1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

phối hợp thí nghiêm và các phương tiện dạy học khi dạy một số kiến thức chương từ trường (vật lí 11- cơ bản) góp phần nâng cao chất lượng nắm vững kiến thức của học sinh

115 509 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 115
Dung lượng 1,61 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

DANH MỤC CÁC BẢNG Bảng 1.1: Hứng thú và mức độ khó dề của môn Vật lí đối với HS Bảng 1.2: Thái độ của HS đối với các hình thức dạy học Bảng 1.3: Mức độ sử dụng các hình thức TN trong dạy

Trang 1

NGUYỄN VĂN CƯỜNG

PHỐI HỢP THÍ NGHIỆM VÀ CÁC PHƯƠNG TIỆN DẠY HỌC KHI DẠY MỘT SỐ KIẾN THỨC CHƯƠNG “TỪ TRƯỜNG” (VẬT LÍ 11- CƠ BẢN) GÓP PHẦN NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG

NẮM VỮNG KIẾN THỨC CỦA HỌC SINH

Chuyên ngành: Lí luận và PPDH bộ môn Vật lí

Mã số: 60.14.10

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Nguyễn Văn Khải

Thái Nguyên - 2011

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới:

PGS.TS Nguyễn Văn Khải, người thầy đã chỉ dẫn và giúp đỡ tận tình trong suốt quá trình làm luận văn

Ban giám hiệu trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên, các thầy cô giáo trong khoa Sau đại học và khoa Vật lí trường ĐHSP – Đại học Thái Nguyên đã tạo mọi điều kiện cho việc học tập, nghiên cứu và thực hiện luận văn

Sở GD–ĐT tỉnh Bắc Giang, Ban giám hiệu các trường THPT Lạng Giang số

1, THPT Lạng Giang số 2, THPT Lạng Giang số 3, THPT Ngô Sĩ Liên và các giáo viên Vật lí của 4 trường đã cộng tác, tạo điều kiện cho việc học tập, nghiên cứu và T/NSP

Bắc Giang, tháng 8 năm 2011

Tác giả luận văn

Nguyễn Văn Cường

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa có ai công bố trong một công trình nào khác

Bắc Giang, tháng 8 năm 2011

Tác giả

Nguyễn Văn Cường

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

MỞ ĐẦU 1

NỘI DUNG 5

Chương 1 5

1.1 Tổng quan 5

1.1.1 Những nghiên cứu về PPDH 5

1.1.2 Những nghiên về PPDH với chủ đề “Từ trường” 5

1.2 Thí nghiệm trong DHVL ở trường THPT 7

1.2.1 Thí nghiệm vật lí 7

1.2.2 Các đặc điểm của thí nghiệm vật lí 7

1.2.3 Các loại thí nghiệm vật lí 7

1.2.3.1 Các thí nghiệm biểu diễn của giáo viên 8

1.2.3.2 Thí nghiệm thực tập về vật lí 8

1.2.4 Thí nghiệm trong dạy học vật lí ở trường trung học phổ thông 10

1.2.4.1 Vai trò của thí nghiệm trong DHVL ở trường THPT 10

1.2.4.2 Một số yêu cầu quan trọng đối với thí nghiệm vật lí trong việc hỗ trợ tổ chức hoạt động nhận thức của HS THPT 12

1.3 Phương tiện dạy học trong dạy học vật lí 12

1.3.1 Khái niệm phương tiện dạy học 12

1.3.2 Phân loại phương tiện dạy học 14

1.3.3 Vai trò, chức năng của PTDH trong dạy học vật lí ở trường THPT 19

1.3.3.1 Vai trò của phương tiện dạy học 19

1.3.3.2 Các chức năng của PTDH theo quan điểm lí luận dạy học 20

1.3.3.3 Các chức năng của PTDH theo quan điểm tâm lí học học tập 21

1.4 Chất lượng kiến thức 22

1.4.1 Kiến thức Vật lí 22

1.4.1.1 Kiến thức của học sinh 22

Trang 5

1.4.1.2 Kiến thức Vật lí 22

1.4.1.3 Hình thành kiến thức Vật lí 23

1.4.2 Các dấu hiệu về kiến thức Vật lí 24

1.5 Nghiên cứu thực trạng dạy học các kiến thức chương “Từ trường” ở trường THPT 25

1.5.1 Thực trạng sử dụng thí nghiệm trong trường phổ thông 26

1.5.2 Thực trạng sử dụng PTDH trong dạy học Vật lí 28

1.6 Phương án phối hợp TN và PTDH góp phần nâng cao chất lượng nắm vững kiến thức của học sinh 32

1.6.1 Các nguyên tắc phối hợp TN và PTDH 32

1.6.2 Các phương án phối hợp TN và PTDH 33

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 35

2 Chương 2 36

2.1 Mục tiêu và cấu trúc kiến thức chương “Từ trường”(Vật lí 11-CB) 36

2.1.1 Cấu trúc của chương “Từ trường” 36

2.1.2 Vai trò, vị trí của chương “Từ trường” 36

2.1.3 Kiến thức, kĩ năng, thái độ cần đạt được của chương “Từ trường” 37

2.2 Phối hợp TN và PTDH xây dựng tiến trình dạy học các kiến thức chương “Từ trường” 39

2.2.1 Định hướng chung của việc xây dựng tiến trình dạy học một số bài theo hướng nghiên cứu của đề tài 39

2.2.2 Tiến trình dạy học bài “Từ trường” 42

2.2.3 Tiến trình dạy học bài “Lực từ Cảm ứng từ” 50

2.2.4 Tiến trình dạy học bài “Từ trường của dòng điện chạy trong các các dây dẫn có hình dạng đặc biệt” 56

2.2.5 Tiến trình dạy học bài “Lực Lo-ren-xơ” 63

3 KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 68

Chương 3: Thực nghiệm sư phạm 69

3.1 Mục đích và nhiệm vụ thực nghiệm sư phạm 69

Trang 6

3.1.1 Mục đích của thực nghiệm sư phạm 69

3.1.2 Nhiệm vụ của thực nghiệm sư phạm 69

3.2 Đối tượng thực nghiệm sư phạm 69

3.3 Phương pháp thực nghiệm sư phạm 69

3.4 Chuẩn bị cho thực nghiệm sư phạm 71

3.4.1 Chọn lớp thực nghiệm và lớp đối chứng 71

3.4.2 Các bài thực nghiệm sư phạm 71

3.4.3 Giáo viên cộng tác thực nghiệm sư phạm 72

3.5 Phương pháp đánh giá kết quả thực nghiệm sư phạm 72

3.5.1 Căn cứ khả năng nắm vững kiến thức của HS 72

3.5.2 Căn cứ khả năng nâng cao chất lượng nắm vững kiến thức 73

3.5.3 Đánh giá , xếp loại 73

3.6 Tiến trình thực nghiệm sư phạm 74

3.6.1 Lịch giảng dạy thực nghiệm 74

3.6.2 Diễn biến thực nghiệm sư phạm 75

3.7 Kết quả thực nghiệm sư phạm 77

3.7.1 Yêu cầu chung về xử lí kết quả thực nghiệm sư phạm 77

3.7.2 Kết quả và xử lý kết quả thực nghiệm sư phạm 78

3.7.3 Thống kê và so sánh tỉ lệ tồn tại các quan niệm sai qua các bài kiểm tra 87

3.8 Đánh giá chung về thực nghiệm sư phạm 87

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 89

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 90

TÀI LIỆU THAM KHẢO 92

PHỤ LỤC 95

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1: Hứng thú và mức độ khó dề của môn Vật lí đối với HS

Bảng 1.2: Thái độ của HS đối với các hình thức dạy học

Bảng 1.3: Mức độ sử dụng các hình thức TN trong dạy học của GV

Bảng 1.4: Điều tra về khả năng sử dụng PTDH của GV Vật lí THPT

Bảng 1.5: Điều tra về mức độ khai thác thông tin trên mạng internet của GV Vật lí THPT Bảng 1.6: Điều tra về khả năng sử dụng một số PTDH của GV Vật lí các trường THPT Bảng 1.5: Bảng điều tra về khả năng ứng dụng CNTT của HS trong học tập

Bảng 3.1: Đặc điểm chất lượng học tập của các lớp T/N và lớp ĐC

Bảng 3.2: Lịch giảng dạy thực nghiệm

Bảng 3.3: Bảng phân phối thực nghiệm – bài kiểm tra số 1

Bảng 3.4: Bảng xếp loại – Bài kiểm tra số 1

Bảng 3.5 : Phân phối tần suất- Bài kiểm tra số 1

Bảng 3.6 : Bảng kết quả tính các tham số thống kê – Bài kiểm tra số 1

Bảng 3.7: Bảng phân phối thực nghiệm – bài kiểm tra số 2

Bảng 3.8: Bảng xếp loại – Bài kiểm tra số 2

Bảng 3.9 : Phân phối tần suất- Bài kiểm tra số 2

Bảng 3.10 : Bảng kết quả tính các tham số thống kê – Bài kiểm tra số 2

Bảng 3.11: Bảng phân phối thực nghiệm – bài kiểm tra số 3

Bảng 3.12: Bảng xếp loại – Bài kiểm tra số 3

Bảng 3.13: Phân phối tần suất- Bài kiểm tra số 3

Bảng 3.14 : Bảng kết quả tính các tham số thống kê – Bài kiểm tra số 3

Bảng 3.15: Thống kê tỉ lệ trả lời sai các câu hỏi KT về quan niệm của HS

Trang 9

DANH MỤC CÁC HÌNH

Biểu đồ 3.1: Biểu đồ xếp loại bài kiểm tra số 1

Đồ thị 3.1: Đồ thị đường phân phối tần xuất bài kiểm tra số 1

Biểu đồ 3.2: Biểu đồ xếp loại bài kiểm tra số 2

Đồ thị 3.2: Đồ thị đường phân phối tần xuất bài kiểm tra số 2

Biểu đồ 3.3: Biểu đồ xếp loại bài kiểm tra số 3

Đồ thị 3.3: Đồ thị đường phân phối tần xuất bài kiểm tra số 3

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài:

Thế kỉ XX, đầu thế kỉ XXI, thế giới đã trải qua biết bao biến động và biến đổi chưa từng có trong lịch sử Những cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật làm thay đổi đời sống xã hội trên thế giới Và giáo dục, nhà trường cũng chịu ảnh hưởng một cách sâu sắc, nhạy cảm trước những đổi thay của xã hội Trong đó hoạt động giáo dục không dừng lại ở chỗ giúp HS nhận thức, tiếp thu được kiến thức, kĩ năng của nhân loại mà còn phải góp phần bồi dưỡng năng lực sáng tạo những kiến thức mới, cách thức sử dụng những công cụ mới để giải quyết các vấn đề trong học tập và trong cuộc sống

Tình hình trên đòi hỏi phải đổi mới mạnh mẽ, toàn diện, đồng bộ nền giáo dục, trong đó đổi mới về PPDH có tầm quan trọng đặc biệt

Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4, Ban chấp hành TW Đảng cộng sản Việt Nam

khóa VII đã khẳng định: “Đổi mới phương pháp dạy và học ở tất cả các cấp, các

bậc học…áp dụng những phương pháp giáo dục hiện đại để bồi dưỡng cho HS năng lực tư duy, sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề”

