Biện pháp quản lý bồi dưỡng giáo viên tại Trung tâm Dạy nghề và Giáo dục thường xuyên cấp quận theo yêu cầu đổi mới căn bản toàn diện giáo dục là một nội dung cấp bách cần được đặt ra, đ
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: TS LÝ TIẾN HÙNG
THÁI NGUYÊN - 2014
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, dưới sự hướng dẫn của TS Lý Tiến Hùng Tất cả các nguồn tài liệu tham khảo được dùng đều có xuất xứ rõ ràng, được trích dẫn hợp pháp
Tôi xin chịu trách nhiệm và chịu mọi hình thức kỉ luật theo quy định cho lời cam đoan của mình
Thái Nguyên, tháng năm 2014
Học viên
Bùi Thúy Hường
Trang 4Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã dành cho tôi sự động viên khích lệ trong suốt quá trình hoàn thiện luận văn
Tuy nhiên vì điều kiện thời gian và khả năng có hạn nên luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót Rất mong thầy cô và các bạn đóng góp ý kiến để
đề tài đƣợc hoàn thiện hơn
Thái Nguyên, tháng năm 2014
Học viên thực hiện
Bùi Thúy Hường
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT iv
DANH MỤC CÁC BẢNG v
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 2
4 Giải thuyết nghiên cứu 3
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
6 Giới hạn nghiên cứu 4
7 Phương pháp nghiên cứu 4
8 Những nội dung nghiên cứu chính 5
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BIỆN PHÁP QUẢN LÝ BỒI DƯỠNG GIÁO VIÊN TRUNG TÂM DẠY NGHỀ VÀ GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN 6
1.1 Tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề 6
1.1.1 Tình hình trên thế giới 6
1.1.2 Tình hình trong nước 8
1.2 Một số khái niệm cơ bản 12
1.2.1 Quản lý, quản lý giáo dục, GDTX, giáo dục dạy nghề, giáo viên trung tâm GDTX, giáo viên dạy nghề, quản lý Nhà trường 12
1.2.2 Bồi dưỡng giáo viên GDTX 22
1.3 Giáo dục thường xuyên 23
1.3.1 Giáo dục thường xuyên và dạy nghề trong hệ thống giáo dục quốc dân 23
1.3.2 Vai trò, vị trí, nhiệm vụ và yêu cầu đối với giáo viên Trung tâm Dạy nghề và GDTX 24
Trang 61.4 Định hướng mục tiêu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo
ở bậc giáo dục phổ thông và thường xuyên 25
1.4.1 Nghị quyết TW 8 về mục tiêu đổi mới căn bản toàn diện giáo dục 25
1.4.2 Quy định chuẩn nghề nghiệp giáo viên dạy nghề và GDTX 26
1.4.3 Chương trình bồi dưỡng thường xuyên giáo viên Giáo dục thường xuyên theo quy định hiện hành 27
1.5 Nội hàm và một số vấn đề cấp thiết của quản lý bồi dưỡng giáo viên GDTX 29
1.5.1 Nội hàm của quản lý bồi dưỡng giáo viên tại Trung tâm GDTX đáp ứng mục tiêu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục 29
1.5.2 Một số vấn đề cấp thiết trong bồi dưỡng giáo viên Trung tâm GDTX 29
1.5.3 Nguyên tắc đảm bảo tính mục tiêu, toàn diện, thực tiễn, khả thi 30
1.6 Nội dung quản lý bồi dưỡng giáo viên GDTX 31
1.6.1 Xác định nội dung bồi dưỡng giáo viên GDTX 31
1.6.2 Lập kế hoạch bồi dưỡng 31
1.6.3 Tổ chức triển khai thực hiện kế hoạch 33
1.6.4 Chỉ đạo thực hiện kế hoạch 33
1.6.5 Công tác kiểm tra, đánh giá kết quả bồi dưỡng 34
1.7 Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên 34
1.7.1 Yếu tố chủ quan 34
1.7.2 Yếu tố khách quan 35
Kết luận chương 1 36
Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ BỒI DƯỠNG GIÁO VIÊN TẠI TRUNG TÂM DẠY NGHỀ VÀ GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN QUẬN HẢI AN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG 37
2.1 Khái quát chung về đặc điểm của Quận Hải An và Trung tâm DN & GDTX Quận hải An thành phố Hải Phòng 37
Trang 72.2 Thực trạng năng lực bồi dưỡng thường xuyên tại Trung tâm Dạy
nghề và GDTX quận Hải An, thành phố Hải Phòng 43
2.2.1 Về trình độ đào tạo 44
2.2.2 Về xếp loại phẩm chất chính trị, đạo đức lối sống 45
2.2.3 Xếp loại về kiến thức, năng lực của giáo viên trong trung tâm 47
2.3 Thực trạng công tác quản lý hoạt động bồi dưỡng thường xuyên tại trung tâm GDTX quận Hải An, thành phố Hải Phòng 48
2.3.1 Thực trạng xác định mục tiêu, nội dung, phương pháp, hình thức, nguồn lực bồi dưỡng thường xuyên cho giáo viên tại trung tâm 49
2.3.2 Quản lý việc thực hiện kế hoạch và nội dung bồi dưỡng thường xuyên tại trung tâm 50
2.3.3 Quản lý kiểm tra, đánh giá kết quả bồi dưỡng thường xuyên cho giáo viên 52
2.4 Đánh giá về thực trạng quản lý công tác bồi dưỡng cho giáo viên tại Trung tâm 53
2.4.1 Ưu điểm quản lý công tác bồi dưỡng cho giáo viên tại Trung tâm 53
2.4.2 Hạn chế và nguyên nhân về thực trạng quản lý công tác bồi dưỡng cho giáo viên tại Trung tâm 54
Kết luận chương 2 57
Chương 3 ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP QUẢN LÝ BỒI DƯỠNG GIÁO VIÊN THEO YÊU CẦU ĐỔI MỚI CĂN BẢN TOÀN DIỆN GIÁO DỤC TẠI TRUNG TÂM DẠY NGHỀ VÀ GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN QUẬN HẢI AN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG 60
3.1 Nguyên tắc đề xuất biện pháp 60
3.1.1 Đảm bảo tính mục tiêu giáo dục 60
3.1.2 Đảm bảo tính hệ thống và đồng bộ 60
3.1.3 Đảm bảo tính thực tiễn và khả thi 61
3.1.4 Đảm bảo tính kế thừa và phát triển 61
Trang 83.1.5 Đảm bảo tính hiệu quả 61
3.2 Đề xuất các biện pháp quản lý bồi giáo viên tại Trung tâm Dạy nghề và GDTX quận Hải An thành phố Hải Phòng theo yêu cầu đổi mới căn bản toàn diện giáo dục và đào tạo 62
3.2.1 Biện pháp 1: Xác định nhu cầu bồi dưỡng 62
3.2.2 Biện pháp 2: Xây dựng nội dung bồi dưỡng 64
3.2.3 Biện pháp 3: Đa dạng hóa hình thức bồi dưỡng 68
3.2.4 Biện pháp 4: Xây dựng và thực hiện kế hoạch kiểm tra, đánh giá hoạt động bồi dưỡng giáo viên 69
3.2.5 Biện pháp 5: Đảm bảo các điều kiện cho hoạt động tự bồi dưỡng của giáo viên 72
3.2.6 Biện pháp 6: Nâng cao nhận thức của giáo viên về định hướng đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo 73
3.3 Khảo nghiệm mức độ cần thiết và khả thi của các biện pháp 74
3.3.1 Các bước trưng cầu ý kiến 74
3.3.2 Kết quả trưng cầu ý kiến 76
Kết luận chương 3 79
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 80
1 Kết luận 80
2 Khuyến nghị 82
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 84 PHỤ LỤC
