thuế nhà, đất, thuế tài nguyên, thuế môn bài, thuế chuyển quyền sử dụng đất, thuế sử dụng đất nông nghiệp,khoản thu hồi vốn của NSĐP tại các tổ chức kinh tế, thu từ quỹ dự trữ tài chính của địa phương, thu nhập từ vốn góp của địa phương và các khoản thu khác theo quy định của pháp luật … để chi cho đầu tư phát triển nhằm xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội do địa phương quản lý, đầu tư và hỗ trợ cho các doanh nghiệp, các
tổ chức kinh tế, các tổ chức tài chính của Nhà nước theo quy định của pháp luật
1.2.3 Vai trò của nguồn vốn đầu tư phát triển từ ngân sách nhà nước
1.2.3.1 Đảm bảo nguồn lực cho đầu tư phát triển bền vững
Các dự án đầu tư phát triển thường là dự án có khối lượng vốn lớn, thời gian thu hồi vốn dài, rủi ro cao và đặc biệt là tỷ suất sinh lời thấp Do mang tính đặc thù như vậy nên khu vực tư nhân khó có thể đáp ứng được, vậy nên đặt ra yêu cầu cần thiết từ khu vực nhà nước có đủ khả năng để cung cấp được một lượng vốn đủ lớn
để duy trì cho việc đầu tư các cơ sở hạ tầng cần thiết phục vụ kinh tế- xã hội Do đó
có thể thấy ngân sách nhà nước chính là nguồn cung vốn dồi dào và đủ điều kiện đảm bảo cho đầu tư phát triển ổn định và bền vững
1.2.3.2 Là nguồn vốn quan trọng nhất trong tổng nguồn vốn đầu tư
Nguồn vốn đầu tư phát triển có thể được hình thành tư nhiều nguồn khác nhau gồm nguồn vốn đầu tư trong nước và nguồn vốn đầu tư nước ngoài nhưng
Trang 22lượng vốn đóng vai trò quan trọng, cơ bản nhất vẫn là vốn từ ngân sách nhà nước Đây là nguồn vốn đầu tư quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội của mỗi quốc gia, mỗi vùng, mỗi địa phương Vì vậy, có thể nói ĐTPT từ nguồn NSNN
có vai trò thúc đẩy, định hướng, chi phối, dẫn dắt, điều chỉnh… các hoạt động ĐTPT nói chung của toàn bộ nền kinh tế
1.2.3.3 Nâng cao vai trò quản lí của nhà nước trong đầu tư phát triển
Các dự án đầu tư phát triển thường là các dự án lớn, có vốn và thời gian đầu
tư dài Các dự án đó thường ảnh hưởng nhiều tới sự phát triển kinh tế- xã hội tại địa phương nơi có các dự án kinh tế vì thế khi đầu tư bằng vốn từ ngân sách nhà nước,
nó sẽ giúp cho chủ đầu tư chính là chính quyền tại địa phương có thể kiểm soát, can thiệp được để dự án hoạt động có hiệu quả và đúng định hướng, không đi sai mục đích, thực hiện công bằng xã hội, mục tiêu tăng trưởng và ổn định kinh tế vĩ mô…
Ngoài ra một số các dự án đầu tư phát triển có thể ảnh hưởng tới an ninh quốc phòng và tình hình ổn định chính trị, do vậy vai trò quản lí của Nhà nước trong các dự án đó là rất quan trọng Vì vậy có thể nói ĐTPT từ nguồn NSNN có vai trò quan trọng đặc biệt trong việc đảm bảo duy trì sự tồn tại, hoạt động và phát triển của bộ máy nhà nước
1.3 Các tiêu chí đánh giá hiệu quả sử dụng vốn ngân sách nhà nước cho đầu
tư phát triển cơ sở hạ tầng giao thông đường bộ
1.3.1 Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư phát triển cơ sở
hạ tầng giao thông đường bộ
Với những vai trò quan trọng của CSHT giao thông thì việc đầu tư phát triển
hệ thống đường bộ là một nhiệm vụ cấp thiết đối với mỗi địa phương, mỗi vùng trong cả nước Tuy nhiên ở các địa phương của nước ta hiện nay, nguồn vốn cho đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng giao thông còn nhiều hạn chế, bất cập vì vậy để công trình giao thông được xây dựng ra hiệu quả nhất điều cần thiết là phải nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư
Như đã biết hệ thống giao thông đường bộ chiếm đa số trong các loại hình giao thông hiện nay, do vậy nhu cầu vốn cho hoạt động đầu tư này là rất lớn Phần lớn nguồn vốn trong tổng nguồn vốn đầu tư này là nguồn từ NSNN, một nguồn cung cấp phải chịu nhiều áp lực do phải thường xuyên cân đối giữa thu-chi Do đó việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư là hết sức cần thiết để giảm gánh nặng cho ngân sách (đặc biệt quan trọng với những tất cả các địa phương cần nhiều vốn ở Việt Nam), sử dụng tiết kiệm và có hiệu quả sẽ tạo điều kiện cho việc tăng vốn đầu