Hội nghị lần thứ 2 Ban chấp hành TW Đảng cộng sản Việt Nam lại khẳng định vai trò tác dụng của bài tập vật lí trong DH, các cách phân loại bài tập vật lí, soạn thảo các hệ thống bài tập vật lí nhằm củng cố, vận dụng kiến thức đã học và đề

xuất những phương pháp giải bài tập, tại Hội nghị khóa VIII lại nhấn mạnh: “Từng

bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và phương tiện hiện đại vào quá trình DH, đảm bảo điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu cho HS sinh viên đại học”

Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu về thực trạng giáo dục ở nước ta đã chỉ

rõ rằng chất lượng nắm vững kiến thức nói chung, nắm vững kiến thức vật lí nói riêng của HS vẫn còn ở mức độ thấp, kĩ năng thực hành và tìm tòi những kiến thức mới còn hạn chế Thực tế DH ở các trường phổ thông vẫn thường áp dụng phương pháp cổ truyền: Thông báo, thuyết trình nhồi nhét kiến thức, chưa phát huy được vai trò của người GV trong việc tổ chức KT, định hướng hoạt động học tập trên lớp cũng như ở nhà của HS theo một chiến lược hợp lí và có hiệu quả sao cho HS tự

Trang 11

chủ chiếm lĩnh tri thức, phát triển tư duy khoa học kĩ thuật, nâng cao tính ứng dụng của kiến thức được học trong học tập và cuộc sống Có rất nhiều TN và PTDH phục

vụ cho DH đặc biệt là đối với bộ môn vật lí nhưng còn nhiều GV ngại sử dụng chúng do sợ chúng làm ảnh hưởng đến tiến trình DH, chưa có sự đầu tư để kết hợp chúng một cách có hiệu quả cho bài giảng

Trong những năm gần đây, ở nước ta đã có nhiều công trình, đề tài lí luận và thực tiễn nghiên cứu việc đổi mới DH theo hướng tăng cường vai trò chủ thể của

HS, kích thích tính tích cực, tự lực, sáng tạo chiếm lĩnh kiến thức của HS với những cách tiếp cận khác nhau, cách giải quyết khác nhau Trong số đó, các công trình nghiên cứu về thực hành TN vật lí trong trường THPT đều chỉ ra việc sử dụng

TN thực hành trong DH vật lí giúp góp phần nâng cao khả năng tiếp thu, khắc sâu kiến thức và nâng cao khả năng ứng dụng trong thực tế

Với lĩnh vực nghiên cứu các vấn đề về TN vật lí và PTDH, từ trước đến nay

đã có nhiều công trình của các tác giả trong và ngoài nước Các công trình này giúp ích nhiều cho GV trong việc hướng dẫn HS thực hành TN vật lí, sử dụng các PTDH Song, xu hướng hiện đại của lí luận DH là chú trọng nhiều đến hoạt động và vai trò của HS trong quá trình DH, đặc biệt phần thực hành TN là khâu đòi hỏi sự làm việc

tự lực, tích cực Bởi vậy, cần thiết phải nghiên cứu đến việc sử dụng có hiệu quả cao các phương tiện trong DH vật lý, không chỉ làm TN thực hành trên lớp mà cả tại gia đình HS các em cũng có thể tự tìm hiểu các hiện tượng liên quan trong bài học, kích thích óc tò mò, sáng tạo của HS, góp phần nâng cao chất lượng nắm vững kiến thức

Các TN vật lí và các phương tiện hỗ trợ hoạt động giảng dạy ngày nay có rất nhiều điều này tạo điều kiện cho người GV có nhiều sự lựa chọn khác nhau nhưng cũng gây ra không ít khó khăn cho GV khi chọn lựa, thiết kế phương án DH cụ thể đảm bảo đáp ứng tốt hiệu quả, chất lượng giảng dạy Vấn đề đặt ra là cần phải có các phương án phối hợp tốt các TN với các PTDH đáp ứng tốt các yêu cầu, nhiệm

vụ giảng dạy vật lí, dễ vận dụng cho giảng dạy vật lí trong trường phổ thông Vì

vậy, tôi chọn đề tài “Phối hợp TN và các PTDH khi dạy một số kiến thức

Trang 12

chương “Từ trường”(Vật lí 11- Cơ bản) góp phần nâng cao chất lượng nắm vững kiến thức của HS”

2 Khách thể và Đối tượng nghiên cứu:

4 Giả thuyết khoa học:

Nếu xây dựng được các phương án phối hợp TN và các PTDH, đồng thời xây

dựng được tiến trình DH các kiến thức vật lí chương “Từ trường”(Vật lý 11- Cơ bản) khoa học và hợp lí thì có thể nâng cao chất lượng nắm vững kiến thức của HS

5 Nhiệm vụ nghiên cứu:

 Nghiên cứu tài liệu, sách báo liên quan đến đề tài để xác định cơ sở lí luận

của việc xây dựng TN thực hành nhằm phát huy tính tích cực nhận thức cho HS

 Điều tra, khảo sát tình hình DH về sử dụng TN và việc ứng dụng công nghệ thông tin phần “Từ trường”Vật lý 11- Cơ bản

 Thiết kế phương án DH sử dụng hiệu quả các TN và PTDH phần “Từ trường” - Vật lý 11-Cơ bản

 Thực nghiệm sư phạm, kiểm nghiệm tính hiệu quả của phương án DH đã

thiết kế trong DH phần “Từ trường” - Vật lý 11-Cơ bản

6 Phương pháp nghiên cứu

6.1 Phương pháp nghiên cứu lí luận

- Sử dụng phương pháp nghiên cứu các tài liệu, sách báo liên quan đến đề tài

để xác định cơ sở lí luận của đề tài

Trang 13

- Nghiên cứu tài liệu về TN và PTDH áp dụng cho DH Vật lí phổ thông đặc biệt là các nội dung có liên quan đến phần “Từ trường” - Vật lí 11-Cơ bản

6.2 Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn

- Điều tra giáo dục, sử dụng phương pháp này để khảo sát tình hình DH vật lí nói chung, DH vật lí có sử dụng TN và PTDH nói riêng ở một số trường THPT trong tỉnh Bắc Giang thông qua hình thức phiếu thăm dò đối với GV và HS

- Quan sát sư phạm: phương pháp này được sử dụng trong quá trình dự giờ GV

- Trao đổi với GV về PPDH vật lí nói chung, DH TN vật lí nói riêng

- T/NSP: sử dụng phương pháp này để kiểm nghiệm tính khoa học, khả thi, hiệu quả của phương án DH phối hợp sử dụng TN và PTDH vật lí được xây dựng

6.3 Sử dụng thống kê toán học để xử lí số liệu điều tra thực tế và thực nghiệm sư phạm

7 Các kết quả và đóng góp của luận văn

- Về mặt lí luận: Đề tài đóng góp vào việc cụ thể hóa lí luận về việc phối hợp

TN vật lí và các PTDH khác vào thực tế DH vật lí ở trường THPT

- Về mặt thực tiễn:

+ Đề tài góp phần nghiên cứu thực tế vận dụng TN và PTDH vật lí ở trường THPT hiện nay

+ Góp phần xây dựng tiến trình DH cụ thể các kiến thức chương

“Từ trường” (Vật lí 11 – Cơ bản) theo hướng phối hợp TN và các PTDH khác để nâng cao chất lượng nắm vững kiến thức của HS

+ Đề tài sẽ là nguồn tài liệu tham khảo cho các GV quan tâm tới lĩnh vực nghiên cứu và các học viên cao học khi quan tâm nghiên cứu tới lĩnh vực này

8 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 3 chương

Chương 1 Cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài

Chương 2 Thiết kế phương án DH phối hợp TN và PTDH cho các bài giảng chương “Từ trường” (Vật lí 11 – Cơ bản)

Chương 3 Thực nghiệm sư phạm

Trang 14

NỘI DUNG Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

1.1 TỔNG QUAN

1.1.1 Những nghiên cứu về PPDH

Lịch sử phát triển của lí luận DH chứng tỏ đã có nhiều ý kiến phân loại các PPDH theo các cách khác nhau Tuy nhiên vẫn chưa đạt được phân loại các PPDH được mọi người thừa nhận Trong những năm gần đây, cùng với việc đề cao nhiệm

vụ phát triển khả năng sáng tạo của HS khi DH các môn ở các trường PT người ta

đã chú ý đến phân loại các PPDH dựa vào đặc trưng hoạt động của GV và HS MN.Scatkin và I.I.Lecner (Nga) đã phân ra năm PPDH: PP thông báo- thu nhận;

PP tái hiện; PP trình bày nêu vấn đề; PP tìm kiếm từng phần hay PP Ơrixtic; PP nghiên cứu Tuy nhiên cách phân loại này đã chưa đặc trưng đầy đủ cho các PP điều khiển quá trình nhận thức của HS

Ở nước ta, trong những năm gần đây nghiên cứu về PPDH đã được đề cập nhiều dưới góc độ lí luận DH và được vận dụng cho một số lĩnh vực DH cụ thể và được công bố rộng rãi trên các tạp chí khoa học Nhiều công trình nghiên cứu, các luận án tiến sĩ có thể kể đến các tác giả tiêu biểu như: Nguyễn Đức Thâm, Phạm Hữu Tòng, Phạm Xuân Quế, Nguyễn Ngọc Hưng, Nguyễn Văn Khải….Các luận văn thạc sĩ như: Phạm Thị Thanh Nga [23], Lê Thị Thu Ngân [24], Lương Văn Hoá [15], Lương Thanh Tâm [29], luận án tiến sĩ của Nguyễn Thị Thanh Hà [11]… Các tác giả đều đã làm rõ vai trò cơ bản của PPDH trong việc phát huy tính tích cực (TTC) của HS trong quá trình DH Tuy nhiên việc tìm tòi những PPDH thích hợp cho mỗi bài học, mỗi chương kiến thức nào đó là hoạt động sáng tạo chủ yếu và thường xuyên của mỗi thầy giáo

1.1.2 Những nghiên cứu về PPDH đối với chủ đề “Từ trường”

Chương “Từ trường” là một trong những chủ đề khoa học kĩ thuật quan trọng, gắn liền với cuộc sống, có nhiều ứng dụng, song kiến thức phần này khó và

Trang 15

tương đối trừu tượng Khi học phần này HS ít được quan sát rõ ràng các hiện tượng Vật lý một cách đầy đủ bằng TN, do đó chưa hiểu đầy đủ bản chất của từ trường Đối với GV cũng gặp không ít khó khăn khi dạy phần kiến thức chương này như: phải truyền đạt các khái niệm trừu tượng (từ trường, đường sức từ, cảm ứng từ ), phải tiến hành các TN với nhiều dụng cụ, làm mất nhiều thời gian của giờ học, các

TN chưa đảm bảo cho tất cả các HS đều quan sát được hiện tượng rõ ràng

Đã có một số luận văn nghiên cứu về DH chủ đề từ trường như:

“Sử dụng đa phương tiện hỗ trợ DH chương "Từ trường" (Vật lý 11- nâng

cao)”, Lê Tuấn Anh, ĐHSP Thái Nguyên (2008)

“Phối hợp các PTDH nhằm nâng cao chất lượng DH khi dạy một số kiến thức chương "Từ trường" và "Cảm ứng điện từ" theo chương trình Vật lý lớp 11–

THPT”, Nguyễn Thị Thanh Hà, ĐHSP Thái Nguyên (2007)