Trang 9DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
BDTX : Bồi dưỡng thường xuyên CSVC : Cơ sở vật chất
GDTX : Giáo dục thường xuyên
KT - XH : Kinh tế - xã hội
QL : Quản lý QLGD : Quản lý giáo dục SGK : Sách giáo khoa
Trang 10dưỡng thường xuyên cho giáo viên của giám đốc trung tâm 50 Bảng 2.6 Kết quả điều tra giáo viên về quản lý kiểm tra, đánh giá kết quả
bồi dưỡng thường xuyên cho giáo viên 52 Bảng 3.1 Thống kê kết quả tính điểm cho từng biện pháp 77
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Hiện nay, định hướng nghề nghiệp và giáo dục thường xuyên là xu thế phát triển tất yếu trên thế giới, có vị trí chiến lược và vai trò quan trọng không thể thiếu được trong hệ thống giáo dục quốc dân của mỗi quốc gia Việt Nam, định hướng nghề nghiệp và giáo dục thường xuyên là bộ phận quan trọng bên cạnh giáo dục chính quy trong hệ thống giáo dục quốc dân
Song hành với giáo dục thường xuyên thì việc dạy nghề cũng đóng vai trò rất quan trọng Đó là một bộ phận trong hệ thống giáo dục quốc dân, dạy nghề có nhiệm vụ đào tạo nguồn nhân lực trực tiếp trong sản xuất, kinh doanh
và dịch vụ Trong những năm qua, dạy nghề đã phát triển mạnh cả về quy mô
và chất lượng, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu nhân lực của thị trường lao động, những thay đổi nhanh chóng của kỹ thuật công nghệ và nhu cầu đa dạng của người lao động học nghề, lập nghiệp
Trung tâm Dạy nghề và Giáo dục thường xuyên quận Hải An thành phố Hải Phòng được thành lập theo quyết định số 1110 ngày 1/6/2013 của UBND thành phố Hải Phòng, là tiền thân của hai Trung tâm hợp nhất: Trung tâm Dạy nghề và Trung tâm Giáo dục thường xuyên
Biện pháp quản lý bồi dưỡng giáo viên tại Trung tâm Dạy nghề và Giáo dục thường xuyên cấp quận theo yêu cầu đổi mới căn bản toàn diện giáo dục là một nội dung cấp bách cần được đặt ra, đặc biệt là những Trung tâm Dạy nghề và GDTX mới hợp nhất trên địa bàn thành phố Hải Phòng như Trung tâm Dạy nghề và GDTX quận Hải An nói riêng và các Trung tâm khác nói chung mới đi vào hoạt động còn rất nhiều hạn chế, yếu kém và bất cập
Trang 12Được phân công làm phó giám đốc Trung tâm, tôi luôn trăn trở với suy nghĩ: Làm thế nào để có những biện pháp quản lý bồi dưỡng giáo viên tại Trung tâm Dạy nghề và GDTX quận Hải An mạnh về chất lượng, đổi mới về phương pháp theo yêu cầu đổi mới căn bản toàn diện giáo dục Mong mỏi này không chỉ của riêng tôi, của Trung tâm mà là của toàn xã hội
Xuất phát từ những suy nghĩ đó, tôi chọn đề tài:
quận Hải An thành phố Hải Phòng”
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
- Khách thể nghiên cứu: Hoạt động bồi dưỡng thường xuyên giáo viên
tại Trung tâm dạy nghề và Giáo dục thường xuyên
- Đối tượng: Biện pháp quản lý bồi dưỡng giáo viên theo yêu cầu đổi
mới căn bản toàn diện giáo dục tại Trung tâm Dạy nghề và Giáo dục thường xuyên quận Hải An thành phố Hải Phòng
- Khách thể khảo sát: Các giáo viên tại Trung tâm Dạy nghề và Giáo dục
thường xuyên quận Hải An thành phố Hải Phòng
Trang 134 Giải thuyết nghiên cứu
Hiện nay, các giáo viên giảng dạy tại Trung tâm Dạy nghề và Giáo dục thường xuyên quận Hải An thành phố Hải Phòng do nhiều nguyên nhân, không đồng bộ về cơ cấu, hiệu quả đào tạo thấp, các biện pháp quản lý bồi dưỡng giáo viên tại Trung tâm Dạy nghề và Giáo dục thường xuyên quận Hải An thành phố Hải Phòng còn bộc lộ nhiều yếu kém, bất cập và chưa đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản toàn diện giáo dục
Nếu xây dựng hệ thống biện pháp phát triển các giáo viên theo yêu cầu đổi mới căn bản toàn diện giáo dục tại Trung tâm Dạy nghề và Giáo dục thường xuyên quận Hải An thành phố Hải Phòng sẽ tác động trực tiếp đến các thành tố cấu trúc của các giáo viên; góp phần nâng cao uy tín và chất lượng, góp phần nâng cao uy tín và chất lượng Nhà giáo, bồi dưỡng quản lý giáo viên
và nâng cao chất lượng giáo dục đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản toàn diện giáo dục tại Trung tâm Dạy nghề và Giáo dục thường xuyên quận Hải An thành phố Hải Phòng
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
1 Xác định cơ sở lý luận về các biện pháp quản lý bồi dưỡng giáo viên theo yêu cầu đổi mới căn bản toàn diện giáo dục
2 Khảo sát, phân tích và đánh giá thực trạng các biện pháp quản lý bồi dưỡng giáo viên tại Trung tâm Dạy nghề và Giáo dục thường xuyên quận Hải An thành phố Hải Phòng
3 Đề xuất các biện pháp quản lý bồi dưỡng giáo viên theo yêu cầu đổi mới căn bản toàn diện giáo dục tại Trung tâm Dạy nghề và Giáo dục thường xuyên quận Hải An thành phố Hải Phòng
Trang 146 Giới hạn nghiên cứu
Trong luận văn này tôi tập trung nghiên cứu quản lí bồi dưỡng giáo viên ngành học GDTX trong ba năm học từ năm 2011 đến năm 2014
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lí luận
- Phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa, khái quát hóa trong nghiên cứu các nguồn tài liệu và thực tiễn có liên quan tới biện pháp quản lý bồi dưỡng giáo viên Trung tâm Dạy nghề và Giáo dục thường xuyên cấp quận
- Phương pháp xin ý kiến chuyên gia góp ý về cách xử lý kết quả điều tra
về biện pháp quản lý bồi dưỡng giáo viên tại Trung tâm Dạy nghề và Giáo dục thường xuyên quận Hải An thành phố Hải Phòng
7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp thống kê số liệu các đề tài nghiên cứu khoa học của các cán bộ quản lý giáo dục, tổng hợp các báo cáo nhận xét về kết quả nghiên cứu của đề tài
- Phương pháp trao đổi, phỏng vấn với các cán bộ quản lý, giáo viên giảng dạy tại Trung tâm Dạy nghề và Giáo dục thường xuyên quận Hải An thành phố Hải Phòng để thu thập các thông tin thực trạng hoạt động quản lý bồi dưỡng giáo viên tại Trung tâm Dạy nghề và Giáo dục thường xuyên quận Hải An thành phố Hải Phòng
Trang 158 Những nội dung nghiên cứu chính
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phần tài liệu tham khảo, phần phụ lục Luận văn được trình bày trong 3 chương:
Chương 1 Cơ sở lý luận về biện pháp quản lý bồi dưỡng giáo viên Trung
tâm dạy nghề và giáo dục thường xuyên
Chương 2 Thực trạng quản lý bồi dưỡng giáo viên tại Trung tâm dạy
