Xã Liêm Chính là một xã thuộc địa giới hành chính của thị xã Phủ Lý –tỉnh Hà Nam, những năm gần đây bộ mặt kinh tế xã hội của địa phương có sựchuyển biến tích cực: kinh tế không ngừng tă
Trang 1ĐẶT VẤN ĐỀ
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trước xu thế hội nhập và phát triển, đất nước ta đang nỗ lực thực hiệnthành công tiến trình công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước để xây dựng nước
ta thành một nước công nghiệp có lực lượng sản xuất xã hội chủ nghĩa tương đốiphát triển phù hợp với quan hệ sản xuất với mục tiêu tạo tiền đề cho bước pháttriển cao hơn hướng tới dân giàu nước mạnh xã hội công bằng dân chủ vănminh Trong chiến lược phát triển kinh tế quốc dân dài hạn mọi thành phần kinh
tế đều được khuyến khích phát triển, đặc biệt nông nghiệp và nông thôn với gần75% dân số và tới 70% lực lượng lao động cả nước luôn là mối quan tâm hàngđầu trong các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước Xuất phát điểm làmột nước nông nghiệp lạc hậu sau nhiều năm chiến tranh tàn phá nặng nề, gầnhai mươi năm thực hiện đường lối đổi mới mà Đại hội VI đã đề ra, bộ mặt nôngthôn Việt Nam đã có những bước chuyển biến tích cực, kinh tế liên tục tăngtrưởng và phát triển, nền sản xuất gắn dần với thị trường tiêu thụ cơ cấu kinh tếchuyển biến tích cực giảm dần tỷ trọng nông nghiệp kém hiệu quả, đời sốngnhân dân ngày càng cải thiện
Tuy nhiên nông thôn Việt Nam đang đứng trước những khó khăn thửthách: đất canh tác trên đầu người thấp, thiếu việc làm, lao động dư thừa, kinh tếnông thôn chưa phát triển vững chắc nhiều hộ nông dân chậm phát triển thunhập thấp Trong khi đó địa bàn nông thôn có tỷ lệ sinh cao, hàng năm có thêmhơn một triệu lao động bổ sung, xu hướng đô thị hoá, sự cách biệt ngày càng xagiữa thành thị và nông thôn
Xuất phát từ thực tiễn đó cũng như nhiều nước trên thế giới đã gặp phảitrong quá trình phát triển cho thấy phát triển nông thôn tất yếu phải phát triểnngành nghề, các ngành nghề này bao gồm công nghiệp nhẹ, tiểu thủ côngnghiệp, nghề truyền thống gia truyền, đặc biệt là việc chế biến nông sản nhữngđiều này sẽ tạo ra lối thoát cho vòng luẩn quẩn đói nghèo – tăng dân số – thiếuviệc làm – tệ nạn xã hội – kém phát triển – đời sống thấp Đảng và Nhà nước
Trang 2đang nỗ lực thực hiện thành công nghị quyết VIII mà ban chấp hành trung ươngkhoá VII đề ra: “Nhiệm vụ cấp bách hiện nay là đẩy mạnh công nghiệp hoá hiệnđại hoá nông nghiệp nông thôn với phương châm chuyển dịch cơ cấu kinh tếnông thôn theo hướng giảm dần tỷ trọng của nông nghiệp giá trị thấp rủi ro caosang các ngành công nghiệp và dịch vụ có hiệu quả và phù hợp từng vùng từngđịa phương tường đơn vị kinh tế, gắn kết với việc phát triển cơ sở hạ tầng ápdụng khoa học kỹ thuật phát huy lợi thế và tiềm năng sẵn có giảm chi phí sảnxuất tăng cường năng lực cạnh tranh chuyển dịch cơ cấu lao động theo xu hướng
ly nông bất ly hướng phát triển nền kinh tế hàng hoá một cách bền vững, tườngbước cải thiện đời sống nhân dân, giảm dần sự cách biệt giữa thành thị và nôngthôn”
Xã Liêm Chính là một xã thuộc địa giới hành chính của thị xã Phủ Lý –tỉnh Hà Nam, những năm gần đây bộ mặt kinh tế xã hội của địa phương có sựchuyển biến tích cực: kinh tế không ngừng tăng trưởng phát triển, lực lượng sảnxuất ngày càng lớn mạnh, cơ cấu kinh tế biến đổi tích cực theo hướng tăng dầnvai trò của ngành nghề phi nông nghiệp, văn hoá đời sống nhân dân tăng lên.Tuynhiên trong quá trình phát triển của mình địa phương vẫn chưa tận dụng tốt lợithế của mình đặc biệt trong phát triển các ngành nghề công nghiệp,
Công cuộc đổi mới do Đảng và Nhà nước đề ra đã đem lại sự chuyển biếntích cực bộ mặt kinh tế xã hội cả nước, nền kinh tế nước ta vốn là một nền kinh
tế thuần nông phải nhập khẩu lương thực thường xuyên thì đến năm 1989 khôngnhững đủ cung cấp nhu cầu trong nước mà trở thành nước xuất khẩu lương thựclớn của thế giới; cơ cấu kinh tế chuyển biến tích cực theo hướng tăng dần tỷtrọng công nghiệp và dịch vụ nền kinh tế mỗi năm tăng trưởng cao Nhân dânbây giờ không phải lo thiếu ăn, thiếu mặc nữa mà lo sao làm giàu chính đángcho mình và cho xã hội, đó cũng là câu hỏi đang được các cấp các ngành quantâm cố gắng tìm ra lời giải tốt nhất
Xuất phát điểm từ một nền kinh tế thuần tuý dựa vào nông, lâm, ngưnghiệp thì không thể phát triển nhanh được, không tạo được những tích luỹ cầnthiết để tiến hành công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước.Do đó muốn đẩy nhanh
Trang 3công nghiệp hoá hiện đại hoá phải đẩy nhanh công nghiệp hoá nông thôn mà hộnông dân là một chủ thể chủ yếu ở nông thôn điều này đòi hỏi phải:
- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn theo hướng xoá dầntính chất thuần nông, phát triển công nghiệp và dịch vụ nông thôn Việc pháttriển công nghiệp nông thôn đặc biệt là công nghiệp chế biến nông sản cho phépnâng cao chất lượng và sản lượng nông sản, nâng cao giá trị kinh tế của cácnông sản hàng hoá cho tiêu dùng và xuất khẩu
- Phát triển cơ sở hạ tầng sản xuất và đời sống xã hội như giao thông, thuỷlợi, điện, thông tin, cơ sở công nghiệp, dịch vụ ở nông thôn, cơ sở y tế,giáo dụclàm thay đổi bộ mặt nông thôn, giảm khoảng cách giữa thành thị và nông thôn
- Áp dụng các tiến bộ kỹthuật, các phát triển khoa học nhằm tăng hiệu quảsản xuất kinh doanh nâng cao chất lượng, nâng cao lợi thế so sánh trên thịtrường tiêu thụ, giảm lao động thủ công nặng nhọc
- Phát huy những kinh nghiệm được truyền tụng từ những người trướclàm tăng phẩm chất sản phẩm, giảm chi phí, tăng năng lực cạnh tranh, giữ vữngđược truyền thống của địa phương
Xây dựng và phát triển nông thôn, phát triển kinh tế nông thôn là một vấn
đề lớn và phức tạp, nó liên quan đến nhiều cấp nhiều ngành Đề tài này nhằmtriển khai chiến lược “Lấy việc khai thác tiềm năng về địa lý gần trung tâm tỉnh,chế biến nông sản – nghề truyền thống đang có thế mạnh ở địa phương làmtrọng tâm phát triển kinh tế hộ…” mà lãnh đạo địa phương đang hết sức cố gắngthực hiện Vì vậy đề tài này mang tính cấp thiết cả về lý luận và thực tiễn
2 Mục tiêu nghiên cứu
Hệ thống hoá cơ sở lý luận và thực tiễn về vấn đề phát triển ngành nghề
cho hộ nông dân trên địa bàn xã Liêm Chính- thị xã Phủ Lý- tỉnh Hà Nam
Trang 4Đánh giá thực trạng phát triển các ngành nghề trong hộ nông dân trên địa
bàn xã Liêm Chính – thị xã Phủ Lý – tỉnh Hà Nam qua ba năm từ 2001 đến2003
Bước đầu đưa ra một số giải pháp chủ yếu nhằm phát triển các ngành nghề
trong hộ nông dân trong địa bàn xã Liêm Chính – thị xã Phủ Lý – tỉnh Hà Nam ởnhững năm tới
3 Đối tượng nghiên cứu của đề tài
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các ngành nghề trong hộ nông dân trênđịa bàn xã Liêm Chính- thị xã Phủ Lý – tỉnh Hà Nam
4 Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Phạm vi không gian: Nghiên cứu thực trạng các ngành nghề trong hộnông dân trên địa bàn xã Liêm Chính – thị xã Phủ Lý – tỉnh Hà Nam
Phạm vi thời gian: Nghiên cứu các ngành nghề trong hộ nông dân trênđịa bàn xã qua ba năm ( 2001- 2003)
Trang 5CHƯƠNG I MỘT SỐ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
VỀ PHÁT TRIỂN NGÀNH NGHỀ CỦA HỘ NÔNG DÂN
1 Vai trò của ngành nghề
Các ngành nghề phi nông nghiệp có vai trò rất to lớn đến sự phát triển của
hộ nông dân Dưới hình thức là các hoạt động dịch vụ, ngành nghề tiểu thủ côngtruyền thống, … Các hoạt động này đã giải quyết những vấn đề rất cơ bản củahộ.Các nhề truyền thống (làm thêu, mây tre đan, làm đậu, làm bánh …) đã thuhút rất nhiều lực lượng lao động ở địa phương, nhất là những lúc nông nhàn, đặcbiệt đặc điểm địa phương đất chật người đông, diện tích sản xuất cây lương thựcthực phẩm ngày càng thu hẹp, cộng thêm các dự án về quy hoạch phát triển cơ
sở hạ tầng, quy hoạch đô thị, chương trình dãn dân là các yếu tố trực tiếp đẩy hộnông dân vốn sản xuất nông nghiệp là chính phải xem xét lại phương thức sảnxuất của mình cho phù hợp Từ đó các ngành nghề phi nông nghiệp được coi làgiải pháp hữu hiệu giải quyết vấn đề dư lao động- thiếu việc làm ở địa phương.Các nghề truyền thống là các nghề mà một số hộ giữ được lợi thế tuyệt đối củamình trước ảnh hưởng của dư luận và thời gian mà mấu chốt đó là các bí quyết
sự lành nghề dẫn đến sản phẩm sản xuất ra đạt yêu cầu thị hiếu của cầu tiêu thụ
về phẩm chất, hình thức, kiểu dáng, chi phí, hàm lượng chất xám, độ tinh xảo
Sự lành nghề có kĩ xảo, có năng lực được mang lại kết quả là các sản phẩm làm
ra sẽ có chi phí thấp lại được ưa chuộng tất yếu hộ sản xuất sẽ có thu nhập tốt,
có sức ổn định Các vấn đề xã hội (như ma tuý, mại dâm, cờ bạc) đặt ra cho địaphương nơi mà cách xa trung tâm tỉnh lỵ không xa đòi hỏi phải có phương ángiải quyết xuất phát từ căn nguyên của vấn đề: việc làm là vấn đề bức bách mà
muốn có nhiều việc làm có thu nhập, giải quyết sự nhàn nhã thì phát triển các nghành nghề phi nông nghiệp là giải pháp hữu hiệu để giúp các thành viên của
hộ không xa phải con đường tội lỗi xấu xa Việc làm ngoài ngoài nông nghiệp
giúp hộ chủ động hơn dưới ảnh hưởng bất trắc (rủi ro) của thời tiết, thiên nhiên,sâu bệnh
Trang 6Quá trình phát triển này sẽ giúp chuyển dịch cơ cấu kinh tế của hộ của địaphương theo hướng giảm tỷ lệ nông nghiệp xuống và tăng giá trị ngành nghề phi nôngnghiệp lên.
