Cuộc sống ngày càng có nhiều thay đổi, đặt ra nhiều yêu cầu mới cho mỗi cá nhân. Để hoàn thiện chính mình và đáp ứng yêu cầu của thời đại, mỗi cá nhân đều phải trang bị cho mình những kỹ năng cần thiết. Sinh viên là lực lượng rất trẻ và chuẩn bị bước vào cuộc sống tự lập, lao động. Thế nhưng họ đang phải đối mặt với những yêu cầu của hội nhập, những thay đổi trong phát triển kinh tế và những vấn đề nảy sinh trong đời sống xã hội. Do đó, việc trang bị những kỹ năng sống cho sinh viên trước khi họ bước vào đời là một việc làm hết sức cần thiết.Trong cuộc sống hàng ngày, mỗi người thường gặp gỡ những người mà mình chưa quen biết, vậy họ sẽ có những ứng xử như thế nào để phù hợp với mình và mọi người xung quanh. Nhân dân ta có câu :“ Mất 4 phút để tạo ấn tượng ban đầu nhưng phải mất 4 năm để xóa đi ấn tượng đó”. Do vậy, tạo ấn tượng ban đầu với người khác là vô cùng quan trọng. Mặt khác, học để chung sống là mục tiêu then chốt của giáo dục hiện nay. Đối với sinh viên của thời đại mới, họ cần phải làm chủ cuộc sống và cần phải có những kĩ năng giao tiếp cơ bản nhất. Ấn tượng ban đầu là “cửa ngõ” quan trọng của quá trình giao tiếp, là điều kiện thuận lợi để xây dựng và phát triển mối quan hệ lâu dài. Vì thế, trong giao tiếp nếu ngay từ đầu ta gây được ấn tượng tốt đẹp với đối phương thì quá trình giao tiếp tiếp theo sẽ diễn ra suôn sẻ, thuận lợi hơn và ngược lại. Ấn tượng ban đầu tốt đẹp chính là chìa khóa thành công trong quá trình giao tiếp tiếp theo.
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Cuộc sống ngày càng có nhiều thay đổi, đặt ra nhiều yêu cầu mới cho mỗi
cá nhân Để hoàn thiện chính mình và đáp ứng yêu cầu của thời đại, mỗi cánhân đều phải trang bị cho mình những kỹ năng cần thiết
Sinh viên là lực lượng rất trẻ và chuẩn bị bước vào cuộc sống tự lập, laođộng Thế nhưng họ đang phải đối mặt với những yêu cầu của hội nhập,những thay đổi trong phát triển kinh tế và những vấn đề nảy sinh trong đờisống xã hội Do đó, việc trang bị những kỹ năng sống cho sinh viên trước khi
họ bước vào đời là một việc làm hết sức cần thiết
Trong cuộc sống hàng ngày, mỗi người thường gặp gỡ những người màmình chưa quen biết, vậy họ sẽ có những ứng xử như thế nào để phù hợp vớimình và mọi người xung quanh Nhân dân ta có câu :“ Mất 4 phút để tạo ấntượng ban đầu nhưng phải mất 4 năm để xóa đi ấn tượng đó” Do vậy, tạo ấntượng ban đầu với người khác là vô cùng quan trọng Mặt khác, học để chungsống là mục tiêu then chốt của giáo dục hiện nay Đối với sinh viên của thờiđại mới, họ cần phải làm chủ cuộc sống và cần phải có những kĩ năng giaotiếp cơ bản nhất Ấn tượng ban đầu là “cửa ngõ” quan trọng của quá trìnhgiao tiếp, là điều kiện thuận lợi để xây dựng và phát triển mối quan hệ lâu dài
Vì thế, trong giao tiếp nếu ngay từ đầu ta gây được ấn tượng tốt đẹp với đốiphương thì quá trình giao tiếp tiếp theo sẽ diễn ra suôn sẻ, thuận lợi hơn vàngược lại Ấn tượng ban đầu tốt đẹp chính là chìa khóa thành công trong quátrình giao tiếp tiếp theo
Học viện Quản lí giáo dục mới thành lập và đang trong quá trình hoànthiện về mọi mặt.Các hoạt động chính khóa, ngoại khóa nhằm rèn luyện các
kỹ năng mềm cho sinh viên còn hạn chế Mặt khác, chương trình đào tạo của
Trang 2chung không nhiều, đặc biệt là kĩ năng tạo ấn tượng ban đầu trong giao tiếpcho sinh viên Ngoài ra, chính bản thân sinh viên cũng chưa đáp ứng đượcyêu cầu mà nhà trường và xã hội đề ra.Thực tế đa số sinh viên chưa thực sựquan tâm đến việc rèn luyện các kĩ năng mềm, trình độ tự rèn luyện chưa tốt.Đối với kĩ năng tạo ấn tượng ban đầu trong giao tiếp thì lại càng đòi hỏi sự tựrèn luyện, tự bản thân sinh viên phải trau dồi , tích lũy kiến thức Đặc biệt vớinhững sinh viên K5 mới bước chân vào giảng đường đại học được tiếp cậnvới nhiều cái mới lạ, môi trường học tập và giao tiếp với mọi người xungquanh thay đổi thì việc tự rèn kĩ năng tạo ấn tượng ban đầu trong giao tiếpcàng trở nên cấp thiết.
Xuất phát từ những lý do trên, tôi quyết định nghiên cứu đề tài: “Tự rèn luyện kĩ năng tạo ấn tượng ban đầu trong giao tiếp của sinh viên lớp K5A khoa Giáo dục – Học viện Quản lý giáo dục”
3 Đối tượng và khách thể của đề tài nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu: Vấn đề tự rèn luyện kĩ năng tạo ấn tượng ban
đầu trong giao tiếp của SV lớp K5A khoa Giáo dục – Học viện Quản lý giáodục
3.2 Khách thể nghiên cứu: Quá trình tự giáo dục của sinh viên Khoa Giáo
dục – Học viện Quản lý giáo dục
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Nghiên cứu cơ sở lí luận của việc tự rèn luyện kĩ năng tạo ấn tượng
ban đầu trong giao tiếp của sinh viên
Trang 34.2 Phân tích thực trạng tự rèn luyện kĩ năng tạo ấn tượng ban đầu trong
giao tiếp của sinh viên lớp K5A khoa Giáo dục – Học viện Quản lý giáodục
4.3 Đề xuất biện pháp tự rèn luyện kĩ năng tạo ấn tượng ban đầu trong
giao tiếp của sinh viên lớp K5A khoa giáo dục – Học viện Quản lý giáodục
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết: Tiến hành nghiên cứu tài liệu sách
báo liên quan đến việc tự rèn luyện kỹ năng tạo ấn tượng ban đầu trong giaotiếp, tiến hành phân tích, so sánh, tổng hợp hệ thống hóa, xây dựng thành cơ
sở lý luận của đề tài
5.2 Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi: Điều tra khả năng giao tiếp của
sinh viên lớp K5B nhằm mục đích làm rõ thực trạng việc tự rèn luyện kĩ năngtạo ấn tượng ban đầu trong giao tiếp của sinh viên lớp K5A khoa Giáo dục –HVQLGD (Tiến hành xây dựng 1 phiếu hỏi cho sinh viên lớp K5A
5.3 Phương pháp quan sát: Quan sát tổng thể về lối sống, học tập, lao động…
của sinh viên lớp K5A nhằm thu thập thông tin cần thiết để đánh giá thựctrạng của việc rèn luyện kỹ năng tạo ấn tượng ban đầu trong giao tiếp của sinhviên lớp đó
Quan sát, về lối sống, công việc học tập, mối quan hệ, mọi người xungquanh… củamột số cá nhân cụ thể có khó khăn trong giao tiếp, đặc biệt là khókhăn về kĩ năng tạo ấn tượng ban đầu để có những định hướng phù hợp
5.4 Phương pháp phỏng vấn: Đây là phương pháp được sử dụng trong suốt
quá trình làm đề tài, tiến hành gặp gỡ, trao đổi phỏng vấn sinh viên lớp K5AKhoa Giáo dục – HVQLGD nhằm tìm hiểu thực trạng việc tự rèn luyện kĩnăng tạo ấn tượng ban đầu trong giao tiếp, thu thập những thông tin cần thiếttới vấn đề nghiên cứu
Trang 45.5 Phương pháp xin ý kiến chuyên gia: Thường xuyên trao đổi, tham khảo ý
kiến của giảng viên hướng dẫn để hoàn thiện đề tài nghiên cứu
5.6 Phương pháp thống kê toán học: Dùng phương pháp này để phân tích xử
lý các số liệu điều tra nhằm định hướng các kết quả nghiên cứu, thống kê tần
số, tính tỉ lệ %
6 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu và sử dụng các số liệu thu được sau khi khảo sát, phân tíchthực trạng của việc tự rèn luyện kỹ năng tạo ấn tượng ban đầu trong giao tiếpcủa sinh viên lớp K5A khoa Giáo dục –Học viện Quản lý giáo dục Từ đó đềxuất biện pháp tự rèn luyện kỹ năng tạo ấn tượng ban đầu trong giao tiếp củasinh viên lớp K5A khoa Giáo dục – Học viện Quản lý giáo dục nhằm gópphần nâng cao hiệu quả giao tiếp của sinh viên
Trang 5CẤU TRÚC CỦA KHÓA LUẬN Chương 1: Cở lý luận của việc tự rèn luyện kỹ năng tạo ấn tượng
ban đầu trong giao tiếp của sinh viên 1.1 Một số khái niệm công cụ
1.1.1 Khái niệm giao tiếp
1.1.2 Khái niệm kĩ năng
1.1.3 Khái niệm ấn tượng ban đầu
1.1.4 Khái niệm tự rèn luyện kĩ năng tạo ấn tượng ban đầu trong
giao tiếp
1.2 Một số vấn đề chung về giao tiếp
1.2.1 Đặc trưng giao tiếp1.2.2 Nhu cầu giao tiếp1.2.3 Đối tượng và phạm vi giao tiếp 1.2.4 Nội dung giao tiếp
1.3.Đặc điểm của ấn tượng ban đầu
1.4 Vai trò của ấn tượng ban đầu trong giao tiếp
1.5 Nội dung tự rèn luyện kĩ năng tạo ấn tượng trong giao tiếp của sinh viên
Chương 2: Thực trạng việc tự rèn luyện kỹ năng tạo ấn tượng ban đầu trong giao tiếp của sinh viên khoa Giáo dục – Học viện Quản lý Giáo dục
2.1 Một số đặc điểm khái quát về sinh viên khoa Giáo dục
2.1.1 Sinh viên khoa Giáo dục
2.1.2 Sinh viên lớp K5A
2.2 Thực trạng việc tự rèn luyện kĩ năng tạo ấn tượng ban đầu trong giao tiếp của sinh viên lớp K5A
2.2.1 Thực trạng nhận thức của sinh viên lớp K5A về vai trò của kĩ năng
Trang 62.2.2 Thực trạng trình độ kĩ năng tạo ấn tượng ban đầu trong giao tiếp của sinh viên lớp K5A
2.2.3 Thực trạng việc tự rèn luyện kĩ năng tạo ấn tượng ban đầu trong giao tiếp của sinh viên lớp K5A
2.2.4 Nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên
Chương 3: Biện pháp tự rèn luyện kĩ năng tạo ấn tượng ban đầu trong giao tiếp của sinh viên lớp K5A khoa Giáo dục – HVQLGD
3.1 Nguyên tắc đề xuất các biện pháp tự rèn luyện kĩ năng tạo ấn tượng banđầu trong giao tiếp của sinh viên
3.2 Biện pháp tự rèn luyện kĩ năng tạo ấn tượng ban đầu trong giao tiếp củasinh viên lớp K5A khoa Giáo dục - HVQLGD
3.2.1 Rèn luyện kĩ năng chọn trang phục phù hợp với hoàn cảnh giao tiếp3.2.2 Rèn luyện kĩ năng sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp, đặc biệt là giaotiếp lần đầu
3.2.3.Rèn luyện cách đặt vấn đề khi nói chuyện
3.2.4.Rèn luyện kĩ năng sử dụng ngôn ngữ cơ thể trong giao tiếp
3.2.5 Biện pháp xử lý tốt tình huống nảy sinh trong giao tiếp
Trang 7NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC TỰ RÈN LUYỆN KĨ NĂNG TẠO ẤN TƯỢNG BAN ĐẦU TRONG GIAO TIẾP CỦA SINH VIÊN
1.1.Một số khái niệm công cụ
1.1.1.Khái niệm giao tiếp
Giao tiếp là một phương thức tồn tại cơ bản của con người, do đónhững nghiên cứu về giao tiếp rất đa dạng và phong phú, bao trùm một phạm
vi tương đối rộng, từ lý luận đến những nghiên cứu thực nghiệm, xuất phát từnhiều quan điểm , quan niệm khác nhau
Dưới quan điểm của các nhà tâm lý học hoạt động thì giao tiếp là mộtquá trình thiết lập và thực thi mối quan hệ giữa người và người và trong quátrình đó thì con người sáng tạo lẫn nhau
Như vậy, bất kỳ một hoạt động giao tiếp nào cũng là mối quan hệ tácđộng qua lại lẫn nhau giữa các chủ thể, trong giao tiếp mỗi người có động cơcủa riêng mình, thông qua các công cụ phương tiện, con người nhận thứcđược về nhau, về thế giới xung quanh, tác động qua lại lẫn nhau để sáng tạo
ra nhau Giao tiếp có bản chất xã hội, suy cho cùng, động cơ mục đích công
cụ, phương tiện giao tiếp đều do xã hội quyđịnh
Ở Việt Nam vấn đề giao tiếp được nghiên cứu vào khoảng những năm
60, 70 của thế kỉ XX
Tác giả Bùi Văn Huệ trong cuốn “TLH tiểu học” đã viết: Giao tiếp là sự tiếpxúc giữa người với người, là hoạt động hình thành phát triển, vận hành quan
hệ người – người [12;78]
Trong cuốn “Luyện giao tiếp sư phạm” – Nguyễn Thạc – Hoàng Anh (1991)
sử dụng khái niệm “giao tiếp là sự tác động qua lại giữa con người trong đódiễn ra sự tiếp xúc tâm lý, biểu hiện ở sự trao đổi thông tin rung cảm hiểu
Trang 8biết, ảnh hưởng và tác động qua lại lẫn nhau” Có lẽ quan niệm này đã nêu bậtđược bản chất và chức năng giao tiếp một cách rõ nét hơn.
