PHAN ĐÌNH THUẬN TÊN ĐỀ TÀI XÁC ĐỊNH THÀNH PHẦN LOÀI, SỰ PHÂN BỐ VÀ KHẢ NĂNG NHIỄM VIRUS VIÊM NÃO NHẬT BẢN CỦA GIỐNG MUỖI CULEX TẠI CÁC TỈNH TÂY NGUYÊN, 2006 – 2009 Chuyên ngành: Sinh
Trang 1PHAN ĐÌNH THUẬN
XÁC ĐỊNH THÀNH PHẦN LOÀI, SỰ PHÂN BỐ
VÀ KHẢ NĂNG NHIỄM VIRUS VIÊM NÃO NHẬT BẢN CỦA GIỐNG MUỖI CULEX TẠI CÁC TỈNH TÂY NGUYÊN, 2006 – 2009
LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC
Buôn Ma Thuột - 2009
Trang 2PHAN ĐÌNH THUẬN
TÊN ĐỀ TÀI XÁC ĐỊNH THÀNH PHẦN LOÀI, SỰ PHÂN BỐ VÀ KHẢ NĂNG NHIỄM VIRUS VIÊM NÃO NHẬT BẢN
CỦA GIỐNG MUỖI CULEX TẠI CÁC TỈNH
TÂY NGUYÊN, 2006 – 2009
Chuyên ngành: Sinh học Thực nghiệm
Mã số:
LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS ĐẶNG TUẤN ĐẠT
Buôn Ma Thuột, năm 2009
Trang 3LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam ñoan: ñây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các
số liệu và kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn là trung thực, ñược các ñồng tác giả cho phép sử sụng và chưa từng ñược công bố trong bất kỳ một công trình nào khác
HỌC VIÊN
Phan Đình Thuận
Trang 4Lời cảm ơn
Hoàn thành luận văn em xin chân thành cảm ơn:
• BGH Trường Đại học Tây Nguyên ñã tạo ñiều kiện cho em trong suốt thời gian học tập và quá trình thục hiện luận văn
• Khoa Sau ñại học, Khoa KHTN & CN Trường Đại học Tây Nguyên
• PGS.TS Đặng Tuấn Đạt - Viện trưởng Viện VSDT Tây Nguyên ñã ñộng viên và khích lệ em trong quá trình học tập và cũng là thầy trược tiếp hướng dẫn em hoàn thành luận văn này
• Khoa Côn Trùng và Kiểm dịch, Khoa Virus Viện VSDT Tây Nguyên
• TS Nguyễn Văn Châu và Khoa Côn trùng Viện Sốt rét - KST - CT Trung Ương
• PGS.TS Phan Thị Ngà và labo Virus Viện VSDT Trung Ương ñã giúp
ñỡ về chuyên môn kỹ thuật phân lập virus VNNB
• Chân thành cảm ơn Trung tâm Y học dự phòng các tỉnh Tây Nguyên,
Ủy Ban nhân dân và trạm Y tế các xã cùng nhân dân ñịa phương ñã giúp
ñỡ nhiều mặt khi ñến ñịa phương thực hiện ñề tài
HỌC VIÊN
PHAN ĐÌNH THUẬN
Trang 5MỞ ĐẦU……… 1 Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU……… 3
1.1 Nghiên cứu về muỗi Culex và vai trò truyền bệnh VNNB của chúng 3
1.1.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 4 1.1.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam và khu vực Tây Nguyên 6 1.2 Những nghiên cứu về virus viêm não Nhật Bản 11 1.2.1 Nghiên cứu về virus VNNB trên thế giới 11 1.2.2 Nghiên cứu về virus viêm não Nhật Bản ở Việt Nam 12 1.3 Tình hình bệnh VNNB trên thế giới, Việt Nam và Tây Nguyên 15 1.4 Một số yếu tố tự nhiên và xã hội ở Tây Nguyên 20 Chương 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU……… ………… 24 2.1 Địa ñiểm và thời gian nghiên cứu 24
2.1.2 Đặc ñiểm sinh cảnh tại các ñiểm nghiên cứu 26
2.2.2 Thiết bị thu thập, ñịnh loại và bảo quản muỗi 29
2.3.1 Phương pháp thu thập và ñịnh loại muỗi Culex 31
3.3.1.1 Phương pháp thu thập muỗi Culex 31
2.3.1.2 Phương pháp ñịnh loại muỗi Culex 32
2.3.2.1 Kỹ thuật phân lập virus viêm não Nhật Bản từ muỗi 32
2.3.2.2 Định danh virus bằng kỹ thuật RT – PCR 33
3.1 Thành phần, sự phân bố các loài muỗi Culex ở Tây Nguyên 34
Trang 63.1.3 Các loài muỗi Culex có vai trò truyền bệnh ñã ñược ghi nhận ở
3.1.4.1 Mật ñộ, tập tính hoạt ñộng, ổ bọ gậy Culex gelidus 39
3.1.4.2 Mật ñộ, tập tính hoạt ñộng, ổ bọ gậy Cx tritaeniorhynchus 41
3.1.4.3 Mật ñộ, tập tính hoạt ñộng, ổ bọ gậy loài Culex vishnui 43 3.2 Kết quả phân lập virus từ muỗi ở Tây Nguyên 45
3.2.1 Kết quả phân lập virus từ một số loài muỗi Culex thu thập ở Tây
3.2.6 Kết quả phân lập virus viêm não theo thành phần loài muỗi thuộc
giống Culex ở Tây Nguyên (2006 - 2009)
Trang 7Trang Bảng 1.1: Số bệnh nhân viêm não/100.000 dân ở Việt Nam, năm
2006
19
Bảng 3.1: Số lượng muỗi và bọ gậy Culex ñã thu thập tại thực ñịa 34
Bảng 3.2: Số lượng loài muỗi Culex thu thập tại các ñiểm nghiên
cứu
36
Bảng 3.3: Những loài muỗi Culex có khả năng truyền bệnh ở TN 38
Bảng 3.4: Mật ñộ Culex gelidus tại các ñiểm nghiên cứu 40
Bảng 3.5: Mật ñộ Culex tritaeniorhynchus tại các ñiểm nghiên cứu 42
Bảng 3.6: Mật ñộ Culex vishnui tại các ñiểm nghiên cứu 44
Bảng 3.7: Kết quả phân lập virus từ muỗi thu thập tại các ñiểm
nghiên cứu ở Tây Nguyên
Trang 8Hình 1.2 Hình ảnh của virus viêm não Nhật Bản
(Japanese Encephalitis Virus)
11
Hình 1.3 Tình hình viêm não virus ở Việt Nam 1996-2006 18
Hình 2.1 Vị trí các ñiểm ñiều tra muỗi Culex ở Tây Nguyên năm
2006 - 2009
25
Hình 3.1 Kết quả ñịnh loại virus VNNB phân lập từ muỗi Culex ở
Gia Lai, năm 2006 với cặp mồi ñặc hiệu virus VNNB
48
Hình 3.2 Kết quả ñịnh loại virus VNNB phân lập từ muỗi Culex ở
Kon Tum, năm 2006 với cặp mồi ñặc hiệu virus VNNB
49
Hình 3.3 Kết quả ñịnh loại virus VNNB phân lập từ muỗi Culex ở
Đắk Nông, năm 2006 với cặp mồi ñặc hiệu virus VNNB
50
Hình 3.4 Kết quả ñịnh loại virus VNNB phân lập từ muỗi Culex ở
Đắk Nông, 2007 với cặp mồi ñặc hiệu virus VNNB
51
Hình 3.5 Kết quả ñịnh loại virus VNNB phân lập từ muỗi Culex ở
Kon Tum, 2007 với cặp mồi ñặc hiệu virus VNNB
52
Trang 10MỞ ĐẦU
Muỗi Culex có thành phần loài khá phong phú, chúng phân bố rộng ở
khắp nơi trên thế giới [7] Sự hiện diện các loài thuộc nhóm côn trùng này có khả năng truyền bệnh ở các ñịa phương là dấu hiệu cảnh báo có thể xuất hiện hoặc lưu hành nguồn bệnh Hiện nay, một số bệnh ñược xác ñịnh là do muỗi truyền như bệnh sốt Dengue/sốt xuất huyết Dengue (SD/SXHD), bệnh giun
chỉ, bệnh viêm não Nhật Bản (VNNB) trong ñó bệnh VNNB do muỗi Culex
truyền có ý nghĩa quan trọng, ảnh hưởng lớn ñến sức khoẻ cộng ñồng ở nhiều quốc gia và khu vực
Trên thế giới, bệnh VNNB ñã biết từ năm 1871 Bệnh lưu hành ở vùng Châu Á, Thái Bình Dương Tại Việt Nam, từ năm 1959 ñã phát hiện ñược hội chứng viêm não ở trẻ em, bệnh ñã xảy ra trên ñịa bàn rộng và trong nhiều năm nay [28]
Trên ñịa bàn các tỉnh Tây Nguyên, trong các năm 2000-2001 có nhiều trường hợp có hội chứng não cấp Trong ñó ñã xác ñịnh ñược 21 trường hợp VNNB, phân bố rải rác trong thời gian từ tháng 4 ñến tháng 10 tại tỉnh Gia Lai, Kon Tum và Đắk Lắk [7] Từ ñó ñến nay, hàng năm bệnh viêm não Nhật Bản vẫn ñược ghi nhận ở một số ñịa phương của các tỉnh trong khu vực Theo