1.2 Một số khái niệm cơ bản
Ngành nghề trong các hộ nông dân bao gồm công nghiệp tiểu thủ côngnghiệp và các hoạt động dịch vụ cho sản xuất và đời sống Các tổ chức hộ vớimức độ khác nhau đều có thể sử dụng các nguồn lực sẵn có ở địa phương nhưđất đai lao động, các sản phẩm từ nông nghiệp và các nguồn lực khác cộng thêmcác kinh nghiệm sản xuất kinh doanh được tích luỹ kế thừa để làm ra các sảnphẩm có lợi thế cạnh tranh Các ngành nghề trong hộ được biểu trưng bởi sốlượng các ngành nghề với quy mô các yếu tố sản xuất, trình độ công nghệ được
sử dụng để sản xuất ra các sản phẩm có chất lượng được ưa chuộng và phù hợpvới nhu cầu và thị hiếu của người tiêu dùng như thế nào Sự phát triển các ngànhnghề trong các hộ nông dân là sự tăng số hộ có ngành nghề và sự chuyển biếntích cực trong nội tại các ngành nghề mà hộ đảm nhận như công nghệ trình độtay nghề, sự lành nghề, sự đa dạng hoá sản phẩm cùng một đầu vào, chất lưọngsản phẩm tăng lên Các ngành nghề mà hộ nông dân tổ chức có hiệu quả sẽthúc đẩy kinh tế hộ phát triển từ đó phát triển kinh tế xã hội của địa phương
1.3 Đặc điểm ngành nghề nông thôn
Ngành nghề trong các hộ nông dân rất đa dạng: có ngành nghề lấy các sảnphẩm từ nông nghệp thuần tuý qua chế biến phục vụ nhu cầu sống của conngười như nghề làm bún, làm đậu phụ, nấu rượu ; có ngành nghề tận dụng vị trígần trung tâm kinh tế văn hoá để phát triển như làm thuê, may, đan, thêu, mộc,
cơ khí ; với những hộ nằm ngay đường trục chính thì có cơ hội tốt để phát triểnnghề buôn bán thông thương và làm dịch vụ đầu vào cho sản xuất nông nghệphay dịch vụ cho đời sống con người Các ngành nghề này có một số đặc điểmsau:
- Không hay ít chịu tác động của thời tiết khí hậu hơn nghề nông nghệp truyềnthống
Trang 7- Đất đai không phải là tư liệu sản xuất chủ yếu nhưng lại là cơ sở để sảnxuất ngành nghề tồn tại và phát triển.
- Các ngành nghề có sử dụng các sản phẩm đầu vào từ nông nghệp ítnhiều chịu ảnh hưởng của tính thời vụ trong sản xuất nông nghiệp
- Công nghệ dùng cho sản xuất kinh doanh có xen kẽ thủ công thô sơ và
cơ khí
- Quy mô ngành nghề hầu hết đều nhỏ
- Phụ thuộc rất nhiều vào thị trường đặc biệt là các sản phẩm chế biến từ nôngsản
- Chất lượng các sản phẩm làm ra phụ thuộc rất nhiều vào kinh nghiệm tích luỹcủa hộ
1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển các ngành nghề trong hộ nông dân
a Nhân tố nội tại của hộ nông dân: Như tiềm lực về vốn, kinh tế sẵn có,
trình độ năng lực chuyên môn của chủ hộ.Hộ là đơn vị kinh tế tự chủ, tự chịutrách nhiệm của mình về kết quả và hiệu quả sản xuất kinh doanh của mình: Cácquyết định đầu tư sản xuất kinh doanh không phải ai khác mà chính do chủ hộquyết định do đó trình độ của chủ hộ, của các thành viên có sức ảnh hưởng rấtlớn đến quá trình tồn tại và phát triển cuỉa hộ Chủ hộ mà có kiến thức, có kinhnghiệm trên thị trường, trong xã hội, biết nắm bắt thời cơ, biết vận động năngđộng trước rủi ro từ bên ngoài sẽ tạo cho hộ khả năng đứng vững, phát triển bềnvững trước thời cuộc
b Nhân tố thị trường: Những hộ chuyên ngành nghề nhất là chế biến các
sản phẩm từ đầu vào nông sản tạo ra sản phẩm có thời gian sử dụng thấp bảoquản khó khăn có yêu cầu gay gắt về thị trường
c Nhân tố địa lý: Hộ nằm trên các trục đường chính, gần khu đông đúc
dân cư càng có điều kiện kinh doanh dịch vụ tốt hơn
d Nhân tố kĩ thuật: Các nghề truyền thống như mộc, nề, thiêu, đan, may,
sửa chữa máy móc thiết bị đòi hỏi sự lành nghề đặc biệt các hoạt động chế biếnnông sản như làm đậu, nấu rượu, làm bánh kẹo phải cần có sự tích luỹ kinh
Trang 8nghiệm Các hoạt động sản xuất công cụ cho đầu vào của hoạt động khác, cáchoạt động sản xuất các vật phẩm tiêu dùng như sản xuất ra dao, kéo, cày, bừa,máy tuốt lúa đạp chân, cổng sắt… cũng đòi hỏi yêu cầu phải đáp ứng thị hiếukhách hàng tiêu dùng phải phù hợp với hoàn cảnh ứng dụng các sản phẩm đó.Những hộ buôn bán nhỏ như hộ buôn bán các sản phẩm nông sản bán ra thịtrường, bán các hàng hoá tiêu dùng ở chợ hay tại gia đình nơi thuận tiện lưuthông hàng hoá và dễ kiếm lời buộc hộ phải năng động trong việc phải nắm bắtthị trường để có phản ứng linh hoạt.
đ Nhân tố chính sách: Các chính sách của chính phủ đưa ra như chính
sách đổi mới cơ chế quản lý kinh tế trong hộ nông dân, chính sách đất đai, xoáđói giảm nghèo, cơ sở hạ tầng nông thôn… tuỳ vào mức độ tác động mà hộ cóảnh hưởng khác nhau Phần lớn các chính sách này có độ nhạy cảm với vấn đềphát triển kinh tế của nông thôn mà hộ nông dân là một chủ thể, vấn đề xoá đóigiảm nghèo, phát triển cải thiện cơ sở hạ tầng, cải thiện các điều kiện sống chonông dân… Các chính sách mà chính phủ đưa ra luôn luôn xuất phát từ nhu cầuthực tai khách quan để tháo gỡ những vấn đề nan giải của xã hội
e Nhân tố cộng đồng xã hội: Đó là các phong tục tập quán, thuần phong
mỹ tục, truyền thống của cộng đồng gây ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp tới sựphát triển ngành nghề trong các hộ nông dân Nghề làm đậu phụ, nấu rượu, làmbánh đa… sở dĩ tồn tại và phát triển được do phong tục nuôi lợn để lấy phân bónruộng cũng do tục lệ uống rượu trong các ngày lễ Tâm lý bảo thủ chậm tiếnmang nặng tính phong kiến cổ hủ của xã hội trước cũng ảnh hưởng không nhỏtới tâm lý mở rộng sản xuất kinh doanh trong hộ ngành nghề do lo sợ bị thua lỗphá sản
1.5 Các chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển ngành nghề nông thôn
Các chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển kinh tế nông thôn mà
hộ nông dân là một chủ thể chủ yếu của nông thôn đã tác động mạnh mẽ đến đờisống kinh tế xã hội nông hộ của đất nước.Đất nước ta là một đất nước xuất phátđiểm từ nông nghiệp trước cách mạng tháng 8 năm 1945 khi mà đất nước ta nửa
Trang 9thuộc địa nửa phong kiến bị áp bức bóc lột mất quyền độc lập tự do, xét trên cảnước giai cấp địa chủ chỉ có 3% dân số đã chiếm 41.4% ruộng đất, nông dân laođộng lại chiếm tới 97%dân số nhưng chỉ có 36% diện tích đất, số còn lại thuộcđồn điền của pháp và đất công Các nghành kinh tế quan trọng như thương mại,khai thác mỏ… đều do pháp quản lý Các thương gia, các nhà doanh nghiệp ViệtNam bị chèn ép cô lập không phát triển được Sau khi nước nhà độc lập, côngcuộc cải cách ruộng đất ở miền Bắc năm 1956 đa số hộ nông dân ít nhiều đều
có đất trực tiếp sản xuất nông nghiệp, các nghành sản xuất khác được khôi phục
và khuyến khích phát triển, nét đặc trưng ở giai đoạn này là hộ nông dân sảnxuất hoàn toàn cá thể
Giai đoạn 1960- 1980 được định hình bởi kinh tế tập thể Từ năm 1958tiến hành hợp tác hoá, đến cuối năm 1960 có 84% nông hộ đã tham gia vào hợptác xã sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ, từ đó làm cho môi trường sảnxuất kinh doanh của nông hộ thay đổi căn bản Hiến pháp năm 1959 đã xácđịnh: Đất đai thuộc sở hữu toàn dân, mọi quan hệ mua bán trao đổi đất bị cấmnghiêm ngặt Giai đoạn này hộ nông dân sản xuất nông nghiệp là chính cácnghành khác nhất là buôn bán lưu thông hàng hoá kiếm lời bị tê liệt hoàn toàn,mọi hoạt động phi nông nghiệp đều thuộc sự quản lý của nhà nước dưới hìnhthức hợp tác xã Trong hợp tác xã sản xuất nông nghiệp nông hộ được tập thểgiành cho 5% đất canh tác để làm “kinh tế phụ gia đình” hay “kinh tế phụ xãviên” Với 5% đất canh tác nhưng đã sản xuất ra 48%giá trị sản lượng nôngnghiệp, 50% - 60% thu nhập của hộ Tuy không công khai nhưng kinh tế nông
hộ đã thực sự là cơ sở đảm bảo cho kinh tế tập thể tồn tại Nông hộ được chiathành 2 loại:
Loại 1: Gồm các hộ nông dân cá thể ngày càng giảm có phân biệt đối xửsản xuất luôn bị kìm hãm bó buộc
Loại 2: Gồm các hộ gia đình xã viên trong hợp tác xã và hộ công nhânviên trong các lâm trường loai này có nguồn thu nhập từ kinh tế tập thể thôngqua ngày công đóng góp hoặc tiền lương và thu từ đất 5% với số vật tư và laođộng còn lại mà hợp tác xã huy động đến kinh tế nông hộ với sản xuất nông
Trang 10nghiệp là chính chỉ giới hạn 5% phần đất, kinh tế hợp tác xã đình đốn, kinh tếquốc doanh thua lỗ nên thu nhập từ kinh tế tập thể trong tổng thu của hộ có sựbiến đổi lớn: kinh tế tập thể chiếm 70% - 75% còn kinh tế nông hộ chỉ chiếm25% -30% Do thu nhập từ kinh tế tập thể thấp đã làm cho nông đân xã viênchán nản, muốn xa nền kinh tế tập thể.