Theo Nguyễn Quang Uẩn thì cho rằng “giao tiếp là hoạt động xác lập và vậnhành các quan hệ người - người để hiện thực hóa các quan hệ xã hội giữangười với người Các quan hệ này có thể diễn ra giữa hai người, giữa nhiềungười trong một nhóm hoặc cả một cộng đồng người
Có thể nói đến nay TLH Việt Nam cũng chưa có một định nghĩa chung thốngnhất về giao tiếp Trên đây là những quan niệm về giao tiếp của các tác giảnước ngoài và Việt Nam, từ những quan niệm này tôi thấy khi nói về giao tiếpphải bao hàm các nội dung cơ bản sau:
- Giao tiếp là quá trình con người ý thức được nội dung hình thức vàphương tiện cần đạt được khi tiếp xúc với người khác
- Giao tiếp diễn ra quá trình trao đổi thông tin, tư tưởng tình cảm, thếgiới quan và nhân sinh quan
- Giao tiếp bao giờ cũng dẫn đến sự nhận thức và hiểu biết lẫn nhau
- Giao tiếp thể hiện mối quan hệ xã hội, mang tính chất xã hội
- Giao tiếp được tiến hành trong một thế giới nhất định và các diều kiện
cụ thể Con người trong giao tiếp vừa là chủ thể, vừa là khách thể cảu giaotiếp
Từ cách hiểu về giao tiếp như vậy nên khi nghiên cứu đề tài này tôi đã sử
dụng khái niệm giao tiếp của tác giả B.B.Bogoxlovxki: Giao tiếp là sự tác động qua lại giữa con người với con người trong đó diễn ra sự tiếp xúc tâm
lý, biểu hiện ở sự trao đổi thông tin , rung cảm lẫn nhau, hiểu biết lẫn nhau
và ảnh hưởng lẫn nhau.
Qua định nghĩa này chúng ta thấy giao tiếp là một hoạt động chỉ có ở conngười Hoạt động này diễn ra trong mối quan hệ người – người nhằm mụcđích thiết lập sự tiếp xúc giữa con người với nhau, tạo sự hiểu biết lẫn nhaulàm thay đổi mối quan hệ giữa con người với con người, đồng thời còn tác
Trang 9động đến thái độ, tình cảm, tri thức và toàn bộ nhân cách con người Có thểnói rằng giao tiếp là một trong những điều kiện thiết yếu cho sự tồn tại củacon người và của cả xã hội loài người.
1.1.2 Khái niệm kĩ năng
Quan niệm triết học về kỹ năng
Theo quan điểm triết học, kỹ năng có cả ở người và động vật.Cơ chếtâm lý của sự hình thành kỹ năng ở người và động vật là hoàn toàn tương tựnhư nhau Tuy nhiên kỹ năng của con người là có ý thức còn kỹ năng củađộng vật là không có ý thức Về bản chất, quan điểm Triết học xem xét kỹnăng nghiêng về mặt kỹ thuật của hành động.Đó là những động tác máy móc,
do được lặp đi lặp lại nhiều lần mà thành Đồng thời họ cũng khẳng định kỹnăng chính là kết quả của hành động và có liên quan chặt chẽ với năng lực, làđiều kiện của hoạt động sáng tạo của con người.[1]
Quan niệm tâm lý học về kỹ năng
Ở góc độ Tâm lý học, có rất nhiều các tác giả có nhiều cách diễn tả kháiniệm kỹ năng khác nhau Tuy nhiên, có thể quy về hai quan niệm chính nhưsau:
- Quan niệm thứ nhất:
Kỹ năng được coi là phương thức thực hiện hành động, phù hợp với mụcđích và điều kiện của hành động mà con người đã nắm vững Người có kỹnăng hoạt động nào đó là người nắm vững các tri thức về hoạt động đó vàthực hiện hành động theo đúng yêu cầu của nó mà không tính đến kết quả củahành động
- Quan niệm thứ hai:
Quan niệm thứ hai xem xét kỹ năng không đơn thuần là mặt kỹ thuật củahành động mà còn là sự biểu hiện năng lực của con người, đồng thời có tínhđến kết quả của hành động
Trang 10 Các nhà biên soạn từ điển Giáo dục học đã phân biệt rõ kỹ năngbậc 1 và kỹ năng bậc 2:
Kỹ năng bậc 1 là: “Khả năng thực hiện đúng hành động, hoạt động phùhợp với những mục tiêu và điều kiện cụ thể tiến hành hành động ấy, cho dùhành động đó là hành động cụ thể hay hành động trí tuệ.”
Kỹ năng bậc 2 là: “Khả năng thực hiện hành động một cách thành thạo,linh hoạt, sáng tạo phù hợp với những mục tiêu trong các điều kiện khácnhau.”[2]
Dù theo quan niệm nào thì khi nói đến kỹ năng đều phải quán triệt một
số điểm sau:
+ Mọi kỹ năng đều phải dựa trên cơ sở là tri thức Muốn hành động haythao tác được trước hết phải có kiến thức về nó
+ Nói tới kỹ năng của con người là nói tới hành động có mục đích, tức
là khi hành động con người luôn hình dung tới kết quả cần phải đạt được
+ Để có kỹ năng con người cũng phải biết cách thức hành động trongnhững điều kiện cụ thể và hành động theo quy trình với sự luyện tập nhấtđịnh
+ Kỹ năng liên quan mật thiết đến năng lực của con người Nó là biểuhiện cụ thể của năng lực
Với cách nhìn nhận như trên, có thể đi đến một cách hiểu chung, kháiquát về kỹ năng như sau:
Kỹ năng là khả năng thực hiện có kết quả một hành động nào đó bằng cách vận dụng những tri thức,kinh nghiệm đã có để thực hiện hành động phù hợp với những điều kiện nhất định.Kỹ năng không chỉ đơn thuần là mặt kỹ thuật của hành động mà còn là biểu hiện về năng lực của chủ thể hành động [3]
Trang 111.1.3 Khái niệm ấn tượng ban đầu
Trong quá trình con người hoạt động và liên hệ với nhau thì nhận thức
về nhau là một yếu tố vô cùng quan trọng Con người nhận thức về nhau nhờquá trình tri giác xã hội: họ quan sát, phân tích vẻ mặt, dáng điệu, lời ăn tiếngnói, hành động… của nhau, để từ đó mà nhận thức được người khác Từ nhậnthức đó mà chủ thể giao tiếp xác định những phương thức ứng xử của mình:cách xưng hô, thái độ, cử chỉ hành vi cho phù hợp với đối tượng Kết quả củaquá trình tri giác bị chi phối bởi nhiều yếu tố như ấn tượng ban đầu, sự quygán hành vi, các định kiến định khuôn khác nhau trong mỗi cộng đồng, mỗinền văn hóa
Nói chung, tri giác của chúng ta về người khác thường dựa vào sự tìmkiếm những ấn tượng phản ánh những đặc tính chủ yếu của nhân cách Trongquá trình tri giác đó thì những ấn tượng đầu tiên là rất quan trọng, nó thườnghay kéo dài và chi phối thái độ hành vi của chúng ta trong “phút đầu gặp gỡ”hay “lần đầu tiên gặp gỡ” Cần phải xác định rõ ở đây ấn tượng ban đầu là ở
“phút đầu gặp gỡ” hay “lần đầu tiên gặp gỡ”:
- Nếu hiểu ấn tượng ban đầu là ở “phút đầu gặp gỡ “thì có thể nói ở cuộcgặp gỡ nào cũng có, dù cho hai bên đã quen biết nhau từ lâu, gặp gỡ nhiều lầnvẫn có những “ấn tượng của phút đầu gặp gỡ”, chẳng hạn khi bàn đến mộtlĩnh vực mới mà cả hai bên chưa từng bàn, hai bên sẽ có những ấn tượng mới
mẻ về nhau, về sự am hiểu của nhau về lĩnh vực đó
- Nếu hiểu ấn tượng ban đầu là ở “lần đầu tiên gặp gỡ” thì có thể nói đó
là những nhận xét, những dấu hiệu sơ khai ban đầu mà con người có được vềđối tượng (người khác) trong lần gặp gỡ đầu tiên Nó là hình ảnh tâm lý vềtổng thể các đặc điểm diện mạo, lời nói, cử chỉ, tác phong, ánh mắt, nụ cười,thái độ, trang phục mà con người có được về đối tượng (người khác) tronglần tiếp xúc đầu tiên
Trang 12Có khá nhiều cách hiểu khác nhau về ấn tượng ban đầu Theo Bùi Tiến Quýcho rằng: Ấn tượng ban đầu là cái mà “khi gặp nhau đồng thời người ta vừanhận xét vừa đánh giá vừa có ác cảm hay thiện cảm ngay từ phút đầu tiênkhông chờ phải nghiên cứu, khảo sát hay thí nghiệm lại những đánh giá ấy.Hoặc một định nghĩa khác: “Ấn tượng ban đầu thường là một đánh giá mộthình ảnh, một nhận xét một thái độ về đối tượng được hình thành ngay từ phútđầu gặp gỡ hay lần đầu tiên gặp gỡ”.
