Phân tích thực trạng và vai trò của thương mại nông thôn trong giai đoạn chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
Trang 1Phân tích thực trạng và vai trò của thương mại nông thôn trong giai đoạn
chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt
Nam (TL; 10)
MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU
NỘI DUNG
I Thực trạng nền nông nghiệp nông thôn nước ta trong giai đoạn chuyển đổi
sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
1 Nền nông nghiệp ở nước ta trong giai đoạn sau 1986 đến 2000
2 Nền nông nghiệp ở nước ta những năm gần đây
II Vai trò của thương mại đối với sự phát triển nông thôn ở nước ta trong
giai đoạn chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
1 Thương mại ở nông thôn với vấn đề thúc đẩy sự phát triển sản xuất nông
nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá quy mô lớn gắn với công nghiệp chế biến và
gắn với thị trường
2 Thương mại ở nông thôn với vấn đề thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế
trong nông nghiệp và nông thôn
3 Thương mại ở nông thôn với vấn đề thúc đẩy phân công lao động tạo công ăn
việc làm trong nông nghiệp và nông thôn
4 Các vai trò khác
III Các giải pháp phát triển thương mại nông thôn
1 Phát triển nông nghiệp thành nền kinh tế hàng hoá có chất lượng ngày càng cao,
chuyển dịch mạnh mễ cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng sản xuất lớn gắn với
Trang 24 Phát triển hạ tầng cơ sở nông thôn và kết cấu hạ tầng cơ sở phục vụ thương mại
nông thôn
5 Hoàn thiện chính sách đối với lưu thông hàng hoá và thương mại nông thôn
6 Quy hoạch phát triển thượng mại nông thôn
7 Tăng cường quản lý Nhà nước đối với thương mại và thị trường nông thôn
IV Một số chính sách phát triển thương mại ở Việt Nam trong giai đoạn
chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
1 Chính sách mặt hàng
2 Chính sách thị trường
3 Chính sách xuất khẩu
KẾT LUẬN
Trang 3LỜI NÓI ĐẦU
Xuất phát từ tình hình hiện nay và yêu cầu phát triển trong thời kỳ đổi mới
giai đoạn chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường , đường lối kinh tế của Đảng được
xác định với mục tiêu phát triển nông nghiệp năm 2001-2010 : “Giá trị gia tăng
nông nghiệp (kể cả thuỷ sản, lâm nghiệp) tăng bình quân hàng năm 4,0-4,5% Đến
năm 2010, tổng sản lượng lương thực có hạt khoảng 40 triệu tấn Tỷ trọng nông
nghiệp trong GDP khảng 16-17%, tỷ trọng nghành chăn nuôi trong tổng giá trị sản
xuất nông nghiệp tăng lên khoảng 25% Thuỷ sản đạt sản lượng 3,0-3,5 triệu tấn
(trong đó 1/3 là sản lượng nuôi trồng Kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thuỷ, sản
đạt 9-10 tỷ USD, trong đó thuỷ sản khoảng 3,5 tỷ USD.” Đứng trước tình hình đó
hiện nay Việt nam là 1 nước đang phát triển với nền nông nghiệp lúa nước lâu đời
Để thực hiện tốt những yêu cầu cũng như những định hướng trên, Đảng và Nhà
nước đã đề ra kế hoạch thực hiện cho việc phát triển ngành nông nghiệp là tăng
cường sự chỉ đạo và huy động các nguồn lực cần thiết để đẩy nhanh công nghiệp
hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn Tiếp tục phát triển và đưa nông nghiệp,
lâm nghiệp, ngư nghiệp lên 1 trìmh độ mới bằng việc ứng dụng tiến bộ khoa học và
công nghệ, nhất là công nghệ sinh học đổi mới cây trông vật nuôi, tăng giá trị thu
đước trên đơn vị diện tích, quy hoạch sử dụng đất hợp lý đẩy mạnh thuỷ lợi hoá,
cơ giới hoá điện khí hoá giải quyết tốt vấn đề tiêu thụ nông sản phẩm, phát triển kết
cấu hạ tầng công nghiệp dịch vụ chuyển dịch cơ cấu lao động, tạo nhiều việc làm
mới và cải thiện đới sống nông dân và dân cư nông thôn Vì thế vai trò của thương
