LỜI NÓI ĐẦUTrong việc thực hiện các mục tiêu của chính sách kinh tế vĩ mô là tăngtrưởng kinh tế, ổn định đồng tiền, cân bằng cán cân đối ngoại và giải quyếtcông ăn việc làm, chính sách t
Trang 1Bộ giáo dục và đào tạo Học viện ngân hàng
Trang 2LỜI NÓI ĐẦU
Trong việc thực hiện các mục tiêu của chính sách kinh tế vĩ mô là tăngtrưởng kinh tế, ổn định đồng tiền, cân bằng cán cân đối ngoại và giải quyếtcông ăn việc làm, chính sách tiền tệ quốc gia có vai trò rất quan trọng Thôngthường, việc điều hành chính sách tiền tệ được Quốc hội hoặc Chính phủ cácquốc gia giao cho Ngân hàng Trung ương đảm nhiệm Với việc quản lý một đốitượng đơn chiếc, riêng lẻ và duy nhất trong một nước là tiền tệ, với tính chấtnhạy cảm và có tính công cộng cao như tiền tệ, thì việc điều hành và thực thiCSTT quốc gia của Ngân hàng Trung ương không phải là dễ dàng Bất kỳ mộtđộng thái nào của Ngân hàng Trung ương trong việc đưa ra các quyết sách củamình về tiền tệ, ngân hàng đều gây ra các phản ứng tức thời tới các hoạt độngkinh tế vĩ mô và vi mô trong nền kinh tế
Ở Việt Nam, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) thực hiện CSTT từđầu những năm 90 của thế kỷ 20 vừa qua Cho đến nay, CSTT quốc gia đã thực
sự góp phần quan trọng vào việc thực hiện các mục tiêu kinh tế- xã hội của Nhànước, nhất là trong việc kìm chế lạm phát từ 3 con số vào những năm 1985-
1989 xuống còn 1 con số kể từ đầu những năm 90, cung cấp tổng phương tiệnthanh toán (M2) cho nền kinh tế phù hợp với tốc độ tăng của GDP, từ đó thúcđẩy tăng trưởng kinh tế và đảm bảo an ninh quốc phòng Quan điểm điều hànhCSTT ở Việt Nam hiện nay là theo quan điểm đa mục tiêu, tuỳ vào diễn biếnkinh tế- xã hội mà lựa chọn mục tiêu thích hợp Trình độ hoạch định và điềuhành CSTT của NHNN Việt Nam ngày càng tăng lên thông qua việc chú trọngcông tác phõn tớch mọi diễn biến kinh tế- tiền tệ trong nước và quốc tế để cónhững dự báo và quyết định kịp thời tới việc ổn định giá trị đồng tiền ViệtNam, sử dụng ngày càng nhuần nhuyễn hơn các công cụ của CSTT Với quanđiểm điều hành CSTT một cách thận trọng và linh hoạt để kiểm soát lạm phát ở
Trang 3ngân hàng trong bối cảnh có nhiều bất lợi, CSTT vừa qua thực sự có nhữngđóng góp đáng kể cho nền kinh tế.
Tuy nhiên, so với yêu cầu phát triển kinh tế trong bối cảnh hội nhập quốc tếngày càng mạnh mẽ thì việc điều hành CSTT của Việt Nam hiện nay chưa hẳn
là hoàn thiện Vẫn còn nhiều bất cập khi điều hành CSTT mà NHNN và các Bộhữu quan cần phải tập trung giải quyết
Trang 4PHẦN NỘI DUNG
Sự phát triển của thương mại điện tử và quá trình toàn cầu hoá đang diễn ra
vô cùng mạnh mẽ trên thế giới cũng như trong khu vực Việt Nam trên conđường đi lên chủ nghĩa xã hội phải hành động gì? Nền kinh tế Việt Nam sẽchuyển biến ra sao để có thể hoà nhập mà không hoà tan, vẫn giữ được địnhhướng xã hội chủ nghĩa? Ngân hàng sẽ đóng vai trò như thế nào trong cácchính sách tài chính - tiền tệ để điều tiết nền kinh tế của chính phủ?