Giai đoạn 1981-1987 trước thực trạng kinh tế tập thể đình đốn, khủnghoảng lương thực thường xuyên xảy ra nghiêm trọng, nền kinh tế đất nước đìnhđốn, kinh tế nông hộ bị hạn chế không phát triển được thì nghị quyết TW6 tháng
9 năm 1979 xác định “những vấn đề kinh tế - xã hội cấp bách” nhằm tìm giảipháp đưa đất nước thoát khỏi khủng hoảng Xuất phát từ thực trạng đó Bộ chínhtrị đã ban hành Chỉ thị 100 ngày 13/01/1981 về cải tiến công tác khoán mở rộngkhoán sản phẩm đến nhóm và người lao động trong hợp tác xã Xã viên đượcđầu tư vốn, sức lao động được khoán và hưởng trọn phần vượt khoán, nền kinh
tế hộ gia đình được khôi phục và phát triển nhanh chóng Năm 1986 -1987 giá
cả các mặt hàng tăng vọt, chế độ thu mua hàng hoá theo nghĩa vụ của nhà nướcnặng nề, trong nông nghiệp mà ruộng đất khoán tập thể đảm nhận 5 khâu; 3khâu còn lại người lao động chịu trách nhiệm không được ổn định, sản lượngkhoán nâng cao dần từ đó hiệu quả đầu tư giảm, thu nhập của nông hộ cũnggiảm dần
Giai đoạn từ năm 1988 đến nay Trước tình trạng trên Nghị quyết 10 Q/
TW ngày 05/ 04/ 1988 của bộ chính trị về đổi mới quản lý kinh tế nhằm giảiphóng mạnh mẽ sức sản xuất trong nông thôn trong từng hộ nông dân, đậc biệtnghị quyết khẳng định hộ gia đình xã viên là đơn vị kinh tế tự chủ ở nông thôn
có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với sự phát triển của kinh tế nông hộ Nghịquyết còn chủ trương giao quyền sử dụng ruộng đất ổn định lâu dài cho hộ nôngdân, xoá bỏ chính sách thu mua theo nghĩa vụ để tạo điều kiện cho hộ nông dânphát triển sản xuất Thực hiện khoán theo nghị quyết 10 đã làm cho người laođộng quan tâm đến sản phẩm cuối cùng Các thành phần kinh tế và kinh tế hộnông dân phát triển dẫn đến hiệu quả cao trong sản xuất và không ngừng nângcao sức sống nông dân, nền kinh tế được khôi phục và phát triển Nghị quyết
Trang 11Đại hội đảng lần thứ VI, VII, VIII, IX đã đưa ra tiếp những chủ trương về pháttriển 5 thành phần kinh tế, 3 chương trình kinh tế lớn của nhà nước, chiến lượccông nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước.Từ đó hộ nông dân là chủ thể sản xuấtvới việc ban hành những chính sách lớn như giao đất lâu dài, mở rộng cho vaytới hộ, thực hiện xoá đói giảm nghèo, khuyến khích chuyển dịch cơ cấu kinh tế,khuyến khích khôi phục và phát triển các nghành nghề truyền thống, khuyếnkhích kinh tế thị trường phát triển… kinh tế nông hộ đã có niềm tin mở rộngquyền tự chủ sản xuất kinh doanh cho nông dân, kinh tế hộ đã có nhiều thay đổilớn mà điển hình cơ cấu sản xuất đã có chuyển biến tích cực từ thuần nông sangcác nghành nghề khác nhất là vùng nông thôn giáp danh thành thị.
1.6 Thực trạng tình hình phát triển ngành nghề nông thôn ở một số nước trên thế giới
Việc phát triển ngành nghề nông thôn được xem là một trong những giảipháp quan trọng để tháo gỡ những khó khăn, những phát sinh trong việc thúcđẩy sự phát triển kinh tế- xã hội trên địa bàn nông thôn ở một số nước trên thếgiới Một số nước đã trải qua quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá nôngnghiệp nông thôn rất thành công, đó là những bài học kinh nghiệm cho đất nước
ta học tập đúc rút và áp dụng linh hoạt mô hình phát triển nông thôn một cáchhiệu quả nhất
Ở một ngay cạnh nước ta, Trung Quốc thực hiện rất tốt quá trình côngnghiệp hoá hiện đại hoá nông thôn trong giai đoạn cải cách (1978- 1992) vớiphương châm đề ra” ly nông bất ly hương, nhập xướng bất nhập thành” chủtrương phát triển ngành nghề nông thôn theo mô hình xí nghiệp Hương Trấn lấynông thôn làm cơ sở Bước đi của Trung Quốc là thận trọng từ thấp lên cao,không chạy theo phong trào không chạy theo hình thức, không chạy theo thànhtích như thời kì “ công xã nhân dân” ; lấy mô hình phát triển xí nghiệp HươngTrấn vừa là tích luỹ ban đầu vừa là bắt đầu đi vào phát triển chiều sâu bằng ápdụng công nghệ mới hiện đại và sử dụng nhiều vốn Nhiều xí nghiệp như HươngTrấn đã mở rộng về quy mô và phạm vi lĩnh vực kinh doanh Hiện nay các xínghiệp như Hương Trấn đã hoạt động ở ba cấp: huyện, xã, thôn và tạo ra giá trị
Trang 12sản lượng ngày càng tăng Nhờ sự phát triển công nghiệp nông thôn mà TrungQuốc đã giảm tỷ trọng lao động trong nông nghiệp từ 70% (1978) xuống dưới50% (1992) giảm áp lực di dân ra thành thị, kinh tế nông thôn phát triển đã cảithiện đời sống nhân dân vùng nông thôn.
Nằm trong nhóm nước Niss, Đài Loan bắt đầu tiến trình công nghiệp hoánông thôn từ những năm 50 bao gồm các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp, cáclàng nghề cổ truyền, các xí nghiệp gia đình sản xuất chế biến lương thực thựcphẩm và các mặt hàng thủ công mỹ nghệ phục vụ ngành du lịch Riêng côngnghiệp chế biến nông sản rất phát triển: năm 1991 đã có 5779 xí nghiệp với 100nghìn lao động đã tạo ra giá trị sản lượng tới 17.5 tỷ USD Công nghiệp thựcphẩm với 22 chuyên ngành chủ yếu trong đó công nghiệp chế biến thịt chiếm15.41% giá trị sản lượng, với chăn nuôi là12.36%, gạo 9.25%, đồ uống có cồn7.16% Riêng xay xát gạo có 2500 nhà máy quy mô nhỏ Công nghiệp nôngthôn Đài Loan đã thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn, tỷ trọng giađình thuần nông đã giảm từ 39.9% (1955) xuống còn 8.98% (1985), tỷ trọng các
hộ kiêm tăng từ 60.13% (1955) lên 91.2% (1985) Thu nhập các hộ nông dânngoài nông nghiệp tăng từ 43% (1952) lên gần 70% (1992), cơ cấu lao động xãhội cũng thay đổi năm 1952 lao động nông nghiệp chiếm 51% công nghiệp16.9% dịch vụ 27% thì đến năm 1992 lao động nông nghiệp giảm xuống còn12.9% công nghiệp tăng 40.25% dịch vụ 49.9% Nhìn chung Đài Loan thực hiệncông nghiệp hoá nông thôn với hình thức đa dạng đã đem lại hiệu quả kinh tế xãhội rõ rệt góp phần không nhỏ vào sự thành công quá trình công nghiệp hoá -hiện đại hoá đất nước
Nằm trong khối ASEAN, là một nước đang phát triển, Thái Lan côngnghiệp hoá nông thôn trên cơ sở dựa vào nguồn nguyên liệu sẵn có ở địaphương với mục tiêu trước tiên là cải tạo cơ cấu kinh tế ở các vùng nông thônqua việc cung cấp nguyên liệu và nguồn lực cho công nghiệp Do đó Thái Lan
đã xây dựng một chiến lược phát triển nông thôn trên cơ sở khu vực lấy trọngtâm công nghiệp chế biến nông sản thành hàng hoá Bởi Thái Lan là một trong
số ít nước có lợi thế sản xuất gạo, hải sản, thuỷ sản… Đầu năm 1990 cả nước có
Trang 13khoảng 32 nghìn xí nghiệp nông phẩm chiếm 62% các ngành công nghiệp ởThái Lan thu hút khoảng 60% lao động, hầu hết nguyên liệu đều do nông nghiệpcung cấp Các ngành nghề thủ công mỹ nghệ truyền thống như chế tác vàng bạc
đá quý, ngọc trai, đồ trang sức được duy trì và phát triển tạo ra nhiều mặt hàngnổi tiếng thế giới Kim ngạch xuất khẩu sản phẩm mỹ nghệ năm 1990 đạt gần 2
tỷ USD Nghề gốm sứ cổ truyền trước đây ở Thái Lan chỉ sản xuất đáp ứng nhucầu trong nước, gần đây đã phát triển trở thành mặt hàng xuất khẩu lớn đứng thứhai sau gạo, 95% hàng gốm sứ xuất khẩu là đồ trang trí nội thất và đồ lưu niệmcòn lại là những thứ khác Về cơ khí nông thôn có 94 vạn cơ sở nhỏ( nhỏ hơn 10công nhân một cơ sở) chiếm 46%, 72 vạn cơ sở vừa chiếm 34%; hoạt động củacác xí nghiệp này là chế tạo và xửa chữa máy công cụ nông nghiệp
Một số con rồng châu Á (Hàn Quốc, Hồng Công, Shingapo) thực hiệnsách lược dồn hết sức lực cho công nghiệp nặng có trọng điểm kết hợp với dịch
vụ coi nhẹ phát triển nông nghiệp nông thôn để tạo ra sức mạnh kinh tế sau đómới tiến hành cải tạo đầu tư cho nông nghiệp nông thôn
Thông qua thực tế phát triển ngành nghề nông thôn ở một số nước trên thếgiới chúng ta rút ra một số bài học sau:
- Công nghiệp hoá- hiện đại hoá đất nước phải kết hợp chặt chẽ với côngnghiệp hoá hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn mà bước đi quan trọng là phảiphát triển ngành nghề nông thôn bao gồm nghề tiểu thủ công nghiệp, nghềtruyền thống, nghề chế biến nông sản, kinh doanh dịch vụ tạo ra sự chuyển biếntích cực cơ cấu kinh tế nông thôn
- Phát huy lợi thế tuyệt đối của địa phương,của vùng, của đất nước vềmọi mặt để sản xuất ra các sản phẩm có ưu thế cạnh tranh cao
- Phát triển ngành nghề trong các hộ nông dân sẽ thúc đẩy kinh tế hộ pháttriển, kinh tế địa phương phát triển, xoá đói giảm nghèo, từng bước cải thiện đờisống nhân dân vùng nông thôn tạo tiền đề cho quá trình công nghiệp hoá hiệnđại hoá đất nước thành công
Trang 141.7 Thực trạng tình hình phát triển ngành nghề nông thôn ở Việt Nam
Kinh tế nông thôn bao gồm hai lĩnh vực: kinh tế nông nghiệp và kinh tếphi nông nghiệp Trong lĩnh vực kinh tế phi nông nghiệp bao gồm tiểu thủ côngnghiệp, công nghiệp và dịch vụ cho sản xuất cho đời sống ở nông thôn Côngnghiệp nông thôn ở Việt Nam đã trải qua những bước thăng trầm cùng với tiếntrình cải cách và phát triển kinh tế đất nước Thực hiện đường lối của Đảng vàchủ trương chính sách của Nhà nước, công nghiệp nói chung, công nghiệp nôngthôn nói riêng đã chứng kiến biến chuyển mạnh mẽ trong hơn mười năm qua.Theo tư liệu của hội khoa học kinh tế Việt Nam, trong thời kì đổi mới côngnghiệp nông thôn Việt Nam đạt tỷ lệ tăng trưởng giá trị bình quân 7.8%/ năm.Đặc biệt công nghiệp nông thôn có sức tăng trưởng cao vào các năm 1993-1999nhờ tác động mạnh mẽ của các chích sách khuyến khích được ban hành và thựcthi vào đầu thập kỉ 90 Thực trạng phát triển ngành nghề nông thôn thể hiện một