Trang 23tư thêm vào các công trình ưu tiên, trọng tâm, trọng điểm, xây dựng công trình mới
và hiện đại hơn, giúp giảm thiểu được sự xuống cấp của các công tình giao thông Ngoài ra nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cũng được xem như nâng cao năng lực của chính vùng, địa phương, tạo lợi thế cạnh tranh và có thể thu hút nhiều vốn hơn vốn đầu tư nước ngoài, thực hiện tốt hơn mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của địa phương đó
NSNN là nguồn vốn chủ yếu cho đầu tư phát triển CSHT GTĐB tuy nhiên nguồn vốn bị san sẻ với các hoạt động khác nên việc cung cấp thường xuyên và ổn định là điều hết sức khó khăn Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư sẽ giúp khai thác được các nguồn vốn tiềm năng, đặc biệt là nguồn vốn trong dân cư và của doanh nghiệp Và khi thu hút được nguồn vốn này sẽ giảm được gánh nặng cho NSNN và cũng tạo điều kiện cho người dân có thể tham gia vào hoạt động kinh doanh từ các công trình GTĐB dưới sự giám sát của nhà nước
Cuối cùng nâng cao hiệu quả sử dụng vốn trong đầu tư phát triển CSHT GTĐB còn có những tác động tích cực với sự phát triển kinh tế-xã hội Việc sử dụng có hiệu quả nguồn vốn cũng đồng nghĩa với việc nền kinh tế-xã hội được nâng lên một tầm cao mới Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn sẽ giải quyết được nhiều vấn
đề xã hội như thuận tiện trong việc đi lại, sản xuất kinh doanh có hiệu quả hơn Đặc biệt có thể giảm tình trạng tai nạn giao thông một cách đáng kể Như vậy, có thể nói nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư phát triển CSHT GTĐB là một việc hết sức cấp thiết đối với tất cả các địa phương trên cả nước
1.3.2 Các tiêu chí đánh giá hiệu quả sử dụng vốn đầu tư
Hiệu quả của hoạt động đầu tư là phạm trù kinh tế được biểu hiện quan hệ so sánh giữa các kết quả kinh tế xã hội đã đạt được của hoạt động đầu tư với các chi phí phải bỏ ra để có các kết quả đó trong một thời kỳ nhất định
Hiệu quả của hoạt động đầu tư được đánh giá thông qua các chỉ tiêu đo lường hiệu quả Tùy thuộc vào mục tiêu của chủ đầu tư đưa ra thì việc xác định các chỉ tiêu này lại khác nhau Hoạt động đầu tư được đánh giá là có hiệu quả khi các chỉ tiêu đo lường hiệu quả thỏa mãn tiêu chuẩn, định mức hiệu quả do chủ đầu tư đưa ra
Dưới góc độ lợi ích, chỉ tiêu đo lường hiệu quả sử dụng vốn đầu tư được chia thành hiệu quả sử dụng vốn ở tầm vĩ mô (hiệu quả kinh tế-xã hội) và hiệu quả sử dụng vốn ở tầm vi mô (hiệu quả tài chính)
1.3.2.1 Các tiêu chí hiệu quả sử dụng vốn ở tầm vĩ mô
Đầu tư mang tính chất dài hạn và liên quan đến nhiều mặt hoạt động Trong
Trang 24từng giai đoạn của toàn bộ quá trình đầu tư, các mặt hoạt động này sẽ tác động đến hiệu quả sử dụng vốn đầu tư theo những mức độ khác nhau Để đánh giá hiệu quả
sử dụng vốn đầu tư ở tầm vĩ mô cần phải có nhiều chỉ tiêu nhằm đo lường hiệu quả từng mặt hoạt động, từng giai đoạn đầu tư này sẽ tác động đến hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội theo những mức độ khác nhau Để đánh giá hiệu quả vốn đầu tư ở tầm vĩ mô cần phải có nhiều chỉ tiêu nhằm đo lường hiệu quả từng mặt, từng giai đoạn đầu tư
Hiệu quả kinh tế
-Tốc độ tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Hiệu quả của các công trình GTĐB khi xây dựng được thể hiện rõ trong nền kinh tế khi mà thông qua các công trình này có thể thấy được sự phát triển nhanh hơn của các ngành đóng vai trò chủ yếu như công nghiệp, xây dựng, dịch vụ, du lịch và nông, lâm nghiệp Điều này thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế đi theo đúng hướng giảm tỷ trọng các ngành nông, lâm, ngư nghiệp, tăng tỷ trọng các ngành công nghiệp, dịch vụ Vì vậy, việc sử dụng nguồn vốn đầu tư có hiệu quả, đầu tư đúng hướng, có ưu tiên vào các dự án công trình trọng tâm, trọng điểm phù hợp với mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của địa phương, của vùng thì sẽ đẩy nhanh quá trình tăng trưởng và phát triển kinh tế, một bước giúp cải thiện và nâng cao đời sống nhân dân trên địa bàn cũng như trên cả nước