Phát triển hệ thống các ngân hàng thương mại cũng như sức mạnh, vai tròquản lý tiền tệ của ngân hàng trung ương và xây dựng một nền kinh tế không
sử dụng tiền mặt liệu có phải là một trong những giải pháp không?
Vậy trước hết chúng ta cần hiểu một số khái niệm tiền là gì và tiền mặt làgì?
Tiền chính là một loại hàng hoá đặc biệt được sử dụng để làm vật trung gian,
đo lường giá trị các loại vật phẩm khác Tiền mặt là một phần của tiền tệ baogồm các loại tiền giấy và tiền đúc Ngoài ra tiền tệ ngày nay còn bao gồm tiềnqua ngân hàng, các loại tài khoản, séc, tiền ghi sổ… và các loại trái phiếu, cổphiếu trên thị trường tài chính Tuy nhiên, ngày nay tiền tệ có bản chất làphương tiện trao đổi được xã hội chấp nhận và được pháp luật thừa nhận, bảovệ
Trong nền kinh tế hiện đại thì tiền tệ là một trong những công cụ đắc lực đểthúc đẩy sự phát triển kinh tế Ban đầu khi mới ra đời thì tiền tệ chủ yếu làmvai trò trung gian để trao đổi hàng hoá, tiền tệ mới chỉ phát huy được chức năng
là phương tiện lưu thông Nhưng do sự phát triển ngày càng tăng của sản xuấtthì tiền tệ cũng ngày càng phát triển theo và ngược lại tiền tệ phát triển làm chotổng phương tiện thanh toán trong nền kinh tế cũng tăng lên và thúc đẩy sảnxuất phát triển
Trang 5Tiền chỉ là phương tiện Tiền được dùng để hạch toán các quá trình thựchiện sản xuất - kinh doanh, để đo lường hiệu quả của quá trình sản xuất - kinhdoanh, để thể hiện thu nhập của mỗi cá nhân, mỗi tổ chức Tiền là phương tiện
để mở rộng khả năng kinh doanh của các doanh nghiệp Không có vốn bằngtiền, các doanh nghiệp không thể bảo đảm được trách nhiệm của mình vớingười khác khi doanh nghiệp huy động của cải xã hội, tài nguyên thiên nhiên
và sức lao động vào quá trình sản xuất, kinh doanh Quá trình phát triển kinh tếtrong điều kiện của kinh tế thị trường thì tiền tệ luôn được tích luỹ để thực hiệntái sản xuất mở rộng Qua mỗi chu kỳ kinh doanh thì vốn sản xuất vừa được bùđắp, vừa được mở rộng thêm làm cho vốn của doanh nghiệp ngày càng tăng lênnhanh chóng Khi mà quá trình toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới được thựchiện ở phạm vi và mức độ cao, sự phân công lao động quốc tế, sự liên kết kinh
tế quốc tế ngày càng phát triển mạnh thì tự do hoá thị trường thế giới là xu thếtất yếu Trong điều kiện tự do hoá thị trường thế giới thỡ cỏc công cụ quản lýkinh tế đối ngoại như thuế quan, hạn mức xuất khẩu, nhập khẩu, cỏc cụng cụ
kỹ thuật dần dà bị dỡ bỏ Sự dỡ bỏ các công cụ ngăn cấm sự xâm nhập hànghoá giữa các nước với nhau đã tạo điều kiện cho tiền tệ giữ vai trò đo lườnghiệu quả của các quan hệ kinh tế quốc tế, trở thành công cụ quan trọng nhấttrong điều hành cỏc chớnh sách kinh tế đối ngoại hiện nay Trong xu thế đóquan hệ tỷ giá, quan hệ tín dụng quốc tế, quan hệ đầu tư quốc tế, quan hệ thanhtoán quốc tế là những quan hệ chủ yếu để hình thành các chính sách kinh tế đốingoại của mỗi nước