số điểm sau:
- Về số lượng hiện nước ta có trên 1350000 đơn vị sản xuất phi nôngnghiệp trong đó có 97.1% là các hộ, số còn lại là dạng tổ hợp và doanh nghiệp
- Về quy mô hầu hết các cơ sở sản xuất ngành nghề ở nông thôn có quy
mô nhỏ do đó các cơ sở luôn có nhu cầu lớn hỗ trợ sản xuất kinh doanh như đầuvào thông tin công nghệ, đào tạo và tín dụng
- Về nguồn nhân lực và chủ sở hữu của các cơ sở Chủ sở hữu các cơ sởđóng vai trò quan trọng ra quyết định và điều hành sản xuất kinh doanh ảnhhưởng tới sự tồn tại phát triển toàn bộ hộ Thực tế hiện nay trình độ chuyênmôn của các chủ cơ sở và lao động trong hộ còn thấp cụ thể có 1.3% -1.6% số
hộ không biết chữ, 68%- 76% chủ hộ không có trình độ chuyên môn kĩ thuậtchưa qua trường lớp đào tạo nào, chỉ có 1.9%- 2,8% có trình độ đại học, caođẳng Chủ cơ sở là nam chiếm tỷ lệ đa số, nữ chỉ chiếm 3,8%- 5.9%.Quy mô laođộng bình quân của hộ ngành nghề từ 3 đến 5 người chiếm đa số, lao động thuêngoài ít
- Về cơ sở vật chất kĩ thuật và vốn, nhìn chung các hộ ngành nghề cònthiếu,yếu, kém; phần lớn sử dụng ngay nhà mình cho sản xuất kinh doanh Số cơ
Trang 15sở sử dụng điện cho sản xuất chiếm 81.6% hộ cơ sở ngành nghề nguyên nhân
do giá điện ảnh hưởng tới giá thành sản phẩm sản xuất ra Phần lớn công nghệcác hộ sử dụng là thô sơ giản đơn, trình độ cơ khí hoá còn thấp, vì vậy mà sảnphẩm làm ra giá trị thấp mẫu mã không đa dạng khả năng vươn xa thị trườngkém
- Hiện nay, vốn của các hộ các cơ sở ngành nghề nông thôn còn nhỏ, phầnlớn các cơ sở sản xuất thiếu vốn để nâng cao chất lượng sản phẩm và mở rộngsản xuất kinh doanh Theo kết quả điều tra ngành nghề nông thôn năm 1997 củaCục chế biến lâm sản và ngành nghề nông thôn cho thấy: ổ hộ chuyên ngànhnghề có vốn sản xuất bình quân là 25.73 triệu đồng( bằng 3.67%) trong đó vốn
cố định chiếm tỷ lệ 57.2%; về quy mô vốn có tới 86.81% số hộ có vốn dưới 50triệu đồng, trong đó lại có 37.66% số hộ có vốn dưới 10 triệu; bình quân vốnđầu tư cho một lao động thường xuyên ở hộ chuyên là 7.75 triệu đồng Còn đốivới hộ kiêm, vốn sản xuất bình quân là16.10 triệu đồng, trong đó 11.3 triệu đồngđược dùng cho sản xuất phi nông nghiệp, bình quân vốn đầu tư cho một laođộng là 5.07 triệu đồng
- Về lĩnh vực hoạt động: tiểu thủ công nghiệp – công nghiệp nông thôntồn tại ở nhiều dạng ngành nghề khác nhau như: công nghiệp chế biến, dệt, maymặc, gốm sứ mỹ nghệ, mộc, cơ khí nông thôn…
Đối với công nghiệp chế biến có mặt ở hầu khắp các vùng, hoạt độngdưới nhiều hình thức và nội dung khác nhau Trong đó có nhiều hoạt động mangtính truyền thống như làm bún, bánh đa nấu rượu…và nhiều hoạt động mangtính hiện đại như chế biến phục vụ xuất khẩu…
Trong ngành dệt, may mặc và thêu ren…là những ngành thu hút tươngđối nhiều lao động nữ; có nhiều hoạt động mang tính truyền thống, tính lịch sửlâu đời như dệt lụa ở Hà Đông, dệt vải ở Thái Bình, Nam Định, Bắc Ninh,BắcGiang…riêng may mặc là một ngành khá phát triển cùng với nhu cầu ngày càngcao của xã hội có ở khắp các vùng quê nông thôn
Trong nghề gốm sứ, trạm trổ, mỹ nghệ…đây là các ngành chủ yếu phục
vụ xuất khẩu và có yêu cầu kỹ thuật đối với sản phẩm tương đối cao vì thế mà
Trang 16nó phát triển chủ yếu ở những làng nghề truyền thống như ở Bình Dương, BátTràng, Đồng Nai…
Ngành cơ khí nông thôn, ngành này đã phát triển khá mạnh ở nhiều thờiđiểm khác nhau và phát triển mạnh mẽ nhất ở Nam Định, Bắc Ninh,Thanh Hoá,
Hà Tây,…
Với thực trạng phát triển tiểu thủ công nghiệp, công nghiệp nông thônhiện nay còn thấp kém cả về số lượng và chất lượng các ngành nghề Do vậyĐảng và Nhà nước cần có những chính sách khuyến khích phát triển sản xuấtđối với từng vùng cụ thể; để mở rộng quy mô lĩnh vực sản xuất, tận dụng lợi thếcủa mỗi vùng góp phần cải thiện và nâng cao đời sống nhân dân vùng nông thôntrong thời gian tới
1.8 Hệ chỉ tiêu được sử dụng trong nghiên cứu thực trạng phát triển ngành nghề trong các hộ nông dân trên địa bàn xã Liêm Chính - thị xã Phủ Lý - tỉnh Hà Nam
a Hệ thống các chỉ tiêu phân tích đặc điểm địa bàn xã Liêm Chính- thị
xã Phủ Lý- tỉnh Hà Nam: Mật độ dân số, nhân khẩu/ hộ, lao động/ hộ ngành
nghề, lao động/ hộ, đất canh tác/ hộ phi nông nghiệp, lao động phi nông nghiệp/hộ…
b Hệ thống các chỉ tiêu dùng để phân tích sự tham gia làm ngành nghề trong các hộ trên địa bàn xã Liêm Chính- thị xã Phủ Lý- tỉnh Hà Nam: tỷ lệ
hộ có ngành nghề, tỷ lệ hộ sản xuất công nghiệp- xây dựng, tỷ lệ hộ kiêm, tỷ lệ
hộ chế biến nông sản( hộ làm đậu phụ, nấu rượu, làm bánh )/ hộ ngành nghề, tỷ
lệ hộ buôn bán/ hộ ngành nghề
c Hệ thống các chỉ tiêu dùng để phân tích hiện trạng cơ sở vật chất kĩ thuật, điều kiện sản xuất kinh doanh, đầu vào của hộ ngành nghề trên địa bàn xã Liêm Chính- thị xã Phủ Lý- tỉnh Hà Nam: tỷ lệ nhà xưởng kiên cố,
diện tích sử dụng bình quân ở mỗi hộ ngành nghề, bình quân vốn/ hộ ngànhnghề, số lao động thường xuyên/ hộ ngành nghề, tỷ lệ chủ hộ qua đào tạo…
d Hệ thống các chỉ tiêu dùng để phân tích kết quả sản xuất kinh doanh
và tiêu thụ sản phẩm trong các hộ ngành nghề trên địa bàn xã Liêm
Trang 17Chính-thị xã Phủ Lý- tỉnh Hà Nam: tổng giá trị sản phẩm sản xuất bình quân 1 hộ/
năm, tổng giá trị sản phẩm tiêu thụ bình quân 1 hộ/ năm, giá trị sản phẩm sảnxuất bình quân trong năm/ 1 lao động, tỷ lệ sản phẩm tiêu thụ/ sản phẩm sảnxuất ra
e Hệ thống các chỉ tiêu dùng để phân tích hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của các hộ ngành nghề trên địa bàn xã Liêm Chính- thị xã Phủ Lý- tỉnh Hà Nam:giá trị tăng thêm tạo ra trong năm tính bình quân trong 1
hộ, giá trị tăng thêm tính bình quân cho 1 lao động thường xuyên, thu nhậptrong năm tính bình quân cho 1 hộ, tỷ suất thu nhập / 1 đồng chi phí, thu nhậpbình quân trong năm tính cho 1 lao động thường xuyên
f Hệ thống các chỉ tiêu dùng để so sánh ngành nghề hộ nông dân trên
địa bàn xã Liêm Chính- thị xã Phủ Lý - tỉnh Hà Nam với xã Liêm huyện Thanh Liêm- tỉnh Hà Nam:khoảng cách thu nhập bình quân 1 hộ ở xã
Tuyền-Liêm Chính so với xã Tuyền-Liêm Tuyền, tỷ lệ hộ giàu của xã Tuyền-Liêm Chính so với xãLiêm Tuyền, tỷ lệ hộ nghèo của xã Liêm Chính so với xã Liêm Tuyền
g Hệ thống chỉ tiêu dùng để phân tích tác động của ngành nghề tới kinh tế- xã hội - môi trường trên địa bàn xã Liêm Chính- thị xã Phủ Lý- tỉnh
Hà Nam: tỷ lệ hộ ngành nghề gây ảnh hưởng xấu tới đất tới nước, tỷ lệ hộ nhận
thêm lao động thuê ngoài, tỷ lệ hộ ngành nghề giàu( trung bình, khá, nghèo) sovới hộ trong xã, tỷ lệ hộ đóng góp đáng kể cho kinh tế địa phương
k Hệ thống chỉ tiêu dùng để đánh giá những khó khăn và kiến nghị của
hộ ngành nghề trên địa bàn xã Liêm Chính- thị xã Phủ Lý- tỉnh Hà Nam: tỷ lệ
không có khó khăn, tỷ lệ có khó khăn về vốn ( lao động, nhà xưởng, kinhnghiệm quản lí)
CHƯƠNG II ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Trang 181 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
1.1 Điều kiện tự nhiên
Xã Liêm Chính nằm ở phía Đông Nam thuộc địa giới hành chính của thị
xã Phủ Lý – Tỉnh Hà Nam, xã được thành lập sau khi chia cắt xã Thanh Giang –huyện Thanh Liêm thành xã Liêm Chung và xã Liêm Chính Phía Đông giáp với
xã Liêm Tuyền thuộc huyện Thanh Liêm, phía nam giáp với xã Liêm Chung,phía Bắc xã ngăn cách huyện Duy Tiên bởi con sông Châu Giang chạy dài gần 8
km, phía Tây giáp với phường Hai Bà Trưng và phường Trần Hưng Đạo thuộcthị xã Phủ Lý – tỉnh Hà Nam Toàn xã có ba thôn gồm Thá, Mễ Thượng, MễNội, trước kia có cả thôn Bảo Thôn nhưng mới được chia cắt nhập vào phườngTrần Hưng Đạo Tính từ uỷ ban xã tới trung tâm tỉnh Hà Nam chỉ chừng hơn 2
km lại có con đường 62 nối Phủ Lý –huyện Thanh Liêm – huyện Lý Nhân chạyqua hai thôn Mễ Nội, Mễ Thượng, trong các thôn đều có con đường liên xã chạyqua, mạng lưới giao thông được bê tông hoá nhựa hoá tạo điều kiện tốt cho hànghoá lưu thông, con người qua lại dễ dàng kích thích sự phát triển các hoạt độngbuôn bán dịch vụ trao đổi hàng hoá Xã lại có con sông Châu Giang ngăn cáchchạy dài suốt chiều dài hai thôn Mễ được thông với con sông Đáy nên giaothông vận tải bằng đường thuỷ cũng rất thuận lợi giữa xã với các địa phươngkhác trong và ngoài tỉnh.Được nằm ngay trên trung tâm kinh tế văn hoá xã hộicủa tỉnh Hà Nam, nơi có thị trường tiêu dùng rộng lớn, có khả năng thanh toáncao ở tất cả các mặt hàng từ hàng hoá nông nghiệp tới các mặt hàng côngnghiệp, dịch vụ nên địa phương có nhiều thuận lợi để phát triển nền sản xuất đangành cung cấp cho thị trường trong và ngoài xã Lợi thế về thị trường đem lại
là rất lớn, giúp cho hàng hoá sản xuất trong xã được tiêu thụ phần lớn là ở trongthị xã Phủ Lý, lại có ưu điểm chi phí vận chuyển nhỏ khả năng tiếp cận thịtrường nhanh, đã tạo điều kiện tốt cho phát triển ngành nghề trong hộ nông dânnói riêng cho toàn xã Liêm Chính nói chung
1.2 Điều kiện kinh tế xã hội
1.2.1 Tình hình đất đai
Trang 19Tình hình đất đai của xã Liêm Chính – thị xã Phủ Lý – tỉnh Hà Nam đượcthể hiện qua biểu 1.