-Hệ số sử dụng vốn
-Hệ số sử dụng vốn (Ha) là chỉ tiêu quan trọng đánh giá hiệu quả sử dụng
vốn đầu tư Hệ số này phản ánh giá trị tài sản tăng thêm trong kỳ so với tổng vốn đầu tư
Ha=
A
I Trong đó:
Ha là hệ số sử dụng vốn
A: giá trị tài sản tăng thêm
I: tổng vốn đầu tư
Đánh giá:
+Hệ số Ha càng lớn thì hiệu quả sử dụng vốn đầu tư càng lớn
+Hệ số Ha càng nhỏ thì hiệu quả sử dụng vốn đầu tư càng nhỏ
-Thời gian thực hiện
Là chỉ tiêu xem xét tính hiệu quả kinh tế của dự án dựa vào tiến độ thực hiện
dự án Đầu tư phát triển mang tính chất lâu dài, thời gian thực hiện có thể kéo dài
Trang 25hàng vài năm tùy thuộc vào tính chất công trình, điều kiện tự nhiên, kinh tế của địa phương, công tác thi công, giám sát công trình Tuy nhiên xét về mặt hiệu quả của một dự án, một dự án mà có kinh phí càng ít, chất lượng công trình vẫn đảm bảo thì tiến độ thực hiện càng ngắn sẽ càng hiệu quả
-Dự án để tiến độ càng chậm tức thời gian thực hiện càng kéo dài thì kinh phí
bỏ ra càng lớn hay hiệu quả kinh tế càng thấp
- Dự án để tiến độ đẩy nhanh tức thời gian thực hiện được rút ngắn thì kinh phí bỏ ra càng nhỏ hay hiệu quả kinh tế càng cao
Biểu hiện qua số công trình hoàn thành theo kế hoạch, số công trình còn nợ đọng so với kế hoạch đề ra Như vậy để nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn đòi hỏi yêu cầu về tiến độ thực hiện cho dự án đi vào hoạt động là sớm nhất
Hiệu quả xã hội
Các công trình GTĐB mang tính chất công cộng và xã hội hóa cao nên hiệu quả xã hội mà các công trình này mang lại cho địa phương hay cả nước là sự phát triển và nâng cao phúc lợi xã hội cho người dân
Hiệu quả này được thể hiện thông qua sự phân phối và công bằng xã hội: thể hiện qua sự đóng góp của đầu tư vào việc phát triển các vùng kinh tế kém phát triển
và đẩy mạnh công bằng xã hội Đây được xem như một tiêu chí quan trọng cần được xét đến hàng đầu khi xét hiệu quả sử dụng vốn đầu tư phát triển Đóng góp của các công trình GTĐB giúp xã hội có thể phát triển một cách bền vững và cân bằng hơn
Chỉ tiêu tiếp theo là sự gia tăng số lao động có việc làm: đây là một trong những chỉ tiêu chủ yếu của chiến lược phát triển kinh tế- xã hội của các nước ta, một quốc gia thừa lao động nhưng thiếu việc làm Chỉ tiêu này có thể được xem xét dưới nhiều góc độ như số lao động có việc làm do vốn đầu tư và số lao động có việc làm tính trên 1 đơn vị vốn đầu tư, mức tăng năng suất lao động hoặc trình độ của người lao động
Đối với tác động tích cực của CSHT GTĐB đến đời sống vật chất cũng như tinh thần của người dân có thể kể đến một số chỉ tiêu như:
- Cải thiện chất lượng hàng tiêu dùng và cơ cấu hàng tiêu dùng của xã hội
- Cải thiện điều kiện làm việc
- Cải thiện môi trường sinh thái
- Các chỉ số về giáo dục như số trẻ em đến trường, giảm tỷ lệ thất học
- Các chỉ số về y tế như giảm mức độ tăng dân số, giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng, bảo vệ sức khỏe cho người dân
Trang 26Ngoài ra, CSHT GTĐB là yếu tố và phương tiện góp phần nâng cao văn hóa, sức khỏe và mở mang dân trí cho cộng đồng
1.3.2.2 Các tiêu chí hiệu quả sử dụng vốn ở tầm vi mô
Đo lường và đánh giá hiệu quả vốn đầu tư ở tầm vi mô tức là đo lường và đánh giá hiệu quả của từng dự án đầu tư để xem xét dự án đầu tư có mang lại lợi ích hay không, trong số các phương án đầu tư thì phương án nào đem lại lợi ích tài chính lớn nhất
Có một số chỉ tiêu chính để đo lường hiệu quả sử dụng vốn của từng dự án như sau:
- Chỉ tiêu giá trị hiện tại thuần NPV
Giá trị hiện tại thuần là tổng lãi ròng của cả vòng dự án được chiết khấu về năm hiện tại theo tỷ lệ chiết khấu nhất định, được tính theo công thức:
n : số năm hoạt động kinh tế của dự án (tuổi thọ kinh tế của dự án
i : thời gian (i= 0,n)
Đánh giá:
+ Nếu dự án có NPV > 0 thì dự án có ý nghĩa về tài chính
+ Nếu dự án có nhiều phương án loại bỏ nhau thì phương án có NPV lớn nhất là phương án có ý nghĩa nhất về tài chính
+ Nếu các phương án của dự án có lợi ích như nhau thì phương án có giá trị hiện tại của chi phí nhỏ nhất NPV là phương án có ý nghĩa nhất về tài chính
Trang 27+ NPV chưa nói lên hiệu quả sử dụng của một đồng vốn
+ NPV chỉ sử dụng để lựa chọn các phương án loại bỏ khi tuổi thọ đối tượng
+ BCR phụ thuộc vào tỷ lệ chiết khấu lựa chọn để tính toán
+ Trong trường hợp các phương án loại bỏ nhau, việc sử dụng BCR để lựa chọn phương án sẽ dễ dàng đưa đến bỏ qua phương án quy mô lãi ròng lớn
- Tỷ lệ hoàn vốn nội bộ IRR
Tỷ lệ hoàn vốn nội bộ là mức lãi suất mà nếu dung nó để chiết khấu dòng tiền tệ của dự án về hiện tại thì giá trị hiện tại của lợi ích bằng giá trị hiện tại của chi phí, được tính theo công thức:
=
= NPV = 0
IRR cho biết tỷ lệ lãi vay tối đa mà dự án có thể chịu đựng được
Đánh giá:
+ Nếu IRR>r hay NPV>0 thì dự án có ý nghĩa về mặt tài chính
+ Lựa chọn phương án nào có IRR lớn nhất sẽ có khả năng sinh lời cao nhất
Trang 28+ Trong trường hợp các phương án loại bỏ nhau, việc sử dụng IRR để lựa chọn phương án sẽ dễ dàng đưa đến bỏ qua phương án quy mô lãi ròng lớn
+ Dự án có đầu tư bổ sung lớn làm cho NPV thay đổi dấu nhiều lần, khi đó khó xác định được IRR
- Thời hạn thu hồi vốn
Thời hạn thu hồi vốn (T) là số năm cần hoạt động của dự án để lợi nhuận và khấu hao thu được vừa đủ hoàn trả vốn đầu tư từ ban đầu
Hiệu quả sử dụng vốn đầu tư chịu ảnh hưởng bởi các nhân tố khách quan và
nhân tố chủ quan Các nhân tố này tồn tại trong quá trình đầu tư từ khi có chủ trương đầu tư, đến thực hiện đầu tư, xây dựng và ngay cả trong quá trình khai thác,
sử dụng các đối tượng đầu tư được hoàn thành
1.4.1 Các nhân tố khách quan
Các nhân tố khách quan là các yếu tố không lường trước từ tự nhiên, các rủi
ro hệ từ sự biến động của nền kinh tế thế giới, của cả nước tác động tới địa phương một cách trực tiếp hay gián tiếp, các chính sách kinh tế ở tầm vĩ mô của Nhà nước, các chiến lược về kinh tế như chiến lược công nghiệp hoá Các nhân tố này tác động đến hiệu quả của công tác đầu tư phát triển của địa phương từ nguồn vốn ngân sách
1.4.1.1 Điều kiện tự nhiên
Các điều kiện tự nhiên như địa lý, khí hậu, thời tiết, địa hình… là các yếu tố
do tự nhiên mang lại, là các loại rủi ro khó có thể lường trước Các công trình giao thông đường bộ chịu ảnh hưởng trực tiếp từ các điều kiện này Mỗi địa phương có các đặc điểm tự nhiên khác nhau nên cần phải xây dựng công trình giao thông phù
Trang 29hợp với hoàn cảnh và điều kiện của mỗi nơi, đồng thời phải tính toán, lường trước các rủi ro này để giảm các thiệt hại có thể xảy ra
1.4.1.2 Điều kiện kinh tế
Các điều kiện kinh tế là các rủi ro hệ từ sự biến động của nền kinh tế thế giới, của cả nước tác động tới địa phương một cách trực tiếp hay gián tiếp Các điều kiện kinh tế này ảnh hưởng đến công tác đấu giá đất, khai thác vốn đầu tư…
Tình hình phát triển kinh tế và giao thông ở địa phương sẽ ảnh hưởng tới mức đầu tư xây dựng các công trình giao thông Ở các địa phương có nền kinh tế phát triển
sẽ tích lũy được ngân sách nhà nước cho đầu tư phát triển hơn các địa phương có điều kiện kinh tế phát triển chậm Hơn nữa khi nền kinh tế phát triển thì giao thông cũng phát triển, đòi hỏi mật độ giao thông lớn hay việc thường xuyên vận tải các loại xe tải trọng lớn đòi hỏi những yêu cầu khác nhau trong việc thiết kế và thi công các công trình giao thông công cộng Tuy nhiên ở các địa phương kinh tế còn chậm phát triển thì cũng cần có sự quan tâm đúng mức để đầu tư phát triển giao thông, thúc đẩy giao lưu buôn bán, giảm khoảng cách giàu nghèo giữa các vùng
1.4.1.3 Cơ chế chính sách đầu tư của Trung ương và địa phương
Cơ chế chính sách kinh tế là nhóm nhân tố ảnh hưởng lớn nhất đến hiệu quả