Quan hệ xã hội trong nền kinh tế thị trường ngày càng bị tiền hoá Có nghĩa
là các quan hệ xã hội ấy được thực hiện thông qua một chi phí bằng tiền cụ thể
Trang 6Để giúp đỡ, tạo điều kiện cho các tầng lớp dân cư nghèo khổ, chưa có công
ăn việc làm, mất sức lao động… nhà nước phải huy động một luồng vốn tiền tệ
cụ thể để giúp đỡ các tầng lớp dân cư này Việc giúp đỡ bằng công sức laođộng, bằng hàng hoá vật chất cụ thể ngày càng hạn chế Do nhu cầu của mỗingười, mỗi khỏc nờn việc giúp đỡ bằng vật chất trở nên không hiệu quả vì nhànước không thể biết được nhu cầu cụ thể của từng người mà thoả mãn một cáchchính xác Song qua sự trợ giúp bằng tiền, người được giúp đỡ sẽ tự quyết địnhlấy họ sẽ chi khoản tiền đó vào việc gì để thoả mãn nhu cầu của mình
Thông qua chính sách tài chính, nhà nước thực hiện sự phân phối lại trongnền kinh tế để nâng cao mức sống của người dõn cú thu nhập thấp, giúp đỡ họcsinh nghốo… thông qua các định chế tài chính mang tính chất chính sách xãhội mà những tầng lớp dân cư có thể tìm được sự tài trợ thiết thực để vươn lênxây dựng cuộc sống đẹp hơn
Do mỗi người có một cuộc sống riêng, mỗi người đều phải tự lao động đểgia tăng thu nhập của bản thân nên sự quan tõm giỳp đỡ lẫn nhau trong gia tộc,bạn bố… bằng tình cảm hoặc vật chất ngày càng khó thực hiện và để thực hiện
sự quan tâm đó không có cách nào khác hơn thông qua sự tài trợ bằng tài chính.Bên cạnh đó, sự phát triển của kinh tế thị trường đòi hỏi phải có ngân sách
để nuôi dưỡng bộ máy nhà nước và thực hiờn cỏc hoạt động của nhà nước.Không có sự chi phí bằng tiền thì khó có thể làm cho hoạt động quản lý nhànước thực hiện thông suốt được Để có một nền quốc phòng vững mạnh, mộtnền giáo dục tiên tiến, một nền y tế tốt… đòi hỏi hàng năm nhà nước đều phảichi phí một khoản ngân sách lớn Trong các quan hệ ngoại giao, cộng tác nướcngoài cũng đều phải tổn thất một khoản ngân sách nhất định Sự giúp đỡ, hợptác giữa quốc gia này với quốc gia khác cũng được thực hiện, đo lường, bằngmột khoản tiền tệ cụ thể
Trang 7Với một nền kinh tế đang phát triển của nước ta hiện nay, con đường đi lênchủ nghĩa xã hội còn dài và còn nhiều chông gai, đứng trước nguy cơ đe doạcủa các thế lực thù địch, các thế lực phản động trong và ngoài nước, liệu chínhphủ có đồng ý cho phép các ngân hàng nước ngoài như các ngân hàng của Mĩ,của Nhật… vào nước ta kinh doanh, cạnh tranh theo cơ chế thị trường với hệthống ngân hàng non trẻ, ít vốn, ít kinh nghiệm của ta không? Chính sách tiền
tệ của chính phủ, của ngân hàng trung ương sẽ còn có hiệu lực không khi màcác ngân hàng của nước ngoài, của các thế lực thù địch đóng ở nước ta khôngtuân thủ hoặc tìm cách phá hoại?