số liệu ñiều tra của Viện Vệ sinh dịch tễ Tây Nguyên, từ năm 2002 ñến 2005 trên ñịa bàn Tây Nguyên ñã phát hiện ñược trên 283 trường hợp viêm não trong ñó có 50 trường hợp tử vong Đặc biệt, ở tỉnh Gia Lai ñã phát hiện ñược
46 trường hợp viêm não Nhật Bản từ 74 bệnh phẩm từ bệnh nhân có hội chứng não cấp (HCNC) bằng kỹ thuật MAC-ELISA
Những năm gần ñây, ñã có một số công trình ñiều tra nghiên cứu về vector truyền bệnh cũng như nghiên cứu tình hình dịch tễ bệnh VNNB ở khu vực Tây Nguyên ñã ñược công bố, như công trình nghiên cứu “Điều tra khu
hệ côn trùng y học ở Tây Nguyên” của Đặng Tuấn Đạt, Nguyễn Ái Phương,
Trang 11Lý Thị Vi Hương [3]; “Điều tra cơ bản muỗi Culicinae ở Việt Nam” của
nhĩm tác giả: Vũ Đức Hương, Nguyễn Thị Hồ, Đỗ Thị Hiền, Nguyễn Thị Bạch Ngọc, Nguyễn Văn Hà, Phạm Tất Thắng, Nguyễn Thị Bích Liên, năm 1996; cơng trình “Giám sát, chẩn đốn viêm não Nhật Bản ở Việt Nam, 2000-2001” của nhĩm tác giả: Phan Thị Ngà, Nguyễn Thị Kiều Anh, Vương Đức Cường, Vũ Sinh Nam, Phạm Thị Minh Hằng, Trần Văn Tiến, 2002.v.v Song, Tây Nguyên là một địa bàn rộng lớn, địa hình và sinh cảnh đa dạng, phức tạp, thành phần lồi động vật nĩi chung và cơn trùng nĩi riêng rất phong phú và khả năng truyền bệnh của chúng rất đa dạng Đặc biệt tình hình bệnh VNNB ngày càng cĩ xu hướng gia tăng Vì vậy, việc nghiên cứu vector và virus truyền bệnh VNNB cần được tiếp tục ở Tây Nguyên là điều cần thiết
Do đĩ, chúng tơi xây dựng và thực hiện đề tài:“Xác định thành phần lồi, sự phân bố và khả năng nhiễm virus viêm não Nhật Bản của một số lồi muỗi Culex tại các tỉnh Tây Nguyên, 2006 - 2009 ” với các mục tiêu sau:
1 Xác định thành phần lồi, phân bố của một số lồi muỗi Culex ở các
tỉnh thuộc khu vực Tây Nguyên
2 Phát hiện khả năng nhiễm virus viêm não Nhật Bản của các lồi muỗi này
Trang 12Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Nghiên cứu về muỗi Culex và vai trò truyền bệnh VNNB của chúng
Hình 1.1: Muỗi Culex - vật trung gian
truyền bệnh viêm não Nhật Bản
Khả năng lây truyền virus VNNB qua vector ñược xác ñịnh bởi một số yếu tố: Vector có khả năng truyền bệnh phải là những loài muỗi cái có khả năng hút máu và trở thành muỗi bị nhiễm virus Vector ñó phải có ñiều kiện tốt ñể virus nhân lên trong nó với hiệu giá cao
Trên thế giới, hiện nay ñã biết 17
loài muỗi có khả năng truyền virus VNNB, trong ñó loài Culex tritaeniorhyncus có khả năng truyền bệnh cao nhất Các loài muỗi này sinh
sản ở ñồng ruộng, ñôi khi xa nơi ở của người, nhưng bay ñến ñược những
vùng xung quanh nhà người ở ñể hút máu Muỗi Culex tritaeniorhynchus có
thể bay xa 1,5 km và ñược phát hiện ở ñộ cao 13-15m so với mặt ñất; ñó là ñộ cao mà các loài chim thường trú ñậu Đó là ñiều kiện ñể virus VNNB có thể lây truyền giữa các loài chim Muỗi hút máu ñộng vật có virus, ñặc biệt là lợn, chim trong thời kỳ nhiễm virus huyết, sau ñó muỗi có khả năng truyền bệnh suốt ñời và có thể truyền virus sang ñời sau qua trứng Virus thường phát triển tốt trong cơ thể muỗi ở nhiệt ñộ 270C - 300C Nếu dưới 200C thì sự phát triển của virus dừng lại Đó cũng là lý do thể hiện bệnh VNNB xảy ra ở những tháng nóng, ở những vùng nhiệt ñới [28]
Trang 131.1.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Có nhiều loài muỗi Culex ñã ñược xác ñịnh là trung gian truyền bệnh viêm
não Nhật Bản Một số nước ở Đông Nam Á như Thái Lan, Singapor, Indonesia, Philippin, Malaysia việc ñiều tra nghiên cứu về khu hệ, sinh thái học, vai trò
truyền bệnh và biện pháp phòng chống những loài muỗi Culex là trung gian
truyền bệnh VNNB ñã ñược nhiều tác giả quan tâm, như G.L Chiang và CS, 1985; I Vythilingam và CS., 1992; M.S Chang và CS., 1993…
Những loài muỗi sau ñây ñã ñược xác ñịnh là vector của bệnh viêm não Nhật Bản và ñã ñược nhiều tác giả nghiên cứu:
Culex gelidus Theobald, 1901 có thể truyền viêm não Nhật Bản ở
Malaysia và Thái Lan Theobald 1901, ñã thu thập loài muỗi này ở Taipang,
Perak, Malaya and Quilon, Travancore, Ấn Độ và ñặt tên là Culex cuneatus
Năm 1907, Theobald thu thập ñược ở Ấn Độ và Sarawak (Borneo), ông ñặt
tên là Culex bipunctata Loài muỗi này phân bố ở khu vực châu Á Thái Bình
Dương gồm các nước như: Mianma, Trung Quốc, Ấn ñộ, Indonesia, Nhật Bản, Malaysia, Nê Pan, Niu Gui Nê, Pakixtan, Philippin, Đài Loan, Thái Lan, Việt Nam Ấu trùng tìm thấy ở các loại ổ nước tạm thời khác nhau, ổ nước bán cố ñịnh và cố ñịnh như ao tù, các vũng nước nhỏ và những cống rãnh nhỏ Thỉnh thoảng tìm thấy ấu trùng trong các dụng cụ nhân tạo như thùng, bể chứa nước Muỗi cái hút máu nguy hiểm, chúng ưa thích hút máu gia súc và người (Bram, 1967) [32]
Culex tritaeniorhynchus Giles, 1901 là vector chủ yếu của bệnh viêm
não Nhật Bản B vùng Đông Phương (Oriental region) Theobald 1905, ñã thu
thập loài muỗi này ở Bom Bay - Ấn Độ và ñặt tên là Culex biroi Dyar 1920,
ñã thu thập loài muỗi này ở Los Banos, Philippin và ñặt tên là Culex summorosus Baraud and Christophers 1931, ñã thu thập loài muỗi này ở Chieng Mai, Thái Lan và ñặt tên là Culex siamensis Loài muỗi này phân bố
hầu như khắp thế giới: Angôla, Camerun, Cộng Hoà Trung Phi, Dahomaey,
Trang 14Ai Cập, Gambia, Gha Na, Ấn Độ, Iran, Iraq, Israel, Jordan, Kenya, Lebanon, Malagasy, ñảo Maldive, Mozambique, Nigeria, Nga, Arập Xê út, Senegal, Sri Lanka, Tanzania, Togo, Thổ Nhĩ kỳ, Turkmen, khu vực Châu Á Thái Bình Dương Ấu trùng tìm thấy ở nhiều loại ổ nước khác nhau, các vũng nước cố ñịnh hay bán cố ñịnh, có ánh nắng mặt trời và cây cỏ Nơi sống không giới hạn, gồm ñầm lầy, ao tù, mương, rãnh Muỗi cái chủ yếu hút máu các loài gia súc có sừng và lợn nhưng hút cả máu người khi thiếu gia súc (Bram,1967) [32]
Culex vishnui Theobald, 1901 là vector quan trọng của bệnh viêm não
Nhật Bản Loài muỗi này phân bố khá rộng, hầu như khắp các nước thuộc châu Á –Thái Bình Dương: Bangladesh, Mianma, Campuchia, Trung Quốc,