sử dụng vốn đầu tư Những chính sách này gồm chính sách định hướng phát triển kinh tế như: Chính sách công nghiệp hoá - hiện đại hoá, chính sách về ưu đãi ( bao gồm cả đối với các nguồn vốn từ nước ngoài), chính sách thương mại, chính sách về tiền lương và các chính sách làm công cụ điều tiết vĩ mô hoặc vi mô như: Chính sách tài khoá (công cụ chủ yếu là chính sách làm công cụ điều tiết của Chính phủ), chính sách tiền tệ (công cụ là chính sách lãi suất và mức cung ứng tiền) chính sách
tỷ giá hối đoái, chính sách khấu hao
Các chính sách kinh tế ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn đầu tư, tạo điều kiện cho nền kinh tế phát triển theo chiều hướng tích cực hay tiêu cực, vốn đầu tư được sử dụng có hiệu quả cao hay thấp Các chính sách kinh tế ảnh hưởng đến các lĩnh vực đầu tư, góp phần tạo ra một cơ cấu đầu tư nhất định, là cơ sở để hình thành
cơ cấu hợp lý hay không cũng sẽ ảnh hưởng đến việc tăng hoặc giảm thất thoát vốn đầu tư, do đó có thể thấy vốn đầu tư sẽ được sử dụng hiệu quả hay kém hiệu quả
Hơn nữa, trong quá trình khai thác sử dụng các đối tượng đầu tư hoàn thành, các chính sách kinh tế cũng ảnh hưởng đến các đối tượng này làm cho các đối tưởng đầu tư hoàn thành phát huy tác dụng tích cực hay tiêu cực, qua đó thấy được vốn đầu tư được sử dụng có hiệu quả cao hay thấp
Trang 30Ngoài ra, khi đã lựa chọn mô hình chiến lược công nghiệp hoá đúng, nếu các chính sách kinh tế được xác định phù hợp có hệ thống, đồng bộ và nhất quán thì sự nghiệp công nghiệp hoá sẽ thắng lợi, vốn đầu tư sẽ mang lại hiệu quả sử dụng cao
1.4.1.4 Chiến lược công nghiệp hóa
Đầu tư là cái đầu tiên và là điều kiện cần thiết cho quá trình phát triển đất nước, muốn đất nước phát triển thì chúng ta phải tiến hành các công cuộc đầu tư Chiến lược công nghiệp hoá là chiến lược chuyển nền kinh tế từ thời kỳ quá độ, sản xuất nhỏ, lạc hậu sang nền kinh tế sản xuất lớn, hiện đại Do đó, chiến lược này sẽ tác động trực tiếp tới các chính sách kinh tế khác Việc chọn lựa chiến lược công nghiệp hoá hợp lý sẽ tạo điều kiện cho việc chọn lựa các chiến lược, các chính sách đúng đắn, tạo điều kiện cho sự thành công của sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá, thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng bền vững, tạo công ăn việc làm, ổn định thu nhập, cải thiện mức sống của người dân và hình thành một xã hội văn minh, hiện đại Đó chính là biểu hiện của việc sử dụng có hiệu quả nguồn vốn đầu tư
Từ trước tới nay, các nhà kinh tế đã tổng kết ra rất nhiều mô hình công nghiệp hoá Mỗi quốc gia có chiến lược công nghiệp hóa khác nhau tùy từng điều kiện lịch sử, văn hóa khác nhau của từng nước Hình thành trong những điều kiện lịch sử khác nhau Vì vậy, quốc gia nào chọn lựa được mô hình chiến lược công nghiệp hoá đúng đắn thì sự công nghiệp hoá của nước đó sẽ thành công, nguồn vốn đầu tư cũng được sử dụng có hiệu quả Các nước công nghiệp hoá mới là những
nước đã thành công trong sự nghiệp công nghiệp hoá theo mô hình "công nghiệp hoá theo hướng thay thế nhập khẩu" Việt Nam cũng đang trong thời kỳ đẩy mạnh
công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước nên chúng ta cần học hỏi các nước đi trước
để vận dụng cho quá trình phát triển kinh tế của mình
1.4.2 Các nhân tố chủ quan
1.4.2.1 Công tác tổ chức, quản lý về sử dụng vốn đầu tư phát triển
Tổ chức quản lí đầu tư phát triển là một phạm trù tương đối rộng, gồm có nhiều nội dung với mục đích khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư sản xuất kinh doanh phù hợp với mục tiêu, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của từng địa phương và của đất nước trong từng thời kì Công tác tổ chức và quản lý vốn đầu tư phát triển không chỉ được áp dụng ở một địa phương riêng lẻ, mà được phân cấp từ trung ương đến địa phương Công tác này ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả sử dụng vốn đầu tư và kết quả của các dự án đầu tư