Bên cạnh đó, tất cả chúng ta hiện nay đều không thể phủ nhận được vai tròcủa bảo hiểm thương mại, sự cần thiết của các loại hình bảo hiểm thương mạitrong đời sống cũng như trong các hoạt động sản xuất - kinh doanh nhưngnhững người đã, đang và sẽ làm ngân hàng nghĩ gì khi các tổ chức bảo hiểmthương mại có số vốn lớn hơn số vốn mà hệ thống ngân hàng thương mại cóđược, khi mà khả năng sinh lời của các tổ chức bảo hiểm là rất cao thông quacác loại hình đầu tư dựa trên số vồn khổng lồ với tính chất gần như không sợrủi ro Họ sẽ nghĩ gì khi mà các tổ chức bảo hiểm lấn át cả hệ thống ngân hàngthương mại trong việc huy động và cho vay lượng tiền nhàn rỗi trong dân vàkhi đú thì liệu hệ thống ngân hàng thương mại có còn tồn tại hay không? Chínhphủ cũn cú vai trò gì trong việc điều tiết nền kinh tế thông qua các chính sáchtiền tệ khi mà các tổ chức bảo hiểm thương mại nắm được quyền điều tiếtlượng tiền lưu thông trong xã hội, khi các tổ chức bảo hiểm thương mại đượccác ngân hàng nước ngoài, được các thế lực thù địch, các thế lực phản động hỗtrợ, giúp đỡ cho việc chống phá nhà nước, chống phá chính quyền
Trang 8Cũng tương tự như vậy khi mà các tổ chức tín dụng tư nhân trong nướcđược các tổ chức, thế lực phản động, thù địch trong và ngoài nước hỗ trợ vàđứng đằng sau chỉ đạo, trở thành công cụ tay sai đắc lực cho chúng trong việcchống phá nhà nước, chống phỏ chớnh quyền thì chúng ta phải làm gì đõy?Nền kinh tế nước ta sẽ có những biến động như thế nào khi mà các ngân hàngnước ngoài, các công ty bảo hiểm, các tổ chức tín dụng tư nhân được các tổchức, thế lực thù địch trong, ngoài nước đứng sau thực hiện đầu cơ tiền tệ, tiếnhành lũng đoạn thị trường tiền tệ nước ta, nắm được quyền điều tiết tiền tệ củachính phủ, của ngân hàng trung ương? Đõy là câu hỏi lớn mà chúng ta cần phảiquan tâm trong quá trình xây dựng và phát triển, đưa đất nước đi lên chủ nghĩa
xã hội một cách ổn định, bền vững và đạt tốc độ tăng trưởng cao Và chúng tahãy thử nhìn qua hậu quả của các nước trong khu vực khi xảy ra cơn khủnghoảng tiền tệ
Khi các cơn hoảng loạn tài chính bắt đầu xuất hiện, việc Thái Lan phỏ giáđồng tiền của mình dẫn đến một khối lượng lớn vốn được đưa ra khỏi khu vực.Diễn biến tình hình ở Thái Lan đã buộc các nhà đầu tư phải xem xét nghiêm túchơn tới những yếu kém mà trước đõy họ đã bỏ qua Trong quá trình đó họ đãphát hiện được những thông tin mới làm tăng mối lo ngại của họ, đặc biệt làcác vấn đề liên quan đến sức mạnh của hệ thống tài chính và tầm quan trọngcủa các khoản nợ ngắn hạn Mối nghi ngại về thị trường đã hình thành do sựthiếu tính minh bạch của khu vực tài chính và doanh nghiệp, và quy mô cũngnhư thời hạn của các khoản nợ phải trả Khi các nhà đầu tư đã mất đi niềm tinrằng nguồn dự trữ có thể thanh toán đủ cho các khoản nợ ngắn hạn thì lập tức
cả các nhà đầu tư trong nước cũng như ngoài nước đều hối hả rút vốn của họ rakhỏi khu vực Thị trường vì thế cũng trở nên khốc liệt hơn Không nghi ngờ gìnữa, sự thiếu vắng một cơ cấu đủ mạnh để có thể xử lý khoản nợ của ngân hàng