Ấn Độ, Indonesia, Nhật Bản, Malaysia, Nê Pan, Philippin, Singapo, Sri Lanka, Đài Loan, Thái Lan, Đông Timor, Việt Nam Ấu trùng ñặc biệt tìm thấy trong ao tù, bao gồm chỗ nước bùn, mương rãnh, ao, vũng chân gia súc, lốp bánh xe, và ở ñồng ruộng mới cho nước vào và lúa mới cấy Muỗi cái chủ yếu hút máu các loài chim và lợn, nhưng sẵn sàng hút cả máu người khi thiếu gia súc (Sirivanakarn 1976)[32]
Culex sitiens Wiedemann, 1928 có khả năng truyền viêm não Nhật Bản
và nhiễm tự nhiên với giun chỉ Brugia malayi ở Thái Lan (Harbach,1988) Walker 1859, ñã thu thập ñược loài muỗi này ở Makessar, Celebes và ñặt tên
là Culex impellens Theobald 1901, ñã thu thập ñược loài muỗi này ở Quilon, Travancore, Madras, and Shahjahanpur provinces và ñặt tên là Culex microannulatus Nhưng năm 1901, ông thu thập ñược loài muỗi này ở Australia thì lại ñặt tên là Culex annulirostris; năm 1903, những mẫu thu thập
ở Bruas, Dindings của Malaya ông ñặt tên là Culex somaliensis Taylor 1912,
1913, 1914 ñã ñặt các tên khác nhau khi thu thập ở các ñịa phương khác nhau
như: Culex saibaii, Culex paludis, Culex annulata và Culex milni Harbach
1988, ñã ñặt tên là Culex mauritanicus cho những mẫu thu thập ở Taghjicht,
Trang 15Morocco Ấu trùng loài muỗi này ñã tìm thấy ở môi trường nước mặn, nước
lợ và nước ngọt ñọng trên ñất và ở những dụng cụ nhân tạo chứa nước ở vùng ven biển Muỗi cái chủ yếu hút máu các loài chim và lợn, nhưng sẵn sàng ñốt người (Harbach, 1988) [32]
1.1.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam và khu vực Tây Nguyên
Đã có một số công trình nghiên cứu về khu hệ, sinh thái, dịch tễ học
của muỗi Culicinae, vector của một số bệnh nguy hiểm như bệnh giun chỉ, sốt
xuất huyết, viêm não Nhật Bản… của các tác giả: Vũ Thị Phan, và CS, 1975;
Vũ Đức Hương và CS.,1984, 1992, 1996; Đỗ Sĩ Hiển và CS., 1992; Trần Tiến, 1992 Một số công trình ñi sâu nghiên cứu về ñặc ñiểm phân bố, sinh lý, sinh thái của muỗi truyền bệnh viêm não ở miền Bắc Việt Nam của các tác giả: Nguyễn Thị Bạch Ngọc, Trương Quang Học, Tạ Huy Thịnh và CS., 1993.v.v…ñã ñược công bố Những năm gần ñây, các công trình nghiên cứu
ñã quan tâm ñến biện pháp phòng trừ muỗi bằng hoá chất, biện pháp sinh học, biện pháp môi trường… ñồng thời tiếp tục ñánh giá sự nhạy cảm của các vector với các hoá chất ñang sử dụng ở Việt Nam Các kết quả nghiên cứu ñó
ñã góp phần tích cực vào việc phòng chống các bệnh này
Trước năm 1954, các công trình nghiên cứu về muỗi Culicinae ở Việt
Nam chủ yếu do người nước ngoài thực hiện: Borel (1926,1928, 1930), Toumanoff (1933, 1937), Galiard (1936), Galiard và Đặng Văn Ngữ (1947,
1949, 1950) Vào những năm 50 của thế kỷ trước, bệnh viêm não Nhật Bản ñã ñược phát hiện ở Việt Nam (Prevot, 1953, 1954)
Năm 1954-1975, các công trình nghiên cứu về trung gian truyền bệnh viêm não ở miền Bắc Việt Nam ñược tiến hành kết hợp với công tác ñiều tra
cơ bản khác, như các công trình của Vũ Thị Phan (1957), Bộ môn ký sinh trùng Đại học Y dược Hà Nội (1961), Grokhovskaia (1967), Vũ Thị Phan và CS., 1973 Ở miền Nam có công trình của Stojanovich và Scott (1966),
Trang 16Renert (1973), Nguyễn Thị Kim Thoa (1966, 1974)… [22] Từ năm 1964 ñến
1968, Viện Sốt rét - KST - CT Trung Ương và Viện VSDT Trung Ương ñã phối hợp ñiều tra, phân lập virus từ muỗi trên quy mô lớn, và ñi tới nhận ñịnh
là nhóm Culex tritaeniorhynchus, Culex vishnui có liên quan mật thiết ñến
mùa dịch VNNB Song tất cả các phân lập virus từ muỗi ñều không thành công Năm 1971, tiếp tục tìm hiểu vai trò truyền bệnh VNNB của muỗi ở nước ta Nhầm xác ñịnh sự liên quan giữa các loài muỗi và dịch tễ bệnh viêm não ở thực ñịa (tại xã M.T, huyện Từ Liêm - Hà Nội và xã H.T, huyện Việt Yên, tỉnh Hà Bắc) cũng như sự cảm thụ của chúng trong thực nghiệm Kết quả nghiên cứu ñã rút ra nhận xét:
- Muỗi Culex tritaeniorhynchus có mật ñộ cao từ tháng 5 - 9
- Số bệnh nhân có hội chứng viêm não phát hiện vào tháng 6,7
- Trong thời gian từ tháng 5 ñến tháng 9 ñã phân lập ñược 3 chủng
viêm não Nhật Bản từ muỗi Culex tritaeniorhynchus
Đồng thời tham khảo kết quả của các nghiên cứu trước ñó, các tác giả
ñã khẳng ñịnh: Culex tritaeniorhynchus là một loài muỗi truyền bệnh VNNB
ở Việt Nam [29]
Từ năm 1975 ñến nay, khi bệnh viêm não Nhật Bản xảy ra ở hầu khắp
ñịa phương trong cả nước, việc nghiên cứu về muỗi Culex mang tính chất quy
mô rộng lớn hơn, chủ yếu do người Việt Nam tiến hành, gồm các công trình của các tác giả : Phan Thị Như Ý (1974, 1975), Đỗ Quang Hà (1976, 1978),
Vũ Đức Hương (1984), Vũ Đức Hương, Nguyễn Thị Bạch Ngọc và CS (1985, 1987, 1993), Vũ Sinh Nam và CS (1990, 1992), Đỗ Sĩ Hiển và CS (1992), Trần văn Tiến (1992), Nguyễn Thị Bạch Ngọc (1993, 1995)…
Kết quả nghiên cứu về ñặc ñiểm sinh thái một số loài muỗi có vai trò truyền bệnh viêm não Nhật Bản của các tác giả ñược tóm tắt như sau:
Culex gelidus Theobald, 1901 thường thấy ở những làng mạc thuộc
nội, ngoại thành Hà Nội, nhất là những nơi có nhiều ao hồ Muỗi thường ở
Trang 17những nơi bẩn thỉu, có phân súc vật như chuồng trâu bò, chuồng lợn…còn ở trong nhà thì ít thấy (nhất là những nhà không nuôi súc vật) Muỗi này thường ñậu ở những chỗ thấp có bóng tối như bãi cỏ, bụi rậm chung quanh chuồng
nuôi súc vật Muỗi Culex gelidus có quanh năm, nhưng phát triển mạnh nhất
vào tháng 10, tháng 11 [1]
Culex tritaeniorhynchus Giles, 1901 ở khắp những nơi có hồ ao, bụi
rậm, nhất là những nơi có chuồng nuôi súc vật như trâu, bò, gà, lợn…Trong nhà người ở ít khi thấy, chỉ có những nhà mà chung quanh có chuồng gia súc mới thấy muỗi Nói chung, ở những nơi cao ráo, ít hồ ao, ít bụi rậm thì muỗi này rất hiếm Muỗi ưa ñậu ở những chỗ thấp, tối Muỗi này phát triển quanh năm, nhưng nhiều nhất là từ tháng 10, tháng 11[1]
Culex vishnui Theobald, 1901 có ở khắp mọi làng mạc thuộc nội ngoại
thành Hà Nội, nhất là những nơi ao hồ, bụi rậm, chuồng trâu bò, v.v…Ít khi thấy loài muỗi này ở trong nhà, chỉ có những nhà chung quanh có hồ ao hoặc nuôi súc vật, trâu bò… mới có nhiều Nói chung muỗi ưa những nơi bẩn, bụi rậm, ít ánh sáng, còn những nơi cao ráo thì ít thấy Muỗi thường ñậu ở chổ tối Quanh năm ñều thấy có loài muỗi này
Culex fuscocephala Theobald, 1907 thường ở những nơi thiếu ánh