nghề và giáo dục thường xuyên quận Hải An thành phố Hải Phòng
Chương 3 Đề xuất biện pháp quản lý bồi dưỡng giáo viên theo yêu cầu
đổi mới căn bản toàn diện giáo dục tại Trung tâm dạy nghề và giáo dục thường xuyên quận Hải An thành phố Hải Phòng
Trang 16để kịp thời bổ sung kiến thức và đổi mới phương pháp giảng dạy để phù hợp với sự phát triển kinh tế - xã hội là phương châm hành động của các cấp quản lý giáo dục
Ở Ấn độ vào năm 1988 đã quyết định thành lập hàng loạt các trung tâm học tập trong cả nước nhằm tạo cơ hội học tập suốt đời cho mọi người Việc bồi dưỡng giáo viên được tiến hành ở các trung tâm này đã mang lại hiệu quả rất thiết thực
Hội nghị UNESCO tổ chức tại NêPan vào năm 1998 về tổ chức quản lý nhà trường đã khẳng định: “Xây dựng, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên là vấn đề
cơ bản trong phát triển giáo dục”
Đại đa số các trường sư phạm ở Úc, New Zeland, Canada,… đã thành lập các cơ sở chuyên bồi dưỡng giáo viên để tạo điều kiện thuận lợi cho giáo viên tham gia học tập nhằm không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ
Tại Pakistan, nhà nước đã xây dựng chương trình bồi dưỡng về sư phạm cho đội ngũ giáo viên và quy định trong thời gian 3 tháng cần bồi dưỡng những nội dung gồm: giáo dục nghiệp vụ dạy học; Cơ sở tâm lý giáo viên; Phương
Trang 17pháp nghiên cứu, đánh giá và nhận xét HS,… đối với đội ngũ giáo viên mới vào nghề chưa quá 3 năm
Ở Philippin, công tác nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên không tiến hành tổ chức trong năm học mà tổ chức bồi dưỡng thành từng khóa học trong thời gian HS nghỉ hè Hè thứ nhất bao gồm các nội dung môn học, nguyên tắc dạy học, tâm lý học và đánh giá giáo dục; Hè thứ hai gồm các môn về quan hệ con người, triết học giáo dục, nội dung và phương pháp giáo dục; Hè thứ ba gồm nghiên cứu giáo dục, viết tài liệu trong giáo dục và Hè thứ tư gồm kiến thức nâng cao, kỹ năng nhận xét, vấn đề lập kế hoạch giảng dạy, viết tài liệu giảng dạy, viết sách giáo khoa, viết sách tham khảo
Tại Nhật Bản, việc bồi dưỡng và đào tạo lại cho đội ngũ giáo viên, cán
bộ quản lý giáo dục là nhiệm vụ bắt buộc đối với người lao động sư phạm Tùy theo thực tế của từng đơn vị, từng cá nhân mà cấp quản lý giáo dục đề ra các phương thức bồi dưỡng khác nhau trong một phạm vi theo yêu cầu nhất định
Cụ thể là mỗi cơ sở giáo dục cử từ 3 đến 5 giáo viên được đào tạo lại một lần theo chuyên môn mới và tập trung nhiều vào đổi mới phương pháp dạy học
Tại Thái Lan, từ năm 1998 việc bồi dưỡng giáo viên được tiến hành ở các trung tâm học tập cộng đồng nhằm thực hiện giáo dục cơ bản, huấn luyện kỹ năng nghề nghiệp và thông tin tư vấn cho mọi người dân trong xã hội
Tại Triều Tiên một trong những nước có chính sách rất thiết thực về bồi dưỡng và đào tạo lại cho đội ngũ giáo viên Tất cả giáo viên đều phải tham gia học tập đầy đủ các nội dung về chương trình về nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ theo quy định Nhà nước đã đưa ra “Chương trình bồi dưỡng giáo viên mới” để bồi dưỡng đội ngũ giáo viên được thực hiện trong 10 năm và “Chương trình trao đổi” để đưa giáo viên đi tập huấn ở nước ngoài
Trang 18Tại Liên Xô (cũ) các nhà nghiên cứu quản lý giáo dục như: M.I.Kônđacốp, P.V Khuđominxki… đã rất quan tâm tới việc nâng cao chất lượng dạy học thông qua các biện pháp quản lý có hiệu quả Muốn nâng cao chất lượng dạy học phải có đội ngũ giáo viên có năng lực chuyên môn Họ cho rằng kết quả toàn bộ hoạt động của nhà trường phụ thuộc rất nhiều vào việc tổ chức đúng đắn và hợp lý công tác quản lý bồi dưỡng, phát triển đội ngũ
Trên thế giới có một công trình nghiên cứu được thừa nhận như một triết
lý giáo dục thế kỷ XXI đó là báo cáo của Ủy ban Quốc tế về giáo dục, với tên gọi “học tập, một kho báu tiềm ẩn” dưới sự chủ trì của Jacques Delors, do UNESCO công bố tháng 4 năm 1996, theo đó một nền giáo dục cần thiết cho thế kỷ XXI phải là học tập suốt đời và xã hội học tập
Các nhà giáo dục hàng đầu thế giới như Alvin Toffler, Warren Bennis, Stephen Covey, Gary Hamel, Kevin Kelly, Philip Kotler, John Kotter Michael Porter, Perer Senge, Thoms L Friedman, Raja.Roysingh, Tsunesaburo Makiguchi
đã phân tích các đặc trưng của xã hội hiện đại, một xã hội được xây dựng trên nền tảng của tri thức đang phát triển rất nhanh, biến đổi rất mau lẹ ở cấp độ toàn cầu, từ đó các ông kết luận rằng cần phải xây dựng một xã hội học tập giúp cho mọi người dân được học tập thường xuyên và suốt đời
1.1.2 Tình hình trong nước
Ngay từ thời xa xưa, ông cha ta đã rất coi trọng vai trò của người thầy giáo như: “Không thầy đố mày làm nên”, không có thầy giáo thì sẽ không có giáo dục Điều đó nhắc nhở mọi người phải quan tâm mọi mặt và toàn diện đến giáo dục mà chủ thể đóng vai trò quan trọng nhất đó chính là đội ngũ giáo viên
Vấn đề phát triển giáo dục và nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ ra trong thư gửi các cán bộ, các thầy giáo, cô
Trang 19giáo, công nhân viên, HS, sinh viên nhân dịp bắt đầu năm học mới ngày 16 tháng
10 năm 1968 rằng: “Giáo dục nhằm đào tạo những người kế tục sự nghiệp cách mạng to lớn của Đảng và nhân dân, do đó các ngành các cấp Đảng, chính quyền địa phương phải thực sự quan tâm đến sự nghiệp này, phải chăm sóc nhà trường
về mọi mặt, đẩy sự nghiệp giáo dục của ta những bước phát triển mới” [24],
“Cán bộ và giáo dục phải tiến bộ cho kịp thời đại mới làm được nhiệm vụ, chớ
tự túc tự mãn cho là giỏi rồi thì dừng lại” [25, 489]
Kể từ sau cách mạng tháng Tám thành công và các cuộc cải cách giáo dục năm 1950, 1956, 1979 và trong những năm “Đổi mới” nhiều công trình nghiên cứu đã để lại những bài học quý giá về xây dựng và phát triển đội ngũ