“Thiết kế phần mềm TN vật lý ảo DH bài "Cảm ứng từ, định luật AMPE" theo hướng DH đạt và giải quyết vấn đề (theo chương trình vật lý lớp 11 - THPT

thí điểm)”, Phạm Thị Huệ, ĐHSP Thái Nguyên (2005)

“Vận dụng tư tưởng sư phạm tích hợp vào DH một số bài học phần "Từ trường" và "Cảm ứng điện từ" lớp 11 Trung học phổ thông nhằm nâng cao chất

lượng giáo dục HS”, Dương Xuân Hải, ĐHSP Thái Nguyên (2006)

“Tổ chức tình huống học tập nhằm phát huy tính tích cực tự lực chiếm lĩnh tri thức của HS THPT miền núi khi DH phần từ trường và cảm ứng điện từ - Vật lý

lớp 11”, Dương Xuân Bình, ĐHSP Thái Nguyên (2002)

Qua tìm hiểu chúng tôi thấy rất ít luận văn nghiên cứu về lĩnh vực này, đã có các luận văn nghiên cứu về phần “Từ trường” nhưng theo hướng giải quyết vấn đề chưa phối hợp các TN và phương tiện trong DH để phát huy các thế mạnh kết hợp của TN và phương tiện hỗ trợ góp phần nâng cao hiệu quả giảng dạy, nâng cao chất lượng nắm vững kiến thức của HS khi học bài

Như vậy, có thể thấy việc nghiên cứu: “Phối hợp TN và các PTDH khi dạy một số kiến thức chương “Từ trường” (vật lí 11- cơ bản) góp phần nâng cao chất lượng nắm vững kiến thức của HS” là một vấn đề mới cần được đầu tư

nghiên cứu

Trang 16

1.2 THÍ NGHIỆM TRONG DẠY HỌC VẬT LÍ Ở TRƯỜNG THPT

1.2.1 TN vật lí

TN Vật lí (TNVL) là sự tác động có chủ định, có hệ thống của con người vào các đối tượng của hiện thực khách quan Thông qua sự phân tích các điều kiện

mà trong đó đã diễn ra sự tác động và các kết quả của sự tác động, ta có thể thu

nhận được tri thức mới

1.2.2 Các đặc điểm của TNVL

- Các điều kiện của TN phải được lựa chọn và được thiết lập có chủ định sao cho thông qua TN, có thể trả lời được câu hỏi đặt ra, có thể KT được giả thuyết hoặc hệ quả suy ra từ giả thuyết

- Mỗi TN có ba yếu tố cấu thành cần được xác định rõ: đối tượng cần nghiên cứu; phương tiện gây tác động lên đối tượng cần nghiên cứu và phương tiện quan sát, đo đạc để thu nhận các kết quả của sự tác động

- Các điều kiện của TN có thể làm biến đổi được để ta có thể nghiên cứu sự phụ thuộc giữa hai đại lượng, trong khi các đại lượng khác giữ không đổi

- Các điều kiện của TN phải được khống chế, kiểm soát đúng như dự định nhờ

sử dụng các thiết bị TN có độ chính xác ở mức độ cần thiết, nhờ sự phân tích thường xuyên các yếu tố của đối tượng cần nghiên cứu, làm giảm tối đa ảnh hưởng của các nhiễu

- Đặc điểm đặc biệt quan trọng của TN là tính có thể quan sát được các biến đổi của đại lượng nào đó do sự biến đổi của đại lượng khác Điều này đạt được nhờ các giác quan của con người và sự hỗ trợ của các phương tiện quan sát, đo đạc

- Có thể lặp lại TN Tức là: với các thiết bị TN, các điều kiện TN như nhau thì khi bố trí lại hệ TN, tiến hành lại TN, hiện tượng, quá trình Vật lí phải diễn ra trong

TN giống như ở các lần TN trước đó

1.2.3 Các loại TN vật lí

1.2.3.1 TN biểu diễn của GV

Loại TN này giữ vị trí hàng đầu trong hệ thống TN Vật lí phổ thông, là loại

TN do GV tiến hành, HS quan sát Dưới sự chỉ đạo của GV, từ các TN GV nhằm

Trang 17

tái tạo lại các hiện tượng Vật lí qua đó giúp việc khảo sát mối liên hệ giữa chúng khi tiến hành nghiên cứu một lí thuyết nào đó

Đây là loại TN được GV rất hay dùng trong bài giảng Với việc làm sống lại trước mắt HS những hiện tượng cần nghiên cứu, loại TN này nếu được tiến hành hợp lí sẽ giúp HS tiếp thu kiến thức dễ dàng hơn và tiếp thu một cách có căn cứ khoa học

Tuỳ theo mục đích DH, TN biểu diễn có thể phân loại như sau:

+ TN mở đầu: Loại TN này tiến hành ngay từ đầu giờ nghiên cứu lí thuyết mới nhằm tạo ra tình huống có vấn đề thúc đẩy mâu thuẫn giữa trình độ kiến thức đã có và nhu cầu hiểu biết hiện tượng mới, kích thích tính tò mò, gây hứng thú học tập cho HS

+ TN nghiên cứu hiện tượng, quá trình Vật lí: Là loại TN được dùng để hình thành kiến thức mới, nhằm đưa ra mối quan hệ bản chất giữa các hiện tượng Tuỳ theo mục đích nghiên cứu mà người ta có thể phân thành hai loại: TN nghiên cứu khảo sát và thí nghịêm minh hoạ TN nghiên cứu khảo sát được tiến hành nhằm đi đến một luận đề khái quát, một định luật hay một quy tắc trên cơ sở khái quát những kết quả rút ra từ TN tức là theo con đường quy nạp TN minh hoạ là TN được tiến hành theo con đường diễn dịch, tức là sau khi GV đã hướng dẫn HS đưa

ra kết luận, định luật, quy tắc bằng cách suy luận lí thuyết, sau đó dùng TN kiểm chứng lại những nhận định ấy TN loại này khi TN nghiên cứu khảo sát khó thực hiện do phức tạp, mất nhiều thời gian, số liệu không đầy đủ, chính xác

+ TN củng cố: Được thực hiện ở cuối tiết học có thể đào sâu kiến thức cho

HS, giúp HS nhớ chính xác, chắc chắn bài giảng, rèn luyện kỹ năng cho HS Đồng thời thông qua đó GV KT được mức độ tiếp thu bài giảng của HS

1.2.3.2 TN thực tập về Vật lí

TN thực tập về Vật lí là loại TN do chính HS thực hiện ở mức độ độc lập tích cực khác nhau dưới sự hướng dẫn chỉ đạo của GV TN thực tập về Vật lí gồm các loại sau:

Trang 18

+ TN trực diện: Là loại TN mà dưới sự hướng dẫn của GV trong quá trình nghiên cứu tài liệu mới, mỗi HS tiến hành những quan điểm ngắn, những TN mà trên cơ sở đó rút ra kết luận hoặc minh hoạ lí thuyết

+ TN thực hành Vật lí (TNTHVL): Là loại TN được tiến hành sau khi học xong một chương, một phần của chương trình TN thực hành thường có nội dung phong phú có thể định tính hay định lượng song chủ yếu là kiểm nghiệm các định luật, các quy tắc Vật lí hoặc đo các đại lượng Vật lí

+ TN và quan sát Vật lí ở nhà: Đây là hình thức TN tổng hợp được tiến hành ngoài lớp học do HS độc lập tiến hành không có sự kiểm soát của GV, là một dạng hoạt động tự lực của HS, có tính độc lập và sáng tạo cao

Tóm lại, trong hệ thống TN trên đây ta thấy dù thực hiện dưới hình thức nào, phương pháp nào thì TN Vật lí cũng đóng một vai trò to lớn trong quá trình dạy và học Vật lí

1.2.4 TN trong DH vật lí ở trường THPT

1.2.4.1 Vai trò của TN trong DHVL ở THPT

* Theo quan điểm lí luận nhận thức:

Vai trò của TN trong mỗi giai đoạn nhận thức phụ thuộc vào vốn hiểu biết của con người, khối kiến thức đã có về đối tượng cần nghiên cứu Trong DH Vật lí

ở phổ thông TN có các vai trò sau:

+ TN là phương tiện để HS thu nhận tri thức:

Khi HS hoàn toàn chưa có hoặc có ít hiểu biết về đối tượng cần nghiên cứu thì TN được sử dụng như là một phương tiện phân tích hiện thực khách quan và thông qua quá trình thiết lập đối tượng nghiên cứu một cách chủ quan: thiết kế phương án TN, tiến hành TN, xử lí kết quả quan sát, đo đạc được từ TN để từ đó thu nhận những kiến thức đầu tiên về đối tượng cần nghiên cứu

+ TN là phương tiện để KT tính đúng đắn của tri thức mà HS đã thu được Trong nhiều trường hợp, kết quả TN phủ nhận tính đúng đắn của tri thức HS đã biết, đòi hỏi phải đưa ra giả thuyết khoa học mới và lại phải KT nó ở các TN khác

Trang 19

Nhờ vậy, HS sẽ thu được những tri thức có tính khái quát hơn, bao hàm các tri thức

đã biết trước đó như là những trường hợp riêng, trường hợp giới hạn

+ TN là phương tiện của việc vận dụng tri thức HS đã thu được vào thực tiễn Trong việc vận dụng các tri thức lí thuyết vào việc thiết kế, vận dụng, HS thường gặp nhiều khó khăn do tính trừu tượng của tri thức cần sử dụng, tính phức tạp chịu sự chi phối bởi nhiều định luật hoặc do lí do về mặt các lí do khách quan khác Khi đó TN được sử dụng như một phương tiện tạo cơ sở cho việc vận dụng các tri thức đã thu được vào thực tiễn

+ TN là một bộ phận của các phương pháp nhận thức Vật lí TN đặc biệt đóng vai trò quan trọng ở các phương pháp nhận thức phổ biến trong nghiên cứu Vật lí (phương pháp TN và phương pháp mô hình )

* Theo quan điểm của lí luận DH

+ TN có thể được sử dụng ở tất cả các giai đoạn khác nhau của quá trình DH: đề xuất vấn đề cần nghiên cứu; hình thành kiến thức, kĩ năng mới; củng cố kiến thức, kỹ năng đã thu được và KT, đánh giá kiến thức, kỹ năng của HS

Việc sử dụng TN để tạo tình huống có vấn đề đặc biệt có hiệu quả trong giai đoạn đề xuất vấn đề cần nghiên cứu Các TN được sử dụng để tạo tình huống có vấn đề thường là các TN đơn giản, tốn ít thời gian chuẩn bị và tiến hành

Trong giai đoạn hình thành kiến thức mới, TN cung cấp một cách có hệ thống các cứ liệu TN, để từ đó khái quát hoá quy nạp, KT được tính đúng đắn của giả thuyết hoặc hệ quả lôgic rút ra từ giả thuyết đã đề xuất, hình thành kiến thức mới

TN có thể được sử dụng một cách đa dạng trong quá trình củng cố (ôn tập, đào sâu, mở rộng, hệ thống hoá và vận dụng) kiến thức, kỹ năng của HS Những

TN loại này được tiến hành ngay ở mỗi bài học nghiên cứu tài liệu mới, trong các bài học dành cho việc luyện tập, các tiết ôn tập và các giờ TN thực hành sau mỗi chương, trong các giờ ngoại khoá ở lớp, ở nhà

TN là phương tiện để KT, đánh giá kiến thức và kỹ năng của HS Thông qua các hoạt động trí tuệ - thực tiễn của HS trong quá trình TN (thiết kế phương án TN,

dự đoán hoặc giải thích hiện tượng TN, quá trình Vật lí diễn ra trong TN, lựa chọn