Hai định nghĩa này gần như tương tự nhau, đều chỉ ra nội dung cơ bản của ấntượng ban đầu là sự “nhận xét”, “đánh giá” và “thái độ” của chủ thể đối vớiđối tượng Với cách nhìn nhận như trên, có thể đi đến một cách hiểu chung,khái quát về ấn tượng ban đầu như sau:
Ấn tượng ban đầu thường là một đánh giá một hình ảnh, một nhận xét một thái độ về đối tượng được hình thành ngay từ phút đầu gặp gỡ hay lần đầu tiên gặp gỡ Nó là hình ảnh tâm lý về tổng thể các đặc điểm diện mạo, lời nói, cử chỉ, tác phong, ánh mắt, nụ cười, thái độ, trang phục mà con người
có được về đối tượng (người khác) trong lần tiếp xúc đầu tiên.
1.1.4 Khái niệm tự rèn luyện kĩ năng tạo ấn tượng ban đầu trong giao
+ Quá trình rèn luyện diễn ra từ dễ tới khó, từ đơn giản đến phức tạp, thể hiệnđược sự bền bỉ và tập trung vào những vấn đề cốt lõi để đạt được những phẩmchất hay trình độ ở mức độ nào đó
Trang 13Từ cách nhìn nhận cụ thể như trên có thể đưa ra khái niệm tự rèn luyện nhưsau:
Tự rèn luyện là quá trình tự bản thân tập luyện một cách thường xuyên liên tục để tạo ra những kĩ năng kĩ xảo trong lĩnh vực, hoạt động nào đó.
Trên cơ sở khái niệm tự rèn luyện có thể đi tới khái niệm tự rèn luyện kĩ năngtạo ấn tượng ban đầu trong giao tiếp như sau:
Tự rèn luyện kĩ năng tạo ấn tượng ban đầu trong giao tiếp là quá trình tập luyện của bản thân một cách thường xuyên liên tục để tạo ra được ấn tượng ban đầu tốt đẹp với người khác về các mặt: diện mạo, lời nói, cử chỉ, tác phong, ánh mắt, nụ cười, thái độ, trang phục
1.2 Một số vấn đề chung về giao tiếp
1.2.1.Đặc trưng giao tiếp
- Giao tiếp mang tính bản chất xã hội Bản chất xã hội thể hiện ở chỗ bất cứmột giao tiếp nào cũng là một quan hệ xã hội, thông qua sự trao đổi, tiếp xúcgiữa con người với con người Quá trình tiếp xúc này hình thành nên cácchuẩn mực, các giá trị, các nhu cầu, lợi ích… của xã hội cũng như nhóm xãhội và cá nhân tham gia.Mặt khác mục đích, động cơ, phương tiện giao tiếp…của mỗi cá nhân cũng đều do xã hội quy định, chế ước
- Đặc trưng của giao tiếp xã hội là tính chủ thể trong giao tiếp.Quá trình giaotiếp được thực hiện bởi những cá nhân cụ thể Họ là chủ thể của sự trao đổihay tác động Họ là các cặp chủ thể - đối tượng luôn đổi chỗ cho nhau, cùngchịu sự chi phối và tác động lẫn nhau, chính vì thế người ta nói giao tiếp làmột dạng đặc biệt của hoạt động, nó là một hoạt động mang cấu trúc kép
- Trong quá trình giao tiếp, con người nhận thức đánh giá bản thân mình trên
cơ sở nhận thức người khác, theo cách này, họ có xu hướng tìm kiếm ở ngườikhác để xem ý kiến của mình có đúng không, có được thừa nhận không Trên
cơ sở đó họ có sự điều khiển điều chỉnh hành vi của mình theo hướng tăng
Trang 14- Thông qua giao tiếp xã hội, người ta trao đổi các kiến thức sự hiểu biết chonhau, truyền đạt các kinh nghiệm riêng của cá nhân cũng như kinh nghiệmcủa loài người, như vậy thông qua giao tiếp con người nhận thức về nhauđồng thời nhận thức về xã hội, nâng cao hiểu biết, phát triển thêm nhân cáchcủa mình.
- Trong giao tiếp xã hội diễn ra các cơ chế của ảnh hưởng xã hội như bắtchước, lây lan, ám thị, thoả hiệp đồng nhất hoá, đặc biệt là sự lây lan, lantruyền cảm xúc tâm trạng Thông qua các cơ chế đó các chủ thể giao tiếp tácđộng qua lại lẫn nhau chi phối ảnh hưởng lẫn nhau
1.2.2 Nhu cầu giao tiếp
Nhu cầu là sự cần thiết tất yếu của con người trong những điều kiệnnhất định cần được thỏa mãn để tồn tại và phát triển Nhu cầu của con ngườirất phong phú, không cố định luôn luôn phát triển và luôn có tính lịch sử xãhội Trong sự phong phú của nhu cầu con người, giao tiếp là một nhu cầuquan trọng
Các mác từng nói “nhu cầu vĩ đại nhất, phong phú nhất của con người là nhucầu về người khác.Nhu cầu này không ngang hàng với nhu cầu khác, sự pháttriển của nó trong một con người chính là một điều kiện làm cho con ngườitrở thành người”.Nhu cầu giao tiếp là nhu cầu được thiết lập các mối quan hệ,liên hệ với người khác.Những công trình nghiên cứu về giao tiếp trên thực tếcũng chứng minh rằng sự giao tiếp không đủ về số lượng, nghèo nàn về nộidung của trẻ nhỏ và người lớn đã để lại những hậu quả rất nặng nề, dẫn đếnbệnh “đói giao tiếp” Theo M.M Selovannop: Những trẻ em lớn lên trong tìnhtrạng đói giao tiếp đều bị trì trệ rõ rệt trong sự phát triển tâm lý cũng như thểchất của mình
Theo B.Ph Lomov – vấn đề giao tiếp trong TLH: Nhu cầu giao tiếp cóliên quan đến các nhu cầu cơ bản của con người Nó quy định hành vi của conngười không kém gì cái được gọi là nhu cầu sống Điều đó là tự nhiên bởi
Trang 15giao tiếp là điều kiện cần thiết cho sự phát triển bình thường của con ngườinhư thành viên của xã hội.
Như vậy, nhu cầu giao tiếp là nhu cầu cơ bản của con người Suốt cuộc đờicon người từ lúc mới sinh ra đến lúc chết con người luôn tồn tại nhu cầu này
Nó được coi như thuộc tính cơ bản của cá nhân, xác định thái độ của cá nhânđối với hiện thực và trách nhiệm đối với bản thân
1.2.3 Đối tượng và phạm vi giao tiếp
Theo PGS.TS Ngô Công Hoàn và PGS.TS Hoàng Anh thì đối tượnggiao tiếp là các thành viên trong nhóm xã hội (gia đình, xóm làng, phốphường, các đoàn thể mà chúng ta tham gia ở đó).Đối tượng giao tiếp rấtrộng, đa dạng và vô cùng phong phú.Ở các lứa tuổi khác nhau, công việc vàhoàn cảnh khác nhau thì đối tượng giao tiếp sẽ khác nhau.Những người thamgia vào quá trình giao tiếp thường tác động lẫn nhau và chịu ảnh hưởng củanhau về tâm lý ý thức
Đối tượng giao tiếp đã quy định một phần nào đó về phạm vi giao tiếp Nếuđối tượng phong phú thì phạm vi sẽ được mở rộng như chúng ta có đối tượnggiao tiếp là bạn bè cùng trường, bạn bè khác trường, banh bè quốc tế thìphạm vi giao tiếp rất rộng từ môi trường đại học này đến môi trường đại họckhác và xuyên quốc gia Và ngược lại nếu đối tượng nghèo nàn thì phạm vigiao tiếp sẽ hẹp lại
Đối tượng và phạm vi giao tiếp có ảnh hưởng rất lớn đến nhu cầu giao tiếp và
sự phát triển hoàn thiện nhân cách con người nói chung và tới sinh viên nóiriêng
Đối tượng giao tiếp của SV rất rộng, có thể là bạn bè, thầy cô giáo, nhữngngười mình quen và có thể những người mình không quen bởi vậy nên phạm
vi giao tiếp của sinh viên ngày càng được mở rộng: từ tiếp xúc với nhữngngười thân trong gia đình đến thầy cô giáo, bạn bè ở trường học, các đồng
Trang 16Thực tế đã chứng minh: Giao tiếp trong môi trường nhà trường, môi trườnggiáo dục giữa thầy với trò, giữa nhà giáo dục với người được giáo dục, giữanhững người được giáo dục với nhau giúp cho các cá nhân có thể lĩnh hộiđược những tri thức cần thiết bằng con đường nhanh nhất trong khoảng thờigian ngắn và đỡ tốn kém nhất từ đó tạo điều kiện thuận lợi nhất cho sự hìnhthành và phát triển nhân cách.