GV như: Nguyễn Thị Phương Hoa (2002, Con đường nâng cao chất lượng cải cách các cơ sở đào tạo giáo viên); Đinh Quang Báo (2005, Giải pháp đổi mới phương thức đào tạo nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên); Đặng Quốc Bảo, Đỗ Quốc Anh, Đinh Thị Kim Thoa (2007, Cẩm nang nâng cao năng lực và phẩm chất đội ngũ giáo viên); Nguyễn Hữu Châu, Nguyễn Văn Cường, Trần Bá Hoành, Nguyễn Bá Kim, Lâm Quang Thiệp (Đổi mới nội dung đào tạo giáo viên THCS theo chương trình cao đẳng sư phạm mới); Bùi Văn Quân, Nguyễn Ngọc Cầu (Một số cách tiếp cận trong nghiên cứu và phát triển đội ngũ giảng viên),… Các công trình này nghiên cứu phát triển đội ngũ theo 3
hướng: a) Nghiên cứu phát triển đội ngũ GV dưới góc độ phát triển nguồn nhân lực; b) Nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục và c) Nghiên cứu đề xuất hệ thống các giải pháp xây dựng phát triển đội ngũ giáo viên trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Tuy nhiên các công trình kể trên hầu hết vẫn còn để lại khoảng trống nghiên cứu về quản
lý đội ngũ giáo viên trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa,
về chính sách tuyển dụng, sử dụng và về vai trò, vị trí mới của đội ngũ giáo
Trang 20viên trong tiến trình phát triển nhà trường Việt Nam trong thời kỳ hội nhập quốc tế và xu thế toàn cầu hóa
Sau hơn 25 năm đổi mới, nhiều giải pháp nhằm xây dựng và phát triển đội ngũ giáo viên ở các cấp học, bậc học đã được nghiên cứu và áp dụng rộng rãi Đặc biệt từ khi có chủ trương của Đảng và Nghị quyết của Quốc hội về đổi mới chương trình giáo dục phổ thông thì một số dự án, công trình nghiên cứu khoa học lớn liên quan đến đội ngũ GV ở tất cả các cấp học, bậc học đã được thực hiện
Đối với tỉnh Lâm Đồng trong những năm của thập kỷ 90 của thế kỷ trước, do giáo dục của Tỉnh phải đương đầu với quy mô học sinh tăng nhanh (chủ yếu do di dân, tăng dân số cơ học), dẫn đến sự mất cân đối nghiêm trọng
về nhiều mặt, trong đó có đội ngũ giáo viên Cũng như hầu hết các địa phương trên cả nước, tỉnh Lâm Đồng phải đối phó với việc phải tăng nhanh số lượng giáo viên để đáp ứng cho sự nghiệp giáo dục của Tỉnh nhà bằng nhiều giải pháp tình thế như: Đào tạo giáo viên cấp tốc, vừa đào tạo vừa giảng dạy, tuyển dụng trái chuyên môn hoặc tuyển những người chưa qua các lớp bồi dưỡng nghiệp vụ
sư phạm hoặc là cho nợ chuẩn chuyên môn… Tất cả những giải pháp tình thế trên đã làm cho chất lượng đội ngũ bị giảm sút nghiêm trọng, thậm chí có những lúc, những nơi chất lượng đội ngũ giáo viên đã làm ảnh hưởng không nhỏ đến cả một thế hệ HS Nhiều loại hình đào tạo, nhiều hình thức bồi dưỡng đã được mở rộng thiếu tính quy hoạch, kế hoạch đã làm sai lệch cơ cấu đội ngũ giáo viên Và hiện nay ảnh hưởng của những hạn chế về chất lượng đội ngũ giáo viên vẫn còn tồn tại trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng mà chưa có giải pháp nào tháo gỡ một cách triệt để
Ở địa bàn Đà Lạt là thành phố đô thị loại I thuộc Tỉnh, tuy chất lượng đội ngũ được quan tâm đầu tư hơn các địa bàn khác trong Tỉnh và hầu hết đều đạt
Trang 21chuẩn về trình độ Nhưng vẫn còn một bộ phận nhỏ đội ngũ giáo viên còn có những hạn chế, đòi hỏi phải có giải pháp để nâng cao chất lượng đội ngũ đáp ứng thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Tuy nhiên cho đến nay còn
ít những công trình nghiên cứu về phát triển đội ngũ giáo viên THPT dựa trên chuẩn giáo viên đặc biệt là những nghiên cứu về đội ngũ giáo viên THPT nhất
là đội ngũ giáo viên các trường vùng ven thành phố Đà Lạt đáp ứng xây dựng trường đạt chuẩn quốc gia
Giáo dục - đào tạo Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu, kết quả, góp phần quan trọng vào thắng lợi của công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Tuy nhiên, trong quá trình phát triển, giáo dục - đào tạo đã bộc lộ những yếu kém, bất cập, trong đó có những vấn đề gây bức xúc xã hội kéo dài, chưa đáp ứng được yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế Những đổi mới giáo dục trong thời gian qua thiếu đồng bộ, còn chắp vá; nhiều chính sách, cơ chế, biện pháp về giáo dục đã từng có hiệu quả, nay trở nên không còn phù hợp với giai đoạn phát triển mới của đất nước, cần được điều chỉnh, bổ sung
Công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, đặc biệt là yêu cầu chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo chiều sâu và cơ cấu lại nền kinh tế t
nhân lực sẽ là yếu tố cản trở sự phát triển của đất nước
cạnh tranh quyết liệt trên nhiều lĩnh vực giữa các q
Trang 22
Trước thực tế trên, Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đã xác định
"Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục theo hướng chuẩn hoá, hiện đại hoá,
xã hội hoá, dân chủ hoá và hội nhập quốc tế" và "
"
Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục là một công việc hết sức trọng đại Trung ương ban hành Nghị quyết để thống nhất nhận thức và hành động; phát huy trí tuệ của toàn Đảng, toàn dân, huy động các nguồn lực với sự phối hợp của nhiều cơ quan, ban ngành và các tổ chức xã hội cho sự nghiệp giáo dục
1.2 Một số khái niệm cơ bản
1.2.1 Quản lý, quản lý giáo dục, GDTX, giáo dục dạy nghề, giáo viên trung tâm GDTX, giáo viên dạy nghề, quản lý Nhà trường
- Quản lý:
Có nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm quản lý, cụ thể như sau: Theo học thuyết Mác- Lênin “Quản lý xã hội một cách khoa học là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý đối với toàn bộ hay một những hệ thống khác nhau của hệ thống xã hội Trên cơ sở vận dụng đúng đắn những qui luật
và xu hướng khách quan vốn có của nó nhằm đảm bảo cho nó hoạt động và phát triển tối ưu theo mục đích đặt ra”
Theo Henry Fayon (1841-1925) thì: “Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hóa,
Trang 23tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra” Ông khẳng định “Khi con người lao động hiệp tác thì điều tối quan trọng là họ cần phải xác định rõ công việc mà họ phải hoàn thành, và các nhiệm vụ của mỗi cá nhân phải là mắt lưới dệt nên mục tiêu của tổ chức”
Theo Nguyễn Ngọc Quang (1989), nhà sư phạm, người góp phần đổi mới lý luận dạy học, đã nêu về khái niệm quản lý trong tập bài giảng “những khái niệm cơ bản về quản lý giáo dục” như sau: Quản lý là sự tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thế quản lý đến tập thể những người lao động gọi chung là khách thể quản lý, nhằm thực hiện các hoạt động để đạt được mục tiêu