Biểu 1: Tình hình sử dụng đất đai ở xã Liêm Chính - thị xã Phủ Lý - tỉnh
Hà Nam qua ba năm (2001- 2003)
Chỉ tiêu
Năm 2001 Năm 2002 Năm2003 So sánh (%)
Số lượng
Cơ cấu(%)
Số lượng
Cơ cấu(%)
Số lượng
(Nguồn số liệu: Ban thông kê xã Liêm Chính)
Tổng diện tích đất tự nhiên của xã Liêm Chính là 332.4 ha trong đó diệntích đất nông nghiệp chiếm đa số tới 226.7 ha chiếm 68.23% tổng diện tích đấtcủa xã năm 2003 Đất nông nghiệp ngày càng giảm do áp lực tăng dân số làmnhu cầu về nhà ở của người dân tăng lên, hơn nữa quá trình đô thị hoá mở rộngthị xã Phủ Lý cũng là nhân tố làm giảm đất nông nghiệp Bình quân mỗi năm
Trang 20diện tích đất nông nghiệp giảm 3.07 % Như vậy đất nông nghiệp vốn rất nhỏtrên một khẩu chỉ có chưa đến 300 m2/ khẩu, gắn bó với nông nghiệp truyềnthống thì không thể thì các hộ nông dân trên xã phải làm gì để phát triển kinh tế
hộ gia đình mình Chỉ có tham gia làm ngành nghề phi nông nghiệp mới giảiquyết được vấn đề trên, và thực tế đây là xu thế đang diễn ra trong hộ nông dân
ở Liêm Chính, hộ nông nghiệp ngày càng giảm, hộ ngành nghề ngày càng chiếm
số đông Nhu cầu đất ở ngày càng tăng, trung bình mỗi năm tăng 6.93 % chiếm10.56% tổng diện tích tự nhiên của xã đạt mức độ 297 m2 một hộ Tương lai nhucầu về nhà ở ngày tăng và trở thành mối lo cho chính quyền xã Trong diện tíchđất của xã, đất chuyên dùng ngày càng tăng, nguyên nhân do địa phương đangthực hiện đầu tư trọng tâm vào các dự án phát triển cơ sở hạ tầng mở rộng thị xãPhủ Lý đã được hội đồng nhân dân các cấp thông qua năm 2002, hệ thống giaothông là ưu tiên hàng đầu đang được hoàn thiện ở xã, dự kiến Liêm Chính sẽ cóđường 62 mới chạy qua thay thế đường cũ tạo điều kiện cho giao lưu vậnchuyển hàng hoá và đáp ứng nhu cầu đi lại của người dân trong tỉnh, mongmuốn của lãnh đạo địa phương là khi hệ thóng giao thông hoàn thiện đồng bộ sẽtạo cơ hội cho kinh tế địa phương phát triển mạnh hơn nữa
Trong cơ cấu diện tích đất tự nhiên của xã Liêm Chính có phần đất đầmvực được tạo ra do quá trình vỡ đê hình thành đầm, tương lai đây là một khusinh thái dịch vụ giải trí của thị xã Phủ Lý
1.2.2 Tình hình dân số và lao động
Lao động là một yếu tố cực kì quan trọng đối với bất kì một nền sản xuấtnào, quy mô cơ cấu cùng với chất lượng lao động góp phần quyết định vị thếcủa nền sản xuất đó trong cơ cấu kinh tế tổng thể.Chính vì thế mà khi nghiêncứu tình hình phát triển ngành nghề hộ nông dân ta cũng phải xem xét tình hìnhlao động và nhân khẩu của địa phương.Tình hình dân số và lao động của xãLiêm Chính được thể hiện qua biểu 2
Trang 21Biểu 2: Tình hình dân số và lao động của xã Liêm Chính – thị xã Phủ Lý – tỉnh Hà Nam qua ba năm (2001-2003)
Cơ cấu(%) 02/01 03/02 BQ
1 Hộ thuần nông nghiệp 186 16.09 170 14.53 153 12.97 91.40 90.00 90.70
2 Hộ phi nông nghiệp 970 83.91 1000 85.47 1027 87.03 103.09 102.70 102.90
1 Khẩu thuần nông nghiệp 1250 30.50 1225 29.61 1173 28.02 98.00 95.76 96.87
2 Khẩu phi nông nghiệp 2848 69.50 2913 70.41 3014 71.98 102.28 103.47 102.87
1 LĐ thuần nông nghiệp 502 21.01 475 19.78 424 17.50 94.62 89.26 91.90
2 LĐ phi nông nghiệp 1887 78.99 1926 80.22 1999 82.50 102.07 103.79 102.92
IV Các chỉ tiêu đánh giá
Nguồn số liệu: Ban thống kê xã Liêm Chính
Trang 22Xã Liêm Chính cũng như nhiều xã khác xung quanh trong tỉnh Hà Namđược xem là xã đất chật người đông, dân số hàng năm vẫn tăng lên Qua ba năm
số nhân khẩu của xã tăng 1.08 % đến năm 2003 đã có 4187 nhân khẩu Số hộcũng không ngừng tăng lên năm 2003 có 1180 hộ nông dân trên toàn xã tăngmỗi năm là 1.03 % Xét về cơ cấu dân số, cơ cấu hộ theo ngành nghề hiện nay ởđịa phương thì trong ba năm số nhân khẩu thuần nông nghiệp luôn chiến tỷtrọng thấp nhưng ngày càng giảm: năm 2003 khẩu thuần nông chỉ chiếm 28.02
% mỗi năm giảm 3.13 % ngược lại khẩu phi nông nghiệp không ngừng tăng lên
và chiếm chủ yếu trong cơ cấu của xã, qua ba năm khẩu phi nông nghiệp tăngtrung bình 2.87 % đạt 71.98% năm 2003 Cơ cấu khẩu thay đổi là xuất phát từ
sự chuyển dịch ngành nghề từ các hộ nông dân trong xã: hộ nông dân đangchuyển từ làm nông nghiệp truyền thống sang làm ngành nghề có thu nhập caohơn cho hộ Xét về cơ cấu lao động, cũng giống như cơ cấu hộ, cơ cấu khẩu, laođộng ngành nghề phi nông nghiệp vẫy chiếm đa số trong lực lượng lao độngnhững diều đó chứng tỏ ngành nghề là sự lựa chọn của hầu hết hộ nông dântrong xã và kinh tế ngành nghề ngày càng có vai trò quan trọng đối với sự pháttriển của hộ, của địa phương
1.2.3 Cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất và đời sống
Cơ sở hạ tầng phục vụ cho sản xuất,đời sống nhân dân trong xã LiêmChính – thị xã Phủ Lý – tỉnh Hà Nam được thể hiện qua biểu 3
Trong những năm qua cơ sở vật chất, hạ tầng kĩ thuật ở xã Liêm Chínhđược đầu tư phát triển hoàn thiện không ngừng và đạt được những kết quả sau:
Về hệ thống đường giao thông trong xã: mạng lưới giao thông trong xãdày đặc chất lượng tốt, đường liên xóm đã được bê tông hoá từ 5 năm nay,đường liên thôn liên huyện được nhựa hoá gắn kết chặt chẽ với mạng lưới giaothông của các xã xung quanh, hai con đường trục chính dẫn vào nội thị đã được
mở rộng nâng cấp thành con đường tốt nhất của xã phục vụ đắc lực cho vậnchuyển hàng hoá cho đi lại của người dân với nội thị
Trang 23Biểu 3: Tình hình cơ sở vật chất kĩ thuật của xã Liêm Chính – thị xã
Phủ Lý – tỉnh Hà Nam qua ba năm (2001- 2003)
I Công trình thuỷ lợi
II Côn g trình giao thông
IV Tài sản cố định khác
V.Công trình phúc lợi
(Nguồn số liệu: Ban thống kê xã Liêm Chính)
Về hệ thống điện, thông tin liên lạc trong xã: hiện tại mạng lưới điệntrong xã dày đặc với mạng lưới điện cao thế hạ thế, điện đã phủ hoàn toàn tớicác ngõ xóm trong xã, mỗi thôn có một trạm biến luôn cung cấp đầu đủ nhu cầuđiện phục vụ cho sản xuất, cho đời sống nhân dân, không còn tình trạng thiếuđiện ngai cả trong giờ cao điểm Xã đã được trang bị hệ thống thông tin, loa đài
Trang 24phát thanh công cộng từ lâu, hàng ngày chuyển tải cho nhân dân xã nhiều thôngtin bổ ích tạo điều kiện nâng cao sự hiểu biết cho người dân trong xã Mạngđiện thoại cũng đang được phủ rộng tới các xóm làng đến nay đã có 26 kmđường dây điện thoại và hàng năm số thuê bao tăng tới 28%, điều đó chứng tỏnhu cầu sống của nhiều hộ dân trong xã đã được nâng cao.
Tốc độ phát triển, tốc độ đô thị hoá nông thôn cũng đang diễn ra nhanh ởLiêm Chính Năm năm gần đây xã đã được đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng mộtcách toàn diện, trường học nhà trẻ được đầu tư xây dựng, bệnh viện lao cũng đãhoàn thành đưa vào sử dụng không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống ngườidân Ba thôn với ba chợ nhỏ cũng đã được chính quyền đầu tư xây dựng tạo điềukiện tốt cho nhu cầu mua bán trao đổi hàng hoá
2 Phương pháp nghiên cứu
2.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu
Vấn đề đặt ra khi nghiên cứu thực trạng phát triển ngành nghề trong các
hộ nông dân trên địa bàn xã Liêm Chính- thị xã Phủ Lý- tỉnh Hà Nam là phảiđánh giá một cách khách quan đầy đủ và cụ thể các ngành nghề công nghiệp,tiểu thủ công nghiệp, chế biến nông sản, kinh doanh dịch vụ mà các hộ nông dântrong xã tổ chức; như vậy bước đầu chọn điểm nghiên cứu là việc làm rất quantrọng để từ các số liệu thu thập được qua điều tra có thể đánh giá được vấn đềquan tâm
Việc chọn điểm nghiên cứu được tiến hành như sau: xã Liêm Chính với
ba thôn hình thành bởi các xóm nhỏ, trong thôn Thá với 3 xóm các xóm liền kềnhau tôi tiến hành điều tra các hộ trong xóm đầu làng do ở xóm này hộ có ngànhnghề nhiều xóm này tôi sẽ điều tra 50% hộ trong xóm, nhiều hộ thuần nông kinh
tế chậm phát triển tôi sẽ điều tra các hộ không ngành nghề trong xóm này; thôn
Mễ Nội với 4 xóm (vực, dốc Mễ, trại giam, bệnh viện) tôi chọn xóm dốc Mễ đểđiều tra vì xóm này có thuận lợi khi nằm ở khu vực có nhiều người qua lại xómnằm trên ngã ba đường liên xã với đường trục 62 của tỉnh nên nhiều hộ kinhdoanh dịch vụ làm cơ khí, xóm dốc Mễ tôi tiến hành điều tra ở 50% hộ trongxóm và các hộ không ngành nghề; thôn Mễ Thượng giáp với phường Trần Hưng
Trang 25Đạo lại có địa giới nhỏ ít hộ thuần nông nên tôi tiến hành điều tra thu thập sốliệu ở 40 hộ ngành nghề.