mại nông nghiệp nông thôn rất quan trọng Đây là tiền đề tạo cơ sở cho kinh tế
nông nghiệp nông thôn phát triển
Trang 4NỘI DUNG
I- THỰC TRẠNG NỀN NÔNG NGHIỆP NÔNG THÔN NƯỚC TA
1 Nền nông nghiệp ở nước ta trong giai đoạn sau 1986 đến 2000
Từ đại hội Đảng toàn quốc lần thư VI (1986), công cuộc đổi mới kinh tế ở nước ta
đẫ được triển khai mạnh mẽ, từng bước đưa nghị quyết đại hội vào cuộc sống đặc
biệt là ở vùng nông thôn Trong quá trình đổi mới nền kinh tế nước ta đã có những
chuyển biến lớn thể hiện ở những mặt sau:
- Chuyển nền kinh tế thuần nhất về thành phần kinh tế và chế độ sở hữu (quốc
doanh và tập thể) sang nền kinh tế nhiều thành phần và sở hữu đa dạng
- Chuyển nền kinh tế hiện vật sang nền kinh tế hàng hoá
- Chuyển từ nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường có
sự quản lý của nhà nước theo định hướng XHCN
- Chuyển từ nên kinh tể cơ bản là kép kín sang nền kinh tế mở chủ động hội nhập
Nền kinh tế nông nghiềp trong giai đoạn này đã có những chuyển biến, mặc dù tốc
độ tăng trưởng còn chậm nhưng về cơ bản người dân đã “ăn no mặc ấm” chứ
không như thời kỳ bao cấp cuộc sống vô cùng thiếu thốn lương thực chỉ được phân
phát Nền kinh tế nông nghiệp trong những năm sau đổi mới đã phát triển Tuy
nhiên tốc độ vẫn chưa cao và còn có một số hạn chế, một số thiếu sót khi nền kinh
tế mới bước vào thời kỳ chuyển đổi
Tuy bước vào thời kỳ đổi mới nhưng thị trường nông thôn nước ta vẫn kém phát
triển, đặc biệt là thị trường miền núi, thị trường vùng sâu vùng xa
Dan cư nông thôn tuy nhiều nhưng thu nhập thấp, không ổn định Vì thế sức mua
thấp dung lượng thị trường nhỏ
sản xuất hàng hoá nông nghiệp và nông thôn hiện nay còn kém phát triển: quy mô
sản xuất nhỏ, phân tán, công nghệ sản xuất lạc hậu vì vậy khối lượng sản xuất chưa
lớn, chất lương thấp giá thành cao, sức cạnh tranh của hàng hoá nông sản Việt Nam
trên thị trường còn rất hạn chế
Trang 5Cở sở hạ tầng chung và kết cấu hạ tầng phục vụ hoạt động thương mại ở nông thôn
còn rất lạc hậu, Mạng lưới kinh doanh thương mại ở noong thôn mỏng và yếu, quy
mô nhỏ, phát triển tự phát
Chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa chủ trương xây
dựng nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần cùng với kinh tế hộ gia đình và kinh tế
trang trại ở nông thôn trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo là cơ sở hình
thành mạng lưới thương nhân đa dạng về thành phần kinh tế trên thị trường nông
thôn
Thị trường nông thôn có địa bàn rất rộng lớn nhưng phát triển không đồng đều giữa
các vùng Một số vùng nông thôn đồng bằng, các vùng lận cận các thành phố lớn,
khu công nghiệp tập trung có thị trường tương đối phát triển, ngược lại miền núi
vùng sâu vùng xa thị trường còn rất lạc hậu do sản xuất mang năng tính tự cung tự
lâm nghiệp thuỷ sản
công nghiệp xây dựng
dịch
vụ
nông lâm nghiệp thuỷ sản
công nghiệp xây dựng
Trang 6Nhìn vào bảng số liệu trên ta nhận thấy nền nông nghiệp nước ta tốc dộ tăng trưởng
không đồng đều luôn thay đổi Cơ cấu nông nghiệp trong nền kinh tế chiếm tỷ
trọng cao trong GDP Từ sau kế hoặch 5 năm 1991-1996 nền kinh tế nước ta đã dần
thoát khỏi tình trạng trì trệ suy thoái và đạt được mức tăng trưởng cao liên tục và
tương đối toàn diện GDP bình quân tăng 8,2% năm, trong đó nông nghiệp 4,4%
kim ngạch xuất khẩu 20%
2 Nền nông nghiệp ở nước ta trong những năm gần đây
Theo tổng cục thống kê diện tích gieo trồng lúa năm 2001 đạt 7484,4 nghìn
hecta bằng 97,6% năm 2000.Có trên 166 nghìn hecta đất lúa vùng ven biển sản
xuất bấp bênh, hiệu quả thấp đã chuyển đổi sang nuôi trồng thuỷ sản chủ yếu là