dự kiến
Còn theo Nguyễn Bá Sơn (2000), trong tác phẩm “một số vấn đề cơ bản
về khoa học quản lý” đã viết: quản lý là tác động có mục đích đến tập thể những con người để tổ chức và phối hợp hoạt động của họ trong quá trình lao động Như vậy, có thể nói: quản lý là những tác động của chủ thể quản lý trong việc huy động, phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) trong và ngoài tổ chức một cách tối ưu nhằm đạt mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất
Quản lý có 4 chức năng cơ bản sau đây:
1 Chức năng kế hoạch hóa
2 Chức năng tổ chức
3 Chức năng lãnh đạo (chỉ đạo)
4 Chức năng kiểm tra đánh giá
Trang 24Để quản lý có hiệu quả, nhà quản lý phải linh hoạt vận dụng các lý thuyết vào những tình huống cụ thể Nó đòi hỏi sự khôn khéo và tinh tế cao để đạt tới mục tiêu Nghệ thuật này chủ yếu phải được học ngay trong thực tế
Từ điển Từ và ngữ Hán Việt của tác giả Nguyễn Lân (1989) có nghi:
“Quản lý là phụ trách việc chăm nom và sắp đặt công việc trong một tổ chức”
Trần Kiểm (1997), trong quá trình “Quản lý giáo dục và trường học” dùng cho học viên cao học chuyên ngành giáo dục học đã viết: “Quản lý nhằm phối hợp nỗ lực của nhiều người sao cho mục tiêu của từng cá nhân biến thành những thành tựu của xã hội”
Theo Nguyễn Ngọc Quang (1989), nhà sư phạm, người góp phần đổi mới lý luận dạy học, đã nêu về khái niệm quản lý trong tập bài giảng “những khái niệm cơ bản về quản lý giáo dục” như sau: Quản lý là sự tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thế quản lý đến tập thể những người lao động gọi chung là khách thể quản lý, nhằm thực hiện các hoạt động để đạt được mục tiêu
dự kiến
Còn theo Nguyễn Bá Sơn (2000), trong tác phẩm “một số vấn đề cơ bản
về khoa học quản lý” đã viết: quản lý là tác động có mục đích đến tập thể những con người để tổ chức và phối hợp hoạt động của họ trong quá trình lao động Như vậy, có thể nói: quản lý là những tác động của chủ thể quản lý trong việc huy động, phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) trong và ngoài tổ chức một cách tối ưu nhằm đạt mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất
Quản lý có 4 chức năng cơ bản sau đây:
1 Chức năng kế hoạch hóa
Trang 252 Chức năng tổ chức
3 Chức năng lãnh đạo (chỉ đạo)
4 Chức năng kiểm tra đánh giá
Để quản lý có hiệu quả, nhà quản lý phải linh hoạt vận dụng các lý thuyết vào những tình huống cụ thể Nó đòi hỏi sự khôn khéo và tinh tế cao để đạt tới mục tiêu Nghệ thuật này chủ yếu phải được học ngay trong thực tế
Tóm lại, quản lý là một khoa học vì nó nghiên cứu, phân tích công việc quản lý, các quan hệ quản lý trong tổ chức Nó tổng quát hoá các kinh nghiệm tốt thành các nguyên tắc và lý thuyết áp dụng cho mọi hình thức quản lý tương
tự Nó cung cấp khái niệm cơ bản làm nềntảng cho việc nghiên cứu các môn học về
- Quản lý giáo dục:
Theo tác giả Hồ Văn Liên, trong tập bài giảng về “tổ chức và quản lý giáo dục trường học” thì: “quản lý giáo dục là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý giáo dục đến khách thể quản lý, làm cho tổ chức đó vận hành và đạt được mục đích của tổ chức”
Như vậy, quản lý giáo dục là một loại hình quản lý được hiểu là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý tới khách thể quản lý nhằm đưa tới hoạt động sư phạm của hệ thống giáo dục đạt tới kết quả mong muốn bằng cách hiệu quản nhất
Bản chất của QLGD được biểu hiện ở các chức năng quản lý Các công trình nghiên cứu về khoa học quản lý trong những năm gần đây đã đưa
Trang 26đến một kết luận tương đối thống nhất về năm chức năng cơ bản của quản lý,
đó là:
Kế hoạch hoá tức là lập kế hoạch, phổ biến kế hoạch hoạt động
Tổ chức gồm tổ chức triển khai kế hoạch hoạt động, tổ chức nhân sự, phân công trách nhiệm trong thực hiện kế hoạch hoạt động
Kích thích nghĩa là khuyến khích, tạo động cơ hoạt động
Kiểm tra gồm theo dõi thực hiện, kiểm soát, kiểm kê, hoạch toán, phân tích quá trình thực hiện
Điều phối nghĩa là phối hợp, điều chỉnh công tác
Tổ hợp tất cả các chức năng quản lý như trên tạo nên nội dung của quá trình quản lý, nội dung làm việc của chủ thể quản lý, phương pháp quản lý và là
cơ sở để phân công lao động quản lý Vậy “Quản lý giáo dục là quá trình đạt đến mục tiêu giáo dục của hệ thống giáo dục bằng cách vận dụng các chức năng kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra…”
Tóm lại, quản lý giáo dục là một loại lao động điều khiển lao động Quản
lý giáo dục trong xã hội hiện nay là hướng tới việc nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài
, văn hóa
xã hội
Quản lý giáo dục được
Trang 27nhà trường
Ở cấp vĩ mô: Quản lí nhà nước về giáo dục là sự điều chỉnh các hoạt
động của hệ thống giáo dục quốc dân bằng quyền lực nhà nước
Ở cấp vi mô
Quản lý trường học vừa mang bản chất xã hội, vừa mang bản chất sư phạm
Nội dung quản lý nhà trường:
, chỉ thị của các cơ quan cấp trên, thông qua việc tổ chức thực hiện mục tiêu, nội dung giáo dục và bảo đảm các quy chế chuyên môn
+ Quản lý hoạt động của các tổ chuyên môn, c
học Bản chất của quản lý giáo dục trong nhà trường là quá trình tác động có định hướng của chủ thể quản lý lên các thành tố tham gia vào quá trình giáo dục nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục Các mối quan hệ này có ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục và đào tạo, chất lượng hoạt động của các nhà trường và toàn bộ hệ thống giáo dục
Trang 28Giáo dục thường xuyên là một hệ thống gồm các loại hình học tập thuộc phạm vi giáo dục tiếp tục Do vậy, giáo dục thường xuyên không bao hàm các hình thức giáo dục chính quy trong hệ giáo dục ban đầu Nói đến giáo dục thường xuyên, người ta hiểu rằng đó là giáo dục tiếp tục
- Theo quy định của Luật Giáo dục 2005, giáo dục tiếp tục bao gồm mọi loại hình giáo dục không chính quy Do tính chất bắc cầu trong quan niệm nói trên nên nói đến giáo dục thường xuyên là ai cũng hiểu rằng đó là giáo dục không chính quy