Trang 20

các dụng cụ TN cần thiết, lắp ráp các dụng cụ và bố trí TN, tiến hành TN, thu nhận,

xử lí kết quả TN ), HS sẽ chứng tỏ những kiến thức về hiện tượng Vật lí đang đề cập, kiến thức về phương pháp và cả kỹ năng của mình nữa

Để KT, đánh giá mức độ nắm vững kiến thức và kỹ năng của HS, GV có nhiều cách thức sử dụng TN với nhiều mức độ yêu cầu khác nhau, từ đơn giản đến phức tạp Mức độ tự lực của HS trong quá trình TN cũng có thể khác nhau, từ việc tiến hành TN theo bảng hướng dẫn chi tiết cho sẵn đến việc HS hoàn toàn tự lực trong tất cả các giai đoạn của TN

+ TN là phương tiện góp phần phát triển nhân cách toàn diện của HS

TN là phương tiện để nâng cao chất lượng kiến thức và rèn luyện kỹ năng,

kỹ xảo về Vật lí của HS Bởi vì TN luôn có mặt trong qúa trình nghiên cứu các hiện tượng, quá trình Vật lí, soạn thảo khái niệm, định luật Vật lí, xây dựng các thuyết Vật lí, đề cập các ứng dụng trong sản xuất và đời sống của các kiến thức đã học

Do TN Vật lí là một bộ phận của các phương pháp nhận thức Vật lí nên mối quan hệ với các quá trình TN, HS sẽ được làm quen và vận dụng có ý thức các phương pháp nhận thức này Các kiến thức về phương pháp mà HS lĩnh hội có ý nghĩa quan trọng, mở rộng vượt qua khỏi giới hạn môn Vật lí sang các môn học khác, lĩnh vực khác

TN là phương tiện kích thích hứng thú học tập Vật lí, tổ chức quá trình học tập tích cực, tự lực và sáng tạo của HS

TN là phương tiện tổ chức các hình thức làm việc tập thể khác nhau, bồi dưỡng các phẩm chất đạo đức của HS

+ TN là phương tiện đơn giản hoá và trực quan trong DH Vật lí

Nhờ TN ta có thể nghiên cứu các hiện tượng, các quá trình xảy ra trong những điều kiện có thể khống chế được, thay đổi được, có thể quan sát, đo đạc đơn giản hơn,

dễ dàng hơn để đi tới nhận thức được nguyên nhân của mỗi hiện tượng và mối quan

hệ có tính quy luật giữa chúng với nhau

Trang 21

TN là phương tiện trực quan giúp HS nhanh chóng thu được những thông tin chân thực về các hiện tượng quá trình Vật lí Kiểu TN này đặc biệt phát huy tác dụng trong DH Vật lí có sử dụng phương pháp mô hình

1.2.4.2 Một số yêu cầu quan trọng đối với TN Vật lí trong việc hỗ trợ tổ chức hoạt động nhận thức của HS THPT

- TN phải trình bày quá trình, hiện tượng Vật lí cần nghiên cứu xảy ra một cách ổn định (TN phải thành công ngay và xảy ra như nhau trong các điều kiện giống nhau…) và chính xác Nếu không HS sẽ mất niềm tin về khoa học Vật lí

- Trong TN phải cho phép (tạo điều kiện) cho người nghiên cứu (HS ) quan sát, thu thập đầy đủ các thông tin cần thiết về quá trình, hiện tượng Vật lí cần nghiên cứu để có thể hỗ trợ việc tổ chức hoạt động nhận thức tích cực, tự lực, sáng tạo của HS GV có thể phải hướng dẫn HS cách thu thập thông tin vì các em còn ít kinh nghiệm và kiến thức đang có của các em chưa tự tin vào mình lắm

1.3 PHƯƠNG TIỆN DẠY HỌC TRONG DẠY HỌC VẬT LÍ

1.3.1 Khái niệm PTDH

Có rất nhiều cách định nghĩa khác nhau về PTDH:

+ Theo PGS.TS Nguyễn Ngọc Bảo, PTDH là tập hợp những đối tượng vật chất được GV sử dụng với tư cách là những phương tiện tổ chức, điều khiển hoạt động nhận thức của HS và đối với HS, đó là phương tiện để tiến hành hoạt động nhận thức của mình, thông qua đó mà thực hiện nhiệm vụ DH [1]

+ PTDH là một tập hợp những đối tượng vật chất được GV sử dụng với tư cách là những phương tiện điều khiển hoạt động nhận thức của HS và đối với HS,

đó là các nguồn tri thức phong phú, sinh động, là các phương tiện giúp chúng lĩnh hội tri thức và rèn luyện kỹ năng và kỹ xảo [1]

+ Theo Nguyễn Ngọc Quang, PTDH “bao gồm mọi thiết bị kỹ thuật từ đơn giản đến phức tạp được dùng trong quá trình DH để làm dễ dàng cho sự truyền đạt và tiếp thu kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo” [26]

+ PTDH là những đối tượng vật chất giúp cho GV và HS tổ chức có hiệu quả quá trình DH nhằm đạt được mục đích DH, nhờ những đối tượng vật chất

Trang 22

này, GV tiến hành tổ chức, điều khiển quá trình DH giúp HS tự tổ chức hoạt động nhận thức của mình một cách có hiệu quả [8]

+ PTDH là một cấu trúc chứa đựng và thể hiện các tín hiệu hàm chứa đầy

đủ những ý định của GV và nó có thể được sử dụng hoặc chọn lựa nhằm chuyển tải, truyền đạt nội dung đến HS và nhằm liên kết giữa HS, GV và nội dung theo mục tiêu và phương pháp cũng như hoạch định ban đầu của GV [12]

+ PTDH là một tập hợp những đối tượng vật chất đựơc GV sử dụng với tư cách là những phương tiện điều khiển hoạt động nhận thức của HS Đối với người học, phương tiện còn là một nguồn tri thức phong phú để lĩnh hội tri thức, rèn luyện kỹ năng

Theo quan điểm giáo dục học, PTDH là đại diện khách quan của đối tượng nhận thức ẩn chứa trong đó đầy đủ những ý định, hoạch định ban đầu cả về nội dung truyền đạt và nhận thức, phương pháp truyền đạt của GV và lĩnh hội của HS

- PTDH trực quan: là những công cụ, (phương tiện) mà người GV và HS

sử dụng trong quá trình DH nhằm xây dựng cho HS những biểu tượng về sự vật, hiện tượng, hình thành khái niệm thông qua sự tri giác trực tiếp bằng các giác quan của người học

- Phương tiện kỹ thuật DH (PTDH có tính kỹ thuật): cũng là một dạng của PTDH, là những PTDH được chế tạo ra bằng trình độ công nghệ cao và đòi hỏi phải sử dụng điện năng

- PTDH truyền thống: là các loại PTDH đã được sử dụng lâu đời và ngày nay vẫn còn được sử dụng trong DH (PTDH hai chiều, ba chiều) Và thông thường, PTDH truyền thống được hiểu là những đồ dùng trực quan được dùng trong DH

- PTDH hiện đại: chủ yếu là PTDH nghe nhìn, được hình thành do sự phát triển của kỹ thuật, đặc biệt là điện tử PTDH (còn gọi là đồ dùng, thiết bị DH) là các vật thể hoặc một tập hợp các vật thể mà GV và HS sử dụng trong quá trình

DH để nâng cao hiệu quả của quá trình này

Có rất nhiều cách định nghĩa về PTDH, tuỳ theo mức độ rộng hẹp khác nhau Và trong luận văn này, chúng tôi sử dụng khái niệm PTDH là những đối

Trang 23

tượng vật chất được GV sử dụng để tổ chức, điều khiển hoạt động nhận thức và rèn luyện kỹ năng kỹ xảo của người học

Các PTDH theo nghĩa rộng có thể bao gồm: Các thiết bị DH, phòng DH,

phòng TN, bàn ghế, các phương tiện kỹ thuật Dưới đây ta sẽ nghiên cứu một số

- Cơ sở khoa học về con đường nhận thức của HS trong quá trình học tập

- Chức năng của các loại hình PTDH

- Yêu cầu về mặt sư phạm và khả năng trang bị, sử dụng chúng trong nhà trường hiện nay

Từ những cơ sở trên, đã có rất nhiều cách phân loại khác nhau về PTDH Tiêu biểu là [8], [16]:

+ Mẫu vật: có thể dưới dạng vật thật, vật nhồi, tiêu bản… tuỳ theo môn học, mẫu vật được chế tạo theo những chủng loại khác nhau

+ Mô hình và hình mẫu: là những sản phẩm chế tạo phản ánh trung thực, khái quát vật thật, nó giúp cho người quan sát có thể hình dung cấu trúc không gian của toàn thể cũng như bộ phận cơ bản nhất của vật thật với kích thước được phóng

to thu nhỏ

+ Phương tiện đồ hoạ: hình vẽ của GV trên bảng là loại phương tiện được tạo ra bởi GV nhằm tập trung sự chú ý của HS vào những mặt chủ yếu của đối tượng nghiên cứu trong những điều kiện thích hợp kết hợp với lời giảng

+ Thiết bị TN: Là những dụng cụ được chế tạo đặc chủng phục vụ cho những môn học tương ứng như hoá học, vật lý, kỹ thuật…

+ Các phương tiện kỹ thuật DH như những phương tiện nghe nhìn, máy KT, máy vi tính…

Trang 24

+ Xét về mặt nội dung DH, hệ thống PTDH trong nhà trường bao gồm các

hệ thống PTDH theo môn học

+ Nếu không xét đến nội dung DH thì bất kể hệ thống PTDH theo môn học nào đều bao gồm các thành phần sau:

Các vật thật: Đó là các bộ sưu tập thực vật, động vật, mẫu đất đá, sản phẩm lao động…

Các phương tiện miêu tả bằng ngôn ngữ tự nhiên và ngôn ngữ nhân tạo: đó

là SGK, giáo trình, tài liệu tham khảo, vở bài tập in sẵn, các tài liệu

Theo Thái Duy Tuyên, căn cứ vào nhiệm vụ DH, PTDH được phân làm 4 loại phục vụ trực tiếp và gián tiếp trong quá trình DH

+ Loại thứ nhất: là thiết bị phục vụ việc truyền thụ kiến thức rất đa dạng, nhằm hỗ trợ cho người học trong quá trình nắm kiến thức Gồm các nhóm sau:

Nhóm các vật thật (nguyên bản) và những phương tiện tái hiện các hiện tượng tự nhiên, kỹ thuật và sản xuất như các TN biểu diễn

Nhóm các hình ảnh của các hiện tượng tự nhiên và xã hội như: mô hình, tranh, bảng vẽ, phim đèn chiếu, phim điện ảnh, băng ghi âm…

Nhóm các dụng cụ mô tả các vật và hiện tượng bằng ký hiệu, bằng lời và các hình thức ngôn ngữ tự nhiên và nghệ thuật như: sách vở, băng, bản thiết kế…

Nhóm các phương tiện kỹ thuật như: máy chiếu phim, máy ghi âm (để sử dụng các tài liệu nghe - nhìn) và các máy KT nhằm thực hiện mối liên hệ ngược của quá trình DH

+ Loại thứ 2: Các thiết bị dùng để rèn luyện kỹ năng Loại này cũng có thể chia thành 3 nhóm sau:

Trang 25

Các dụng cụ rèn luyện kỹ năng thực hành các kiến thức tự nhiên và xã hội như dụng cụ thực hành: Lý, Hoá, Sinh;

Sân chơi, bãi tập, phòng thể dục, nhạc, hoạ, câu lạc bộ và các dụng cụ kèm theo để rèn luyện kỹ năng thực hành cho hoạt động thẩm mỹ

Xưởng trường, vườn trường, ruộng TN nhằm giáo dục kỹ năng thực hành cho giáo dục kỹ thuật tổng hợp và lao động

+ Loại thứ 3: Các thiết bị hỗ trợ cho hoạt động DH như: bút, giấy, bàn, ghế,

+ Phương tiện kỹ thuật DH bao gồm các phương tiện nghe - nhìn, máy KT, máy DH

Trong đó, phương tiện nghe nhìn chiếm vị trí quan trọng nhất Các phương tiện nghe – nhìn bao gồm 2 bộ phận chính: các giá mang thông tin như: bản trong, phim, băng từ âm, băng từ âm – hình, đĩa ghi âm, ghi hình…; và các máy móc chuyển tải thông tin ghi ở các giá thông tin như đèn chiếu, radio, catset, video, máy thu hình, máy quay phim (camera)…[2]

Ngoài ra, còn có thể phân loại các PTDH theo một vài cách khác nhau tuỳ theo quan điểm sử dụng

- Dựa vào cấu tạo, nguyên lý hoạt động và chức năng của phương tiện PTDH

có thể được phân làm hai phần: phần cứng và phần mềm

Phần cứng bao gồm các phương tiện được cấu tạo trên cơ sở các nguyên lý thiết kế về cơ điện, điện, điện tử… theo yêu cầu biểu diễn nội dung bài giảng Các phương tiện này có thể là: các máy chiếu phim (phim, ảnh), radio, tivi, máy DH,

Trang 26

máy tính điện tử, máy phát thanh và truyền hình… Phần cứng là kết quả tác động của sự phát triển của khoa học kỹ thuật trong nhiều thế kỷ Khi sử dụng phần cứng người GV đã cơ giới hoá và điện tử hoá quá trình DH, mở rộng không gian lớp học

và phạm vi kiến thức truyền đạt

Phần mềm là những phương tiện trong đó sử dụng các nguyên lý sư phạm, tâm lý, khoa học kỹ thuật để xây dựng nên cho người học một khối lượng kiến thức hay cải thiện hành vi ứng xử cho người học Phần mềm bao gồm: chương trình môn học, báo chí, sách vở, tạp chí, tài liệu giáo khoa, giáo trình…

- Dựa vào mục đích sử dụng có thể phân loại các PTDH thành hai loại: phương tiện dùng trực tiếp để DH và phương tiện dùng để hỗ trợ, điều khiển quá trình DH

+ Phương tiện dùng trực tiếp để DH bao gồm những máy móc, thiết bị và dụng cụ được GV sử dụng trong giờ dạy để trình bày kiến thức, rèn luyện kỹ năng

Các vật mẫu, mô hình, tranh lắp ghép, phương tiện và vật liệu TN, máy luyện tập, các phương tiện sản xuất…

+ Phương tiện hỗ trợ và điều khiển quá trình DH là những phương tiện được

sử dụng để tạo ra một môi trường học tập thuận lợi, có hiệu quả và liên tục

Phương tiện hỗ trợ bao gồm các loại bảng viết, các giá di động hoặc cố định, bàn

TN, thiết bị điều khiển âm thanh, ánh sáng…

Phương tiện điều khiển bao gồm các loại sổ sách, tài liệu ghi chép về tiến trình học tập, về thành tích học tập của HS

Trang 27

- Dựa vào cấu tạo của phương tiện có thể phân các loại PTDH thành hai loại: các PTDH truyền thống và các phương tiện nghe nhìn hiện đại

* Các PTDH truyền thống

Trong DH vật lí các PTDH sau thường được xem là PTDH truyền thống:

1 Các vật thật trong đời sống và kĩ thuật

2 Các thiết bị TN dùng để tiến hành các TN của GV và các TN của HS

Các PTDH sử dụng trong DH Vật lí là rất đa dạng và phong phú Trong đó các thiết bị TN dùng cho TN của GV và TN của HS có vai trò quan trọng hàng đầu

và không thể thiếu được, vì nó hể hiện đặc thù của Vật lí là một môn khoa học thực nghiệm và sự cần thiết cho HS thấy được các hiện tượng Vật lí trong đời sống và trong kĩ thuật

Trang 28

1.3.3 Vai trò, chức năng của PTDH trong DH vật lí ở trường THPT

1.3.3.1 Vai trò của PTDH

Con đường nhận thức của chúng ta đi từ “trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, và từ tư duy trừu tượng quay trở lại thực tiễn” hay có thể nói “Tính trực quan là tính chất có tính quy luật của quá trình nhận thức khoa học” Do đó, khi dạy các môn học, đặc biệt là các môn khoa học tự nhiên, kỹ thuật cần chú ý đến việc tri giác trực tiếp các đối tượng nhận thức của HS Con đường nhận thức này được thể hiện dưới dạng HS quan sát các đối tượng nghiên cứu ở trong các giờ học hay trong đời sống Dưới sự hướng dẫn của GV, HS tri giác không chỉ bản thân đối tượng nghiên cứu mà tri giác những hình ảnh, biểu tượng, sơ đồ phản ánh một bộ phận nào đó của đối tượng Trong khi tri giác những biểu tượng có sơ đồ hoá hoặc hình ảnh của đối tượng và hiện tượng, quá trình cần nghiên cứu, người học có thể tìm hiểu được bản chất của các quá trình và hiện tượng đã thực sự xảy ra Những tính chất và hiểu biết về đối tượng được HS tri giác không chỉ bằng thị giác mà còn bằng xúc giác, thính giác và trong một số trường hợp ngay cả khứu giác cũng được

sử dụng Trên cơ sở phân tích trên, ta thấy rằng PTDH có ý nghĩa to lớn với quá trình DH Cụ thể:

- Giúp HS dễ hiểu bài, hiểu bài sâu sắc và nhớ bài lâu hơn PTDH tạo điều kiện thuận lợi nhất cho sự nghiên cứu các thuộc tính bề ngoài của đối tượng và các tính chất có thể tri giác trực tiếp của chúng PTDH giúp cụ thể hoá những cái quá trừu tượng, đơn giản hoá những máy móc và thiết bị quá phức tạp

- PTDH giúp làm sinh động nội dung học tập, nâng cao hứng thú học tập bộ môn, nâng cao lòng tin của người học vào khoa học

- PTDH còn giúp cho người học phát triển năng lực nhận thức, đặc biệt là khả năng quan sát, tư duy (phân tích, tổng hợp các hiện

tượng, rút ra những kết luận có độ tin cậy…)

- Giúp GV tiết kiệm được thời gian trên lớp trong mỗi tiết học Giúp GV điều khiển được hoạt động nhận thức của người học, KT và đánh giá kết quả học tập của

Trang 29

người học được thuận lợi và có hiệu suất cao Nói tóm lại, PTDH góp phần nâng

cao hiệu suất lao động sư phạm của thầy và trò

1.3.3.2 Các chức năng của PTDH theo quan điểm lí luận DH

- Sử dụng PTDH để tạo động cơ học tập, kích thích hứng thú nhận thức của

HS, đặc biệt trong giai đoạn định hướng mục đích nghiên cứu Nhiều TN Vật lí đơn

giản, các đoạn phim video được sử dụng để giới thiệu vấn đề học tập, tạo tình huống có vấn đề, kích thích hứng thú nhận thức, phát triển kĩ năng quan sát của HS

- Sử dụng PTDH để hình thành kiến thức, kĩ năng mới Các PTDH như thiết

bị TN Vật lí, mô hình, tranh ảnh, SGK, phim học tập, các phần mềm máy vi tính

được sử dụng để cung cấp các cứ liệu thực nghiệm nhằm khái quát hoá hoặc kiểm chứng các kiến thức về các khái niệm, định luật Vật lí, mô phỏng các hiện tượng, quá trình Vật lí vi mô, giới thiệu các ứng dụng của các kiến thức Vật lí trong đời sống và kĩ thuật Các TN thực hành được sử dụng ngay trong khi nghiên cứu tài liệu mới để tăng cường hoạt động tự lực và rèn luyện kĩ năng thực hành

độ ghi nhớ chưa được bền vững vì vậy việc sử dụng các PTDH trong quá trình này

là cần thiết Tuy nhiên, cũng như bản thân việc củng cố và ôn tập kiến thức cần phải tổ chức một cách sáng tạo, tránh sự lặp lại giản đơn gây nhàm chán dẫn đến

giản hiệu quả của việc củng cố, ôn tập

- Sử dụng PTDH để KT kiến thức, kĩ năng mà HS đã thu được Việc khai thác

tiềm năng của các PTDH để KT, đánh giá kiến thức, kĩ năng của HS trong DH Vật

lí hiện nay vẫn chưa được đầy đủ đặc biệt là các phấn mềm máy vi tính

- PTDH góp phần phát triển năng lực nhận thức của HS Khi tổ chức cho HS

tiến hành các TN với các thiết bị TN thực hành là cơ hội tốt nhất để GV phát triển các năng lực nhận thức của HS Trong quá trình TN, HS phải tiến hành một loạt các

Trang 30

hoạt động trí tuệ - thực tiễn như lập phương án, kế hoạch TN, vẽ sơ đồ TN, lập bảng giá trị đo, bố trí và tiến hành TN, thu nhận và xử lí kết quả TN (bằng số, bằng

đồ thị), tính toán sai số, xét nguyên nhân của sai số Thông qua các hoạt động đó

các phẩm chất cá nhân của HS được hình thành

- Việc sử dụng PTDH đem lại hiệu quả xúc cảm, thẩm mỹ cho HS do những

đặc tính bên ngoài (hình dạng, màu sắc), cách bố trí, do hình ảnh, các hiện tượng quan sát được trái với quan niệm của HS hoặc không được nhìn thấy hàng ngày

- Hiệu quả của việc điều khiển quá trình nhận thức của HS sẽ được nâng cao

nếu các PTDH được thiết kế, chế tạo và được GV nghiên cứu sử dụng một cách hợp lí Có thể thấy rõ điều này khi sử dụng các thiết bị TN Vật lí, các phần mềm

và hoạt động tự lực của HS Việc sử dụng PTDH trong DH Vật lí có khả năng thực hiện hai khả năng nêu trên Trước hết GV khai thác khả năng phân hoá HS thông qua việc lựa chọn PTDH, tiếp đến đặt ra các nhiệm vụ khác nhau cho từng đối tượng HS, quan tâm giúp đỡ các HS yếu, khuyến khích hoạt động tự lực, sáng tạo đối với HS khá giỏi Ngoài ra, bản thân các PTDH cũng tạo ra hiệu quả phân hoá

HS phụ thuộc vào hứng thú và năng lực học tập của từng HS

1.3.3.3 Các chức năng của PTDH theo quan điểm tâm lí học học tập

Theo quan điểm của tâm lí học học tập, hoạt động nhận thức của HS trong quá trình học tập có thể diễn ra trên các bình diện khác nhau: Bình diện hành động đối tượng - thực tiễn, bình diện trực quan trực tiếp, bình diện trực quan gián tiếp và bình diện nhận thức khái niệm ngôn ngữ trong đó vai trò của ngôn ngữ tăng dần và vai trò của trực quan giảm dần