Để thấy được vai trò kinh tế ngành nghề mà các hộ nông dân trên địa bàn
xã thực hiện ảnh hưởng thế nào tới kinh tế- đời sống bản thân hộ và tới địaphương tôi cũng tiến hành điều tra ngành nghề của xã bên cạnh xã Liêm Chính
là xã Liêm Tuyền- thuộc huyện Thanh Liêm- tỉnh Hà Nam để so sánh với tất cảcác vấn đề như khi điều tra ở xã Liêm Chính Tôi cũng chọn ở xã Liêm Tuyềnmột xóm gần xã Liêm Chính để điều tra.Tôi tiến hành điều tra ở 50% hộ trongxóm đó
2.2 Phương pháp thu thập số liệu mới
2.2.1 Số liệu ở cấp hộ
Các hộ ngành nghề được điều tra tôi thu thập số liệu qua phỏng vấn trựctiếp các thành viên của hộ đặc biệt là từ chủ hộ theo phương pháp PRA với mẫuđiều tra1
Các hộ không ngành nghề tôi tiến hành thu thập số liệu cũng qua phỏngvấn trực tiếp các hộ theo phương pháp như trên bằng mẫu điều tra 2
Mẫu điều tra được tôi sử dụng khi thu thập số liệu mới từ các hộ ngànhnghề, thông tin từ hộ không ngành nghề được sử dụng cho so sánh giữa hộngành nghề và hộ không ngành nghề xem có gì khác biệt về kinh tế, điều kiệnsống…để nói lên vị trí vai trò của ngành nghề ảnh hưởng mức độ nào trong pháttriển kinh tế hộ, kinh tế địa phương và các mặt khác về văn hoá- xã hội- môitrường Số liệu mới từ hộ thu được qua phỏng vấn trực tiếp hộ điều nhằm cócác thông tin sau:
- Đặc điểm của các chủ hộ, các thành viên trong hộ ngành nghề về trình
độ chuyên môn, kiến thức, sự hiểu biết ở mức độ nào
- Đặc điểm khái quát của hộ nói lên vấn đề gì?
- Thông tin tình hình về hộ ngành nghề với điều kiện cơ sở vật chất kĩthuật, đầu vào ra sao?
Trang 26- Tình hình sản xuất kinh doanh dịch vụ trong các hộ ngành nghề đượccác hộ tổ chức ra sao?, thực trạng phát triển ngành nghề trong hộ qua các nămnhư thế nào?
- Tác động của hộ ngành nghề tới những mặt kinh tế- xã hội- môi trườngbiểu hiện ra sao?
- Những ý kiến muốn đề đạt của chủ hộ là những vấn đề gì ?
Như vậy qua chọn điểm nghiên cứu là các hộ ngành nghề, các hộ khôngngành nghề tôi thu thập số liệu mới từ phỏng vấn trực tiếp chính các thành viêntrong hộ được điều tra qua mẫu điều tra ở hộ trong các xóm điều tra, 40 hộngành nghề Mễ Thượng, Mễ Nội là xóm dốc Mễ 50% số hộ trong xóm và các
hộ không ngành nghề xóm dốc Mễ, Thá là xóm đầu làng như xóm dốc Mễ).Vấn
đề đặt ra là thông tin có được từ các thành viên trong hộ phải mang tính kháchquan đó là số liệu tổng hợp về kinh tế xã - kinh tế ngành nghề do Uỷ ban nhândân xã thực hiện hàng năm phải khớp với số liệu thu thập từ hộ điều tra trong đónói lên cơ cấu ngành nghề, ngành nghề nào là quan trọng nhất trong số cácngành nghề hộ tham gia, giá trị sản lượng đem lại từ ngành nghề cũng phải khớpkhi tổng hợp phân tích hoá ở các hộ ngành nghề điều tra cho toàn xã, để đạtđược điều này trước tiên tôi phải căn cứ vào các báo cáo thường kì hay các báocáo tổng hợp các giai đoạn của chính lãnh đạo xã để lấy căn cứ điều tra baonhiêu hộ, ngành nghề riêng biệt là bao nhiêu, điều tra ở những xóm nào trongcác thôn trên xã
Số liệu mới này vừa phản ánh được đặc điểm kinh tế địa phương, cụ thểnhư thực trạng phát triển ngành nghề, về vai trò của ngành nghề trong vấn đềphát triển kinh tế địa phương giải quyết công ăn việc làm, cải thiện đời sốngnhân dân trên xã; về chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo xu hướng công nghiệp hoáhiện đại hoá; số liệu cũng phải nói lên tác động của ngành nghề tới các mặt kinhtế- xã hội- môi trường; phải thấy được sự khác biệt giữa kinh tế ngành nghề vớikinh tế thuần nông ở cấp độ nào Các số liệu này có phản ánh thực tế khách quantình hình phát triển ngành nghề thì mới lấy đó làm cơ sở tin cậy trong việc bước
Trang 27đầu đề ra một số giải pháp tháo gỡ những khó khăn vướng mắc phản hồi từthông tin thu thập những hộ được phỏng vấn.
2.2.2 Số liệu ở cấp xã, thôn
Để có cái nhìn bao quát khi nghiên cứu ngành nghề trên địa bàn xã LiêmChính bước đầu tôi phải tiến hành gặp gỡ trao đổi xin phép ý kiến về nội dungcũng như phạm vi mục tiêu tôi đến địa phương thực tập tốt nghiệp ; tôi tiếnhành phỏng vấn trực tiếp chán bộ lãnh đạo xã, thôn để cho thông tin về nhữngvấn đề sau: thôn và xã có những nghành nghề nào mà hộ nông dân trên xã hay tổchức thực hiện trừ nông nghiệp, trong số những ngành nghề này ngành nghề nàophổ biến hay gặp trong các hộ trên địa bàn thôn và xã, quy mô và mức độ pháttriển của các ngành nghề được ghi trong các báo cáo định kì hàng năm Cũngqua những lần gặp gỡ phỏng vấn trao đổi mà tôi thấy trên địa bàn xã LiêmChính ngành nghề phổ biến trong các hộ nông dân là nghề chế biến nông sảnphân bố hầu khắp cả xã với các nghề như nấu rượu, làm đậu, làm bún, làmmộc…,chạy dọc theo các tuyến đường liên xã liên thôn liên tỉnh các hộ nôngdân buôn bán làm dịch vụ cho đầu vào cho sản xuất, làm dịch vụ cho nhu cầuthường ngày của con người Các hộ kinh doanh dịch vụ phát triển khá nhanhtrong những năm trở lại đây với quy mô ngày càng được mở rộng trong các hộ,nhiều hộ làm đầu mối cho cung cấp thức ăn gia súc gia cầm, cung cấp vật tưnông nghiệp đầu vào cho sản xuất nông nghiệp về phân bón, thuốc trừ sâu, nông
cụ, máy tuốt lúa… Riêng ngành nghề công nghiệp- tiểu thủ công nghiệp tậptrung ở các hộ có kinh tế khá giả chủ hộ mạnh bạo có đầu óc kinh doanh do vốnđầu tư ban đầu khá lớn như nghề chế tạo cửa sắt, công cụ tiêu dùng, chế tạo máytuốt lúa đạp chân…, nghề sửa chữa máy móc cũng khá nhiều chủ yếu sửa chữa
xe máy ôtô trên trục đường tỉnh lộ,nghề may cũng mới được vài hộ tổ chức quy
mô lớn còn đa phần là may đơn lẻ gia đình
2.3 Thu thập số liệu đã công bố
Số liệu mới tuy chi tiết nhưng vẫn chưa đủ để có cái nhìn khách quan vềthực trạng phát triển ngành nghề nông thôn ở các cấp độ vùng và trên thế giới,
độ đặc biệt là ở Việt Nam trong những năm trở lại đây Muốn đề đạt một số giải
Trang 28pháp cơ bản tác động làm phát triển ngành nghề nông thôn trên địa bàn xã LiêmChính thì phải dựa vào đâu làm căn cứ có cơ sở khoa học nhất có độ tin cậynhất.Những vấn đề trên được tôi giải quyết khi tiến hành nghiên cứu thực hiện
đề tài qua các tài liệu đã công bố trên các phương tiện thông tin đại chúng nhưqua sách báo, ấn phẩm định kì, các báo cáo tốt nghiệp, báo cáo tổng kết, cácnghiên cứu có liên quan vấn đề ngành nghề nông thôn Qua báo cáo kết quả điềutra ngành nghề nông thôn năm 1997 do bộ nông nghiệp tổ chức, cũng qua cuốnsách từ điển phổ thông ngành nghề truyền thống Việt Nam…, cho thấy cái nhìntổng quan tình hình phát triển ngành nghề ở các địa phương trên cả nước thờigian gần đây về cơ cấu các ngành nghề, quy mô mức độ ngành nghề trên cácmặt từ đầu vào các yếu tố sản xuất kinh doanh tới kết quả sản xuất kinh doanhngành nghề Các tài liệu nói về kinh nghiệm phát triển ngành nghề nông thôncũng là các tài liệu rất hữu ích giúp nghiên cứu sâu hơn ván đề phát triển ngànhnghề nông thôn Cũng qua các tài liệu đã công bố này tôi tham khảo một số giảipháp mà các chuyên gia các nhà khoa học đã đưa ra áp dụng cho địa phương để
có thể bước đầu đưa ra các giải pháp có cơ sở về phát triển ngành nghề trong các
hộ nông dân trên địa bàn xã Liêm Chính- thị xã Phủ Lý- tỉnh Hà Nam
2.4 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu
Phân tích là giai đoạn cuối cùng của quá trình nghiên cứu, nó biểu hiệntập trung kết quả của toàn bộ quá trình nghiên cứu Do vậy việc phân tích có ýnghĩa hết sức quan trọng đối với đề tài nghiên cứu.Để tổng hợp và hệ thống hoátài liệu thu được khi điều tra thu thập chúng tôi căn cứ vào phương pháp thống
kê kinh tế nhằm mục đích phân tổ phân chia các ngành nghề riêng biệt, phânchia các đối tượng được nghiên cứu có cùng tiêu thức, nhằm phân tích sự biếnđộng theo thời gian của các ngành nghề ; thống kê cũng giúp tổng hợp các sốliệu định lượng thành các số liệu định tính nói lên bản chất hiện tượng tính quyluật và chiều hướng phát triển của nó.Tôi cũng dùng phương pháp so sánh khicác số liệu mới thu thập được từ kết quả điều tra các hộ trên địa bàn hai xãLiêm Chính và Liêm Tuyền để nói lên vai trò của ngành nghề ảnh hưởng tớinhững mặt nào về kinh tế- xã hội trên địa bàn xã Liêm Chính mà tôi tiến hành
Trang 29nghiên cứu Dựa vào đó tôi có thể hiểu biết sâu sắc hơn về hiện tượng nghiêncứu, có cơ sở khoa học trong việc đưa ra các giải pháp tối ưu nhằm phát triểncác ngành nghề trong hộ nông dân ở xã Liêm Chính - thị xã Phủ Lý – tỉnh HàNam.