đã góp phần vào cơn khủng hoảng tài chính ở quy mô rộng tàn phá các nướcnhư Thái Lan, Hàn Quốc, Inđụnờsia, và ở một mức độ thấp hơn là ở Malaisia
Trang 9Sự lây lan đó đồng thời cũng dẫn đến sự giảm giá các tài sản và gia tăngluồng vốn đổ ra nước ngoài Chỉ trong vòng sáu tháng, luồng vốn đi ra từ khuvực đã lớn hơn gấp nhiều lần so với luồng vốn đi vào và tổng luồng vốn thựcvào là âm 12 tỷ USD Sự sụt giá chứng khoán kể từ tháng Bảy (cả đồng nội tệ
và đồng đụla) đã trở nên trầm trọng hơn nhiều so với bất cứ đợt sụt giá nàotrước đõy Biến động tỷ giá hối đoái đó lên đến mức rất cao giữa bốn nướcĐông Nam Á từ tháng hai tới tháng tám và thậm chí còn cao hơn nữa trong thờigian từ tháng Mười tới đầu tháng Giêng 1998 Các số liệu về cổ phiếu và cáccông cụ thị trường vốn khác trong quý IV – 1997 và nửa đầu năm 1998 chothấy rằng luồng vốn tư nhân đã ngưng trệ ở tất cả các quốc gia này
Sự ràng buộc thương mại giữa các quốc gia có nghĩa là khi cầu nhập khẩugiảm ở một nước sẽ dẫn tới giảm xuất khẩu ở các nước khỏc Cỏc mối quan hệtài chính trong khu vực, kể cả việc thông qua đầu tư trực tiếp của nước ngoài,cho vay của ngân hàng và các hoạt động thị trường vốn có thể dẫn tới việcnhững sự kiện ở một nước này có thể tác động tiêu cực đến một nước kháctrong khu vực Các nhà đầu tư từ bên ngoài khu vực có thể bị buộc phải bán tàisản ở một nước khi có sự thua thiệt ở các nước khác Điều này có thể tạo ranhững tác động tiêu cực tới giá của tài sản ở rất nhiều các quốc gia khác, đặcbiệt là trên thị trường chứng khoán
Trang 10Khi cuộc khủng hoảng ở Thái Lan lan rộng ra các nước Đông Nam Á vàHàn Quốc thì cuộc khủng hoảng tiền tệ đã trở thành khủng hoảng tài chính.Cuộc khủng hoảng tài chính này đến lượt nó lại biến thành cuộc khủng hoảng
xã hội Những cuộc khủng hoảng này đó tác động mạnh mẽ đến chính trườngcác nước Hàn Quốc và Thái Lan, nơi mà quá trình chuyển đổi hầu như không
bị gián đoạn Các chính sách tài chính và tiền tệ đã được thắt chặt để giúp chocác nước này đối phó với các vụ hoảng loạn tài chính dẫn đến việc hiện tượngđồng tiền của các nước này bị mất giá mạnh mẽ Các nước đã dự định tăng lãisuất để tăng giá tài sản trong nước khiến cho các tài sản này trở nên hấp dẫnhơn đối với người sở hữu các quỹ ngoại tệ nhưng chính điều này lại dẫn đếnnhững điều kiện buộc phải đánh đổi rất khó khăn Lãi suất cao làm tăng thờmkhú khăn cho khu vực doanh nghiệp vốn đã nợ nần chồng chất Lãi suất tăngđúng vào thời điểm lợi nhuận của họ giảm mạnh trong thời kỳ suy thoái tiếpdiễn và rất nhiều doanh nghiệp không thể trả được nợ lãi Bên cạnh đó, xuấtkhẩu không tăng buộc phải thu hẹp nhập khẩu và giảm sản lượng đầu ra Donhững gánh nặng lãi suất đố lên khối dịch vụ nờn cỏc công ty không còn muốnđầu tư ngay cả trong các ngành xuất khẩu tiềm tàng thu được nhiều lợi nhuận.Các công ty tài chính đang chịu áp lực của việc lưu chuyển tiền mặt, nhưng docác khoản tiền gửi bị rút ra và các khoản vay không đưa được vào sản xuất, đókhông tái tạo được vốn trong kinh doanh Niềm tin vào các nhà đầu tư nướcngoài và trong nước có những nguồn thu từ bên ngoài không còn nữa Nạn thấtnghiệp tăng lên do các nền kinh tế bị thu hẹp lại