nuôi tôm Diện tích lúa đông xuân tăng 42,7 nghìn hecta so với năm trước Diện
tích lúa hè thu giảm 95,7 nghìn hecta chủ yếu là do giảm lúa vụ 3 ở đồng bằng sông
Cửu Long Diện tích lúa mùa giảm 114 nghìn hecta Đây là sự thay đổi cơ cấu mùa
vụ sản xuất hợp lý Cũng bắt đầu có những thay đổi tích cực trong cơ cấu giống
theo chiều hướng tăng diện tích các loại giống Tuy năng suất không cao nhưng có
chất lượng tốt, được đánh giá hơn, giảm diện tích các loại giống năng suất cao
Trang 7nhưng có chất lượng thấp Bước đầu hình thành nên một số vùng sản xuất lúa đặc
sản tại 2 vùng lúa lớn nhất nước Những thay đổi này trong sản xuất lúa không làm
giảm sút lượng xuất gạo trong năm An ninh lương thực vẫn được giữ vững
Diện tích cây công nghiệp đạt 2266,4 nghìn hecta, tăng 1,7% so với năm trước,
trong đó cây công nghiệp lâu năm tăng 1,8%, cây công nghiệp ngắn ngày tăng
1,5% Sản lượng nhiều loại cây công nghiệp tăng khá do tăng được cả về cả về
năng suất và diện tích như bông tăng 45,7%, đay tăng 31%, đậu tương tăng 18%,
thuốc lá tăng 13,7%, chè 18%, hạt tiêu 12%, dừa 10% Tuy vậy có một số cây
giảm cả về năng suất và diện tích như mía, lạc
Chăn nuôi cũng có những chuyển biến tích cực: trâu, bò tăng 63 nghìn con, gia cầm
tăng 13,6 triệu con
Diện tích trồng rừng bằng mức năm trước đạt trên nửa triệu hecta Trồng được 240
triệu cây phân tán Sản lượng khai thác gỗ và nguyên liệu giấy đạt 2,4 triệu m3,
bằng 94% của năm trước Tuy nhiên tình trạng vi phạm lâm luật, chặt phá rừng,
cháy rừng vẫn là vấn đề nhức nhối Tính đến tháng 9 đã có trên 1,2 nghìn hécta
rừng bị cháy, 2,3 nghìn hecta rừng bị chặt phá
Ngành thuỷ sản có bước tăng trưởng mạnh cả về nuôi trồng lẫn đánh bắt ,ước tính
cả năm đạt 2,4 triệu tấn, tăng 7,7% so với cùng kỳ trong đó đáng chú ý nhất là tôm
Sản lượng tôm đạt 250 nghìn tấn, tăng trên 30% so với năm trước Tôm nuôi tăng
mạnh ở những vùng nước mặn, lợ Cũng xuất hiện những mô hình mới là nuôi tôm
trên cát và ruộng lúa Diện tích nuôi trồng thuỷ sản tăng 11,6%, trong đó diện tích
nuôi tôm tăng 20,4% so với nămtrước
Cũng theo tính toán của tổng cục thống kê, theo giá so sánh năm 1994, giá trị sản
xuất nông, lâm, ngư nghiệp năm 2001 tăng 4,1% so với năm 2000, trong đó nông
nghiệp tăng 2,2%, thuỷ sản tăng tới 14,8%
Tuy nhiên sóng gió trên thị trường thế giớí đã làm lu mờ đi một phần nỗ lực trên
đây
Trang 8Những năm gần đây, tỷ suất hàng hoá trong nông nghiệp của nước ta có chiều
hướng ngày càng nâng cao Nông nghiệp Việt Nam ngày càng có nhiều mặt hàng
tham gia vào thị trường thế giới, trong đó có một số mặt hàng có thứ hạng cao
trong thị phần như cà phê, gạo, hạt tiêu, hạt điều Có thể thấy tăng trưởng của
nông nghiệp nước ta ngày càng tuỳ thuộc vào kinh tế và thị trường thế giới
Thế nhưng kinh tế thế giới và khu vực trong những năm qua vẫn đang ở trong chu
kỳ suy thoái, thậm chí nằm ở đáy chu kỳ này Do vậy những nỗ lực gia tăng sản
lượng đã không bù đắp lại thiệt hại về giá cả trên thị trường thế giới
những con số gần đây một mặt thể hiện những nỗ lực không kém trong lĩnh vực
này Một số mặt hàng nông sản xuất khẩu quan trọng như cà phê, gạo, hạt điều
Phải thực hiện bù lỗ xuất khẩu dưới nhiều hình thức Không ít hộ nông dân lâm vào
tình trạng điêu đứng
Tình trạng ‘bí đầu ra’ thị trường thế giới đã tác động ngay đến thị trường nông sản
trong nước, một thị trường mà như nhiều năm gần đây người nông dân luôn trong
tình thế bất lợi Năm nay hàng bán ra thị trường thế giới lỗ lã, tồn đọng ở thị trường
trong nước nhiều Độ co giãn về cầu trong nước của những mặt hàng này lại thấp
Những tín hiệu trên đây của thị trường mách bảo điều gì?