1.2.4 Nội dung giao tiếp
Nội dung giao tiếp là những vấn đề mà chủ thể đề cập đến khi giao tiếpvới người khác Đây là yếu tố quan trọng nhất trong quá trình giao tiếp thểhiện thông tin cần truyền đạt Trong nội dung giao tiếp người ta thường chia
ra làm 2 loại: Nội dung tâm lý và nội dung công việc
Nội dung tâm lý trong giao tiếp chia làm 3 thành phần cơ bản: nhậnthức, thái độ cảm xúc và hành vi
- Nhận thức: Ở bất kì cuộc giao tiếp nào giữa con người với con ngườiđều để lại trong chủ thể và đối tượng giao tiếp một phẩm chất nhất định vềnhận thức Nội dung nhận thức trong giao tiếp rất phong phú, đa dạng và sinhđộng Thông qua giao tiếp người ta trao đổi vốn kinh nghiệm, tranh luận vềquan điểm thái độ Sau mỗi lần giao tiếp mọi thành viên đều nhận thức thêmđược những điều mới mẻ, truyền đạt và lĩnh hội những tri thức về tự nhiên,kinh tế - xã hội
- Thái độ cảm xúc: Từ thời điểm bắt đầu, diễn biến rồi kết thúc của quátrình giao tiếp đều biểu hiện một trạng thái cảm xúc nhất định của chủ thể vàđối tượng giao tiếp Trong giao tiếp ngoài sự định hướng về hình thức, nộidung giao tiếp, con người bao giờ cũng thể hiện thái độ của mình trước khibắt đầu tiếp xúc như thiện chí, hữu nghị hay lãnh đạm, quan tâm hay thiếuquan tâm
- Hành vi là một nội dung tâm lý quan trọng trong quá trình giao tiếp Nóđược biểu hiện qua hệ thống những vận động của đầu, chân tay, nét mặt, ngôn
Trang 17ngữ, ánh mắt sự vận động của toàn bộ những bộ phận trên hợp thành hành
vi giao tiếp
Nội dung công việc trong giao tiếp chỉ tính chất mối quan hệ xã hội.nội dung công việc mang tính chất tạm thời, xảy ra trong mối quan hệ người –người
Như vậy, nội dung giao tiếp luôn được thể hiện ở bất kì một quá trình giaotiếp nào, đó là một trong những đặc trưng của giao tiếp Nội dung giao tiếpchịu ảnh hưởng của lứa tuổi, nghề nghiệp giới tính của các chủ thể giao tiếp,ngoài ra nó còn chịu ảnh hưởng của hoàn cảnh, điều kiện giao tiếp cũng nhưtrạng thái tâm lý của chủ thể
1.3 Đặc điểm của ấn tượng ban đầu
Đặc điểm nổi bật của ấn tượng ban đầu là nó có được sau lần tiếp xúcđầu tiên Nghĩa là trong hoàn cảnh hai bên chưa hề quen nhau, chưa hề gặp gỡnhau một lần nào cả, có thể đã có một số thông tin về nhau hoặc thậm chíchưa hề có một thông tin gì về nhau Những thông tin này có được có thểthông qua bạn bè, từ những người xung quanh (đôi khi có những trường hợphai bên đã biết khá rõ về nhau qua nghiên cứu hồ sơ) Trên cơ sở những thôngtin ấy, họ sẽ dùng làm cơ sở để đánh giá phân tích tổng hợp về đối tượng.Vì làbuổi tiếp xúc đầu tiên, thời gian chỉ giới hạn trong một buổi tiếp xúc mà chủthể có những ấn tượng rõ nét hay mơ hồ về đối tượng
Ấn tượng ban đầu là những là những ấn tượng chung, tổng thể về đốitượng, là những nét khái quát nhất về đối tượng chứ không phải là những nétriêng lẻ về đối tượng, chẳng hạn đó không phải là một nụ cười rạng rỡ haymột bộ dạng lôi thôi, mà là những nét khái quát nhất trên cơ sở ta nhìn nhậntoàn diện về họ, ví dụ như đó là một người cởi mở hay lạnh lùng, điềm đạmhay nóng nảy, thông minh hay ngốc nghếch…Như vậy có thể nói ấn tượngban đầu mang tính khái quát cao, là những hình ảnh chung nhất về đối tượng
Trang 18Ấn tượng ban đầu mang tính chủ quan cảm tính Đây cũng là mộtnhược điểm khó tránh khỏi của ần tượng ban đầu Do điều kiện thiếu thôngtin, thời gian tiếp xúc lại quá ngắn, cả hai bên sẽ không thể bộc lộ hết mọi tínhcách của mình, sẽ khó khăn hơn khi nhận diện đối tượng Chỉ dựa vào sựquan sát bề ngoài như trang phục, tác phong, cử chỉ, lời nói… Rồi dựa vàokinh nghiệm để phán đoán đối tượng sẽ không trách khỏi sự chủ quan phiếndiện Trong khi đó đối tượng ở đây lại là con người, hết sức phức tạp, hànhđộng với những động cơ khác nhau, lời nói và suy nghĩ đôi khi không khớpnhau, hòng đánh lừa sự cảm nhận của người khác, nhằm những mục đích nàyhay mục đích khác Do đó việc đưa ra những đánh giá về người khác tốt haykhông tốt, người này thông minh hay người kia ngây thơ… ngay từ buổi tiếpxúc đầu tiênmột cách chính xác quả thật là rất khó Cái khó không chỉ nằmtrong điều kiện chủ quan của người tri giác: kém nhạy cảm, ít kinh nghiệm, bịchi phối bởi những động cơ khác nhau…nó còn nằm ở hoàn cảnh thiếu hụtthông tin về đối tượng, gò bó về thời gian để quan sát đối tượng, và còn khóhơn ở chỗ các đối tượng thường cố tình ngụy trang những khuyết điểm củamình thông thường những người nhạy cảm, những người có nhiều kinhnghiệm trong giao tiếp thường có những ấn tượng ban đầu khá chính xác ,hơn là những người ít va vấp từng trải trong giao tiếp.
Ấn tượng ban đầu thể hiện sự đánh giá, thái độ của chủ thể về đốitượng Thông thường ấn tượng ban đầu mang đậm màu sắc chủ quan, vì chủthể không có điều kiện soi xét đối tượng từ nhiều phía Ấn tượng ban đầuchứa đựng sự nhận thức về đối tượng, kèm theo đó là những xúc cảm, tìnhcảm: quý mến hay gét, thích hay không thích, hài lòng hay không hài lòng.Thì thái độ đó sẽ chi phối cách ứng xử của những quá trình giao tiếp về sau.Nếu có ấn tượng ban đầu là tốt thì họ sẽ hào hứng tiếp tục quan hệ còn nếukhông thì quan hệ tiến triển sẽ rất khó khăn, hoặc không quan hệ nữa, vì
Trang 19người ta thường tìm kiếm những thông tin phù hợp với thái độ sẵn có về đốitượng
1.4 Vai trò của ấn tượng ban đầu trong giao tiếp
Như đã phân tích, ấn tượng ban đầu là một hình ảnh tổng thể về ngườikhác trên cơ sở nhìn nhận họ một cách toàn diện từ hình dáng tác phong bềngoài cho tới đặc điểm nhân cách bên trong có được từ buổi tiếp xúc đầu tiên
Do vậy ấn tượng ban đầu có vai trò rất quan trọng trong giao tiếp:
Thứ nhất: Ấn tượng ban đầu là những dấu hiệu sơ khai và chủ yếu là những
dấu hiệu bề ngoài nhưng chính nó lại là những tiền đề để hiểu, để phán đoán
và hành động với nội dung tâm lý bên trong của đối tượng giao tiếp
Ấn tượng ban đầu là “cửa ngõ” quan trọng của quá trình giao tiếp Trong cuộcsống hàng ngày có vô số các cơ hội để gặp gỡ người này hay người khác, chonên nếu trong lần tiếp xúc đầu tiên mà đối tượng không gây được cảm tìnhđối với ta thì sẽ khó có thể có lần giao tiếp tiếp theo và như vậy mối quan hệgiữa hai người sẽ không thể thiết lập, nhưng nếu có ấn tượng tốt, người ta sẽ
có mong muốn được gặp lại đối tượng và như thế là một yếu tố quan trọng đểngười ta xây dựng các mối quan hệ với nhau
Thứ hai: Nó định hướng cho việc tìm kiếm những những thông tin về đối
tượng trong những cuộc giao tiếp tiếp theo, vì ấn tượng ban đầu cho ta ý niệmchặt chẽ về đối tượng, nó là cơ sở để cho ta chọn lọc những thông tin phù hợpvới những gì ta đã biết về đối tượng và định giá những thông tin không phùhợp
Thứ ba: Ấn tượng ban đầu giúp ta nắm bắt được những đặc trưng của người
khác, nắm bắt được những phản ứng của chúng ta và quyết định những hành
vi sắp tới mà không sợ mắc quá nhiều sai lầm Ấn tượng ban đầu là hình ảnh
về đối tượng giao tiếp cho nên trước hết nó phụ thuộc vào đặc điểm của đốitượng giao tiếp, đặc biệt là những đặc điểm bề ngoài như : đầu tóc, ăn mặc,
Trang 20Thứ tư: Ấn tượng ban đầu bị chi phối bởi cảm xúc, do vậy nó ảnh hưởng đến
cách ứng xử về sau Ấn tượng ban đầu mang đậm màu sắc chủ quan, kèmtheo đó là những xúc cảm, tình cảm: quý mến hay gét, thích hay không thích,hài lòng hay không hài lòng Thì thái độ đó sẽ chi phối cách ứng xử củanhững quá trình giao tiếp về sau Nếu có ấn tượng ban đầu là tốt thì họ sẽ hàohứng tiếp tục quan hệ còn nếu không thì quan hệ tiến triển sẽ rất khó khăn,hoặc không quan hệ nữa, vì người ta thường tìm kiếm những thông tin phùhợp với thái độ sẵn có về đối tượng
Thứ năm: Nếu như ấn tượng ban đầu không tốt, sẽ mất công sức để lấy lại
thiện cảm từ đối tượng giao tiếp
1.5 Nội dung tự rèn luyện kĩ năng tạo ấn tượng ban đầu trong giao tiếp
của sinh viên
- Rèn luyện kĩ năng chọn trang phục phù hợp với hoàn cảnh giao tiếp
- Rèn luyện kĩ năng sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp
- Rèn luyện kĩ năng sử dụng ngôn ngữ cơ thể khi giao tiếp: ánh mắt, nụcười, nét mặt, điệu bộ, cử chỉ, tác phong
- Rèn luyện kĩ năng bắt tay
- Rèn luyện kĩ năng lắng nghe
- Rèn luyện kĩ năng kiềm chế cảm xúc
Trang 21KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Qua nghiên cứu cơ sở lý luận của đề tài chúng tôi nhận thấy:
Ấn tượng ban đầu thường là một đánh giá một hình ảnh, một nhận xét,một thái độ về đối tượng được hình thành ngay từ phút đầu gặp gỡ hay lầnđầu tiên gặp gỡ Nó là hình ảnh tâm lý về tổng thể các đặc điểm diện mạo, lờinói, cử chỉ, tác phong, ánh mắt, nụ cười, thái độ, trang phục mà con người
có được về đối tượng (người khác) trong lần tiếp xúc đầu tiên