sáng, bẩn thỉu nhất là những nơi hồ, ao có nước ñọng Thường thấy ñậu ở những bãi cỏ, bụi rậm quanh hồ ao Trong nhà người ở và chuồng nuôi gia súc ít có loài muỗi này Chúng phát triển quanh năm, nhưng nhiều nhất vào tháng 7, tháng 8[1]
Năm 1987-1990, một nghiên cứu về “Sinh học một số loài muỗi
Culicinae có ý nghĩa dịch tễ ở Hà Nội” ñã ñược tiến hành Kết quả, ñã thu thập ñược 21 loài thuộc 6 giống Muỗi Culex tritaeniorhynchus có nhiều ở
chuồng gia súc vào ban ñêm, ở chuồng trâu, bò có nhiều hơn ở chuồng lợn, phát triển vào mùa khô, từ tháng 4 ñến tháng 10, có hai ñỉnh cao vào tháng 4
và tháng 8 Bọ gậy tìm thấy nhiều ở ruộng lúa, mương máng, ao, hồ, hố vũng
Trang 18có thực vật thủy sinh là cây thảo và rong Muỗi Culex vishnui có ñặc ñiểm về
biến ñộng số lượng, nơi hoạt ñộng và nơi trú ẩn, ổ bọ gậy giống với muỗi
Culex tritaeniorhynchus, nhưng có số lượng muỗi và bọ gậy nhiều hơn [6]
Năm 1992, một nghiên cứu khá ñầy ñủ và lý thú về ñặc ñiểm sinh thái
Culex tritaeniorhynchus ñã ñược tiến hành tại thực ñịa ở xã Đồng Quang,
Quốc Oai, Hà Tây của nhóm tác giả Nguyễn Thị Bạch Ngọc, Trương Quang
Học, Tạ Huy Thịnh, cho thấy rằng: muỗi Culex tritaeniorhynchus phát triển
vào mùa khô (từ tháng 4 ñến tháng 9) Trong thời gian này thời tiết ấm áp và các ruộng trồng lúa hầu như có nước thường xuyên, tạo ñiều kiện thuận lợi
cho bọ gậy phát triển Ở ñây, quần thể muỗi Culex tritaeniorhynchus có ñỉnh
cao vào tháng 5, mật ñộ muỗi hoạt ñộng hút máu ban ñêm tăng cao kể cả trong nhà, chuồng trâu bò và chuồng lợn Muỗi thường trú ñậu và tiêu máu ngoài nhà, ở chuồng trâu bò nhiều hơn chuồng lợn và trong nhà Tập tính hút máu của loài muỗi này phụ thuộc nhiều vào các yếu tố khí hậu, ñặc biệt bị ảnh hưởng mạnh mẽ bởi lượng mưa Vào những tháng mưa nhiều, số lượng muỗi trú ẩn trong nhà và chuồng gia súc ban ngày gia tăng Vào ban ñêm, muỗi tích cực hoạt ñộng ñể tìm mồi ở chuồng gia súc và ở cả trong nhà, mật ñộ muỗi cao nhất ở chuồng trâu là 30 con/chuồng; ở chuồng lợn là 3,5 con/chuồng và trong nhà 7 con/nhà Muỗi vào nhà hút máu người cao nhất thời gian từ 20-24h và sau ñó giảm dần Các tác giả ñã nhận xét: số lượng quần thể muỗi có liên quan chặt chẽ với cảnh quan khu dân cư “Nơi nào nuôi lợn nhiều, mật ñộ dân cư cao, diện tích thổ cư chật hẹp làm cho mối liên hệ giữa người và gia súc gần gủi, tạo ñiều kiện thuận lợi cho bệnh viêm não Nhật Bản lan truyền
thông qua các vector như Culex tritaeniorhynchus” [22]
Ổ bọ gậy loài Culex tritaeniorhynchus có liên quan chặt chẽ ñến ñồng
ruộng và việc trồng lúa Tại ruộng lúa, khi thủy vực mới ñược hình thành lần ñầu trong năm (tháng 1, tháng 2) và khi nhiệt ñộ còn thấp (15-16,50C) số lượng bọ gậy ít Từ tháng 3 số lượng bọ gậy bắt ñầu gia tăng mạnh mẽ, bọ
Trang 19gậy tuổi 3-4 ñạt ñỉnh cao vào tháng 4, tháng 5 và tháng 9, phù hợp với mật ñộ muỗi trưởng thành trong khu dân cư và với hai mùa lúa trổ bông vào thời ñiểm cuối vụ chiêm (tháng sáu) Trong mùa ñông, khi ñồng ruộng khô cạn hẳn thì muỗi ñẻ ở các mương dẫn nước và các hố, vũng còn sót lại trên ñồng ruộng Bằng cách ñó chúng duy trì quần thể qua mùa rét [22]
Năm 1992-1994, tại Hà Nội ñã phát hiện ñược 209 trường hợp mắc hội chứng não cấp ở trẻ em, trong ñó 21 trường hợp ở nội thành, và việc giám sát vector truyền bệnh viêm não Nhật Bản ở nội, ngoại thành Hà Nội ñã ñược tiến
hành Kết quả cho thấy, muỗi Culex tritaeniorhynchus thu thập ñược quanh năm, nhưng nhiều nhất vào tháng 4, 5 và 8, 9 Ở ngoại thành Culex tritaeniorhynchus thu ñược ở chuồng trâu bò nhiều hơn Trong nội thành,
không có chuồng bò, loài muỗi này thu ñược ở chuồng lợn nhiều hơn ở trong
nhà Mật ñộ Culex tritaeniorhynchus giảm dần từ ngoại thành vào nội thành
Mặc dù ñã có một số công trình nghiên cứu về thành phần, phân bố của
muỗi Culex ở khu vực trong những năm trước ñây Song, số ñiểm ñiều tra
chưa nhiều, số lượng loài ñã ñược xác ñịnh và sự phân bố của chúng chưa
phản ảnh một cách ñầy ñủ của các loài muỗi thuộc giống Culex ở Tây
Nguyên Vì vậy việc mở rộng diện ñiều tra nhằm thu thập và xác ñịnh ñược ñầy ñủ hơn thành phần loài, sự phân bố của chúng là thực sự cần thiết
Trang 201.2 Những nghiên cứu về virus viêm não Nhật Bản
1.2.1 Nghiên cứu về virus VNNB trên thế giới
Tác nhân gây bệnh VNNB là virus thuộc họ Togaviridae trong nhóm B của giống flavi virus Virus có dạng hình cầu, ñường kính trung bình 40-50nm
Về cấu trúc virus VNNB gồm có:
- Lõi ñược cấu tạo bởi axit ribonucleic, sợi ñơn, là vật liệu di truyền của virus
- Capsit bao bọc chung quanh lõi ñược cấu tạo bởi nucleoprotein
- Vỏ bọc ngoài cấu tạo bởi glycoprotein Đó là kháng nguyên bề mặt có tính ngưng kết hồng cầu nên gọi là kháng nguyên ngưng kết hồng cầu và có hoạt tính trung hoà Đặc tính của virus: không bị phá hủy ở pH = 7 - 9, tốt nhất pH = 8 Virus bị bất hoạt nhanh ở nhiệt ñộ 500C và trên bề mặt virus có lipid nên rất nhạy cảm với các chất dung môi hoà tan mỡ ête, desoxycholat natri Ngoài ra, virus còn bị bất hoạt nhanh bởi tia hồng ngoại
Ổ chứa (reservoir) virus
Mức ñộ cảm nhiễm của các loài ñộng vật ñối với virus VNNB khác nhau
Tỷ lệ kháng thể dương tính cao ñối với virus VNNB ñã ñược chứng minh ở các súc vật như lợn, ngựa, các loài chim và tỷ lệ dương tính thấp ở trâu, bò, dê, cừu, chó, khỉ Lợn và chim là những vật chủ quan trọng nhất dự trữ, nhân lên và lan rộng virus VNNB, bò không thể hiện là vật chủ quan trọng của virus VNNB
Hình 1.2 : Hình ảnh của virus viêm não Nhật Bản (Japanese Encephalitis Virus)
Trang 21Vector chủ yếu có hút máu bò và có những bằng chứng về huyết thanh học thể hiện bò bị nhiễm virus Nhưng bò sống lâu năm nên hàng năm không xuất hiện nhiều quần thể bò cảm nhiễm mới; ngựa cũng bị nhiễm bệnh VNNB, nhưng nó không ñóng vai trò trong việc lan truyền bệnh Lợn ñược coi là nguồn nhiễm virus huyết quan trọng truyền qua muỗi bởi vì:
- Chỉ số lợn bị nhiễm virus trong tự nhiên cao hơn cả
- Sự xuất hiện virus trong máu lợn thường xảy ra ngay sau khi lợn bị nhiễm virus VNNB
- Chu kỳ bình thường của virus VNNB trong thiên nhiên ñược thừa nhận