Ít nhất cũng có 2 điều có thể nhận thấy từ động thái của thị rường trong những năm
gần đây, nhất là năm 2001 Một là cần phải đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu nông
nghiệp nông thôn cho thích ứng với thị trường Hai là tổ chức lại nền nông nghiệp,
kinh tế nông thôn nhằm nâng cao năng suất lao động, chất lượng sản phẩm và nắm
bắt thông tin thị trường thế giới cũng như trong nước
Những tranh luận dai dẳng trong nhiều năm về an ninh lương thực của nước dưòng
như được ngã ngũ bằng thực tế của nhiều năm 2001 Sau 10 năm có mức tăng hàng
năm 1 triệu tấn lương thực (chủ yếu là lúa) lần đầu tiên sản lượng lúa đã giảm còn
98,3%, sản lượng lương thực có hạt còn 98,7% so với năm 2000 Diện tích lúa còn
97,6% so với năm 2000 Phần diện tích lúa giảm đi được chuyển sang nuôi tôm,
trồng cây ăn quả, cây công nghiệp
Trang 9Khảo sát mô hình trồng lúa kết hợp nuôi tôm ở đồng bằng sông Cửu Long cho thấy
thu nhập thuần của mô hình trồng lúa + tôm sú (nuôi quảng canh) cao gấp 3 lần mô
hình ba vụ lúa Theo tín hiệu của thị trường thế giới con tôm đang lên ngôi trong cơ
cấu nông nghiệp đồng bằng ven biển nước ta
Tại một số tỉnh đồng bằng sông Hồng như Thái Bình, Hải Dương, Hưng Yên, Hà
Tây tuy chưa mạnh mẽ bằng đồng bằng sông Cửu Long, cũng bước đầu chuyển
thể độc canh lúa, chuyển một số diện tích lúa sang trồng rau màu, cây ăn quả, cây
công nghiệp ngắn ngày.Ngay trong ngàng trồng lúa, một xu thế mới đã hình thành:
không còn chạy theo sản lượng mà đã bắt đầu chú ý đến hiệu quả kinh tế Nhiều địa
phương đã đưa vào gieo trồng các giống lúa có phẩm chất cao, bán được giá Đã
hình thàh dự án 1 triệu hecta lúa xuất khẩu có phẩm chất cao
Năm 2001 là cái mốc khẳng định nông nghiệp Việt Nam đã vượt qua “của ải lương
thực”, đảm bảo được an ninh lương thực trên phạm vi toàn quốc Từ nay nông
nghiệp nông thôn có thể rãnh tay để phát triển những ngành khác có hiệu quả hơn
Nuôi trồng thuỷ sản là động thái nổi bật khác trong nông nghiệp năm qua Tỷ trọng
sản lượng nuôi trồng trong tổng sản lượng ngành thuỷ sản trong năm 2001 đã tăng
từ 36% trong năm 2000 lên 42% năm 2001 Tỷ trọng sản lượng tôm tằng từ 8,6%
năm 2000 lên 10,6% năm 2001 Giá trị sản xuất trong khai thác thuỷ sản tăng 4,6%
trong khi đó giá trị sản xuất trong nuôi trồng ttăng từ 32,6% so với năm 2000 Kết
quả này làm cho giá trị sản xuất chung toàn ngành năm qua tăng tới 14,8%, một
bước nhảy lớn của ngành thuỷ sản Điều quan trọng hơn là đây mới chỉ là bước
khởi đầu trong nuôi trồng thuỷ hải sản Triển vọng của nó còn lớn lao hơn rất nhiều
và đang ở trong tầm tay của nông nghiệp Việt Nam
Cũng đã có những biến động tích cực trong phát triển công nghiệp nông thôn, nhất
là chế biến nông thuỷ sản Có 2 nguyên nhân, một là sự hình thành và phát triển
của những vùng nguyên liệu nông sản tập trung, trong đó đáng chú ý nhất là nuôi
trồng thuỷ sản, một số cây công nghiệp như dứa, chè Riêng chế biến thuỷ sản
năm qua đã tăng tới 24,2% Hai là do tác động của luật doanh nghiệp sau 2 năm đi
Trang 10vào cuộc sống và chủ trương khuyến khích của chính phủ về phát triển các doanh
nghiệp quy mô vừa và nhỏ trong năm qua đã kích thích việc thành lập mới hàng
nghìn doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, hàng
vạn cơ sở cá thể Năm qua, khu vực doanh nghiệp ngoài quốc doanh có mức tăng
trưởng 20,3% mức tăng trưởng cao nhất trong các khu vực kinh tế Đây là sự tạo đà
tốt cho phát triển công nghiệp nông thôn.Nếu như những năm tới, chính phủ đã có
những chính sách khuyến khích đưa công nghiệp về nông thôn nhất là công nghiệp
vừa và nhỏ, thì chắc chắn bộ mặt của kinh tế nông nghiệp nông thôn nước ta sẽ có