Trang 31Thông qua việc đảm bảo yêu cầu trong xây dựng các dự án ĐTPT theo quy hoạch chung, đảm bảo phát triển bền vững, bảo vệ môi trường sinh thái, tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh trong xây dựng, áp dụng công nghệ tiên tiến, đảm bảo chất lượng và tiến độ xây dựng với chi phí hợp lý
Công tác tổ chức quản lý chặt chẽ theo đúng trình tự đầu tư xây dựng đối với các dự án thuộc nguồn vốn NSNN, vốn tín dụng do nhà nước bảo lãnh, vốn tín dụng đầu tư và phát triển nhà nước và vốn do doanh nghiệp Nhà nước nhằm phân định rõ quyền hạn và trách nhiệm của cơ quan quản lý Nhà nước, chủ đầu tư, tổ chức tư vấn
và nhà thầu trong quá trình sử dụng có hiệu quả vốn đầu tư Theo đó, nội dung gồm:
- Phân loại dự án đầu tư theo tính chất, quy mô đầu tư để phân cấp quản lí
- Công tác kế hoạch hóa đầu tư để tổng hợp cân đối vốn đầu tư của tất cả các thành phần kinh tế trong nền kinh tế quốc dân, dự báo các cân đối vĩ mô, ở các doanh nghiệp cân đối và phản ánh đầy đủ các nguồn vốn khấu hao cơ bản, tích lũy
từ lợi tức sau thuế, các nguồn huy động trong và ngoài nước
- Công tác giám định đầu tư các dự án do cơ quan có thẩm quyền quyết định đầu tư
- Công tác xây dựng cơ chế chính sách về quản lí quy hoạch quản lí đầu tư xây dựng và ban hành các tiêu chuẩn, quy phạm, quy chuẩn xây dựng, hệ thống định mức chỉ tiêu kinh tế- kỹ thuật, định mức chi phí tư vấn, xây dựng đơn giá,…
- Công tác chuẩn bị đầu tư, thăm dò thị trường, thu nhập tài liệu, môi trường sinh thái, điều tra khí tượng thủy văn, lập dự án đầu tư, điều tra, khảo sát thiết kế,
- Công tác tổ chức chuẩn bị thực hiện dự án, quản lý thi công xây lắp, triển khai thực hiện dự án đầu tư
- Công tác tạm ứng, thanh toán, quyết toán vốn đầu tư xây dựng cơ bản hoàn thành
Do vậy mà Công tác quản lý đầu tư xây dựng theo đúng trình tự đầu tư xây dựng có tác động lớn tời hiệu quả sử dụng vốn đầu tư
Nhóm nhân tố này tác động tới hiệu quả sử dụng vốn đầu tư, chính là ảnh hưởng đến việc tạo ra kết quả đầu tư (các đối tượng đầu tư hoàn thành) và ảnh hưởng đến chi phí đầu tư
Chất lượng của công tác tổ chức quản lý đầu tư xây dựng nói trên sẽ tạo điều kiện cho việc tiết kiệm hay thất thoát lãng phí nguồn vốn đầu tư, đồng thời tạo điều kiện cho việc tăng hay giảm khối lượng các kết quả đầu tư và đem lại nhiều hay ít các lợi ích kinh tế- xã hội khi khai thác sử dụng các kết quả đầu tư này Do những hạn chế trong công tác quản lý đầu tư xây dựng làm cho vốn đầu tư bị thất thoát lãng phí Các đối tượng đầu tư hoàn thành mang lại hiệu quả sử dụng không như
Trang 32mong muốn làm cho số vốn đầu tư sử dụng kém hiệu quả
1.4.2.2 Công tác tư vấn, thẩm định
Trình độ chuyên môn của các cơ quan tư vấn về xây dựng các công trình ĐTPT có tác động trực tiếp đến chất lượng thiết kế, thi công các công trình, tiến độ thực hiện và hiệu quả của dự án
Công tác thẩm định thiết kế, dự toán và công tác xét thầu tác động đến tốc độ của việc thực hiện dự án Vai trò trách nhiệm của các cấp, các ngành cần có sự phối hợp chặt chẽ và đồng bộ thì các khâu triển khai dự án mới có sự liên kết hiệu quả Hơn nữa, các chính sách về quản lý đầu tư và xây dựng, đấu thầu và chỉ định thầu nên quyết định đến việc triển khai các thủ tục
Các nhân tố này tác động trực tiếp đến hiệu quả của các dự án đầu tư, do vậy muốn thực hiện đầu tư có hiệu quả thì các địa phương cần có các cơ chế quản lý vốn một cách hợp lý Chất lượng đội ngũ cán bộ, cơ quan tư vấn, thẩm định phải được đào tạo sâu về chuyên môn tạo điều kiện cho việc tiết kiệm hay lãng phí nguồn vốn đầu tư Đối với đơn vị thực hiện đầu tư cũng cần nghiên cứu, đầu tư sao cho có hiệu quả cao nhất Nếu chất lượng về chuyên môn thấp, công tác quản lý kém thì sẽ dẫn đến kết qủa đầu tư không cao, hiệu quả đầu tư thấp Ngược lại, nếu chất lương này cao thì sẽ giảm thiểu được thất thoát, lãng phí vốn đầu tư
1.4.2.3 Công tác thanh tra, kiểm tra, đánh giá