là một chu kỳ “CHIM - MUỖI” Về mùa hè, chu kỳ cơ bản này phát triển thêm ra một chu kỳ “MUỖI - LỢN”, từ ñó có thể phát sinh tiếp nối một chu kỳ ñặc biệt “ MUỖI - NGƯỜI” Căn cứ vào ý kiến ñề xuất của P Mollaret và J Schneider (1963) và trên cơ sở hiểu biết về sinh thái học của virus VNNB, có thể minh hoạ chu kỳ tự nhiên của bệnh VNNB như sau:
MUỖI MUỖI
CHIM CHIM MUỖI LỢN LỢN MUỖI NGƯỜI MUỖI
1.2.2 Nghiên cứu về virus viêm não Nhật Bản ở Việt Nam
Trong hai năm (2000-2001), Viện VSDT Trung Ương và Viện VSDT Tây Nguyên ñã tiến hành ñiều tra dịch tễ, huyết thanh học ở 8 tỉnh, thành miền Bắc, Tây Nguyên với tổng số 1589 mẫu máu lợn, xác ñịnh trung bình nhân hiệu giá kháng nguyên virus VNNB ở những vùng trọng ñiểm của miền Bắc 59,05 ñến 117,93 Những vùng dịch xảy ra mang tính chất rải rác, lẻ tẻ như Bắc Giang, Tây Nguyên hiệu gía kháng thể 29,31- 38,91 Đã phân lập
Trang 22được 3 chủng virus VNNB từ hai lồi muỗi Culex tritaeniorhynchus và Culex
annulus, và một chủng virus VNNB từ máu lợn Kết quả chẩn đốn huyết thanh học cho thấy bệnh VNNB xảy ra trong mùa hè và chủ yếu ở trẻ em dưới
15 tuổi chiếm 83,18% tổng số mắc Các tác giả đã rút ra nhận xét: “Do kết quả sử dụng vacxin, tỷ lệ mắc VNNB trong nhĩm bệnh nhân từ 1-4 tuổi giảm
so với các năm trước, chỉ chiếm 17,28% tổng số mắc” [13]
Việc sử dụng tế bào muỗi Aedes albopictus dịng C6/36 đã phân lập
được 6 chủng virus từ dịch não tủy của bệnh nhân cĩ hội chứng não cấp Định loại virus bằng kỹ thuật ELISA-Sandwich và kỹ thuật miễn dịch huỳnh quang gián tiếp, đã xác định 4 chủng virus viêm não Nhật Bản, 2 chủng chưa xác định Cĩ 43,26% (196/453) trường hợp hội chứng não cấp ở miền Bắc do virus viêm não Nhật Bản Tỷ lệ mắc VNNB ở trẻ em 1-4 tuổi ở miền Bắc đã giảm từ 37,62 trong năm 1989-1995 xuống cịn 11,22% trong năm 2002, do việc tăng cường sử dụng vacxin VNNB cho trẻ em từ 1-5 tuổi trong chương trình tiêm chủng mở rộng [15]
Việc ứng dụng kỹ thuật ức chế hồng cầu để nghiên cứu sự chuyển đổi kháng thể virus VNNB ở lợn tại Hồi Đức - Hà Tây của nhĩm tác giả: Phan Thị Ngà, Vũ Sinh Nam, Masahiro Takagi (2002) cho thấy rằng, sự chuyển đổi kháng thể ở lợn xảy ra quanh năm Đã phân lập được 7 chủng virus VNNB từ
83 mẫu muỗi và 4 chủng virus VNNB từ 30 mẫu máu lợn Các chủng virus VNNB phân lập từ muỗi và từ máu lợn vào thời điểm trong và ngồi mùa dịch Kết quả nghiên cứu đã xác định cĩ sự lưu hành của virus VNNB thuộc nhĩm genotyp I ở miền Bắc Việt Nam trong năm 2000 [16]
Nghiên cứu hình thái cấu trúc virus viêm não Nhật Bản trong các loạt vacxin sản xuất tại Việt Nam Kết quả cho thấy, 28 loạt vacxin viêm não do Viện VSDT Trung Ương sản xuất cĩ độ tinh khiết cao, các hạt virus cĩ hình khối cầu đều đặn, nguyên vẹn, giữa cĩ lõi, bên ngồi là vỏ bọc, ngồi cùng là
Trang 23các lơng chiếu Đường kính trung bình của các hạt này 45-50nm Đơi khi quan sát thấy các mảnh, các cấu tử nhỏ, đĩ là thành phần của hạt virus đang trong quá trình hồn chỉnh [11]
Ứng dụng kỹ thuật MAC-ELISA để xác định tần suất nhiễm virus viêm não Nhật Bản trong quần thể lợn ở Cát Quế - Hồi Đức - Hà Tây từ tháng 9-
2001 đến tháng 8-2002 cho thấy: tần suất nhiễm virus viêm não Nhật Bản trong quần thể lợn trong mùa dịch rất cao, với tỷ lệ xác định dương tính là 82,00% trong tháng 6 Ngược lại trong các tháng ngồi mùa dịch tần xuất nhiễm virus viêm não Nhật Bản trong quần thể lợn rất thấp (1,96-14,00%) [14]
So sánh độ nhạy của kỹ thuật ngưng kết hạt với kỹ thuật MAC-ELISA trong chẩn đốn nhanh viêm não Nhật Bản thấy rằng: độ nhạy của kỹ thuật ngưng kết hạt phát hiện kháng thể đặc hiệu IgM là 91,11%, độ nhạy của kỹ thuật MAC-ELISA là 97,77% [12]
Nghiên cứu đánh giá đáp ứng kháng thể đối với các chủng viêm não Nhật Bản phân lập được ở Việt Nam (năm 2000), kết quả cho thấy: 100% (57/57) trẻ em cĩ đáp ứng kháng thể cao với chủng virus này [4]
Nghiên cứu phân tích sự tiến hố của virus VNNB ở miền Bắc Việt Nam qua kiểm tra 15000 nucleotid vùng gen vỏ - Enelope (E) mã hố; 9 chủng virus VNNB phân lập ở miền Bắc Việt Nam được xác định trình tự và
so sánh với những chủng của Việt Nam phân lập từ não tử thi trong các năm
1987, 1989 thuộc nhĩm genotyp 3 Các chủng phân lập từ lợn và muỗi trong các năm 2001 và 2002 thuộc nhĩm genotyp 1 Sự xuất hiện virus VNNB genotyp 1 ở miền Bắc Việt Nam trong các kết quả phân lập từ muỗi và lợn lần đầu tiên được ghi nhận [17]
Năm 2002, chủng virus Arbo mới cĩ ký hiệu 02VN208 được phân lập
từ dịch não tủy của bệnh nhân cĩ hội chứng não cấp ở miền Bắc Việt Nam
Trang 24bằng dòng tế bào C6/36 Virus hình cầu có vỏ, kích thước khoảng 50nm, vật liệu di truyền ARN Trình tự vật liêụ di truyền của chủng virus không giống trình tự của các chủng virus ñã công bố trên thế giới và các tác giả ñã ñặt tên
là Virus Nam Định (NĐ- theo tên ñịa phương của bệnh nhân) [18] Virus Nam Định - một virus Arbo mới ñược phân lập từ bệnh nhân hội chứng não cấp ở miền Bắc Việt Nam năm 2002, sự lưu hành của virus này ñã ñược ghi nhận ở miền Bắc, miền Trung và Tây Nguyên Đã xác ñịnh sự nhân lên của
virus viêm não Nam Định trên tế bào Aedes albopictus dòng C6/36 bằng
phương pháp lát cắt siêu mỏng sau ñó gây nhiễm 48 giờ Đã xác ñịnh virus viêm não Nam Định nhân lên trong bào tương tế bào, là ñặc trưng ñiển hình của virus có vật liệu di truyền RNA v.v…[21] Những năm sau ñó, virus viêm não Nam Định ñã ñược phân lập ở Gia Lai [19]
1.3 Tình hình bệnh VNNB trên thế giới, Việt Nam và Tây Nguyên
Bệnh viêm não Nhật Bản là bệnh nhiễm virus cấp tính làm tổn thương hệ thống thần kinh trung ương, có ổ bệnh trong thiên nhiên Bệnh gây ra do virus VNNB lây truyền từ nguồn bệnh ñến người qua muỗi ñốt Cơ chế lưu hành, tác nhân gây bệnh, sinh lý bệnh, ổ chứa virus, vector truyền bệnh, cách lây truyền ñã ñược nghiên cứu khá ñầy ñủ
Bệnh VNNB ñã ñược biết năm 1871, nhưng mãi ñến năm 1935 người ta mới phân lập ñược virus từ não của người bệnh ở Tokyo, Nhật Bản
Năm 1938, Mitamura ñã phân lập ñược virus viêm não Nhật Bản ở muỗi
Culex tritaeniorhynchus Đến năm 1959, những nghiên cứu ở Nhật Bản ñã xác ñịnh ổ chứa virus chủ yếu là lợn, chim, và muỗi Culex tritaeniorhynchus là
vector chính truyền bệnh VNNB giữa các ñộng vật có xương sống và từ ñó truyền sang người