những thay đổi căn bản Tuy nhiên nhìn chung Việt Nam còn có một số khó khăn
khi một số mặt hàng còn thiếu để phục vụ sản xuất nông nghiệp Vì vậy chúng ta
còn phải nhập khẩu, sau đây là một số mặt hàng cơ bản mà Việt Nam còn phải
II -VAI TRÒ CỦA THƯƠNG MẠI ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN Ở
NƯỚC TA GIAI ĐOẠN 2001-2010
1.Thương mại nông thôn với vấn đề thúc đẩy sự phát triển sản xuất nông
nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá quy mô lớn gắn với công nghiệp chế
biến và gắn với thị trường
Việt Nam cơ bản là một nước nông nghiệp và có những tiềm năng to lớn cho
sự phát triển sản xuất nông nghiệp như: diện tích đất nông nghiệp lớn, đất đai màu
mỡ lực lưỡng lao động dồi dào ,trình độ học vấn cao
Trang 11những yếu tố trên là ưu thế cho một nền nông nghiệp thâm canh cao và đa dạng
hoá, cơ cấu xã hội nông thôn tương đối bình đẳng làm cho tổ chức nông thôn gắn
bó chặt chẽ Vì vậy dù có một số bất lợi như :hệ thống hạ tầng cơ sở nông thôn yếu
kém, hệ thống về nông thôn chưa được trang bị đầy đủ, thị trường tuơng đối kém
cạnh tranh nhưng về cơ bản Việt Nam có những khả năng to lớn cho sự phát triển
của sản xuất nông nghiệp
Trước năm 1986 trong bối cảnh cơ chế kinh tế cũ vai trò thị trường không được chú
trọng, nông dân là lực lưỡng sản xuất chủ yếu trong nền kinh tế nhưng sản xuất cái
gì?sản xuất như thế nào phân phối cho ai đều theo mệnh lệnh của cơ quan quản lý
nhà nước trong một nền kinh tế kế hoặch hoá tập trung quan liêu và chế độ phân
phối bao cấp Sản phẩm làm ra không tự do buôn bán thị trường cả nước nói chung
và thị trường nông thôn nói riêng đều ỏ trong tình trạng kém phát triển ,có thể nói
là điều tiết
Không có thị trường thì sản xuất hàng hoá không phát triển, cơ cấu sản xuất nghèo
nàn Sản xuất kém phát triển thì không có cái để trao đổi và do vậy thiếu sức mua
Thiêú khả năng thanh toán thì thị trường tiêu điều các vòng luẩn quẩn đó đã kìm
hãm sự phát triển của nông nghiệp và nông thôn qua nhiều thập kỷ
Cải cách kinh tế 1986 đến nay đã dỡ bỏ cơ chế cũ chuyển dần sang cơ chế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã giải phóng năng lực và tiềm năng to lớn cho
sự phát triển sản xuất nông nghiệp tạo điều kiện cho thương mại và thị trường thể
hiện vài trò lớn của nó đối với sự phát triển của sản xuất nông nghiệp
Trong vòng 10 năm (1990-2000) giá trị sản xuất nông gnghiệp tăng bình quân
5,4% Từ một nước thiếu lương thức trầm trọng, Việt nam đã xuất khẩu gạo hàng
năm 3,5-4,5 triệu tấn đứng thứ hai về xuất khẩu trên thế giới Sản lượng cà phê năm
2000 tăng gấp 4,5 lần, cao su mủ khô tăng 4,5 lâng, chè gấp 2 lần, mía gấp3 lân
Sản lượng thuỷ sản đạt gần 2 triệu tấn tăng gấp 2,1 lần sản lượng năm 1990 Đó là
những minh chứng có tính thuyết phục cao về vai trò của thường mại và thị trường
với sự phát triển sản xuất nông nghịêp chuyển nông nghiệp từ một nền sản xuất lạc
Trang 12hậu tự túc tự cấp sang nền nông nghiệp sản xuất hàng hoá quy mô lớn gắn với công
nghiệp chế biến và gắn với thị trường Giá trị sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp tăng
trưởng đáng kể Sau đây là bảng đáng giá tốc độ tăng qua các năm
Giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp, thuỷ sản và tốc độ tăng qua các năm
năm giá trị sản xuất giá so sánh 1994(tỷ đồng) tốc độ tăng (%)
nghiệp
lâm nghiệp thuỷ sản
nông nghiệp
lâm nghiệp
thuỷ sản
Vai trò đầu tiên của thương mại thể hiện ở chỗ muốn phát triển sản xuất nông
nghiệp theo hương quy mô lớn thì phải giải quyết tốt vấn đề thị trường Trong đó
Trang 13thị trường đầu ra cho nông sản có ý nghĩa quyết định Thị trường có vai trò đặc biệt
quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của nông nghiệp nông thôn Các mặt
hàng xuất khẩu cảu Việt Nam chủ yếu hiện nay bao gồm
m ặt hàng xuất khẩu chủ yếu
không ngừng mở rộng, đa dạng hoá các kênh lưu thông, sử dụng các biện pháp kích
cầu để tạo thị trường tiêu thụ nông sản ổn định trong nước
Cùng với việc mở rộng thị trường trong nước, thương mại tích cực tìm kiếm và mở
rộng thị trường xuất khẩu cho nông sản việt nam, vì dù thị trường nội địa có được
mở rộng nhưng vấn không thể tiêu thụ hết số lượng nông sản “dư thừa” ngày càng
nhiều
Thương mại còn cung cấp những yếu tố đầu vào cho sản xuất nông nghiệp nhằm
nâng cao chất lượng hiệu quả và sức canh tranh của nông sản việt nam trên thị
trương trong nước và quốc tế
2 Thương mại nông thôn với vấn đề thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế
trong nông nghiệp và nông thôn
Trang 14Trước năm 1986 cơ cấu kinh tế nông nghiệp vào nông thôn nước ta rất lạc
hậu
Kinh tế nông nghiệp chủ yếu dựa vào trồng trọt Trong trồng trọt chủ yếu là trồng
lúa và các cây lương thực Chăn nuôi kém phát triển, trong chăn nuôi chủ yếu là
nuôi lợn, trâu bò, gia cầm Phần lớn các cây trồng vật nuôi đều có năng suất, chất
lượng thấp, quy mô nhỏ mang nặng tính tự cấp tự cấp , tỷ suất hàng hoá rất thấp
Kinh tế nông thôn nặng về nông nghiệp, công nghiệp nông thôn phát triền chậm
nhất là nông nghiệp chế biến nông sản, lâm sản, thuỷ sản vừa thiếu vừa lạc hậu
Nghành nghề nông thôn ngày càng bị mai một, dịch vụ nông thôn kém phát triến
Cải cách kinh tế và mở cữa hội nhập kinh tế thế giới đã đưa đến sự thay đổi to lớn
đối với thị trường và sự phát triển thương mại nông thôn
Trong những năm gần đây sức mua trên thị trường nội địa tăng do thu nhập dân cư
không ngừng tăng lên thị trường nứơc ngoài ngày càng được mở rộng nhờ mở của
hội nhập Thương mại trong nước phát triển và các hoạt động xuất nhập khẩu ngày
càng được tăng cường làm cho sản xuất nông nghiệp đã có thay đổi to lớn nhiều
vùng sản xuất nông nghiệp tập trung gắn với công nghiệp chế biến như: lúa gạo ỏ
đồng bằng Sông Cửu Long, đồng bằng Sông Hồng, mía đường ở miền trung, Đông
Nam Bộ, chè ở trung du miền núi phía bắc, cao su ở Đông Nam Bộ, cà phê, hạt
điều ,hạt tiêu ở Tây Nguyên và Đông Nam Bộ, nuôi trồng thuỷ sản ở nhiều tỉnh ven
biển Sản xuất đã hướng vào và ngày càng gắn với thị trường làm cho cơ cấu sản
xuất nông nghiệp trở nên đa dạng và quy mô sản xuất ngày càng tập trung
Ngành công nghiệp chế biến được chú trọng phát triển, các ngành chế biến và bảo
quản lương thực, chế biến mía đường, chế biến cà phê, chè ,cao su, các loại đồ
uống, chế biến thịt sữa và thức ăn chăn nuôi ,chế biến và bảo quản rau quả ,gỗ, lâm
sản, chế biến thuỷ hải sản tạo ra một mạng lưới công nghiệp chế biến rộng khắp
nông thôn Công nghiệp chế biến nông, lâm sản gắn vùng nguyên liệu với công
nghệ tiến bộ ra đời và ngày càng phát triển để đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất
khẩu
Trang 15Các nghành công nghiệp khắc phục nông nghiệp như :cơ khí chế tạo và sữa cộng
cụ lao động phân bón thuốc bảo vệ thực vật vật tư phục vụ nông nghiệp cũng có
điều kiện phát triển
Các làng nghề truyền thống ngành nghề ở nông thôn được khôi phục và phát triển
Các nghành dịch vụ ở nông thôn được củng cố những dịch vụ mới như dịch vụ
cung ứng vật tư ,dịch vụ kỹ thuật cây trồng vật nuôi ,dịch vụ cơ khí nông thôn, dịch
vụ tà chính, tín dụng nông thôn bước đầu được phục hồi và phát triển đã góp phần
làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng giảm tỷ trọng cho sản xuất