Công tác kiểm soát, thanh tra và thanh toán vốn đầu tư cho đầu tư phát triển
hạ tầng giao thông đường bộ cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan liên quan Việc nhanh chóng tìm và xử lý các vi phạm pháp luật trong quản lý đầu tư xây dựng và quản lý chất lượng công trình giao thông là vô cùng quan trọng, giúp đảm bảo chất lượng và tiến độ thi công công trình Các cơ quan thanh tra được sử dụng kinh phí trích trong chi phí quản lý dự án theo quy định của Bộ trưởng để thực hiện các hoạt động kiểm tra và làm việc tại hiện trường
Công tác lập và thẩm định cần bám sát với tình trạng thực tế, nhất là tình hình thị trường nguyên vật liệu Chi phí cho nguyên vật liệu phải nhất quán với dự toán ban đầu, công tác thanh toán vốn cũng như kế hoạch chung của cả nước
1.4.2.4 Nguồn nhân lực phục vụ trực tiếp cho công tác đầu tư phát triển
Các công trình ĐTPT giao thông ở các địa phương hay vùng trên cả nước đều là các công trình có hoạt động đầu tư tương đối phức tạp và đa dạng, không chỉ nằm gọn trong lĩnh vực giao thông mà còn liên quan đến nhiều ngành, nhiều cấp, nhiều lĩnh vực Chính vì vậy mà nguồn lực tác động trực tiếp đến hiệu quả của các công trình giao thông này chính là đội ngũ nhân lực từ công nhân cho đến các cán
Trang 33bộ quản lý Đội ngũ công nhân lao động xây dựng các công trình cần phải được đào tạo cơ bản,có khả năng hoàn thành tốt những nhiệm vụ được giao Đội ngũ cán bộ quản lý cần phải có trình độ, kinh nghiệm quản lý, khả năng điều phối và sử dụng các nguồn lực hợp lý, khoa học, có khả năng dự báo yếu tố tác động liên quan đến hiệu quả của công trình đầu tư để đảm bảo công trình đầu tư được xây dựng ra là an toàn và thu được nhiều lợi ích nhất, giảm thiểu thất thoát, lãng phí các nguồn lực hay không cũng tác động đến hiệu quả sử dụng vốn đầu tư
Một dự án ĐTPT muốn phát huy hiệu quả tổng thể của các nguồn lực: về vốn, cơ chế chính sách thì không thể thiếu bàn tay và trí óc của con người Con người có thể sử dụng một cách hài hòa, linh hoạt các nguồn lực, nhạy bén với tác động của thị trường Vì vậy, trình độ, năng lực của nguồn nhân lực phục vụ trực tiếp cho công tác ĐTPT là một cách tác động tích cực hoặc tiêu cực đến hiệu quả sử dụng vốn đầu tư của các công trình ĐTPT
1.4.2.5 Tổ chức khai thác các kết quả đầu tư hoàn thành
Đây là nhân tố thuộc mắt xích cuối cùng của sợi dây chuyền hiệu quả Việc
tổ chức khai thác các đối tượng đầu tư hoàn thành sẽ mang lại một khối lượng cung ứng hàng hóa, dịch vụ nhất định So sánh khối lượng hàng hóa dịch vụ này với nhu cầu hàng hóa dịch vụ của nền kinh tế sẽ xác định lợi ích kinh tế của vốn đầu tư Đây
là một trong hai nhân tố cấu thành hiệu quả vốn đầu tư
Những nhân tố tác động đến việc tổ chức khai thác các đối tượng đầu tư hoàn thành có kết quả tốt hay không đó là:
- Việc chọn lựa mô hình chiến lược kinh tế phù hợp với đặc điểm từng địa phương, từng vùng và quốc gia hay không và công tác tổ chức quản lý đầu tư phát triển có minh bạch, rõ ràng và hiệu quả hay không Những nhân tố này sẽ ảnh hưởng cực hay tiêu cực đến kết quả khai thác các đối tượng đầu tư hoàn thành
- Các nhân tố thuộc bản thân tổ chức khai thác, sử dụng các đối tượng đầu tư hoàn thành như công tác quản lí, tổ chức sản xuất, công tác nghiên cứu triển khai áp dụng các thành tựu khoa học công nghệ tiên tiến vào sản xuất, công tác tiếp thị chiếm lĩnh và mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm, công tác cải tiến mẫu mã, chất lượng sản phẩm…
Các nhân tố này, theo vị trí riêng của chúng, có thể tác động độc lập và theo mối liên hệ tác động lẫn nhau giữa chúng cở thể tác động tổng hợp đến hiệu quả sử dụng vốn đầu tư
Trang 34CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG SỬ DỤNG VỐN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CHO ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN CÁC CÔNG TRÌNH
GIAO THÔNG HUYỆN THẠCH THẤT 2.1 Tình hình phát triển kinh tế xã hội huyện Thạch Thất dẫn đến yêu cầu về