Bệnh VNNB lưu hành rộng rãi ở châu Á, bao gồm Nhật Bản, Trung Quốc, Đài Loan, Hàn Quốc, Philippin, vùng viễn ñông nước Nga, tất cả các nước Đông Nam Á và Ấn Độ Ở Ấn Độ, bệnh xẩy ra hàng năm với số lượng lớn, có năm ñến
Trang 2510.000 trường hợp Ở miền Bắc Thái Lan, hàng năm tỷ lệ mắc bệnh từ 20/100.000 dân Hầu hết những nước này đều cĩ nhiệt độ cao vào mùa hè và mưa nhiều thuận lợi cho việc trồng lúa nước, đồng thời nghề chăn nuơi lợn ở đây cũng phổ biến Chính nền tảng nơng nghiệp – xã hội đã tạo điều kiện thuận lợi cho sự lưu hành virus VNNB trong tự nhiên, từ đĩ dẫn đến những vụ dịch VNNB ở người [28]
10-Từ năm 1959, ở Việt Nam người ta đã phát hiện được chứng viêm não
ở trẻ em Sau đĩ bệnh đã tiếp tục được phát hiện ở nhiều địa phương và trong nhiều năm và trở nên nghiêm trọng vì ngày càng cĩ nhiều người mắc bệnh và
tỷ lệ tử vong cao Nhưng các nghiên cứu về bệnh VNNB ở Việt Nam từ trước đến nay chủ yếu tập trung điều tra tình hình mắc bệnh ở người trên phạm nhiều tỉnh, nhiều vùng khác nhau trong cả nước; đánh giá tỷ lệ nhiễm virus trong một số lồi động vật dễ cảm nhiễm vớí virus VNNB như lợn, một số lồi chim Nghiên cứu ứng dụng một số kỹ thuật chẩn đốn bệnh và xét nghiệm tìm virus VNNB và nghiên cứu cấu trúc virus và đánh giá hiệu quả sử dụng vacxin VNNB trong cộng đồng dân cư ở một số địa phương Ngồi ra,
cĩ một số cơng trình điều tra, nghiên cứu về vector truyền bệnh v.v [28]
Từ năm 1984-1993 đã phân lập được 19 chủng virus VNNB, từ 127 bệnh nhân vào điều trị tại các bệnh viện ở Hà Nội [9] Tại Nghệ An, từ năm
1994 đến 1996, trung bình mỗi năm cĩ 96 trường hợp VNNB; tỷ lệ lợn bị nhiễm virus VNNB là 46,3% Tuy chưa phân lập virus VNNB từ muỗi, nhưng
các tác giả đã nhận xét “muỗi Culex trtaeniorhynchus xuất hiện trong suốt
năm và số lượng cá thể muỗi cao trong các tháng 4, 5 và 6 [2] Tại Huế trong bốn năm (từ 1992- 1995) cĩ 173 trường hợp VNNB và đã xác định cĩ sự lưu hành VNNB ở người, bệnh nhân tập trung ở trẻ em dưới 15 tuổi [10] Trên địa bàn tỉnh Kiên Giang, từ năm 1994-1998, mỗi năm trung bình cĩ 8-20 trường hợp VNNB; bệnh xảy ra rải rác tại các địa phương trong tỉnh và tập trung vào tháng 1, 2 và 3
Trang 26Theo số liệu thống kê của Viện VSDT Trung Ương, năm 1995 Việt Nam chỉ còn 2 tỉnh chưa phát hiện ñược bệnh viêm não là tỉnh Quảng Ngãi và tỉnh Kon Tum Đến năm 2006 trên ñịa bàn 29 tỉnh phía bắc (từ Hà Tĩnh trở ra) ñều có bệnh nhân mắc hội chứng não cấp Tổng số bệnh nhân là 823 người, trong ñó có 14 tử vong; bệnh nhân có xu hướng gia tăng ở các tỉnh miền núi, như Lai Châu 9,69 bệnh nhân /100.000dân; Lạng Sơn 7,23 bệnh nhân /100.000dân; Sơn La 6,35 bệnh nhân /100.000dân và Hà Giang 6,14 bệnh nhân /100.000dân (Bảng 1.1) (Hình 1.3 )
Trang 27Hình 1.3 Tình hình viêm não virus ở Việt Nam 1996-2006
Trang 28Bảng 1.1: Số bệnh nhân viêm não/100.000 dân ở Việt Nam, năm 2006
chết#
Tỷ lệ mắc (%)
Trang 29Trên ñịa bàn Tây Nguyên, từ năm 2000- 2001 ñã phát hiện ñược 14 trường hợp nhiễm virus VNNB (Kon Tum 2, Gia Lai 1, Đắk Lắk 11), trong tổng số 30 bệnh nhân mắc hội chứng viêm não cấp [4], [13] Đặc biệt, ñối với các loài là vector của bệnh viêm não Nhật Bản Qua giám sát dịch tễ, cho thấy rằng: những năm gần ñây số bệnh nhân viêm não Nhật Bản ở ñịa bàn Tây Nguyên có chiều hướng gia tăng Đây là lý do quan trọng cho sự nghiên cứu
các yếu tố liên quan, ñặc biệt là xác ñịnh và phát hiện các loài muỗi Culex Trong ñó chú ý ñến khả năng nhiễm vius của giống muỗi Culex là một trong
những mắc xích trong chu kỳ tự nhiên của bệnh VNNB tại khu vực Tây Nguyên
1.4 Một số yếu tố tự nhiên và xã hội ở Tây Nguyên
1.4.1 Vị trí ñịa lý
Tây Nguyên là vùng núi cao rộng lớn của Trung Bộ, thuộc sườn phía Tây của dãy Trường Sơn nằm khoảng 11044’ ñến 15026’ vĩ ñộ Bắc, 107015 ñến 108050’ ñộ kinh Đông Phía Bắc giáp Quảng Nam, Đà Nẵng; phìa Đông giáp các tỉnh Quảng Ngãi, Bình Thuận, phía Nam giáp các tỉnh Đồng Nai, Bình Dương, Bình Phước; phía Tây giáp Lào và Cam Pu Chia [23]
Bảng 1.2 Số ñơn vị hành chính Tây Nguyên*
* : Số liệu của Tổng cục Thống kê (ngày 31 tháng 12 năm 2008)
Tây Nguyên ñến năm 2008 gồm 5 tỉnh (Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông, Lâm Đồng), 3 thành phố, 57 huyện thị, 75 phường, 47 thị trấn và
589 xã.(bảng 1.2)
Trang 301.4.2 Đặc ñiểm ñịa hình
Tây Nguyên không phải là một cao nguyên duy nhất mà là một loạt cao nguyên liền kề Đó là các cao nguyên Kon Tum cao khoảng 500m, cao nguyên Kon Plong, cao nguyên Kon Hà Nừng, PleiKu cao khoảng 800m, cao nguyên M’Drắk cao khoảng 500 m, cao nguyên Buôn Ma Thuột cao khoảng 500m, cao nguyên Mơ Nông cao khoảng 800-1000m, cao nguyên Lâm Viên cao khoảng 1500m và cao nguyên Di Linh cao khoảng 900-1000m Tất cả các cao nguyên này ñều ñược bao bọc về phía Đông bởi những dãy núi và khối núi cao (chính là Trường Sơn Nam)
Với ñặc ñiểm thổ nhưỡng ñất ñỏ bazan ở ñộ cao khoảng 500m ñến 600m so với mặt biển, Tây Nguyên rất phù hợp với những cây công nghiệp như cà phê, ca cao, hồ tiêu, dâu tằm, ñiều và cây cao su cũng ñang ñược phát triển tại ñây Cà phê là cây công nghiệp quan trọng số một ở Tây Nguyên Tây Nguyên cũng là vùng trồng cao su lớn thứ hai sau Đông Nam Bộ [23] Tây Nguyên cũng là khu vực ở Việt Nam còn nhiều diện tích rừng với thảm sinh vật ña dạng, trữ lượng khoáng sản phong phú hầu như chưa khai thác và tiềm năng du lịch lớn, Tây Nguyên có thể coi là mái nhà của miền Trung, có chức năng phòng hộ rất lớn Tuy nhiên, nạn phá rừng hủy diệt tài nguyên thiên nhiên và khai thác lâm sản bừa bãi chưa ngăn chặn ñược Tại ñây có thể dẫn ñến nguy cơ làm nghèo kiệt rừng và thay ñổi môi trường sinh thái
Khu hệ ñộng thực vật ở Tây Nguyên trước ñây rất phong phú, có tới 3.600 loài thực vật, 689 loài ñộng vật có xương sống trong ñó có 40 loài
thuộc bộ gậm nhấm (Rodentia) và hàng ngàn loài ñộng vật bậc thấp khác[24]
1.4.3 Khí hậu
Khí hậu ở Tây Nguyên ñược chia làm hai mùa: mùa mưa từ tháng 5 ñến hết tháng 10 và mùa khô từ tháng 11 ñến tháng 4 năm sau, trong ñó tháng