nông nghiệp, tăng tỷ trọng các nghành công nghiệp dịch vụ ở nông thôn
Mặc dù có nhiều biến đổi to lớn so với trước đến nay cơ cấu kinh tế nông nghiệp
vẫn còn lạc hậu tỷ trọng trồng trọt sản xuất nông nghiệp vẫn chiếm tỷ trọng rất lớn
(80%) chăn nuôi còn kém phát triển sự chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp vẫn xảy ra
hết sức chậm chạp ví dụ tỷ lệ chăn nuôi tron sản xuất nông nghiệp 1990 là 17,9%
đến năm 1995 chỉ tăng được 1% là 18,9%
Xuất khẩu thời kỳ 1996-2000 mặc dù tăng gấp 3 xong cơ cấu sản phẩm xuất khẩu
rất ít thay đổi, tỷ lệ xuất khẩu thô còn rất cao năm 2000 tỷ lệ này là 50%
Công nông nghiệp phảttiển chậm,ngành nghề dịch vụ nông thôn chưa có sự thay
đổi cơ bản Điều đó đòi hỏi thương mại cần phải bám sát thị trường trong nước và
thị trương nước ngoài, cung cấp những thông tin cần thiết cho sản xuất, có biện
pháp thiết thực thúc đẩy kinh tế nông nghiệp và nông thôn phát triển có hiệu quả,
gắn với kinh tế thị trường cho nền kinh tể nông nghiệp nông thôn có những biến
đổi cơ bản nhằm đáp ứng được yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại
hoá nông nghiệp nông thôn
3 Thương mại nông thôn với vấn đề thúc đẩy phân công lao động tạo công ăn
việc làm trong nông nghiệp và nông thôn
Phân công lao động là điều kiện tiền đề cho sự tồn tại và phát triển thương
mại nông thôn, ngược lại sự phát triển của thương mại góp phần mạnh mẽ thúc đẩy
quá trình này
Trang 16Theo số liệu thống kê năm 2000 thì tổng số lao động cả nước là 38,6 triệu người
trong đó có khoảng 30 triệu làm việc ở vùng nông thôn chiếm tỷ trọng 70% tổng số
lao động chung Tổng số lao động nông nghiệp và nông thôn khoảng 30 triệu, có
khoảng 22 triệu lao động nông nghiệp, 8 triệu lao động phi nông nghiệp, nghĩa là
lao động nông nghiệp chiếm đại bộ phận lao động trong cơ cấu lao động nông thôn
Hiện nay lao động trong nông nghiệp chủ yếu là lao động thủ công làm theo kinh
nghiệm truyền thống, số lao động qua đào tạo rất thấp khoảng 8% Đát đai ít, dân
số nông thôn đông và ngày càng tăng làm cho lực lưỡng lao động dư thừa gia tăng
này gây áp lực rất lớn ở nông thôn, đặc biệt là các đồng bằng đông dân Theo số
liệu điều tra thì có khoảng 30% thời gian lao động chưa được sử dụng ở nông thôn,
tỷ lệ này tương đương với 7-8 triệu lao động ở nông thôn hiện nay còn thiếu việc
làm
Phát triển thương mại mạnh mẽ sẽ tạo điều kiện mở rộng thị trường trong nước và
quốc tế cho việc mở rộng quy mô sản xuất nông nghiệp, tạo ra nhiều công ăn việc
làm trong các ngành trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản
Đẩy mạnh xuất khẩu kéo theo sự phát triển nhiều nghành công nghiệp chế biến,
công nghiệp phục vụ nông nghiệp làm gia tăng đáng kể số lượng công ăn việc
làm trong những nghành này
Phát triển thương mại cũng góp phần củng cố và phát triển các làng nghề truyền
thống, nghành nghề và dịch vụ nông thôn, trong đó cần nhấn mạnh tới việc phát
triển du lịch sinh thái, du lịch nông thôn và các nghành dịch vụ khác thu hút nhiều
lao động đó là hướng rất quan trọng trong việc giải quyết công ăn việc làm và lao
động dư thừa trong nông nghiệp và nông thôn ngày nay
Tất cả những điều đó đưa đến việc thúc đẩy phân công lao động trong nông nghiệp
và nông thôn theo hướng tăng tỷ lệ lao động công nghiệp, nghành nghề, dịch vụ và
nông thôn giảm tỷ lệ lao động nông nghiệp, thực hiện việc đa dạng hoá và chuyên
môn hoá lao động sâu sắc trong nông nghệp và nông thôn
4.Các vai trò khác
Trang 17Sự phát triển thương mại nông thôn còn có vai trò quan trọng đối với nâng cao thu
nhập của nông dân và dân cư nông thôn góp phần xoá đói giảm nghèo, rút ngắn