Sự phát triển mạnh mẽ của GDTX ở Việt Nam hiện nay, là sự tiếp tục của phong trào bình dân học vụ và bổ túc văn hoá từ những ngày đầu cách mạng 1945, đến năm 1951 phong trào bình dân học vụ chuyển thành phong trào bổ túc văn hoá và đào tạo tại chức từ năm 1959
Cùng với giáo dục chính quy, GDTX thuộc hệ thống giáo dục quốc dân,
là phương thức giáo dục giúp mọi người vừa làm, vừa học, học liên tục, học suốt đời nhằm hoàn thiện nhân cách, mở rộng hiểu biết, nâng cao trình độ học vấn, chuyên môn, nghiệp vụ để cải thiện chất lượng cuộc sống, tìm việc làm và thích nghi với đời sống, góp phần phần phát triển xã hội Ngày nay GDTX là một bộ phận quan trọng bên cạnh giáo dục chính quy trong hệ thống giáo dục quốc dân
- Cùng với sự phát triển chung của cả nước, cùng với giáo dục chính quy,
hệ thống GDTX
- Giáo dục thường xuyên:
Hải An được xây dựng và phát triển mạnh mẽ, thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ như các trung tâm GDTX khác trên cả nước
Trang 29- Giáo dục dạy nghề:
Giáo dục dạy nghề là một phân hệ trong hệ thống GD quốc dân nhằm đào tạo ra những LĐKT có kiến thức, kĩ năng và thái độ nghề nghiệp ở trình độ dưới đại học, có thể thực hiện được các công việc với các mức độ phức tạp, mức độ khó trung bình với các công nghệ khác nhau, phù hợp với ngành, nghề
ở các cấp trình độ khác nhau, trực tiếp làm ra sản phẩm hàng hóa hoặc dịch vụ
- Giáo viên trung tâm giáo dục thường xuyên:
+ Theo Luật giáo dục và Quy chế tổ chức và hoạt động của trung tâm GDTX ban hành theo quyết định 01/2007/QĐ-BGD&ĐT: Giáo viên của trung tâm GDTX (sau đây gọi tắt là giáo viên) là người làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục tại trung tâm GDTX, tham gia giảng dạy các chương trình quy định
Giáo viên giáo dục thường xuyên là những người có thể thực hiện những hoạt động sư phạm, đã tích luỹ được vốn tri thức, hiểu biết và kỹ năng nhất định
để làm tốt hoạt động giảng dạy trong ngành học giáo dục thường xuyên
Giáo viên có những nhiệm vụ sau đây:
1 Thực hiện nhiệm vụ giảng dạy theo mục tiêu, nội dung, chương trình giáo dục, kế hoạch dạy học; quản lý học viên theo sự phân công của giám đốc trung tâm giáo dục thường xuyên
2 Rèn luyện đạo đức, bồi dưỡng chuyên môn và nghiệp vụ để nâng cao chất lượng và hiệu quả giảng dạy
3 Thực hiện các quyết định của giám đốc, các quy định của pháp luật và quy định của Quy chế này
Trang 304 Giữ gìn phẩm chất, uy tín, danh dự của nhà giáo; đoàn kết, giúp đỡ các đồng nghiệp; gương mẫu trước học viên, tôn trọng nhân cách của học viên, đối
xử công bằng với học viên, bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của học viên
Giáo viên trung tâm giáo dục thường xuyên có những quyền sau đây:
1 Được trung tâm tạo điều kiện để thực hiện nhiệm vụ được giao
2 Được hưởng mọi quyền lợi theo quy định đối với nhà giáo
3 Được trực tiếp hoặc thông qua tổ chức của mình tham gia quản lý trung tâm
4 Được tham gia các hoạt động nghiên cứu khoa học, lao động sản xuất, dịch vụ chuyển giao công nghệ do trung tâm tổ chức
5 Được dự các cuộc họp của hội đồng khen thưởng và hội đồng kỷ luật khi các hội đồng này giải quyết những vấn đề có liên quan đến học viên của lớp mình được phân công, phụ trách
6 Giáo viên trung tâm giáo dục thường xuyên có định mức giờ dạy, định mức giờ làm công tác kiêm nhiệm như quy định đối với giáo viên cùng cấp học
ở các cơ sở giáo dục phổ thông
- Giáo viên dạy nghề:
Giáo viên dạy nghề là những người tham hoạt động dạy nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học nghề để có thể tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khóa học
Trang 31- Quản lý Nhà trường:
Nhà trường (Cơ sở giáo dục - đào tạo) là một cơ cấu tổ chức, cũng là một
bộ phận cấu thành của một hệ thống giáo dục
Quản lý nhà trường chính là hoạt động QLGD của một cơ cấu, tổ chức giáo dục, đồng thời cũng là tác động quản lý trực tiếp tới các hoạt động giáo dục - học tập trong phạm vi nhà trường Hoạt động của nhà trường rất đa dạng, phong phú và phức tạp, nên việc quản lý, lãnh đạo một cách khoa học sẽ đảm bảo đoàn kết, thống nhất được mọi lực lượng, tạo nên sức mạnh đồng bộ nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục đích giáo dục
Quản lý nhà trường (QLNT) là thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục để tiến tới đạt mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và với từng học sinh
"Quản lý trường học là hoạt động của cơ quan quản lý nhằm tập hợp và
tổ chức các hoạt động của giáo viên, học sinh và các lực lượng giáo dục khác, cũng như huy động tối đa các nguồn lực giáo dục để nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo trong nhà trường"
Quản lý nhà trường chính là sự tác động quản lý có chủ đích của hiệu trường tới tất cả các yếu tố, các mối quan hệ chức năng, các nguồn lực nhằm đưa mọi hoạt động của nhà trường đạt đến mức phát triển cao nhất
Có nhiều cấp quản lý trường học: Cấp cao nhất là Bộ giáo dục và đào tạo, nơi quản lý nhà trường bằng các biện pháp quản lý hành chính vĩ mô Có hai cấp trung gian quản lý trường học là Sở giáo dục và đào tạo ở tỉnh, thành
Trang 32phố và các phòng giáo dục đào tạo ở quận, huyện Cấp quản lý trực tiếp chính
là sự tác động của hiệu trưởng quản lý các hoạt động giáo dục, huy động tối đa các nguồn lực giáo dục để nâng cao chất lượng giáo dục nhà trường
Mục đích của quản lý nhà trường là đưa trường từ trạng thái hiện có tiến lên một trạng thái phát triển mới bằng các biện pháp quản lý và phát triển chất lượng giáo dục của nhà trường
1.2.2 Bồi dưỡng giáo viên GDTX
Quản lý giáo viên nghĩa là định hướng, kiểm soát, điều tiết và phối hợp các hoạt động giáo viên trong hoạt động giáo dục tại các cơ sở giáo dục nhằm đảm bảo các tiêu chí giáo dục của đơn vị, các nhiệm vụ đặt ra của đơn vị; ngành giáo dục địa phương và hơn hết đó là thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị của người giáo viên được xã hội giao phó Muốn được như vậy, cơ quan quản lý phải đảm bảo các nguyên tắc về quản lý đối với đội ngũ giáo viên: Lập kế hoạch về việc đảm bảo giáo viên - Tổ chức thực hiện công tác đảm bảo giáo viên - Chỉ đạo các bộ phận, đơn vị triển khai tốt và hiệu quả về đội ngũ giáo viên - Thường xuyên tổ chức kiểm tra việc thực hiện các quy định