- Bình diện hành động đối tượng - thực tiễn: Ví dụ sử dụng các thiết bị TN

Trang 31

dùng cho TN của HS

- Bình diện trực quan trực tiếp: Ví dụ như việc sử dụng các vật thật, các ảnh

chụp, các thiết bị dùng cho TN của GV, các phim học tập quay các cảnh thật…

- Bình diện trực quan gián tiếp: Khi sử dụng các TN mô hình, các phim hoạt

hình, các phần mềm máy vi tính mô phỏng các hiện tượng, quá trình Vật lí, các mô hình vật chất, các hình vẽ, sơ đồ

- Bình diện nhận thức khái niệm - ngôn ngữ: Các PTDH như SGK, sách bài

tập, sách tham khảo, các phần mềm vi lính dùng cho ôn tập tạo điều kiện cho HS hoạt động nhận thức trên cơ sở các khái niệm, các kết luận khái quát, tức là hoạt động trên bình diện khái niệm - ngôn ngữ

Trong thực tiễn DH Vật lí ở trường phổ thông hiện nay cho thấy tiềm năng của PTDH trong việc tích cực hoá hoạt động nhận thức của HS chưa được khai thác đầy đủ Đó là một trong các nguyên nhân làm cho kiến thức của HS hời hợt, không bền vững, ít có khả năng vận dụng Để nâng cao chất lượng nắm vững kiến thức của HS, người GV Vật lí cần nghiên cứu nắm vững ưu nhược điểm của từng loại PTDH, biết phối hợp hài hoà chúng khi DH từng kiến thức, kỹ năng cụ thể, vừa làm cho quá trình DH hiệu quả, vừa tránh được sự phức tạp khi sử dụng các PTDH không hợp lí

1.4.1.2 Kiến thức Vật lí

Kiến thức Vật lí là kết quả phản ánh trong đầu óc con người về các tính chất, các mối quan hệ quy luật của các sự vật, hiện tượng Vật lí và về cách nhận

Trang 32

thức, vận dụng kết quả phản ánh đó của con người

Kiến thức Vật lí cụ thể được hiểu là kiến thức về các hiện tượng, các quá trình Vật lí các khái niệm, các định luật, các thuyết Vật lí, các tư tưởng, các

phương pháp, các ứng dụng Vật lí

Kiến thức Vật lí phản ánh tính chất chung của cấu trúc, sự tương tác và chuyển động của vật chất, tính bản chất và quy luật chung của thế giới tự nhiên, là kết quả lao động sáng tạo của nhiều nhà khoa học Kiến thức Vật lí là cơ sở của nhiều ngành khoa học kĩ thuật và công nghệ đồng thời là tiền đề cho hoạt động sáng tạo, tìm hiểu và cải tạo thế giới của con người

1.4.1.3 Hình thành kiến thức Vật lí

Hình thành hệ thống kiến thức Vật lí phổ thông ở mức độ hiện đại cho HS là một nhiệm vụ cơ bản của DH Vật lí Những kiến thức về cơ học, vật lí phân tử và nhiệt học, điện học, quang học, dao động và sóng, vật lí nguyên tử và hạt nhân là

cơ sở để HS nhận thức được thế giới vật chất, đồng thời phát triển năng lực trí tuệ

và nhân cách của họ

Việc hình thành kiến thức Vật lí không chỉ trang bị cho HS những tri thức cần thiết cho cuộc sống mà còn phát triển tư duy, rèn luyện phương pháp nghiên cứu khoa học cho họ Thông qua việc quan sát, phân tích, so sánh, tổng hợp, khái quát các hiện tượng, các dối tượng Vật lí, tìm hiểu các sự kiện, đưa ra các giả thuyết và tiến hành TN Từ đó phát hiện ra các dấu hiệu bản chất, tính quy luật của các hiện tượng Vật lí Tư duy khoa học của HS được hình thành và phát triển, tạo ra tiền đề để củng cố và hoàn thiện kiến thức Vật lí là một khoa học thực nghiệm, nhưng vai trò của lí thuyết ngày càng giữ vị trí quan trọng, phương pháp Toán học, phương pháp mô hình hoá được sử dụng làm phương pháp nghiên cứu đồng thời với phương pháp thực nghiệm và các phương pháp nghiên cứu khoa học khác Quá trình hình thành và phát triển các khái niệm, các định luật, các thuyết Vật lí gắn liền với tiến trình lịch sử Vật lí, quá trình đó phản ánh mối liên hệ biện chứng giữa hành động lí thuyết và hành động thực nghiệm, giữa suy diễn và quy nạp trong tiến trình nhận thức khoa học Vật lí Do vậy, để có phương pháp hình

Trang 33

thành kiến thức Vật lí một cách tối ưu, đòi hỏi GV không những có năng lực chuyên môn, kĩ năng sư phạm tốt mà cần có vốn kiến thức thực tế phong phú, hiểu

rõ cấu trúc logic kiến thức và đặc điểm nhận thức của HS

1.4.2 Các dấu hiệu về chất lƣợng kiến thức Vật lí

1.4.2.1 Tính chính xác của kiến thức

Dấu hiệu chất lượng đặc trưng bởi mức độ tương ứng mà HS lĩnh hội được các khái niệm, các định luật, các lí thuyết và tư tưởng Vật lí chủ yếu của chương trình Vật lí phổ thông ở từng cấp, từng ban với nội dung khoa học của chúng Nghĩa là các luận điểm khoa học của Vật lí được chuẩn bị kĩ cả về nội dung và phương pháp truyền thụ, nó không chỉ đảm bảo tính khoa học chính xác mà còn đáp ứng được trình độ phát triển trí tuệ, hiểu biết và kinh nghiệm của HS Mức độ chính xác của kiến thức Vật lí của HS biểu hiện ở sự phát biểu miệng và ngôn ngữ viết ở hình thức trình bày rõ ràng và đúng đắn về mặt khoa học

1.4.2.2 Tính hệ thống của kiến thức

Những hiểu biết riêng lẻ về các hiện tượng, các khái niệm Vật lí được hệ thống hoá thành một hệ thống các khái niệm có đung lượng lớn hớn cả về nội dung khoa học và cách thức biểu hiện Kiến thức Vật lí rất phong phú, cách thức biểu hiện đa dạng, vì thế cần phải liên kết lại thành những hệ thống ngày càng tổng quát hơn Quá trình đó tạo điều kiện cho sự thấu hiểu kiến thức và phát triển năng lực trí tuệ, đặc biệt là các thao tác khái quát hoá và trừu tượng hoá Tính hệ thống của kiến thức còn biểu hiện mối liên hệ logic và phát triển của các khái niệm, định luật,

lí thuyết và những ứng dụng của Vật lí

1.4.2.3 Tính khái quát của kiến thức

HS không chỉ hiểu việc mô tả các đối tượng, hiện tượng Vật lí mà cần phải hiểu được bản chất của nó Mặt khác việc chuyển từ sự khảo sát một số lớn các đối tượng riêng lẻ tới việc nghiên cứu các mô hình tổng quát đặc trưng cho các quá trình hiện tại cần phải trừu tượng hoá và khái quát hoá Mức khái quát của kiến thức tạo cho HS khả năng khảo sát các quá trình, các đối tượng và hiện tượng Vật

lí cùng loại hoặc tương tự, nó biểu hiện năng lực tư duy khái quát của HS

Trang 34

1.4.2.4 Tính bền vững của kiến thức

Quá trình DH Vật lí cần quan tâm đến việc ôn luyện và khắc sâu hệ thống kiến thức cho HS với các cấp độ nắm vững kiến thức: Hiểu, nhớ và vận dụng (hay nhận biết, tái hiện và sáng tạo) Tính bền vững của kiến thức gắn liền với việc phát triển tư duy dựa trên sự lĩnh hội vững chắc các sự kiện Vật lí nền tảng, các kiến thức Vật lí điển hình Mức độ bền vững của kiến thức sẽ có sức sáng tạo cao, là tiền đề trí tuệ cho HS tự học và vươn lên trong khoa học

1.4.2.5 Tính áp dụng được của kiến thức và khả năng vận dụng chúng

Mục đích của việc học tập là nhằm áp dụng vốn kiến thức vào hoạt động thực tiễn để hiểu thế giới xung quanh và có khả năng biến đổi nó vì lợi ích của cộng đồng

Ở đây việc giải các bài toán Vật lí, thực hiện các TN, nghiên cứu cấu tạo nguyên tắc

hoạt động của các dụng cụ, thiết bị kĩ thuật có ý nghĩa đặc biệt trong quá trình lĩnh

hội và vận dụng kiến thức Nó góp phần phát triển tính năng động và sáng tạo của tư duy HS làm quen với việc khảo sát bất kì hiện tượng hay quá trình nào ở nhiều khía

cạnh, trong điều kiện nhất định và bằng các phương pháp phù hợp Tính áp dụng

được của kiến thức và khả năng vận dụng chúng là dấu hiệu bản chất của chất lượng tình hội kiến thức, là cơ sở phát triển năng lực tư duy sáng tạo, kĩ năng và thói quen vận dụng kiến thức Vật lí vào thực tiễn đời sống sản xuất

1.5 NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG DẠY HỌC CÁC KIẾN THỨC CHƯƠNG “TỪ TRƯỜNG” Ở TRƯỜNG THPT

Để việc phối hợp TN và PTDH thực sự có hiệu quả chúng tôi đã tiến hành tìm hiểu về thực trạng sử dụng TN và sử dụng PTDH ở 4 trường THPT với điều kiện khu vực khác nhau trong địa bàn tỉnh Bắc Giang

- Ở khu vực nông thôn chúng tôi chọn 2 trường THPT Lạng Giang số 3 xã Mỹ

Hà huyện Lạng Giang, THPT Lạng Giang số 2 xã Tân Thịnh huyện Lạng Giang

- Ở khu vực thị trấn chúng tôi chọn trường THPT Lạng Giang số 1 xã Yên Mỹ huyện Lạng Giang

- Ở khu vực thành thị chúng tôi chọn trường THPT Ngô Sĩ Liên thành phố Bắc Giang

Trang 35

Với số liệu điều tra mặc dù có chênh lệch, song nó đã nói lên thực trạng chung của việc sử dụng TN và thiết bị trong giảng dạy nói chung và trong giảng dạy môn Vật lí nói riêng ở các trường THPT Kết quả điều tra cụ thể như sau:

1.5.1 Thực trạng sử dụng TN trong trường phổ thông

Về trang thiết bị, cơ sở vật chất:

Mặc dù 4 trường phổ thông ở các khu vực khác nhau trong địa bàn tỉnh Bắc Giang nhưng kết quả cho thấy cả 4 trường phổ thông hiện nay đều có phòng TN với đầy đủ các dụng cụ TN phục vụ dạy và học Các trường đều chưa có phòng học bộ môn, chưa có cán bộ chuyên trách quản lí các thiết bị TN vật lí, nhiều thiết bị TN qua quá trình sử dụng và bảo quản nay hoạt động không còn tốt như trước nhưng có thể khắc phục, sửa chữa, điều chỉnh để sử dụng được

Như vậy, về trang thiết bị cơ sở vật chất ở các trường phổ thông là tương đối đầy đủ Vấn đề cần quan tâm là các thiết bị TN được GV và HS sử dụng và tiếp nhận như thế nào Để tìm hiểu sâu hơn về vấn đề đó chúng tôi tiến hành điều tra thực trạng sử dụng các trang thiết bị TN vào dạy và học môn học nói chung và môn Vật lí nói riêng