Các số liệu thu thập được sẽ được đưa vào máy tính xử lý, phân tích
Trang 30CHƯƠNG III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
1 Thực trạng tình hình phát triển các ngành nghề ở các hộ nông dân trên địa bàn xã Liêm Chính - thị xã Phủ Lý – tỉnh Hà Nam
1.1 Thông tin chung về sự tham gia làm ngành nghề và cơ cấu ngành nghề
ở các hộ nông dân trên địa bàn xã Liêm Chính - thị xã Phủ Lý - tỉnh Hà Nam
Qua biểu 5 cho thấy trong số 169 hộ được điều tra ở ba xóm của ba thôntrên địa bàn xã Liêm Chính thì số hộ ngành nghề chiếm tỷ lệ rất cao là 87.57%với 148 hộ ngành nghề năm 2003, trong khi đó hộ thuần nông chỉ có 21 hộchiếm tỷ lệ 12.43% Tỷ lệ hộ ngành nghề được duy trì trên 80% qua ba năm cụthể năm 2001 là 84.02% với 142 hộ , năm 2002 là 85.8% với 145 hộ ngànhnghề,và năm 2003 tăng lên 87.57% với 148 hộ ngành nghề Mỗi năm số hộ thamgia làm ngành nghề lại tăng lên so với năm trước và đạt tốc độ tăng bình quânmỗi năm là 2.09% trong khi đó diện hộ thuần nông lại có xu hướng giảm nhanhqua các năm, trung bình giảm 11.81% Như vậy cơ cấu ngành kinh tế trong các
hộ nông dân có sự dịch chuyển tích cực theo hướng giảm dần vai trò của nôngnghiệp và tăng dần vị thế cũng như tầm quan trọng của ngành nghề trong việcphát triển kinh tế hộ và trở thành một chiều hướng cho sự phát triển nông thôntrên địa bàn xã Liêm Chính Qua điều tra, phỏng vấn trực tiếp các hộ, tiếp thu ýkiến của các thành viên trong hộ chúng tôi được biết hiện nay trong suy nghĩ củamọi người dân trong xã Liêm Chính thì nông nghiệp chỉ là thứ yếu, gắn bó vớinông nghiệp vừa vất vả lại có thu nhập thấp, hay xảy ra thiên tai mất mùa nêncác hộ nhận đất nông nghiệp sản xuất với mục đích chủ yếu là cung cấp tại chỗlương thực cho gia đình mình khỏi phải mua ngoài Đặc biệt hai năm gần đây doảnh hưởng của quá trình đô thị hóa nông thôn với nhiều dự án đang và sẽ đượcthực thi nhằm mở rộng thị xã Phủ Lý, tương lai không xa Liêm Chính sẽ là mộtnơi sầm uất với nhiều dự án công trình từ các khu giải trí vui chơi, bệnh viện,chợ trung tâm, và có tuyến đường liên tỉnh chạy qua; do đó có tới 86 chủ hộ
Trang 31trong tổng số 169 hộ được điều tra cho hay họ nhận đất nông nghiệp một mặtvừa sản xuất lương thực chi dùng cho nhu cầu thiết yếu hàng ngày mặt khác họchờ cơ hội chính quyền có thu đất nông nghiệp phục vụ những dự án thì họ sẽđược đền bù ở mức cao như ở xã Châu Sơn cũng nằm trong địa phận thị xã Phỷ
Trang 32Tỷ lệ hộ dịch vụ / hộ ngành
Nguồn: Số liệu điều tra trực tiếp từ các hộ nông dân xã
Cách đây 4 năm về trước Chính suy nghĩ đó mà hầu hết hộ nông dânkhông mặn mà đầu tư phát triển sản xuất nông nghiệp và cơ hội cho hộ pháttriển kinh tế tốt đó là phát triển các ngành nghề phi nông nghiệp
Trong số các hộ ngành nghề trong tổnh số 169 hộ được điều tra ở xãLiêm Chính cho thấy hộ làm dịch vụ luôn chiếm số đông so với các hộ làm chếbiến nông sản thực phẩm và làm công nghiệp- xây dựng- vận tải, qua ba năm số
hộ làm dịch vụ lần lượt là 59 hộ trong số 142 hộ ngành nghề chiếm tỷ lệ 41.55%năm 2001, 62 hộ trong số 145 hộ chiếm tỷ lệ 42.76% năm 2002, 67 hộ chiếm tỷ
lệ 45,27% năm 2003, trung bình mỗi năm có 4 hộ tham gia thêm vào làm dịch
vụ đạt tốc độ tăng hàng năm là 6.56% , sự tăng này xuất phát từ nhiều nguyênnhân: thứ nhất đó là xã Liêm Chính có lợi thế cực kỳ thuận lợi được nằm trênnhiều trục đường giao thông quan trọng có lưu lượng người qua lại rất lớn, trongkhi đó xã lại nằm không xa trung tâm thị xã Phủ Lý nơi giao lưu kinh tế văn hóacủa tỉnh Hà Nam đó là cơ hội cực kì tốt cho phát triển kinh tế dịch vụ, ngoàinhững yếu tố trên thì sức hút của quá trình đô thị hóa, áp lực của giảm nhanh đấtnông nghiệp trong mấy năm gần đây đã tạo đà cho nghề dịch vụ được nhiều hộlàm Thực tế điều tra cho thấy các hộ nằm trên trục đường 62 liên huyện đềutham gia làm dịch vụ với hình thức mở cửa hiệu bán hàng từ các hàng thôngdụng hàng ngày phục vụ nhu cầu sống còn có các dịch vụ cung cấp đầu vào nhưphân bón, thuốc, thức ăn gia súc phục vụ sản xuất nông nghiệp đến các dịch
vụ rửa xe, sửa xe, dịch vụ cho thuê phông bạt bàn ghế phục vụ các tiệc cưới lễnghi Dịch vụ bán hàng khá phát triển về quy mô và giá trị dịch vụ, năm 2002 có
22 hộ bán hàng thì năm 2003 có 23 hộ tham gia tăng thêm 1 hộ đạt tỷ lệ 4.54 %trong số các hộ dịch vụ Hộ buôn bán chiếm tỷ lệ cao trong nhóm hộ dịch vụ với
25 hộ năm 2003 chiếm tỷ lệ 37.31% với hình thức hộ mua hàng hóa từ các đầumối giá rẻ rồi bán buôn hay bán lẻ cho khách hàng ở thị xã Phủ Lý , chênh lệchgiá đảm bảo lợi nhuận thu được cho các hộ này, mặt hàng mà hộ buôn bán chủyếu là các hàng hóa nông sản, thực phẩm như: Gà,cá,lợn , rau quả Ngoài dịch
Trang 33vụ buôn bán, mở cửa hiệu bán hàng nhiều hộ còn tham gia làm dịch vụ đầu vàocho ngành sản xuất công nghiệp, nông nghiệp Có 11 hộ làm dịch vụ tổng hợpvừa bán hàng vừa kiêm dịch vụ buôn bán, dịch vụ đầu vào.
Các hộ tham gia làm công nghiệp - xây dựng - vận tải cũng chiếm một tỷ
lệ khá lớn, chiếm 29.05% trong các hộ ngành nghề, cụ thể: Năm 2001 có 41 hộtham gia, chiếm tỷ lệ 28.87%, năm 2002 có 42 hộ, chiếm 28.97%, năm 2003 có
43 hộ Qua các năm tốc độ tăng đạt 2.41% Tong số đó hộ làm vận tải có tốc độtăng trưởng cao nhất, bình quân mỗi năm là 8.01%, cũng là nhóm hộ chiếm đa
số trong các hộ công nghiệp - xây dựng - vận tải, tới 32.56% với 14 hộ làm vậntải Hình thức vận tải đó là: hộ sử dụng xe của mình thực hiện vận chuyển hànghóa,vận chuyển khách Ngoài ra có những hộ còn làm cơ khí, gò hàn, gia côngchế tạo, lắp đặt khung cửa, các tiện nghi phục vụ đời sống và sản xuất, nhómnày có 5 hộ chiếm tỷ lệ 11,63 % , tỷ lệ này tuy nhỏ nhưng nó phản ánh sự lựachọn đa dạng cho phát triển kinh tế hộ, cũng phản ánh thực tế nhiều hộ đã cótiềm lực vốn lớn đủ khả năng tham gia sản xuất các mặt hàng có giá trị cao nhưhàng công nghiệp Nghề may thêu cũng được nhiều hộ chọn để phát triển kinh
tế, với 9 hộ trong tổng số 169 hộ ngành nghề điều tra, phần lớn hộ mở cửa hiệumay phục vụ nhu cầu của dân, có hai hộ may có quy mô lớn chuyên sản xuấthàng may theo các hợp đồng may với số lượng lớn cho các tổ chức, cá nhân haycông ty.Ngoài vận tải, cơ khí, may, có nhiều hộ còn tham gia sản xuất gạch xâydựng, sản xuất khô mỡ, bật chăn bông, đúc xoong nồi, số này có 15 hộ chiếm34.88%
Nghề chế biến nông sản thực phẩm trên địa bàn xã Liêm Chính cũng rất
đa dạng với các nghề: từ nghề mộc, nghề làm bún bánh, làm đậu phụ, nấu rượutới nghề sản xuất bánh kẹo Trong nhóm hộ này nhóm hộ làm đậu, nấu rượuchiếm số đông cụ thể: có 10 hộ nấu rượu, 12 hộ làm đậu năm 2003 chiếm57.9%, tuy nhiên xu hướng của nhóm hộ này giảm dần do những năm gần đâygiá đầu vào là nông sản lên xuống thất thường luôn ở mức cao làm giảm thunhập cho hộ, từ đó nhiều hộ chuyển đi làm nghề khác đem lại thu nhập cao hơn,trong số 169 hộ điều tra có 2 hộ sản xuất bánh kẹo từ cách đây 10 năm với quy
Trang 34mô gia đình , đây là hai hộ có mức thuê lao động nhiều nhất với 26 lao động làmthuê Nghề mộc, bún bánh truyền thống ở xã Liêm Chính vẫn được duy trì nhiềunăm nay, có 10 hộ trong nhóm này Một số hộ còn mở cửa hiệu xay xát lúa gạo,nghiền bột, tận dụng sản phẩm thừa phát triển chăn nuôi lợn, gà.