Trang 313 và tháng 4 là hai tháng khô và nóng nhất Do ảnh hưởng của ñộ cao nên trong khi ở các cao nguyên cao 400-500m khí hậu tương ñối mát và mưa nhiều, riêng cao nguyên cao trên 1.000 m (như Đà Lạt) thì khí hậu lại mát mẻ quanh năm như vùng ôn ñới[23]
Mật ñộ (số người/km 2 )
* : Theo số liệu Tổng cục Thống kê (ñến ngày 01/01/2008)
Dân cư gồm nhiều dân tộc khác nhau chung sống ở Tây Nguyên như
Ba Na, Gia Rai, Ê ñê, Cơ Ho, Mạ, Xơ Đăng, Mơ Nông và Kinh Năm 1976, dân số Tây Nguyên là 1.225.000 người, gồm 18 dân tộc, trong ñó ñồng bào dân tộc thiểu số là 853.820 người (chiếm 69,7% dân số) Năm 1993 dân số Tây Nguyên là 2.376.854 người, gồm 35 dân tộc, trong ñó ñồng bào dân tộc thiểu số là 1.050.569 người (chiếm 44,2% dân số) Năm 2004 dân số Tây Nguyên là 4.668.142 người, gồm 46 dân tộc, trong ñó ñồng bào dân tộc thiểu
số là 1.181.337 người (chiếm 25,3% dân số) Kết quả này, một phần do gia tăng dân số tự nhiên và phần lớn do gia tăng cơ học: di dân ñến Tây Nguyên theo 2 luồng di dân kế hoạch và di dân tự do[23] Năm 2006 dân số Tây Nguyên là 4.868.900 người, ñến ñầu năm 2008 dân số của khu vực Tây Nguyên là 5.004.200 (Bảng 1.3)
1.4.5 Kinh tế - xã hội và môi trường
Tây Nguyên có lợi ñiểm về tài nguyên thiên nhiên ña dạng, phong phú,
có ñến 2 triệu ha ñất bazan màu mỡ, tức chiếm ñến 60% ñất bazan cả nước,
Trang 32rất phù hợp với những cây trồng công nghiệp như cà phê, ca cao, hồ tiêu, dâu tằm, trà Diện tích cà phê ở Tây Nguyên hiện nay là hơn 290 nghìn ha, chiếm 4/5 diện tích cà phê cả nước Đắk Lắk là tỉnh có diện tích cà phê lớn nhất (170 nghìn ha) và cà phê Buôn Ma Thuột nổi tiếng có chất lượng cao Tây Nguyên cũng là vùng trồng cao su lớn thứ hai sau Đông Nam Bộ, chủ yếu tại những vùng tránh ñược gió mạnh như ở tỉnh Gia Lai và tỉnh Đắk Lắk.[23]
Tài nguyên rừng và diện tích ñất lâm nghiệp ở Tây Nguyên ñang ñứng trước nguy cơ ngày càng suy giảm nghiêm trọng do nhiều nguyên nhân khác nhau như: dân di cư mới ñến lập nghiệp xâm lấn rừng ñể ở và sản xuất (ñất nông nghiệp toàn vùng tăng rất nhanh) cũng như nạn phá rừng, khai thác lâm sản trái phép chưa kiểm soát ñược Hiện nay, Tây Nguyên cho thấy các vùng sinh thái, các hệ sinh thái, ña dạng sinh học và tài nguyên sinh vật biến ñộng rất nhiều so với những năm 70, 80 của thế kỷ XX.[5]
Đặc ñiểm tự nhiên, yếu tố môi trường và ñiều kiện kinh tế - xã hội của Tây Nguyên có ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp ñến thành phần loài, phân bố vector bệnh viêm não Nhật Bản ở Tây Nguyên
Trang 33Chương 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Địa ñiểm và thời gian nghiên cứu
2.1.1 Địa ñiểm nghiên cứu
Các ñiểm ñược chọn nghiên cứu ñại diện cho sinh cảnh ñặc trưng của khu vực (huyện, tỉnh) Sinh ñịa cảnh của ñiểm nghiên cứu phù hợp với sự tồn
tại và phát triển của các loài muỗi Culex, ñặc biệt các loài là vector truyền
bệnh viêm não Nhật Bản Chọn ñiểm có chủ ñịnh là các ñiểm nghiên cứu trước ñó ñã tồn tại mầm bệnh viêm não Nhật Bản, thể hiện qua số lượng bệnh
nhân có hội chứng viêm não ñến ñiều trị tại các bệnh viện
- Tỉnh Kon Tum
+ Làng Ngó, xã Ia Chiêm* thị Xã Kon Tum
+ Thôn 5 và thôn Kép Kram, xã Hoà Bình,* thị xã Kon Tum
+ Thôn 4, xã Diên Bình, huyện Đắk Tô
+ Xã Đắk, Sú huyện Ngọc Hồi
- Tỉnh Gia Lai
+ Làng Krung và thôn 1, xã Ia Tô, huyện Ia Grai.*
+ Làng Khoái và Làng Nhã, xã Ia Blang, huyện Chư Sê*
+ Làng Á, xã IaH’lốp, huyện Chư Sê*
+ Làng Kách, xã Ia Khươl, huyện Chư Păh*
+ Buôn Boóc Rẫy, xã Đắk Sơ Mei, huyện Đắk Đoa
+ Làng Stiên, xã Tân Sơn, Tp Pleiku
- Tỉnh Đắk Lắk
+ xã Ea Phê, huyện Krông Pắk
+ Buôn Jun, thị trấn Liên Sơn, huyện Lắk
+ Buôn Pốc, xã Eapốc, huyện CưMgar
+ Buôn Trấp, thị trấn Buôn Trấp, huyện Krông Ana
- Tỉnh Đắk Nông
+ Buôn Buôr, xã Tâm Thắng, huyện Cư Jút
+ Phường Nghĩa Thành, thị xã Gia Nghĩa
+ Buôn Sin VetDon, xã Đăk Nia, thị xã Gia Nghiã
Ghi chú: * Nơi có bệnh nhân mắc bệnh viêm não Nhật Bản trước 2005
Trang 34Hình 2.1 Vị trí các ñiểm ñiều tra muỗi Culex ở Tây Nguyên năm 2006 - 2009
Trang 352.1.2 Đặc ñiểm sinh cảnh tại các ñiểm nghiên cứu
Đặc ñiểm chung của các ñiểm nghiên cứu ñược chọn ñều gắn liền với dân cư, phần lớn là các buôn, làng của ñồng bào dân tộc ở Tây Nguyên Trong buôn có chuồng trại nuôi gia súc như trâu, bò, lợn, dê rất ñơn sơ hoặc gia súc nhốt một góc dưới sàn nhà, hoặc cách nhà 5-20m Quanh nhà không
có vườn, chỉ có một ít cây bóng mát như cây me, bơ, cây xoài, không có hàng rào giữa nhà này ñến nhà kia
Sinh cảnh ngoài làng khác nhau tuỳ từng nơi, cụ thể như sau:
• Làng Ngó, xã Ia Chiêm, Thị xã Kon Tum nằm trong vùng ñất bằng phẳng, trồng cây công nghiệp và nông sản như mía, cà phê, cao su, lúa và hoa màu khác, có ít ao nuôi cá và suối nhỏ thuận lợi cho muỗi sinh sản và phát triển, ñặc biệt vào mùa mưa
• Thôn 5 và thôn Kép Kram, thuộc xã Hoà Bình, thị xã Kon Tum nằm trong vùng bằng phẳng gần bờ sông Thôn 5, chủ yếu người Kinh từ các tỉnh ven biển miền Trung lên ñịnh cư từ năm 1975-1977; nhà xây trệt, sản xuất nông nghiệp là chủ yếu, các loại cây trồng gồm lúa, ñậu, khoai, mì, mía, cao su…Mùa khô thì hiếm nước, nhưng mùa mưa thì sẵn các ổ chứa nước, thuận
lợi cho muỗi Culex sinh sản và phát triển Thôn Kép Kram, chủ yếu ñồng bào
dân tộc Ba Na sống bằng nghề nông, chăn nuôi gia súc, gia cầm và trồng cây công nghiệp như cà phê, cao su và hoa màu phụ khác
• Đắk Sú, huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum là xã vùng biên giới, cách Campuchia khoảng 10 km về phía Tây Nam Dân cư gồm người Kinh từ nhiều nơi và người Ba Na mới chuyển từ các buôn, bản trước ñây ở sâu trong rừng rậm, gần biên giới ñến Tất cả ñều mới ñịnh cư ở ñây trong những năm
từ 1977-1985 Nhà làm theo hàng lối, bám dọc hai bên ñường ñi; quanh nhà
có vườn trồng hoa màu như khoai, sắn, rau; ngoài làng trồng cao su Đồng bào ít nuôi gia súc, gia cầm; quanh năm ñều khan hiếm nước vì ít ao hồ, sông suối
Trang 36• Làng Krung và Thôn I, xã Ia Tô, huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai, là vùng ñất trồng nông sản như lúa, hoa màu và chăn nuôi gia súc gia cầm là chủ yếu Quanh làng là ruộng lúa hai vụ, xa làng là nương rẫy trồng khoai sắn, hoa màu Tuy nguồn nước ở xa, nhưng vào vụ gieo cấy lúa nước ñược dẫn từ các