Vấn đề sử dụng TN trong DH của GV Vật lí ở trường phổ thông:

Qua tọa đàm, trao đổi cho thấy các cấp quản lí giáo dục luôn đánh giá việc

sử dụng TN trong DH Vật lí là quan trọng và cần thiết Hầu hết các nhà trường, các

tổ, nhóm chuyên môn đều lập kế hoạch, đề ra chỉ tiêu về số tiết học Vật lí phải sử dụng PTDH, TN trong một học kì để tất cả các GV đều phải có kế hoạch chuẩn bị trang thiết bị sử dụng cho các bài dạy của mình trên cơ sở các trang thiết bị sẵn có của nhà trường

Thông qua điều tra, chúng tôi thu được một số kết quả sau:

Bảng1.1: Hứng thú và mức độ khó, dễ của môn Vật lí đối với HS:

Trang 36

Từ kết quả thu được tại bảng 1.1 ta có thể thấy môn Vật lí là một bộ môn khó đối với đa số HS thể hiện ở tỉ lệ 70,1% HS cho là khó và thường HS học do bị bắt buộc của chương trình học Để tìm nguyên nhân của tình trạng trên chúng tôi tiến hành điều tra thăm dò sở thích của HS đối với các hình thức học tập khác nhau Kết quả thu được thể hiện bảng 1.2

Bảng 1.2: Thái độ của HS đối với các hình thức DH:

Thái độ Các hình thức DH

Không thích Bình thường Thích

SL % SL % SL % Giảng dạy theo hình thức thuyết trình 19 1.9 892 87.1 113 11.0

HS được thảo luận, trao đổi thông tin

học tập với bạn và thầy cô 0 0.0 372 36.3 652 63.7

Có tranh ảnh, mô hình trực quan,

phương tiện hỗ trợ DH hiện đại 0 0.0 324 31.6 700 68.4

HS quan sát TN do GV làm hoặc tự

làm TN dưới sự hướng dẫn của GV 0 0.0 274 26.8 750 73.2

Thông qua bảng thái độ của HS đối với các hình thức học, có thể nhận thấy thái độ học của HS có xu hướng yêu thích việc học thông qua các hình thức học với các PTDH và được trao đổi thông tin học tập Như vậy việc sử dụng các hình thức

DH có sử dụng các TN, có sự hỗ trợ của thiết bị DH đặc biệt là các PTDH mới, hiện đại là một biện pháp quan trọng góp phần làm tăng hứng thú của HS đối với môn Vật lí Việc sử dụng các TN và PTDH làm cho bài giảng sinh động hơn, HS dễ dàng quan sát và tiếp nhận được nhiều thông tin hơn từ đó tích cực tham gia các hoạt động học tập hơn và do đó nắm bắt, tiếp thu, vận dụng các kiến thức tốt hơn

Bảng 1.3: Mức độ sử dụng các hình thức TN trong DH chương “Từ trường” của GV

Trang 37

Hình thức TN được GV sử dụng trong DH Vật lí nói chung và DH chương

“Từ trường” nói riêng chủ yếu vẫn là các TN đơn giản, các hình vẽ mô phỏng, các hình thức TN thực ít được sử dụng trong DH xây dựng kiến thức cũng như tiết bài tập thực hành Không có phòng học bộ môn, việc tiến hành các TN đòi hòi mang nhiều dụng cụ lên lớp cũng làm GV ngại dùng TN Bên cạnh đó các TN biểu diễn của GV và nhiều hình vẽ, tranh ảnh mô phỏng hạn chế về kích thước, hạn chế về tầm nhìn làm cho HS cả lớp khó quan sát Các kiến thức chương “Từ trường” có các kiến thức khó, các khái niệm trừu tượng nếu không được quan sát các hình ảnh

TN, các hình biểu diễn mô phỏng thì HS sẽ gặp khó khăn trong việc tìm hiểu, xây dựng, ghi nhớ và vận dụng kiến thức

1.5.2 Thực trạng sử dụng PTDH trong DH Vật lí

Về trang thiết bị cơ sở vật chất:

Về trang thiết bị cơ sở vật chất ở 4 trường phổ thông ở các khu vực khác nhau trong địa bàn tỉnh Bắc Giang cho thấy các trường phổ thông hiện nay đều đã được trang bị phòng máy tính, trong đó các máy tính đều được kết nối mạng LAN và nối mạng internet, các trường đều được trang bị đài băng, ti vi, đầu đĩa, máy chiếu bản trong, máy chiếu đa năng, máy chiếu vật thể phục vụ cho dạy và học

Như vậy, về trang thiết bị cơ sở vật chất ở các trường phổ thông là tương đối đầy đủ Vấn đề cần quan tâm là PTDH được GV và HS tiếp nhận như thế nào Để tìm hiểu sâu hơn về vấn đề đó trước tiên chúng tôi tiến hành điều tra thực trạng sử dụng PTDH đặc biệt là sử dụng các PTDH mới, hiện đại và khả năng ứng dụng CNTT vào dạy và học các môn học nói chung và môn Vật lí nói riêng

Vấn đề sử dụng PTDH của GV Vật lí ở trường THPT

Qua tọa đàm, trao đổi cho thấy các cấp quản lí giáo dục đã đánh giá việc sử dụng PTDH trong DH là quan trọng và cần thiết Hầu hết các đơn vị ra chỉ tiêu về

số tiết học có ứng dụng CNTT, sử dụng PTDH trong kì học, năm học để tất cả các

GV đều phải nỗ lực tiếp cận việc sử dụng PTDH và ứng dụng CNTT trong DH Khả năng ứng dụng CNTT và sử dụng PTDH của GV các trường phổ thông như thế nào chúng tôi đã lập bảng điều tra như sau:

Trang 38

Bảng số 1.4 Điều tra về khả năng sử dụng PTDH của GV Vật lí ở các trường THPT

Stt

Mức độ Nội dung

Tổng số phiếu điều tra

Tổng số phiếu trả lời Thường

xuyên

Thỉnh thoảng

Chưa bao giờ

DH như sử dụng phần mềm trong DH vẫn còn ít Để làm rõ thêm về nguyên nhân

sử dụng phương tiện hỗ trợ DH còn ít đó chúng tôi tiếp tục điều tra về mức độ khai thác thông tin trên mạng như sau:

Bảng số 1.5 Bảng điều tra về mức độ khai thác thông tin trên mạng internet của

GV Vật lí ở trường THPT

Stt

Mức độ Nội dung

Tổng số phiếu điều tra

Tổng số phiếu trả lời Thường

xuyên

Thỉnh thoảng

Chưa bao giờ

1 Tra cứu tài liệu trên mạng 31 phiếu 6 10 15

2 Tìm hiểu thông tin giáo dục

3 Trao đổi kinh nghiệm DH trên

4 Vào các website DH 31 phiếu 4 11 16

Số liệu điều tra cho thấy mức độ khai thác thông tin trên mạng của GV còn

ít Số lượng GV thường xuyên truy cập và tra cứu tài liệu trên mạng mới là 6 GV chiếm tỉ lệ là 19% Dẫn đến việc truy cập vào các website DH là con số hạn chế, chỉ có 4 GV trong 4 trường thường xuyên truy cập, 11 GV thỉnh thoảng truy cập và

Trang 39

có tới 16 GV chiếm tỉ lệ 52% chưa bao giờ sử dụng Đặc biệt việc tìm hiểu thông tin giáo dục và trao đổi kinh nghiệm DH trên mạng chỉ có một số ít GV thỉnh thoảng tham gia còn hầu hết là chưa bao giờ tiếp cận

Để làm rõ thêm về nguyên nhân sử dụng các PTDH và các phần mềm DH còn chưa phổ biến chúng tôi điều tra về khả năng sử dụng PTDH và các phần mềm

DH với các GV dạy Vật lí, kết quả thu được thể hiện trong bảng sau

Bảng số 1.6 Điều tra về khả năng sử dụng một số PTDH của GV Vật lí

ở các trường THPT

PTDH

Tổng số phiếu điều tra

Tổng số phiếu trả lời

SD thành thạo

chƣa thành thạo

Chƣa bao giờ

SD

1 Đầu đĩa, ti vi, đài băng 31 phiếu 17 14 0

3 Máy chiếu bản trong 31 phiếu 7 17 7

4 Máy chiếu đa năng 31 phiếu 4 15 12

5 Máy chiếu vật thể 31 phiếu 4 6 21

6 Crocodie Physics 31 phiếu 7 10 10

Trang 40

trường (chiếm tỉ lệ 29%) là sử dụng thành thạo ít nhất một loại phần mềm Vật lí Kết quả đó cho thấy số GV sử dụng thành thạo một trong các phần mềm hỗ trợ DH môn Vật lí còn chưa nhiều Số GV chưa biết sử dụng bất kì một loại phần mềm Vật

lí nào còn chiếm con số đáng kể Có thể nói việc sử dụng PTDH và ứng dụng CNTT trong DH của GV ở các trường phổ thông còn nhiều hạn chế, nhiều khi mang tính hình thức, chưa thực sự phát huy được ưu điểm của các PTDH mới

Như vậy, mặc dù số GV phổ thông khai thác tư liệu trên mạng và sử dụng thành thạo các PTDH mới còn ít nhưng hầu hết GV ở phổ thông đã được tiếp cận với PTDH mới, hiện đại Điều đó cũng cho thấy việc đổi mới PPDH theo hướng ứng dụng CNTT và tăng cường sử dụng các PTDH đã thay đổi nhanh chóng phong cách làm việc của GV ở các trường phổ thông

Tâm lí HS về việc sử dụng PTDH mới trong DH

HS phổ thông có tư duy phát triển, năng động, dễ dàng tiếp cận với những cái mới, cái tiến bộ Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học và công nghệ trong đó có CNTT đã ảnh hưởng lớn đến tâm lí của HS Qua thực tế thăm dò cho thấy đa số HS đều có tâm lí sẵn sàng đón nhận việc ứng dụng CNTT trong DH Với các giờ dạy

có ứng dụng CNTT HS tỏ ra hào hứng, thích thú Do đó chúng tôi tiếp tục điều tra

về khả năng ứng dụng công CNTT của các em trong việc học tập

Bảng 1.7 Bảng điều tra về khả năng ứng dụng CNTT của HS trong học tập

Stt Điều tra việc sử dụng CNTT Số phiếu điều tra

Số phiếu trả lời Thường

xuyên

Thỉnh thoảng

Chưa bao giờ

1 Giải trí trên mạng 1024 phiếu 373 345 306

2 Tìm kiếm tư liệu, Học tập trên

3 Dùng các phần mềm hỗ trợ

học Vật lí 1024 phiếu 30 60 943 Bảng số liệu trên sơ bộ cho thấy HS tiếp cận với CNTT nhanh tuy mục đích học tập còn chưa rõ ràng Khả năng tiếp cận nhanh chóng và sự hứng thú của các

em với các phương tiện hiện đại là cơ sở tạo nên thành công cho các tiết dạy có sử