về giáo viên
Để quản lý tốt việc bồi dưỡng giáo viên ta phải có các biện pháp quản
lý đúng đắn Đó chính là cách làm cách giải quyết một vấn đề nào đó một cách cụ thể Trong giáo dục biện pháp thường quan niệm là yếu tố hợp thành của các phương pháp phụ thuộc vào phương pháp nhưng trong tình huống cụ thể phương pháp và biện pháp có thể chuyển hóa lẫn nhau Các biện pháp được xây dựng trên cơ sở tính kế thừa, tính phù hợp, tính khả thi, tính thực tiễn và tính hiệu quả Quản lý giáo viên được thực hiện thông qua các biện
Trang 33pháp của các nhà quản lý đối với giáo viên sao cho sự tác động đó tạo ra sự thay đổi về đội ngũ giáo viên theo hướng đảm bảo đủ về số lượng, đảm bảo về chất lượng và cân đối về cơ cấu đảm bảo yêu cầu của hoạt động giáo dục và các quy định hiện nay
Bồi dưỡng đội ngũ giáo viên trung tâm GDTX là tạo ra một đội ngũ giáo viên đồng bộ về cơ cấu, đảm bảo về chất lượng Trên cơ sở đó, đội ngũ này đảm bảo thực hiện tốt các yêu cầu của chương trình dạy học được đưa vào giảng dạy ở trung tâm GDTX và yêu cầu của ngành học GDTX
Bồi dưỡng đội ngũ giáo viên trung tâm GDTX có thể xem như một quá trình liên tục nhằm hoàn thiện hay thay đổi thực trạng hiện tại của đội ngũ, làm cho đội ngũ giáo viên ở trung tâm không ngừng phát triển cả về số lượng
và chất lượng, đáp ứng yêu cầu giảng dạy tại trung tâm trong xu hướng hội nhập, tiếp cận chuẩn nghề nghiệp giáo viên Bồi dưỡng đội ngũ giáo viên được xem như một quá trình tích cực mang tính hợp tác cao, trong đó người giáo viên tự phát triển sẽ đóng một vai trò quan trọng trong sự trưởng thành
về nghề nghiệp cũng như nhân cách của bản thân người giáo viên trong sự hào hợp cùng phát triển
1.3 Giáo dục thường xuyên
1.3.1 Giáo dục thường xuyên và dạy nghề trong hệ thống giáo dục quốc dân
Theo “Từ điển giáo dục học” GDTX là nhằm giúp mọi người được học liên tục, học suốt đời để mở rộng kiến thức, nâng cao trình độ học vấn, chuyên môn, nghiệp vụ, nhằm cải thiện chất lượng cuộc sống, tìm việc làm và thích nghi với đời sống xã hội
Trang 34Giáo dục thường xuyên được tổ chức thành các trung tâm giáo dục thường xuyên, bao gồm:
- Trung tâm GDTX của các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (gọi chung là Trung tâm GDTX cấp tỉnh)
- Trung tâm GDTX của các quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi chung là Trung tâm GDTX cấp huyện)
- Trung tâm giáo dục cộng đồng được tổ chức tại các xã, phường, thị trấn gọi chung là cấp xã)
- Trung tâm GDTX cấp huyện là một cơ sở giáo dục thu hút các tầng lớp nhân dân trong huyện đến học tập đáp ứng yêu cầu về giáo dục thế hệ trẻ và đào tạo nguồn nhân lực cho địa phương
1.3.2 Vai trò, vị trí, nhiệm vụ và yêu cầu đối với giáo viên Trung tâm Dạy nghề và GDTX
- Tổ chức thực hiện các chương trình giáo dục:
+ Chương trình xóa mù chữ và giáo dục tiếp tục sau khi biết chữ;
+ Chương trình giáo dục đáp ứng yêu cầu của người học, cập nhật kiến thức, kỹ năng, chuyển giao công nghệ;
+ Chương trình đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ bao gồm: chương trình bồi dưỡng ngoại ngữ, tin học ứng dụng, công nghệ thông tin - truyền thông; chương trình đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình
độ chuyên môn; chương trình đào tạo, bồi dưỡng nâng cao nghiệp vụ; chương trình dạy tiếng dân tộc thiểu số cho cán bộ, công chức công tác tại vùng dân tộc, miền núi theo kế hoạch hằng năm của địa phương;
Trang 35+ Chương trình giáo dục cấp trung học cơ sở và trung học phổ thông
- Điều tra nhu cầu học tập trên địa bàn, xác định nội dung học tập, đề xuất với sở giáo dục và đào tạo, chính quyền địa phương việc tổ chức các chương trình và hình thức học phù hợp với từng loại đối tượng
- Tổ chức các lớp học theo các chương trình giáo dục thường xuyên cấp trung học cơ sở và trung học phổ thông quy định tại điểm d khoản 1 của Điều này dành riêng cho các đối tượng được hưởng chính sách xã hội, người tàn tật, khuyết tật, theo kế hoạch hằng năm của địa phương
- Tổ chức dạy và thực hành kỹ thuật nghề nghiệp, các hoạt động lao động sản xuất và các hoạt động khác phục vụ học tập
- Nghiên cứu, tổng kết rút kinh nghiệm về tổ chức và hoạt động nhằm nâng cao chất lượng giáo dục góp phần phát triển hệ thống giáo dục thường xuyên
1.4 Định hướng mục tiêu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo ở bậc giáo dục phổ thông và thường xuyên
1.4.1 Nghị quyết TW 8 về mục tiêu đổi mới căn bản toàn diện giáo dục
Đối với giáo dục nghề nghiệp, tập trung đào tạo nhân lực có kiến thức,
kỹ năng và trách nhiệm nghề nghiệp Hình thành hệ thống giáo dục nghề nghiệp với nhiều phương thức và trình độ đào tạo kỹ năng nghề nghiệp theo hướng ứng dụng, thực hành, bảo đảm đáp ứng nhu cầu nhân lực kỹ thuật công nghệ của thị trường lao động trong nước và quốc tế
Trang 36Đối với giáo dục thường xuyên, bảo đảm cơ hội cho mọi người, nhất là ở vùng nông thôn, vùng khó khăn, các đối tượng chính sách được học tập nâng cao kiến thức, trình độ, kỹ năng chuyên môn nghiệp vụ và chất lượng cuộc sống; tạo điều kiện thuận lợi để người lao động chuyển đổi nghề; bảo đảm xóa
mù chữ bền vững Hoàn thiện mạng lưới cơ sở giáo dục thường xuyên và các hình thức học tập, thực hành phong phú, linh hoạt, coi trọng tự học và giáo dục
từ xa
1.4.2 Quy định chuẩn nghề nghiệp giáo viên dạy nghề và GDTX
* Chuẩn là mẫu lý thuyết có tính chất nguyên tắc, tính công khai và tính
xã hội hoá được đặt ra bằng quyền lực hành chính hoặc chuyên môn; Chuẩn bao gồm những yêu cầu, tiêu chí, quy định kết hợp lôgic với nhau một cách xác định, được làm công cụ xác minh sự vật, làm thước đo - đánh giá hoặc so sánh khuynh hướng điều chỉnh những sự vật theo nhu cầu, mục tiêu mong muốn của chủ thể sử dụng công việc, sản phẩm hay dịch vụ
* Quy định về chuẩn hoá
Mục đích ban hành quy định Chuẩn n
* Các nội dung của Chuẩn nghề nghiệp
lực dạy học
Trang 37* Các vấn đề chuẩn hoá của năng lực dạy học