Trang 11Luồng vốn đi vào thường không được cân nhắc cẩn thận và thiếu thận trọng,
đã được chuyển qua hệ thống tài chính trong nước không được quản lý điềuhành tốt, và tiếp sức cho cuộc bùng nổ tín dụng trong nước Đõy là một sờricỏc cuộc cá cược mà lúc đầu được hoàn lại dưới hình thức tăng trưởng mạnh.Nhưng khi luồng vốn vào đẩy giá cả tài sản lên cao và làm tăng tỷ lệ nợ (tỷ lệvốn vay trên vốn góp) của các doanh nghiệp, chúng đã làm cho khu vực phảiđối mặt với những cú sốc về thay đổi kỳ vọng của các nhà đầu tư Kỳ vọng củacác nhà đầu tư đã trở nên biến động hơn do sự thiếu vắng các dữ liệu đượcchứng thực về tài chính công ty, hồ sơ ngân hàng và thậm chí tình hình dự trữcủa các ngân hàng trung ương Trong những năm bùng nổ và phát triển, việcthiếu dữ liệu làm hạn chế ý nghĩa những lời cảnh báo cần thận trọng, còn trongkhi đổ vỡ thỡ nú lại làm tăng thêm tình trạng hoảng loạn Cuộc khủng hoảngđược xem như là câu chuyện về sự tăng trưởng nhanh chóng được xây dựngtrên một nền móng không vững chắc mà sau đó đã phải đương đầu với gió bãocủa thị trường vốn quốc tế
Trong một bản nghiên cứu gần đõy, Demirguc-Kunt và Detragachia (1998)
đã tiến hành phân tích quan hệ nhân quả giữa khủng hoảng ngân hàng và quátrình tự do hoá tài chính ở 53 nước trong giai đoạn từ 1980 đến 1995 Kết quảcác cuộc điều tra này cho thấy khủng hoảng ngân hàng thường nảy sinh trongcác hệ thống tài chính được tự do hoá, đặc biệt trong các hệ thống có môitrường thể chế yếu kém Đặc biệt, đối với việc tuân thủ luật pháp, mức độ thamnhũng và năng lực quản lý, thực hiện các cam kết là các đặc điểm liên quanmang tính thể chế Xem xét sự vận động của các giá trị đặc quyền của ngânhàng sau khi được tự do hoá và các mối quan hệ giữa tự do hoá tài chính,khủng hoảng ngân hàng, phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế đều khẳngđịnh quan điểm cho rằng tự do hoá tài chính cần phải được tiến hành một cáchthận trọng, đặc biệt khi mà các định chế cần thiết để đảm bảo việc tuân thủ luậtpháp và nghĩa vụ thực hiện các cam kết, các quy định về hướng dẫn thực thi vàgiám sát hoạt động chưa được phát triển đầy đủ dù đã đạt được sự ổn định kinh
tế vĩ mô
Trang 12Những kết luận trên thực sự là một bài học kinh nghiệm quý báu và vô cùngcần thiết cho chúng ta đang từng bước hoà nhập vào xu thế toàn cầu hoá, thựchiện cơ chế thị trường Đó là nâng cao vai trò quản lý vĩ mô của ngân hàngtrung ương, của chính phủ đối với nền kinh tế, nâng cao vai trò của hệ thốngngân hàng thương mại, của các chính sách tài chính - tiền tệ
Tín dụng là quan hệ chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị (dưới hìnhthức tiền tệ hoặc hiện vật) từ người sở hữu sang người sử dụng để sau một thời
↨ Bùng nổ tiêu dùng
tự do hoá tài chính không có sự giám sát đầy đủ
Khả năng dễ bị tổn thương của các yếu tố kinh tế vĩ mô tănglên trong khi rủi ro hoạt động của các ngân hàng cao hơn
Bùng nổ cho vay
nguồn vốn