Kĩ năng tạo ấn tượng ban đầu trong giao tiếp nằm trong hệ thống các kĩnăng giao tiếp nhưng lại là tiền để, cửa ngõ quan trọng của quá trình giao tiếp.Muốn có một kĩ năng thành thạo để thiết lập nhiều mối quan hệ với ngườikhác thì cần phải có ý thức tự rèn luyện Do vậy, tự rèn luyện kĩ năng tạo ấntượng ban đầu trong giao tiếp là quá trình tập luyện của bản thân một cáchthường xuyên liên tục để tạo ra được ấn tượng ban đầu tốt đẹp với người khác
về các mặt: diện mạo, lời nói, cử chỉ, tác phong, ánh mắt, nụ cười, thái độ,trang phục
Hiện nay, việc ứng dụng kĩ năng mềm vào trong cuộc sống cũng nhưhọc tập đang rất được gia đình, nhà trường và xã hội coi trọng, kĩ năng tạo ấntượng ban đầu trông giao tiếp không là ngoại lệ Tuy nhiên, việc tiếp cận vànghiên cứu vấn đề này còn chưa được đầy đủ, toàn diện và sâu sắc.Học việnQuản lý giáo dục đang trong những năm đầu đào tạo, đã đưa những phươngpháp dạy và học tích cực, lấy người học làm trung tâm, tuy vậy vẫn chưa đạtkết quả cao
Chính vì vậy, có thể nhận thấy một điều rằng công tác giáo dục và rènluyện kĩ năng sống, đặc biệt là kĩ năng tạo ấn tượng ban đầu trong giao tiếpcho sinh viên là hết sức quan trọng, có ý nghĩa to lớn và rất cần thiết, nhất lànhững sinh viên năm thứ nhất Trong chương 1 của đề tài, tác giả đã trình bàymột số vấn đề liên quan đến kĩ năng tạo ấn tượng ban đầu trong giao tiếp làm
cơ sở lý luận Trong chương 2 tiếp theo đây, tác giả sẽ trình bày thực trạngviệc tự rèn luyện kĩ năng tạo ấn tượng ban đầu trong giao tiếp của sinh viênlớp K5A – Học viện Quản lý Giáo dục
Trang 22CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG VIỆC TỰ RÈN LUYỆN KĨ NĂNG TẠO ẤN TƯỢNG BAN ĐẦU TRONG GIAO TIẾP CỦA SINH VIÊN LỚP K5A – HỌC
VIỆN QUẢN LÝ GIÁO DỤC
2.1 Một số đặc điểm khái quát về sinh viên khoa Giáo dục
2.1.1 Sinh viên khoa Giáo dục
Học viện Quản lý giáo dục là cơ sở giáo dục Đại học trực thuộc Bộ GD &
ĐT, được thành lập theo quyết định số 501/QĐ-TTg ngày 03 tháng 4 năm
2006 của Thủ tướng Chính phủ trên cơ sở Trường Cán bộ quản lý giáo dục vàđào tạo
Sau hơn 33 năm xây dựng và phát triển, Học viện Quản lý giáo dục đã gópphần xây dựng và phát triển hệ thống lý luận về khoa học QLGD Việt Nam;tham mưu tư vấn và triển khai ứng dụng khoa học QLGD cho hệ thống cáctrường, khoa làm công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ QLGD trong toàn quốc;nghiên cứu đánh giá tác động của các chủ trương, chính sách và các giải phápđổi mới QLGD đến đời sống kinh tế - xã hội của đất nước
Bắt đầu tuyển sinh đào tạo trình độ Đại học từ năm học 2007 – 2008, đến
nay số lượng sinh viên của Học viện khoảng hơn 1700 sinh viên, thuộc ba Khoa: Quản lý (chuyên ngành Quản lý giáo dục), Giáo dục (chuyên ngành Tâm lý – giáo dục học), Công nghệ thông tin (chuyên ngành Tin học ứng
dụng) Tuy vậy, điều kiện cơ sở vật chất của nhà trường còn nhiều thiếu thốn,chưa đáp ứng tốt và đầy đủ nhu cầu đào tạo cũng như như cầu học tập củasinh viên Với diện tích phòng học khoảng 2500 m2 (Diện tích phòng học/Sinh viên = 1,2 m2), sinh viên vẫn phải chia ra học theo hai ca: sáng – chiều.Trong đó, với Khoa Giáo dục, năm học 2011 – 2012 cũng là năm thứ nămthực hiện nhiệm vụ tuyển sinh, đào tạo Cử nhân tâm lý giáo dục Đến nay, sốlượng sinh viên trong khoa vào khoảng trên sinh viên với chất lượng đầu
Trang 23vào từ 2 khối , C, D tương đối cao Với nội dung chương trình tập trungnghiên cứu những vấn đề cơ bản của tâm lý và giáo dục học nên không tránhkhỏi mang nặng tính lý luận, lý thuyết, hàn lâm Do đó, càng đòi hỏi sinh viêntrong khoa có thái độ tích cực, chăm chỉ, tâm huyết, tự học, tự nghiên cứu đểchiếm lĩnh tri thức Tuy vậy, nhiều sinh viên trong khoa còn chưa yên tâm vớingành học của mình, chưa có định hướng rõ ràng về nghề nghiệp trong tươnglai nên còn gây ảnh hưởng không nhỏ tới ý thức, thái độ cũng như năng lựchọc tập của mỗi sinh viên Song không vì thế mà chất lượng học tập của sinhviên Khoa Giáo dục kém đi, mà vượt lên những khó khăn đó, sinh viên trongkhoa luôn được đánh giá là có chất lượng học tập và rèn luyện khá cao (đặcbiệt là sinh viên TLGD khóa 1).
Học để chung sống là mục tiêu then chốt của Giáo dục hiện nay Việc dạy
ở đại học là dạy cho sinh viên cách thức đi tới sự hiểu biết.Đứng trước xu thếhội nhập sinh viên khoa Giáo dục còn phải trang bị cho mình những kĩ năngsống cần thiết.Kĩ năng tạo ấn tượng ban đầu nằm trong hệ thống các kĩ nănggiao tiếp, nhưng nó lại là cơ sơ và tiền đề cho quá trình giao tiếp Để có được
sự thành thạo ấy đòi hỏi bản thân mỗi sinh viên phải tự rèn luyện và trau dồikiến thức cho mình Sinh viên khoa Giáo dục rất tự tin, năng động nhưng vẫnchưa có sự đồng bộ.Vậy làm thế nào để cải thiện tình trạng nêu trên?
2.1.2 Sinh viên lớp K5A
Lớp K5A nằm trong khoa Giáo dục của Học viện quản lý Giáo dục, lànhững sinh viên năm thứ nhất của trường và tổng số học viên trong lớp là 51,trong đó có 6 nam (chiếm 11,7%) và 45 nữ (chiếm 88,2%) Sinh viên tronglớp đến từ khắp các tỉnh thành trong cả nước Đa số sinh viên trong lớp là nữ,cũng là đặc điểm chung của khoa Giáo dục Đôi khi chính vì hoàn cảnh này
có ảnh hưởng tới tâm lý chung của các sinh viên trong lớp cũng như trongkhoa
Trang 24Lứa tuổi của các bạn sinh viên lớp K5A tập trung chủ yếu từ 18 – 19 tuổi,xuất thân từ các tầng lớp xã hội khác nhau, có quá trình học tập, tu dưỡng đạođức khác nhau Họ có một thế giới nội tâm phong phú, phức tạp, luôn muốn
tự khẳng định, tự học, giao tiếp, kiếm sống theo cách riêng của bản thân.Những yếu tố đó xuất hiện từ tuổi thiếu niên nhưng đến tuổi thanh niên mới
có cơ hội phát triển mạnh mẽ.Họ là những thế hệ trẻ và vừa bước chân vàogiảng đường đại học Đây cũng chính là điều kiện thuận lợi cho việc giáo dụctính độc lập, tự chủ, năng động cho sinh viên, giúp sinh viên có khả năngthích nghi nhanh với cuộc sống và sinh hoạt, học tập ở nhà trường Tuy nhiên
đó cũng thể là khó khăn đối với một số sinh viên sống khép mình, sự thay đổimôi trường sống làm cho họ bỡ ngỡ chưa kịp thời thích nghi được Do vậy,trước khi trang bị cho họ kiến thức chuyên môn cần phải trang bị cho họnhững kỹ năng sống cần thiết
Học viện QLGD đang trong những năm đầu hoàn thiện về mọi mặt.Cáchoạt động chính khóa, ngoại khóa nhằm rèn luyện các kỹ năng mềm cho sinhviên còn hạn chế Mặt khác, chương trình đào tạo của Học viện hiện nay cònnặng về lý thuyết, thời gian thực hành các kĩ năng nói chung không nhiều, đặcbiệt là kĩ năng tạo ấn tượng ban đầu trong giao tiếp cho sinh viên Đối vớisinh viên lớp K5A, là những sinh viên năm đầu càng cần phải có những kiếnthức cơ bản và khả năng ứng phó với những thay đổi, cám dỗ của cuộc sốnghội nhập Xã hội hiện đại luôn nảy sinh những vấn đề phức tạp và những vấn
đề bất định đối với con người Nếu con người không có năng lực để ứng phóvượt qua những thử thách đó và hành động theo cảm tính thì rất dễ gặp rủi ro.Việc trang bị kiến thức về các kĩ năng sống cho sinh viên cần thiết càng trởnên cấp thiết
Trang 252.2 Thực trạng việc tự rèn luyện kĩ năng tạo ấn tượng ban đầu trong giao tiếp của sinh viên lớp K5A
Để tìm hiểu về thực trạng việc tự rèn luyện kỹ năng tạo ấn tượng banđầu trong giao tiếp của sinh viên lớp K5A - HVQLGD, đề tài đã tiến hànhkhảo sát 51 sinh viên tại lớp K5A kết quả khảo sát thu được như sau:
2.2.1 Thực trạng nhận thức của sinh viên lớp K5A về vai trò của kĩ năng tạo ấn tượng ban đầu trong giao tiếp
Mức độ nhận thức của sinh viên về vai trò của kỹ năng tạo ấn tượngban đầu trong giao tiếp thể hiện ở bảng 2.1 dưới đây:
Bảng 2.1: Nhận thức của sinh viên về vai trò của kỹ năng tạo ấn tượng ban đầu tronggiao tiếp
Stt
Vai trò
Mức độRất quantrọng
Quantrọng
Bìnhthường
Khôngquan trọng
1 Là cơ sở, tiền đề cho quá trình
giao tiếp tiếp theo
2 Nó định hướng cho việc tìm
kiếm những những thông tin về
đối tượng trong những cuộc
giao tiếp tiếp theo
3 Ấn tượng ban đầu giúp ta nắm
bắt được những đặc trưng của
5 Tạo được thiện cảm với đối
tượng giao tiếp
Qua bảng số liệu tổng hợp trên chúng tôi nhận thấy:
- Với nội dung là cơ sở, tiền đề cho quá trình giao tiếp tiếp theo
Trang 26Có tới 35 sinh viên (chiếm 68,6%) đánh giá rằng vai trò này ở mức độ rấtquan trọng và 12 sinh viên (chiếm 23,5%) cho rằng quan trọng Số sinh viêncho rằng nội dung này bình thường chiếm tỉ lệ là 7,9% và không quan trọngthì không có sinh viên nào chọn trong tổng số sinh viên trong lớp Khi đượchỏi lý do bạn lại cho rằng nó rất quan trọng, có một vài ý kiến nêu ra là: Vìtrong giao tiếp nếu ngay từ đầu ta gây được ấn tượng tốt đẹp với đối phươngthì quá trình giao tiếp sẽ diễn ra suôn sẻ, thuận lợi Ngược lại, nếu từ đầu tiếpxúc mà để lại ấn tượng xấu thì quá trình giao tiếp tiếp theo sẽ gặp nhiều khókhăn Hoặc có bạn lại cho rằng để gây được thiện cảm với người khác ngay từđầu là rất khó nên nếu làm sai điều gì đó, gây ấn tượng không tốt thì sẽ mất đinhiều mối quan hệ Như vậy có thể thấy nhận thức của sinh viên về nội dungnày là khá cao khi phần lớn sinh viên đều cho rằng vai trò này rất quan trọng.