+ Xây dựng kế hoạch giảng dạy
+ Đảm bảo kiến thức môn học, đảm bảo chương trình môn học
+ Vận dụng các phương pháp dạy học; Sử dụng các phương tiện dạy học; Xây dựng môi trường học tập
+ Quản lý hồ sơ dạy học; kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh
1.4.3 Chương trình bồi dưỡng thường xuyên giáo viên Giáo dục thường xuyên theo quy định hiện hành
Để tạo hành lang pháp lý cho BDTX giáo dục thường xuyên, Quy chế BDTX giáo viên giáo dục thường xuyên đã được Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ký ban hành ngày 10 tháng 7 năm 2012 (Thông tư số 26 /2012/TT-BGDĐT) Theo tinh thần quy chế, triển khai công tác BDTX được thực hiện kết hợp theo cả hai hướng là từ trên xuống và từ dưới lên Bộ GD&ĐT, sở GD&ĐT, phòng GD&ĐT chỉ đạo các nội dung bắt buộc nhằm phát triển giáo dục của ngành, địa phương nhưng trong đó giáo viên vẫn được đề xuất và lựa chọn nội dung BDTX theo nhu cầu phát triển chuyên môn liên tục của cá nhân mỗi giáo viên, hỗ trợ họ nâng cao mức độ đáp ứng so với Chuẩn nghề nghiệp
và phát triển chuyên môn liên tục (phần chung bắt buộc và phần riêng theo nhu cầu của mỗi giáo viên)
Mỗi giáo viên phải bồi dưỡng 120 tiết/ năm học, với 3 khối kiến thức chính tập trung vào (i) phát triển năng lực chuyên môn theo yêu cầu chỉ đạo chuyên môn và thực hiện nhiệm vụ năm học theo cấp học với dung lượng chiếm
Trang 38khoảng 25% chương trình (khoảng 30 tiết/ năm học) (ii) tăng cường năng lực cho giáo viên trong việc hiện các nhiệm vụ giáo dục theo cấp học ở từng địa phương với dung lượng khoảng 25% chương trình (khoảng 30 tiết/ năm học) và phát triển các năng lực lao động nghề nghiệp cho giáo viên để đáp ứng chuẩn nghề nghiệp với dung lượng khoảng 50% (khoảng 60 tiết/ năm học)
Song song với việc quy định về nội dung, hình thức, tài liệu, báo cáo viên, điều kiện và yêu cầu đối với các đơn vị tham gia BDTX giáo viên, công tác đánh giá kết quả BDTX giáo viên cũng được đổi mới so với các chu kỳ BDTX trước đây Đánh giá kết quả BDTX giáo viên đã được quy định theo hướng sử dụng kết hợp các hình thức đánh giá đang được sử dụng phổ biến hiện nay như hình thức đánh giá quá trình (formative assessment) và đánh giá kết thúc (summative assessment) Các hình thức đánh giá này được quy định tại điểm a, điểm b Khoản 1 Điều 13 của Quy chế và địa phương/ đơn vị thực hiện BDTX giáo viên có thể lựa chọn hình thức đánh giá kết quả BDTX giáo viên sao cho phù hợp với đối tượng, nội dung, phương pháp BDTX (theo điểm c Khoản 1 Điều 13) Việc sử dụng hình thức đánh giá phù hợp với giáo viên từng cấp học cũng như nội dung, phương pháp BDTX khác nhau sẽ cho phép đánh giá kết quả BDTX giáo viên được chính xác, công bằng Giáo viên được cấp giấy chứng nhận công nhận kết quả BDTX mỗi năm học khi họ có kết quả các nội dung BDTX đã được phê duyệt trong kế hoạch và kết quả thực hiện kế hoạch BDTX hằng năm Kết quả đánh giá BDTX giáo viên được lưu vào hồ sơ của giáo viên, là căn cứ để đánh giá, xếp loại giáo viên, xét các danh hiệu thi đua, để thực hiện chế độ, chính sách, sử dụng giáo viên
Trang 391.5 Nội hàm và một số vấn đề cấp thiết của quản lý bồi dưỡng giáo viên GDTX
1.5.1 Nội hàm của quản lý bồi dưỡng giáo viên tại Trung tâm GDTX đáp ứng mục tiêu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục
Quản lý bồi dưỡng giáo viên tại Trung tâm giáo dục thường xuyên là tập hợp các tác động của chủ thể (Giám đốc) đến các yếu tố, các thành phần tham gia vào hoạt động bồi dưỡng, các quá trình cấu thành hoạt động bồi dưỡng nhằm bổ sung kiến thức, năng lực giáo dục cho giáo viên để đáp ứng mục tiêu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục
1.5.2 Một số vấn đề cấp thiết trong bồi dưỡng giáo viên Trung tâm GDTX
a Lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, chỉ đạo, kiểm tra đánh giá Dựa vào tình hình trong và ngoài Trung tâm, dựa vào tình hình đội ngũ của Trung tâm, giám đốc phải xây dựng được kế hoạch cho từng nội dung bồi dưỡng Phải tổ chức chặt chẽ, nêu rõ mục đích, yêu cầu, phương pháp thực hiện, phân công đúng người, đúng việc và cấp kinh phí cho hoạt động bồi dưỡng Luôn đôn đốc kiểm tra, điều chỉnh, sơ kết, tổng kết, rút kinh nghiệm kịp thời
b Người quản lý phải nắm được đặc điểm cơ bản của tập thể sư phạm, đội ngũ giáo viên
c Đảm bảo chế độ chính sách cho hoạt động bồi dưỡng đội ngũ giáo viên, xây dựng khối đại đoàn kết thống nhất trong tập thể sư phạm
d Bồi dưỡng năng lực giáo viên đảm bảo theo nhu cầu tự nguyện của giáo viên Xây dựng bầu không khí, tạo cơ hội bồi dưỡng trong tập thể đội ngũ giáo
Trang 40viên Đó là những buổi sinh hoạt tập thể, những chuyến tham quan, nghỉ mát, hội thảo, quan tâm đến đời sống vật chất và tinh thần của từng giáo viên
1.5.3 Nguyên tắc đảm bảo tính mục tiêu, toàn diện, thực tiễn, khả thi
Để các giải pháp đề xuất đảm bảo tính khả thi, khả năng sử dụng hiệu
quả vào thực tiễn quản lý, chúng tôi dựa vào các nguyên tắc:
- Nguyên tắc đảm bảo tính mục tiêu: Các giải pháp đề xuất phải hướng vào việc phát triển đội ngũ giáo viên ổn định về số lượng, nâng cao chất lượng, gắn chất lượng đội ngũ giáo viên với việc đổi mới giáo dục
- Nguyên tắc đảm bảo tính toàn diện: Yêu cầu này phải xuất phát từ bản chất của quá trình quản lý Muốn đảm bảo tính toàn diện đòi hỏi các giải pháp được đề xuất phải tác động lên toàn bộ quá trình đào tạo, bồi dưỡng, quản lý giáo viên, đồng thời phải tác động lên cả hệ thống chính sách cũng như những điều kiện đảm bảo cho hoạt động sư phạm của giáo viên
- Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn: Các giải pháp phải thể hiện được sự
cụ thể hoá đường lối, phương châm giáo dục và đào tạo của Đảng, Nhà nước và phù hợp với chế định giáo dục của ngành trong quá trình quản lý Muốn vậy trước hết phải xuất phát từ những định hướng về chiến lược phát triển giáo dục hiện nay cũng như trong tương lai gần Các giải pháp cụ thể thực hiện chiến lược, trong đó việc nâng cao năng lực và hiệu quả quản lý là một trong những yếu tố cấp bách cần được tập trung giải quyết