Như vậy qua biểu 6 ta thấy ngành nghề nông thôn trong các hộ nông dântrên địa bàn xã Liêm Chính rất đa dạng là sự lựa chọn của đa số hộ nông dân đểphát triển kinh tế gia đình mình, và nó có vai trò cực kì quan trọng đối với địaphương
1.2 Thông tin về chủ hộ ngành nghề và thực trạng cơ sở vật chất kĩ thuật điều kiện sản xuất kinh doanh của hộ ngành nghề trên địa bàn xã Liêm Chính - thị xã Phủ Lý - tỉnh Hà Nam
-1.2.1 Thông tin chung về chủ hộ ngành nghề trên địa bàn xã Liêm Chính - thị xã Phủ Lý – tỉnh Hà Nam
Việc ra quyết định sản xuất kinh doanh không phải ai khác đó chính là cácchủ hộ ngành nghề Mỗi quyết định của họ ảnh hưởng trực tiếp tới kết quả vàhiệu quả của quá trình sản xuất kinh doanh, các quyết định có mức độ thế nàophụ thuộc vào nhận thức vào trình độ và độ tuổi của chính chủ hộ, những thôngtin này được tôi trực tiếp điều tra các chủ hộ ngành nghề và tổng hợp kết quảđiều tra ở biểu 6
Biểu 6: Thực trạng về chủ hộ ngành nghề trên địa bàn xã Liêm Chính-
thị xã Phủ Lý- tỉnh Hà Nam
Chế biến NS- Thực phẩm
Công nghiệp, XD, VT
Dịch vụ
Tổng hay BQ
Độ tuổi:
Trang 35Từ 35 đến 55 Chủ hộ 24 39 60 123
Các chỉ tiêu đánh giá
Nguồn: Số liệu điều tra trực tiếp từ các hộ ngành nghề
Qua biểu 6 ta thấy trong số 148 hộ ngành nghề năm 2003 đa phần các chủ
hộ ngành nghề ở tuổi từ 35 đến 55 tuổi với 123 người đạt tỷ lệ 83.11% trongkhi đó chỉ có 4 chủ hộ trên 55 tuổi và 21 chủ hộ dưới 35 tuổi, thực tế này là rấttốt cho phát triển ngành nghề vì càng có tuổi thì kinh nghiệm cũng như nhậnthức, kĩ năng tay nghề của người ta càng được nâng cao lên do đó nó sẽ làm tăngnăng suất lao động tăng khả năng làm việc hiệu quả Biểu 2 cũng cho ta biếtbình quân chủ hộ ngành nghề có trình độ học văn hóa đến lớp 9.54 chỉ có duynhất một chủ hộ không học qua cấp I và chủ hộ này làm nghề đậu Như vậy sovới độ tuổi bình quân là 39.4 tuổi mà chủ hộ đã qua phổ cập giáo dục cơ sở rộngrãi thì sự nhận thức cơ bản ở chủ hộ là tốt, lớp học văn hóa càng cao cũng đồngthuận với nhận thức của chủ hộ càng cao, khả năng tính toán tốt cho phép chủ
hộ lựa chọn những phương thức sản xuất kinh doanh hiệu quả Cũng qua phỏng
Trang 36vấn chủ hộ, được biết số chủ hộ ngành nghề đã qua đào tạo ở các cơ sở đào tạonghề chỉ có 59 chủ hộ chiếm tỷ lệ 39.86% như vậy hơn một nửa chủ hộ chưaqua đào tạo, các hộ qua đào tạo nghề chủ yếu là chủ hộ công nghiệp- xây dựng-vận tải với 32 chủ hộ chiếm 74.42% trong số chủ hộ qua đào tạo, nhóm hộ chếbiến nông sản có số chủ hộ qua đào tạo thấp nhất với 6 chủ hộ được đào tạo làmnghề mộc, sản xuất bánh kẹo.Việc có được đào tạo nghề hay không ảnh hưởngrất lớn tới năng lực làm việc năng lực nhận thức của chủ hộ ngành nghề, taynghề càng vững chủ hộ sẽ nắm bắt được kỹ thuật, biết cách phối hợp sản xuất cókhoa học, nắm bắt được nhu cầu và thị hiếu của khách hàng.
Trong số 148 chủ hộ thì chủ hộ nam có tới 122 chủ hộ chiếm 82.43%trong khi đó chủ hộ là nữ có 26 người chiếm 17.57% số này chỉ tập trung vàonghề may thêu, làm đậu, bán hàng Như vậy đa phần chủ hộ ngành nghề là namgiới gấp gần 5 lần nữ giới, và nam giới là người đảm đương trọng trách lo kinh
tế cho gia đình mình.Xét về tuổi tácthì tuổi của chủ hộ nữ là trẻ hơn so với namgiới, trung bình chủ hộ nữ ở độ tuổi 30.08 trong khi đó nam giới là 41.11 tuổi, vìyêu cầu tính chất của nghề may thêu đòi hỏi sự lao động cần cù ít cần tới sứckhỏe nhưng sự tỷ mỷ rất quan trọng do đó nữ giới đảm đương nghề may phùhợp cho mình Trong khi lao động nữ ít được đào tạo thì số chủ hộ nữ được đàotạo lại chiếm tỷ lệ cao với 16 chủ hộ trong số 26 chủ hộ nữ, số này ở chủ hộnam chỉ là 43 chủ hộ trong số 122 chủ hộ nam Theo cơ cấu ngành nghề thì chủ
hộ nghề công nghiệp-xây dựng- vận tải qua đào tạo nhiều nhất với 32 chủ hộchiếm tỷ lệ 74.42% trong số 59 chủ hộ qua đào tạo, đó cũng là do tính chấtngành nghề đòi hỏi
1.2.2 Thực trạng cơ sở vật chất kĩ thuật- điều kiện sản xuất kinh doanh của hộ ngành nghề trên địa bàn xã Liêm Chính - thị xã Phủ Lý – tỉnh Hà Nam
1.2.2.1 Thực trạng cơ sở vật chất kĩ thuật của hộ ngành nghề trên địa bàn xã Liêm Chính - thị xã Phủ Lý – tỉnh Hà Nam
Đánh giá năng lực, mức độ và phương thức sản xuất kinh doanh, bướcđầu tiên ta đánh giá thực trạng cơ sở vật chất kĩ thuật của hộ ngành nghề bởi vì
Trang 37bất kể 1 nền sản xuất nào cũng đều đặc trưng bởi phương thức sản xuất và quan
hệ sản xuất với quy mô và mức độ như thế nào Hiện trạng cơ sở vật chất kĩthuật ở các hộ ngành nghề trên địa bàn xã Liêm Chính – Thị xã Phủ Lý - Tỉnh
Hà Nam được thể hiện rõ qua biểu 7
Biểu 7: Hiện trạng cơ sở vật chất kỹ thuật ở các hộ ngành nghề trên địa bàn xã Liêm
Chính-thị xã Phủ Lý- tỉnh Hà Nam
Chỉ tiêu
ĐVT
Chế biến NS- Thực phẩm
Công nghiệp, xd, vt
Trang 38Giá trị máy móc thiết bị Tr đ./ hộ 27.73 39.02 15.74 19.02
III Trình độ kĩ thuật sản xuất kinh doanh
(Nguồn: Số liệu điều tra trực tiếp từ các hộ ngành nghề)
Biểu 7 cho ta biết hiện trạng nhà xưởng, điều kiện sản xuất kinh doanh vàtrình độ kĩ thuật sản xuất kinh doanh của 148 hộ ngành nghề trong số 169 hộnông dân được điều tra Về hiện trạng nhà xưởng của hộ ngành nghề, không có
hộ ngành nghề nào sử dụng nhà tạm để sản xuất kinh doanh, đa phần nhà xưởngcủa hộ thuộc diện kiên cố với 86 hộ chiếm tỷ lệ 58.11% các hộ, cụ thể có 25 hộchế biến nông sản thực phẩm có nhà xưởng kiên cố, có 30 hộ dịch vụ có nhàxưởng kiên cố, có 321 hộ công nghiệp – xâydựng – dịch vụ có nhà xưởng kiên
cố chiếm tỷ lệ 72.09% số hộ công nghiệp – xây dựng -vận tải Cũng theo điềutra trực tiếp, tôi thấy gần như tuyệt đối các hộ ngành nghề tự có nhà xưởng với
145 hộ trong số 148 hộ chiếm 97.93%, phải có 3 hộ ngành nghề là phải đi thuêcửa hàng để làm dịch vụ rửa xe sửa chữa xe đạp, xe máy và dịch vụ bán hàng.Qua những điều tra trên ta thấy điều kiện về nhà xưởng trong các hộ ngànhnghề là rất tốt cho việc ổn định và phát triển sản xuất kinh doanh, nhà xưởngkiên cố và tự có là đa số đã giúp cho các hộ ngành nghề giảm được sự nhrhưởng của điều kiện bất lợi từ tự nhiên tưng cường sự chắc chắn chống kẻ trộmqụây phá và giảm chi phí thuê nhà xưởng, từ đó chủ hộ yên tâm hơn để sản xuấtkinh doanh Về các điều kiện sản xuất kinh doanh đa số các hộ dùng điện chosản xuất kinh doanh là 144 hộ chiếm tỷ lệ 97.39% trong số 148 hộ ngành nghềchỉ còn lại 4 hộ không dùng điện là hộ dịch vụ buôn bán gà, nông sản rau cỏ Về
Trang 39nước: có tới 79 hộ dùng nước cho sản xuất kinh doanh chiếm tỷ lệ 67.63% trongtổng số 148 hộ ngành nghề trong đó có tới 100% hộ chế biến nông sản thựcphẩm sử dụng nước để sản xuất kinh doanh, ngược lại các hộ dịch vụ ít sử dụngnước phục vụ cho kinh doanh chỉ có 23 hộ trong số 67 hộ dịch vụ chiếm tỷ lệ34.33% Như vậy điện và nước là hai nhu cầu cốt yếu của các hộ ngành nghềđặc biệt là điện, nhu cầu về nước đòi hỏi gắt gao ở các hộ chế biến nông sảnthực phẩm nhất là nghề làm đậu và nấu rượu, hộ thuộc diện này phải cần nướcsạch để sản xuất kinh doanh nhưng có tới 24 hộ trong tổng số 38 hộ chế biếnthiếu nước sạch để sản xuất kinh doanh Hiện tại trên địa bàn xã Liêm Chínhđiện đã phủ khắp các thôn xóm đến tận gia đình từ năm 1988, nhưng việc cungcấp nước sạch cho sinh hoạt đời sống và cho sản xuất kinh doanh của người dântrong xã là còn rất chậm , một phần cũng vì chi phí lớn mà chưa có điều kiệncung cáp nước sạch tới các hộ do đó đã ảnh hưởng tới các hộ ngành nghề trựctiếp sử dụng nước cho sản xuất kinh doanh.Về mặt bằng sản xuất kinh doanhbình quân mỗi hộ ngành nghề sử dụng 41.11m2 diện tích để làm nhà xưởng sảnxuất kinh doanh trong số đó hộ công nghiệp – xây dựng – vận tải sử dụng khônggian rộng hơn để làm nhà xưởng tới 44.26 m2bình quân 1 hộ Trong 148 hộngành nghề thì bình quân giá trị máy móc thiết bị sử dụng cho sản xuất kinhdoanh là 19.02 triệu đồng/ 1 hộ, cao nhất là hộ công nghiệp đạt 39.02% gấp 2.05lần mức chung, điều đó chứng tỏ các hộ làm công nghiệp – xây dựng – vận tảicần phải có vốn lớn hơn, không gian rộng để sản xuất ra nhưngx sản phẩm cógiá trị cao Cá hộ dịch vụ chỉ cần trang bị về phương tiện trưng bày lưu giữ hànghoá dịch vụ như tủ kệ hàng, hòm… Do đó giá trị máy móc thiết bị phục vụ sảnxuất kinh doanh thấp chỉ có 15.74 triệu đồng/ 1 hộ Các hộ ngành nghề chọnphương thức nào cho sản xuất kinh doanh, qua điều tra đánh giá tôi thấy các hộcông nghiệp – xây dựng – vận tải đa phần là sản xuất bằng phương tiện cơ khívới 30 hộ trong số 43 hộ trong khi đó hộ chế biến nông sản thực phẩm đa phần
là sản xuất bằng phương nửa cơ khí nửa thủ công với 23 hộ chiếm tỷ lệ 60.53%các hộ chế biến Không có hộ nào sản xuất bằng phương thức tự động hoá hoàn
Trang 40toàn và cũng chỉ có 11 hộ sản xuất thủ công thuộc nhóm hộ nấu rượu làm đậuchiếm 8% trong tổng số 148 hộ ngành nghề.
Như vậy qua biểu 7 ta thấy hiện trạng cơ sở vật chất kĩ thuật về nhàxưởng, điều kiện sản xuất kinh doanh trong các hộ ngành nghề là rất tốt, đápứng dược yêu cầu cho sản xuất kinh doanhở phần lớn các hộ, mặc dù vậy trình
độ sản xuất kinh doanh ở hai nhóm hộ chế biến và công nghiệp còn hạn chế,điều này sẽ gây rất nhiều khó khăn cho việc sản xuất ra sản phẩm có giá trị cao,mẫu mã chất lượng tốt phù hợp với thị hiếu của người tiêu dùng
1.2.2.2 Thực trạng về vốn của hộ ngành nghề trên địa bàn xã Liêm Chính
Vốn tự có (1000.đ )
Vốn vay (1000.đ )
Vốn cố định (1000.đ )
Vốn lưuđộng (1000.đ )