- Với nội dungNó định hướng cho việc tìm kiếm những những thông tin
về đối tượng trong những cuộc giao tiếp tiếp theo
Có tỉ lệ 23,5% số sinh viên cho rằng nội dungNó định hướng cho việc tìm kiếm những những thông tin về đối tượng trong những cuộc giao tiếp tiếp theo với mức độ đánh giá rất quan trọng, 49% là quan trọng, và 27,5% số sinh
viên cho rằng nội dung này ở mức bình thường và không quan trọng thì cũngkhông có sinh viên nào chọn, cho thấy sinh viên K5A cũng nhận thức khá tốt
về vai trò của kĩ năng tạo ấn tượng ban đầu trong giao tiếp, tuy nhiên chỉ có
sự thay đổi giữa 2 mức độ rất quan trọng và quan trọng
- Với nội dung Ấn tượng ban đầu giúp ta nắm bắt được những đặc trưng của người khác
Ở nội dung thứ baẤn tượng ban đầu giúp ta nắm bắt được những đặc trưng của người khác khi chúng tôi đưa ra thì có tới 49% số sinh viên cho
rằng ở mức quan trọng và 23,5% số sinh viên cho rằng rất quan trọng, chỉ có19,6% cho rằng bình thường và 7,9% số học viên cho rằng không quan trọng,
số học viên nhận thức được tầm quan trọng vẫn chiếm 2/3 trong tổng số sinhviên trong lớp Qua phỏng vấn một số thành viên trong lớp để tìm hiểu thêmthông tin cũng như sự hiểu biết của họ về ấn tượng ban đầu, câu hỏi đặt ra tại
sao Ấn tượng ban đầu giúp ta nắm bắt được những đặc trưng của người khác? Một số ý kiến cho rằng ngay từ đầu tiếp xúc ta có thể nhận ra người đó
Trang 27cởi mở hay lạnh lùng, điềm đạm hay nóng nảy qua cách họ nói chuyện vớimình hay với người khác, đó là những nét đặc trưng về họ, do vậy mà yếu tốnày cũng quan trọng.
- Với nội dung Ấn tượng ban đầu bị chi phối bởi cảm xúc, do vậy nó ảnh hưởng đến cách ứng xử về sau
Ở nội dung thứ tư Ấn tượng ban đầu bị chi phối bởi cảm xúc, do vậy nó ảnh hưởng đến cách ứng xử về sau cũng có sư lựa chọn tương tự như các nội
dung trên Tuy nhiên ở vai trò này mức độ bình thường lại được chọn nhiềuhơn mức độ rất quan trọng, chiếm tỉ lệ 29,4% Khi được hỏi lý do bạn chọnđáp án này thì họ trả lời rằng: Nhiều lý do cho rằng ấn tượng ban đầu bị chiphối bởi cảm xúc là quan trọng vì cảm xúc, tâm trạng của mỗi người là khácnhau, đồng thời do điều kiện thiếu thông tin, thời gian tiếp xúc lại quá ngắn,
cả hai bên sẽ không thể bộc lộ hết mọi tính cách của mình, sẽ khó khăn hơnkhi nhận diện đối tượng Chỉ dựa vào sự quan sát bề ngoài như tác phong, cửchỉ, lời nói… Rồi dựa vào kinh nghiệm để phán đoán đối tượng sẽ khôngtránh khỏi sự chủ quan phiến diện Các bạn cũng chia sẻ là chính bản thânmình đã gặp những tình huống do không làm chủ được cảm xúc, tâm trạng
mà làm ảnh hưởng tới quá trình giao tiếp, ví dụ hôm đó có chuyện không vuilại bực tức trong lòng mà đi gặp ai đó, nét mặt cũng khó mà thân thiện, cởi
mở được Do đó việc đưa ra những đánh giá về người khác tốt hay không tốt,hay người này là thông minh người kia là ngây thơ… ngay từ buổi tiếp xúcđầu tiên một cách chính xác quả thật là rất khó Cái khó không chỉ nằm trongđiều kiện chủ quan của người tri giác: kém nhạy cảm, ít kinh nghiệm, bị chiphối bởi những động cơ khác nhau…nó còn nằm ở hoàn cảnh thiếu hụt thôngtin về đối tượng, gò bó về thời gian để quan sát đối tượng, và còn khó hơn ởchỗ các đối tượng thường cố tình ngụy trang những khuyết điểm của mình.Thông thường những người nhạy cảm, những người có nhiều kinh nghiệmtrong giao tiếp thường có những ấn tượng ban đầu khá chính xác, hơn lànhững người ít va vấp từng trải trong giao tiếp
- Ở nội dung cuối cùng Tạo được thiện cảm với đối tượng giao tiếpcũng như các nội dung vừa phân tích ở trên thì có thể thấy được rằngđại
Trang 28ban đầu trong giao tiếp mà chúng tôi đưa ra Mức độ rất quan trọng và quantrọng được sinh viên lựa chọn khá nhiều, chiếm 56,9% và 25,5%.
2.2.2 Nhận thức về những yếu tố cần có để tạo ấn tượng ban đầu trong giao tiếp
Để đánh giá cụ thể hơn nữa khả năng nhận thức về vai trò của kĩ năngtạo ấn tượng ban đầu trong giao tiếp chúng tôi đưa ra các yếu tố cần có khitiếp xúc với người khác lần đầu tiên để khảo sát sinh viên Kết quả thu đượcnhư sau:
Bảng 2.2: Các yếu tố cần có để tạo ấn tượng ban đầu trong giao tiếpStt
Yếu tố
Mức độRất cầnthiết
Cần thiết Bình
thường
Không cầnthiết
5 Nét mặt thân thiện, luôn mỉmcười 20 39,2 25 49,0 5 9,8 1 1,9
6 Nhìn thẳng vào mắt người đốidiện 12 23,5 20 39,2 13 25,5 6 11,8
8 Biết cách đặt vấn đề khi nóichuyện 27 52,9 20 39,2 4 7,9 0 0
Nhận xét:
Trang 29Qua bảng số liệu trên ta nhận thấy các yếu tố được nêu ra đều đượcsinh viên chọn ở mức độ rất cần thiết và cần thiết.2 mức độ còn lại chỉ chiếm
tỉ lệ nhỏ Các yếu tố như trang phục phù hợp với hoàn cảnh,ngôn ngữ rõ ràng, trong sáng, biết cách lắng nghe, biết cách đặt vấn đề khi nói chuyệnđều
nằm ở mức độ lựa chọn rất cần thiết Ở mức độ rất cần thiết yếu tố biết cáchlắng nghe được lựa chọn nhiều nhất, chiếm 66,7% Trong giao tiếp cần biếtlắng nghe một cách tích cực để tăng hiệu quả của giao tiếp Lắng nghe là cảmột nghệ thuật, do vậy cần nhận thức được vai trò của yếu tố này
Ở mức độ không cần thiết, yếu tố nhìn thẳng vào mắt người đối diệnchiếm 11,7% Ở các yếu tố khác mức độ không cần thiết được lựa chọn íthơn, chỉ chiếm số nhỏ trong tổng số lựa chọn của sinh viên cả lớp Như vậyqua 2 bảng nêu trên chúng tôi nhận thấy hầu hết sinh viên đã nhận thức đượcvai trò cũng như các yếu tố cần thiết để tạo ấn tượng ban đầu trong giao tiếp.Trong cuộc sống hằng ngày, chúng ta gặp gỡ, trao đổi với nhiều người vềthông tin, tình cảm và các vấn đề khác nhau Giao tiếp là một kĩ năng sốngquan trọng giúp con người xây dựng được các mối quan hệ lâu dài và giảiquyết các vấn đề một cách hiệu quả
Kĩ năng tạo ấn tượng ban đầu nằm trong hệ thống các kĩ năng giaotiếp Các nghiên cứu cho thấy 85% thành công trong cuộc sống của chúng ta
có liên quan trực tiếp đến kĩ năng giao tiếp Điều phân biệt những người thànhcông với kẻ thất bại chính là người thành công có khả năng thu phục nhân tâm
để phát huy tối đa tiềm lực cá nhân và tận dụng sức mạnh của người khác Cóthể nhận thấy rằng sinh viên lớp K5A nhận thức khá tốt về vai trò của kĩ năngtạo ấn tượng ban đầu trong giao tiếp Tuy nhiên từ việc nhận thức đến thựctiễn rèn luyện lại khác xa nhau.Ai cũng biết rằng cần gây ảnh hưởng bằng nụcười, ánh mắt, nên làm đối tác hài lòng nhưng làm thế nào để đạt được điều
đó thì cần phải có sự trải nghiệm và rèn luyện.Vì vậy điều cần đặt ra là phải
Trang 30ứng dụng, cũng như được rèn luyện về các kỹ năng sống, đặc biệt là kỹ năngtạo ấn tượng ban đầu trong giao tiếp là điều cần thiết.