Ngày đăng: 25/11/2014, 22:23

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Ngọc Bảo (1995), Phát triển tính tích cực tự lực của học sinh trong quá trình dạy học, Bộ GD và ĐT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển tính tích cực tự lực của học sinh trong quá trình dạy học
Tác giả: Nguyễn Ngọc Bảo
Năm: 1995
3. Tô Văn Bình (2002), TN Vật lý trong trường phổ thông, Đại học Sư phạm Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: TN Vật lý trong trường phổ thông
Tác giả: Tô Văn Bình
Năm: 2002
4. Lương Duyên Bình - Vũ Quang - Nguyễn Xuân Chi - Đàm Trung Đồn- Bùi Quang Hân - Đoàn Duy Hinh ( 2006), Vật lý 11, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vật lý 11
Nhà XB: NXB Giáo dục
5. Lương Duyên Bình - Vũ Quang - Nguyễn Xuân Chi - Đàm Trung Đồn- Bùi Quang Hân - Đoàn Duy Hinh (2006), Vật lý 11 SGV, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vật lý 11 SGV
Tác giả: Lương Duyên Bình - Vũ Quang - Nguyễn Xuân Chi - Đàm Trung Đồn- Bùi Quang Hân - Đoàn Duy Hinh
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2006
6. Nguyễn Hữu Châu (2005), Những Vấn đề cơ bản về chương trình và quá trình dạy học, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những Vấn đề cơ bản về chương trình và quá trình dạy học
Tác giả: Nguyễn Hữu Châu
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2005
7. Phạm Đình Cương ( 2001), TN Vật lí ở trường THPT, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: TN Vật lí ở trường THPT
Nhà XB: NXB Giáo dục
8.Nguyễn Hữu Dũng (1998), Một số vấn đề cơ bản về giáo dục THPT, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề cơ bản về giáo dục THPT
Tác giả: Nguyễn Hữu Dũng
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1998
9. Đỗ Ngọc Đạt (2000), Bài giảng lí luận dạy học hiện đại, NXB ĐHQG Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng lí luận dạy học hiện đại
Tác giả: Đỗ Ngọc Đạt
Nhà XB: NXB ĐHQG Hà Nội
Năm: 2000
10. Nguyễn Văn Đồng - An Văn Chiêu - Nguyễn Trọng Di (1979), Phương pháp giảng dạy Vật lí ở trường THPT, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp giảng dạy Vật lí ở trường THPT
Tác giả: Nguyễn Văn Đồng - An Văn Chiêu - Nguyễn Trọng Di
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1979
11. Nguyễn Thị Thanh Hà (2002), Nghiên cứu sử dụng một số PPDH nhằm tích cực hoá hoạt động nhận thức của học sinh trong quá trình dạy học phần quang học, Luận án tiễn sĩ viện Khoa học giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu sử dụng một số PPDH nhằm tích cực hoá hoạt động nhận thức của học sinh trong quá trình dạy học phần quang học
Tác giả: Nguyễn Thị Thanh Hà
Năm: 2002
12. Trần Văn Hà - Vũ Văn Tảo - dạy học giải quyết vấn đề, một hướng đổi mới trong giáo dục đào tạo huấn luyện, Trường Quản lí giáo dục và đào tạo, Hà Nội (1996) Sách, tạp chí
Tiêu đề: dạy học giải quyết vấn đề, một hướng đổi mới trong giáo dục đào tạo huấn luyện
13. Phạm Minh Hạc (1996), Tuyển tập tâm lí học, J. Piaget, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập tâm lí học
Tác giả: Phạm Minh Hạc
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1996
14. Trần Thuý Hằng - Đào thị Thu Thuỷ (2007), Thiết kế bài giảng Vật lí 11, NXB Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiết kế bài giảng Vật lí 11
Tác giả: Trần Thuý Hằng - Đào thị Thu Thuỷ
Nhà XB: NXB Hà Nội
Năm: 2007
15. Lương Văn Hoá (1999), Vận dụng một số yếu tố của dạy học giải quyết vấn đề nhằm tích cực hoá hoạt động nhận thức của học sinh THCS miền núi trong dạy học Vật lí, Luận văn thạc sĩ, Đại học Sư phạm Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vận dụng một số yếu tố của dạy học giải quyết vấn đề nhằm tích cực hoá hoạt động nhận thức của học sinh THCS miền núi trong dạy học Vật lí
Tác giả: Lương Văn Hoá
Năm: 1999
16. Trần Bá Hoành, Dạy học lấy học sinh làm trung tâm, NCGD số 1/1994 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy học lấy học sinh làm trung tâm
17. Nguyễn Văn Khải (1995), Hình thành những kiến thức Vật lí cơ bản và năng lực nhận thức cho học sinh trong dạy học Vật lí ở trường THPT, Đại học Sư phạm Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hình thành những kiến thức Vật lí cơ bản và năng lực nhận thức cho học sinh trong dạy học Vật lí ở trường THPT
Tác giả: Nguyễn Văn Khải
Năm: 1995
19. Nguyễn Văn Khải - Nguyễn Duy Chiến - Phạm Thị Mai (2008), Lí luận dạy học Vật lí ở trường phổ thông, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận dạy học Vật lí ở trường phổ thông
Tác giả: Nguyễn Văn Khải - Nguyễn Duy Chiến - Phạm Thị Mai
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2008
20. Phan Đình Kiển (1996), Nghiên cứu một số đặc điểm và PPDH Vật lí ở miền núi, Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu một số đặc điểm và PPDH Vật lí ở miền núi
Tác giả: Phan Đình Kiển
Năm: 1996
21. I.F.Khalamốp (1978), Phát huy tích tích cực học tập của học sinh như thế nào, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát huy tích tích cực học tập của học sinh như thế nào
Tác giả: I.F.Khalamốp
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1978
22. AV. Muraviep, Dạy thế nào để học sinh tự lực nắm vững kiến thức Vật lí, NXB Giáo dục Hà Nội (1978) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy thế nào để học sinh tự lực nắm vững kiến thức Vật lí
Nhà XB: NXB Giáo dục Hà Nội (1978)

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.2: Thái độ của HS đối với các hình thức DH: - phối hợp thí nghiêm và các phương tiện dạy học khi dạy một số kiến thức chương từ trường (vật lí 11- cơ bản) góp phần nâng cao chất lượng nắm vững kiến thức của học sinh
Bảng 1.2 Thái độ của HS đối với các hình thức DH: (Trang 36)
Bảng số 1.4. Điều tra về khả năng sử dụng PTDH của GV Vật lí ở các trường THPT - phối hợp thí nghiêm và các phương tiện dạy học khi dạy một số kiến thức chương từ trường (vật lí 11- cơ bản) góp phần nâng cao chất lượng nắm vững kiến thức của học sinh
Bảng s ố 1.4. Điều tra về khả năng sử dụng PTDH của GV Vật lí ở các trường THPT (Trang 38)
Bảng số liệu trên sơ bộ cho thấy HS tiếp cận với CNTT nhanh tuy mục đích  học tập cũn chưa rừ ràng - phối hợp thí nghiêm và các phương tiện dạy học khi dạy một số kiến thức chương từ trường (vật lí 11- cơ bản) góp phần nâng cao chất lượng nắm vững kiến thức của học sinh
Bảng s ố liệu trên sơ bộ cho thấy HS tiếp cận với CNTT nhanh tuy mục đích học tập cũn chưa rừ ràng (Trang 40)
Hình ảnh - phối hợp thí nghiêm và các phương tiện dạy học khi dạy một số kiến thức chương từ trường (vật lí 11- cơ bản) góp phần nâng cao chất lượng nắm vững kiến thức của học sinh
nh ảnh (Trang 56)
Bảng 3.1: Đặc điểm chất lượng học tập của các lớp T/N và lớp ĐC. - phối hợp thí nghiêm và các phương tiện dạy học khi dạy một số kiến thức chương từ trường (vật lí 11- cơ bản) góp phần nâng cao chất lượng nắm vững kiến thức của học sinh
Bảng 3.1 Đặc điểm chất lượng học tập của các lớp T/N và lớp ĐC (Trang 80)
Bảng 3.3: Bảng phân phối thực nghiệm – bài KT số 1. - phối hợp thí nghiêm và các phương tiện dạy học khi dạy một số kiến thức chương từ trường (vật lí 11- cơ bản) góp phần nâng cao chất lượng nắm vững kiến thức của học sinh
Bảng 3.3 Bảng phân phối thực nghiệm – bài KT số 1 (Trang 87)
Bảng 3.5: Bảng phân phối tần suất - Bài KT số 1. - phối hợp thí nghiêm và các phương tiện dạy học khi dạy một số kiến thức chương từ trường (vật lí 11- cơ bản) góp phần nâng cao chất lượng nắm vững kiến thức của học sinh
Bảng 3.5 Bảng phân phối tần suất - Bài KT số 1 (Trang 88)
Đồ thị 3.1: Đồ thị đường phân phối tần xuất bài KT số 1 - phối hợp thí nghiêm và các phương tiện dạy học khi dạy một số kiến thức chương từ trường (vật lí 11- cơ bản) góp phần nâng cao chất lượng nắm vững kiến thức của học sinh
th ị 3.1: Đồ thị đường phân phối tần xuất bài KT số 1 (Trang 89)
Bảng 3.6: Bảng kết quả tính các tham số thống kê – Bài KT số 1 - phối hợp thí nghiêm và các phương tiện dạy học khi dạy một số kiến thức chương từ trường (vật lí 11- cơ bản) góp phần nâng cao chất lượng nắm vững kiến thức của học sinh
Bảng 3.6 Bảng kết quả tính các tham số thống kê – Bài KT số 1 (Trang 89)
Bảng 3.7: Bảng phân phối thực nghiệm – Bài KT số 2    Nhóm  Trường  Số - phối hợp thí nghiêm và các phương tiện dạy học khi dạy một số kiến thức chương từ trường (vật lí 11- cơ bản) góp phần nâng cao chất lượng nắm vững kiến thức của học sinh
Bảng 3.7 Bảng phân phối thực nghiệm – Bài KT số 2 Nhóm Trường Số (Trang 90)
Bảng 3.9: Bảng phân phối tần suất- Bài KT số 2. - phối hợp thí nghiêm và các phương tiện dạy học khi dạy một số kiến thức chương từ trường (vật lí 11- cơ bản) góp phần nâng cao chất lượng nắm vững kiến thức của học sinh
Bảng 3.9 Bảng phân phối tần suất- Bài KT số 2 (Trang 91)
Đồ thị 3.2: Đồ thị đường phân phối tần xuất bài KT số 2 - phối hợp thí nghiêm và các phương tiện dạy học khi dạy một số kiến thức chương từ trường (vật lí 11- cơ bản) góp phần nâng cao chất lượng nắm vững kiến thức của học sinh
th ị 3.2: Đồ thị đường phân phối tần xuất bài KT số 2 (Trang 92)
Bảng 3.10: Bảng kết quả tính các tham số thống kê – Bài KT số 2. - phối hợp thí nghiêm và các phương tiện dạy học khi dạy một số kiến thức chương từ trường (vật lí 11- cơ bản) góp phần nâng cao chất lượng nắm vững kiến thức của học sinh
Bảng 3.10 Bảng kết quả tính các tham số thống kê – Bài KT số 2 (Trang 92)
Bảng 3.11: Bảng phân phối thực nghiệm – Bài KT số 3  Nhóm  Trường  Số - phối hợp thí nghiêm và các phương tiện dạy học khi dạy một số kiến thức chương từ trường (vật lí 11- cơ bản) góp phần nâng cao chất lượng nắm vững kiến thức của học sinh
Bảng 3.11 Bảng phân phối thực nghiệm – Bài KT số 3 Nhóm Trường Số (Trang 93)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w