nâng cấp hệ thống giao thông đường bộ
2.1.1 Tình hình kinh tế huyện Thạch Thất
Huyện Thạch Thất thuộc vùng bán sơn địa, nằm ở phía Tây Bắc thành phố
Hà Nội, có diện tích 20.250,84 ha Huyện có 22 xã và 1 thị trấn, với 203 thôn, bản, cụm dân cư, được chia thành 3 vùng rõ rệt: đồng bằng, đồi gò và núi Cụ thể có 10
xã và 1 thị trấn ở vùng đồng bằng, 9 xã vùng đồi gò và 3 xã vùng núi, với dân số 179.060 người, mật độ 884 người/km2, chủ yếu là dân tộc Kinh sinh sống, lại có vị trí vô cùng thuận lợi cho giao lưu và phát triển kinh tế - văn hóa – xã hội Phía Bắc giáp huyện Phúc Thọ, phía Đông giáp huyện Phúc Thọ, Quốc Oai, phía Nam giáp huyện Quốc Oai, Kỳ Sơn (Hòa Bình), phía Tây giáp huyện Ba Vì và thị xã Sơn Tây Huyện có tiềm năng về điều kiện tự nhiên, vị trí địa lý và giao thông đã tạo cho Thạch Thất nhiều lợi thế như: mở rộng thị trường hàng hóa, kích thích phát triển sản xuất trên các lĩnh vực và tạo sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế hiệu quả cho Thạch Thất tiếp cận các nguồn vốn đầu tư, khoa học công nghệ và lao động chất lượng cao…
Trong những năm đầu thập niên vừa qua, với việc hình thành các khu công nghệ cao Hòa Lạc, khu công nghiệp Bắc Phú Cát, khu Đại học quốc gia Hà Nội, Làng Văn hóa các dân tộc Việt Nam cùng các cụm điểm công nghiệp Bình Phú, Phùng Xá… nằm trên địa bàn, huyện Thạch Thất là một trong những khu vực phát triển kinh tế mạnh của thành phố Hà Nội, đạt được những thành tựu nhất định, nhiều chỉ tiêu kinh tế tăng mạnh, không những đóng góp một phần lớn trong việc nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân trong huyện mà còn nâng cao ưu thế của huyện trong khu vực và cả thành phố
Tổng giá trị sản xuất năm 2013 của huyện đạt 3.204 tỷ đồng, đạt 100,9 % kế hoạch, tăng 9,7% so với năm 2012 Cơ cấu kinh tế có sự chuyển dịch tích cực theo hướng tăng tỷ trọng của các ngành công nghiệp xây dựng, dịch vụ và giảm dần đối với các ngành nông, lâm nghiệp Đến tháng 9/2013, tỷ trọng giá trị sản xuất ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và xây dựng cơ bản chiếm 67%; ngành thương mại, du lịch và dịch vụ chiếm 19,9%; ngành nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản
Trang 35chiếm 13,1% Mức tăng trưởng kinh tế bình quân đạt 14,6%/ năm, thu nhập bình quân đạt 13 triệu đồng/ người/ năm, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực hơn
Về làng nghề: với hệ thống làng nghề phong phú, đa dạng, trong đó có 8 làng được công nhận là làng nghề có bề dày truyền thống hàng trăm năm và nổi tiếng cả nước, Thạch Thất được đánh giá là huyện rất có tiềm năng để phát triển các ngành nghề công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp
Thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới, 5 năm qua toàn huyện đã đầu tư 2038 tỷ đồng để xây dựng nâng cấp các công trình điện, đường, trường, trạm
và trụ sở UBND xã Công tác quản lý đất đai xây dựng giải phóng mặt bằng được tập trung chỉ đạo, ngoài ra còn có các chương trình giải quyết việc làm, xóa đói, giảm nghèo, đảm bảo an sinh xã hội, giáo dục, y tế, văn hóa tiếp tục được củng cố
và phát triển, công tác quốc phòng, an ninh được giữ vững, bộ mặt nông thôn mới ngày càng khang trang, hiện đại đã và đang đem lại nhiều hiệu quả kinh tế- xã hội, đời sống nhân dân trong huyện được nâng lên rõ rệt
67%
20%
13%
Công nghiệp, xây dựng Dịch vụ Nông nghiệp
Hình 2.1: Cơ cấu GDP huyện Thạch Thất năm 2013
Nguồn: Phòng Kinh tế huyện Thạch Thất
2.1.2 Tình hình xã hội
Huyện Thạch Thất có 1 thị trấn và 22 xã, với dân số của năm 2010 là 179060 người, mật độ dân số 884 người/km2, trong đó dân số thành thị ước khoảng 6000 người (chiếm 3,4%), dân số của khu vực nông thôn là 173060 người( chiếm 96,4%)
Tốc độ tăng trưởng dân số của huyện Thạch Thất giai đoạn 2010-2013 là 3,28% trong đó tốc độ tăng trưởng dân số của khu vực đô thị là 2,25% của khu vực nông thôn là 3,32%