2.2.2 Thực trạng trình độ kĩ năng tạo ấn tượng ban đầu trong giao tiếp của sinh viên lớp K5A
Để đánh giá thực trạng trình độ kỹ năng tạo ấn tượng ban đầu trong giao tiếpcủa sinh viên lớp K5A chúng tôi đã sử dụng câu hỏi số 3 trong phiếu điều tra,qua khảo sát thu được như sau:
Thực trạng trình độ kỹ năng tạo ấn tượng ban đầu trong giao tiếp củatập thể lớp K5A được thể hiện cụ thể trong bảng 2.3 dưới đây:
Bảng 2.3: Thực trạng về trình độ kỹ năng tạo ấn tượng ban đầu trong giao tiếp của sinh viên lớpK5A
Trang 31Qua bảng tổng hợp số liệu trên, chúng tôi nhận thấy:
Mặc dù nhận thức khá tốt về kĩ năng này nhưng trình độ kĩ năng của sinh viênvẫn chưa cao Một số sinh viên lớp K5A đã có trình độ kĩ năng tạo ấn tượngban đầu trong giao tiếp, nhưng tỉ lệ đó khá ít
- Kĩ năng chọn trang phục phù hợp với hoàn cảnh giao tiếp
Với kĩ năng chọn trang phục phù hợp với hoàn cảnh giao tiếp thì mức
độ tốt chỉ có 6 sinh viên lựa chọn (chiếm 11,8%), số sinh viên cho rằng mìnhchỉ đạt mức độ khá chiếm 21,6% Bên cạnh đó mức độ bình thường và chưatốt chiếm tỉ lệ khá cao, 23,5% và 39,2% Ở kĩ năng này chỉ có 2 sinh viên chorằng mình không có kĩ năng (chiếm 3,9%)
Mặc dù nhận thức khá tốt về vai trò của kĩ năng này nhưng trình độ rèn luyệnhầu hết nằm ở mức độ khá và bình thường Điều đó cũng phản ánh trung thựctrình độ của họ thông qua việc quan sát mà tôi thu được kết quả khách quannhất Thông qua phỏng vấn một số cá nhân cụ thể thì tôi được biết việc lựachọn trang phục cho phù hợp với hoàn cảnh thì các bạn cho rằng mình chưa
thực sự quan tâm đến.Ví dụ khi được đặt câu hỏi là bạn chọn trang phục gì khi được mời đi dự một buổi tiệc?Phần đông sinh viên trả lời chọn bộ đồ đẹp
nhất của mình để mặc hoặc cứ mặc những bộ quần áo mình thấy thoải mái làđược.Tuy nhiên, với bản thân mỗi người đó có thể là bộ quần áo đẹp nhất,thoải mái nhất nhưng chưa chắc nó đã phù hợp với hoàn cảnh giao tiếp Hoặc
có bạn lại trả lời rằng: mình chưa được đi dự tiệc bao giờ nên không có trangphục đi dự tiệc, hơn nữa điều kiện sinh viên gặp rất nhiều khó khăn, họ khôngthể đáp ứng được các yêu cầu về trang phục phù hợp với từng buổi giao tiếp.Việc chọn trang phục còn phụ thuộc vào gu thẩm mĩ của mỗi người, có ngườicho rằng cứ ăn mặc lịch sự, thấy thoải mái là được hoặc có người lại chạytheo xu hướng thời trang như vậy, việc lựa chọn trang phục phù hợp vớihoàn cảnh giao tiếp chưa được các bạn sinh viên quan tâm, dẫn tới trình độ kĩ
Trang 32- Kĩ năng sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp
Trình độ kĩ năng đạt mức tốt vẫn chiếm tỉ lệ nhỏ là 19,6% Số sinh viên chorằng trình độ kĩ năng của mình ở mức bình thường và chưa tốt vẫn chiếm tỉ lệnhiều nhất, 39,2% và 19,6% Theo điều tra được biết, sinh viên lớp K5A cũngđến từ rất nhiều tỉnh thành khác nhau trong cả nước do vậy cũng không thểtránh khỏi một số bạn vẫn nói tiếng địa phương như Nghệ An, Hà Tĩnh,Thanh Hóa , một số bạn nói ngọng các âm n, l, nói thiếu chữ y như các bạnđến từ Nam Định, Hưng Yên, Vĩnh Phúc thậm chí còn có bạn nóilắp Cũng như kĩ năng trên, ở kĩ năng này các bạn cũng chưa thực sự chú ýquan tâm đến Tuy nhiên những điểm yếu về ngôn ngữ, giọng nói hay phát
âm chưa chuẩn ta có thể sửa được qua quá trình rèn luyện
- Kĩ năng kiềm chế cảm xúc của bản thân
Ở 2 mức độ tốt, khá có sự lựa chọn khá ít (chiếm 7,8% và 9,8%) Bên cạnh đómức độ bình thường và chưa tốt lại chiếm tỉ lệ khá cao là 35,3% và 41,2%
Chúng tôi đã phỏng vấn sinh viên bằng câu hỏi: Khi tranh luận điều gì đó với người khác bạn thể hiện thái độ của mình như thế nào? Một số ý kiến cho
rằng đôi khi không giữ được bình tĩnh và nếu đúng thì phải cãi đến cùng, dovậy mà dẫn đến nhiều xích mích trong quan hệ bạn bè Một trong nhữngnguyên nhân là bản tính của mỗi người, nóng nảy hay điềm đạm, lạnh lùnghay cởi mở Trong cuộc sống, chúng ta không thể tránh khỏi những mâuthuẫn với những người xung quanh Chúng ta cần biết giải quyết những mâuthuẫn này một cách tích cực thông qua các kĩ năng kiểm soát cơn giận, kĩnăng thương lượng vì sự bình an của cả đôi bên Do vậy, ngay từ đầu gặp gỡ
mà bạn đã thể hiện sự nóng nảy hoặc không kiềm chế được cảm xúc chủ quancủa bản thân thì ấn tượng ban đầu sẽ không thể tốt đẹp được
- Kĩ năng bắt tay
Trình độ kĩ năng của sinh viên ở mức độ tốt cũng chiếm tỉ lệ khá nhỏ
là 9,8% Ở mức độ khá chiếm 13,7%, mức độ bình thường là 37,2%, bên cạnh
Trang 33đó có tới 45,2% sinh viên cho rằng trình độ kĩ năng của bản thân chưa tốt và11,7% sinh viên không có kĩ năng Qua phỏng vấn một số sinh viên trong lớp
bằng câu hỏi: Khi cần thiết bắt tay, bạn thường bắt tay như thế nào? Đa số
sinh viên trả lời rằng họ chỉ nắm nhẹ tay người khác, số ít cho rằng họ khôngthích bắt tay hoặc ít gặp gỡ người khác vì những người bạn bình thườngkhông cần thiết phải bắt tay, chỉ khi có cuộc giao tiếp quan trọng ví dụ với đốitác kinh doanh hoặc người tuổi, bề trên , có lúc phải bắt tay ở thế bị độngnên họ không được thoải mái cho lắm Đối với những người ít giao tiếp, cómối quan hệ hẹp thì việc rèn luyện kĩ năng này càng khó khăn hơn Do vậy
mà việc rèn luyện kĩ năng này cũng không được thường xuyên và cũng khóđạt ở mức độ tốt được Tuy nhiên kĩ năng bắt tay cũng khá là quan trọng trongnhững cuộc giao tiếp, biết bắt tay đúng cách là ta đã gây được thiện cảm tốtđẹp với đối tượng giao tiếp
- Kĩ năng lắng nghe
Với kĩ năng lắng nghe có biểu hiện tốt hơn kĩ năng khác, số sinh viên
cho rằng trình độ kĩ năng của bản thân đạt mức tốt chiếm 17,7%, mức kháchiếm 31,3%, ở mức độ bình thường chiếm 51%, trong đó không có sinh viênnào cho rằng mình chưa tốt hoặc không có kĩ năng Như vậy trình độ kĩ nănglắng nghe của sinh viên lớp K5A có chiều hướng tích cực, tiến bộ hơn so vớicác kĩ năng khác Trong giao tiếp cần biết lắng nghe một cách tích cực đểtăng hiệu quả của giao tiếp, giúp chúng ta hiểu rõ vấn đề, khuyến khích ngườinói , thể hiện sự tôn trọng người khác
- Kĩ năng sử dụng ngôn ngữ cơ thể
Ở mức độ tốt vẫn chiếm tỉ lệ nhỏ là 5,9%, mức độ khá là 9,8%, 19,6%sinh viên cho rằng trình độ kĩ năng của mình chỉ ở mức độ bình thường, tỉ lệchưa tốt lên tới 56,8% và 7,8% cho rằng mình không có kĩ năng Qua phỏng
vấn một số thành viên trong lớp bằng câu hỏi Khi nói chuyện với người lạ thì
Trang 34không?Đa số sinh viên trong lớp trả lời là đôi khi cũng lúng túng, có bạn còn
dẫn tới nói lắp như vậy với những đánh giá trên có thể nhận định được tínhtrung thực, khách quan về trình độ kĩ năng của sinh viên lớp K5A.Mặc dùnhận thức khá tốt về vai trò của kĩ năng này nhưng trình độ kĩ năng lại chưatốt
Tóm lại qua bảng 2.3 có thể thấy được trình độ kỹ năng tạo ấn tượngban đầu trong giao tiếp của sinh viên lớp K5A thông qua các mức độ hầu hếtđều nhận định mình ở mức bình thường và chưa tốt Do vậy mà trình độ kỹnăng tạo ấn tượng ban đầu trong giao tiếp của đa số sinh viên trong lớp chưacao, hay nói cách khác là chưa có kỹ năng tạo ấn tượng ban đầu Để có thểgiúp cho bản thân mỗi sinh viên có được sự tích cực hơn trong học tập cũngnhư trong cuộc sống sinh hoạt đời thường rất cần sự giúp đỡ cũng như chỉ đạo
từ các thầy cô trong học viện và sinh viên lớp K5A cần có kiến thức cơ bản
về những kỹ năng sống cần thiết và cụ thể là kỹ năng tạo ấn tượng ban đầutrong giao tiếp, hình thành cho sinh viên có được kỹ năng giao tiếp tốt hơn, tựtin hơn với năng lực của bản thân
Với trình độ kỹ năng tạo ấn tượng ban đầu trong giao tiếp như các con
số đã phân tích ở trên thì vấn đề đặt ra cho những nhà nghiên cứu chúng tôi
là, làm sao để cho trình độ kỹ năng tạo ấn tượng ban đầu trong giao tiếp của
họ tốt hơn được? Chúng tôi cũng đã đi vào phỏng vấn một số sinh viên tronglớp và họ cũng đều đưa ra rằng cần được rèn luyện kỹ năng tạo ấn tượng banđầu, cần được nghiên cứu về vấn đề này một cách cụ thể và bài bản, từ nộidung tới hình thức, họ cần được trải nghiệm nhiều hơn trong các tình huống
Việc đưa ra yêu cầu của họ là hoàn toàn chính đáng và phù hợp vớihoàn cảnh, và đó cũng là điều cần thiết để cho chúng tôi có được sự tận tình,
tỉ mỉ hơn trong việc xây dựng cũng như đưa ra các biện pháp rèn luyện của đềtài này
Trang 352.2.3 Thực trạng việc tự rèn luyện kĩ năng tạo ấn tượng ban đầu trong giao tiếp của sinh viên lớp K5A
Để đánh giá về thực trạng rèn luyện kỹ năng tạo ấn tượng ban đầutrong giao tiếp của sinh viên lớp K5A, đề tài đã sử dụng câu hỏi số 4 trongphiếu điều tra đo về mức độ tự rèn luyện và thu được kết quả như sau:
Bảng 2.4: Thực trạng đánh giá mức độ việc tự rèn luyện kỹ năng tạo ấn tượng ban đầutrong giao tiếp của sinh viên lớp K5A
Stt
Nội dung
Mức độRấtthườngxuyên
Thườngxuyên
Bìnhthường
Đôi khi Không
quan tâm
SL
Trang 36Từ bảng tổng hợp kết quả điều tra ở trên, cho thấy thực trạng mức độ tự rènluyện các kỹ năng nhằm tạo ấn tượng ban đầu tốt trong giao tiếp của sinh viênlớp K5A, cụ thể như sau:
- Về kĩ năng chọn trang phục phù hợp với hoàn cảnh
Có 21,6% sinh viên cho rằng mình rất thường xuyên rèn luyện về kĩ năngnày Ở mức độ thường xuyên và bình thường có tỉ lệ tương tự nhau là 13,7%.Bên cạnh đó có tới 24 sinh viên chỉ đôi khi rèn luyện kĩ năng này Có 2 sinhviên cho rằng mình không quan tâm đến việc rèn luyện kĩ năng này Như vậyviệc tự rèn luyện kĩ năng này chưa được các bạn chú ý, hầu hết các bạn chorằng đôi khi mới rèn luyện, mặc dù ở bảng 2.2 các bạn cho rằng yếu tố nàycũng rất cần thiết Đối với những người chỉ đôi khi mới rèn luyện kĩ năng nàychúng tôi đã tiến hành tìm hiểu nguyên nhân và hiểu được một phần là docuộc sống sinh viên khó khăn, họ không có điều kiện để mua sắm nhiều quần
áo để phân loại bộ quần áo nào thì mặc với hoàn cảnh giao tiếp nào, nguyênnhân thứ 2 là quan hệ giao tiếp của họ hẹp, chủ yếu là đến trường học, ít đichơi và chưa từng dự buổi tiệc nào long trọng, số ít cho rằng việc ăn mặc phụthuộc vào gu thẩm mĩ của mỗi người Cho nên việc rèn luyện kĩ năng nàycũng không được chú ý nhiều.Với những người thường xuyên rèn luyện,chúng tôi cũng tìm hiểu là họ đã rèn bằng cách nào Họ đã rèn bằng cách phânloại từng bộ trang phục với từng hoàn cảnh giao tiếp như đi chơi thì mặc quần
bò, áo phông hoặc váy, đi học thì mặc bộ nào tuy nhiên với những ngườikhông có điều kiện thì việc rèn luyện này trở nên khó khăn hơn hoặc cũngphụ thuộc vào gu thẩm mĩ của mỗi người
Qua việc quan sát trang phục trên lớp của các thành viên lớp K5A, tôi nhậnthấy, mặc dù trang phục của sinh viên là tự do nhưng trong môi trường sưphạm vẫn phải giữ một mức độ chuẩn mực, một số sinh viên vẫn chưa biếtcách chọn trang phục phù hợp cho mình khi đến lớp như vẫn mặc quần lửng,
Trang 37đi dép lê như vậy các bạn cũng chưa quan tâm đến việc rèn luyện kĩ năngnày một cách thường xuyên và liên tục.