mương suối ñến ruộng, nên có ñiều kiện cho muỗi Culex sinh sản và phát
triển
• Làng Kách, xã Ia Khươl, huyện Chư Păh, tỉnh Gia Lai, nằm trên ñồi, phần lớn nhà sàn, trâu bò, heo gà nhốt dưới sàn nhà; có ruộng nước xa làng,
ñiều kiện vệ sinh chưa tốt, thuận lợi cho muỗi Culex sinh sản và phát triển
• Buôn Boóc Rẫy, xã Đắk Sơ Mei, huyện Đắk Đoa, tỉnh Gia Lai, ñồng bào dân tộc ở ñây chủ yếu sống bằng nhà sàn, gia súc nhốt cách nhà 5-20m; quanh làng trồng cây công nghiệp như cà phê và cao su, ruộng nước không ñáng kể
• Làng STiên, xã Tân Sơn, thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai Làng này cách Pleiku khoảng 12km, chủ yếu là dân tộc Ba Na sống bằng làm ruộng, cà phê
và một số làm công nhân cao su, cũng có thói quen nuôi thả trâu bò, heo gần nhà
• Làng Á, xã IaH’lốp, huyện Chư sê, tỉnh Gia Lai Các gia ñình ñều có vườn rộng trồng cà phê và cây ăn trái (cây bơ, nhãn, ỗi…) Đời sống chủ yếu làm lúa và một số làm cà phê và cao su Nuôi thả gia súc gần nhà, vệ sinh trong khu dân cư không ñược sạch sẽ Tại ñây có vài trường hợp bị bệnh VNNB (ñầu năm 2009)
• Xã Ea Phê, huyện Krông Pắk, tỉnh Đắk Lắk là vùng ñất trồng cây lương thực và cây công nghiệp như cà phê; ñồng bào ở ñây gồm người Kinh và người dân tộc Ê Đê, vệ sinh buôn làng khá tốt, chuồng heo xây gọn gàng,
sạch sẽ Quanh làng có ruộng và ao hồ, thuận lợi cho muỗi Culex phát triển
• Buôn Jun, thị trấn Liên Sơn, huyện Lắk, tỉnh Đắk Lắk nằm cạnh hồ Lắk, ñã và ñang trở thành ñiểm du lịch, nên ñiều kiện vệ sinh tốt Dân cư ở
Trang 37ñây chủ yếu là người M’nông sống lâu ñời, nhà sàn rộng Trong buôn có các cây cổ thụ, bóng mát như me, xoài Gia súc, gia cầm nhốt ngoài nhà Quanh buôn có ruộng lúa, một năm hai vụ vì vậy thuận lợi cho muỗi sinh sản và phát triển
• Buôn Pốc, thị trấn Eapốc, huyện CưM’gar, tỉnh Đắk Lắk Đây là buôn lâu ñời của ñồng bào Ê Đê Gia súc, gia cầm nhốt ngoài nhà, vườn rộng, trồng cây ăn quả và hoa màu Ngoài buôn trồng cà phê và cao su
• Buôn Trấp, TT Buôn Trấp, huyện Krông Ana, tỉnh Đắk Lắk là buôn của người ñồng bào Êñê , xung quanh buôn có suối, ruộng nước Ở ñây vẫn còn nhiều nhà sàn, làm nông chủ yếu là trồng lúa nước Đặc biệt có thói quen chăn nuôi gia súc xung quanh nhà và neo nhốt heo, bò dưới sàn nhà Mùa mưa thích nghi cho sự phát triển của muỗi và các côn trùng khác
• Buôn Buôr, xã Tâm Thắng, huyện Cư Jút, tỉnh ĐắK Nông, chủ yếu là dân tộc Ê Đê Nhà sàn, heo, bò nhốt dưới sàn nhà hoặc cách nhà 3-5m Quanh buôn, trồng cà phê, có nhiều vùng ñất trũng, nhiều ao, hồ, thuận lợi cho muỗi Culiciane sinh sản và phát triển
• Phường Nghĩa Thành, thị xã Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông ñang dần dần
ñô thị hoá Nhà ở, chuồng gia súc san sát nhau, trong vườn có trồng cà phê và làm nhà cho thuê, nguồn nước khan hiếm Điều kiện môi trường, sinh thái ở
ñây ít thuận lợi cho muỗi Culicinae phát triển
• Buôn Sin Vet Don, xã Đắk Nia, thị xã Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông ở cách xa thị xã khoảng 15 km về hướng Đông Nam Dân tộc chủ yếu là người
Mạ, M’Nông và một số người Kinh Nông nghiệp chủ yếu là trồng lúa và một
số làm công nhân Cao Su Chuồng gia súc (heo, trâu bò) nuôi gần nhà, ruộng lúa ở xa vùng dân cư, nước sinh hoạt chủ yếu là nước giếng
2.1.3 Thời gian nghiên cứu
Từ năm 2006 ñến năm 2009
Trang 382.2 Đối tượng và vật liệu nghiên cứu
- Các mẫu bệnh phẩm: Mẫu muỗi cái thuộc giống Culex ñược thu thập ở
thực ñịa sau khi ñã ñịnh loại, xử lý, bảo quản trong ni tơ lỏng
- Các chủng virus gây bệnh viêm não Nhật Bản
2.2.2 Thiết bị thu thập, ñịnh loại và bảo quản muỗi
- Typ thông 2 ñầu
Trang 392.2.3 Vật liệu phân lập virus
- Bệnh phẩm: Muỗi Culex cái tại từng ñiểm từng ñợt nghiên cứu sau khi
bắt về ñược ñịnh loại và nuôi cho tiêu máu Cho vào ống nghiệm ñường kính 18mm Mỗi mẫu khoảng 25 - 100 con muỗi, ñược bảo quản ở âm 800C cho ñến khi tiến hành phân lập
16 Tế bào: Sử dụng tế bào muỗi Aedes albopictus dòng C6/36, nuôi bằng môi trường DMEM (Dulbecco’s Modified Eagle Medium) có 10% huyết
thanh bê bào thai
- Các sinh phẩm ñể ñịnh loại bằng kỹ thuật RT-PCR: các cặp mồi suy
biến (Degenerate Primer) của virus nhóm alpha, flavi do Trung tâm Kiểm
soát bệnh tật Fort Collins, Hoa Kỳ cung cấp Các cặp mồi ñặc hiệu với virus VNNB có ký hiệu FU2, CFD3; cặp mồi ñặc hiệu với virus Nam Định có ký hiệu 95NDVF, 612NDVR do Viện Y học nhiệt ñới Nagasaki, Nhật Bản cung cấp Bộ sinh phẩm tách chiết ARN của QIA amp, Nhật Bản Bộ sinh phẩm
và hoá chất cho kỹ thuật RT-PCR của Takara BIOInc, Nhật Bản Argarose 1,2% có Ethidium bromide, các dụng cụ, trang thiết bị và nguyên vật liệu cần thiết khác ñể phân lập virus
- Dụng cụ, máy móc:
+ Bộ Pipetman P cở: 10, 20, 100 và Multichannel pipette ñể
chuẩn bị mẫu thử của hãng Gilson Medical Electronecs (france) S.A
+ Bình ñựng ni tơ lỏng ñể lưu giữ bảo quản mẫu
+ Tủ lạnh sâu (-200C - 800C) ñể lưu giữ bảo quản mẫu + Tủ ấm
+ Tủ cấy vô trùng (Box Laminar) SANYO Nhật Bản
+ Máy li tâm KUBOTA 5100 (Nhật Bản)
+ Kính hiển vi lộn ngược, PME Olympus Tokyo, Nhật Bản + Chai nhựa chuyên dùng nuôi cấy tế bào (Mỹ)
+ Đèn cồn
Trang 40+ Các dụng cụ, trang thiết bị và nguyên vật liệu khác cần thiết ñể phân lập và ñịnh loại virus
2.3 Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu ngang, mô tả
Chọn ñiểm nghiên cứu có chủ ñịnh, các ñịa ñiểm nghiên cứu ñã có bệnh nhân VNNB và sinh cảnh phù hợp với sinh trưởng, phát triển của giống
muỗi Culex
2.3.1 Phương pháp thu thập và ñịnh loại muỗi Culex
Điều tra, thua thập muỗi ñược tiến hành mỗi năm 1-2 ñợt, vào hai mùa
(chủ yếu vào mùa mưa) Mỗi ñợt 2 – 4 ñiểm, mỗi ñiểm ñiều tra từ 3 - 5 ngày
3.3.1.1 Phương pháp thu thập muỗi Culex
+ Điều tra, thu thập muỗi, bọ gậy theo thường qui kỹ thuật của Viện Sốt rét- KST-CTTƯ và Viện Vệ sinh dịch tễ Tây Nguyên Bao gồm các bước sau:
- Soi bắt muỗi trú ñậu trong nhà ban ngày từ 7 giờ ñến 10 giờ, mỗi ñiểm
làm tiêu bản bộ (gồm tiêu bản bọ gậy, quăng và muỗi) và ñịnh tên khoa học
Một số bọ gậy ñược gắn tiêu bản hiển vi ñể phân loại