khoảng cách chênh lệnh và phát triển giữa thành thị và nông thôn
Phát triển thương mại nông thôn còn có vai trò to lớn trong việc cải thiện mức sống
và chất lượng cuộc sống của nông dân và cư dân nông nghiệp, góp phần xây dựng
con người mới, xây dựng nông thôn văn minh, dân chủ, đoàn kết, lành mạnh, hiện
đại, bảo vệ tốt môi trường sinh thái
III CÁC GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN THƯƠNG MẠI NÔNG THÔN
1.Phát triển nông nghiệp thành nền kinh tế hàng hoá có chất lượng ngày càng
cao, chuyển dịch mạnh mễ cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng sản xuất lớn
gắn với thị trường
Phát triển sản xuất nông nghiệp và kinh tế nông thôn để tạo ra lực lưỡng hàng hoá
dồi dào cung câps cho nhu cầu tiêu dùng trong nước, nguyên liệu cho công nghiệp
chế biến và hàng hoá xuất khẩu
Phát triển sản xuất nông nghiệp và kinh tế nông thôn cũng là điều kiện nâng coa
thu nhập của nông dân và dân cư nông thôn, đưa thu nhập dân cư nông thôn ngang
bằng với mức thu nhập chung của xã hội, trên cơ sở đó nâng cao sức mua của dân
cư nông thôn Đó chính là cơ sở mở rộng thị trường nông thôn và là tiền đề quan
trọng cho sự phát triển thương mại nông thôn
Sản xuất nông nghiệp phải phát huy được các lợi thế so sánh của từng vùng Phải
căn cứ vào nhu cầu thị trường trong nước và xuất khẩu để phát triển theo hướng đa
dạng hoá sản phẩm, đi nhanh vào những sản phẩm mà ta có khả năng và thị trường
thế giới đang cần Muốn vậy phải dự báo xu hướng tiêu dùng nông sản trong nước
và nhu cầu hàng hoá trên thị trường thế giới để xác định cơ cấu sản xuất nông
nghiệp tối ưu
Thị trường nông sản thô (không qua chế biến ) không có tương lai đáng kể ngay cả
đối với những mặt hàng chúnh ta đang có lợi thế như gạo, cà phê Cần phát triển
nhanh chóng công nghiệp chế biến nông lâm thuỷ sản Việc chuyển hướng sang
Trang 18chế biến nông sản là phương hướng chiến lược để đưa kinh tế nong thôn đi lên kinh
tế hàng hoá sản xuất lớn
Công nghiệp chế biến nông lâm hải sản trước hết cần hướng vào phục vụ xuất
khẩu Cần phải xây dựng các cơ sở chế biến, áp dụng công nghệ kỹ thuật hiện đại
của thế giới để tăng chất lượng và sức canh tranh sản phẩm Việt Nam trên thị
trường quốc tế
Nghiên cứu sự chuyển dịch nhu cầu tiêu dùng của thị trường nội địa để phát triển
cơ sở chế biến quy mô nhỏ là hình thức thích hợp và phổ biến với nhiều khu vực
nông thôn, để tạo ra các sản phẩm đa dạng giá thành hạ phù hopự với như cầu tiêu
dùng của dân cư trong nước
Phát triển các ngành công nghiệp phục vụ sản xuất nông nghiệp ưu tiên phát triển
các ngành công nghiệp khác là những sử dụng nhiều lao động ở các vùng nông
thôn để tạo việc làm và giải quyết vấn ddề dư thừa lao động ở nông thôn
Phát triển tiểu thủ công nghiệp và các ngành nghề, đặc biệt là các làng nghề truyền
thống ở nông thôn nhằm thoả mãn nhu cầu tiêu dùng trong nước Kết hợp sản xuất
những mặt hàng có sắc thái vùng, chất lượng và hàm lượng công nghệ, văn hoá
nghệ thuật cao để phục vụ cho xuất khẩu và nhu cầu khách du lịch
Củng cố mở mang du lịch nông thôn, phát triển thêm những ngành nghề mới một
mặt tạo thêm việc làm mặt khác tăng nhanh thu nhập và naang cao đời sống của
dân cư nông thôn
2 Tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của các loại hình thương nhân trên
địa bàn nông thôn
a Sắp xếp lại và đổi mới hoạt động thương mại nhà nước trên địa bàn nông
thôn
Chuyển sang nền kinh tế thị trường các doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế nhà
nước do chưa chuyển đổi kịp với yêu cầu của cơ chế thị trường nên kinh doanh còn
thiếu năng động, thói quen bao cấp, buôn bán theo mệnh lệnh hành chính còn rất