- Về kĩ năng sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp
Ở mức độ rèn luyện rất thường xuyên chiếm 23,5%, ở mức thường xuyênchiếm 9,8%, 51% sinh viên cho rằng đôi khi mình mới rèn luyện, chiếm ½ sốsinh viên trong lớp và có duy nhất 1 sinh viên cho rằng mình không quan tâmtới kĩ năng này Theo điều tra được biết sinh viên lớp K5A cũng đến từ cáctỉnh thành khác nhau trên cả nước, do đó cũng không tránh khỏi các bạn cónhược điểm là nói ngọng, nói tiếng địa phương, một số bạn còn nói lắp, điềunày cũng ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình giao tiếp của họ Việc diễn đạtngôn ngữ cũng chưa rõ ràng, súc tích điều đó thể hiện ở việc các bạn tham giavào các môn học yêu cầu phải thuyết trình, diễn giảng nên họ cũng gặpnhiều khó khăn Chúng tôi đã tiến hành phỏng vấn một số bạn trong lớp bằng
câu hỏi: Khi trò chuyện với người khác có bao giờ bạn cảm thấy như mình
đã nói điều gì đó không thích hợp chưa? Thật bất ngờ vì đa số họ trả lời là
thường xuyên vì lời đã nói ra khó mà thu lại được, do đó có thể nói để cóđược ngôn ngữ rõ ràng, trong sáng, làm vừa lòng đối phương quả thực không
dễ dàng gì Biểu hiện của những người rất thường xuyên rèn luyện ngôn ngữ
là trong lớp hăng hái phát biểu xây dựng bài, tham gia thuyết trình, học tậptheo nhóm để có khả năng phát triển ngôn ngữ trước đám đông Những sinhviên cho rằng mình thường xuyên rèn luyện kĩ năng này theo khảo sát hầunhư nằm trong đội ngũ cán bộ lớp, một số có tính cách hướng ngoại, họ có cơhội tiếp xúc với nhiều người, nhiệt tình tham gia các hoạt động lớp, trường đề
ra nên khả năng rèn luyện các kĩ năng giao tiếp, đặc biệt là kĩ năng sử dụngngôn ngữ cũng có nhiều điều kiện hơn các đối tượng khác Tuy vậy trongtổng số 51 sinh viên mà chỉ có được 12 sinh viên cho rằng mình rất thườngxuyên rèn luyện kĩ năng này là quá ít, mặc dù họ đã ý thức rất rõ vai trò của kĩ
Trang 38- Về kĩ năng kiềm chế cảm xúc của bản thân
Số sinh viên cho rằng mình chỉ đôi khi mới rèn luyện vẫn chiếm tỉ lệ cao nhất45,2% Chỉ có 2 sinh viên cho rằng mình rất thường xuyên rèn luyện kĩ năngnày, chiếm 3,9% Những con số dàn trải ở khắp các mức độ, điều đó phản ánh
rõ thực tế việc tự rèn luyện kĩ năng này của sinh viên chưa thực sự được quantâm Điều này cũng khá phù hợp và trung thực với những gì chúng tôi phântích ở bảng 2.3, trình độ rèn luyện với việc tự rèn luyện đều được sinh viêncho rằng ở mức chưa tốt Chúng tôi đã phỏng vấn bạn N.C.C là bí thư lớp,bạn có chia sẻ là đã gặp tình huống vì không làm chủ được cảm xúc của mìnhnên đã tạo nên ấn tượng xấu với người khác về mình, vì bạn tính tình hơinóng nảy và đây là nhược điểm mà bạn cần phải sửa Trong cuộc sống, chúng
ta không thể tránh khỏi những mâu thuẫn với những người xung quanh.Chúng ta cần biết giải quyết những mâu thuẫn này một cách tích cực thôngqua các kĩ năng kiểm soát cơn giận, kĩ năng thương lượng vì sự bình an của
cả đôi bên
- Về việc rèn luyện kĩ năng bắt tay
Có 13,7% sinh viên cho rằng mình rất thường xuyên rèn luyện kĩ năng này Ởmức độ thường xuyên chiếm 9,8% là con số khá ít Bên cạnh đó mức độkhông quan tâm chiếm tỉ lệ cao là 45,1%, cũng khá tương ứng với bảng 2.2khi con số cho rằng kĩ năng này không cần thiết chiếm khá nhiều Vậy tại sao
ở kĩ năng này rất nhiều người không quan tâm đến việc rèn luyện? Ở kĩ năngnày chúng tôi cũng đặt câu hỏi khi cần thiết phải bắt tay người khác, bạnthường bắt tay như thế nào? Đa số họ đều nói sẽ nắm nhẹ vào tay người khác,với người trên thì dùng 2 tay Một số bạn thì không thích bắt tay nên nhiềukhi bắt tay là thụ động, miễn cưỡng, gặp gỡ những người bạn bình thường thìrất ít hoặc không bao giờ bắt tay nên cơ hội rèn luyện cũng không nhiều Điềunày phản ánh thực tế là muốn có được sự thành thạo về kĩ năng này phải
Trang 39thường xuyên rèn luyện, tạo dựng nhiều mối quan hệ Để có được ấn tượngban đầu tốt đẹp, một cái bắt tay thân thiện cũng là một yếu tố rất quan trọng.
- Về việc rèn luyện kĩ năng sử dụng ngôn ngữ cơ thể
Mặc dù ý thức được vai trò của kĩ năng này nhưng mức độ rèn luyện thườngxuyên của sinh viên vấn chiếm tỉ lệ nhỏ là 13,6% Trong khi đó có tới 41,2%sinh viên cho rằng chỉ đôi khi mới rèn luyện Ngôn ngữ cơ thể ở đây chính là
tư thế,tác phong, cử chỉ, nét mặt, nụ cười tất cả đều có vai trò quan trọngvới việc tạo ấn tượng ban đầu tốt đẹp với người khác Cử chỉ toát lên vẻ caoquý, một tư thế ngẩng cao đầu, một nụ cười tràn đầy tự tin và ánh mắt nhìntrực diện, đó là biểu hiện của những người biết sử dụng ngôn ngữ cơ thể.Trong số ít sinh viên đã biết cách rèn luyện kĩ năng sử dụng ngôn ngữ cơ thểbằng cách tham gia các môn học có các kĩ năng như kĩ năng thuyết trình, kĩnăng làm việc nhóm, đóng kịch, hùng biện Trong giao tiếp nên kết hợp cácphương tiện phi ngôn ngữ để tăng thêm hiệu quả giao tiếp
- Về rèn luyện kĩ năng giao tiếp bằng mắt
Ở mức độ rèn luyện rất thường xuyên có 9,8%, 13,6% sinh viên cho rằngmình thường xuyên rèn luyện kĩ năng này Ở mức độ rèn luyện đôi khi vẫnchiếm tỉ lệ tương đối cao là 31,4%, trong đó có tới 19 sinh viên cho rằng mìnhkhông bao giờ quan tâm tới việc rèn kĩ năng này Lựa chọn việc rèn luyện kĩnăng này đều ở mức độ đôi khi và không quan tâm điều đó chứng tỏ các bạncũng khá thờ ơ, không thực sự chú ý tầm quan trọng của kĩ năng này mặc dùđây là một trong những yếu tố quan trọng để tạo được ấn tượng ban đầu vớingười khác Khi được hỏi nguyên nhân, một số bạn đã trả lời rằng rất ít khinhìn vào mắt người đối diện khi nói chuyện vì ngượng ngùng, thiếu tự tin, sợngười khác phát hiện ra cảm xúc thật của mình
- Về rèn luyện kĩ năng lắng nghe
Ở mức độ rất thường xuyên chiếm 31,2%, mức độ thường xuyên chiếm
Trang 40chọn Ở kĩ năng này việc tự rèn luyện đã được chú ý nhiều hơn.Chúng tôi đãphỏng vấn một số thành viên trong lớp họ rèn luyện kĩ năng này như thế nào?Một số đã trả lời như sau: Việc rèn luyện kĩ năng lắng nghe trước hết thể hiện
ở việc chú ý nghe thầy cô giảng bài, sau đó là trong thực tiễn cuộc sống, trongcác mối quan hệ giao tiếp
Tóm lại, qua bảng đánh giá mức độ thực hiện các kỹ năng của sinh viênlớp K5A và sự phân tích ở trên, chúng tôi thấy rằng sinh viên trong lớp cònhạn chế về nhiều kỹ năng, việc tự rèn luyện chưa được các bạn chú ý , do đókhả năng giao tiếp cũng như cách gây được thiện cảm với đối tượng giao tiếpchưa thu được kết quả cao
Vì vậy, muốn nâng cao chất lượng và hiệu quả giao tiếp cần phải rènluyện, bồi dưỡng các kỹ năng sống cần thiết cho sinh viên
2.2.4 Thực trạng về các hình thức tự rèn luyện kĩ năng tạo ấn tượng ban đầu trong giao tiếp của sinh viên lớp K5A
Để khảo sát việc học tập và rèn luyện kĩ năng tạo ấn tượng ban đầu trong giaotiếp của sinh viên thông qua những hình thức nào chúng tôi đã sử dụng câuhỏi số 7 trong phiếu điều tra, kết quả thu được như sau:
Bảng 2.5: Thực trạng về các hình thức tự rèn luyện kĩ năng tạo ấn tượng ban đầu trong giaotiếp của sinh viên lớp K5A
Nội dung
Ý kiến
%
Đi học thêm khóa học ngắn ngày về kĩ năng giao
tiếp, trong đó có kĩ năng tạo ấn tượng ban đầu
Tự rèn luyện bằng cách tham gia tích cực các hoạt
động nhóm, giao tiếp với nhiều người
Tìm hiểu kiến thức qua internet, tài liệu, sách
báo…và tự rèn luyện trên cơ sở kiến thức đó